Tag Archive | Hồ Chí Minh

Chúc mừng nǎm mới (1947)

Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió,
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông.
Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến,
Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng.
Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào!
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông.
Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi!
Thống nhất độc lập, nhất định thành công!

Nǎm Đinh Hợi (1947)
HỒ CHÍ MINH

Sách Những lời kêu gọi của
Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1958, t.1, tr. 129.
cpv.org.vn

Trở về với Bác Hồ

Lãnh đạo các cấp ở trung ương và địa phương đang tự phê bình và phê bình. Từ lâu đã tắm từ vai, nay gội đầu rửa mặt thì thân thể mới nhẹ nhõm, thư thái đầu óc mới minh mẫn, trong sáng, cũng như cái nhà trước hết phải củng cố cái nóc, nhà dột thì bên trong dù tiện nghi sang trọng cũng ẩm mốc, mục nát hết, con người dù cường tráng, thông minh cũng dễ nhiễm bệnh, yếu hèn.

Thua lỗ nợ nần hàng trăm nghìn tỷ đồng, kéo theo tham nhũng,
lãng phí, mất mát cán bộ ở một số tập đoàn,
tổng công ty nhưng vẫn không ai chịu trách nhiệm
Ảnh: T.L

Từ xa xưa, dân ta vẫn nói “Quan đần, dân khổ, quan tham dân càng khổ.” Còn ngày nay, đổi mới, đi lên xã hội chủ nghĩa xã hội, quan đần cũng vẫn có, cụ thể là ở trung ương và địa phương đâu cũng có hiện tượng “người kém lại lãnh đạo người giỏi. Còn quan tham thì như báo chí đã nhận xét “đụng đến đâu cũng có tham nhũng”.

Hiểu rõ hiện tình đất nước như vậy mới thấy đợt tự phê và phê lần này của lãnh đạo các cấp, đặc biệt lãnh đạo trung ương, cơ quan đầu não có tầm quan trọng hết sức đặc biệt, trực tiếp liên quan đến sự tồn vong của chế độ, đến sự tồn tại của Đảng. Kết quả như thế nào còn phải chờ đợi nhưng đông đảo dân và cán bộ đã tỏ ra lạc quan, chỉ mong lãnh đạo các cấp học Bác Hồ, làm theo Bác, thế thôi, cũng đủ để dân được nhờ. Lại có mong ước cụ thể hơn, nghiêm khắc hơn, “lãnh đạo các cấp, lãnh đạo trung ương trở về với Bác Hồ”. “Trở về” vì bên cạnh thường xuyên học tập Bác làm theo Bác, cũng có lúc đã xa Bác, xa rời Tư tưởng Hồ Chí Minh là dân khổ, nước nghèo. Sau Đại thắng mùa Xuân 1975, Mặt trận bị thu hẹp, không còn kinh tế tư nhân, chỉ còn kinh tế quốc doanh và tập thể, hơn 10 năm trong cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, cả nước chịu đói nghèo. Đổi mới tại Đại hội Đảng lần thứ VI, đại đoàn kết dân tộc, tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc lại được thực hiện, ấm no hạnh phúc lại trở lại. Hoặc chưa xa Bác nhưng thực hiện Tư tưởng Hồ Chí Minh chưa trọn vẹn, triệt để cũng rất cần tự kiểm điểm thành khẩn lấy Tư tưởng Hồ Chí Minh là điểm tựa vững chắc để Đảng Cộng sản Việt Nam mãi mãi là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Đợt tự phê bình và phê bình của lãnh đạo trung ương rất thiết thân với nhân dân vì mọi quyền lực nhân dân đã trao cho Đảng. Mấy năm gần đây nhân dân ngày càng lo lắng, không yên vì quyền lực ấy có vẫn còn toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân không khi tham nhũng, lãng phí không chỉ tiếp tục tăng và lan rộng, mà còn càng trở nên công khai, trắng trợn. Đặc biệt kỷ cương phép nước không còn nghiêm, thua lỗ nợ nần hàng trăm nghìn tỷ đồng, kéo theo tham nhũng, lãng phí, mất mát cán bộ ở một số tập đoàn, tổng công ty nhưng vẫn không ai chịu trách nhiệm. Trong dân ở đâu cũng đặt câu hỏi “Vậy thì gây tổn thất cho ngân sách nhà nước trầm trọng đến đâu mấy vị ấy mới chịu từ chức”. Ai cũng thừa biết, ở một số nước khác mà phạm tội như thế thì miễn bàn, không từ chức cũng bị cách chức ngay. Qua những sự việc cụ thể này mới thấy nhân dân nhiều nước, quyền lực đã được những người lãnh đạo do dân bầu thực thi nghiêm chỉnh quyết liệt, lãnh đạo càng lên cao gây tổn thất khoảng trên dưới một nghìn đô la Mỹ đã bị mất chức, còn ở nước ta gây tổn thất một triệu đô la Mỹ cũng vẫn an toàn tại chức, tiếp tục lên chức và chẳng xin lỗi nhân dân một câu; dân tình bị coi thường đến như vậy, quyền lực của dân có còn nữa không? Trên đã không nghiêm thì đương nhiên dưới cũng không nghiêm “trên nói dưới không nghe” vì trên thiếu gương mẫu. Nhân dân thấy quyền lực của mình đang bị nhiều người lãnh đạo buông lỏng, thậm chí một số người biến chất, tham nhũng đương chức đương quyền tận dụng quyền lực để bao che cho nhau và dựa vào tổ chức Đảng, đoàn thể trong ngành và cơ quan thuộc quyền để vu oan, gán tội cho người tốt dám đấu tranh là “bôi nhọ lãnh đạo, chống lãnh đạo” để trừng phạt người tốt. Người dũng cảm, “gặp sự bất bình chẳng thể tha” thường đơn độc, trơ trọi dù ở bất cứ cơ quan nào, người tốt, trung thực cũng là số đông nhưng không dám đứng về phía người dám đơn độc bảo vệ Đảng, sợ bị trù dập chưa nói đời sống khó khăn có thể còn bị mất lương, mất chức nên đành nhìn người tốt chịu tội.

