Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức đối với Đội ngũ trí thức

 

1. … Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà, mà anh em văn hóa và trí thức phải làm cũng như là những chiến sĩ anh dũng trong công cuộc kháng chiến để tranh lại quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc.

 

Gửi anh em văn hóa và trí thức Nam bộ, ngày 25-5-1947, sđd, t.5, tr. 131.

 

2. … Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc. Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế. Chứng thực là trong cuộc kháng chiến cứu quốc này, những người trí thức Việt Nam đã chung một phần quan trọng. Một số thì trực tiếp tham gia vào công việc kháng chiến, hy sinh cực khổ, chen vai thích cánh với bộ đội và nhân dân. Một số thì hăng hái hoạt động giúp đỡ ở ngoài.

 

Trả lời một nhà báo nước ngoài, ngày 22-6-1947, sđd, t.5, tr. 156.

 

3. … Những người trí thức tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến rất quý báu cho Đảng. Không có những người đó thì công việc cách mạng khó khăn thêm nhiều.

Nhưng có đôi người trí thức vì thế mà kiêu ngạo, lên mặt. Chứng kiêu ngạo lên mặt rất có hại cho họ. Nó ngăn trở họ tiến bộ.

… Một người học xong đại học có thể gọi là có trí thức. Song y không biết cày ruộng, không biết làm công, không biết đánh giặc, không biết làm nhiều việc khác. Nói tóm lại: công việc thực tế, y không biết gì cả. Thế là y có trí thức một nửa. Trí thức của y là trí thức học sách, chưa phải trí thức hoàn toàn. Y muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế.

Vì vậy, những người trí thức đó cần phải biết rõ cái khuyết điểm của mình. Phải khiêm tốn. Chớ kiêu ngạo. Phải ra sức làm các việc thực tế.

Lý luận phải đem ra thực hành. Thực hành phải nhằm theo lý luận.

Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên.

Lý luận cốt để áp dụng vào thực tế. Chỉ học thuộc lòng, để lòe thiên hạ thì lý luận ấy cũng vô ích.

Vì vậy, chúng ta phải gắng học, đồng thời học thì phải hành.

… Có nhiều đồng chí có bệnh tự tôn, tự đại, khinh rẻ người ta, không muốn biết, muốn học những ưu điểm của người khác. Biết được vài câu lý luận đã cho mình là giỏi, không xem ai ra gì, tưởng mình là hơn hết. Đó là bệnh hẹp hòi hạng nặng.

 

Sửa đổi lối làm việc, tháng 10-1947, sđd, t.5, tr. 235, 238.

 

…Các bạn là bậc trí thức. Các bạn có cái trách nhiệm nặng nề và vẻ vang là làm gương cho dân trong mọi việc. Dân ta đã đấu tranh một cách rất dũng cảm. Lẽ tất nhiên giới trí thức phải hy sinh đấu tranh, dũng cảm hơn nữa để làm gương cho nhân dân.

Các bạn là viên chức của Chính phủ Dân chủ Cộng hòa mà các bạn đã giúp xây dựng nên. Chính thể dân chủ cộng hòa của ta tuy còn trẻ tuổi, nhưng đã chiến thắng nhiều cuộc thử thách, nó đã chứng tỏ rằng quả thật là đầy tương lai. Do đó, nhiệm vụ các bạn phải tuyệt đối trung thành với chính quyền dân chủ.

…Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật. Lẽ tất nhiên các bạn cần phải nêu cao cái gương “phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư” cho nhân dân noi theo.

 

Thư gửi Hội nghị Tư pháp toàn quốc, tháng 2-1948, sđd, t.5, tr. 381, 382.

quangbinh.gov.vn

Hồ Chí Minh về nhân cách cán bộ cách mạng

Hồ Chí Minh am hiểu rất sâu sắc về con người, tâm lý con người và vận dụng một cách khoa học vào việc giáo dục, đào tạo người cán bộ cách mạng nhằm giải quyết những nhiệm vụ thực tiễn của đất nước. Theo Người, đức tài là hai mặt không thể thiếu ở người cán bộ cách mạng. Người lý giải một cách giản dị, dễ hiểu nhưng sắc sảo, khoa học về mối quan hệ giữa tài và đức: “Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi gì cho loài người”(1). Bàn về giáo dục, phát triển nhân cách cho một con người, Người chỉ rõ dạy cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng, đó là cái gốc rất quan trọng, nếu không có đạo đức cách mạng “thì có tài mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(2). Khi nói đến đức và tài, Người thường gắn với người cán bộ, không nói đức tài chung chung.

Người tóm tắt đạo đức cách mạng gồm năm điều: Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm trong đó Người nhấn mạnh:

Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí, đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân; sẵn lòng chịu cực khó trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ; không ham giàu sang, không e cực khổ, không sợ oai quyền. Những người đã không ham, không e, không sợ thì việc gì là việc phải, họ đều làm được.

Nghĩa là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy; Đảng, Nhà nước giao cho việc, thì bất kỳ việc to nhỏ, đều ra sức làm; thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói không sợ người ta phê bình mình, mà phê bình người khác cũng luôn luôn đúng đắn.

Trí đầu óc trong sạch, sáng suốt vì không có việc tư túi làm mù quáng. Dễ hiểu lý luận. Dễ tìm phương hướng. Biết xem người. Biết xét việc. Vì vậy, mà biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, cho nước, cho dân, biết vì Đảng mà cân nhắc người tốt, đề phòng người gian.

Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Cực khổ khó khăn, có gan chịu đựng. Có gan chống lại những vinh hoa, phú quý không chính đáng. Nếu cần, có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát.

Liêm là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không ham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình.

Năm đức tính ấy phải gắn kết chặt chẽ tạo nên nhân cách người cán bộ cách mạng của Đảng. Người cán bộ không chỉ có đức mà còn phải có tài. Tài được Người cụ thể hoá và gắn liền với từng người cán bộ, từng loại hoạt động cụ thể. Người nói: “Ngay nay, Đảng yêu cầu cán bộ và đảng viên chẳng những thành thạo về chính trị mà còn phải giỏi về chuyên môn”(3). Theo Người, năng lực cán bộ phải được phát triển toàn diện. Người nói: “Quân nhân phải võ, phải biết văn, võ là như tay phải, văn là như tay trái của quân nhân. Biết võ, biết văn, mới là quân nhân hoàn toàn”(4). Người chỉ rõ, khi sử dụng cán bộ, phải biết năng lực của họ là để giao việc cho phù hợp. Người nói: “Nếu dùng không đúng, người giỏi nghề thợ mộc thì giao cho việc thợ rèn, người giỏi nghề rèn thì giao cho việc thợ mộc, như thế thì hai người đều thất bại cả hai”(5)… “Thợ rèn thì bảo đi đóng tủ, thợ mộc thì bảo đi rèn dao. Thành thử hai người đều lúng túng. Nếu biết tuỳ tài mà dùng người, thì hai người đều thành công”(6). Người luôn nhắc nhở phải biết rõ từng người, từng mặt, mạnh yếu ở một người, mà giao nhiệm vụ cho phù hợp. “Nếu người có tài mà dùng không đúng tài của họ, cũng không được việc”(7).

Hồ Chí Minh chỉ rõ: Người đời ai cũng có chỗ hay chỗ dở. Ta phải dùng chỗ hay của người và giúp người chữa chỗ dở. Dùng người cũng như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng cong đều tuỳ chỗ mà dùng được. Biết được mặt mạnh, mặt hạn chế ở một người, giúp họ phát huy mặt mạnh, khắc phục mặt hạn chế, sử dụng đúng năng lực của họ thì bất cứ điều kiện hoàn cảnh nào, hoạt động của họ cũng đạt hiệu quả, hiệu suất cao.

Hồ Chí Minh chú trọng cả năng lực nhận thức và năng lực hoạt động thực tiễn. Luôn coi trọng kết hợp lý luận với thực tiễn. Người chỉ rõ: “Chỉ thực hành mà không có lý luận cũng như có một mắt sáng, một mắt mù”(8). Người đồng thời nhấn mạnh yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển năng lực là yếu tố xã hội, trong đó giáo dục đào tạo và điều kiện hoạt động là yếu tố cơ bản nhất, quyết định nhất: “năng lực của người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có mà một phần lớn do công tác, do tập luyện mà có”(9). Trong khi chỉ rõ vai trò to lớn của giáo dục đào tạo đối với sự phát triển năng lực, Người đặc biệt đề cao tính tích cực, chủ động trong học tập, rèn luyện cảa mỗi người, luôn nhắc nhở mọi người cố gắng, không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao năng lực bản thân. Người chỉ rõ học phải gắn liền với hành, với thực hiện nhiệm vụ được giao, học để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Mỗi người tự rèn luyện, học tập nâng cao phẩm chất, năng lực của mình cũng đồng thời góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức mạnh chiến đấu của Đảng trong công cuộc đổi mới và hội nhập hiện nay.

____

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 9, tr.172. (2) Hồ Chí Minh về kinh tế và quản lý kinh tế, NXB Thông tin lý luận, 1990, tr.90. (3) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 10, tr.313. (4,5,6,7,8,9) Sđd, tập 5, tr.588, 633, 274, 276, 280.

Trần Thông
Học viện Chính trị quân sự, Bắc Ninh

xaydungdang.org.vn

Đạo đức cách mạng là suốt đời “tận trung với nước, tận hiếu với dân”

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành nhiều thời gian và công sức quan tâm chăm lo rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên. Một yếu tố cốt lõi, theo Người là mỗi cán bộ, đảng viên phải có đạo đức cách mạng. Người nói “Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(1), “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(2). Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quá trình hoạt động cách mạng phải thường xuyên rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Theo Người “có đạo đức cách mạng thì khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”; lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hoá”(3).

Đạo đức cách mạng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là đạo đức mới, về bản chất nó khác xa đạo đức cũ trói buộc con người trong những lợi ích cá nhân ích kỷ, hẹp hòi. Đạo đức cách mạng gắn liền với chế độ mới, nó là đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người. “Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”(4), “là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân”. Đạo đức cách mạng đòi hỏi phải ra sức thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng, lợi ích cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của nhân dân, của tập thể, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, giữ vững kỷ luật của Đảng. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Đạo đức cách mạng là ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng, hết sức trung thành phục vụ giai cấp công nhân và nhân dân lao động, tuyệt đối không thể lưng chừng”(5). Người chỉ rõ: “Đảng viên là người thay mặt Đảng đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Vì vậy, lợi ích của người đảng viên phải ở trong chứ không thể ở ngoài lợi ích của Đảng, của giai cấp. Đảng và giai cấp thắng lợi và thành công, tức là đảng viên thắng lợi và thành công”(6). “Người cộng sản chúng ta không được phút nào quên lý tưởng cao cả của mình là: suốt đời làm cách mạng phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, làm cho CNXH và CNCS thắng lợi hoàn toàn trên Tổ quốc ta và trên thế giới”(7). Để thực hiện thắng lợi mục tiêu của Đảng, trước hết bản thân người cán bộ, đảng viên phải thực hiện nghiêm chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, đồng thời phải ra sức tuyên truyền, vận động cho quần chúng thực hiện. Phải là người tiên phong, dẫn đường cho quần chúng thực hiện một cách có hiệu quả, muốn vậy trong lời nói và việc làm người cán bộ, đảng viên phải luôn thống nhất và làm gương cho quần chúng noi theo, phải làm cho quần chúng tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Những chính sách và nghị quyết của Đảng đều vì lợi ích của nhân dân. Vì vậy, đạo đức cách mạng của người đảng viên là bất kỳ khó khăn đến mức nào cũng kiên quyết làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng, làm gương mẫu cho quần chúng. Mọi đảng viên phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, trước Đảng; phải ngăn ngừa và kiên quyết chống lại chủ nghĩa cá nhân”(8). “Đạo đức cách mạng là hoà mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng. Do lời nói và việc làm, đảng viên, đoàn viên và cán bộ làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, đoàn kết quần chúng chặt chẽ chung quanh Đảng, tổ chức, tuyên truyền và động viên quần chúng hăng hái thực hiện chính sách và nghị quyết của Đảng”(9).

___

(1, 3, 5, 6, 8,9) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 9, NXBCTQG, H.2002, tr.283, 284, 286, 288, 289, 290. (2) Sđd, tập 5, tr.252-253. (4) Sđd, tập 7, tr.480. (7) Sđd, tập 12, tr.93.

Lê Văn Tuyên
Học viện Chính trị Quân sự

xaydungdang.org.vn

Trí thức và cách đối đãi với trí thức của Hồ Chí Minh

1. Trí thức là gì?

Trong lịch sử loài người và trong tất cả các cuộc cách mạng xã hội, người lao động trí óc đều có vai trò quan trọng và theo xu thế phát triển chung của lịch sử, những người lao động trí óc chuyên nghiệp ngày càng đông đảo.

