Tag Archive | Hồ Chí Minh

Lời khuyên sinh viên Trường quân y

Phải chǎm lo học hành và gắng thực hiện 5 điều: HĂNG HÁI, HY SINH, BÁC ÁI, ĐOÀN KẾT, KỶ LUẬT

Báo Cứu quốc, số 414,
ngày 23-11-1946.
cpv.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đặt nền móng cho quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam

Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam là quan hệ đặc biệt. Mối quan hệ đặc biệt ấy phát triển từ quan hệ truyền thống, do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng nền móng và chính Người cùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp; đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong quá trình tìm đường cứu nước của mình, Nguyễn Ái Quốc rất quan tâm đến tình hình tại Lào. Người không chỉ lên án chế độ thực dân Pháp nói chung mà còn tố cáo cụ thể sự tàn bạo của thực dân Pháp ở Lào. Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên – tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp sáng lập đã gây dựng được cơ sở tại Lào. Thông qua hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Lào, Nguyễn Ái Quốc thấy đây là điều kiện thuận lợi để người Việt Nam vừa tham gia cuộc vận động cứu nước tại Lào, vừa sát cánh cùng nhân dân Lào xây dựng mối quan hệ đoàn kết khăng khít giữa Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam. Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã lập Hội Ái hữu, Hội Việt kiều yêu nước, mở các lớp huấn luyện cách mạng trên đất Lào.

Trên thực tế, từ nửa sau những năm 20 thế kỷ XX, Lào là một đầu cầu trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng cứu nước mới của Nguyễn Ái Quốc vào Đông Dương. Năm 1928, đích thân Người bí mật tổ chức khảo sát thực địa tại Lào càng cho thấy mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào. Cũng trong năm này, Chi bộ Thanh niên cộng sản đầu tiên được thành lập tại Viêng Chăn, đồng thời đường dây liên lạc giữa nhiều thị trấn ở Lào với Việt Nam được tổ chức.

Chu tich HCM nguoi dat nen mongHướng dẫn nông dân nước bạn Lào thu hoạch lúa – Ảnh: Tư liệu 

Như vậy, Lào trở thành địa bàn đầu tiên trên hành trình trở về Đông Dương của Nguyễn Ái Quốc, nơi bổ sung những cơ sở thực tiễn mới cho công tác chính trị, tư tưởng và tổ chức của Người về phong trào giải phóng dân tộc ở ba nước Đông Dương. Quá trình Nguyễn Ái quốc đặt nền móng cho quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam báo hiệu bước ngoặt lịch sử trọng đại sắp tới của cách mạng Việt Nam cũng như cách mạng Lào.

Trong suốt quá trình lãnh đạo phong trào cách mạng, Đảng Cộng sản Đông Dương còn đề ra những chủ trương và giải pháp cụ thể chỉ đạo các cấp bộ đảng và phong trào cách mạng Đông Dương cũng như tăng cường mối quan hệ mật thiết, nương tựa lẫn nhau của hai dân tộc Việt Nam và Lào trên hành trình đấu tranh giành tự do, độc lập cho mỗi dân tộc.

Điều này thêm một lần nữa khẳng định quá trình chuẩn bị công phu về mọi mặt chính trị, tư tưởng, và tổ chức cho cách mạng Việt Nam, đồng thời với việc quan tâm xây dựng nhân tố bên trong cho cách mạng Lào, cả về phương diện tổ chức lẫn chỉ đạo thực tiễn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã thật sự tạo ra nền tảng hoàn toàn mới về chất cho lớp người cộng sản Đông Dương đầu tiên, bất luận họ là người Việt Nam, người Lào, hay là người Campuchia. Đây chính là nền móng vững chắc của quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam mà Nguyễn Ái Quốc là kiến trúc sư vĩ đại của tình đoàn kết đặc biệt đó.

Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời Hoàng thân Xuphanuvông đến Hà Nội. Cuộc gặp gỡ đã có tác động mạnh mẽ, quyết định đối với Hoàng thân trong việc chọn lựa con đường làm cách mạng.

Sau năm 1975, quan hệ Việt Nam và Lào bước sang trang mới: Từ liên minh chiến đấu chung một chiến hào sang hợp tác toàn diện giữa hai quốc gia có độc lập chủ quyền. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra như vũ bão, đẩy nhanh xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Do đó, các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam và Lào, đều có cơ hội và điều kiện thu hút vốn đầu tư, kinh nghiệm quản lý, sử dụng các thành tựu khoa học công nghệ của thế giới để đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế, xây dựng đất nước…

Đặc biệt, từ ngày 15 đến ngày 18/7/1977, Đoàn đại biểu cao cấp của Đảng và Chính phủ Việt Nam do Tổng Bí thư Lê Duẩn và Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu sang thăm hữu nghị chính thức Lào. Hai bên đã trao đổi ý kiến về các vấn đề quốc tế quan trọng mà hai bên cùng quan tâm, cũng như các vấn đề nhằm phát triển mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Đảng, Chính phủ và nhân dân hai nước, trên cơ sở đáp ứng nguyện vọng thiết tha và lợi ích sống còn của hai dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Ngày 18/7/1977, hai nước chính thức ký kết các Hiệp ước: Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào và ra Tuyên bố chung tăng cường sự tin cậy và hợp tác lâu dài giữa hai nước.