24 năm đứng đầu Nhà nước, đứng đầu Đảng cầm quyền, vấn đề dân ủy quyền cho Đảng, mọi quyền lực đều do Đảng cầm quyền nắm giữ bao giờ cũng là vấn đề được Bác Hồ quan tâm nhiều nhất và có một sự chú ý thường xuyên hết sức đặc biệt. Khi quyền lực thuộc về đông đảo quần chúng nhân dân và những người đại biểu của nhân dân được giao cho nắm quyền lực không những là những người lãnh đạo mà còn là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân thì quyền lực sẽ phát huy mặt tích cực của nó. Ngược lại, khi quyền lực chỉ phụ thuộc vào một số ít người, thậm chí chỉ thuộc về một người, trở thành độc tài, chuyên chế thì tất cả những tiêu cực xấu xa của quyền lực sẽ lập tức bộc lộ. Bác Hồ đã nhìn thấy vấn đề cốt lõi của cách mạng là vấn đề chính quyền, vấn đề quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước thuộc về ai. Đảng cầm quyền chỉ có mục đích đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân như Bác Hồ thường nhấn mạnh “quyền lực chỉ thuộc về nhân dân”, bất cứ lúc nào chệch hướng, vô tình hay cố ý không thấy chỉ nhân dân mới được làm chủ đất nước thì quan liêu, cửa quyền, tham ô, lãng phí…. xuất hiện ngay và nạn nhân chỉ là dân.

Ta tiến nhưng chậm, ta đổi mới nhưng chưa triệt để chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa lại vẫn bao cấp nặng nề, vẫn chưa có cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp, vẫn phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp tư nhân và nhà nước, cái cũ đã níu kéo làm cho ta đến nay mới gia nhập hàng ngũ nước có thu nhập trung bình trong khi một số nước khác từng là thuộc địa như ta đã và đang trở thành nước công nghiệp. Ta thua kém thiên hạ, nguyên nhân hàng đầu được nhân dân nói đến đã lâu, đến nay càng trở nên sâu sắc: bộ máy nhà nước rất thiếu người có thực tài, phẩm chất và năng lực trọn vẹn, thiếu đến nỗi gần đây cả ở địa phương và trung ương đều có hiện tượng khá phổ biến người kém lại lãnh đạo người giỏi. Người tài đức không thiếu nhưng không được trọng dụng chỉ vì ngoài Đảng. Lãnh đạo các cơ quan nhà nước ở trung ương, lãnh đạo UBND các cấp xã phường, huyện, quận, tỉnh, thành phố đều là đảng viên. Cái giá quá đắt dân tộc ta phải trả là với bộ máy nhà nước quá thiếu người tài giỏi, nền kinh tế ta yếu kém và nhân dân ta còn nghèo là tất nhiên. Một bi kịch lớn với chúng ta khi những người tài giỏi chỉ có thể phát huy tài năng ở nước ngoài, góp phần làm giàu cho nước ngoài và vẫn chưa có thể thi thố tài năng ở chính Tổ quốc mình. Người ngoài Đảng ở nước ta hiện nay khoảng 84 triệu, trong đó có nhiều người đức, tài trọn vẹn chưa được trọng dụng. Không ít người Việt ở nước ngoài không những được tin dùng còn giữ chức vụ cao trong bộ máy nhà nước của thiên hạ. Nước Đức nền kinh tế phát triển nổi tiếng thế giới, đã giao chức Bộ trưởng Bộ Y tế cho một trí thức Việt Nam. Tổng lãnh sự Mỹ ở TP. Hồ Chí Minh là một người Việt Nam. Trung tá chỉ huy một chiến hạm Mỹ thăm TP. Hồ Chí Minh là một người Việt Nam. Trong đoàn của Tổng thống Pháp Mitterand sang thăm Việt Nam có hai trí thức Việt Nam. Đồng chí Đặng Hữu, Nguyên Trưởng ban Khoa giáo đã kể lại, báo chí Pháp đưa tin, không có người Việt thì ngành tin học ở Pháp sẽ suy sụp. Còn ở Thung lũng Silicon – khu công nghệ cao của Mỹ lớn nhất thế giới – có hơn một vạn người Việt Nam làm công nghệ thông tin, nhiều người giữ những vị trí quan trọng trong các hãng lớn của Mỹ, có người được trả lương 500 đôla Mỹ một giờ.