Xét về mặt sở hữu tài sản và đặc điểm lao động thì bản thân những người lao động trí óc không cố kết với nhau thành giai cấp. Các từ điển chính trị học, triết học gọi họ là “tầng lớp” hoặc “tập đoàn”, từ điển CNXH khoa học gọi là “nhóm xã hội”, gần đây trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam thì gọi họ là “đội ngũ”. Dù gọi là gì thì những người trí thức lao động trí óc ở mỗi nước cũng là một thực thể, là một bộ phận không thể thiếu và ngày càng quan trọng của đời sống xã hội. Nếu phân biệt với những người lao động trực tiếp bằng chân tay, cơ bắp (hiểu theo nghĩa tương đối) thì tất cả các nhà bác học, các nhà khoa học ở các lĩnh vực của đời sống xã hội, kỹ sư, thầy thuốc, giáo viên và phần đông công chức đều là trí thức. Họ không lao động chân tay để sản xuất ra của cải vật chất như thợ thủ công, công nhân, nông dân, nhưng họ lại có vai trò quan trọng trong cải biến xã hội và phát triển lực lượng sản xuất, nhất là quá trình CNH, HĐH. Nhờ có họ mà hàm lượng trí tuệ ngày càng chiếm tỉ lệ cao trong mỗi sản phẩm, số lượng sản phẩm làm ra ngày càng nhanh, nhiều, rẻ, do đấy từ cuối thế kỷ XX tới nay, người ta đã nói nhiều tới khái niệm Nền kinh tế tri thức và người lao động trí óc – những người ngày càng có vị trí quan trọng trong việc phát triển nhanh chóng, bền vững của mỗi quốc gia cũng như trên toàn thế giới; có vai trò quyết định trong việc biến khoa học, kỹ thuật thành lực lượng sản xuất trực tiếp của nền sản xuất xã hội.

Từ cuối thế kỷ XIX, nhất là từ giữa thế kỷ XX tới nay, giữa lao động trí óc và lao động chân tay ngày càng chuyển hóa, thâm nhập vào nhau, kết hợp với nhau. Đó là một quá trình phát triển khách quan, tất yếu. Quá trình ấy Hồ Chí Minh gọi là “công nông hóa trí thức” và “trí thức hóa công nông”. Cần hiểu đúng tư tưởng “trí thức hóa công nông” của Người, không phải như một thời ấu trĩ, muốn “cải tạo” trí thức bằng cách biến họ thành một người thợ… Theo Người, trí thức thâm nhập vào thực tế, gắn bó với sản xuất, với đời sống của nhân dân lao động, qua đó phát minh, sáng chế, góp phần cải biến xã hội đồng thời tăng thêm lòng yêu mến những người cần lao, cùng đoàn kết với họ, giúp đỡ họ, làm cho khoa học, kỹ thuật dần dần thay thế lao động cực nhọc bằng cơ bắp. Nói cách khác, người trí thức thực thụ, chân chính là người đem sự hiểu biết của mình ra thực hành, phục vụ nhân dân, Tổ quốc. Hồ Chí Minh viết: “Trí thức là hiểu biết. Trong thế giới chỉ có hai thứ hiểu biết: Một là hiểu biết sự tranh đấu sinh sản. Khoa học tự nhiên do đó mà ra. Hai là hiểu biết tranh đấu dân tộc và tranh đấu xã hội. Khoa học xã hội do đó mà ra. Ngoài hai cái đó không có trí thức nào khác.

Một người học xong đại học có thể gọi là có tri thức. Song y không biết… làm nhiều việc khác. Nói tóm lại: công việc thực tế, y không biết gì cả. Thế là y chỉ có trí thức một nửa. Trí thức của y là trí thức học sách, chưa phải trí thức hoàn toàn. Y muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế”(1).

Đánh giá cao vai trò và địa vị của trí thức, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc. ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế. Chứng thực là trong cuộc kháng chiến cứu quốc này, những người trí thức Việt Nam đã chung một phần quan trọng. Một số thì trực tiếp tham gia vào công việc kháng chiến, hy sinh cực khổ, chen vai thích cánh với bộ đội nhân dân. Một số thì hăng hái hoạt động giúp đỡ ở ngoài… Địa vị những người trí thức ái quốc Việt Nam sẽ là cùng với toàn thể đồng bào, kiến thiết một nước Việt Nam mới, một nước Việt Nam thống nhất và độc lập, dân chủ, tự do, hạnh phúc”(2). Có một điểm đáng chú ý: Khi xác định nền tảng tổ chức của Đảng (được tóm tắt trong 6 điều, điều thứ nhất), Hồ Chí Minh viết: “1. Đảng là đội tiên tiến của nhân dân lao động (công nhân, nông dân và lao động trí óc)”(3). Lao động trí óc thuộc bộ phận nền tảng tổ chức của Đảng. Đó là một chân lý hiển nhiên không chỉ đúng trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân mà càng đúng trong cách mạng XHCN. Đó là một phát triển của Hồ Chí Minh về học thuyết xây dựng Đảng để Đảng “có thể trở thành hình thức tổ chức cao nhất của quần chúng lao động, hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc…”(4).

2. Đối đãi với trí thức.

Lịch sử đã cho thấy cách đối đãi với trí thức của giới lãnh đạo đương thời có ảnh hưởng to lớn, nhiều khi có ý nghĩa quyết định đến thành bại của họ. Và cũng do cách đối đãi của giới lãnh đạo mà tài năng của trí thức được phát huy sáng chói hay bị lu mờ, thui chột.

Hồ Chí Minh, người khởi xướng và lãnh đạo thành công cuộc cách mạng lớn nhất, khó khăn nhất trong lịch sử dân tộc, cũng là người đã đối đãi với trí thức một cách mẫu mực. Người là bậc thầy cho các thế hệ lãnh đạo chính trị. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là noi theo Người, làm theo Người trong hành động cách mạng, là “sửa đổi cách lãnh đạo”, trong đó có cách ứng xử và đối đãi của người lãnh đạo, quản lý đối với trí thức.

Một là, phát triển tinh thần yêu nước và ý thức tự trọng dân tộc của trí thức.

Nếu hiểu rằng trí thức là người có tài sản đặc biệt, riêng có của mỗi người, ở trong tim óc của mỗi người, nó không giống bất cứ tài sản hữu hình nào, không thể “quốc hữu hóa” được tài sản đó, càng không thể dùng mệnh lệnh để có thể khai thác được tài sản đó thì chỉ có cách là người lãnh đạo phải biết tìm ra mẫu số chung của lợi ích cách mạng và lợi ích của người trí thức.

Hồ Chí Minh đã chỉ ra rất sớm rằng, ở đời ai cũng có quyền tin theo một học thuyết, một chủ nghĩa nhưng có một điểm chung mà hễ là người Việt Nam thì ít nhiều ai cũng có. Đó là tinh thần yêu nước và ý thức tự trọng dân tộc. Như mọi người Việt Nam yêu nước khác, trí thức cảm thấy nô lệ, mất nước là quốc nhục. Họ mong muốn tìm lối thoát nhưng bế tắc. Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã sáng suốt tìm ra con đường giải phóng dân tộc. Năm 1941, Người viết: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng… Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng”. Và quan trọng là người đứng đầu cuộc cách mạng ấy đã bằng cả cuộc đời bôn ba nếm mật nằm gai, vào tù ra tội, bất chấp gian khổ, hy sinh nên lời kêu gọi ấy có sức nặng của sự hòa đồng, đồng tâm, đồng chí, của sự dẫn dắt đầy tin cậy: “Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dầu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề”(5).

Lấy cứu quốc là việc chung, Hồ Chí Minh đã làm cho cả nước một lòng, không còn mấy ai nghi kỵ, mặc cảm, đắn đo. Hầu hết trí thức có tên tuổi của nước Việt Nam như các cụ Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Văn Tố, các ông Phan Kế Toại, Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Minh Giám, Tôn Thất Tùng, Trần Đại Nghĩa, Trần Hữu Tước; các văn nghệ sĩ trí thức như Xuân Diệu, Huy Cận, Đặng Thai Mai, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Xuân Hữu, Đào Duy Anh, Cao Xuân Huy, Ngô Tất Tố… và biết bao trí thức yêu nước khác, cùng với toàn dân đã tập hợp dưới ngọn cờ Tổ quốc do Hồ Chí Minh dẫn dắt làm cuộc tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 thành công và làm hai cuộc kháng chiến dài nhất, gian khổ nhất trong lịch sử thắng lợi. Phát triển tinh thần yêu nước của trí thức, đồng thời thẳng thắn, chân thành khuyên nhủ và bằng cả tấm lòng yêu nước, thương dân vô bờ bến, với đạo đức trong sáng và tác phong giản dị, Hồ Chí Minh đã phát huy được năng lực sáng tạo của trí thức, giúp họ ngày một tiến bộ, vững bước cùng dân tộc. Cùng với những đánh giá, khen ngợi, khích lệ, Người đã chân tình, thẳng thắn khuyên “những người trí thức… cần phải biết rõ cái khuyết điểm của mình. Phải khiêm tốn. Chớ kiêu ngạo. Phải ra sức làm các việc thực tế”, không nên chỉ bằng lòng với những kiến thức, lý luận đã học được mà “lý luận phải đem ra thực hành… lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên.

Lý luận cốt để áp dụng vào thực tế. Chỉ học thuộc lòng, để đem lòe thiên hạ thì lý luận ấy cũng vô ích”(6). Cơm áo và danh dự là hai mặt của một vấn đề làm người trí thức băn khoăn. Trong thư trả lời một trí thức vào khoảng đầu cuộc kháng chiến chống Pháp khó khăn, thiếu thốn, Hồ Chí Minh đã viết: “Ai chẳng muốn no cơm, ấm áo. Nhưng sinh hoạt vật chất hết đời người đó là hết. Còn tiếng tăm xấu hay tốt còn truyền đến ngàn đời về sau”(7).

Tóm lại, Hồ Chí Minh đã phát triển tinh thần yêu nước và ý thức tự trọng dân tộc của từng người trí thức hòa đồng vào chủ nghĩa yêu nước và ý thức tự cường dân tộc của toàn dân. Nhờ đó, trí thức Việt Nam ngày càng trở thành đội ngũ hùng hậu của dân tộc, đã xây đắp nên mối liên kết tất yếu của sự phát triển: Cách mạng và trí thức, trí thức và cách mạng.

Hai là, trân trọng trí thức, tìm kiếm người tài đức là nghĩa vụ và bổn phận của nhà lãnh đạo.

Hồ Chí Minh với thái độ quang minh chính đại, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết nên đã cảm hóa, tập hợp, thu phục, phát huy được đông đảo trí thức. Trong lúc chính quyền non trẻ, vận mệnh quốc gia như ngàn cân treo sợi tóc, nhiều trí thức nổi tiếng xuất thân từ tất cả các giai cấp, tầng lớp xã hội, được đào tạo trong các nhà trường của đế quốc, phong kiến đã nghe theo tiếng gọi của Hồ Chí Minh gác bút nghiên lên đường tranh đấu.

Những ngày đầu tiên, trên cương vị nguyên thủ quốc gia và người đứng đầu Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích sâu sắc, dễ hiểu về mối quan hệ giữa nhân tài và kiến quốc. Người viết “Kiến quốc cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều”. Và, Người thiết tha “mong rằng đồng bào ta ai có tài năng và sáng kiến… lại sẵn lòng hăng hái giúp ích nước nhà thì xin gửi kế hoạch cho rõ ràng cho Chính phủ. Chúng tôi sẽ nghiên cứu kế hoạch ấy một cách kỹ lưỡng có thể thực hành được thì sẽ thực hành ngay”(8). Trong công tác tổ chức nhân sự, Hồ Chí Minh đã nghiêm cấm các cơ quan đảng, chính phủ không được “tư túng – kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu mình, không tài năng gì cũng kéo vào chức này chức nọ. Người có tài có đức, nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài. Quên rằng việc là việc công, chứ không phải việc riêng gì dòng họ của ai”(9). Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghiêm khắc tự phê bình vì chưa bao quát hết nên một số cơ quan chính phủ đã quan liêu, thiếu sâu sát để cho một số người tài đức chưa có dịp tham gia việc kháng chiến kiến quốc. Một chỉ thị ngắn, rất ngắn, không cần lắm chữ nhiều lời, ngày 20-11-1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể coi là một chỉ thị trường tồn cho các thế hệ cán bộ lãnh đạo đất nước:

“Tìm người tài đức.

Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài đức.

E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bực tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận.

Nay muốn sửa đổi điều đó, và trọng dụng những kẻ hiển năng, các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân, thì phải báo ngay cho Chính phủ biết.

Báo cáo phải nói rõ: Tên tuổi, nghề nghiệp, tài năng, nguyện vọng và chỗ ở của người đó.

Hạn trong một tháng, các cơ quan địa phương phải báo cáo cho đủ”(10).

Ba là, tin dùng, mạnh dạn trao cho người trí thức những chức vụ tương xứng với tài năng và đức độ của họ.