Từ đó đến nay, trung bình mỗi năm đã có trên 30 đoàn từ cấp trung ương đến cấp tỉnh sang trao đổi với nhau những kinh nghiệm về giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, về công tác tư tưởng, lý luận, công tác dân vận. Quan hệ giữa các Bộ, ban, ngành, đoàn thể, địa phương, nhất là các tỉnh biên giới kết nghĩa đều có những trao đổi hợp tác và mối quan hệ đó ngày càng đi vào chiều sâu với nội dung thiết thực và có hiệu quả./.

Theo Báo Quảng Trị online
Huyền Trang (st)

Gửi đồng bào Việt Nam, người Pháp và người thế giới

Cùng đồng bào Việt Nam,

Cùng người Pháp và người thế giới,

Vì vâng lệnh Chính phủ, mà nhân dân Việt Nam sẵn sàng cộng tác thật thà với nhân dân Pháp.

Vì hiểu rõ đại nghĩa, mà nhân dân Pháp mong muốn cộng tác thật thà với nhân dân Việt Nam.

Vì tôn trọng chữ ký, mà Chính phủ Việt Nam ra sức thực hành một không khí thân thiện. Tiếc vì một đôi nơi, như ở miền Nam nước Việt, ở Hải Phòng và Lạng Sơn, một số người Pháp không hiểu tâm lý dân Việt Nam, không làm theo ý nguyện dân Pháp, đã gây nên những cuộc xung đột đổ máu giữa hai bên.

Tôi nghiêng mình trước anh hồn những chiến sĩ và đồng bào Việt Nam, đã vì Tổ quốc mà hy sinh tính mệnh.

Tôi cũng ngậm ngùi thương xót cho những người Pháp đã tử vong.

Than ôi, trước lòng bác ái, thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người.

Trong hai cuộc đại chiến, Pháp hy sinh hàng triệu người, để chống bọn xâm lǎng, để tranh lại quyền thống nhất, độc lập.

Nước Pháp cách Việt Nam muôn dặm, Việt Nam thống nhất độc lập có động chạm gì đến người Pháp mà người Pháp lại muốn cản trở Việt Nam. Người Việt Nam sẵn sàng hoan nghênh và cộng tác với những người sĩ nông công thương Pháp qua đây làm ǎn. Những lợi ích hợp lý về tiền tệ và vǎn hoá của người Pháp ở đây sẽ được Việt Nam bảo vệ. Những người Pháp không muốn ai phạm đến chủ quyền mình thì phải tôn trọng chủ quyền Việt Nam.

Chính phủ Việt Nam đã ký Tạm ước với Chính phủ Pháp thì Chính phủ và nhân dân Việt Nam quyết làm đúng theo Tạm ước đó.

Đồng thời Chính phủ và người Pháp cũng phải làm theo Tạm ước đó. Đó là lợi ích cho cả hai bên.

Chính phủ và nhân dân Việt Nam kiên quyết cộng tác thật thà với người Pháp. Song khi phải giữ chủ quyền của Tổ quốc, cần hy sinh thì cũng phải kiên quyết hy sinh.

Tôi thay mặt Chính phủ mà kêu gọi đồng bào toàn quốc sẵn sàng theo mệnh lệnh của Chính phủ.

Tôi cũng kêu gọi người Pháp ở đây thôi những hành động khiêu khích và thành thật cộng tác với Việt Nam một cách bình đẳng thân thiện. Máu Việt Nam và máu Pháp đổ đã nhiều rồi. Không nên đổ nữa. Vì lý lẽ gì, vì lợi của ai, mà đem máu quý báu của thanh niên Pháp (một thanh niên đầy những tương lai vẻ vang) đổ trên non nước Việt Nam. Người Việt và người Pháp cùng tin tưởng vào đạo đức:

Tự do, Bình đẳng, Bác ái, Độc lập.

Người Việt và người Pháp có thể và cần phải bắt tay nhau trong một sự nghiệp cộng tác bình đẳng, thật thà, để gây dựng hạnh phúc chung cho cả hai dân tộc.

Đó là ý nguyện rõ rệt của Việt Nam, mong người Pháp và toàn thế giới biết cho.

Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 414,
ngày 23-11-1946.
cpv.org.vn

Lời kêu gọi về việc quân Pháp lại gây hấn ở Hải Phòng

Tình hình Lạng Sơn chưa yên, thì tình hình Hải Phòng trở lại nghiêm trọng. Chẳng những quân đội Pháp không thi hành những điều đại biểu tướng Moóclie và đại biểu Chính phủ ta đã ký chiều ngày 20 tháng 11. Mà sáng nay họ lại yêu sách thêm những điều ta không thể nhận. Vì vậy lại bắt đầu xung đột.

Tôi kêu gọi Đại tướng Valuy, Tổng chỉ huy quân đội Pháp kiêm chức Thượng sứ, và các tướng lĩnh Pháp ở Việt Nam phải lập tức đình chỉ việc đổ máu giữa người Pháp và người Việt.

Tôi kêu gọi toàn thể đồng bào phải trấn tĩnh, các bộ đội và tự vệ phải sẵn sàng bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc, bảo vệ tính mệnh, tài sản của ngoại kiều.

Chính phủ luôn luôn đứng sát với toàn thể đồng bào để giữ gìn đất nước.

Việt Nam độc lập và thống nhất muôn nǎm!