Từ lâu trong đông đảo cán bộ và nhân dân, nhiều người vẫn kiên trì đề nghị chọn lựa cán bộ vào các cơ quan lãnh đạo bộ máy nhà nước ở trung ương và địa phương cần thực hiện như khi Bác Hồ còn là Chủ tịch nước, chỉ căn cứ vào hai tiêu chuẩn đức và tài. Với Bác, hễ là người Việt Nam ai cũng yêu nước và đã yêu nước thì việc gì cũng làm được kể cả tham gia bộ máy nhà nước được giao chức vụ tương xứng với tài và đức, ngoài ra không còn tiêu chuẩn nào khác. Cơ sở xã hội của Nhà nước ta là dân tộc. Nhà nước càng lớn mạnh càng phải dựa vào cơ sở đó. Đoàn kết dân tộc trong bộ máy nhà nước là rất quan trọng, thước đo để thấy có đoàn kết không là căn cứ vào những người có thực tài, năng lực, phẩm chất vững vàng có được tin dùng không? Nếu không được tin dùng chỉ vì thành phần lý lịch hoặc chưa là đảng viên là hoàn toàn ngược với tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước. Những năm Bác Hồ là Chủ tịch, bộ máy nhà nước lúc nào cũng rộng mở để đón mọi người có đức có tài. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quyền Chủ tịch nước là cụ Huỳnh Thúc Kháng, nhân sĩ ngoài Đảng khi Bác Hồ sang Pháp, bốn tháng theo lời mời của Chính phủ Pháp; Chủ tịch Quốc hội là cụ Nguyễn Văn Tố, cũng là nhân sĩ ngoài Đảng; lần đầu tiên phong tướng trong quân đội ta, ngay sau Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Trung tướng Nguyễn Bình, lúc đó chưa là đảng viên. Đoàn kết trong bộ máy nhà nước lúc nào cũng là sự sát cánh của những lãnh đạo, những quan chức có năng lực quản lý đất nước, biết làm giàu cho đất nước và thấm nhuần tư tưởng của Bác nên đã thành thói quen chẳng bao giờ phải bận tâm bàn đến trong hay ngoài Đảng.

Sau khi đất nước độc lập và thống nhất, bộ máy nhà nước không còn rộng mở. Riêng hai tiêu chuẩn thành phần lý lịch và đảng viên đã hạn chế nhiều người có thực tài. Có lãnh đạo cho là đảng viên đều đã được thử thách, rèn luyện nên tăng cường đảng viên cho bộ máy nhà nước là cách tốt nhất để bộ máy trong sạch vững mạnh. Cố vấn Phạm Văn Đồng lại có ý kiến khác. Ngày 19-5-1999, nhân có Cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng, báo Nhân dân đã đăng trang trọng trên trang nhất bài báo cuối cùng của Cố vấn Phạm Văn Đồng đầu đề “Nêu cao danh hiệu Đảng Cộng sản Việt Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam”. Xin trích một đoạn: Chúng ta thường được báo cáo rằng chất lượng tổ chức của Đảng và đảng viên là trong sạch, lành mạnh chiếm đến 70 – 80%. Nhưng thực sự đâu có vậy, đảng viên một phần không nhỏ không có phẩm chất chính trị, tư tưởng và tác phong của người cộng sản.

Tôi muốn đặc biệt nêu bật ba điểm rất quan trọng: về quan hệ của Đảng với công nhân, thành phần công nhân trong Đảng không nhiều. Về quan hệ của Đảng với tầng lớp trẻ, là số đông của dân cư nước ta, lớp trẻ không tha thiết vào Đảng. Về quan hệ của Đảng với trí thức, hiện nay trí thức cũng không quan tâm đến việc gia nhập Đảng. Ba lớp người này không muốn vào Đảng bởi vì họ thấy nhiều tổ chức Đảng và đảng viên chưa xứng đáng là đảng viên cộng sản, chưa xứng đáng với Đảng của Hồ Chí Minh”.

Những ý kiến trên đây của Cố vấn Phạm Văn Đồng càng nhắc nhở chúng ta, không nên tồn tại mãi đến hiện nay tình trạng chính quyền cấp xã, phường, huyện, quận, tỉnh, thành phố lên đến các thành viên Chính phủ đều là đảng viên, trong khi Nhà nước, chính quyền ta là của dân, do dân, vì dân. Mấy Đại hội Đảng vừa qua, góp ý kiến với Đại hội, vấn đề người ngoài Đảng tham gia lãnh đạo bộ máy nhà nước liên tiếp được nêu lên trên báo chí. Một số lão thành cách mạng trả lời báo chí về xây dựng Đảng cũng đề nghị chọn người vào các cương vị lãnh đạo Nhà nước không nên có tiêu chuẩn đảng viên.

Khi có đợt tự phê bình và phê bình của lãnh đạo các cấp, đặc biệt của lãnh đạo trung ương, nhiều người có suy nghĩ giống nhau, đây là dịp tốt nhất để một lần nữa và chắc chắn lần này mong ước thiết tha, khắc khoải từ lâu của mọi người sẽ được đáp ứng, bộ máy nhà nước, chính quyền các cấp sẽ mở rộng cửa để thu hút mọi hiền tài và dưới sự lãnh đạo của Đảng, tiêu chuẩn để chọn người tham gia lãnh đạo bộ máy nhà nước đúng như Bác Hồ đã đề ra từ khi Nhà nước dân chủ cộng hòa vừa ra đời là Đức và Tài, Năng lực và Phẩm chất.