Người trí thức Việt Nam nói chung đều có lòng tự trọng, tự tin và ham tiến bộ, mong được giao những nhiệm vụ phù hợp với năng lực, sở trường. Họ mong muốn được làm việc trong một môi trường lành mạnh, có người lãnh đạo mẫu mực, thẳng thắn và chân tình, công tâm, đánh giá đúng ưu điểm và khuyết nhược điểm của họ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Ai cũng có lòng tự trọng, tự tin. Không có lòng tự trọng, tự tin là người vô dụng… Vì vậy, người lãnh đạo cần phải tôn trọng lòng tự tin, tự trọng của các đồng chí mình”(11).

Tôn trọng, sử dụng trí thức là vấn đề rất lớn, ta không chỉ tìm thấy những chỉ dẫn từ các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh mà còn phải nghiêm túc, ôn lại lịch sử để thấy Người đã đối đãi với trí thức trong từng trường hợp mẫu mực như thế nào.

Năm 1946, nhận trọng trách Quốc hội khóa I giao cho thành lập Chính phủ trong lúc cần tập hợp sức mạnh toàn dân tộc vào việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, Hồ Chí Minh đã trân trọng giới thiệu những trí thức nổi tiếng, ngoài Đảng giữ các chức vụ quan trọng: “Bộ Nội vụ, một người đạo đức danh vọng mà toàn thể quốc dân ai cũng biết: Cụ Huỳnh Thúc Kháng…; Bộ Quốc phòng: một thanh niên trí thức và hoạt động quốc dân ta đã từng nghe tiếng: Ông Phan Anh,… Bộ xã hội, kiêm cả Y tế, Cứu tế và Lao động: Một nhà chuyên môn có tiếng trong y giới: Bác sĩ Trương Đình Tri;… Bộ Giáo dục: một người đã lâu năm hoạt động trong công việc giáo dục quốc dân và là người mà quốc dân có thể tin rằng nếu đem việc giáo dục giao cho để gánh vác thì người ấy sẽ làm hết nhiệm vụ: Ông Đặng Thai Mai;… Bộ Tư pháp: cũng là một trong đám người trí thức và đã hoạt động rất nhiều trong công cuộc cách mạng: Ông Vũ Đình Hòe”(12).

Biết bao trí thức với những tài năng, đức độ và cả những cá tính khác nhau đã đi cùng dân tộc trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ xâm lược với sự tin dùng và ân cần chỉ bảo, chăm sóc của Hồ Chí Minh. Họ đã có sự nghiệp vẻ vang trong vinh quang chói lọi của Tổ quốc Việt Nam yêu quý. Những tên tuổi lớn: GS. Bộ trưởng Hoàng Minh Giám, GS. Nguyễn Văn Huyên, GS.VS Tôn Thất Tùng, GS.VS Trần Đại Nghĩa, GS. Trần Hữu Tước, GS. Lương Định Của, GS. Trần Đức Thảo…; các nhà văn, nhà thơ, nhà văn hóa: Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi…; các tướng lĩnh trí thức quân sự tài ba sau Võ Nguyên Giáp là những Nguyễn Bình, Nguyễn Sơn v.v…, mà sự nghiệp của họ, nhờ có Hồ Chí Minh và cách mạng nên còn mãi với non sông đất nước.

Bốn là, chăm lo đào tạo đội ngũ trí thức mới với tầm nhìn vì sự nghiệp trăm năm.

Có thể nói suốt đời Hồ Chí Minh chăm lo sự nghiệp đào tạo thế hệ cách mạng cho hiện tại và tương lai của đất nước. Với tầm nhìn xa, trông rộng và với niềm tin tất thắng bất cứ kẻ thù xâm lược nào để xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, được học hành, để Việt Nam bước tới đài vinh quang sánh vai cùng các cường quốc 5 châu, ngay từ buổi đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cho đến cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược gay go, quyết liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú ý đào tạo trí thức giải quyết hài hòa giữa kháng chiến và kiến quốc.

Nhìn lại lịch sử, chúng ta có thể khẳng định nhờ có Đảng, nhờ có Chủ tịch Hồ Chí Minh, đất nước có được một đội ngũ trí thức xuất thân từ công nhân, nông dân, bộ đội, thanh niên xung phong, đủ khả năng gánh vác nhiệm vụ nặng nề cùng nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng, công cuộc đổi mới, thực hiện CNH, HĐH, hội nhập quốc tế như hiện nay.

Sau lễ Tuyên ngôn độc lập (2-9-1945) một ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề nâng cao dân trí, chống giặc dốt là một trong ba nhiệm vụ cấp bách của nhà nước Việt Nam mới. Người khẳng định “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”(13). Liền sau đó là phong trào xóa nạn mù chữ đồng thời lần lượt tất cả các bậc, từ tiểu học, trung học, cao đẳng và đại học được thành lập.

Trước khi qua đời, Người còn dặn phải đào tạo thanh thiếu niên trở thành những người có đạo đức và tài năng “vừa hồng”, “vừa chuyên”. “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”(14).

Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay đang là vấn đề bức thiết của Nhà nước ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo một đội ngũ trí thức, một thế hệ kế tục sự nghiệp cách mạng của cha anh, thể hiện nỗi ưu lo dân – nước đang đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải suy tư để thực hiện tốt lời dạy cuối cùng của Người.

Năm là, phải giữ danh giá của người lãnh đạo mà đối xử với trí thức.

Lãnh đạo trí thức là việc khó. Nhưng Hồ Chí Minh đã nhiều lần nói khó dễ đều bởi tại lòng mình. Lòng người lãnh đạo mà trong sáng, nhân hậu, chí công vô tư thì đó là sức mạnh, là bí quyết để dùng người. Nếu không sẽ “hỏng cả công việc của Đảng, hỏng cả danh giá của người lãnh đạo”(15).

Hồ Chí Minh khuyên “người lãnh đạo không nên kiêu ngạo, mà nên hiểu thấu… phải lắng tai nghe ý kiến của đảng viên, của nhân dân, của những người “không quan trọng”(16) để lãnh đạo cho đúng, dùng cán bộ đúng.

Dùng cán bộ đúng là nghĩa vụ, bổn phận của nhà lãnh đạo, đồng thời cũng là phẩm chất chính trị và danh giá của họ. Theo Hồ Chí Minh, để làm tròn nhiệm vụ và giữ gìn danh giá của mình, người lãnh đạo cần:

– Phải có độ lượng vĩ đại để dùng cán bộ một cách chí công vô tư, khiến cho cán bộ không bị thành kiến, không bị bỏ rơi, không lãng phí, thất thoát nhân tài;

– “Phải có tinh thần rộng rãi” để gần gụi tất cả mọi người, kể cả “những người mình không ưa”.

– “Phải có tính chịu khó dạy bảo” để nâng đỡ những người còn kém, giúp họ tiến bộ. Mà muốn dậy bảo người khác, nhất là đối với trí thức thì người lãnh đạo phải tự hiểu mình, phải học hỏi để hiểu người. Không có trình độ, không hiểu công việc của người khác thì không thể lãnh đạo được họ.

– “Phải sáng suốt” để không bị “bọn cơ hội, bọn vu vơ bao vây” mà xa cách cán bộ tốt.

– “Phải có thái độ vui vẻ, thân mật” cán bộ cấp dưới mới “vui lòng gần gụi mình”, mới coi mình là đồng chí, là thầy, là bạn của họ.

Sinh thời, Hồ Chủ tịch đã thể hiện những điều trên một cách khoa học và nghệ thuật trong các tình huống, với từng đối tượng khác nhau…

____

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.235. (2) Sđd, tập 5, tr.156. (3,4) Sđd, tập7, tr.229, 517. (5) Sđd, tập 3, tr.198. (6) Sđd, tập 5, tr.235. (7) Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, tập 4, tr.207-208. (8) Sđd, tập 4, tr.99. (9) Sđd, tập 4, tr.57. (10) Sđd, tập 4, tr.451. (11) Sđd, tập 5, tr.282. (12) Sđd, tập 4, tr.193-194. (13) Sđd, tập 4, tr.8. (14) Sđd, tập 12, tr.512. (15) Sđd, tập 5, tr.279. (16) Sđd, tập 5, tr.285.

PGS. TS. Trần Đình Huỳnh

xaydungdang.org.vn

Những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức đối với Thanh, thiếu niên, nhi đồng

1. Trẻ em như búp trên cành,

Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan,

Trẻ con, Tháng 9-1941, sđd, t.3, tr. 203.

… Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội.

Vậy qua năm mới, các cháu phải xung phong thực hành “đời sống mới”

Đời sống mới là:

– Hăng hái, kiên quyết, không sợ khó, không sợ khổ.
– Phải siêng học, phải siêng làm, phải tiết kiệm.
– Việc nên làm (như ủng hộ kháng chiến, tăng gia sản xuất) thì ta không chờ ai nhắc nhủ.
– Việc nên tránh (như tự tư tự lợi) thì ta không đợi ai ngăn ngừa.

Gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết sắp đến, tháng 1-1946, sđd, t.4, tr. 167.

… Nay Bác viết mấy chữ, để cám ơn các cháu và khuyên các cháu:
1. Phải siêng học,
2. Phải giữ sạch sẽ,
3. Phải giữ kỷ luật,
4. Phải làm theo đời sống mới,
5. Phải thương yêu giúp đỡ cha mẹ anh em.

 

Thư gửi các cháu thiếu nhi, năm 1946, sđd, t.4, tr. 421

 

… Người ta thường nói: Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm người chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc để chuẩn bị cái tương lai đó.

… mỗi thanh niên, nhất là mỗi cán bộ phải kiên quyết làm bằng được những điều sau này:

a) Các sự hy sinh khó nhọc thì mình làm trước người ta, còn sự sung sướng thanh nhàn thì mình nhường người ta hưởng trước (tiên thiên hạ ưu, hậu thiên hạ lạc).
b) Các việc đáng làm, thì có khó mấy cũng cố chịu quyết làm cho kỳ được.
c) Ham làm những việc ích quốc lợi dân. Không ham địa vị và công danh phú quý.
d) Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, đối với việc.
e) Quyết tâm làm gương về mặt: siêng năng, tiết kiệm, trong sạch.
f) Chớ kiêu ngạo, tự mãn, tự túc. Nói ít làm nhiều, thân ái đoàn kết.

… chớ đặt những chương trình, kế hoạch mênh mông, đọc nghe sướng tai nhưng không thực hiện được.

Việc gì cũng cần phải thiết thực, nói được, làm được. Việc gì cũng phải từ nhỏ dần dần đến to, từ dễ dần dần đến khó, từ thấp dần dần đến cao. Một chương trình nhỏ mà thực hiện được hẳn hoi, hơn một trăm chương trình to tát mà làm không được.

 

Thư gửi các bạn thanh niên, ngày 17-8-1947, sđd, t.5, tr. 185-186.

 

… Cách dạy trẻ, cần làm cho chúng biết yêu Tổ quốc, thương đồng bào, yêu lao động, biết vệ sinh, giữ kỷ luật, học văn hóa.

Đồng thời phải giữ toàn vẹn tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động trẻ trung của chúng, chớ nên làm cho chúng hóa ra già cả. Nhiều thư của các cháu gửi cho Bác Hồ viết như người lớn viết, đó là một triệu chứng già sớm cần nên tránh.

Trong lúc học, cũng cần làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học. Ở trong nhà, trong trường, trong xã hội, chúng đều vui, đều học. Muốn vậy các ban phụ trách nhi đồng cần phải liên lạc với cha mẹ và thầy giáo của nhi đồng.

… Giáo dục nhi đồng là một khoa học. Các bạn hãy cố gắng học tập, nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm để tiến bộ mãi, nhất là phải làm kiểu mẫu trong mọi việc cho các em bắt chước.

 

Thư gửi Hội nghị cán bộ phụ trách nhi đồng toàn quốc, ngày 25-8-1950, sđd, t.6, tr. 85.

 

2. Khuyên thanh niên:

Không có việc gì khó,
Chỉ sợ lòng không bền,
Đào núi và lấp biển,
Quyết chí ắt làm nên.

Làm tặng một đơn vị Thanh niên xung phong, Tháng 9-1950, sđd, t.6, tr.95.

… Điều gì phải, thì cố làm cho kỳ được, dù là việc nhỏ. Điều gì trái, thì hết sức tránh, dù là một điều trái nhỏ.

– Trước hết phải yêu Tổ quốc, yêu nhân dân. Phải có tinh thần dân tộc vững chắc và tinh thần quốc tế đúng đắn. Phải yêu và trọng lao động. Phải giữ gìn kỷ luật. Phải bảo vệ của công. Phải quan tâm đến đời sống của nhân dân. Phải chú ý đến tình hình thế giới, vì nước ta là một bộ phận của thế giới, mọi việc trong thế giới đều có quan hệ với nước ta, việc gì trong nước ta cũng quan hệ với thế giới…

… Nhiệm vụ của thanh niên không phải là đòi hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà? Mình phải làm thế nào cho ích lợi nước nhà nhiều hơn? Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hy sinh phấn đấu chừng nào?

– Thanh niên cần phải có tinh thần và gan dạ sáng tạo, cần phải có chí khí hăng hái và tinh thần tiến lên, vượt mọi khó khăn, gian khổ để tiến mãi không ngừng.