Đọc ngày 23-11-1946.
Báo Cứu quốc, số 415,
ngày 24-11-1946.
cpv.org.vn

Các nhà vǎn hoá Việt Nam hãy chú ý đặc biệt đến nhi đồng(1)

Nhi đồng Việt Nam đã tiến bộ nhiều về vǎn hoá. Cứ xem mỗi khi có công việc gì thích hợp để làm, các em đã làm rất tài tình. Ví dụ như cần tuyên truyền Đời sống mới, cần chống nạn mù chữ, các em diễn được ngay những vở kịch ngắn, vui mà khéo biết bao! Hay là không biết có phải vì tôi thương nhi đồng mà tôi thấy thế?

Tôi xin thay mặt toàn thể thiếu nhi Việt Nam kêu gọi các nhà vǎn hoá Việt Nam hãy chú ý đặc biệt đến nhi đồng.

Phát biểu ngày 24-11-1946.
Báo Cứu quốc, số 417,
ngày 26-11-1946.
cpv.org.vn

——————————————-

1. Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong vǎn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta, Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu một kỷ nguyên mới của dân tộc – Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.1.

Lời kêu gọi đồng bào nông dân thành lập nghĩa thương

Hỡi đồng bào nông gia!

Vụ này mùa được, nhưng ta phải lo xa.

Mùa này được mùa sau chưa chắc được.

Ta phải để dành thóc đề phòng mùa sau khỏi đói.

Muốn để dành thì phải lập nghĩa thương.

Lập nghĩa thương có bốn điều lợi:

1. Để dành thì mình khỏi lo đói;

2. Để dành không mất đi đâu mà lại có lãi;

3. Để dành đã ích riêng cho mình, lại ích chung cho đồng bào;

4. Chỉ để dành một nǎm mà cả đời khỏi lo đói.

Cách tổ chức thế nào Bộ Canh nông sẽ bày cho. Vậy toàn thể nhân dân mọi làng, kẻ giàu để nhiều, kẻ nghèo để ít, phải mau mau thành lập nghĩa thương.

Làng nào lập được mau nhất, khá nhất, nhiều thóc nhất, thì báo cáo cho tôi biết.

Lời chào thân ái
Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 418,
ngày 27-11-1946.
cpv.org.vn

Chiến đấu vì chính nghĩa

Chiến sự ở miền Nam chưa dứt, nay quân đội Pháp lại gây chiến cả ở miền Bắc.

Một cuộc bắn giết đương tiếp diễn ở Hải Phòng, Lạng Sơn mỗi ngày thêm kịch liệt. Rõ ràng quân đội Pháp đã thẳng tay tiến công, bất chấp tín nghĩa. Đối với cuộc chiến đấu tự vệ của ta, quốc dân đã theo dõi từng ly từng tí, nhưng không khỏi hoang mang. Vậy đứng về phương diện chiến lược, chúng ta thử xét sau này tình thế sẽ biến chuyển ra sao.

I. CHIẾN THUẬT PHÒNG NGỰ

Đối với quân địch có vũ khí tối tân, chúng ta không thể không áp dụng chiến lược phòng ngự. Nhưng trong thế thủ, chúng ta quyết chiến đấu đến cùng, kỳ đánh bại được quân địch tấn công mới nghe. Vì vậy, sự chiếm đoạt một khoảng đất hay một thành thị, chưa thể quyết định được hơn thua. Có lúc phòng ngự để tiến công. Có lúc rút lui để tiền tiến 1 . Có lúc đánh cạnh sườn để rồi đánh chính diện. Có lúc đánh đường vòng để rồi đánh đường thẳng. Về quân sự có nhiều quanh co, khuất khúc, không thể thẳng ngay một mực mà đạt được kết quả. Vấn đề quan trọng hơn hết là làm thế nào bảo tồn được lực lượng để chờ thời cơ trừ diệt địch quân. Như vậy, dù có phải rút lui ở một vài cǎn cứ cũng không lấy gì là ngạc nhiên, đó là con đường phải qua trong cuộc chiến tranh tự vệ. Hơn nữa, lúc quân địch bắt đầu tấn công, chúng ta chưa thể biết đích bộ đội nào mạnh, bộ đội nào yếu và đường tiến thoái của chúng thế nào, nên phải tạm thời rút lui để có thời gian điều tra rõ ràng. Còn muốn so sánh được thua, cần phải phân tích kỹ lưỡng tình hình về mọi phương diện.

II. PHÒNG NGỰ ĐỂ TRỪ DIỆT ĐỊCH QUÂN

Đánh giỏi cần phải giữ giỏi. Giữ giỏi cũng cần phải đánh giỏi. Đánh, giữ cần phải giỏi cả mới trừ diệt được lực lượng của quân địch là điều kiện có thể quyết định thắng lợi. Đối với một người, làm thương tổn 10 ngón tay không đau đớn bằng cắt đứt hẳn đi 1 ngón tay. Về quân sự cũng vậy, đánh bại 10 sư đoàn không bằng trừ diệt 1 sư đoàn. Vì vậy, dù ở thế thủ hay thế công, chúng ta phải dùng mọi phương pháp trừ diệt lực lượng của địch quân.

Nhưng giữ thế thủ không phải cố chết để mà giữ, không phải chống nhau với quân địch ở ngoài cửa ngõ, mà phải dụ quân địch vào sâu để trừ diệt chúng. Đánh trận trong thế thủ, phải hết sức tránh những lúc quyết chiến bất lợi, vậy không thể cố chết để bo bo giữ lấy một thành thị nào nếu xét ra không có lợi cho mình. Vả lại, chiến lược tiêu hao lực lượng của địch là chiến lược rất mầu nhiệm trong cuộc chiến tranh tự vệ.

III. NHÂN HOà MớI Là ĐIềU KIệN QUYếT ĐịNH

Điều kiện trừ diệt địch quân phải là điều kiện nhân hoà. Trong hai phe giao chiến, phe nào có đầy đủ điều kiện nhân hoà là phe ấy thắng. Chỉ phe nào vì chính nghĩa mà chiến đấu, phe ấy mới có đủ điều kiện nhân hoà. Từ khi giựt được chính quyền trong tay phát xít Nhật, chúng ta luôn luôn chiến đấu để bảo vệ đất nước bằng mọi hình thức: chính trị, kinh tế và quân sự. Quân đội Việt Nam và dân chúng Việt Nam đã liên kết thành một khối, quyết không chịu làm nô lệ dưới một chế độ thuộc địa nào. Trong khi chiến đấu, chúng ta được dân chúng ủng hộ, nhất định chúng ta được dư luận thế giới tán đồng, nhất định chúng ta sẽ thắng.

Trái lại, vì muốn giữ đặc quyền đặc lợi, bọn thực dân phản động Pháp đã dùng tàu bay, đại bác, bắn giết dân Việt Nam. Chúng đốt nhà cướp của, hiếp dâm, đàn áp, bắt bớ những dân vô tội, không một thứ thủ đoạn tàn bạo nào là chúng không làm. Chúng đã bội tín, chúng đã phản hiệp định, chúng đã bị chính nghĩa phỉ nhổ. Nhất định chúng sẽ bị lực lượng nhân dân tiêu diệt.

Ngoài điều kiện nhân hoà, chúng ta còn có điều kiện địa lợi và thiên thời. Từ hang cùng ngõ hẻm, núi sâu rừng rậm, đâu đâu cũng là đất nước Việt Nam, đâu đâu cũng có dân Việt Nam ở. Quân địch tiến đến chỗ nào, không thuộc địa hình, địa vật bằng dân quân Việt Nam ở chỗ đó. Chúng sẽ bị đánh úp bất ngờ. Trên đường hành quân của chúng, dân quân sẽ phá huỷ đường sá, cầu cống, hoặc chiếm đoạt quân nhu, lương thực, làm cho chúng hao mòn lực lượng. Nếu chúng đóng quân chỗ nào, nhân dân sẽ thực hiện kế hoạch vườn không nhà trống và kế hoạch tẩy chay.

Hơn nữa, dân ta nǎm nay được mùa, không phải lo đói, lo rét như hồi đầu nǎm. Với điều kiện vật chất khá đầy đủ, dân chúng đã đủ lực lượng chiến đấu đến cùng.

Có đủ ba điều kiện nhân hoà, địa lợi và thiên thời như trên, cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam nhất định sẽ thành công.

Q.T.

Báo Cứu quốc, số 427,
ngày 6-12-1946.
cpv.org.vn

Tấm lòng Bác Hồ đối với thương binh, gia đình liệt sỹ

Luôn dành tình cảm, sự quan tâm sâu sắc đến những người con của các gia đình liệt sỹ, ngay từ tháng 11 năm 1946, giữa bộn bề công việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Tổ quốc, toàn thể đồng bào và Chính phủ cảm ơn những chiến sỹ đã hy sinh, “gửi lời chào thân ái cho gia đình các liệt sỹ”, “nhận con các liệt sỹ làm con nuôi”(1), đồng thời đề nghị Ban Hành chính các địa phương toàn quốc phải báo cáo về các trường hợp con liệt sỹ, và sau khi xác định đúng sự thật thì đóng dấu chứng nhận rồi gửi ngay về Văn phòng Chủ tịch ở Hà Nội.