Thái Duy
daidoanket.vn

Tuổi trẻ Trung tâm nhiệt đới Việt – Nga báo công dâng Bác

Trong không khí sôi nổi của tuổi trẻ cả nước đang ra sức thi đua lập thành tích xuất sắc hướng tới Đại hội Đoàn toàn quốc thứ X, kỷ niệm 65 năm Ngày Thương binh – Liệt sỹ, sáng ngày 12/7/2112, Đoàn đại biểu dự Đại hội Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Trung tâm nhiệt đới Việt – Nga lần thứ IV đã đến đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và tổ chức lễ báo công dâng Bác tại Quảng trường Ba Đình, báo cáo với Bác những thành tích trong nghiên cứu khoa học, học tập, lao động, công tác góp phần vào quá trình xây dựng và trưởng thành của Trung tâm.

Trungtam nhiet doi Viet NgaTuổi trẻ Trung tâm nhiệt đới Việt – Nga báo công dâng Bác

Tuổi trẻ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh của Trung tâm luôn ghi nhớ và bày tỏ lòng biết ơn vô hạn với Bác – người đã hết lòng chăm sóc, giáo dục rèn luyện và dành cho các thế hệ thanh thiếu niên, nhi đồng tình yêu thương đặc biệt. Những năm qua, công tác Đoàn và phong trào thanh niên của Trung tâm đã có bước tiến bộ trưởng thành, tổ chức Đoàn thường xuyên được củng cố, hoạt động của Đoàn ngày càng có hiệu quả, công tác giáo dục và phong trào thi đua đã bám sát được nhiệm vụ chính trị của đơn vị, ngày càng đáp ứng tốt nhu cầu, nguyện vọng của thanh niên. Với đặc điểm là đơn vị hợp tác quốc tế làm nhiệm vụ nghiên cứu công tác khoa học, trong 5 năm qua đoàn viên thanh niên Trung tâm đã tham gia và chủ trì thực hiện hơn 40 công trình, đề tài, dự án đạt kết quả tốt, đã có nhiều tập thể và cá nhân được Trung ương Đoàn, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, lãnh đạo Trung tâm tặng Cờ, Bằng khen, Giấy khen như: 2 giải Nhất Giải thưởng “Tuổi trẻ sáng tạo” toàn quân 2010, 2011; 2 giải Khuyết khích Hội thi báo cáo viên toàn quân lần thứ III và IV… 100% các tổ chức Đoàn được công nhận vững mạnh, 21 đồng chí đạt Danh hiệu Gương mặt trẻ tiêu biểu cấp Trung tâm và 135 đoàn viên thanh niên đạt Danh hiệu Thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác. Ngoài ra, Đoàn còn tổ chức và triển khai có hiệu quả các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”, Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, Quỹ “Ngày vì người nghèo”…

Tiếp tục thực hiện lời Bác dạy, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh của Trung tâm đã thường xuyên làm tốt việc giáo dục, bồi dưỡng, lựa chọn giới thiệu đoàn viên ưu tú và đã có 20 đoàn viên ưu tú được kết nạp Đảng góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ Trung tâm. Phong trào thanh niên đã xây dựng được nhiều nhân tố điển hình mới, nhiều tấm gương tiêu biểu trong thực hiện nhiệm vụ chính trị như: Đồng chí Vương Văn Trường, Nguyễn Văn Lượng, Nguyễn Trọng Dân, Phạm Mai Phương… và nhiều tập thể tiêu biểu khác.

Tham dự lễ báo công, bạn Nguyễn Bảo Ngọc, Phòng Sinh thái cạn, Chi nhánh phía Nam tâm sự: Thật xúc động khi lần đầu tiên được vào Lăng viếng Bác và báo công dâng Bác, đặc thù công việc là phải thường xuyên đi công tác, nghiên cứu nhưng mình vẫn cố gắng làm tốt nhiệm vụ chuyên môn và tích cực trong công tác Đoàn. Mình sẽ lập nhiều thành tích hơn nữa để có dịp được báo công dâng Bác.

Còn bạn Võ Thị Hà, Phòng Sinh thái, Chi nhánh ven biển Nha Trang cũng vậy. Mặc dù đã có gia đình và thường xuyên phải đi công tác nhưng bạn vẫn khắc phục khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn và công tác Đoàn với mong muốn đóng góp nhiều hơn nữa để Trung tâm nhiệt đới Việt – Nga ngày càng phát triển vững mạnh.

Thay mặt cán bộ, đoàn viên thanh niên Trung tâm nhiệt đới Việt – Nga, đồng chí Hoàng Hải Thụy – Trợ lý phụ trách công tác thanh niên hứa với Bác: Chúng cháu sẽ không ngừng học tâp nâng cao trình độ về mọi mặt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, nỗ lực khắc phục mọi khó khăn thử thách phát huy vai trò xung kích sáng tạo, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, xứng đáng là lớp thanh niên thế hệ Hồ Chí Minh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần xây dựng Trung tâm nhiệt đới Việt – Nga ngày càng phát triển bền vững.