Cần phải trung thành, thật thà, chính trực.

Những điều nên chống: Thanh niên cần phải chống tâm lý tự tư tự lợi, chỉ lo lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình. Chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc. Chống thói xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay. Chống lười biếng, xa xỉ. Chống cách sinh hoạt ủy mị. Chống kiêu ngạo, giả dối, khoe khoang.

Nói chuyện tại buổi lễ khai mạc Trường Đại học nhân dân Việt Nam,
ngày 19-1-1955, sđd, t.7, tr. 454-455.

… Thanh niên bây giờ là thế hệ vẻ vang, vì vậy cho nên phải tự giác tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình. Tức là thanh niên phải có đức, có tài. Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi, nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi gì cho loài người…

 

Nói chuyện tại Đại hội sinh viên lần thứ hai ngày 7-5-1958, sđd, t.9, tr. 172.

 

Người ta thường nói: Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Để thật xứng đáng là người chủ của một nước xã hội chủ nghĩa, thanh niên ta quyết tâm thực hiện mấy điều sau đây:

– Phải thấm nhuần đạo đức cách mạng tức là khiêm tốn, đoàn kết, thực hành chủ nghĩa tập thể, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, người tiên tiến thì giúp đỡ người kém, người kém phải cố gắng để tiến lên, ra sức cần kiệm xây dựng nước nhà.

– Phải nghiêm khắc chống chủ nghĩa cá nhân như tự tư tự lợi, tự kiêu, tự mãn, chỉ tham việc gì có danh tiếng, xem khinh những công việc bình thường. Phải chống tham ô, lãng phí.

– Phải cố gắng học hỏi để không ngừng nâng cao trình độ chính trị, văn hóa và kỹ thuật để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

 

Bài nói tại Đại hội thanh niên tích cực lao động xã hội chủ nghĩa,
ngày 17-3-1960, sđd, t.10, tr. 106.

 

… Thanh niên ta có vinh dự to thì cũng có trách nhiệm lớn. Để làm tròn trách nhiệm, thanh niên ta phải nâng cao tinh thần làm chủ tập thể, trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân, chớ phô trương hình thức, chớ kiêu ngạo, tự mãn. Phải thấm nhuần đạo đức cách mạng tức là học tập, lao động, sinh hoạt theo đúng đạo đức của thanh niên xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa…

 

Nói tại Đại hội toàn quốc lần thứ II của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam,
ngày 20-12-1961, sđd, t. 10, tr. 489.

quangbinh.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khởi xướng và lãnh đạo thi đua ái quốc như thế nào?

Sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền non trẻ của nước ta phải đối mặt với thù trong, giặc ngoài, nạn đói hoành hành, ngân khố rỗng… Nhưng tin tưởng sâu sắc vào sức mạnh của nhân dân, khí phách của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân phát huy cao độ nội lực, bảo vệ và xây dựng thành công nước Việt Nam mới. Một chủ trương lớn là phát động thi đua yêu nước và thực hiện thưởng phạt nghiêm minh. Ngày 26-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Quốc lệnh quy định 10 điểm thưởng và 10 điểm phạt. Quốc lệnh nêu rõ: “Trong một nước thưởng phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn, kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công”(1). Năm sau, ngày 17-9-1947 Người lại ký Sắc lệnh số 83/SL thành lập Viện Huân chương trực thuộc Phủ Chủ tịch để thực hiện tốt việc khen thưởng.

Ngày 11-6-1948, giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đang gay go, quyết liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc: “Người dân Việt Nam bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh; bất kỳ làm việc gì đều cần phải thi đua”(2) yêu nước. “Mục đích thi đua ái quốc là:

Diệt giặc đói,

Diệt giặc dốt,

Diệt giặc ngoại xâm.

Cách làm là: dựa vào:

Lực lượng của dân,

Tinh thần của dân, để gây:

Hạnh phúc cho dân”(3). Và Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi:

“Các cụ phụ lão thi đua đốc thúc con cháu hăng hái tham gia mọi công việc,

Các cháu nhi đồng thi đua học hành và giúp việc người lớn,

Đồng bào phú hào thi đua mở mang doanh nghiệp,

Đồng bào công nông thi đua sản xuất,

Đồng bào trí thức và chuyên môn thi đua sáng tác và phát minh,

Nhân viên Chính phủ thi đua tận tụy làm việc, phụng sự nhân dân,

Bộ đội và dân quân thi đua giết cho nhiều giặc, đoạt cho nhiều súng.

Nói tóm lại, ai cũng thi đua, ai cũng tham gia kháng chiến và kiến quốc”(4).

Người tin tưởng:

“Thi đua ái quốc sẽ ăn sâu, lan rộng khắp mọi mặt và mọi tầng lớp nhân dân, và sẽ giúp ta dẹp tan mọi nỗi khó khăn và mọi âm mưu của địch để đi đến thắng lợi cuối cùng”(5).

Trong thư chúc Tết Xuân Kỷ Sửu (1949), Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng:

“Người người thi đua.

Ngành ngành thi đua.

Ngày ngày thi đua.

Ta nhất định thắng.

Địch nhất định thua”(6).

Sau một năm phát động phong trào thi đua, Người gửi thư tới Hội nghị thi đua ái quốc: “Phong trào khá cao và rộng, bộ đội, đoàn thể, cơ quan và nhân dân hăng hái. Nhiều đơn vị đã có kết quả khá. Nhưng:

– Tổ chức và lãnh đạo còn kém, không phát triển được hết sáng kiến và năng lực của quần chúng.

– Cơ quan lãnh đạo các cấp, các ngành, các đoàn thể, các địa phương thiếu sự phối hợp với nhau, thiếu sự tổng kết kinh nghiệm và trao đổi kinh nghiệm”(7). Người mong Hội nghị tìm cách sửa chữa những khuyết điểm này và mỗi một cán bộ, mỗi một đồng bào, mỗi một ngành đều ra sức thiết thực thi đua.

Ngày 1-8-1949, trong Lời kêu gọi thi đua chuẩn bị tổng phản công, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Hôm nay là ngày phát động Thi đua ái quốc tiếp theo kỳ trước, cho nên tôi chỉ nói chuyện thi đua:

Từ ngày Cách mạng Tháng Tám, thế giới đã ngạc nhiên và kính phục dân tộc ta vì ba điều:

Điều thứ nhất là ta đã cách mạng thành công, đã phá tan xiềng xích thực dân, đã đánh đổ chế độ phong kiến, đã lập nền dân chủ cộng hòa.

Điều thứ hai là ta chẳng những có sức kháng chiến mà lại chắc chắn kháng chiến thắng lợi.

Điều thứ ba là ta vừa kháng chiến, vừa Thi đua ái quốc…

Mặc dầu thiếu phương tiện, thiếu kinh nghiệm và bị giặc Pháp tìm mọi cách để phá hoại, ta vẫn lượm được nhiều kết quả tốt sau một năm thi đua”(8). Người tuyên dương nhiều thành tích cụ thể của đồng bào, chiến sĩ, đồng thời chỉ ra những khuyết điểm của phong trào thi đua và cách thức sửa chữa những khuyết điểm đó. Người nhấn mạnh mục tiêu của thi đua bằng cách nêu bật khẩu hiệu “Tất cả để chiến thắng. Chiến thắng giặc thực dân. Chiến thắng giặc dốt. Chiến thắng giặc đói. Chiến thắng mọi tính xấu trong mình ta”(9).

Vào tháng 3-1952 trong Lời kêu gọi nhân dịp phát động phong trào sản xuất và tiết kiệm, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Phải đặt phong trào sản xuất và tiết kiệm làm trung tâm của phong trào thi đua ái quốc… Để thực hiện kế hoạch sản xuất và tiết kiệm, các cơ quan, bộ đội, nhà máy, trường học, v.v.… phải chống nạn tham ô, lãng phí. Phải sử dụng tiền của, sức lực và thời giờ của nhân dân cho hợp lý. Phải chống bệnh quan liêu vì đó là nguồn gốc của nạn tham ô, lãng phí”(10).

Tại lễ tuyên dương anh hùng quân đội lần thứ 3, ngày 7-5-1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục chỉ rõ vai trò, tác dụng của thi đua: “Trong kháng chiến, nhờ thi đua mà chúng ta đã thắng. Từ ngày hòa bình trở lại, nhờ thi đua mà chúng ta đã vượt được nhiều khó khăn và thu được nhiều thành tích”(11).

Năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khởi xướng phong trào Người mới, việc mới, sau này gọi là Người tốt, việc tốt. Theo Người: “Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi”, “lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”(12).

Những quan điểm cơ bản và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua, khen thưởng là một nội dung đặc sắc trong chỉ đạo chiến lược cách mạng, càng có ý nghĩa thời sự khi cả nước đang sôi nổi thi đua hoàn thành kế hoạch năm 2008 và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng.

60 năm qua, phong trào thi đua đã bám sát những nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ, thật sự là công cụ phát triển xã hội, là biện pháp hữu hiệu để xây dựng con người mới Việt Nam XHCN. Biết bao nhiêu phong trào còn ghi dấu ấn trong lịch sử cách mạng của dân tộc. Từ “hũ gạo kháng chiến”, “áo ấm chiến sĩ”, “Sóng Duyên Hải, gió Đại Phong” đến “Ba xây, ba chống”. Từ “Ba sẵn sàng”, “Ba đảm đang”, “Nghìn việc tốt”, “Tiếng hát át tiếng bom” đến phong trào “Đồng khởi”, “Đánh thắng chiến tranh đặc biệt”, “Đánh thắng chiến tranh cục bộ” của Mỹ ở miền Nam… Trong các phong trào thi đua đó, hơn mười hai triệu lượt người đã được khen thưởng, trong đó có những danh hiệu cao quý như “Chiến sĩ thi đua”, “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”, “Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới”, “Danh nhân tiêu biểu”….

Để phát huy truyền thống thi đua yêu nước do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng chúng ta cần đổi mới mạnh mẽ cuộc vận động thi đua yêu nước cũng như công tác thi đua, khen thưởng để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn cách mạng hiện nay.

___

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 4, tr.163. (2,3,4,5,6,7,8,9) Sđd, tập 5, tr.444, 445, 457, 557, 648, 656-657, 660. (10) Sđd, tập 6, tr.440. (11) Sđd, tập 8, tr.163. (12) Sđd, tập 12, tr.558.

xaydungdang.org.vn

Hãy viết cho người đọc hiểu được, nhớ được, làm theo được

Trong lý lịch còn giữ tại kho lưu trữ của Quốc tế cộng sản trước đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ghi ở phần nghề nghiệp: Nghề viết báo bên cạnh một số nghề khác.

Đồng chí Phạm Văn Đồng viết: “Hồ Chí Minh là nhà chiến lược, nhà lãnh đạo, nhà tổ chức, đồng thời là nhà văn hoá, nhà thơ lớn. Suốt đời Hồ Chí Minh là người cầm bút chiến đấu trên mặt trận văn hoá, báo chí, với một văn phong đa dạng, nhiều sắc thái”. Và “Người ta đã nói nhiều về phong cách nói và viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi không nhắc lại, nhưng phải nhấn mạnh rằng: anh em, đồng chí chúng ta vẫn chưa học được phong cách tuyệt vời của Bác. Trong một bài viết hoặc bài nói, Bác không chỉ chú ý từng câu, từng chữ, mà còn chú ý nói cái gì trước, cái gì sau, bởi vì có khi đó lại chính là điều quan trọng nhất”(1).

Một điều rất dễ nhận thấy là các bài viết của Bác Hồ thường ngắn. Phải có bản lĩnh, có trí tuệ phong phú mới viết ngắn được! V.I.Lênin cũng thường viết ngắn và lần nào gửi bài cho báo Sự Thật mà viết hơi dài thì V.I.Lênin thường ghi: Vì ít thời gian nên bài này tôi viết hơi dài, các đồng chí sửa chữa giúp! Như vậy, theo V.I.Lênin nếu có thời gian thì ông sẽ viết ngắn hơn, chứ không phải như nhiều người thường nói: Bận quá, nên không viết được dài!

Những bài báo của Bác được viết ra với một mục đích là để người đọc hiểu, nhớ và làm theo được. Người nói: “Muốn cho người đọc hiểu được, nhớ được, làm được thì phải viết cho đúng trình độ người xem”(2). Bác còn nhắc nhở: Nhiều người cứ tưởng mình viết gì, nói gì, người khác đều hiểu cả!

Trong cách nói, cách viết, Bác Hồ luôn chú ý tránh những thông tin thừa, những gì mọi người đã biết rồi thì Bác không viết nữa. Trong những bài viết, Bác thường dùng những câu ngắn, giản dị, sáng rõ. Trong “Thư gửi thiếu nhi Việt Nam đêm Trung thu đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà” ngày 22-9-1945, in trên Báo Cứu Quốc số 49, Bác Hồ chỉ viết có 192 từ. Thư gửi Báo Thiếu Sinh số 1, tờ báo của trẻ em đầu tiên, Bác chỉ viết có 49 từ. Thư gửi các vị phụ lão ngày 20-9-1945, Bác viết có 299 từ. Bản Tuyên ngôn độc lập – Một văn bản lập quốc vĩ đại, đọc tại Ba Đình lịch sử ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ viết có 1.025 từ.

