Tag Archive | Hồ Chí Minh

Từ tấm lòng của Bác nghĩ về việc “đền ơn, đáp nghĩa” hôm nay

Kỷ niệm 65 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 / 27-7-2012)

QĐND – Mùa hè, Bác Hồ không dùng quạt máy nhiều mà vẫn quen dùng quạt tay (quạt giấy, quạt lá cọ). Đôi khi trời oi ả, thấy Bác làm việc vầng trán lấm tấm mồ hôi, anh em phục vụ bảo nhau quạt cho Bác nhưng Bác bảo Bác tự lo được. Mấy đồng chí bên Bộ Ngoại giao công tác ở nước ngoài gửi biếu Bác chiếc máy điều hòa nhiệt độ. Lúc này ở nước ta chưa cơ quan nào có máy điều hòa nhiệt độ, cán bộ ở Phủ Chủ tịch cũng mới được nghe, nay mới mắt thấy. Ai cũng mừng, từ nay Bác không còn phải phe phẩy cái quạt nữa. Bác đi công tác một tuần nữa mới về, các anh phục vụ quyết định lắp máy điều hòa vào phòng Bác, khi Bác về sẽ xin phép sau. Máy được lắp gọn gàng trong phòng làm việc của Bác, khi chạy thử, cầu dao điện vừa đóng, tiếng máy chạy ro ro. Ít phút sau nhiệt độ giảm dần, trong phòng Bác mát như đã cuối thu. Máy rất hiện đại, trong máy gắn thêm một bình bơm tự động có nước hoa, khi máy vận hành, van mở, nước hoa theo gió tỏa ra, trong phòng lúc nào cũng phảng phất mùi thơm, như hoa lan, hoa huệ vậy. Vắng Bác mấy ngày, anh em phục vụ hưởng cái mát trong phòng kín 24, 25 độ, trong khi bên ngoài 36, 37 độ, mọi người nghĩ rằng từ nay chắc chắn Bác làm việc khỏe hơn, ngủ ngon giấc hơn.

Hôm Bác về, anh em phấp phỏng, hồi hộp chờ đợi ý kiến Bác về máy điều hòa. Ban đầu, Bác thấy nhà mình có mùi lạ quá, mát dịu hẳn khác với ở bên ngoài. Anh em phục vụ xin lỗi Bác rồi trình bày lý do về máy điều hòa nhiệt độ. Không thấy Bác tỏ thái độ gì, anh em phục vụ nhìn nhau có vẻ yên tâm. Đến đầu giờ làm việc buổi chiều, Bác gọi anh Vũ Kỳ đến và ân cần bảo:

– Chiếc máy điều hòa nhiệt độ tốt đấy, các chú đem đến trại điều dưỡng thương binh. Hôm đến thăm thấy thương binh ở nóng lắm.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm thương binh hỏng mắt. Ảnh tư liệu.

Bác đến trại điều dưỡng thương binh Hà Nội. Bác đến bất ngờ, không báo trước, đi thẳng vào thăm anh em thương binh nặng nằm bất động, nóng cũng phải chịu vì quạt máy không đủ gió tới mọi nơi trong nhà. Bác vừa hỏi chuyện vừa cầm chiếc quạt giấy của Bác quạt cho anh em. Bác căn dặn các đồng chí lãnh đạo phải khắc phục mọi khó khăn, cố gắng điều trị, chăm lo bồi dưỡng để thương binh sớm phục hồi sức khỏe. Bác cũng dặn anh em thương binh yên tâm điều trị, kiên trì rèn luyện “Tuy là những người tàn mà không phế”. Giờ đây trong căn phòng mát dịu dù ngoài trời nắng chang chang, ai cũng thấy thoải mái, Bác lại chạnh lòng nghĩ đến thương binh. Anh em phục vụ không ngờ Bác lại dành máy cho thương binh, còn Bác lại trở về với cái quạt giấy, quạt lá cọ.

Xin nêu mẩu chuyện trên đây về Bác Hồ đối với thương binh vào dịp kỷ niệm Ngày Thương binh-Liệt sĩ 27-7 để thấy Bác lúc nào cũng dành sự chăm sóc cụ thể, thiết thực cho thương binh, gia đình liệt sĩ. Người nước ngoài đến thăm Việt Nam đã có nhận xét: Chỉ ở Việt Nam mới thấy nghĩa trang liệt sĩ tới cấp xã. Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai chống phát xít Đức ở châu Âu, gia đình nhiều liệt sĩ nhất là một gia đình ở Liên Xô có 5 liệt sĩ. Còn ở Việt Nam, gia đình mẹ Thứ ở Điện Bàn, Quảng Nam có 9 con và 2 cháu là liệt sĩ, mẹ Rảnh ở Củ Chi, TP Hồ Chí Minh có 8 liệt sĩ. Đó là 2 bà mẹ nông dân nghèo. Ngay trong gia đình ông Nguyễn Xuân Oánh, quyền Thủ tướng chế độ cũ thời Mỹ-Thiệu (1965-1966), cha ông là bác sĩ nha khoa Nguyễn Xuân Bái, lại là cơ sở chí cốt của Thành ủy Sài Gòn-Chợ Lớn những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Ông nhận nhiệm vụ của Thành ủy tập hợp một số trí thức, nhân sĩ công khai đấu tranh đòi Mỹ phải đàm phán với Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Ông bị địch bắt và chúng giam ông tại khám Chí Hòa khi con ông vẫn là quyền thủ tướng. Mỗi lần cần hoạt động công khai, Thành ủy thường giao trọng trách cho ông và đã xuất hiện công khai là lại bị bắt. Tù đày nhiều, tuổi càng cao, sức yếu nhưng ông vẫn hoạt động vì có uy tín trong trí thức, nhân sĩ Sài Gòn-Chợ Lớn.