Sau buổi lễ, các đại biểu đã đặt hoa tưởng niệm và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Vân Phương
bqllang.gov.vn

Thực hiện hai tiếng cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Thuc hien 2 tieng cach mang theo TTHCM

Hai tiếng cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là trong “Di chúc” của Người, ít nhất có 3 nội dung cơ bản, quan trọng mà chúng ta, đặc biệt và trước hết là những cán bộ, đảng viên có trình độ trung – cao cấp đang lãnh đạo, quản lý ở các cấp cần nhận thức rõ, đúng để làm theo

Rất nhiều nhà lãnh đạo và nhà khoa học đã chẳng ít lần nhắc tới và phân tích về những tiếng thật trong Di chúc của Bác Hồ: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(1). Tư tưởng bất hủ đó của Bác Hồ rất đúng và hay. Tôi nhận thức thêm rằng, xét về mặt triết học, Bác Hồ nói đến bản chất, thực chất của các vấn đề đó cần thể hiện đúng trong thực tiễn. Xét về mặt tình cảm thì đó là lòng mong muốn của Người đối với mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng và đối với toàn Đảng ta.

Suy ngẫm về những tiếng cách mạng trong Di chúc và nhiều bài viết của Người, chúng ta càng thêm vững tin vào sự nghiệp cách mạng mà Bác đã lựa chọn. Thiết nghĩ, trong tình hình “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên…” như Nghị quyết Trung ương lần thứ 4 (khóa XI) của Đảng ta vừa nhấn mạnh với vị trí là vấn đề cấp bách số một… thì những tiếng cách mạng mà Bác Hồ để lại cho chúng ta càng cần được lưu ý, phân tích một cách khoa học và thực tiễn sâu sắc, có sức thuyết phục hơn. Làm được như vậy sẽ góp phần để chúng ta cùng nhau làm theo tấm gương, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, nhất là đối với các cán bộ, đảng viên có trình độ trung – cao cấp, đang làm công tác lãnh đạo, quản lý.

Dưới đây, là một số luận điểm tiêu biểu nhất của Bác Hồ để lại cho chúng ta, khi Người nhấn mạnh hai tiếng cách mạng, giúp chúng ta cùng suy ngẫm và vận dụng để thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương lần thứ 4 (khóa XI): “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

– “Đạo đức cách mạng”. Bác Hồ viết bài này năm 1958, khi miền Bắc nước ta bắt đầu vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Bác Hồ đã lường trước và cảnh báo nguy cơ “đạn bọc đường” sẽ có thể bắn gục không ít cán bộ, đảng viên trong điều kiện Đảng Cộng sản cầm quyền.

– “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Bác Hồ viết bài này năm 1969, khi cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống đế quốc Mỹ xâm lược rất khốc liệt, và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đang đầy khó khăn, phức tạp…; và khi Người đã lâm bệnh rất trầm trọng…

– “Di chúc”. Bác Hồ bắt đầu viết tác phẩm này từ năm 1965; công bố chính thức năm 1969, khi Người “… từ biệt thế giới này…”.

Trong nhiều tác phẩm, nhất là “Di chúc”, Bác Hồ luôn luôn nhấn mạnh hai tiếng cách mạng (chính Người đã gạch dưới; do đó trong “Hồ Chí Minh toàn tập” đã in nghiêng là chính xác theo tư tưởng Bác Hồ và theo quy định của xuất bản phẩm).

Chỉ riêng trong “Di chúc”, Bác Hồ đã nhấn mạnh nhất hai vấn đề mà ngày nay chúng ta rất cần lưu tâm nhận thức đúng để làm theo. Đó là: “Đạo đức cách mạng” (2) và “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau”(3).

Về đạo đức cách mạng

Nhìn chung, hai tiếng đạo đức mà nước ta và nhân loại thường dùng thì đã hàm nghĩa tốt đẹp của con người. Do vậy Đảng ta, Bác Hồ và dân tộc ta đều rất trân trọng mọi đạo đức vốn có của các dân tộc, của nhân loại, thể hiện qua mỗi con người chân chính trong lịch sử lâu đời được lưu giữ, phát huy cho đến ngày nay và mai sau.

Nhưng, nếu Bác Hồ và chúng ta chỉ nói đạo đức theo nghĩa chung nhất như trên thì chẳng có giá trị mới so với những gì mà dân tộc ta và nhân loại đã có trước Thời đại Hồ Chí Minh. Giá trị mới to lớn là: Bác Hồ – người Việt Nam đầu tiên nói về đạo đức cách mạng. Vậy những nội dung cơ bản nhất của giá trị mới đó là gì so với những giá trị đạo đức truyền thống lịch sử trước đó? Giá trị mới đó ít nhất bao gồm các nội dung cơ bản sau đây: 1) Gắn đạo đức truyền thống với chủ nghĩa xã hội. Đó là “đạo đức xã hội chủ nghĩa”(4). 2) Gắn đạo đức truyền thống với quan điểm về đạo đức trong học thuyết Mác – Lênin; 3) Gắn đạo đức truyền thống với sự lãnh đạo – giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa của giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản.

Về “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau”.