Đối với những thương binh, bệnh binh, Người khẳng định: Lòng yêu nước, chí kiên quyết của các chiến sỹ thật là đáng quý! Họ “thật xứng đáng với Tổ quốc, và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên những người con yêu quý như thế”… Tuy nhiên, Người cũng căn dặn, chớ nên công thần, ỷ lại và cũng tránh mặc cảm, tự ti để luôn cố gắng vươn lên “tàn mà không phế”. Trên tinh thần đó, Người biểu dương: Đồng chí Trần Chút (ở Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh), dù mất một tay, đã bốn lần liền được bầu làm Chiến sỹ nông nghiệp trong tỉnh, được cử đi dự Đại hội Anh hùng, Chiến sỹ thi đua toàn quốc. Đồng chí Nguyễn Văn Hơn (miền Nam), mất một tay, về sản xuất ở xã Liên Thành đã được bầu làm Chiến sỹ nông nghiệp tỉnh Nghệ An. Đồng chí Phạm Hữu Hoạt, mất một chân, là Chiến sỹ xuất sắc về ngành Chăn nuôi. Đồng chí Phạm Văn Tiêm, ở Nông trường quốc doanh Đông Hiếu, 12 lần được khen thưởng, được bầu làm Chiến sỹ thi đua toàn ngành, v.v. cùng nhiều chiến sỹ gương mẫu khác nữa. Quyết định chọn ngày 27 tháng 7 hàng năm là Ngày Thương binh – Liệt sỹ, “lòng Bác và Chính phủ cùng toàn thể quân đội và nhân dân” đã luôn ở bên cạnh, tiếp sức, chia sẻ với những đau thương mất mát của các thương binh, gia đình liệt sỹ. Người xung phong gửi một chiếc áo lót lụa,… một tháng lương… một bữa ăn của mình và các nhân viên tại Phủ Chủ tịch với tổng cộng là 1.127 đồng để giúp các chiến sỹ bị thương. Người động viên và hoan nghênh đồng bào tùy hoàn cảnh mà gửi thư, tặng quà hoặc quyên giúp quà tặng cho những thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sỹ. Không chỉ “nghiêng mình trước linh hồn các chiến sỹ và các đồng bào đã hy sinh vì Tổ quốc”, mong họ “chí quyết thắng ngày càng vững chắc”, Người còn nhiều lần tặng những món quà, như khăn mặt, áo quần mà đồng bào các nơi đã gửi biếu, hoặc gửi lương của Người, tặng Huy hiệu v.v… đến cho các thương binh, bệnh binh, đồng thời nhờ Bộ trưởng Bộ Thương binh, cựu binh chuyển lời thân ái của Người “an ủi những chiến sỹ và đồng bào hoặc bị thương”, chia sẻ, động viên gia đình thân nhân các liệt sỹ. Nhân ngày Ngày Thương binh – Liệt sỹ năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh trao cho Ban Tổ chức chiếc áo lụa mà chị em phụ nữ đã biếu Người để bán đấu giá gây quỹ giúp thương binh. Thể hiện lòng biết ơn đối với thương binh, nhiều tập thể và cá nhân muốn mua chiếc áo ấy. Cuối cùng, Liên hiệp Công đoàn Bắc Kạn đã mua được với giá cao nhất: 46.700 đồng Đông Dương. Trong khi đó, ở Nam Bộ, ông Cao Triều Phát cũng vận động bà con tín đồ đạo Cao Đài mua chiếc áo ấy với giá 100.000 đồng Đông Dương, nhưng do giao thông khó khăn cho nên bức điện của ông đến Ban Tổ chức quá muộn. Nhận được điện do Ban Tổ chức chuyển đến, Liên hiệp Công đoàn tỉnh Bắc Kạn quyết định gửi tặng chiếc áo này cho ông Cao Triều Phát và tín đồ đạo Cao Đài ở Nam Bộ. Sau khi nghe Ban Tổ chức Ngày Thương binh toàn quốc báo cáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư cho ông Cao Triều Phát. Cùng với bức thư, Người cũng gửi tặng ông tấm ảnh của mình làm kỷ niệm. Tấm ảnh này được in trên giấy ảnh cũ, trên đầu bức ảnh có dòng chữ viết tay mực tím “Tặng ông Cao Triều Phát. Đoàn kết – Kháng chiến – Thống nhất – Độc lập”. Phía dưới bức ảnh ở bên trái có ghi dòng chữ viết tay mực tím “10-47”, bên phải có chữ ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng mực tím ở trên dấu triện vuông của Người. Áo, thư và ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh được giao cho ông Bùi Thái Dương mang vào Nam Bộ trao trực tiếp cho ông Cao Triều Phát. Nhưng lúc đó ông Cao Triều Phát đang bận công tác, nên ông Thái Dương đành viết thư xin cáo lỗi và nhờ Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ chuyển tới ông và quý đạo hữu tín đồ thư và quà tặng của Người. Ông Cao Triều Phát đã giữ gìn chiếc áo, bức thư và tấm ảnh của Người rất trân trọng. Đó là những kỷ vật ông luôn mang theo bên mình như những báu vật trong suốt những năm kháng chiến. Khi tập kết ra Bắc, ông đem theo các kỷ vật đó và sau khi ông qua đời, gia đình đã trao những báu vật ấy cho Bảo tàng Cách mạng Việt Nam lưu giữ. Một lần khác, nhận được bốn chiếc chiếu của thương binh, bệnh binh Trại Dệt chiếu của tỉnh Tuyên Quang, Người rất vui lòng. Xúc động trước tình cảm của các thương binh, Người hỏi thăm cặn kẽ: Học dệt được chiếu cần bao nhiêu ngày tháng? Trung bình, dệt được một chiếc chiếu thường cần mấy giờ, và bao nhiêu vốn? Bán một chiếc được bao nhiêu lời? Với nghề dệt chiếu, có thể đủ ăn đủ mặc không? Sau đó, Người gửi biếu một chiếc áo do chị em phụ nữ tặng để làm “Giải thưởng thi đua trong Trại”. Suốt cuộc đời, Bác Hồ luôn luôn hết lòng yêu thương con người, đặc biệt là đối với những người đã dâng hiến một phần cuộc đời mình cho Tổ quốc và nhân dân. Bác đã gửi Bộ trưởng Bộ Thương binh, cựu binh “30.600 đồng do một kiều bào ở Trung Quốc gửi tặng và một tháng lương là 45.000 đồng để cụ làm quà cho anh em”, v.v. Đêm giao thừa năm 1956, Người đến thăm Trường Thương binh hỏng mắt Hà Nội, hỏi thăm tình hình sức khỏe, cuộc sống, công việc của các thương binh và căn dặn: “Các chú tàn mà không phế”. Sự khuyến khích, lời động viên của Người đã trở thành khẩu hiệu sống, lao động và học tập của bao thế hệ thương binh, bệnh binh. Trước lúc đi xa, trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta (bản thảo viết năm 1968), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành những dòng tâm huyết để căn dặn chúng ta những vấn đề liên quan đến việc quan tâm, chăm sóc những thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, và chính sách đối với những người có công với cách mạng: “Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sỹ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong…), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”. Đối với các liệt sỹ, mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sỹ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta. Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sỹ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng Hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét”.