Giáo chủ Cao đài Nguyễn Ngọc Tương có hai con trai đều quốc tịch Pháp, là cán bộ cao cấp của Nhà nước ta: Kỹ sư Nguyễn Ngọc Bích là Phó tư lệnh khu 9 (Nam Bộ) và kỹ sư Nguyễn Ngọc Nhựt theo lời kêu gọi của Bác Hồ từ Pháp về nước và được cử phụ trách công binh xưởng, sửa chữa và chế tạo vũ khí, rồi là Ủy viên ủy ban hành chính kháng chiến Nam Bộ. Hai ông bị địch bắt, riêng kỹ sư Nguyễn Ngọc Nhựt bị địch tra tấn dã man và chúng sẵn sàng tha chết nếu giáo chủ có đơn xin cho con. Giáo chủ trả lời người quyết định là con ông. Pháp đưa vợ kỹ sư Nhựt là một phụ nữ Pháp từ Pa-ri đến phòng giam kỹ sư để vận động ông đầu hàng. Kỹ sư Nhựt vẫn đấu tranh cho đến hơi thở cuối cùng. Bác Hồ và Chính phủ đã truy tặng liệt sĩ Nguyễn Ngọc Nhựt Huân chương Kháng chiến hạng nhất.

Tôi kể lại vài sự việc rất tóm tắt để chứng minh thương binh, liệt sĩ, gia đình chính sách gồm đủ mọi thành phần, giai cấp từ những người cùng khổ, những lao động đủ mọi ngành nghề cho đến những gia đình giàu có, kể cả một số quan chức chóp bu của chính quyền đối phương. Đảng của toàn dân, đúng như Bác Hồ đã nói: “Đảng của dân tộc”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự trường tồn của Nhà nước của dân, do dân, vì dân dựa trên những hy sinh không bờ bến, trên xương máu của mọi người Việt Nam, đông nhất là nông dân.

Ngay sau Đại thắng mùa Xuân 1975, Chính phủ tổ chức một hội nghị rất đặc biệt, chưa từng có: Hội nghị của những gia đình có bốn liệt sĩ trở lên. Hội nghị họp có một nét độc đáo: Đại biểu khá đông là các mẹ nông dân không quen ngồi ghế hàng tiếng đồng hồ, vì vậy rải chiếu để các mẹ ngồi còn ăn trầu. Hầu hết đại biểu có đủ tiêu chuẩn bốn liệt sĩ đến dự hội nghị là nông dân nghèo. Chỉ có ba gia đình chưa đủ tiêu chuẩn vẫn ưu tiên được mời đến dự là: Gia đình Lý Tự Trọng, gia đình Nguyễn Văn Trỗi và gia đình Phan Đăng Lưu, một Ủy viên Trung ương Đảng bị địch xử bắn tại Hóc Môn (Sài Gòn) năm 1940.

Hơn 25 năm đổi mới, thành tích nổi bật của Việt Nam là xóa đói giảm nghèo, hàng triệu hộ nông dân đã thoát nghèo, một số tổ chức quốc tế gợi ý các nước kém phát triển muốn thoát nghèo cần tham khảo kinh nghiệm Việt Nam. Chống đói nghèo ở bất cứ đâu, các gia đình thương binh, liệt sĩ nghèo cũng đứng đầu danh sách được sự giúp đỡ mọi mặt để có điều kiện phát triển sản xuất. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xây dựng nhà mới cho người nghèo cũng trước hết quan tâm đến nhà tình nghĩa cho các gia đình thương binh, liệt sĩ.

Kỷ niệm Ngày Thương binh-Liệt sĩ năm nay, trong hoàn cảnh nền kinh tế đang phải vật lộn với giá cả đắt đỏ, rất cần bám sát cơ sở để phát hiện những gia đình chính sách thiếu ăn để có biện pháp giúp đỡ.

Người thương binh đầu tiên của nước ta là Hoàng Cầm (sau này là Thượng tướng, Tổng thanh tra Quân đội). Ông tên thật là Đỗ Văn Cầm, sinh năm 1922, quê quán: Cao Sơn, Ứng Hòa, Hà Tây (nay là Hà Nội). Ông bị thương năm 1947, trong một trận đánh ở Đà Bắc. Khi ấy ông đã là cán bộ tiểu đoàn thuộc bộ đội Tây Tiến. Số thẻ thương binh của ông mang số 001, và sổ phụ cấp thương tật cũng mang số 001, cấp ngày 18-8-1958, do Bộ trưởng Bộ Thương binh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Vũ Đình Tụng ký. S.T.

Thái Duy
qdnd.vn

 

 

 

Đời đời nhớ ơn các Anh hùng liệt sỹ

Cách mạng Tháng Tám thành công, khi chính quyền cách mạng còn non trẻ, thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta. Với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ, chiến tranh bùng nổ. Trong cuộc chiến đấu này, nhiều chiến sỹ, đồng bào ta đã bị thương, nhiều người đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường.

Ngày 16/2/1947 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 20/SL “Quy định chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sỹ”. Đây là văn bản pháp quy đầu tiên khẳng định vị trí quan trọng của công tác thương binh, liệt sỹ đối với công cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc.

Cũng trong thời gian này, tại một cuộc họp ở xóm Bàn Cờ, xã Hùng Sơn huyện Đại Từ (Thái Nguyên), đại diện cho Đảng và Nhà nước đã chọn ngày 27 tháng 7 hàng năm là Ngày Thương binh toàn quốc.

Tháng 7 năm 1955, “Ngày Thương binh” được đổi thành “Ngày Thương binh – Liệt sỹ” để ghi nhận những hy sinh lớn lao của đồng bào, chiến sỹ cả nước cho chiến thắng vẻ vang của toàn dân tộc.

Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, theo Chỉ thị 223/CT-TW ngày 8/7/1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, từ năm 1975, ngày 27 tháng 7 hàng năm chính thức trở thành “Ngày Thương binh – Liệt sỹ” của cả nước.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến thương binh, liệt sỹ.

Bh vieng nghia trang LSBác Hồ viếng nghĩa trang liệt sỹ

Đã 65 năm trôi qua kể từ Ngày Thương binh – Liệt sỹ đầu tiên ấy, mỗi năm cứ đến ngày 27 tháng 7, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cả nước lại tưởng nhớ đến Bác và thêm tự hào về bước phát triển của công tác thương binh, liệt sỹ theo tư tưởng và sự chỉ đạo của Người. Cứ đến những ngày này mỗi người dân Việt Nam lại vô cùng xúc động, tưởng nhớ đến các Anh hùng liệt sỹ đã hy sinh, các mẹ Việt Nam anh hùng, các thươngbinh, bệnh binh đã hy sinh xương máu của mình, tô thắm những trang sử vẻ vang của dân tộc. Trong đó có những người tuổi đời còn rất trẻ đã gạt lại phía sau những hạnh phúc riêng tư, nguyện đem thân mình dâng hiến cho Tổ quốc. Biết bao người đã mãi mãi nằm lại trong lòng đất mẹ, hay để lại một phần thân thể, đã hy sinh máu xương vì lý tưởng cao đẹp, như Anh hùng lực lượng vũ trang, liệt sỹ, bác sỹ Đặng Thuỳ Trâm đã viết: “Hãy giữ vững tinh thần của người cộng sản, tinh thần trong suốt như pha lê, cứng rắn như kim cương và chói lọi muôn nghìn hào quang của lòng tin tưởng …”.

Nhân dịp này Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã xây dựng Kế hoạch 1037/KH-LĐTBXH, tiếp tục đẩy mạnh công tác đền ơn đáp nghĩa với Người có công và thân nhân của họ, tuyên truyền sâu rộng và tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về chính sách ưu đãi Người có công với cách mạng; giáo dục truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” cho thế hệ trẻ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các Bộ, Ban , ngành, đoàn thể Trung ương, các cấp ủy chính quyền địa phương; các tổ chức đoàn thể chính trị – xã hội tổ chức thực hiện các hoạt động thiết thực cụ thể để tất cả Người có công và nhân thân của họ đều được quan tâm, chăm sóc, ổn định về vật chất, động viên về tinh thần.

Tại thành phố Đà Nẵng, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã tổ chức Hội nghị biểu dương Người có công với cách mạng, tham dự Hội nghị gồm có các cấp lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và các vị lão thành cánh mạng, Anh hùng lực lượng vũ trang, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng và gần 400 đại biểu là thương binh, thân nhân liệt sỹ và người có công tiêu biểu đại diện cho gần 8,8 triệu người có công với cách mạng trên cả nước. Theo thống kê của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, hiện nay đối tượng Người có công có khoảng 8,8 triệu người (chiếm gần 10% dân số). Bên cạnh chế độ trợ cấp ưu đãi của Nhà nước, các hoạt động chăm sóc đời sống người có công cũng được duy trì thường xuyên. Hầu hết, người có công và thân nhân của họ đã được hưởng các chế độ ưu đãi về chăm sóc sức khỏe, cải thiện nhà ở, ưu đãi trong giáo dục, đào tạo và dạy nghề, tạo việc làm…Hàng vạn người có công được vay vốn từ Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm để phát triển sản xuất; hỗ trợ các cơ sở sản xuất, kinh doanh của thương bệnh binh và người có công, tạo điều kiện cho con, em của họ có việc làm, tăng thu nhập ổn định cuộc sống…Hệ thống cơ sở sự nghiệp phục vụ thương binh, thân nhân liệt sỹ và người có công bao gồm: các cơ sở nuôi dưỡng thương bệnh binh nặng, điều dưỡng luân phiên, các trung tâm chỉnh hình, phục hồi chức năng, sản xuất dụng cụ chỉnh hình đã có những hình thức quản lý hoạt động hiệu quả hơn, năng động hơn. Công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ, xây dựng, tu bổ nghĩa trang, đền đài liệt sỹ cũng được Nhà nước và toàn xã hội chăm lo. Cả nước hiện có gần 7.000 các công trình ghi công liệt sỹ, trong đó có 237 Đài tưởng niệm liệt sỹ, 3.540 Nhà bia ghi tên liệt sỹ và 3.077 Nghĩa trang liệt sỹ với tổng số trên 780.000 mộ, trong đó 630.000 mộ có đầy đủ thông tin và khoảng 303.000 mộ còn thiếu thông tin, hơn 208.000 hài cốt liệt sỹ chưa phát hiện, quy tập được. Nhiều công trình ghi công liệt sỹ trở thành công trình lịch sử – văn hóa, như: Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn (là nơi quy tụ hơn 10.333 phần mộ của các liệt sỹ, có tổng diện tích 140.000m2); Nghĩa trang Điện Biên Phủ; Nghĩa trang Đường 9, Đền liệt sỹ Bến Dược, Đài tưởng niệm liệt sỹ Thái Nguyên; Khu di tích kỷ niệm 10 cô gái ở Ngã Ba Đồng Lộc… đặc biệt phải kể đến như Thành cổ Quảng Trị chỉ trong vòng 81 ngày, Mỹ – ngụy đã ném xuống đây gần 330.000 tấn bom đạn, tương đương sức công phá của 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ đã ném xuống Nhật Bản năm 1945. Riêng ngày 25 tháng 7, chúng xả vào Thành Cổ hơn 5000 quả đại bác. Nhưng với tinh thần chiến đấu kiên cường quân và dân ta đã đánh địch bật ra khỏi Thành Cổ. Nơi đây là nghĩa trang duy nhất của Việt Nam chỉ có một nấm mồ chung, một nấm mồ tượng trưng. Những nơi này đã chở thành một tượng đài kỷ niệm chiến tranh bất diệt,một địa chỉ đỏ để giáo dục truyền thống yêu nước và là điểm thu hút hấp dẫn khách tham quan trong nước và bè bạn quốc tế.

Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” của cả nước ngày càng thu hút được đông đảo các tấm lòng hảo tâm quan tâm đóng góp. Chỉ tính riêng từ năm 2007 đến nay, Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” cả nước đã vận động được 1.263 tỷ đồng (riêng năm 2007, nhân dịp kỷ niệm 60 năm Ngày Thương binh – Liệt sỹ, cả nước đã vận động được 242 tỷ đồng), trong đó Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” Trung ương đạt 17,5 tỷ đồng.

Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cũng phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chỉ đạo trong toàn Đoàn và ngành Lao động – Thương binh và Xã hội tổ chức Tuần “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn” (từ ngày 20 tháng7 đến ngày 27 tháng 7). Các cấp bộ Đoàn và ngành Lao động – Thương binh và Xã hội tập trung tổ chức các hoạt động tuyên truyền về ý nghĩa ngày 27 tháng 7; chăm sóc, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng; động viên, thăm hỏi, tặng quà, khám sức khỏe thương bệnh binh, thân nhân gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng; tổ chức các hoạt động vệ sinh môi trường, tu sửa, chỉnh trang, tạo cảnh quan môi trường sạch, đẹp tại các nghĩa trang, tượng đài liệt sỹ, các di tích lịch sử văn hóa; tổ chức các hoạt động của tuổi trẻ giúp đỡ nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam. Theo báo cáo đăng ký của các địa phương, tính đến thời điểm này, các cấp bộ Đoàn đã tổ chức 33.216 hoạt động giúp đỡ gia đình thương binh, liệt sỹ; tổ chức thắp nến tri ân tại 2.098 nghĩa trang liệt sỹ với trên 800.000 ngôi mộ của các Anh hùng liệt sỹ; tổ chức trên 569.000 ngày công làm đẹp các nghĩa trang và công trình Tổ quốc ghi công các Anh hùng liệt sỹ… thu hút hơn 1 triệu đoàn viên thanh niên, sinh viên tham gia.

Tối ngày 20 tháng 7, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã dâng hương, hoa tại Đài tưởng niệm Trung tâm Thành cổ và làm lễ thả hoa trên dòng sông Thạch Hãn tưởng nhớ các Anh hùng liệt sỹ đã anh dũng chiến đấu và hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc trong chiến dịch bảo vệ Thành Cổ Quảng Trị 81 ngày đêm năm 1972. Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trao tặng quà cho Mẹ Việt Nam anh hùng, thương bệnh binh và thân nhân các gia đình liệt sỹ.

thăp hương tương niem cac AHLS tai thanh co QtThắp hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ tại Thành cổ Quảng Trị. Ảnh Internet

Trong những ngày tháng 7 tri ân này, các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có những hoạt động tích cực hưởng ứng Kế Hoạch 1037/KH-LĐTBXH, tiếp tục đẩy mạnh công tác đền ơn đáp nghĩa với Người có công và thân nhân của họ, tuyên truyền sâu rộng và tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về chính sách ưu đãi Người có công với cách mạng; giáo dục truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” cho các cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ trong đơn vị. Ban Quản lý Lăng đã xây dựng Kế hoạch 1898/KH-TM về phục vụ lễ tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 65 năm Ngày Thương binh – Liệt sỹ. Lãnh đạo Ban và tập thể cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ đã có những hoạt động thiết thực như: động viên, thăm hỏi, tặng quà, thương bệnh binh, thân nhân gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng; Tham gia khởi công xây dựng nhà tình nghĩa ở Phú Thọ, Sầm Sơn; Dự lễ cầu siêu các Anh hùng liệt sỹ ở Thành cổ Quảng Trị; ngày 26 tháng 7 Lãnh đạo Ban và tập thể cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ Ban Quản lý Lăng đã dâng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và vào Lăng viếng Bác; Thăm gia đình chính sách ở tỉnh Thái Bình; các đoàn viên thanh niên Đoàn 285 đã đến thăm hỏi và tặng quà Mẹ Việt nam anh hùng trên địa bàn; tập trung trang trí, làm đẹp khu vực Lăng và Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ; phục vụ công tác đón tiếp các Đoàn chính sách, Đoàn Người có công của các địa phương, các tổ chức xã hội về báo công dâng Bác và đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng Liệt sỹ.

65 năm qua, hệ thống văn bản pháp luật, cơ chế, chính sách tôn vinh, ưu đãi, chăm sóc người có công ngày càng được hoàn thiện. Công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ; xây dựng, tu bổ nghĩa trang, đền, đài liệt sỹ được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội luôn chăm lo. Hệ thống cơ sở vật chất cho thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sỹ và người có công ngày càng được tăng cường. Cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội đất nước, diện người có công được mở rộng, chế độ chăm sóc, ưu đãi được nâng lên dần. Đến nay, hầu hết những người có công và thân nhân, con em người có công đã được hưởng các ưu đãi về chăm sóc sức khỏe, giáo dục – đào tạo, giải quyết việc làm, cải thiện về nhà ở. Các hoạt động “đền ơn đáp nghĩa,” chăm sóc người có công đã thật sự trở thành một phong trào rộng khắp trong các tầng lớp nhân dân, các tổ chức xã hội, các cấp, các ngành, các địa phương trong cả nước với nhiều hình thức tổ chức, nhiều việc làm cụ thể, thiết thực, hết sức phong phú, sáng tạo, trở thành nét đẹp văn hoá trong đời sống xã hội./.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XLVIII)

NHỮNG ĐỨC TÍNH TỐT CỦA NGƯỜI PHÁP

Nói chung, những người Pháp yêu chuộng đức lành như Tự do, Bình đẳng, Bác ái.

Vì thế trong 150 nǎm, họ hy sinh phấn đấu mấy lần, cách mệnh đổ máu mấy lần.

Phần đông người Pháp có tính hào hiệp. Khi nóng lên thì mắng nhau, đánh nhau, không kỵ gì. Nhưng sau đó rồi lại thôi, không giận hờn lâu, lại bắt tay nhau tử tế như thường.

Thấy việc phải thì họ làm, không quản mất công tốn của. Họ đã cho là trái, thì dù anh em ruột thịt, họ cũng phản đối đến nơi. Họ đã nhận là phải, thì dù là người dưng nước lã, họ cũng hết sức giúp dùm.

Đối với những người phản đối khác, họ cũng coi như thường, không có tính bỉ thử.

Người Pháp lại vui tính, dễ làm quen. Nói nǎm ba câu chuyện mà ý hợp tâm đầu thì liền trở nên bạn tốt.

Nói tóm lại:

Người Pháp ở Pháp rất dễ thương dễ mến.

Trong mấy tháng chúng tôi ở Pháp thì trông thấy những đức tính đó một cách rõ ràng.

Những người mà tôi có thể gặp gỡ, bất kỳ đàn ông đàn bà, người già người trẻ, ai cũng tỏ tình thân mật.

Không phải vì tôi là Chủ tịch một nước mà những người đó thấy người sang bắc quàng làm họ. Nhưng họ tỏ tình thân mật một cách tự nhiên. Thí dụ như thanh niên nam nữ Pháp đến chào tôi, lúc ra về ôm hôn bá cổ như đã quen biết đã lâu…

Khi người Pháp nghe nói đến tình hình bên nước nhà ngày trước, như báo chí không được tự do, dân chúng không được tổ chức, hoặc những việc khủng bố, và thuốc phiện, rượu cồn, thì họ lấy làm ngạc nhiên, họ cho là quái gở, nhiều người lại nhǎn trán đập bàn mà nói:

“A chúng nó tàn nhẫn thế ư? Chúng nó bôi nhọ nước Pháp thế ư?”.

Nói đến Việt Nam độc lập, thì nhiều người hǎng hái tán thành. Họ nói: “Giời sinh ra người, ai cũng có quyền tự do. Nước Pháp muốn độc lập thì lẽ gì không để Việt Nam độc lập?”.

Biết bao nhiêu lần, nhi đồng, thanh niên, phụ nữ, công nhân, trí thức Pháp, ân cần nhắn nhủ gửi lời thân ái cho nhân dân Việt Nam.

Rồi đi đến đâu, người Pháp nghe nói là đại biểu của Việt Nam thì bất kỳ người quen kẻ lạ ai cũng tay bắt mặt mừng.

Có hiểu rõ tình hình người Pháp ở Pháp, mới thấy rõ ràng cái chính sách: “Hai dân tộc Việt – Pháp thân thiện”.

Trích Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch –
bốn tháng sang Pháp do Đ.H. viết. Bản đánh
máy lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.
cpv.org.vn

————————————-

1. Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong vǎn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta, Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu một kỷ nguyên mới của dân tộc – Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.1.

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XLVII)

TÍNH NGƯỜI PHÁP HAY QUÊN

Dân tộc nào cũng có người cẩn thận, cũng có người hay quên. Nhưng có lẽ dân Pháp nhiều người hay quên hơn.

Ở Paris có 1 cái kho, người ta nhặt được những vật người khác quên thì đem đến đó, để cho người chủ đến nhận. Hồi tháng 6-1946, kho ấy đã giả lại cho các chủ 20 tấn đồ đạc bỏ quên. Nhưng hãy còn lại:

8 vạn cái ô

7.111 chùm chìa khóa

5.000 kính đeo mắt

800 cái valy

5.000 cái cặp da.

Những đồ đạc quên thì quên ở đâu? Có thể nói gặp đâu quên đó. Nǎm ngoái người ta nhận được 13.000 cái đồ quên, trong số đó 6.500 thứ quên ở trong xe điện chạy dưới hầm, 4000 thứ quên ở ô tô bút, 1.500 thứ quên trên xe hơi cho thuê. Còn bao nhiêu quên ngoài đường cái. Trong các thứ đồ đạc bỏ quên, có những thứ rất lạ, thí dụ: có những pho tượng nặng 30 cân, những hộp thuốc uống, những kinh thánh, những lọ độc bình, yếm đàn bà, bánh xe hơi, những vòng hoa phúng đã đề tên tuổi, thậm chí cả đến tủ sắt đựng bạc.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XLVI)

LÒNG ÁI QUỐC CỦA NGƯỜI PHÁP

Trong thời kỳ Pháp bị Đức chiếm, có nhiều người Pháp rất là oanh liệt. Nhiều người không may bị bắt bị tra khảo, thà chết chứ không nói, thà chết chứ không hàng. Xem lại lịch sử kháng chiến của Pháp, khiến cho ai cũng kính trọng một dân tộc anh hùng.

Tuy vậy, nước Pháp cũng như nước khác, không khỏi có bọn chó sǎn chim mồi, chỉ biết ích mình, không biết Tổ quốc. Vì vậy sau ngày giải phóng, dân Pháp đã thi hành một cuộc tẩy trừ. Kết quả:

Đến ngày 15-7-1946 có:

4.912 người bị xử tử hình

1.834 người bị khổ sai chung thân

9.899 người bị khổ sai có kỳ hạn

1.836 người bị giam sà lim

19.466 người bị giam

41.550 người bị tước quyền công dân.

Trong những người đó, người lớp nào cũng có. Những kẻ cõng rắn cắn gà nhà, rước voi về giày mồ, bất kỳ dân tộc nào cũng ghét. Chúng chết chẳng ai thương. Tuy có bọn chó má đó, cũng không thể ngǎn trở cuộc giải phóng của một dân tộc.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XLV)

TÔN GIÁO

Người Pháp theo đạo Thiên chúa đã lâu. Hồi thế kỷ thứ 18, các nhà bác học gây lên phong trào chống đạo. Trong cuộc Đại cách mệnh nǎm 1789 có vận động chống đạo. Nhưng về sau, tôn giáo vẫn thịnh hành. Hiện nay mỗi một làng có một nhà thờ đạo. Tuy vậy, không phải mọi người Pháp đều tin đạo.

Báo “Nước Pháp chiều nay” ngày 8-8-1946 điều tra 100 người, kết quả như sau:

Hỏi: Anh hay chị có tin đạo không?

65 người trả lời: có

32 người trả lời: không

3 người trả lời: nửa có nửa không.

Đàn bà có nhiều người tin đạo hơn đàn ông:

Trong 100 người đàn bà có 73 người tin.

Trong 100 người đàn ông có 52 người tin.

ở thôn quê, nhiều người tin đạo hơn ở thành thị:

Trong 100 người ở thôn quê, 69 người tin.

Trong 100 người ở thành phố, 61 người tin.

Nhà giàu, nhiều người tin đạo hơn nhà nghèo:

Trong 100 người nhà giàu, 77 người tin.

Trong 100 người nghèo, 57 người tin.

Lớp nhiều tuổi, nhiều người tin đạo hơn lớp ít tuổi:

Trong 100 người già, có 80 người tin.

Trong 100 người trẻ, có 56 người tin.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XLIV)

VỀ MẶT CHÍNH TRỊ

Người Pháp ưa bàn chính trị. Bất kỳ sĩ, nông, công, thương, bất kỳ gái trai, già trẻ, ai cũng nói được chính trị. Bất kỳ đi trên xe lửa, hoặc ra ngoài công viên, phần đông là mỗi người trong tay có một tờ báo. Một dân tộc mà ham chính trị như vậy là một điều tốt.

Người Pháp tư tưởng rất tự do. Có khi trong một gia đình mỗi người có một ý kiến riêng về chính trị. Bố mẹ thì vào Đảng Cộng hoà, anh thì vào Đảng Xã hội, em thì vào Đảng Cộng sản. Khi ngồi chung nói chuyện thì bàn cãi rất hǎng. Nhưng hết bàn chính trị, thì lại rất là thân ái.

Trong 100 người thì 70 người ham chính trị. Mỗi lần có cuộc bỏ phiếu, thì hơn 75 phần trǎm nhân dân tham gia.

Nhưng về chính trị quốc tế thì ít người ham. Báo “Libé Soir” ngày 27-8-1946 điều tra trong 100 người. Đặt câu hỏi: “Anh chị có thường xem những bài thảo luận của hội Hoà bình hay không?”

19 người trả lời: Ngày nào cũng xem.

44 người trả lời: Khi xem khi không.

37 người trả lời: Không xem bao giờ.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XLIII)

NGƯỜI PHÁP

Nǎm 1939, trước ngày chiến tranh, toàn nước Pháp, 90 quận có 41.126.000 cả gái trai già trẻ.

Nǎm nay là nǎm 1946, nước Pháp có 39.700.000 người. Nghĩa là so với 6 nǎm trước, kém mất 1.426.000 người, so với mấy nǎm trước số thanh niên đến 19 tuổi, kém mất 1.118.000.

Số thành nhân, từ 20 đến 60 tuổi kém mất 299.000 người.

Số người già ngoài 60 tuổi kém mất 9.000 người (Báo “Aube”, 17-8-1946).

Thanh niên là sức chính của mọi sự kiến thiết. Thiếu thanh niên, thì việc gì cũng khó thành công. Số thanh niên Pháp kém hụt nhiều như thế, có ảnh hưởng rất to đến vận mệnh của nước Pháp.

*

*      *

Xưa nay, người Pháp có tiếng sinh hoạt phong lưu. Cách ǎn kiểu mặc của Pháp, nổi tiếng khắp hoàn cầu. Paris và các nơi nghỉ mát như: Biarritz, Dauville, Côte d’Azur, là nơi mà những người giàu sang các nước thường tìm đến, để hưởng hạnh phúc trên đời.

Nhưng sau cuộc chiến tranh này, nước Pháp không khỏi túng thiếu, và giá sinh hoạt lên cao. Thử xem giá bánh mì.

Nǎm 1900 Giá 1 cân 0f20

– 1914 – 0,42

– 1920 – 0,98

– 1939 – 3,10

– 1945 – 7,40

– 1946 – 13,50

Giá các thức ǎn khác:

Nǎm 1848

Nǎm 1939

Nǎm 1946

Giá 1 lít rượu

0f50

1f48

9f50

– 1 lít sữa

0,18

1,50

9,00

– 1 quả trứng

0,05

0,68

5,00

– 1 cân thịt bò

0,92

11,00

88,00

Ngày nay, vật giá đã đắt, mà lại phải có thẻ mới mua được, thịt tươi ít khi có, chỉ có thịt hộp. Mỗi người mỗi tuần lễ chỉ mua được 120 gr, nghĩa là mỗi ngày không đầy 30 gr.

Rượu vang mỗi tháng mỗi người mua 3 lít

Đường 500 gr

Thịt tươi 320 gr

Sữa bò 1 lít

Bánh mì 300 gr1)

Mua áo quần phải có thẻ, mỗi người mỗi nǎm được một thẻ, mỗi thẻ có 120 điểm. Nhưng một bộ quần áo phải có 200 điểm mới mua được. Thế là phải chờ 2 nǎm mới mua được một bộ quần áo.

Sự hạn chế cũng không tránh khỏi tệ lậu. Một thí dụ: hạ tuần tháng 8 nǎm nay, ở thành phố Nice, phát giác một đám bán thẻ lậu, 50 người thông đồng với nhau, mỗi tháng bán lậu 53.000 cái thẻ. Trong 2 nǎm được lãi chừng 236 triệu tiền Pháp. Báo “Aurore” ngày 30-8-1946 thuật lại rằng: Nice là một thành phố hơn 214.000 người, mà trong 2 nǎm đã lậu đến:

600.000 cân đường

490.000 cân mỡ

2.400.000 lít rượu vang

12.000.000 cân bánh mì

Một thành phố nhỏ đã bán lậu như thế thì tất cả nước Pháp bán lậu biết bao nhiêu?

Giá đắt, mà chỗ này chỗ khác lại không nhất luật. Báo “Le Pays” ngày 19-7-1946 viết rằng: ǎn một bữa cơm xoàng ở:

Brive Giá 50f

Nantes – 90

Clermont Ferrand – 120

Lyon – 190

Paris – 250

Marseille – 350

Những người nhiều tiền thì mua tiên cũng được. Những người lao động thì tay làm hàm nhai đã quen rồi, khổ nhất là những công chức ít lương, những người ǎn lương hưu trí, những người rǎngchiê (rǎngchiê là những người có một số tiền gửi vào Ngân hàng, mỗi tháng lấy tiền lời đó mà sống). Ngày nay ǎn uống đắt đỏ, nhưng tiền lời vẫn như cũ. Lớp người này làm thầy cũng dở, làm thợ cũng rầy. Tiền thì ít, nhưng cứ muốn giữ thể diện.

Báo “Chiều nay” ngày 26-7-1946 viết rằng: 10 người công chức Pháp thì 9 người lương không đủ ǎn.

Báo “Dépêche” ngày 23-8-1946 viết rằng: hàng triệu người Pháp phải nhịn đói.

Hoàn cảnh càng quẫn bách sinh hoạt càng khó khǎn, thì càng nhiều việc bối rối? Hoặc là trộm cướp, hoặc là gian lận. Cảnh sát Paris tổ chức rất khéo, thế mà ngày nào ở kinh đô Pháp cũng có mặt đám trộm cướp. Như ngày 30-8-1946 đến 8 đám cướp, ngay ngày 5, 6, 7, 8 tháng 9 mỗi ngày 5, 6 đám cướp.

Một thí dụ về việc gian lận: một đám thụt két to nhất mới xảy ra trong thượng tuần tháng 9. Các báo đǎng rằng: 13 người làm việc trong nhà Pháp quốc Ngân hàng, thụt đến 127 triệu quan.

Ai không có tiền, lại không biết gian lận, không biết cướp giật, thì tự sát hoặc chịu chết đói.

Báo “Résistance” ngày 27-8-1946 đǎng tin sau này: Thảm kịch vì khổ sở… Bà Défranc, nấu bếp ở số 2 phố Libération, tự sát bằng hơi ngạt. Trong khi bà ấy tự sát, muốn làm chết ngạt cả 3 đứa con, một gái 2 tuổi, hai giai 4 tuổi và 6 tuổi.

Báo “Paris buổi sáng” ngày 20-8-1946 đǎng tin: ở Seten, một đứa trẻ con 3 tuổi chết đói bên thây người mẹ nó đã 4 ngày. Người ta đưa nó vào nhà thương, nhờ thầy thuốc sǎn sóc, em bé này sống lại.

Ai ngờ ở nước Pháp cũng có cảnh tượng như thế.

Người đời xưa nói: “Dân giàu thì nước có, dân quẫn thì nước nghèo”. Pháp là một nước giàu có, nhưng trong cuộc chiến tranh bị tàn phá nhiều. Cho nên dân nghèo, tiền ít. Theo báo Paris ngày 6-9-1946, thì nǎm nay số chi tiêu cộng là 800.000 triệu quan. Nhưng thu nhập chỉ được 500.000 triệu, còn thiếu 300.000 triệu quan, nghĩa là mỗi tháng thiếu 25.000 triệu. Vì vậy vừa rồi Bộ trưởng Bộ Tài chính qua Mỹ để vay một món tiền.

*

*      *

Ngoài sự ǎn mặc, còn sự vui chơi. Người Pháp thích những thú vui lịch sự. Nhưng không phải người nào cũng thích như nhau. Theo báo “Kháng chiến” ngày 25-8-1946: Nếu hỏi anh hay chị ham chơi thứ gì? thì được trả lời như sau:

Trong 100
người đàn ông:

Trong 100
người đàn bà:

Xem chiếu bóng

15 người

26 người

Ham đi cắm trại

21

18

Ham xem sách

18

21

Ham nghe vô tuyến điện

16

18

Ham thể thao

20

5

Ham xem hát

10

12

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XLII)

Cụ đi thǎm cung điện Chantilly – ông Sainteny đến gặp Cụ.

Ngày 11 tháng 8

Hôm nay chủ nhật, khí giời mát mẻ, công việc hơi rảnh. Ông chủ nhà rủ Cụ và các anh em đi xem cung điện Chantilly.

Cung điện này cũng nguy nga, có nhiều toà nhà rất đồ sộ. Chung quanh có hồ sâu, ngoài có rừng bao bọc. Phong cảnh rất đẹp, người đến xem rất đông. Xem qua cung điện, đến xem hồ nuôi cá và đi dạo quanh rừng. Rồi Cụ và các anh em nằm trên bãi cỏ xanh nói chuyện. Trời hôm nay êm dịu, gió mát, hoa thơm. Nghỉ một chốc, ai cũng thiu thiu ngủ.

4 giờ rưỡi về đến nhà thì thấy ông Sainteny đương chờ Cụ. Chuyện trò chừng một tiếng đồng hồ, ông từ giã ra về.

Tin tức: Chỉ nói trong tháng 6, ở nước Anh có 412 người chết và 13.420 người bị thương vì nạn đi đường. Trong số đó 90 trẻ con chết vì đi đường và đi xe đạp bị xe cán. Báo “Le Pays” đǎng rằng: sau ngày Pháp được giải phóng, mỗi ngày trong nước có đến 300 người Pháp mất tích. Hiện nay, theo lời báo cáo của Bộ Nội vụ Pháp, mỗi ngày chừng có 50 người mất tích.

Báo “Chiều nay” đǎng tin rằng: ở nước Đức, nghề chợ đen rất phát đạt. Mươi hay mười hai kilô cà phê thì đổi được một chiếc xe hơi rất tốt, rất mới. Ba cái đồng hồ thì đổi được một chiếc xe hơi “gíp”.

Những người chợ đen, thứ này đổi thứ khác, vật này đổi vật kia. Quanh quẩn từ lúc đem lậu qua ý, từ ý qua Thuỵ Sĩ, v.v. tính ra một kilô cà phê họ được lãi hàng vạn quan tiền Pháp.

Đ.H

Báo Cứu quốc, từ số 402,
ngày 11-11-1946 đến số 439,
ngày 17-12-1946.
cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XLI)

Cụ đi thǎm lãnh tụ các Đảng.

Ngày 10 tháng 8

6 giờ chiều, sau khi Cụ Chủ tịch đi thǎm Ban Trung ương Đảng Cộng hoà Bình dân và Trung ương Đảng Xã hội, hôm nay Hồ Chủ tịch đến thǎm Trung ương Đảng Cộng sản Pháp. Lúc Cụ đến do ông Thorez, Phó Chủ tịch Chính phủ Pháp và ông Duclos, Phó Chủ tịch Quốc hội, đón tiếp.

Thế là Hồ Chủ tịch đã đi thǎm đủ cả các lãnh tụ ba đảng to nhất ở Pháp.

Tin tức: Mấy hôm nay, các báo Pháp nói rất nhiều những việc xảy ra ở Bắc Ninh, ở Nam Bộ và ở Xiêm Riệp. Lẽ tất nhiên, các báo hữu phái đều đổ lỗi cho ta, họ bảo rằng ta khiêu khích. Các báo tả phái thì giữ chính nghĩa và bênh vực ta.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XL)

Hồ Chủ tịch thǎm Viện khảo cổ Viễn đông.

Ngày 9 tháng 8

11 giờ, ông Stern, Giám đốc Viện Khảo cổ Viễn Đông mời Hồ Chủ tịch đi thǎm Viện đó. Trong Viện trưng bày nhiều pho tượng, bức vẽ, tranh ảnh của Trung Quốc, ấn Độ, Nam Dương và của nước ta.

Hai ông bà Stern cùng Cụ Chủ tịch nói chuyện về vǎn hoá Đông phương và Tây phương.

Bà Stern là một người chụp ảnh mỹ thuật rất khéo. Khi nói chuyện xong, bà xin phép để chụp ảnh Cụ.

Ông Schumann, Chủ tịch đảng cộng hoà bình dân chúc tụng Việt – Pháp thân thiện.

Ngày 9 tháng 8

2 giờ, Hồ Chủ tịch đi thǎm ông Maurice Schumann, Chủ tịch Đảng Cộng hoà Bình dân, tiếng Pháp quen gọi là “M.R.P”. Thủ tướng Bidault là một vị lãnh tụ đảng này. Ông Schumann chừng 40 tuổi, dáng người cao lớn, nói nǎng trịnh trọng. Trong những nǎm Pháp bị Đức chiếm, tướng De Gaulle ở Luân Đôn lo việc kháng chiến thì ông Schumann phụ trách tuyên truyền. Mỗi ngày ông nói tại đài vô tuyến điện, kêu gọi dân Pháp chống xâm lǎng, ủng hộ tướng De Gaulle. Sau khi Pháp được giải phóng, thì các ông Bidault, Gay, Michelt, Schumann, v.v. tổ chức đảng M.R.P. Đảng này về mặt chủ nghĩa thì theo công giáo, về mặt xã hội thì theo tự do. Ông Schumann chuyện trò rất thân mật và cất chén rượu chúc mừng Cụ Chủ tịch mạnh khoẻ và Việt – Pháp thân thiện.

4 giờ, ông Jean Bebel, phóng viên tờ báo “Liberation” đến thǎm Cụ Chủ tịch và ân cần mời Cụ đến chơi nhà ông ấy. Cụ cảm ơn và hứa bao giờ rảnh việc sẽ đến.

Báo “Liberation” là một báo phái tả, rất đồng tình với ta.

Đ.H

cpv.org.vn

Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch – Bốn tháng sang Pháp (XXXIX)

Cụ Chủ tịch đi thǎm ông Moutet và tướng Pellet –
Báo “Nhân loại” thường đǎng bài ủng hộ ta – ký giả báo ấy đến thǎm cụ Chủ Tịch.

Ngày 8 tháng 8

10 giờ rưỡi, Cụ Chủ tịch đi thǎm ông Bộ trưởng Moutet và gặp Trung tướng Pellet.

Tướng Pellet ngày trước có ở bên ta, nay làm việc ở phái bộ Hải ngoại, rất đồng tình với ta. Ông có một người con gái viết báo giỏi, thường đǎng những bài ủng hộ Việt Nam độc lập.

1 giờ trưa, ông Coutade đến thǎm Cụ Chủ tịch. Ông là ký giả của báo “Nhân loại”. Nǎm nay ông chừng 30 tuổi, rất thạo về tình hình chính trị thế giới. Vǎn chương của ông hoạt bát và sâu sắc. Ông cũng thường viết bài ủng hộ cuộc độc lập của nước ta.

4 giờ, ông Bộ trưởng Moutet mời Cụ đến nói chuyện.

5 giờ, ông nghị Lussy đến thǎm cụ.

Đ.H

cpv.org.vn