Trong “Di chúc” Bác Hồ viết: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”(5). Tương tự phân tích như trên thì chúng ta cũng rõ sự kế thừa và phát triển mới: Vừa gắn liền, vừa phân biệt được sự khác nhau giữa “Bồi dưỡng thế hệ cho đời sau”, nói chung (là điều lịch sử lâu đời đã phổ biến, đương nhiên) với “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau”… cũng có thêm các nội dung cơ bản và mới đã nêu ở trên, khi nói về đạo đức cách mạng.

Với cách tiếp cận đó thì việc chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau luôn được Bác Hồ và Đảng ta đặc biệt quan tâm. Và nếu thế hệ các đời sau của chúng ta mà xa rời chủ nghĩa xã hội, học thuyết Mác – Lênin, vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua Đảng ta, thì thế hệ đó không còn là “thế hệ cách mạng cho đời sau” như Bác Hồ căn dặn!.

Tóm lại, hai tiếng cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là trong “Di chúc” của Người, ít nhất có 3 nội dung cơ bản, quan trọng mà chúng ta, đặc biệt và trước hết là những cán bộ, đảng viên có trình độ trung – cao cấp đang lãnh đạo, quản lý ở các cấp cần nhận thức rõ, đúng để làm theo là:

– “Đạo đức cách mạng”, “Thế hệ cách mạng” phải thể hiện lập trường, niềm tin – yêu, và luôn phấn đấu vì chủ nghĩa xã hội (theo mục tiêu – con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội – cũng là vì mục tiêu cao nhất của dân tộc ta).

– “Đạo đức cách mạng”, “Thế hệ cách mạng” phải thể hiện có nhận thức – lập trường tư tưởng chính trị theo học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

– “Đạo đức cách mạng”, “Thế hệ cách mạng” phải thể hiện sự trung thành và thực hiện quan điểm, đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam – đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc.

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát triển Đảng hiện nay cần nhận thức đúng và thực thi những nội dung đó, cũng là thực hiện tốt đường lối của Đảng ta; pháp luật, chính sách…của Nhà nước ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mở rộng hội nhập quốc tế, tiếp tục xây dựng và bảo vệ quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng và của Dân tộc ta phát triển nhanh, bền vững…, vì mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./

——————-

(1), (3), (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.12, tr.510, 510, 510.

(2), (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.238, 456.

Theo PGS. TS. Nguyễn Đức Bách
Tạp chí Tuyên giáo
Tâm Trang (st)

Thư gửi các chiến sĩ Cảm tử quân Thủ đô (27-1-1947)

Cùng các chiến sĩ yêu quý Trung đoàn Thủ đô,

Các em ǎn Tết thế nào? Vui vẻ lắm chứ? Tôi và nhân viên Chính phủ vì nhớ đến các em cho nên cũng không ai nỡ ǎn Tết. Còn 90 phần trǎm đồng bào ở hậu phương cũng giảm bớt 90 phần trǎm mâm cỗ tiệc tùng, ai cũng tiết kiệm để dự bị công cuộc trường kỳ kháng chiến.

Các em là đội cảm tử. Các em cảm tử để cho Tổ quốc quyết sinh 1 . Các em là đại biểu cái tinh thần tự tôn tự lập của dân tộc ta mấy nghìn nǎm để lại, cái tinh thần quật cường đó đã kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, truyền lại cho các em. Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó, để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau.

Chí kiên quyết dũng cảm, các em đã sẵn có, đây tôi chỉ nhắc lại một vài điều mà các em phải nhớ luôn luôn:

1. Phải hết sức khôn khéo, nhanh chóng, bí mật, phải biết cách hoá chỉnh vi linh 2 .

2. Phải rút kinh nghiệm hàng ngày hàng giờ. Phải đề phòng Việt gian trinh thám.

3. Phải hết sức cẩn thận. Phải luôn luôn có sáng kiến để lợi dụng thời cơ.

4. Tuyệt đối đoàn kết.

Các em hǎng hái tiến lên, lòng Già Hồ, lòng Chính phủ và lòng toàn thể đồng bào luôn luôn ở bên cạnh các em.

Tôi thay mặt Chính phủ và đồng bào gửi cho các em lời chào thân ái và quyết thắng.

Ngày 27 tháng 1 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1948, t.1, tr.39.
cpv.org.vn

Điện gửi các vị chính khách ấn Độ (27-1-1947)

Các ông Nêru, Phó Chủ tịch Chính phủ lâm thời ấn Độ, Sara Sǎngđra Bôdơ, Bộ trưởng Bộ Công chính ấn Độ, Cripalani, Chủ tịch Quốc hội ấn Độ và Ginna, lãnh tụ Đảng Hồi giáo ấn Độ (1).

Chúng tôi rất cảm động vì những cảm tình mật thiết của các ngài đối với dân tộc Việt Nam trong cuộc tranh đấu chống thực dân Pháp.

Thay mặt nhân dân và Chính phủ Việt Nam, và riêng tôi, tôi xin chân thành cảm tạ các ngài về những việc các ngài đã làm và sẽ làm để giúp chúng tôi. Tôi tin chắc chắn rằng chúng ta đồng lòng cố gắng, thế nào cũng sẽ thắng được chủ nghĩa thực dân phản động.