Cùng với thời gian, những chủ trương, chính sách cụ thể, những phong trào như: Đền ơn đáp nghĩa, Đi tìm đồng đội, Phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, chính sách đối với những người có công, v.v. của Đảng và Nhà nước, của toàn dân ta ngày càng sôi nổi và phong phú. Trong những năm từ 1997 đến 2003, từ 2005 đến 2008 trong phạm vi cả nước, chúng ta đã trao tặng 231.373 nhà tình nghĩa và 628.927 sổ tiết kiệm tình nghĩa cho các gia đình chính sách, giúp đỡ các gia đình chính sách phát triển sản xuất, giải quyết nhà ở, học hành, dạy nghề, tạo việc làm, chữa bệnh, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa tinh thần. Đồng thời với việc đẩy nhanh tiến độ, hiệu quả giải quyết những chính sách, chế độ sau chiến tranh, Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền đã tăng cường chỉ đạo, phối hợp chặt chẽ từ Trung ương xuống địa phương với lực lượng vũ trang và nhân dân để tổ chức tìm kiếm, quy tập mộ liệt sỹ, tu sửa, nâng cấp, quản lý tốt các Nghĩa trang, Đài tưởng niệm, Bia ghi tên liệt sỹ, v.v… Làm tốt những điều đó, chúng ta không chỉ tri ân những người đã khuất, cổ vũ động viên người còn sống, thấm sâu đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, mà còn góp phần xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, tạo động lực thúc đẩy sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Cùng nhau ôn lại tình cảm, sự quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các thương binh, bệnh binh, các gia đình liệt sỹ, cũng là một cách thiết thực để chúng ta thắp nén tâm nhang trước anh linh các liệt sỹ, đồng thời góp phần làm cho tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh tỏa sáng trong thực tiễn.

TS Văn Thị Thanh Mai
Theo 
baomoi.com

Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

 

 

 

Thương yêu, chăm sóc thiếu nhi

Sinh thời, cứ vào những ngày kỷ niệm Quốc tế thiếu nhi 1.6, Tết Trung thu, Ngày khai trường hoặc mỗi khi các cháu thiếu niên nhi đồng làm được những việc tốt, đạt thành tích xuất sắc, Bác Hồ thường có thư khen ngợi, tặng quà, tặng danh hiệu Cháu ngoan Bác Hồ. Khi sắp đi xa, trong Di chúc  Người “để lại muôn vàn tình thân yêu cho các cháu thanh niên và nhi đồng”…

Thương yêu thiếu niên, nhi đồng là tình cảm thường trực trong Bác. Bác đặt niềm tin, ân cần khuyên nhủ, nhẹ nhàng chỉ bảo “tuổi nhỏ làm việc nhỏ. Tùy theo sức của mình”; biểu dương, khen ngợi kịp thời khi các cháu đạt thành tích xuất sắc, một hình thức giáo dục nêu gương, một cách nhân điển hình hiệu quả nhất. Bác chăm lo, dạy dỗ các cháu từ việc nhỏ đến việc lớn “việc gì có ích cho kháng chiến, có ích cho Tổ quốc thì các cháu nên gắng sức làm. Tuổi các cháu còn nhỏ. Nhiều công việc nhỏ cộng lại thành công việc to”… Năm điều Bác Hồ dạy đã trở thành tiêu chuẩn đạo đức của trẻ em Việt Namphấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện để trở thành cháu ngoan Bác Hồ.

Bác khuyên người lớn và các nhà giáo dục trẻ em phải nắm được tâm lý trẻ em, những điều cần dạy và cách dạy trẻ em “cách dạy phải nhẹ nhàng, đừng dạy các em trở thành những ông cụ non. Đối với trẻ em phải giáo dục như thế nào cho các cháu biết đoàn kết, ham học, ham làm, nhưng phải làm sao cho trẻ có kỷ luật nhưng vẫn vui vẻ hoạt bát chứ không phải khúm núm đặt đâu ngồi đấy”. Bác đặc biệt nhấn mạnh, điều quan trọng nhất là người giáo dục trẻ em phải là tấm gương sáng cho các em noi theo: “Trẻ em hay bắt chước cho nên thầy giáo, cán bộ phụ trách phải gương mẫu, từ lời nói đến việc làm. Dạy các cháu thì nói với các cháu chỉ một phần, cái chính là phải cho các cháu nhìn thấy, cho nên những tấm gương thực tế là rất quan trọng. Muốn dạy cho trẻ em thành người tốt thì trước hết các cô, các chú phải là người tốt”. Bác chỉ thị công việc giáo dục trẻ em là công việc không phải chỉ một số người trực tiếp giáo dục trẻ em mà phải là công việc của toàn Đảng, toàn dân, toàn xã hội.

Bác dạy: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Bác thực sự gương mẫu thực hiện hai lợi ích trồng cây và trồng người. Mỗi khi các cháu đạt thành tích xuất sắc, dù bận trăm công nghìn việc của cách mạng, của Đảng, của Nhà nước, Bác vẫn không quên biểu dương, khen ngợi các cháu kịp thời. Để giáo dục và khích lệ các cháu, Bác thường nêu những tấm gương điển hình của thiếu nhi trong lịch sử và trong đời sống cụ thể hàng ngày.

Bác Hồ với một tình thương yêu bao la, một tầm nhìn sâu rộng, là người đầu tiên phát hiện và chỉ ra vai trò của thiếu nhi trong sự nghiệp cứu nước và xây dựng đất nước và cũng là lần đầu tiên khẳng định thiếu nhi là lực lượng cách mạng trong công cuộc giải phóng đất nước, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

  • Vũ Minh Quân

baobinhdinh.com.vn

Hướng về nhân dân

Hướng tới nhân dân là định hướng hành động suốt cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Xây dựng một Nhà nước vì nhân dân phục vụ là một trong những tư tưởng chính trị đạo đức lớn của Người.

Ngay từ 1941, khi mới về nước, thành lập thí điểm Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh Hội, Bác Hồ đã có chủ trương: “Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới, không phải thuộc quyền riêng của giai cấp nào mà là của chung, của toàn thể dân tộc, chỉ trừ bọn tay sai của đế quốc Pháp, Nhật và những bọn phản quốc…”. Khi thời cơ đến, chuẩn bị tổng khởi nghĩa, Bác Hồ tính đến việc thành lập Chính phủ lâm thời bằng một Quốc dân Đại hội ở Tân Trào.

Ngay sau ngày “Tuyên ngôn độc lập” 2.9.1945, ngày 3.9 Bác chủ trì phiên họp Chính phủ để giải quyết hàng loạt những khó khăn cực kỳ phức tạp được ví như “ngàn cân treo sợi tóc”. Chính việc tổ chức Tổng tuyển cử bầu ra Nghị viện nhân dân Quốc hội khóa I và việc thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của dân tộc ta đã khẳng định địa vị pháp lý đầy đủ của Nhà nước Dân chủ nhân dân Việt Nam.

Nhà nước Dân chủ nhân dân Việt Nam ra đời là thành quả của cả dân tộc ta trong quá trình kháng chiến chống ngoại xâm dựng nước và giữ nước, đặc biệt là sự chiến đấu hy sinh anh dũng của đồng bào, cán bộ đảng viên, Đảng ta từ khi Đảng ra đời và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

Nhân ngày Tổng tuyển cử, bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Bác đã chỉ rõ: “Việc xây dựng Nhà nước do đó là trách nhiệm, là nghĩa vụ, là quyền lợi của mỗi người dân Việt Nam”. Theo tư tưởng của Bác, Nhà nước được xây dựng trên đất nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân: “Tất cả quyền bính đều thuộc về nhân dân, những vấn đề quan hệ đến vận mệnh quốc gia do nhân dân phán quyết”. Dân bầu ra người đại diện cho mình và có quyền bãi miễn nếu họ không còn xứng đáng. “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đổi Chính phủ”. Bác còn chỉ rõ: Phải xây dựng một nền chính trị liêm khiết, kiên quyết đấu tranh với 3 thứ giặc nội xâm là tham ô, lãng phí, quan liêu.

Một nhà nước pháp quyền và đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh là một nhà nước mà ở đó: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân/Chính quyền từ xã, đến Chính phủ, Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Đó là một nhà nước hướng tới bảo vệ và phục vụ lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, đồng thời với việc trừng trị một cách nghiêm khắc những hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của dân tộc, của nhân dân.

  • Hoàng Mai

baobinhdinh.com.vn

Người thầy của báo chí cách mạng

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ đã viết rất nhiều bài báo với nhiều bút danh khác nhau.

Điều đặc biệt ở “nhà báo Hồ Chí Minh” là văn phong báo chí của Người luôn giản dị, ngắn gọn nhưng sinh động, dễ hiểu. Trong đó, tính đại chúng được thể hiện rất đậm nét. Bác nói: “Kinh nghiệm của tôi thế này. Mỗi khi viết một bài báo, thì tự đặt câu hỏi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì, viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc?”. Mỗi lần đi xuống cơ sở, Bác thường khai thác thông tin mọi mặt về đời sống của nhân dân rất kỹ nên những bài báo của Người luôn có “tương cà, mắm muối” và những công việc thường ngày của quần chúng nhân dân lao động. Việc sử dụng ngôn ngữ báo chí của Bác thể hiện tình cảm, thái độ của Người đối với văn hóa dân tộc. Người nói: ‘‘Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc”. Do đó trong khi viết, Bác thường dùng lối so sánh ví von hoặc ca dao, tục ngữ, thành ngữ dân gian.

Người đòi hỏi cán bộ đảng viên khi nói, viết sao cho giản dị, dễ hiểu cốt để quần chúng hiểu ngay và làm được, nắm cái thần của sự vật, đi ngay vào cái cốt lõi của vấn đề. Người cũng yêu cầu các nhà báo khi nói, khi viết: “Phải học cách nói quần chúng. Chớ nói như giảng sách. Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng… Khi viết, khi nói, phải luôn luôn làm thế nào cho ai cũng có thể hiểu được. Làm sao cho quần chúng đều hiểu, đều tin, đều quyết tâm theo lời kêu gọi của mình…’’. Người nói: ‘‘Một tấm gương tốt còn có tác dụng hơn một trăm bài diễn văn”.

Một điều đặc biệt nữa là, trong khi viết báo, Bác thường yêu cầu mọi người xung quanh đọc lại bản thảo xem có từ ngữ nào khó hiểu để sửa lại văn phong cho trong sáng, từ ngữ giản dị, ý tứ sâu sắc. Khi viết bài báo ‘‘Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân’’ (đăng trên báo Nhân dân số 5409 ra ngày 3.2.1969), trước khi gửi đến Tòa soạn Bác đã cho đánh máy thành nhiều bản gửi đến từng đồng chí ủy viên Bộ Chính trị đề nghị tham gia ý kiến. Hiện nay, đọc lại bài báo này của Bác, chúng ta thấy bài viết có bố cục rất chặt chẽ, câu chữ vô cùng sâu sắc, và đặc biệt là nội dung đề cập vẫn còn nguyên tính thời sự nóng hổi.

Đối với những người làm báo, phong cách, tư tưởng, quan niệm… làm báo chí cách mạng của Bác là một tài sản vô cùng quý báu. Người mãi mãi là người thầy, người đồng nghiệp của các thế hệ những người làm công tác báo chí cách mạng Việt Nam.

  • Ngọc Tuyền

baobinhdinh.com.vn

Phòng, chống “giặc” nội xâm

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn, giặc nội xâm là thứ giặc nguy hiểm, “gian giảo và xảo quyệt”. Nó luôn giấu mặt vô hình nhưng có thể xuất hiện ở mọi nơi, mọi chỗ, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Đó chính là chủ nghĩa cá nhân “việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết… không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình””.Theo Người, chủ nghĩa cá nhân “đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí… Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó. Những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân”. Cũng như con người, nếu cơ thể khỏe mạnh thì ít có vi trùng xâm nhập, khi sức đề kháng kém, thì bệnh tật bùng phát.

Trong bài viết cho tạp chí Học tập số 12 năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Kẻ địch gồm ba loại: Chủ nghĩa tư bản và bọn đế quốc là kẻ địch rất nguy hiểm. Thói quen và truyền thống lạc hậu cũng là kẻ địch to… Loại thứ ba là chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng tiểu tư sản còn ẩn nấp trong mình mỗi người chúng ta. Nó chờ dịp-hoặc dịp thất bại, hoặc dịp thắng lợi-để ngóc đầu dậy. Nó là bạn đồng minh của hai kẻ địch kia”. Ngày nay, trong điều kiện quá trình hội nhập kinh tế diễn ra mạnh mẽ, thì kẻ địch thứ ba này trở nên cực kỳ nguy hiểm, nó không chỉ là bạn đồng minh, đồng hành mà còn như một thứ công cụ đắc lực trợ giúp cho các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta. Tình trạng tham ô, tham nhũng thường xảy ra trong các lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công; chi tiêu thường xuyên bằng vốn ngân sách nhà nước; quản lý sử dụng nguồn vốn ODA; thực hiện các dự án, các chương trình mục tiêu quốc gia…

Những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã tích cực phòng, ngừa tham nhũng. Tuy nhiên, kết quả chưa được như mong đợi, tình hình tham nhũng vẫn còn nghiêm trọng và ngày càng diễn biến phức tạp, trở thành vấn đề xã hội quan tâm, lo ngại, bức xúc nhất hiện nay. Sở dĩ như vậy là do năng lực và sức chiến đấu, tự phê bình và phê bình của nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị cơ sở còn hạn chế; một số người đứng đầu cơ quan, đơn vị chưa thực sự quyết tâm đi đầu trong phòng ngừa tham nhũng; trên một số lĩnh vực, cơ chế, chính sách còn sơ hở, thiếu đồng bộ và chưa được khắc phục kịp thời; tính tiền phong gương mẫu của một số cán bộ, đảng viên không những chưa được phát huy mà còn không ít trường hợp vi phạm phẩm chất đạo đức, lối sống. Bên cạnh đó, đối tượng tham nhũng thường rơi vào những người có chức, quyền trong xã hội, hành vi tham nhũng tinh vi nên không ít khó khăn trong việc phát hiện, xử lý.

Thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” chúng ta cần và nhất thiết phải học tấm gương “Dĩ công vi thượng” của Bác, đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên hết. Nếu thiếu sâu sát thực tế và gần gũi quần chúng, không thật sự tôn trọng nhân dân thì “giặc” nội xâm càng có đất sinh sôi nảy nở. Chính vì vậy, việc tăng cường giáo dục đảng viên về đường lối, chính sách, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên đi đôi với duy trì nghiêm kỷ luật trong Đảng là rất quan trọng. Bên cạnh đó, các chế độ sinh hoạt, kiểm tra, tự phê bình và phê bình trong Đảng phải thường xuyên, nghiêm túc. Mỗi đảng viên cần phải ra sức học tập, tu dưỡng, tự điều chỉnh mình để tiến bộ; giải quyết tốt mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân với tập thể. Phòng ngừa, đấu tranh với “giặc” nội xâm là góp phần làm cho Đảng ta thật sự trong sạch vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh”.

  • Nguyễn Sinh

baobinhdinh.com.vn