Là một người được làm việc gần Bác trong nhiều năm, đồng chí Trường Chinh đã viết: “Về văn phong, cách nói và cách viết của Hồ Chủ tịch có những nét rất độc đáo: Nội dung khẳng khái, thấm thía, đi sâu vào tình cảm con người, chinh phục cả trái tim và khối óc của người ta; hình thức sinh động, giản dị, dễ hiểu, giàu tính dân tộc và tính nhân dân. Người rất ghét văn chương sáo rỗng, nhạt nhẽo, rất ghét nói và viết dài dòng, khó hiểu, lung tung, lằng nhằng và kiên quyết phản đối dùng chữ nước ngoài không cần thiết”.

Trong những lời kêu gọi hoặc những bài viết của Người, chúng ta thấy âm vang tinh thần quật cường, bất khuất của dân tộc:

“Toàn dân Việt Nam chỉ có một lòng: Quyết không làm nô lệ, chỉ có một chí: Quyết không chịu mất nước”.

“Chỉ có một mục đích: Quyết kháng chiến để tranh thủ thống nhất và độc lập cho Tổ quốc”.

“Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một bức tường đồng chung quanh Tổ quốc. Dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại”. Văn Hồ Chủ tịch thường ngắn gọn, nhưng thấm thía, xúc động lòng người. Hồ Chủ tịch viết y như nói, tiếng nói của dân tộc, của nhân dân Việt Nam”(3).

Bác Hồ vận dụng ngôn ngữ và cách nói của quần chúng. Bác thường khuyên: “Chúng ta muốn tuyên truyền quần chúng, phải học cách nói của quần chúng, mới nói lọt tai quần chúng… Vì cách nói của quần chúng rất đầy đủ, rất hoạt bát, rất thiết thực, mà lại giản đơn”(4). Người viết:

– “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống”(5).

– “Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài. Nhưng vắn dài đều hợp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này, thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều là dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc”(6).

– “Sinh hoạt xa hoa, tiêu xài bừa bãi. Tiền bạc đó ở đâu ra? Không xoay của Đảng thì xoay của đồng bào… Việc dễ thì tranh lấy cho mình. Việc khó thì đùn cho người khác. Gặp việc nguy hiểm thì tìm cách để trốn tránh”(7).

– “Kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu mình không tài năng gì, cũng kéo vào chức này chức nọ. Người có tài có đức, nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài”(8).

– “Thứ nhất dân ghét các ông chủ tịch, các ông uỷ viên vì cái tật ngông nghênh, cậy thế, cậy quyền… Người ta còn thì thào chỉ chỏ ông tỉnh trưởng kia vác ô tô đưa bà “tỉnh trưởng” đi chơi mát mỗi buổi chiều”(9).

– “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”(10).

Những câu viết của Bác giản dị, sâu sắc và đi thẳng vào lòng người, khiến người đọc chỉ một lần đã nhớ.

*

Bác luôn nhắc nhở, báo chí của ta còn nhiều bài viết dài dòng quá. Bác phê bình lối viết “rau muống” và còn “ham dùng chữ”. Các ông viết báo nhà mình hay dùng chữ quá. Những chữ tiếng ta có mà không dùng, lại dùng cho được chữ kia. Ba tháng thì nói “tam cá nguyệt”, xem xét thì nói “quan sát”, máy bay thì nói “phi cơ”, người đánh cá thì nói “ngư dân”, nhà in lại in nhầm chữ ư thành chữ u, thế là do bệnh dùng chữ mà người đánh cá hoá thành ngu dân!(11).

Bác nhắc nhở những chữ mà tiếng ta có thì phải dùng tiếng ta. Nhưng ngày nay, đọc các báo chúng ta vẫn còn thấy bệnh dùng chữ nước ngoài và gần đây bệnh đó lại có xu hướng lan tràn hơn!

Bác Hồ là người hết lòng yêu mến, quý trọng tiếng Việt và tin tưởng vào khả năng to lớn của tiếng Việt. Bác nói: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp”(12).

Bác đã góp phần làm phong phú tiếng Việt. Bác là người đầu tiên đưa ra một số từ ngữ mới mà nay chúng ta quen dùng như: Giặc đói, giặc dốt, óc bè phái, óc hẹp hòi, thói ba hoa, nghị quyết túi áo, báo cáo túi quần, bệnh quan liêu, tệ lãng phí, nạn tham nhũng, thói mệnh lệnh, óc địa phương, đảng viên đi trước, làng nước theo sau, ruộng rẫy là chiến trường, cuốc cày là vũ khí, không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, các dân tộc anh em, các đảng bạn, các nước bầu bạn, miền Nam thành đồng Tổ quốc, đồng bào công giáo kính Chúa yêu nước vv…

Nhà văn hóa Hà Huy Giáp nhận định: “Hồ Chủ tịch rất chú trọng cách viết. Người rất cẩn trọng ngay đến cách dùng một từ nhỏ, một dấu chấm câu, cách bố cục một bài viết. Hồ Chủ tịch là một nhà ngôn ngữ nghiêm khắc. Cũng như V.I.Lênin, Người dùng rất ít chữ, mà là những chữ đúng nhất, cần thiết nhất, để một viện sĩ hàn lâm đến người nông dân đều có thể hiểu được”(13).

____

(1) Hồ Chí Minh một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp, NXB Giáo dục, 1997.
(3,13) Hồ Chí Minh – Tác gia, tác phẩm, nghệ thuật ngôn từ, NXB Giáo dục 1997, tr.51, 123.
(2) Nâng cao hơn nữa chất lượng của báo chí, Báo Nhân Dân số 3095 ngày 9-9-1962.
(5) Hồ Chí Minh, toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 9, tr.293.
(6,8,9,10) Sđd, tập 4, tr.47, 56.
(4,7) Sđd, tập 5, tr.301, 255.
(11) Bài nói của Bác Hồ tại Đại hội lần thứ 2 Hội Nhà báo Việt Nam, HCM toàn tập, tập 9, tr.415.
(12) Bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ 3 của Hội Nhà báo Việt Nam, HCM toàn tập, NXBCTQG, H.2000, tập 10, tr.613.

Bùi Công Bính

xaydungdang.org.vn

Hồ Chí Minh nói về trách nhiệm của nhà báo

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm và coi trọng vai trò của báo chí. Bác đã sáng lập nhiều tờ báo và là một nhà báo xuất chúng với khả năng viết ít ai bì kịp. Những kinh nghiệm làm báo, những ý kiến chỉ đạo và tư tưởng của Bác đối với báo chí và người viết báo mãi mãi vẫn sáng ngời giá trị.

Từ những năm đi tìm đường cứu nước, Bác đã sáng lập báo Le Pa-ri (Người cùng khổ) với nhiều bài viết đặc sắc, nhiều tranh đả kích do Bác vẽ hết sức độc đáo. Tranh vạch trần dã tâm của bọn thực dân xâm lược. Hai hình tượng được khắc hoạ là tên thực dân béo phì ngồi trên xe tay và người lao động thuộc địa gầy yếu phải cố sức kéo nó đi! Báo ra số 1 ngày 1-4-1922, đến số 38 thì bị đình bản.

Ngày 21-6-1925, Báo Thanh Niên – cơ quan ngôn luận của tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội do Bác sáng lập đã xuất bản số đầu tiên. Báo phát hành được 200 số, trong đó 88 số do Bác trực tiếp phụ trách, biên tập, viết bài. Báo đã đem ánh sáng Chủ nghĩa Mác-Lênin đến với công chúng Việt Nam, tích cực tuyên truyền giác ngộ quần chúng về ý thức đấu tranh giải phóng đất nước. Trong số báo Thanh Niên ra ngày 7-11-1926 có in bức tranh cổ động của Bác hết sức đặc sắc. Bức tranh vẽ V.I.Lênin ngẩng cao đầu, tay trái chỉ vào ngôi sao năm cánh, kêu gọi giai cấp vô sản toàn thế giới hãy liên hiệp lại để đấu tranh giải phóng cho mình khỏi ách áp bức của chế độ tư bản. Báo Thanh Niên trở thành tờ báo cách mạng đầu tiên của nước ta, truyền bá tư tưởng cách mạng vô sản cho muôn triệu người dân đang rên siết dưới ách thực dân, phong kiến. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định lấy ngày 21-6- 1925 làm Ngày truyền thống của báo chí cách mạng Việt Nam.

Hai tờ báo Công Nông và Lính Cách Mệnh (1925-1927) được Bác dùng để tổ chức tuyên truyền trong giới thanh niên và binh lính người Việt, nhằm khơi dậy lòng yêu nước của tuổi trẻ Việt Nam và làm sống lại dòng máu Lạc Hồng của những đứa con lầm đường lạc lối, hoặc bị cưỡng bức, hoặc vì miếng cơm manh áo mà trót cầm súng giặc giết hại đồng bào. Hai tờ báo cùng thực hiện sứ mệnh kêu gọi, tập hợp công nông đoàn kết vùng lên đập tan gông xiềng nô lệ.

Đặc biệt, Bác đã vẽ tranh minh họa cho Báo Việt Nam Độc lập (1941-1942). Với nét cách điệu tài tình từ bốn chữ “Việt Nam Độc Lập”, Bác đã vẽ thành một người đang thổi kèn, hàm ý giục giã toàn dân mau mau tham gia vào cuộc đấu tranh giành độc lập. Bên cạnh đó là bốn câu thơ do Người sáng tác:

“Việt Nam độc lập” thổi kèn loa
Kêu gọi dân ta trẻ lẫn già
Đoàn kết vững bền như khối sắt
Để cùng nhau cứu nước Nam ta”(1).

Tiếp đó là các báo Sự Thật, Cứu quốc, Quân đội nhân dân… được Bác hết sức quan tâm và trực tiếp tham gia nhiều bài viết. Bác Hồ hết sức coi trọng vai trò của báo chí. Bác từng nói: “Báo chí là người tuyên truyền, người cổ động, người tổ chức chung, người lãnh đạo chung”(2). Bác đặc biệt nhấn mạnh nhiệm vụ, sứ mệnh lịch sử của những người làm báo: “Nói đến báo chí, trước hết phải nói đến những người làm báo chí!”(3).

Tại Đại hội lần thứ II của Hội Nhà báo Việt Nam (1959), Bác đã nói: “Nhiệm vụ của người làm báo là quan trọng và vẻ vang. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản, phải nâng cao trình độ văn hóa, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình”(4). Đến Đại hội lần thứ II của Hội (1962), Bác lại nhấn mạnh: “Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng”(5). Bác yêu cầu trước khi viết một điều gì, người viết phải tự đặt các câu hỏi: Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết như thế nào?

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định “Báo cũng là một ngành kinh tế”(6) và “Một tờ báo không được đại đa số dân chúng ham chuộng, thì không xứng đáng là một tờ báo”(7), “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do… Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý”(8).

Theo Bác, văn hóa là một mặt trận, cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng; ngòi bút, trang giấy chính là vũ khí chiến đấu của người làm báo. Bác đã nhiều lần căn dặn đội ngũ cán bộ, phóng viên: “Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà”(9).

___

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 3, tr.200. (2,3,4) Sđd, tập 9, tr.415, 412. (5, 6) Sđd, tập 10, tr.131, 616, 468. (7, 9) Sđd, tập 5, tr.625. (8) Sđd, tập 8, tr.216.

Văn Khải

xaydungdang.org.vn

Tác phẩm “Đời sống mới” của Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề xây dựng nông thôn mới hiện nay

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đời sống mới từ 64 năm trước đã tạo nên động lực to lớn thúc đẩy kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công. Ngày nay, lời dạy ấy vẫn còn nguyên giá trị đối với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nói chung và xây dựng nông thôn mới nói riêng; trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ khoa học công nghệ, hội nhập quốc tế toàn diện và chuyển đổi kinh tế toàn cầu.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945 thắng lợi, Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào “Xây dựng đời sống mới”. Ngày 3/4/1946, Ủy ban vận động đời sống mới Trung ương được thành lập. Một năm sau (20/3/1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Đời sống mới” với bút danh là Tân Sinh để chỉ đạo và động viên phong trào. Ngày nay, tác phẩm Đời sống mới của Người vẫn còn nguyên giá trị đối với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nói chung và xây dựng nông thôn mới nói riêng.

Trong lời tựa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định ý nghĩa của Tác phẩm là giúp nhân dân ta thực hành đời sống mới để cứu quốc và kiến quốc: “Trong lúc kháng chiến cứu quốc chúng ta phải đồng thời kiến quốc. Thực hành đời sống mới là một điều cần kíp cho công cuộc cứu quốc và kiến quốc. Anh Tân Sinh viết quyển “ Đời sống mới” một cách vắn tắt, rõ ràng, thiết thực, dễ hiểu. Đó là một quyển sách nhỏ, chỉ rõ bước đường đời sống mới. Tôi mong đồng bào ta mỗi người có một quyển Đời sống mới để xem, để hiểu, để thực hành đời sống mới. Như thế, chúng ta nhất định sẽ tiến bộ hơn”.

Theo Người, thực hành đời sống mới là Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Người giải thích: “Chính trong lúc này càng phải thực hành đời sống mới là Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Quân đội phải siêng tập, siêng đánh. Nhân dân tăng gia sản xuất, phải siêng làm, thì kháng chiến chắc chắn thắng lợi, thế cho nên phải Cần. Binh sĩ phải tiết kiệm đạn dược, mỗi viên đạn một tên thù. Cho nên phải Kiệm. Mọi người đều trong sạch, không tham lam, không đem của công dùng vào việc tư, thì mọi việc mới chạy. Cho nên ai cũng phải Liêm. Mỗi người quốc dân đều phải vì nước quên nhà, hăng hái ủng hộ kháng chiến, ra sức tăng gia sản xuất, trừ diệt bọn bán nước hại dân quyết làm cho Tổ quốc thống nhất độc lập. Thế là Chính”. Người cũng giải thích rằng, đạo đức mới không phải là gạt bỏ mọi cái cũ mà phải phát huy những tinh hoa về truyền thống yêu nước, cần cù lao động, đoàn kết chống giặc ngoại xâm, tương thân, tương ái, lá lành đùm lá rách,….Người viết: “Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ. Thí dụ: Ta phải bỏ hết tính lười biếng, tham lam. Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý. Thí dụ: Đơm cúng, cưới hỏi quá xa xỉ, ta phải giảm bớt đi. Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm. Thí dụ: Ta phải tương thân tương ái, tận trung với nước, tận hiếu với dân hơn khi trước. Cái gì mới mà hay, thì ta phải làm. Thí dụ: Ăn ở cho hợp vệ sinh, làm việc cho có ngăn nắp. Làm thế nào cho đời sống của dân ta, vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn. Đó là mục đích của đời sống mới”.

Đời sống mới bao gồm đời sống mới riêng cho từng người và đời sống mới chung cho cộng đồng, tập thể như các gia đình, làng xã, các bộ đội, các nhà máy, trường học, các công sở,…Về tinh thần, đời sống mới phải Cần, Kiệm, Liêm, Chính; nếu không làm được như vậy, thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân. Phải yêu tổ quốc, quan tâm đến lợi ích chung, không kiêu căng, không nịnh hót, không tham lam, không bủn xỉn. Phải ham học, một người không biết chữ, biết tính thì như nửa mù nửa sáng, biết rồi thì học thêm nữa. Về hành động để thực hành đời sống mới không ngoài năm việc là ăn, mặc, ở, đi lại, làm. Đời sống mới không tách rời tăng gia sản xuất. Người giải thích: “ Việc tăng gia sản xuất cũng như mọi việc khác, đều rất quan hệ với đời sống mới. Tăng gia sản xuất tức là một bộ phận của đời sống mới. Có tinh thần của đời sống mới, thì tăng gia sản xuất mới chóng thành công. Mà tăng gia sản xuất có thành công, thì đời sống mới dễ thực hiện. Muốn tăng gia sản xuất, mọi người phải Cần, phải Kiệm. Không Cần, thì phí thời giờ nhiều mà sản xuất được ít. Không Kiệm thì làm được bao nhiêu, dùng hết bấy nhiêu, rút cục cũng như sản xuất được ít. Tăng gia sản xuất ích riêng cho mình mà cũng ích chung cho cả nước. Nếu không có tinh thần Liêm và Chính, nếu tham lam ích kỷ, thì không thể phát đạt việc tăng gia sản xuất. Vì vậy, tăng gia sản xuất và đời sống mới phải đi đôi với nhau, không thể lìa nhau”.

Thực hành đời sống mới là công việc của mọi người dân, bắt đầu từ cội nguồn là mỗi người, gia đình, làng xã. Người viết: “ Do nhiều người nhóm lại mà thành Làng, do nhiều Làng nhóm lại mà thành Nước. Nếu người này cũng xấu, người kia cũng xấu, thì thành Làng xấu, Nước hèn; nếu mỗi người cá nhân tốt, thì Làng tốt, Nước mạnh. Người là gốc của Làng, Nước, nếu mỗi người cố gắng làm đúng đời sống mới thì Dân tộc nhất định phú cường”. Đối với mỗi người, Người yêu cầu: Việc gì có lợi cho Nước phải ra sức làm, việc gì hại cho Nước phải hết sức tránh; bất cứ việc to, việc nhỏ, có ích chung thì phải hăng hái làm. Đối với làng xã, việc thực hiện đời sống mới, theo Người, cần phải làm những việc sau: Về văn hóa phải làm cho cả làng đều biết chữ, biết đạo đức và trách nhiệm của công dân. Về phong tục, phải cấm hẳn say sưa cờ bạc, hút sách, trộm cắp, đĩ điếm. Tìm cách làm cho không có đánh chửi nhau, kiện cáo nhau. Làm cho làng mình trở thành một làng “thuần phong mỹ tục”. Trong Tác phẩm, Người dành một phần để nói về văn hóa gia đình. Trong gia đình, thực hiện đời sống mới về quan hệ thì trên thuận, dưới hòa, bình đẵng, tôn trọng, tin cậy lẫn nhau, không thiên tư, thiên ái; về vật chất từ ăn mặc, đến việc làm đều tiêu pha có kế hoạch, ngăn nắp; cưới hỏi giỗ tết nên đơn giản tiết kiệm; quan tâm tới con cái, đến việc tu dưỡng học hành, kỷ cương nề nếp; giải phóng phụ nữ và thực hiện nam nữ bình đẳng.

Để nhân dân nhận thức đúng và thực hành tốt đời sống mới, theo Người, cần coi trọng công tác thông tin tuyên truyền: “Trước hết, phải tuyên truyền, giải thích và làm gương. Phỉ chịu khó nói rõ cho mọi người hiểu đời sống mới có ích thế nào, cách thi hành đời sống mới thế nào. Nói một lần họ chưa hiểu thì nói nhiều lần. Nói đi, nói lại, bao giờ người ta hiểu, người ta làm mới thôi. Nói thì phải nói một cách đơn giản, thiết thực với hoàn cảnh mỗi người; nói sao cho người ta nghe rồi làm được ngay. Việc dễ, việc nhỏ làm được rồi, sẽ nói đến việc to, việc khó….Tốt nhất là miệng nói, tay làm, làm gương cho người khác bắt chước”.

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về đời sống mới, Đảng và Nhà nước ta đã khởi xướng và tổ chức thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Xây dựng nông thôn mới là xây dựng đời sống mới, lối sống mới, là thực hành Cần, Kiệm, Liêm, Chính bằng chương trình mục tiêu quốc gia; nhằm CNH, HĐH nông thôn, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trong 19 tiêu chí nông thôn mới do Chính phủ đặt ra, có tiêu chí về văn hóa. 11 nội dung xây dựng nông thôn mới cũng chính là thực hành đời sống mới Cần, Kiệm, Liêm, Chính.

Thực tiễn xây dựng nông thôn mới thời gian qua cho thấy, có 4 chương trình mục tiêu cơ bản, trọng tâm cầm tập trung chỉ đạo và thực hiện là: Quy hoạch, phát triển sản xuất hàng hóa, phát triển hạ tầng kinh tế xã hội, xây dựng đời sống văn hóa. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, 11 nội dung chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới, nhất là phát triển sản xuất hàng hóa luôn đi đôi, gắn liền với xây dựng đời sống văn hóa; phải lấy văn hóa làm nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu, vừa là động lực. Xây dựng đời sống văn hóa của nông thôn mới cần gắn với cội nguồn, nhân tố trung tâm là con người – cá nhân và cộng đồng trong các gia đình, làng xã. Trong nhân cách mỗi người, văn hóa gia đình, văn hóa làng xã cần khắc sâu các giá trị tinh thần Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư; lòng yêu nước thương dân, tất cả vì lợi ích chung như Bác dạy. Nếu trong làng xã, hệ thống chính trị còn có một số không nhỏ cán bộ, đảng viên chỉ lo vun vén lợi ích cá nhân ích kỷ, tệ hại; thì còn lâu mới có nông thôn mới. Thực tiễn xây dựng nông thôn mới cũng cho thấy, trong xây dựng nông thôn mới, con người, mỗi người cá nhân, gia đình, làng xã, cả hệ thống chính trị, nhất là nông dân là chủ thể tư duy năng động, sáng tạo. Người nông dân chỉ thực sự là chủ thể của xây dựng nông thôn mới khi họ thực hành đời sống mới Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Bên cạnh xây dựng đời sống đạo đức mới- đạo đức cách mạng – cái gốc của văn hóa mới cho nông dân, chúng ta cần phát huy truyền thống tâm lý tốt đẹp như đức tính cần cù, lòng yêu nước, tính trung thực, lối sống có tình có nghĩa, và xóa bỏ tâm lý tiểu nông hạn hẹp ở họ. Muốn xây dựng thành công nông thôn mới, trước hết, chúng ta cần coi trọng công tác thông tin tuyên truyền để nâng cao nhận thức cho mọi người dân về nông thôn mới, nhất là về đời sống mới- thực hành Cần, Kiệm, Liêm, Chính.

Như vậy, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đời sống mới từ 64 năm trước đã tạo nên động lực to lớn thúc đẩy kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công. Ngày nay, lời dạy ấy vẫn còn nguyên giá trị đối với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nói chung và xây dựng nông thôn mới nói riêng; trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ khoa học công nghệ, hội nhập quốc tế toàn diện và chuyển đổi kinh tế toàn cầu.

Theo TS Nguyễn Liên Châu
Báo Hà Tĩnh online
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức đối với Bộ đội, Công an

1. … Hỏi: Đời sống mới trong bộ đội nên như thế nào?

Đáp: Bộ đội là một đoàn thể tổ chức nghiêm ngặt đã sẵn, càng dễ thực hành đời sống mới.

Một là kỷ luật phải cực kỳ nghiêm.

Hai là siêng luyện tập.

Ba là làm cho trong bộ đội ai cũng biết chữ. Trong các bộ đội ta, ít nhất là một phần nửa binh sĩ đã biết chữ. Những người chỉ huy phải tổ chức cho khéo, ngoài những lớp học, giao cho mỗi một người biết chữ phụ trách dạy cho một hay hai người chưa biết, thì trong vài ba tháng, tất cả binh sĩ đều biết chữ.

Bốn là một người binh sĩ phải biết chính trị ít nhiều. Họ đem xương máu ra giữ gìn Tổ quốc, thì chẳng những họ phải hiểu vì sao mà hy sinh, họ lại phải có thể nói cho người khác biết vì sao phải yêu nước.

Năm là bộ đội cũng phải tăng gia sản xuất… Tùy theo hoàn cảnh mỗi bộ đội, hoặc làm vườn, nuôi lợn, hoặc làm giúp dân. Có lúc bộ đội chia phiên nhau, lớp đánh giặc, lớp làm ruộng làm vườn, để tự cấp tự túc không phiền đến dân cả mọi việc.

Sáu là tiết kiệm. Tiết kiệm thuốc đạn, bắn cho đúng, không bắn phí đạn. Nhờ thế mà bớt dần nguyên liệu, bớt được công khó rèn đúc, công khó vận tải, đem tài liệu và công phu đó làm việc khác.

Tiết kiệm lương thực và vải vóc, chớ nghĩ rằng cơm ăn áo mặc đã có Chính phủ lo, đã có đồng bào giúp, thì ta không cần tiết kiệm. Bộ đội có hàng mấy vạn người. Nếu mỗi người tiết kiệm một chút, sản xuất một chút, góp lại sẽ thành một số rất to.

Bảy là vệ sinh. Bộ đội đông người ăn chung, ở chung, nếu có bệnh càng dễ lây cho nhau. Cho nên càng phải rất chú ý việc vệ sinh.

Tám là ăn ở cho được dân tin, dân phục, dân yêu. Hay giúp đỡ dân, giữ đúng kỷ luật thì được như thế.

Chín là đánh được nhiều giặc, lấy được nhiều súng.

Bộ đội này thi đua với bộ đội khác làm đời sống mới.

Đời sống mới, năm 1947, sđd, t.5, tr. 103-104.

2. … Tư cách người công an cách mệnh là:

Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính.

Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ

Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành.

Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép.

Đối với công việc, phải tận tụy.

Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo.

Nói tóm lại là những đạo đức và tư cách mà người công an cách mệnh phải có, phải giữ cho đúng…

Ngoài ra, công an thường phải kiểm soát nhân viên và công việc của mình. Mỗi công an viên đóng chỗ nào thì cần dạy cho dân quân, tự vệ nơi đó cách điều tra, xét giấy, phòng gian, v.v… Dạy cho dân ở nơi đó giữ bí mật. Và tự mình phải luôn luôn lễ phép. Tránh hách dịch.

Tư cách người công an cách mệnh. tháng 3-1948, sđd, t.5, tr. 406-407.

3. Công tác của người tướng là:

– Đối với kỷ luật: Trong quân đội, mệnh lệnh từ trên xuống dưới, phải thấm xuống tới mỗi đội viên. Chỗ nào mệnh lệnh không xuống tới thì chỗ đó hỏng. Báo cáo từ dưới lên, phải cho thật thà, nhanh chóng, thiết thực.

Về kỷ luật, phải thưởng phạt cho công minh. Chớ vì ưa ai mà thưởng, ghét ai mà phạt, ai hẩu với mình thì dùng, ai trực tính nói ngay thì bỏ.

– Đối với binh sĩ, thì từ lời ăn, tiếng nói, niềm vui, nỗi buồn, quần áo, nhất nhất phải biết rõ và hết sức chăm nom. Có đồng cam cộng khổ với binh sĩ thì dẫn họ đi đâu, dù nguy hiểm mấy họ cũng vui lòng đi, khi bảo họ đánh, họ sẽ hăng hái đánh.

Bộ đội cũng ví như con dao, cái súng, không lau chùi luôn sẽ hỏng. Chăm tập luyện sẽ tiến bộ. Bộ đội ta, tuy còn trẻ mà tiến bộ rất mau, nếu người tướng không chịu học hỏi, cứ đứng một chỗ thì nhất định bị lạc hậu.

– Đối với dân, thì chắc các đồng chí đã có nhiều kinh nghiệm rồi. Bộ đội được dân yêu, dân tin, dân phục thì nhất định thắng lợi.

– Đối với địch, thì tuyệt đối chớ khinh địch. Tục ngữ có câu: “Sư tử muốn bắt con chuột cũng phải dùng hết sức lực mới bắt được”. Khinh địch thì nhất định sẽ thất bại.

Nói chuyện tại Hội nghị quân sự lần thứ 5, tháng 8-1948, sđd, t.5, tr. 480.

quangbinh.gov.vn

“Trồng cây” và “trồng người” theo lời Bác Hồ dặn

Bác Hồ trồng cây đa tại xã Vật Lại, Ba Vì, Hà Nội, mùa xuân 1969.

(TCTG) – Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây; Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”, và không chỉ quan tâm đến việc “trồng cây” để “ích nước lợi nhà”, Người còn luôn quan tâm đến việc “trồng người” – đó là chăm lo, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau.

1. Vì lợi ích mười năm – phải “trồng cây”

Hiểu rõ sự gắn bó mật thiết giữa con người với môi trường sống, nên Bác Hồ đặc biệt quan tâm tới việc “trồng cây gây rừng” và Người luôn coi đây là một trong những vấn đề chiến lược, góp phần quan trọng vào việc nâng cao đời sống và bảo vệ cuộc sống của nhân dân. Trồng cây theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngoài việc để nhân dân chuẩn bị lấy gỗ làm nhà ở, để sản xuất, v.v..còn có một ý nghĩa thiết thực là bảo vệ môi trường tự nhiên.

Ngày 28-11-1959, Người viết bài Tết trồng cây và “đề nghị tổ chức một ngày Tết trồng cây” để thiết thực “lấy thành tích chúc mừng Đảng 30 mươi tuổi”. Người từng nói: trồng cây “tốn kém ít mà ích lợi nhiều”, cho nên “tất cả nhân dân miền Bắc mỗi người phụ trách trồng một hoặc vài ba cây và săn sóc cho tốt” và “mỗi Tết trồng được độ 15 triệu cây”, thì sau mươi năm, “nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp hơn, khí hậu sẽ điều hoà hơn, cây gỗ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta”. Sáng 6/1/1960, Lời kêu gọi toàn dân hưởng ứng một tháng Tết trồng cây của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng được đăng trên báo Nhân dân và một số tờ báo khác, trong đó, Người kêu gọi mỗi người hãy trồng ít nhất một cây và phải chăm sóc tốt. Đợt trồng cây này gọi là Tết trồng cây và là Tết trồng cây đầu tiên do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động. Mùa xuân năm sau, ngày 5-2-1961, Người trồng cây ở Vườn hoa Thanh niên cùng các đại biểu dự Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Lao động thành phố Hà Nội. Ngày 20-2-1961, về thăm Pác Bó (Cao Bằng) sau hai mươi năm xa cách, sau khi dự cuộc mít tinh của nhân dân Huyện Hà Quảng tổ chức bên bờ suối Pác Bó, thăm một số gia đình có công với cách mạng, thăm lại hang Cốc Bó, Người trồng một khóm trúc bên bờ suối làm kỷ niệm…

Không chỉ viết về Tết trồng cây, Người còn nhấn mạnh rằng: Trồng cây phải là một kế hoạch kinh tế lâu dài và liên tục của Nhà nước. Trên tinh thần đó, để trồng cây đạt hiệu quả thiết thực chứ không chỉ là phong trào, thì các cấp bộ, ngành “phải có kế hoạch, có hướng dẫn, tìm thêm hạt, ươm thêm giống… phải làm đúng khẩu hiệu “trồng cây nào tốt cây ấy”(1), để “phong cảnh của ta cũng thật sự là non sông gấm vóc, tươi đẹp vô cùng”. Không chỉ có vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ rõ: muốn cho Tết trồng cây trở thành một tục lệ tốt đẹp trong đời sống tinh thần của nhân dân ta, trở thành một nét đẹp truyền thống mỗi dịp đầu xuân, theo Người: “Tết trồng cây cũng như mọi việc khác, các cấp uỷ Đảng phải lãnh đạo cụ thể và chặt chẽ thì sẽ thành công”(2). Tuy nhiên, trong khi thường xuyên nhắc nhở chính quyền, đoàn thể các cấp phải “khéo vận động” nhân dân trồng cây để lấy gỗ làm nhà, làm củi đun, Người cũng không quên nhấn mạnh: tất cả mọi người đều phải lo “bảo vệ rừng, cấm phá rừng” để bảo vệ môi trương sinh thái, chắn gió bão, chống xói mòn, lụt lội…Theo lời Người, điểm đặc biệt là phong trào “trồng cây” sẽ thu hút tất cả mọi người – từ các cụ phụ lão đến các em nhi đồng đều có thể hăng hái tham gia, thì phong trào “bảo vệ rừng, cấm phá rừng” cũng sẽ thu hút được sự tham gia của toàn xã hội.

Tiếp đó, cứ mỗi dịp xuân về, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại dành thời gian trồng cây ở Hà Nội và các địa phương, và viết bài cổ vũ cho Tết trồng cây. Trong những năm đồng bào miền Nam còn đang phải đấu tranh để tiến hành cuộc cách mạng giải phóng, Người từng nhắc: mỗi cây chúng ta trồng ở miền Bắc không chỉ có ý nghĩa với riêng miền Bắc, mà là “trồng cây cho cả đồng bào miền Nam nữa”. Trước Tết Kỷ Dậu 1969, Người đã viết bài báo cuối cùng về Tết trồng cây, đăng báo Nhân dân ngày 5-2-1969. Trong đó, Người kêu gọi: “Năm nay, chúng ta thi đua trồng cây cho thật tốt, phải đảm bảo trồng cây nào tốt cây ấy, tổ chức “một Tết trồng cây quyết thắng giặc Mỹ xâm lược”. Ngày mồng một Tết Nguyên đán năm 1969, như bao xuân trước, mặc dù không được khoẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn đi thăm cán bộ chiến sĩ Quân chủng phòng không không quân tại sân bay Bạch Mai. Buổi trưa cùng ngày, Người đi thăm, chúc Tết nhân dân và trồng cây đa khai xuân cuối cùng trên đồi Vật Lại, Ba Vì, Hà Tây.

Từ khi chuẩn bị phát động Tết trồng cây, cho đến khi qua đời (1959-1969), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết nhiều bài về Tết trồng cây, cổ động nhân dân tích cực tham gia phong trào trồng cây, góp phần bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường và bản thân Người cũng trồng nhiều cây. Gần 43 năm sau khi Người ra đi và 53 năm sau bài viết đầu tiên của Người có nội dung về Tết trồng cây, phong trào Trồng cây đầu xuân theo tinh thần “Mùa xuân là Tết trồng cây, làm cho đất nước càng ngày càng xuân” như Người mong muốn và phát động, đã mang lại những lợi ích thiết thực về môi sinh, môi trường. Biết bao cây non nhân dân ta và chính Người trực tiếp đã trồng trong những Tết trồng cây mỗi dịp đầu xuân đang trường tồn cùng thời gian, làm đẹp thêm cho làng quê, cho công viên, đường phố, để đất nước Việt Nam 4 mùa đều tươi xanh.

2. Vì lợi ích trăm năm – phải “trồng người”

Cùng với “trồng cây”, với tầm nhìn xa trông rộng của một vĩ nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm chiến lược “trồng người”. Từng nói: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”(3), nên Người chỉ rõ sự cần thiết phải chăm lo, bồi dưỡng thế hệ trẻ (thanh niên, thiếu niên, nhi đồng), để phục vụ sự nghiệp cách mạng. Ngay từ năm 1925, khi còn đang bôn ba nơi hải ngoại, Hồ Chí Minh khi đó là Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Hỡi Đông Dương đáng thương hại, Người sẽ chết mất, nếu như đám thanh niên già cỗi của người không sớm hồi sinh”. Và khi về đến Quảng Châu – Trung Quốc, Người đã xúc tiến thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên (6-1925), tập hợp những thanh niên Việt Nam yêu nước vào một tổ chức thống nhất, giáo dục đạo đức cách mạng và trang bị cho họ những nguyên lý về Đảng, về các tổ chức, các đoàn thể, về phương pháp đấu tranh cách mạng,v.v.. của chủ nghĩa Mác – Lênin, và lựa chọn những hạt nhân cốt cán trong thanh niên vào Cộng sản đoàn; ra báo Thanh Niên làm phương tiện tuyên truyền hữu hiệu… Hơn 20 năm sau, lớp thanh niên yêu nước được Người chăm lo bồi dưỡng, trở thành đội ngũ cán bộ cốt cán đó đã góp sức làm nên thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Tháng Tám năm 1945.

Tuy nhiên, hành trình đi đến một nước Việt Nam độc lập, tự do, hòa bình và thống nhất còn đầy gian truân, thử thách, đòi hỏi Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và toàn dân ta phải từng bước vượt qua khó khăn về mọi mặt. Trọng trách mới đặt lên vai thế hệ trẻ Việt Nam những yêu cầu mới khi đất nước vừa giành được độc lập, tự do đã phải bước vào cuộc chiến tranh nhân dân trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Bởi vậy, dù bộn bề công việc quốc gia, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn thường xuyên quan tâm vấn đề giáo dục trí lực, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; nắm vững khoa học kỹ thuật; bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, nâng cao trình độ lý luận Mác-Lênin, đặc biệt là việc giáo dục đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ, giúp họ có đầy đủ những điều kiện để trở thành người công dân tốt, người chủ tương lai xứng đáng của đất nước.

Coi đạo đức là cái gốc của người cách mạng, Người yêu cầu: Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Tuy nhiên, “đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”(4), nên yêu cầu mỗi thanh niên phải thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng để trở thành người cách mạng chân chính. Không phải ngẫu nhiên, tại buổi lễ khai mạc Trường Đại học Nhân dân Việt Nam, ngày 19-1-1955, Người lại nói: “Nhiệm vụ của thanh niên không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà?”. Theo Người, thanh niên cần phải chống tâm lý tự tư, tự lợi, chỉ lo lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình; chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc, chống thói xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay; chống lười biếng, xa xỉ; chống kiêu ngạo, giả dối, khoe khoang, vì đó là những thói xấu kìm hãm chí tiến thủ của thanh niên. Và Người dạy thanh niên phải luôn luôn trau dồi đạo đức cách mạng, khiêm tốn và giản di, chống kiêu căng, tự mãn, lãng phí, xa hoa, phải thực hành tự phê bình và phê bình nghiêm chỉnh để giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Quan tâm đến vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ, đặc biệt là giáo dục đạo đức tại các nhà trường, Người còn phát biểu: “Tôi xem chương trình giáo dục cho đến hết lớp 10, phần đức dục rất thiếu sót, chỉ có mười dòng”(5), và sau đó chỉ rõ: “Nội dung giáo dục cần chú trọng hơn nữa về đức dục”(6) và “không ngừng bồi dưỡng đạo đức cách mạng”.

Khẳng định vị thế của thanh niên một cách toàn diện, thấy rõ thanh niên “là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai”, Hồ Chí Minh yêu cầu, đòi hỏi thanh niên phải tự giác rèn luyện, không ngừng học tập, gương mẫu xung phong trong mọi công việc. Cũng theo Người, thanh niên chỉ có thể là những người thừa kế sự nghiệp cách mạng của cha anh một cách vững vàng, nếu họ là những người có tài và có đức, được rèn luyện và trưởng thành trong thực tiễn. Vì thế, đức và tài, phẩm chất và năng lực phải được kết hợp hài hòa, cân đối và toàn diện, để mỗi thanh niên có thể tự phấn đấu hoàn thiện mình, hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang mà Tổ quốc và nhân dân giao phó.

Trăn trở về chiến lược “trồng người”, trước khi đi xa, trong bản Di chúc lịch sử, Người căn dặn: “Đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”(7).

3. Tiếp tục thực hiện những lời dạy của Người về “trồng cây” và “trồng người”

Người đã đi xa, nhưng thực hiện tư tưởng và khát vọng của Người, một đất nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất vẫn kiên định mục tiêu: Độc lập dân tộc và CNXH mà Người và Đảng ta đã chọn. Cũng như Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời, trong bao năm qua, Đảng và Nhà nước không chỉ quan tâm đến việc “trồng cây” mỗi dịp xuân về, trồng cây trong kế hoạch phủ nhanh đồi trọc, bảo vệ môi sinh, môi trường, thiết thực phát triển kinh tế, chống biến đổi khí hậu, v.v.. mà còn đặc biệt quan tâm đến việc “trồng người”. Cùng với việc khẳng định: “Sự nghiệp đổi mới thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường XHCN hay không, phần lớn phụ thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên; công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng”, các văn kiện Đại hội Đảng, các Nghị quyết và gần đây nhất là Văn kiện của Đảng tại Đại hội lần thứ XI (1-2011) đã nêu rõ quan điểm “đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội”(8) để xây dựng nên những con người Việt Nam có nhân cách, có lý tưởng, trí tuệ, đạo đức, lòng tự tôn dân tộc (9).

Tiếp tục Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị, và ghi nhớ lời Người căn dặn, tuổi trẻ cả nước với tinh thần: “Không có việc gì khó; Chỉ sợ lòng không bền; Đào núi và lấp biển; Quyết chí ắt làm nên” đã phát huy truyền thống của đoàn viên, thanh niên Việt Nam, không chỉ luôn rèn chí, nỗ lực luyện tài, mà còn sôi nổi hưởng ứng phong trào Tết trồng cây mỗi dịp Xuân về, tham gia tích cực vào các phong trào Giờ Trái đất (tiếng Anh: Earth Hour) – một sự kiện quốc tế hàng năm do Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (World Wildlife Fund) tổ chức; trồng cây xanh và nhặt rác trên bờ biển; Cuộc thi sáng tác phim ngắn về Biến đổi khí hậu dành cho sinh viên do Báo Sinh Viên Việt Nam và Phái đoàn Liên minh Châu Âu (EU) tại Việt Nam tổ chức nhằm hưởng ứng Chương trình “Những ngày châu Âu 2011”… nhằm tích cực bảo vệ trái đất trước vấn đề tác động của hiệu ứng nhà kính và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.

Cùng với thời gian, những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “trồng cây” và “trồng người” lúc sinh thời vẫn còn nguyên giá trị thời sự. Từ những gì Người trăn trở, những điều đã nói và cả những việc Người đã làm tận tâm, tận lực, có thể thấy rõ rằng: trước những thách thức mới của thiên nhiên, việc trồng cây, gây rừng, bảo vệ cây, bảo vệ rừng… phải trở thành ý thức thường trực của mỗi người dân, để cây xanh không chỉ làm cho đất nước tươi đẹp, mà còn thiết thực xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế. Đồng thời, trước những yêu cầu mới của xu thế toàn cầu hóa và hội nhập, việc nâng cao tri thức, trình độ về mọi mặt và giáo dục rèn luyện đạo đức cách mạng cho thế hệ thanh niên thời đại Hồ Chí Minh “vừa hồng vừa chuyên” không chỉ là thiết thực thực hiện tâm nguyện của Người, làm theo tấm gương của Người, mà đó còn là một trong những nhiệm vụ cấp bách, quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, và toàn quân ta vì một nước Việt Nam: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh trong hành trình phát triển./.

TS. Văn Thị Thanh Mai

(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.10, tr.110
(2) Báo Nhân dân, số 2839, ngày 30-12-1961
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr. 167
(5) Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, Nxb. CTQG, H, 1996, t. 8, tr.105
(6) Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, Sđd, t. 8, tr. 444
(7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, t.12, tr.510
(8), (9) , Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H, 2011, tr. 216, 126

Theo Tạp chí Tuyên giáo
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

“Ông Hồ đã tìm thấy bên trong đất nước của mình điều bí mật về sức mạnh dân tộc”

Từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của chúng ta đã được thế giới tôn vinh là người anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hóa thế giới.

Nhân dân ta đã phải tiếp tục trải qua 30 năm dài chiến đấu, đầy gian khổ hy sinh để giữ vững nền độc lập, thống nhất của mình. Ngày nay, lịch sử Việt Nam đã bước sang những trang mới vẻ vang của thời kỳ đổi mới, nhưng chúng ta đều biết rằng: Tất cả những thành quả đó đều bắt nguồn từ những hoạt động tìm đường cứu nước của Bác, từ năm 1930 khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và từ cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại!

Tháng 4-1921, với bài báo “Đông Dương” trên tạp chí Revue Communiste, Nguyễn Ái Quốc viết:

“Người Đông Dương không được học, đúng thế, bằng sách vở và bằng diễn văn, nhưng người Đông Dương nhận sự giáo dục bằng cách khác. Đau khổ, nghèo đói và sự đàn áp tàn bạo là những người thầy duy nhất của họ… Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến. Bộ phận ưu tú có nhiệm vụ phải thúc đẩy cho thời cơ đó mau đến.

Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi. Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi”(1).

Tháng 5-1921, Nguyễn ái Quốc viết tiếp:

“Người ta đưa người Đông Dương vào chỗ chết trong cuộc chém giết của bọn tư bản để bảo vệ những cái gì mà chính họ không hề biết. Người ta đầu độc họ bằng rượu cồn và thuốc phiện. Người ta kìm họ trong ngu dốt… Người ta bịa đặt ra những vụ âm mưu để cho họ nếm những ân huệ của nền văn minh tư sản ở trên máy chém, trong nhà tù hay đày biệt xứ!

… 20 triệu dân bị bóc lột tàn nhẫn trong tay một nhóm kẻ cướp thực dân, đấy là xứ Đông Dương hiện nay”(2).

Ngày 23-6-1924, tại phiên họp thứ 8 Đại hội lần thứ 5 Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã thẳng thắn phát biểu, mạnh mẽ đấu tranh cho mục tiêu giải phóng dân tộc:

“Tôi thấy rằng hình như, các đồng chí chưa hoàn toàn thấm nhuần tư tưởng cho rằng vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa. Vì vậy, tôi sẽ tận dụng mọi cơ hội có được, sẽ gợi ra những vấn đề và nếu cần tôi sẽ thức tỉnh các đồng chí về vấn đề thuộc địa…

Các đồng chí thứ lỗi về sự mạnh bạo của tôi, nhưng tôi không thể không nói với các đồng chí rằng, sau khi nghe những lời phát biểu của các đồng chí ở chính quốc, tôi có cảm tưởng là các đồng chí ấy muốn đánh chết rắn đằng đuôi. Tất cả các đồng chí đều biết rằng, hiện nay nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa hơn là ở chính quốc. Các thuộc địa cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy, các thuộc địa cung cấp binh lính cho quân đội của chủ nghĩa đế quốc. Các thuộc địa trở thành nền tảng của lực lượng phản cách mạng. Thế mà các đồng chí khi nói về cách mạng, các đồng chí lại khinh thường thuộc địa”(3).

Trong tài liệu nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh của Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2003, cũng nêu rõ:

“Nếu ở phương Tây, các nhà kinh điển mác xít cho rằng sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người tuy có liên quan chặt chẽ với nhau, nhưng trước hết, phải giải phóng giai cấp công nhân, thì Hồ Chí Minh khẳng định: Đối với phương Đông, trong đó có Việt Nam, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ trên hết, trước hết.

Hồ Chí Minh cho rằng, trong điều kiện các nước thuộc địa thì giải phóng dân tộc là cơ sở để giải phóng giai cấp, giải phóng con người”.

Ngay từ khi thành lập Đảng, trong Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt của Đảng ta đã nêu rõ nhiệm vụ của cuộc Cách mạng là: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến. Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”(4).

Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 họp tại Pác Bó tháng 5-1941, do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, khẳng định: “Nhiệm vụ bức thiết nhất của Cách mạng Đông Dương lúc này là giải phóng dân tộc… Trong lúc này quyền lợi của bộ phận giai cấp phải đặt dưới sự tồn vong sinh tử của quốc gia dân tộc. Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”(5).

Đêm 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp. Ban Thường vụ Trung ương họp mở rộng và ra Chỉ thị lịch sử: “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.
Ngày 13-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào.

Ngày 16-8-1945, Đại hội quốc dân tiếp tục họp tại Tân Trào, thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, thông qua lệnh Tổng khởi nghĩa, quyết định quốc kỳ của nước ta nền đỏ sao vàng, chọn bài “Tiến quân ca” làm Quốc ca và bầu ra Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(6).

Ngay trong đêm 13-8-1945, Uỷ ban Khởi nghĩa toàn quốc đã gửi Quân lệnh số 1 cho đồng bào và chiến sĩ cả nước, nhanh chóng vùng dậy giành độc lập.

Từ 14 đến 18-8-1945, Tổng khởi nghĩa đã diễn ra ở nông thôn miền Bắc, đại bộ phận miền Trung, một phần miền Nam và các thị xã Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Hội An (Quảng Nam).

Ngày 19-8-1945, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành được thắng lợi rực rỡ tại Thủ đô Hà Nội. Hàng vạn nhân dân nội, ngoại thành xuống đường thị uy. Quần chúng tiến vào chiếm lĩnh phủ Khâm sai, Toà Thị chính, Trại Bảo An…

Từ 19-8 đến 22-8-1945, cuộc Tổng khởi nghĩa tại các thị xã Yên Bái, Thái Bình, Phúc Yên, Thanh Hoá, Khánh Hoà, Bắc Ninh, Ninh Bình, Thái Nguyên, Nam Định, Hưng Yên, Kiến An, Quảng Yên đã giành thắng lợi.

Ngày 23-8-1945, cuộc khởi nghĩa đã thắng lợi ở thành phố Huế. 15 vạn nhân dân Huế, Thừa Thiên đã nổi dậy bắt vua Bảo Đại phải thoái vị, nộp ấn kiếm cho cách mạng, xoá bỏ chính thể quân chủ ở Việt Nam.

Từ 23-8 đến 25-8-1945, các tỉnh Quảng Ngãi, Gia Định, Sóc Trăng, Trà Vinh, Tây Ninh, Biên Hoà, Đồng Nai Thượng giành thắng lợi.

Sáng 24-8-1945, tại Sài Gòn, Đảng ra hoạt động công khai, đông đảo quần chúng phấn khởi nhìn lá cờ đỏ búa liềm tung bay trước gió.

1 giờ sáng ngày 25-8-1945, toàn bộ chính quyền thành phố Sài Gòn đã thuộc về Cách mạng.

Như vậy là chỉ trong vòng nửa tháng, cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại đã thành công trong cả nước!

L.A Pat-ti, một tình báo Mỹ, người đã được Bác Hồ đọc cho nghe Bản Tuyên ngôn độc lập trước ngày đọc ở Ba Đình và cũng là người có mặt ở Hà Nội ngày 2-9-1945 đã viết trong cuốn sách “Why Viet Nam” (Tại sao Việt Nam) dày ngót một nghìn trang, có đoạn kể lại ngày 2-9 ở Ba Đình:

“Tiếng loa phóng thanh nổi lên phá vỡ sự im lặng, người ta giới thiệu “ông Hồ là người giải phóng, vị cứu tinh của dân tộc”. Quần chúng hát vang và trong mấy phút liền hô vang “Độc Lập”, “Độc Lập”. Ông Hồ mỉm cười, nhỏ nhắn trong tầm cỡ, nhưng vĩ đại trong sự hoan hô của nhân dân ông. Ông giơ tay ra hiệu im lặng và bắt đầu đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, mà ngày nay đã trở thành nổi tiếng…”(7).

Hen Xơ-bớc-lem, tác giả cuốn “Việt Nam một dân tộc trong Cách mạng” đã viết: “Đối với Việt Nam, Cách mạng Tháng 8 là cuộc thử sức bằng cả lực lượng và tài trí. Ông Hồ đã tìm ra giải pháp đúng, đi nước cờ thật tài ba tuyệt diệu… Những người đứng đầu Việt Minh được tán thành do quá khứ của họ và quá khứ lâu dài của Đảng Cộng sản Đông Dương… Ông Hồ đã tìm thấy bên trong đất nước của mình điều bí mật về sức mạnh dân tộc, sức mạnh của 25 triệu người Việt Nam lúc ấy”(8).

___

(1, 2, 3) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 1, tr.28, 34, 273. (4, 6) Sđd, tập 3, tr.1, 554. (5) Văn kiện Hội nghị TW Đảng lần thứ 8. (7) Why Việt Nam – NXB Đà Nẵng, năm 2001. (8) Cách mạng Tháng 8 với các học giả nước ngoài, Báo Người Đại biểu nhân dân, tháng 8-2001.

Bùi Công Bính

xaydungdang.org.vn