Lời chào thân ái
Ngày 27 tháng 1 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1948, t.1, tr.40.
cpv.org.vn

—————————-

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Thư gửi ông Cù Huy Cận (28-1-1947)

Nhờ chú Lưu chuyển chú Cận,
Thứ trưởng Canh nông.

Về việc tản cư đến các đồn điền, chú nên làm một kế hoạch thiết thực thi hành được ngay. Như tôi nói hôm Tết.

Cần phải chú ý:

1. Cách phân phối người (ai đem áo chǎn nấy).

2. Giúp đỡ lúc đi đường (trạm nghỉ, hành lý).

3. Nơi nào bao nhiêu người.

4. Đến nơi thì sao cho có chỗ ǎn, chỗ ở và việc làm ngay.

Chú làm sẵn kế hoạch, đến Hội đồng Chính phủ ta bàn. Việc gì làm trước được, chú cứ làm.

Đã có người đi các tỉnh khai hội với U.B.H.C và các chủ đồn điền chưa ?

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 28 tháng 1 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Bản gốc lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Gửi ông Nêru, Phó chủ tịch Chính phủ ấn Độ (29-1-1947)

Trong ngày đáng ghi nhớ này là Ngày Độc lập của nước ấn Độ, chúng tôi xin chung sự hân hoan với dân tộc ấn Độ, và rất tin cậy vào sự thắng lợi của các dân tộc á châu trong cuộc tranh đấu cho tự do và tiến bộ.

Mong rằng tình thân thiện giữa hai dân tộc chúng ta càng bền chặt để sớm thấy một kỷ nguyên thịnh vượng, hạnh phúc và hoà bình bắt đầu ở á châu.

Ngày 29 tháng 1 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1948, t.1, tr.41.
cpv.org.vn

Gửi bác sĩ Vũ Đình Tụng (1-1947)

Thưa ngài,

Tôi được báo cáo rằng: con giai ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc.

Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột.

Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi; vật chất họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn luôn sống với non sông Việt Nam.

Họ là con thảo của Đức Chúa, họ đã thực hiện cái khẩu hiệu: Thượng đế và Tổ quốc. Những thanh niên đó là dân tộc anh hùng. Đồng bào và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên ơn họ.

Ngài đã đem món của quý báu nhất là con của mình, sẵn sàng hiến cho Tổ quốc. Từ đây chắc ngài sẽ thêm ra sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà thì linh hồn cháu ở trên trời cũng bằng lòng và sung sướng.

Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn ngài, và gửi ngài lời chào thân ái và quyết thắng.

Tháng 1 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Bản đánh máy của Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Lễ báo công dâng Bác của những người nông dân sản xuất giỏi

canh dong vangĐoàn đại biểu nông dân sản xuất giỏi báo công dâng Bác

Sáng 18/7/2012, 100 nông dân tiêu biểu tham dự chương trình Cánh đồng Vàng, sơ kết công tác triển khai mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” trên cả nước đã đến trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh để báo cáo với Bác về những thành tích của những người nông dân sản xuất giỏi. Từ năm 2011, triển khai Nghị quyết số 21/2011/QH13 về phát triển các hình thức hợp tác trong nông nghiệp nhân rộng mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” để cơ giới hóa và áp dụng khoa học, công nghệ tiên tiến vào sản xuất; thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 53/TB-CP ngày 20 tháng 2 năm 2012 về thi đua khen thưởng, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước trên các lĩnh vực; triển khai Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020; đặc biệt, tập trung chỉ đạo có hiệu quả phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, coi đây là nhiệm vụ xuyên suốt trong năm 2012 và những năm tiếp theo; Tạp chí Kinh tế và Dự báo (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) phối hợp với Cục trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cùng các cơ quan có liên quan tổ chức Chương trình Cánh đồng Vàng nhằm ghi nhận những thành tích đóng góp trong việc triển khai các mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” đạt kết quả tốt, năng suất cao. Đồng thời, triển khai các hoạt động tuyên truyền, biểu dương các tấm gương bà con nông dân, các Hợp tác xã đã có đóng góp quan trọng từ sáng kiến đến thực tiễn triển khai mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” trên cả nước. Tuyên truyền cho các giải pháp và cách thức vận hành mô hình hiệu quả với những đặc thù của mỗi vùng miền, mỗi địa phương.

Trong quá trình triển khai mô hình có những thuận lợi cũng như khó khăn nhất định nhưng cũng đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Các địa phương đã triển khai công tác lựa chọn những điển hình tiêu biểu hộ nông dân, Hợp tác xã sản xuất giỏi. Các địa phương trên cả nước đã có 294 hộ nông dân và 221 Hợp tác xã được các địa phương giới thiệu về Ban Tổ chức để báo công dâng Bác.

Một số tỉnh tiêu biểu như: An Giang, Bắc Giang, Bắc Cạn, Bạc Liêu, Bắc Ninh, Cà Mau, Cần Thơ, Đà Nẵng, Đồng Tháp, Hà Nam, Hải Dương, Hải Phòng, Hậu Giang, Kiên Giang, Hoà Bình, Khánh Hoà, Kon Tum, Long An, Quảng Ninh…

Tham dự Lễ báo công tại Lăng Bác có rất nhiều những tấm gương điển hình như:

Ông Nguyễn Thông Đạt – Nông dân thành phố Cần Thơ, có thành tích xuất sắc trong xây dựng mô hình ứng dụng các tiến bộ khoa học – kỹ thuật vào sản xuất lúa hàng hóa trên địa bàn xã; hoàn thành xuất sắc công tác Hội và phong trào nông dân nhiều năm; đi đầu trong tiếp thu tiến bộ khoa học – kỹ thuật, mạnh dạn áp dụng khoa học – kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao năng suất ở địa phương; là địa điểm đáng tin cậy cho các nhà khoa học, cán bộ kỹ thuật tổ chức các lớp tập huấn, hội thảo nhằm chuyển giao khoa học – kỹ thuật cho nông dân; là hộ tiên phong trong sản xuất lúa giống thí điểm ở địa phương.

Ông Trịnh Văn Dứt – Nông dân tỉnh An Giang  sản xuất lúa đạt năng suất 24 tấn/ ha/ năm, lợi nhuận đạt 61 triệu 400 nghìn đồng/ha/năm; tham gia thực hiện tốt các mô hình 3 giảm 3 tăng, cánh đồng mẫu và vận động bà con xã viên, nông dân tích cực tham gia thực hiện các chương trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới.

Ông Nguyễn Văn Luyến – Nông dân thôn 6 xã Ia Blang, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai, với các thành tích đạt được trong quá trình lao động, công tác: Trong 2 năm 2011-2012, gia đình sản xuất 5 ha hồ tiêu (sản lượng 35 tấn/năm, năng suất 70 tạ/ha cao gấp 1,6 lần so với bình quân chung của tỉnh. Mỗi năm gia đình thu nhập 1,5 tỷ; được tặng danh hiệu nông dân giỏi của Bộ NN&PTNT năm 2001, tỉnh Gia Lai tặng năm 2004; tổ chức điều hành các bộ phận Hợp tác xã hoạt động dịch vụ phục vụ cho xã viên sản xuất trong mùa vụ đáp ứng đủ nhu cầu có chất lượng. Qua đó kết quả thu nhập trong sản xuất đời sống sinh hoạt của xã viên, nông dân địa phương được cải thiện rõ rệt, số hộ đói không còn, tỉ lệ hộ nghèo năm 2011 giảm xuống còn 2.2%.

Trước anh linh của Người, các đại biểu xin hứa sẽ luôn cố gắng và phát huy những thành tựu đã đạt được; tiếp tục học tập và noi theo tấm gương vĩ đại của Người.

Kết thúc buổi lễ, Đoàn đã vào Lăng dâng hoa viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

DSC 0909

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Lời tuyên bố về việc ông Mutê về Pháp (1-1947)

Tôi vừa được biết Bộ trưởng Mutê đã rời Hà Nội mà không gặp tôi. Thật là đáng tiếc, ông Mutê và tôi có thể nói với nhau nhiều câu chuyện ích lợi. Tôi có thể nhân danh Chính phủ giao cho ông Mutê những tài liệu về cuộc xung đột hiện tại và đề nghị cùng ông những phương sách có thể làm chấm dứt, nếu nước Pháp muốn, cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn mà cả hai dân tộc đều không muốn, và có thể nối lại tình thân ái giữa hai nước.

Tháng 1 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1948, t.1, tr.42.
cpv.org.vn

Gửi các chiến sĩ Vệ quốc đoàn, tự vệ và dân quân toàn quốc (1-1947)

Cùng Vệ quốc đoàn, tự vệ, dân quân toàn quốc,

Các chiến sĩ yêu quý!

Từ 19 tháng Chạp, thực dân Pháp đánh úp ta, các anh em là những người đầu tiên, lập tức đứng lên chiến đấu.

Sau 85 nǎm nước ta bị chiếm, các anh em là những người đầu tiên đứng lên đánh thực dân Pháp, một cách nhất trí, khắp Bắc, Trung, Nam.

– Vẻ vang thay! Cái nhiệm vụ của anh em. Ǎn gió nằm sương, xung phong hãm trận, các anh em không quản gian lao. Máu trôi lửa cháy, mưa đạn rừng bom, các anh em không quản nguy hiểm. Các anh em chỉ biết đua nhau giết giặc.

– Oanh liệt thay! Cái tráng chí của anh em. Càng đánh càng mạnh, kinh nghiệm càng nhiều. Khi thắng không kiêu, khi lui không nản! Các anh em quyết kháng chiến cho đến thắng lợi.

Mặc kệ tàu bay, thiết giáp, các anh cứ tiến lên, cứ xông vào!

– Anh dũng thay! Lòng quyết thắng của anh em. Các chiến sĩ là đàn con anh hùng của Tổ quốc. Các chiến sĩ quyết đem xương máu để giữ vững non nước Lạc Hồng!

Các chiến sĩ cứ tiến lên!

20 triệu đồng bào đang hoan hô anh em và quyết làm hậu thuẫn cho anh em.

Chính phủ luôn luôn nhớ đến anh em.

Chiến sĩ anh hùng Việt Nam, tiến lên!

Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi!

Thống nhất độc lập nhất định thành công.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà

Viết khoảng tháng 1-1947.

Bản gốc lưu tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn