Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Nuôi dưỡng và phát huy sức mạnh dân tộc

Sứ mệnh thiêng liêng của thế hệ Việt Nam ngày nay là phải giữ gìn độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ trong một thế giới đầy biến động. Bản lĩnh của người lãnh đạo là phải biết khơi dậy, nuôi dưỡng và phát huy sức mạnh dân tộc được khởi nguồn từ mệnh lệnh trái tim của mỗi người dân Việt Nam.

HaiBaTrung.jpgHai Bà Trưng. Ảnh: Tuấn Anh

Từ ngọn lửa yêu nước và khí phách anh hùng của ông cha

Có lẽ bài học vỡ lòng về yêu nước và khí phách anh hùng cho nhiều thế hệ Việt Nam xưa nay là chuyện Trần Quốc Toản đời nhà Trần thế kỷ XIII. Do không được cùng các vương hầu bàn việc quân cơ tìm kế sách chống quân xâm lược, trang thiếu niên anh hùng ấy đã giận dữ bóp nát quả cam đang cầm trong tay lúc nào không biết.

Chưa được dự bàn tại hội Bình Than vì tuổi nhỏ, không có nghĩa là không được thực hiện lòng yêu nước. Sách Đại Việt Sử ký Toàn thư chép về chuyện này như sau: “Trần Quốc Toản tủi phận lui về huy động hơn nghìn gia nô và thân thuộc, sắm vũ khí, đóng chiến thuyền, viết lên cờ sáu chữ “Phá Cường Địch, Báo Hoàng Ân”… khi đối trận tự mình xông lên trước quân sĩ, giặc trông thấy phải lui tránh, không dám đối địch”[1].

Tuổi nhỏ, chí lớn, trang thiếu niên đã giành lấy quyền được yêu nước rồi dũng cảm thể hiện bằng hành động cái quyền thiêng liêng ấy. Hành động được lưu danh sử sách, từng làm xúc động bao nhiêu tấm lòng Việt Nam, nhen nhúm ngọn lửa yêu nước và khí phách anh hùng trong họ.

Sở dĩ cậu bé tuổi chỉ 15, 16 mà có khí phách lớn đến vậy là do đã được nuôi dưỡng trong hào khí của ông cha, hun đúc nên từ ý chí quật cường không chịu khuất phục trước sức mạnh cũng như tham vọng và mọi thủ đoạn đe dọa của kẻ thù. Không có một khí phách của Trần Thủ Độ: “Đầu thần chưa rơi, xin bệ hạ đừng lo”, khí phách của Trần Quốc Tuấn: “Bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu tôi trước đã” [1], khí phách của Trần Bình Trọng: “Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”[1] thì làm sao có được khí phách của trang thiếu niên anh hùng Trần Quốc Toản?

Mà đâu chỉ các vương hầu với khí phách Đông A của dòng họ Trần. Nó còn tượng hình rõ trên hai chữ “Sát Thát” thích trên cánh tay của quân sĩ đời Trần quyết “cảm tử cho tổ quốc quyết sinh” trước quân xâm lược.

Cần nhớ rằng đế quốc Nguyên Mông thời ấy đã từng kiểm soát một vùng lãnh thổ rộng lớn trải dài từ bờ Thái Bình Dương đến bên kia Hắc Hải chưa hề có trong lịch sử thế giới mới càng hiểu khí phách ấy là lớn đến ngần nào.

Chẳng thế mà, sau khi lãnh đạo thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống xâm lược, vua Trần Nhân Tông, nhường ngôi cho con, lên tu ở núi Yên Tử, sách “Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh” có một cách giải thích độc đáo nhằm nhấn mạnh ý thức cảnh giác của vị vua anh hùng khi gọi ngài là “một vị Vô Lượng Lực Đại Thế Chí Bồ Tát” để chỉ việc “dựng lên ngôi chùa, thời thường dạo chơi để xem động tĩnh, cốt để ngừa cái mối lo nước ngoài xâm phạm”!

Cách giải thích có phần khiên cưỡng ấy phải chăng nhằm đề cao lòng yêu nước và tinh thần cảnh giác để đối lập với những kẻ ươn hèn hốt hoảng núp bóng ngoại bang như Trần Di Ái, Trần Ích Tắc. Những con chiên ghẻ này đã bôi nhọ tinh thần Đông Á, phản nước, phản dân muôn đời bị nguyền rủa. Sử chép: “Ích Tắc đã từng gửi thư riêng cho khách buôn ở Vân Đồn xin quân Nguyên xuống nam. Đến nay, người Nguyên vào cướp, Ích tắc xin hàng chúng để mong được làm vua. Người Nguyên phong làm An Nam Quốc Vương. Sau khi quân Nguyên thất bại, Ích Tắc trong lòng hổ thẹn, chết ở đất Bắc!” [1].

Nhưng cùng với những chuyện đó, sử cũng lại chép chuyện một hiền thần không phải là quý tộc họ Trần từng khiến tướng giặc Ô Mã Nhi phải thốt lên “Người này …có thể nói là không nhục mệnh vua. Nước nó còn có người giỏi, chưa thể mưu tính được”. Đó là chuyện Đỗ Khắc Chung tại trại giặc. Khi Ô Mã Nhi hỏi: “Quốc Vương ngươi vô lễ, sai người thích chữ Sát Thát, khinh nhờn thiên binh, lỗi ấy to lắm”. Khắc Chung đáp: “Vì lòng trung phẫn mà họ tự thích chữ thôi, Quốc vương tôi không biết việc đó. Tôi là cận thần, tại sao lại không có”. Nói rồi giơ cánh tay cho xem… [Ô Mã Nhi] sai người đuổi theo Khắc Chung nhưng không kịp”. [1]

Quả vậy, tên tướng xâm lược đã hiểu ra một chân lý: Khi một nước “còn có người giỏi, [thì] chưa thể mưu tính được”. Và thật dễ hiểu, để “mưu tính” thì phải làm cho nước ấy hết người giỏi, mua chuộc người giỏi không được thì phải tìm cách trừ khử, đó là thủ đoạn muôn đời!

Nhắc đến chuyện đời Trần để lưu ý rằng, lịch sử là một nhân tố mà thiếu nó thì không một ý thức dân tộc nào có thể đứng vững được. Vì vậy, học lại bài học lịch sử để thường xuyên hun đúc và phát huy tinh thần dân tộc thể hiện trong lòng yêu nước và khí phách Trần Quốc Toản cho thế hệ trẻ là điều cực kỳ quan trọng để biết trân trọng từng thước đất ông cha để lại, không ngần ngại hy sinh chiến đấu để bảo vệ và xây dựng tổ quốc thân yêu của mình.

Đến sứ mệnh thiêng liêng của thế hệ Việt Nam ngày nay

images35455_a1-t3_(Small)634079209936562500.jpgBác Hồ làm việc tại Phủ chủ tịch. Ảnh: Tuấn Anh

Non sông gấm vóc ta có được đến bây giờ từng thấm đẫm bao nhiêu mồ hôi, xương máu của ông cha. Sứ mệnh thiêng liêng của thế hệ Việt Nam ngày nay là phải giữ gìn độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ trong một thế giới đầy biến động.

Điều ấy đòi hỏi phải thể hiện khí phách ấy trong những ứng xử linh hoạt, tinh tế và tỉnh táo trên cơ sở dựa chắc vào bản lĩnh của cả dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước, trước hết là của tuổi trẻ Việt Nam, tạo điều kiện cho họ thực hiện quyền yêu nước của mình.

Những sự kiện lịch sử được nhắc đến ở trên có ý nghĩa như những thông điệp của ông cha truyền gửi cho con cháu muôn đời. Những thông điệp kiểu như vậy từ những “tọa độ” có sức âm vang lịch sử như thế, sẽ góp phần nung nấu, giục giã ý thức dân tộc, điểm nhạy cảm nhất trong tâm tư tình cảm người Việt Nam ta.

Nói như vậy không phải tự vỗ ngực để cho rằng ý thức dân tộc là sản phẩm riêng của người Việt Nam. Nhưng cũng sẽ rất nông cạn và đánh mất một động lực cực lớn nếu không thấy hết nét đặc trưng làm nên điểm nhạy cảm độc đáo trong tâm thức người Việt.

Chẳng hạn như, nếu Tôn Trung Sơn, nhà tư tưởng lớn của lịch sử Trung Quốc hiện đại từng nghiêm khắc đưa ra nhận định có tính phê phán nhằm chấn hưng dân khí Trung Hoa: “Ở nước ta gia tộc và tông tộc được đồng bào sùng bái nhất, cho nên có thể nói nước ta chỉ có chủ nghĩa gia tộc, chủ nghĩa tông tộc nhưng thiếu hẳn chủ nghĩa dân tộc”, thì với Việt Nam lại không như thế.

Do đặc điểm hình thành trong cái thế kẹt của “trứng nằm dưới đá”, lòng yêu nước và tinh thần dân tộc là vũ khí sống còn của người Việt chống lại ách đô hộ và âm mưu đồng hóa để có thể tồn tại và phát triển. Không có cái đó, sẽ không có Việt Nam hôm nay.

Chính vì vậy mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từ những năm 20 của thế kỷ XX đã khẳng định “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn nhất của đất nước” [2]. Mỗi khi động lực ấy được khởi động, thì “nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn”. [3]

Đây là luận điểm đưa ra tại Đại hội lần thứ II của Đảng họp tại Việt Bắc năm 1951, đổi tên Đảng thành Đảng Lao Động Việt Nam. Tinh thần dân tộc là cội nguồn của sức mạnh Việt Nam, của nền văn hóa Việt Nam được Hồ chí Minh diễn đạt bằng khái niệm lòng yêu nước.

Mỗi khi nền độc lập của đất nước bị uy hiếp thì lòng yêu nước ấy lại bùng phát mãnh liệt: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước. …Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý. Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm. Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày…”.

Những lời bất hủ ấy đã khơi dậy và thổi bùng ngọn lửa yêu nước, thiêu cháy mọi sự ươn hèn khiếp hãi trước sức mạnh và thủ đoạn thâm độc, nham hiểm của kẻ thù, giục giã tinh thần và ý chí mỗi người Việt Nam hành động theo mệnh lệnh của trái tim để “kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.

Mọi thế lực xâm lược trong lịch sử đều bị đánh cho tan tác vì chúng không hiểu được một thực tế Việt Nam, rất Việt Nam là: Họa xâm lăng, nguy cơ mất nước là ngọn lửa thử vàng làm lộ rõ bản lĩnh của từng con người Việt Nam, gắn kết họ lại thành một khối vững chắc vì đã loại bỏ được chuyện vàng thau lẫn lộn do một sự trải nghiệm thật nghiêm khắc: “Thật vàng không sợ lửa”.

Mệnh lệnh của trái tim và sự dẫn dắt của cái đầu biết tư duy

Xin dẫn ra một ví dụ từ lịch sử về ý chí Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam, giải pháp Việt Nam thể hiện rất nổi bật và rất điển hình trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc…” [4]

Mệnh lệnh ấy chính là mệnh lệnh của trái tim Việt Nam. Theo “mệnh lệnh” ấy thì mới có thể muôn người như một “Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc” đứng lên đánh giặc cứu nước.

Hơn ai hết, Hồ Chí Minh là người hiểu rõ cái giá của hòa bình xây dựng, của tình hữu nghị để cùng phát triển. Nhẫn nại, kiên trì theo đuổi con đường đàm phán, cố gắng tránh chiến tranh, đổ máu, thậm chí không ngần ngại dùng “chính sách Câu Tiễn” để cứu vãn hòa bình đang mong manh như sợi chỉ mành trước gió, mặc dầu hiểu rất rõ bản chất của kẻ thù “ta càng nhân nhượng, địch càng lấn tới” .

Nhưng vì biết như vậy, nên Hồ Chí Minh và Đảng của mình luôn giành thế chủ động trong đấu tranh. Và đấy là bản lĩnh làm nên thắng lợi.

Đương nhiên, lòng yêu nước không chỉ biểu hiện bằng “gươm súng, cuốc thuổng, gậy gộc”, mà có khi chỉ là lá cờ Tổ quốc được giương lên để biểu thị một ý chí, một thái độ, một cảm xúc.

Chẳng hạn, hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng che kín một mảng lớn khán đài sân vận động Mỹ Đình trong trận chung kết Việt Nam – Thái Lan. Chẳng ai “lập trình”, “lên kế hoạch”, “phân công, tổ chức” cho những lời gào thét bùng nổ niềm phấn khích vô hạn cũng như “điều hành, xin ý kiến chỉ đạo” những giọt nước sung sướng của Tấn Tài, cũng như của bao người khác trên sân vận động hoặc trước màn hình khi cái đầu kỳ diệu của Công Vinh biến giấc mơ thành hiện thực, đưa bóng đá Việt Nam lên ngôi vô địch.

Nhưng chính vì vậy mà những buồn vui, những háo hức say mê, những gào thét, phấn khích, những giọt nước mắt giàn dụa tuôn trào, mới thật sự nói lên cường độ mãnh liệt và ý nghĩa trong suốt của mệnh lệnh trái tim, những mệnh lệnh được ban ra từ trái tim của mỗi người yêu nước.

Chính những mệnh lệnh được ban ra từ trái tim ấy mới thật sự là sức mạnh vô bờ, khác nào sức mạnh của dòng sông tuôn về biển lớn mà quyết định tốc độ tuôn trào ấy là sức cuộn chảy từ bên dưới chứ không phải những váng bẩn, bèo bọt nổi lên trên.

Ở những đoạn sông chảy xiết, nhất là ở những khúc quanh đột ngột mở ra một hướng mới, đưa dòng nước xuôi về biển, váng bẩn sẽ càng nổi lên nhiều. Những đôi mắt cận thị bị những lợi ích vụn vặt trước mắt che lấp tầm nhìn, sẽ chỉ thấy được những bèo bọt, những váng bẩn mà không sao thấy được sức cuộn chảy từ bên dưới.

Ấy vậy mà, chính sức cuộn chảy từ bên dưới ấy mới làm nên lịch sử! Vì lịch sử là một sự vận động trong thế tương quan giữa nhiều lực lượng nhằm tìm ra một hợp lực, vạch ra con đường đi của nó. Ngay từ đầu, và cho đến bây giờ và mãi mãi, những hợp lực ấy vẫn do các cá nhân hiện thực tạo ra mà vẫn không là phụ thuộc vào cá nhân họ.

Phải chăng vì thế mà Hegel cho rằng động cơ của những nhân vật lịch sử, thật ra, không phải là những nguyên nhân cuối cùng của lịch sử. Cái hợp lực tạo ra sức mạnh của một dân tộc, viết nên những trang hào hùng của lịch sử dân tộc, chính là quần chúng nhân dân. Những người theo mệnh lệnh của trái tim đã có mặt đúng lúc, đúng thời điểm cần có họ. Ở đây, mệnh lệnh của trái tim được dẫn dắt bởi sức mạnh của cái đầu, cái đầu biết tư duy.

Trên ý nghĩa đó mà hiểu sâu về những mệnh lệnh của trái tim yêu nước đẩy tới những hành động, những sự kiện mà chỉ nhìn từ bên ngoài, chỉ là những biểu hiện đơn lẻ, bình thường, rời rạc nhưng phải thấy cho ra cái bản chất tiềm ẩn kín đáo bên trong của lòng yêu nước, điều mà Bác Hồ đòi hỏi “bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày…”.

Biết khơi dậy, nuôi dưỡng và phát huy sức mạnh được khởi nguồn từ mệnh lệnh trái tim ấy chính là bản lĩnh của người lãnh đạo. Làm phôi pha, thất thoát sức mạnh có thể “kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn” ấy là có tội với dân tộc, với lịch sử.


Ghi chú:

[1] Đại Việt Sử Ký Toàn thư. Tập II. NXBKHXH. Hà Nội 1988, tr.49, tr. 28, tr.81,tr. 55, tr.53, 54 (theo thứ tự trước sau của câu trích dẫn trong bài. Bản kỷ toàn thư. Quyển V. Kỷ nhà Trần
[2] Hồ Chí Minh Toàn tập. Tập I. NXBCTQG Hà Nội 1995, tr.466, 467
[3] Hồ Chí Minh Toàn tập. Tập VI. NXBCTQG Hà Nội 1995, tr 171, 172
[4] Hồ Chí Minh Toàn tập. Tập IV. NXBCTQG Hà Nội 1995, tr 480

GS. Tương Lai
Theo: TuanVietNam.net

hochiminhhoc.com

“Quyền trị dân” chỉ có thể bắt nguồn từ một “khế ước xã hội” Bác Hi Mã và cháu Tất Thành

Đây là đoạn trích Tiết 4. “Quyền trị dân” chỉ có thể bắt nguồn từ một “khế ước xã hội” Bác Hi Mã và cháu Tất Thành thuộc Chương 3. Chớm nở ý thức pháp quyền, quyền làm người, quyền dân tộc, chủ quyền dân tộc của cuốn sách Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh của tác giả Vũ Đình Hòe, website http://hochiminhhoc.com xin chân trọng giới thiệu đến quý độc giả

Picture1.jpgCác nhà khai sáng Pháp và tác phẩm “Khế ước xã hội”. Ảnh: Tuấn Anh

Quân trị – Dân trị: “Khế ước xã hội”

Quân chủ, quân quyền, quân chủ – quân quyền chuyên chế, quân chủ tập quyền chuyên chế tuyệt đối… tồn tại và phát triển trải qua muôn đời đã hao tốn cho nhân loại hàng biển mồ hôi, nước mắt, và cả xương máu nữa chứ! Nó “thọ” lâu như thế là nhờ vào triết lý “cao siêu”: tôn vua lên ngôi Thiên tử, ý Vua là ý Trời. Mà Trời, Thượng Đế thì Chí Thiện, Chí Công, Chí Minh! Dân chỉ cần cúi đầu thán phục. Nếu vô phúc gặp phải hôn quân thì cứ chịu nhẫn nhục mà kêu trời rồi trước sau Trời cũng sẽ biết, sẽ ra tay cho vua biết thân. Khốn khổ thay, Trời mà ra tay (thiên tai) thì chính Dân lại là người “è cổ” ra mà chịu báng trước!

Con giun xéo lắm cũng oằn! Giá mà con giun có nọc độc thì nó cũng phun ra hết. Đó là chân lý của lịch sử. Để tạo động lực cho lịch sử, các nhà bác học bách khoa thế kỷ XVIII là Montesquieu, Rousseau, Voltaire, Diderot… đã sáng tác ra một triết lý mới thay vào Thần quyền. Nổi bật lên là J. J. Rousseau (Lư Thoa) với tác phẩm “Du Contrat Social”. Người ta dịch là “Khế ước xã hội”, gọn là “Xã ước”. Hồ Chí Minh dịch là “Dân ước”, Nguyễn An Ninh, nhà học giả Cách mạng Dân chủ thời Hồ Chí Minh dùng tên gọi ấy, ngắn gọn mà gợi cảm. Sơ lược triết lý cao siêu ấy là thế này:

Con người sinh ra ai cũng được tự do như nhau, tự do tuyệt đối, bình đẳng tuyệt đối đối với mọi người khác. Nhưng con người muốn tồn tại được trong giời đất thì phải sống thành đàn, thành bầy, thành bang để nương tựa lẫn nhau. Đã là đàn, là bầy, là bang thì phải có người, có bộ phận “cầm đầu”. Và mỗi người trong tổ chức xã hội ấy phải tự nguyện bớt một mảnh tự do vô hạn trước đây cảu mình giao cho người hay bộ phận cầm đầu để tạo điều kiện cho họ làm đầy đủ phận sự được giao là quản lý và bảo vệ quyền lợi chung của xã hội. Thế là một khế ước (hợp đồng, thỏa hiệp, thỏa ước) vô hình trung đã hình thành. Mọi người, kể cả người đứng đầu đều phải tôn trọng nếu không thì loạn. “Người bị trị” đã vi phạm hợp đồng thì phải chịu đã đành. Kẻ “trị dân” cũng vậy, nếu làm “không nên thân” thậm chí còn bớt xén của công, lộng hành, tư túi… thì ắt bị cộng đồng hạ bệ tức thì, thay người khác xứng đáng hơn. Dưới đây trích mấy câu, mấy đoạn nguyên văn:

“Người sinh ra tự do, nhưng rồi đâu đâu con người cũng sống trong xiềng xích (…)

“Nếu tôi chỉ xem xét về lực và hệ quả của lực thì tôi sẽ nói rằng: khi nhân dân bị cưỡng bức mà lại biết phục tùng, họ làm thế là phải. Nhưng nếu có thể hất cái áp bức đó đi thì còn hay hơn nữa, vì thế họ giành lại tự do vốn có quyền được hưởng, có quyền giành lại và không ai được tước đoạt quyền tự do của họ.

Trật tự xã hội là một thứ quyền thiêng liêng làm nền tảng cho mọi thứ quyền khác, nhưng trật tự xã hội không phải tự nhiên mà có. Nó được xác lập trên cơ sở những công ước. Vậy phải tìm hiểu công ước ấy là gì (…) 1)

Xin trích ra đây hai đoạn trong sách “Dân ước” của Rousseau. Trong các đoạn ấy, học giả Cách mạng dân chủ nói lên khái niệm mới về quyền lực nhà nước. Một đoạn trích thuộc Chương II trong quyền 1, và một đoạn trích thuộc Chương VI trong quyển 2.

Chương II (Quyển 1)
“Công ước (Pacte) xã hội”

“… nhưng con người không thể tạo ra lực mới mà chỉ có thể kết hợp và điều khiển những lực sẵn có, cho nên phương pháp duy nhất để con người tự bảo vệ là họ phải kết hợp lại với nhau thành một lực chung được điều khiển bằng một động cơ chung khiến cho mọi người đều hành động một cách hài hòa (…)

Tìm ra một hình thức kết liên với nhau để dùng sức mạnh chung mà bảo vệ mọi thành viên. Mỗi thành viên trong khi khép mình vào tập thể, dùng sức mạnh tập thể, vẫn được tự do đầy đủ như trước, vẫn chỉ tuân theo chính bản thân mình. Đó là vấn đề cơ bản mà khế ước (contract) đưa ra cách giải quyết (…) Thực chất của công ước xã hội là gì?

Mỗi người chúng ta đặt mình và quyền lực mình dưới sự điều khiển tối cao của ý chí chung và chúng ta tiếp nhận mọi thành viên như một bộ phận không thể tách rời của toàn thể.

Hành viên liên kết sẽ tạo nên một cơ thể tinh thần chung, gồm bao nhiêu thành viên thì có bấy nhiêu tiếng nói trong một hội đồng, mỗi thành viên nhận được sự nhất trí của mình trong hành vi liên kết đó, họ tìm thấy cái tôi tập thể, tìm thấy cuộc sống và ý chí của mình trong tập thể. Con người công cộng được hình thành bằng sự liên kết với tất cả người khác. Ngày xưa, con người công cộng ấy được gọi là thành bang, ngày nay chúng ta gọi là “nước cộng hòa” hoặc “cơ thể chính trị”. Mỗi thành viên ở thể thụ động thì gọi là người công cộng, đó là “Nhà nước”, ở thể chủ động thì gọi nó là “quyền lực tối cao”. Khi đối sánh với đồng loại thì con người đó được gọi là “quyền lực”. Về phần các thành viên, họ lấy một tên chung là “dân chúng”; mỗi người riêng lẻ thì gọi là “công dân” trong khi họ tham gia vào quyền lực tối cao, hoặc gọi là “thần dân” trong khi họ phục tùng pháp luật Nhà nước”.

Chương Sáu (quyển 2)
Bàn về luật

… “khi toàn dân quy định một điều gì cho toàn dân thì họ chỉ xem xét đến toàn thể, nếu hình thành một quan hệ thì phải là quan hệ giữa toàn thể trên một cách nhìn này với toàn thể trên một cách nhìn khác; cái toàn thể không hề bị chia tách ra. Như vậy, chất liệu để xây dựng là chất liệu chung, cũng như ý chí xây dựng là ý chí chung. Cái đó gọi là luật.

Khi tôi nói luật bao giờ cũng là tổng quát chung cho mọi người, tôi hiểu rằng luật coi tất cả thần dân là một cơ thể mà trừu tượng hóa các hành động, không coi con người như một cá nhân hoặc như một hành động riêng lẻ. Luật có thể quy định rằng sẽ có một số đặc quyền nhưng luật không nói rõ đặc quyền cho một cá nhân cụ thể nào. Luật cũng có thể chia công dân làm hạng nhưng không quy định cụ thể người nọ, người kia là thuộc hạng này hạng khác. Luật có thể quy định việc thành lập Chính phủ và hệ thống cấp bậc nhưng không cử ra một ông vua hay chỉ định một gia tộc nào là hoàng gia. Tóm lại, mọi chức năng liên quan đến đôi tượng cá nhân không phải là chức năng của quyền lực luật pháp.

… Luật thống nhất cái tổng thể của ý chí với tổng thể của đối tượng. (…) Ngay cả cái mà cơ quan quyền lực tối cao ra lệnh cho một đối tượng cá nhân cũng không phải là luật mà là một nghị định, không phải của cơ quan tối cao mà là của cá nhân pháp quan”. (…)

… Vậy nước cộng hòa là tất cả những người nào do luật trị vị bất kể dưới hình thức nào. Luật trị vì tức là lợi ích chung trị vì…”

Tôi (Vũ Đình Hòe) xin nhấn mạnh ý trên: chế độ dân chủ, dân quyền, chế độ dân chủ cộng hòa là chế độ luật trị. Luật trị là do dân đặt ra, dân nắm quyền lực nhà nước, dân trị; pháp quyền là pháp quyền của dân để bảo đảm, bảo vệ lợi ích chung của toàn dân trong đó có lợi ích riêng của mỗi người, gồm cả dân thường lẫn người dân cầm đầu nhà nước đều là thần dân của nhà nước dân chủ, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ.

1) Xem sách: Bàn về khế ước xã hội. Thanh Đạm (Hoàng Nhật Tân) dịch và diễn giải, chú thích, NXB TP HCM, 1992, chương I, quyển 1, trang 29

Nguồn:  Sách Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh

hochiminhhoc.com

Độc lập dân tộc và CNXH từ Đường Kách mệnh đến Cương lĩnh chính trị của Đảng (*)

Độc lập dân tộc và CNXH được lựa chọn từ trong tác phẩm Đường Kách mệnh, được khẳng định trong các Văn kiện của Đảng từ mùa xuân năm 1930 đến Cương lĩnh chính trị của Đảng (bổ sung, phát triển năm 2011), thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ XI (1/2011), vẫn sẽ là nguồn sức mạnh nội lực, là ánh sáng soi đường, để đưa nhân dân ta đi trên một lộ trình đúng, phù hợp tâm nguyện của toàn dân tộc, hướng đến tương lai ấm no, hạnh phúc, đất nước đến giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững vàng hội nhập cùng bạn bè quốc tế.

Picture12.pngMột số nội dung chính của tác phẩm “Đường Kách Mệnh”. Ảnh: Tuấn Anh

Thấm nhuần lời dặn của Lênin trong cuốn sách Làm gì?: “Không có lý luận Kách mệnh, thì không có cách mệnh vận động… Chỉ có theo lý luận kách mệnh tiền phong, Đảng kách mệnh mới làm nổi trách nhiệm kách mệnh tiền phong” (1), trong những năm 1924-1927, tại Quảng Châu (Trung Quốc), Hồ Chí Minh đã tiến hành những hoạt động lý luận và thực tiễn: mở lớp Huấn luyện chính trị, thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, ra báo Thanh Niên, nhằm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cốt cán đầu tiên và tuyên truyền chủ nghĩa Mác- Lênin cho phong trào cách mạng Việt Nam. Những bài giảng của Hồ Chí Minh tại lớp Huấn luyện chính trị thời kỳ này đã được Bị áp bức dân tộc liên hợp hội tuyên truyền bộ ấn hành (với tên gọi Đường Kách mệnh, đầu năm 1927).

Đường Kách mệnh là một tác phẩm được viết ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ đối với đông đảo quần chúng nhân dân, không ngoài một hy vọng: Đồng bào xem rồi thì nghĩ lại, rồi tỉnh dậy, đoàn kết lại để làm cách mệnh, nhằm giành lại độc lập và tự do. Thông qua việc luận giải một cách cụ thể những khái niệm về: Tư cách một người cách mệnh; Cách mệnh, về dân tộc cách mệnh, thế giới cách mệnh, cách mệnh trước hết phải có cái gì? Về các cuộc cách mạng Mỹ, Pháp, Nga; Về vai trò của Quốc tế I, II, III; về vai trò của các tổ chức quần chúng như Công hội, Nông hội, v, v.., Đường Kách mệnh đã giúp cho những người dân Việt Nam yêu nước hiểu rõ hơn về đối tượng, mục tiêu, con đường và bổn phận của mình trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng.

Cũng trong Đường Kách mệnh, sau khi phân tích lịch sử những cuộc cách mạng tư sản điển hình trên thế giới như Mỹ, Pháp, và dù đồng ý với tư tưởng dân chủ tiến bộ mà cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp đã tuyên bố trong Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1791, nhưng Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh vẫn không tán thành đường lối mà các chính quyền tư sản đã tiến hành sau thắng lợi của hai cuộc cách mạng nói trên. Theo Người “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”, nên: Muốn dân tộc được độc lập, muốn nhân dân lao động thoát khỏi thân phận người nô lệ, thì phải làm cách mạng một cách triệt để. Không thể đi theo con đường cách mạng tư sản, không thể thiết lập mô hình nhà nước cộng hoà tư sản, nơi chính quyền chủ yếu thuộc về giai cấp hữu sản, Người viết: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc” (2).

Để tiến hành một cuộc cách mạng mà khi chính quyền được thành lập là của dân chúng số nhiều, Hồ Chí Minh đã hướng về một cuộc cách mệnh “đến nơi”, nghĩa là một cuộc cách mệnh, mà sau đó sẽ lập ra một chính quyền thực sự của dân, không áp bức dân, không bóc lột dân. Người đã tìm thấy cuộc cách mệnh đó khi đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, đó là Cách mạng Tháng Mười Nga, một cuộc cách mạng triệt để, đem lại bình đẳng, tự do thực sự cho đông đảo quần chúng nhân dân và kết luận: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An nam” (3); đồng thời cách mạng Nga dạy chúng ta rằng: “Muốn cách mệnh thành công thì dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin” (4).

Như vậy, cùng với việc nhận thức được mối quan hệ chặt chẽ giữa yêu cầu giải phóng dân tộc và giải phóng con người là nhu cầu của thời đại, trên tinh thần của học thuyết Mác – Lênin và giải quyết một cách triệt để nhu cầu ấy, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã lựa chọn và đứng trên lập trường của giai cấp vô sản, để giải phóng dân tộc và giải phóng con người bằng một cuộc cách mạng vô sản và bước phát triển tiếp theo là xây dựng CNXH. Từ đó, Người nêu rõ việc phải tiến hành cả 2 cuộc cách mệnh: Dân tộc cách mệnh và Thế giới cách mệnh, phải nhờ vào Đệ tam quốc tế và phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản – đội tiền phong của giai cấp công nhân và dân tộc. Dân tộc cách mệnh là tập trung đánh đổ bọn đế quốc thực dân và bọn phong kiến tay sai, đánh đổ cường quyền, giành lại độc lập cho xứ sở và Thế giới cách mệnh là giống như công nông Nga đánh đổ tư bản áp bức, “Đảng Cộng sản cầm quyền, tổ chức ra Chính phủ công, nông, binh…, ra sức tổ chức kinh tế mới, để thực hành chủ nghĩa thế giới đại đồng (thực hiện chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới- tác giả nhấn mạnh)”. Và luận cứ để mục tiêu: Độc lập dân tộc và CNXH có thể trở thành hiện thực sinh động, chính là khẩu hiệu chiến lược của Quốc tế thứ III: “Vô sản giai cấp và dân tộc bị áp bức trong thế giới liên hợp lại” và sự khẳng định: “Cách mệnh Nga đã thành công để làm nền cho cách mệnh thế giới” (5).

Nhận thức chính trị này đã đưa Hồ Chí Minh đến với định hướng cơ bản về con đường giải phóng dân tộc Việt Nam theo quỹ đạo cách mạng vô sản và thiết lập một thể chế quyền lực thuộc về nhân dân theo mô hình nhà nước Xô Viết. Đó chính là con đường: Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, để đi tới xã hội cộng sản chủ nghĩa, mà mục tiêu trước hết là “độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào”.

Mục tiêu: Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH – đích tất yếu của cách mạng Việt Nam do Hồ Chí Minh trình bày trong tác phẩm Đường Kách mệnh đã được khẳng định trong Văn kiện Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt (Cương lĩnh chính trị đầu tiên) của Đảng Cộng sản Việt Nam, do Người soạn thảo và được thông qua ở Hội nghị thành lập Đảng (đầu năm 1930, tại Cửu Long – Hương Cảng), đó là: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” (6). Đây là kết quả của một tư duy sáng tạo, phù hợp với xu thế phát triển của nhân loại, và đây chính là “cái cần thiết cho chúng ta” trong điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Độc lập, tự do và CNXH (giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa) – mục tiêu định hướng tương lai của dân tộc Việt Nam, là sự lựa chọn chính xác, đúng đắn của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ những năm 30 của thế kỷ XX. Khẳng định và phấn đấu cho mục tiêu này, trong suốt 81 năm xây dựng và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành được những thắng lợi rất đỗi tự hào.

Ngọn cờ độc lập, tự do và CNXH nêu trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, thực sự là viên ngọc quý và sức hấp dẫn của nó đã góp phần khơi nguồn sức mạnh của toàn dân tộc trong sự nghiệp giải phóng. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, Hồ Chí Minh là người đã chỉ rõ phải đánh đổ cả đế quốc, phong kiến và tay sai giành lại độc lập, tự do cho nhân dân, đồng thời phải xây dựng CNXH, thì nền độc lập, tự do của dân tộc mới được đảm bảo và người dân mới được giải phóng thực sự. Lịch sử luôn có những thăng trầm, luôn có khúc ngoặt, song sáng tạo của Hồ Chí Minh trong việc lựa chọn con đường giải phóng dân tộc Việt Nam, mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH đã được thực hiện sinh động trong thực tiễn, đó chính là thành công của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mùa thu năm 1945.

Tiếp tục thực hiện tư tưởng cách mạng không ngừng, và kiên định con đường đã lựa chọn, dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội lần thứ II của Đảng (2/1951), cuộc trường chinh chống thực dân Pháp kéo dài 9 năm (1946-1954), đã giành được thắng lợi. Song với Hiệp định Giơnevơ, miền Bắc Việt Nam đã được giải phóng, từng bước khôi phục, cải tạo kinh tế, xã hội, văn hóa, v.v.. và đi lên CNXH, còn ở miền Nam, đồng bào ta tiếp tục thực hiện cuộc đấu tranh giải phóng, thực hiện thống nhất nước nhà.

Đại hội Đảng lần thứ III (9/1960) – Đại hội xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà đã khẳng định: “Đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH” và sau đó nhiều Hội nghị Trung ương và Bộ Chính trị đã có sự bổ sung, phát triển. Hướng đến tương lai tươi sáng đó, cuộc đấu tranh đầy gian khổ sau 21 năm gian nan, thử thách, vừa xây dựng CNXH ở miền Bắc, vừa đấu tranh cách mạng ở miền Nam đã kết thúc bằng cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Miền Nam đã được giải phóng, hai miền Nam – Bắc đã sum họp một nhà và cả nước cùng đi lên CNXH.

Lịch sử thế giới hiện đại đã chứng minh rằng, Việt Nam là nước đầu tiên tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đồng thời cũng là nước đầu tiên đi lên CNXH trong điều kiện có chiến tranh. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành đồng thời 2 chiến lược cách mạng ở cả 2 miền Nam, Bắc, tạo điều kiện thuận lợi cho đồng bào miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, để cả nước cùng tiến lên CNXH. Điều đó cho thấy, mục tiêu Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, là quy luật phát triển tất yếu và thắng lợi của cách mạng Việt Nam, và đó cũng là sự nhất quán của Hồ Chí Minh, của Đảng ta trong việc lựa chọn con đường phát triển của cách mạng Việt Nam. Và sự lựa chọn từ mùa xuân năm 1930 đó, đã được Đảng ta do Người sáng lập và rèn luyện kiên định thực hiện, với những bước đi thích hợp, nhằm đạt được mục tiêu đã lựa chọn.

Khi thống nhất nước nhà đã trở thành hiện thực, khát vọng xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, xây dựng CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN không chỉ là tiếp tục hành trình đã lựa chọn, mà còn là khẳng định con đường tất yếu đi lên CNXH của cách mạng Việt Nam – con đường hợp xu thế phát triển thời đại.

Kể từ mùa xuân năm 1975 đến nay, Đảng ta đã tiến hành 8 kỳ Đại hội (IV- năm 1976, V- năm 1882, VI- năm 1986, VII- năm 1991, VIII- năm 1996, IX- năm 2001, X- năm 2006, XI- năm 2011), và trong suốt chặng đường đó, độc lập dân tộc và CNXH vẫn tiếp tục được thực hiện, bất chấp sự chống phá điên cuồng của các thế lực thù địch, bất chấp sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu. Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 18/2/1995 của Bộ Chính trị về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay cũng khẳng định rõ: “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn duy nhất đúng dắn”. Kiên định và linh hoạt, tự chỉnh đốn và đổi mới, nhiệm vụ xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN luôn được thấm nhuần trong tư tưởng và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân ta. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII đã nhấn mạnh: “Con đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn. Xét trên tổng thể, việc hoạch định và thực hiện đường lối đổi mới những năm qua về cơ bản là đúng đắn, đúng định hướng XHCN” (7). Và Đại hội Đảng lần thứ IX cũng tiếp tục khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường XHCN trên nền tảng chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” (8)…

Với sự ổn định về chính trị, và những thành tựu về mọi mặt kinh tế, văn hoá, xã hội, ngoại giao, v,v.. của đất nước, và vị thế ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế, có thể khẳng định rằng: Sau hơn 35 năm cả nước cùng đi lên CNXH (1975-2010), và đặc biệt là sau 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước (1986-2010), mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH được thực hiện theo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Đại hội Đảng lần thứ VII, 2/1991), là sự lựa chọn kiên quyết và đúng đắn, là sự kiên định và sáng tạo của Đảng ta dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh. Tiếp tục hành trình đó, độc lập dân tộc và CNXH được lựa chọn từ trong tác phẩm Đường Kách mệnh, được khẳng định trong các Văn kiện của Đảng từ mùa xuân năm 1930 đến Cương lĩnh chính trị của Đảng (bổ sung, phát triển năm 2011), thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ XI (1/2011), vẫn sẽ là nguồn sức mạnh nội lực, là ánh sáng soi đường, để đưa nhân dân ta đi trên một lộ trình đúng, phù hợp tâm nguyện của toàn dân tộc, hướng đến tương lai ấm no, hạnh phúc, đất nước đến giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững vàng hội nhập cùng bạn bè quốc tế.

Được lựa chọn và thực hiện, sự kiên định phấn đấu và những thành tựu đạt được của Việt Nam trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, đúng như nhận định của đồng chí Giôdê Cađanôva – Trưởng đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Bồ Đào Nha chào mừng Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX: “Những thành tựu trong việc cụ thể hoá một con đường thích hợp quá độ lên CNXH – không chỉ là tài sản vô giá của những người cộng sản Việt Nam, mà còn là nguồn cảm hứng và tin tưởng đối với những người cộng sản và cách mạng trên toàn thế giới”./.

TS. Văn Thị Thanh Mai
Theo Tạp chí Tuyên Giáo

__________________

(*) Cương lĩnh bổ sung sửa đổi năm 2011 – Đầu đề do ban biên tập đặt
Chú thích:

1, 2, 3, 4, 5 – Hồ Chí Minh; Toàn tập, Nhà xuất bản CTQG, H, 1995, t.2, tr.259, 270, 270, 286
6 – Hồ Chí Minh; Toàn tập, Nhà xuất bản CTQG, H, 1995, t.3, tr.1
7 – Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII, Nhà xuất bản CTQG, H, 1996, tr.68
8 – Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX, Nhà xuất bản CTQG, H, 2001, tr.83

hochiminhhoc.com

Người dịch tác phẩm “Nhật ký trong tù” của chủ tịch Hồ Chí Minh ra tiếng Tày – Nùng

Hưởng ứng Cuộc vận động “Học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, trên khắp đất nước ta có rất nhiều người con đất Việt học và làm theo Bác. Trong đó mỗi người học và làm theo Bác một cách khác nhau. Ở thị xã Cao Bằng (tỉnh Cao Bằng) có ông Hoàng An – người dân tộc Tày đã thực hiện việc học Bác theo một cách khá đặc biệt. Việc ông làm suốt 3 năm nay là dịch tác phẩm “Nhật ký trong tù” ra tiếng Tày-Nùng để người dân Tày-Nùng cùng được đọc thơ Bác và cùng học Bác.

nhatkytrongtu1.jpgTác phẩm Nhật ký trong tù của chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh: Tuấn Anh

Sau khi ngâm nga một vài câu thơ của Bác bằng tiếng Tày ông Hoàng An tâm sự với chúng tôi: “Từ khi Đảng ta tiến hành Cuộc vận động, tôi cứ trăn trở và suy nghĩ là phải làm một việc gì đó có ích mà hợp với sức của mình. Cuối cùng tôi quyết định dịch tác phẩm “Nhật ký trong tù” của Bác ra tiếng Tày – Nùng. Trước đó, tôi cũng đã từng dịch Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm ra tiếng Tày và được Nhà xuất bản văn hoá dân tộc phát hành rộng rãi, được bà con dân tộc Tày –Nùng đón đọc rất nhiều, tôi tin rằng bản dịch “ Nhật ký trong tù” cũng sẽ vậy.”

Ông Hoàng An sinh ra và lớn lên ở Cao Bằng, trải qua 40 năm dạy học ở các vùng quê đã giúp ông tích luỹ được vốn từ ngữ Tày – Nùng khá phong phú. Ông am hiểu sâu cả 3 thứ tiếng Hán, Việt và Tày – Nùng. Theo ông, tiếng Tày – Nùng rất giàu ngữ điệu, âm thanh và hình ảnh, phong phú đa dạng mà sâu thẳm như cảnh sắc thiên nhiên của núi rừng. Tiếng Tày – Nùng đã được dùng để sáng tác các tác phẩm: “9 chúa tranh ngôi”, “Báo luông sao cải”, “Khảm hải”, “àng Kim”…

Để dịch “Nhật ký trong tù”, ông đã phải tham khảo rất nhiều bản dịch quốc ngữ và nguyên bản cuốn “Ngục trung nhật ký”, sưu tầm và tra cứu nhiều từ điển Hán – Việt và Tày- Nùng. Rồi trong căn phòng nhỏ hẹp, ông giáo già 76 tuổi cứ thế miệt mài, cân nhắc từng con chữ, mỗi câu, mỗi bài sau khi dịch xong ông lại mang đến tham khảo ý kiến bạn bè và những người có kinh nghiệm để họ đọc, thẩm định và góp ý kiến, để chỗ nào đáng sửa thì sửa. Cứ như thế suốt 3 năm nay ông đã dành mọi tâm huyết cho công việc này. Đến nay bản thảo “Nhật ký trong tù” đã tương đối hoàn chỉnh, bao gồm 300 trang A4 gồm cả nguyên bản chữ Hán và thơ tiếng Tày.

Nhận xét về bản dịch này, nhà thơ Ngô Lương Ngôn cho biết, “Nhật ký trong tù” vốn ý tại ngôn ngoại, vô cùng uyên sâu. Để dịch ra chữ quốc ngữ đã rất khó sát nghĩa huống chi là ra ngôn ngữ Tày – Nùng. Nếu người dịch không có vốn ngôn ngữ dân tộc phong phú thì không thể dịch nổi. Tuy nhiên, khi đọc bản thảo của Hoàng An tôi vô cùng khâm phục vì rất sát nghĩa và làm cho người Tày Nùng đọc, nghe đều hiểu mà vẫn thấy hay.”

Mặc dù không  được tài trợ nhưng hơn 3 năm ông Hoàng An vẫn miệt mài làm công việc này một cách thầm lặng với một suy nghĩ vô cùng đơn giản là: muốn đồng bào mình ai cũng được đọc thơ Bác và hiểu thơ Bác rồi làm theo Bác.

Tôi còn nhớ trong lịch sử Việt Nam có ghi rằng: thời kỳ Bác về Pắc Pó để soạn thảo Điều lệ Việt Minh rồi cho dịch ra tiếng Tày – Nùng bằng văn vần nên nhiều người có thể đọc và hiểu được mà đi theo Cách mạng. Phải chăng khi cuốn “Nhật ký trong tù” của Bác được ông Hoàng An dịch ra tiếng Tày – Nùng mà được xuất bản thì hiệu quả cũng tương tự như thế!

Việc làm của ông Hoàng An không chỉ góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá của dân tộc mà còn là một món quà vô giá dành cho đồng bào dân tộc Tày – Nùng để có thêm tài liệu tham khảo về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, từ đó có thể học tập tấm gương đạo đức Bác một cách hiệu quả hơn./.

(Theo: TTXVN)

hochiminhhoc.com

Để có hiểu biết đúng đắn về Hồ Chí Minh ”Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”

Lâu nay, một bộ phận trong giới khoa học Việt Nam và không ít cán bộ, đảng viên, nhân dân hiểu chưa thật rõ, đầy đủ, đúng đắn một số điểm xung quanh Nghị quyết của UNESCO về kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có người thì không biết có một Nghị quyết của UNESCO, tức tài liệu gốc. Hầu hết chỉ biết đến nội dung văn kiện này qua bản dịch tiếng Việt, đăng sớm nhất trong Kỷ yếu Hội thảo Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội năm 1990.

bacho.jpgBác Hồ đánh máy chữ. Ảnh: Tuấn Anh

1. Có một Nghị quyết của UNESCO về kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh- “Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”

Lâu nay, một bộ phận trong giới khoa học Việt Nam và không ít cán bộ, đảng viên, nhân dân hiểu chưa thật rõ, đầy đủ, đúng đắn một số điểm xung quanh Nghị quyết của UNESCO về kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có người thì không biết có một Nghị quyết của UNESCO, tức tài liệu gốc. Hầu hết chỉ biết đến nội dung văn kiện này qua bản dịch tiếng Việt, đăng sớm nhất trong Kỷ yếu Hội thảo Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội năm 1990. Bản dịch này từ các thứ tiếng khác nhau nên vẫn còn độ chênh.

Ở ngoài nước, các thế lực thù địch tìm mọi cách bôi nhọ, xuyên tạc, cho rằng không có Nghị quyết của UNESCO !?.

Gần đây, Bảo tàng Hồ Chí Minh đã công bố văn bản gốc Nghị quyết của UNESCO về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là bản in tiếng Pháp “Tập biên bản của Đại hội đồng khóa họp lần thứ 24 tại Pari, từ ngày 20/10 đến ngày 20/11 năm 1987, Quyển 1: nghị quyết”(1).

Đây là một trong số các tập biên bản báo cáo của Đại hội đồng UNESCO, khóa họp lần thứ 24, được UNESCO xuất bản đồng thời bằng 6 thứ tiếng: tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Ả Rập, tiếng Trung Quốc, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nga, được in và đóng quyển tại xưởng in của UNESCO, Pari, năm 1988.

“Quyển 1: nghị quyết” dày 220 trang, bao gồm các nghị quyết được Đại hội đồng UNESCO thông qua tại khóa họp lần thứ 24. Tập nghị quyết này gồm 13 mục và phần phụ lục.

Trong Chương trình hành động giai đoạn 1988-1989, cùng với các Nghị quyết 24C/11.9 về Kỷ niệm 600 năm ngày mất của Khaeh Chamsoddne Mohammad Hafez Chirazi và Nghị quyết 24C/11.10 về Kỷ niệm 100 Ngày sinh của Fernando Pessoa, Đại hội đồng UNESCO khóa họp lần thứ 24 đã thông qua các nghị quyết về tổ chức lễ kỷ niệm các nhân vật kiệt xuất và các sự kiện lịch sử, trong đó có Nghị quyết 24C/18.65 về việc Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

images.jpegHồ Chí Minh đẹp nhất tên người. Ảnh: Tuấn Anh

Thực hiện khuyến nghị của UNESCO triển khai các hoạt động tổ chức kỷ niệm các nhân vật kiệt xuất và các sự kiện lịch sử tại các nước thành viên, nhiều nơi trên thế giới đã tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tại Hà Nội, Hội thảo quốc tế “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, Nhà văn hóa lớn” đã được tổ chức trọng thể vào hai ngày 29 và 30 tháng 3-1990. Tại Hội thảo này, có mặt 70 đại biểu quốc tế thuộc 34 nước và hơn 1.000 đại biểu Việt Nam.

Phát biểu tại Hội thảo, Tiến sĩ M. At-mét (Medagat Ahmed), Giám đốc UNESCO khu vực châu Á -Thái Bình Dương, Đại diện đặc biệt của Tổng Giám đốc UNESCO khẳng định: “Đây thật sự là một niềm vinh dự cho tôi được phát biểu trước các nhà trí thức và thông thái cao quý, có mặt ở đây ngày hôm nay để kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Hồ Chí Minh, người chiến sĩ dũng cảm đã giải phóng dân tộc mình khỏi một thế kỷ đô hộ thực dân, bằng sự lãnh đạo khôn khéo và quyết tâm vững chắc. Người là một trong những động lực đầu tiên của phong trào chống thực dân thời kỳ sau Đại chiến thế giới thứ hai ở châu Á và là một trong những lãnh tụ có ảnh hưởng nhiều nhất của các dân tộc ở thế kỷ 20. Hội nghị UNESCO phiên thứ 24 đã quyết định kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Người vào năm 1990. Đây là một cử chỉ tôn kính đối với một nhân vật vĩ đại đã cống hiến trọn đời mình cho sứ mệnh tự do và độc lập. UNESCO rất vui sướng được tham gia vào sự kiện đáng ghi nhớ này. Điều đó biểu hiện sự cam kết sâu sắc của tổ chức này trong việc duy trì các giá trị và công lao của các nhân vật vĩ đại được nhân loại công nhận và kính trọng. Những tình cảm này được thể hiện rõ rệt trong Nghị quyết của Đại hội đồng với sự nhấn mạnh rằng: tư tưởng của Người chứa đựng nguyện vọng của nhân dân muốn khẳng định nền văn hóa riêng của mình và xúc tiến sự hiểu biết lẫn nhau… Tên gọi cuộc Hội thảo khoa học là “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hóa lớn” nhằm nêu bật nhiều mặt của nhân cách con người vĩ đại này”(2).

Dưới đây là toàn văn bản dịch (từ bản tiếng Pháp) của Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam về Nghị quyết của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

Mục “18. 65: Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đại hội đồng,

Nhận thấy việc tổ chức kỷ niệm ngày sinh các nhân vật trí thức lỗi lạc và các danh nhân văn hóa trên phạm vi quốc tế góp phần thực hiện các mục tiêu của UNESCO và đóng góp vào sự hiểu biết trên thế giới,

Nhắc lại Nghị quyết số 18C/4.351 thông qua tại khóa 18 Đại hội đồng UNESCO về việc tổ chức kỷ niệm ngày sinh của các danh nhân và việc kỷ niệm các sự kiện lịch sử quan trọng đã để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại,

Ghi nhận năm 1990 sẽ đánh dấu 100 năm kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam. Nhận thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh, một biểu tượng xuất sắc về sự tự khẳng định dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội,

Nhận thấy những đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật chính là sự kết tinh truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam, và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc mong muốn được khẳng định bản sắc văn hóa của mình và mong muốn tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc,

1- Khuyến nghị các quốc gia thành viên cùng tham gia kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng việc tổ chức các hoạt động cụ thể để tưởng niệm Người, qua đó làm cho mọi người hiểu rõ tầm vóc vĩ đại của những tư tưởng và những cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người;

2- Đề nghị Tổng Giám đốc UNESCO triển khai các biện pháp thích hợp để kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và hỗ trợ các hoạt động kỷ niệm được tổ chức nhân dịp này, đặc biệt là những hoạt động sẽ diễn ra ở Việt Nam”(3).

2. Nhận thức đúng đắn về sự thống nhất, hòa quyện giữa Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh, vì mục tiêu Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp cách mạng, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta phải nhận thức được sự thống nhất, hòa quyện chất Anh hùng giải phóng dân tộc và chất của Nhà văn hóa kiệt xuất trong con người Hồ Chí Minh, vì mục tiêu Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.

Nghị quyết của Đại hội đồng UNESCO cho thấy, nói đến Hồ Chí Minh là nói tới một con người, một nhà hoạt động cách mạng chuyên nghiệp, một danh nhân văn hóa kiệt xuất đã để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại. Nói đến Hồ Chí Minh là nói tới một nhân vật vĩ đại được nhân loại công nhận và kính trọng, vì đã cống hiến trọn đời mình cho tự do và độc lập. Cuộc đời Hồ Chí Minh đã góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đó vừa là giá trị văn hóa vừa có ý nghĩa cách mạng sâu xa. Hồ Chí Minh là “một trong số ít nhân vật trong lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay khi còn sống. Người sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này”(4).

Để nghiên cứu đúng đắn về Hồ Chí Minh, cần nắm chắc bối cảnh lịch sử, phân biệt rõ mục đích và con đường để đạt mục đích đó. Hồ Chí Minh trước hết là con người của dân tộc, gắn bó mật thiết với non sông ta, đất nước ta. Dân tộc Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến đêm trước thành công của Cách mạng Tháng Tám đắm chìm trong đêm dài nô lệ. Tất cả mọi người Việt Nam yêu nước, bằng cách làm này hay cách làm khác, theo con đường này hay con đường khác, đều chung một mục đích giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc. Hồ Chí Minh từ tuổi thiếu thời là một thanh niên yêu nước, ham học hỏi, cầu tiến bộ. Người không những giống mọi người Việt Nam về tinh thần yêu nước mà còn “sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào, có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào”. Người đã từng theo học lớp dự bị Trường Tiểu học Pháp – bản xứ ở thành phố Vinh. Tại đây, lần đầu tiên Người được tiếp xúc với khẩu hiệu Tự do – Bình đẳng – Bác ái. Người cũng đã theo học lớp sơ đẳng Trường Tiểu học Đông Ba ở Huế và Trường Quốc học Huế. Người quan tâm tới nhiều cách tiếp cận khác nhau để đạt mục đích giải phóng dân tộc. Trước lúc đi ra nước ngoài tìm cách giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã tâm sự với một người bạn: “Tôi muốn đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”(5). Năm 1923, tâm sự với Ôxíp Manđenxtam, Người bộc lộ: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy. Nhưng trong những trường học cho người bản xứ, bọn Pháp dạy người như dạy con vẹt. Chúng giấu không cho người nước tôi xem sách báo. Không phải chỉ sách báo của các nhà văn mới, mà cả Rútxô và Môngtexkiơ cũng bị cấm. Vậy thì phải làm thế nào bây giờ? Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài”(6).

Từ đó trở đi, Hồ Chí Minh không chỉ là con người của dân tộc mà còn là của thế giới, của thời đại. Người khám phá thế giới, làm mọi cách để đạt được mục tiêu giải phóng dân tộc, như có lúc Người đã nói một cách hình tượng “dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho kỳ được độc lập, tự do”. Cũng như vậy, sau này, để đạt được mục tiêu tự do, hạnh phúc, có lúc Người nói: “Ta có thể đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội”(7).

Trong cuộc hành trình tìm đường cứu nước, như mọi người đều biết, từ Mácxây, Nguyễn Tất Thành có viết một lá đơn đề ngày 15-9-1911 gửi Tổng thống nước Pháp lúc đó Armand Fallieres, xin học Trường Thuộc địa. Lá đơn này có trong Kho Lưu trữ nước Pháp, bộ phận Hải ngoại, phông Trường Thuộc địa, bìa số 27, hồ sơ số 11. Lần đầu tiên (năm 1983) tư liệu này được giới thiệu qua hệ thống đài phát thanh và truyền hình nước Pháp do Tuyren (H. deTurenne) thực hiện nhân kỷ niệm lần thứ 30 ngày ký kết Hiệp định Giơnevơ. Tiếp đó, tư liệu này được đề cập trong cuộc Hội thảo quốc tế tại Pari ngày 25-5-1983 dưới chủ đề: “Mác- Các chủ nghĩa Mác”. Sau đó, Nguyễn Thế Anh (nguyên là Khoa trưởng Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn thời Mỹ- ngụy) và Vũ Ngự Chiêu (nguyên là sĩ quan ngụy, hiện ở Canađa) đã công bố toàn văn lá đơn trong số 1 tạp chí Đường mới, số tháng 6-1983 với một dụng ý xuyên tạc trắng trợn, cho rằng “Nguyễn Tất Thành lúc đầu có ý định xin vào học Trường Thuộc địa để sau ra làm việc cho Pháp, nhưng vì không được nhận vào học nên phải đi theo con đường cách mạng!?”. Gần đây, tháng 7-2009, DVD “Sự thật về Hồ Chí Minh”, Vũ Ngự Chiêu lại nhắc lại sự kiện đó.

Chúng ta hoàn toàn không giấu giếm sự kiện này. Hơn hai mươi năm trước, Giáo sư Sử học Đinh Xuân Lâm đã có bài viết với tiêu đề: “Cần làm sáng tỏ một số điểm xung quanh lá đơn xin học của Nguyễn Tất Thành năm 1911”, đăng Tạp chí Cộng sản, số 5-1987. Vấn đề là ở chỗ, hiện nay một số người vẫn nghĩ rằng chúng ta không công bố lá đơn này, và quan trọng hơn là nhiều người không hiểu đúng việc làm của Nguyễn Tất Thành. Còn các thế lực thù địch thì cố tình bóp méo sự thật lịch sử.

Làm sáng tỏ vấn đề này, trước hết phải nhận thức đúng đắn rằng đây là cách làm chứ không phải mục đích của Hồ Chí Minh. Có nhiều cách làm và con đường để đạt một mục đích. Cách làm này hoàn toàn hợp lôgic với cách làm và suy nghĩ từ trong nước của Nguyễn Tất Thành khi có ý định xin vào học Trường Kỹ nghệ thực hành ở Sài Gòn, muốn làm quen với văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ Tự do, Bình đẳng, Bác ái rồi trở về giúp đồng bào chúng ta. Dõi theo toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh, phải đánh giá sự kiện này ở một cách nhìn khác với tầm cao hơn. Cụ thể là ngay từ rất sớm, Người đã biết khám phá, khai thác văn minh nhân loại, khoa học – công nghệ ở các nước tư bản để phục vụ cho đồng bào mình.

Thứ hai, phải đọc và suy ngẫm kỹ hình thức và nội dung lá đơn gửi Tổng thống một nước tư bản văn minh lúc bấy giờ. Trong lá đơn có câu: “Tôi muốn sẽ trở nên có ích đối với đồng bào của tôi, và đồng thời có thể giúp cho họ hưởng thụ được những lợi ích của học thức”(8).

Sự thật rõ như ban ngày mà những kẻ nuôi dụng tâm xấu vẫn ác ý cố tình xuyên tạc. Để hiểu rõ hơn về lá đơn, hãy đọc Êmơri (Daniel Hémery) – một nhà sử học Pháp chuyên nghiên cứu và giảng dạy lịch sử cận – hiện đại Việt Nam tại Trường Đại học Pari VII, trong bài viết: “Về lá đơn xin vào học Trường Thuộc địa năm 1911 của người thanh niên Hồ Chí Minh”. Êmơri khẳng định: “Tuyệt đối không thể căn cứ vào lá đơn xin học năm 1911 để gán ghép cho Nguyễn Tất Thành ý định sau khi học xong sẽ trở thành người cộng tác với chính quyền thuộc địa”(9).

Bài viết đến đây tạm khép lại với một câu hỏi: “Tại sao người ta cố tình muốn hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh”? Câu trả lời từ một cách hiểu rất đơn giản và lôgic, đó là tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã, đang và sẽ tiếp tục có ảnh hưởng lớn đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam và vẫn luôn luôn giữ được ấn tượng tốt đẹp trong lòng nhân loại tiến bộ./.

PGS, TS. Bùi Đình Phong
Theo Tạp chí Tuyên Giáo

———————

(1) Bảo tàng Hồ Chí Minh: Thông tin tư liệu, Nội san, số 25, tháng 9-2009 (Từ đây, những thông tin liên quan tới Nghị quyết đều dẫn từ tài liệu này)
(2) Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh (Trích tham luận của đại biểu quốc tế), UNESCO và Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990, tr.34-35.
(3) Bảo tàng Hồ Chí Minh: Thông tin tư liệu, tài liệu đã dẫn, tr.57.
(4) Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Sdd, tr.37.
(5) Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb ST, H, 1975, tr.13.
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, t.1, tr.477.
(7) Hồ Chí Minh: Sđd, t.8, tr. 227.
(8), (9) GS. NGND Đinh Xuân Lâm: Góp phần tìm hiểu cuộc đời và tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, H, 2005, tr.275, 273

hochiminhhoc.com

Bác Hồ – Người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang*

(hochiminhhoc) Trong hành trình tiến hành sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng các lực lượng vũ trang cách mạng. Trên chặng đường lịch sử 66 năm xây dựng và trưởng thành của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, mỗi chiến công, mỗi bài học kinh nghiệm của đội quân cách mạng đều gắn liền với tình thương yêu, sự quan tâm giáo dục và lời cổ vũ thường xuyên của Người.

347.jpgBác Hồ duyệt quân. Ảnh: Tuấn Anh

Từ nhận thức sâu sắc rằng: chiến tranh là sự kế tục của chính trị bằng thủ đoạn bạo lực, và sức mạnh của vật chất phải được đánh đổ bằng sức mạnh vật chất, phải “dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền”[1], nên trong hành trình tiến hành sự nghiệp giải phóng dân tộc, xd và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng các lực lượng vũ trang cách mạng. Trên chặng đường lịch sử 66 năm xây dựng và trưởng thành của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, mỗi chiến công, mỗi bài học kinh nghiệm của đội quân cách mạng đều gắn liền với tình thương yêu, sự quan tâm giáo dục và lời cổ vũ thường xuyên của Người.

1. Mang theo trong hành trang của mình lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, cùng những truyền thống tốt đẹp, những bài học kinh nghiệm trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, Hồ Chí Minh đã sớm đến với chủ nghĩa Mác- Lênin, đến với con đường cách mạng nhằm giải phóng nhân dân khỏi kiếp lầm than nô lệ và xây dựng chế độ xã hội mới. Trên cơ sở những nguyên lý Mácxit- Lêninnít về bạo lực cách mạng và khởi nghĩa vũ trang, đồng thời vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, ngay trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Hồ Chí Minh soạn thảo (được thông qua ở Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản đầu năm 1930), vấn đề thành lập “Quân đội công nông”[2] đã được đề ra.

Cũng theo Hồ Chí Minh, để giải phóng dân tộc, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, việc xây dựng lực lượng chính trị của cách mạng là điều cơ bản nhất, là việc phải làm đầu tiên, rồi mới xây dựng quân đội, xây dựng lực lượng vũ trang. Đó chính là quan điểm “người trước súng sau”, là xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng để trên nền tảng đó xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, và tiến hành khởi nghĩa vũ trang, đánh đuổi kẻ thù, giành lấy chính quyền.

Bắt đầu từ những đội tự vệ đỏ trong phong trào Xôviết- Nghệ Tĩnh, đến đội vũ trang Cao Bằng, du kích Nam Kỳ, Bắc Sơn (sau đổi thành Cứu quốc quân), Ba Tơ,…cùng với sự phát triển của tiến trình cách mạng, ngày 22/12/1944, thực hiện Chỉ thị của Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã được thành lập. Với thắng lợi ban đầu (hạ đồn Phai Khắt, Nà Ngần), và từ 34 chiến sĩ đầu tiên, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã ngày càng mở rộng địa bàn hoạt động, đã phát triển từ đội thành đại đội, rồi đại đội chủ lực đầu tiên của quân đội ta…Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: tiền đồ của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân rất vẻ vang, “nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”[3].

Tiếp đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Việt Nam giải phóng quân (do Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân hợp lại) đã cùng toàn dân vùng lên đấu tranh, giành thắng lợi trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Như vậy là, không chỉ tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, Hồ Chí Minh còn sáng lập lực lượng vũ trang cách mạng, lãnh đạo toàn dân tiến hành khởi nghĩa vũ trang, giành chính quyền về tay nhân dân, đưa những người dân Việt Nam từ thân phận những người nô lệ thành chủ nhân của một nước Việt Nam độc lập.

Tuy nhiên, khi quân Pháp ngày càng lấn tới, khi không thể cúi đầu làm nô lệ, theo lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, nhân dân cả nước bước vào cuộc trường chinh chống thực dân Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Mục đích của cuộc kháng chiến là đánh thực dân phản động Pháp, giành độc lập thống nhất. Tính chất cuộc kháng chiến là toàn dân, toàn diện, trường kỳ. Chính sách kháng chiến là đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế, v.v..nên trong cuộc chiến đấu không cân sức này, chúng ta sẽ tiến hành kháng chiến toàn diện, kết hợp các mặt trận và các hình thức đấu tranh, trong đó đấu tranh quân sự là chủ chốt.

Và cũng từ việc thực hiện lời Người, trong quân đội: công tác lãnh đạo của Đảng được tăng cường, tinh thần đoàn kết thống nhất luôn được củng cố, kỷ luật được thực hiện nghiêm minh. Đặc biệt, để tăng cường sức mạnh của đội quân cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng bồi dưỡng đội ngũ cán bộ – “những người tướng giỏi của đoàn thể” và nhấn mạnh yêu cầu “bộ đội được tổ chức chặt chẽ, tập luyện hẳn hoi, chuẩn bị chu đáo”[4] thường xuyên, liên tục để đảm bảo sẵn sàng chiến đấu. Ngày một phát triển về số lượng và nâng cao trình độ tác chiến, tài thao lược trên các chiến trường, đồng thời vận dụng sáng tạo kinh nghiệm đánh giặc của tổ tiên “lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ đánh lớn, lấy yếu chống mạnh”,.v.v.. quân đội ta đã chuyển từ thế phòng ngự sang thế tiến công. Xuất phát từ thực tiễn, từ kinh nghiệm “biết địch, biết ta, trăm trận, trăm thắng”, thay đổi phương án từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”, và kiên cường, mưu trí, sáng tạo, quân đội ta đã giành thắng lợi to lớn trong trận Điện Biên Phủ, kết thúc 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Tuy nhiên chiến tranh chưa kết thúc, không chỉ giúp thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh Đông Dương, khi Pháp bại trận, đế quốc Mỹ đã ngang nhiên tuyên bố không bị ràng buộc bởi Hiệp định Giơnevơ, can thiệp sâu vào miền Nam Việt Nam, nhằm biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. “Lửa vẫn cháy và máu vẫn chảy”, cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược đã trở thành một cuộc đụng đầu lịch sử .

Quyết tâm đánh Mỹ và quyết tâm thắng Mỹ, cả nước tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, với tinh thần đoàn kết “triệu người như một”, với niềm tin chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, với ý chí “đánh cho đến thắng lợi hoàn toàn, đánh cho đến độc lập và thống nhất thực sự”, và quyết tâm “hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quyết sạch nó đi”[5]. Đồng thời, phát huy truyền thống “cả nước đánh giặc” của cha ông trong lịch sử, thấm nhuần lời dạy của Lênin, khi có chiến tranh phải “biến cả nước thành một dinh luỹ cách mạng”, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: phải vũ trang toàn dân đi đôi với xây dựng đội quân cách mạng. Trên tinh thần đó, lực lượng vũ trang cách mạng bao gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích được xây dựng, hình thành thế trận bao vây và tiêu diệt địch. Trong mọi hoàn cảnh, quân đội cách mạng luôn là đội quân chiến đấu, là đội quân công tác và sản xuất, thực hiện tốt nhiệm vụ: bộ đội chủ lực vừa tiêu diệt địch, bảo vệ nhân dân, vừa dìu dắt bộ đội địa phương; bộ đội địa phương phối hợp hành động với bộ đội chủ lực, giúp đõ bộ đội chủ lực và dìu dắt dân quân du kích; còn dân quân du kích vừa phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực, vừa tự mình đánh giặc, trừ gian và tham gia sản xuất,v.v..

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cũng xuất phát từ thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Phải xây dựng quân đội ngày càng hùng mạnh và sẵn sàng chiến đấu để giữ gìn hoà bình, bảo vệ đất nước, bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà”[6]. Để thực hiện lời Người, đồng thời để có đủ sức mạnh chiến thắng kẻ thù, quân đội ta ra sức rèn luyện, học tập nâng cao trình độ tác chiến trên chiến trường, phối hợp với quân dân miền Bắc vừa sản xuất vừa chiến đấu (với tinh thần miền Bắc là hậu phương lớn của tiền tuyến lớn miền Nam, với tinh thần hậu phương miền Bắc thi đua với tiền phương miền Nam), tạo thành nguồn sức mạnh tổng hợp nhằm đưa cách mạng tiến lên bằng những bước nhảy vọt. Cuối cùng, chớp đúng thời cơ, quân đội ta đã “thần tốc, thần tốc, thần tốc hơn nữa” trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, để giành thắng lợi trong cuộc Tổng tấn công mùa xuân 1975, thu giang sơn về một mối.

2. Chiến tranh đã lùi xa, những thành tựu của một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, đi lên CNXH và hội nhập quốc tế hôm nay gắn liền với nguồn sức mạnh nội lực làm nên những chiến công của quân đội ta, của nhân dân ta. Nguồn sức mạnh đó chính là sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, là bản lĩnh chính trị vững vàng, là sự thấm nhuần đạo đức người cách mạng, là tinh thần đoàn kết, phấn đấu hy sinh của những người quân nhân cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục và rèn luyện.

Bình sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, “quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và kỷ luật nghiêm” và “quân đội ta có sức mạnh vô địch vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”[7]. Đó cũng chính là quá trình trang bị và giáo dục cho những người quân nhân cách mạng về lý tưởng, mục tiêu, đường lối của Đảng, về nhiệm vụ cách mạng từ nhận thức trở thành bản lĩnh chính trị, thành niềm tin, thành ý chí và quyết tâm hành động. Bởi vậy, ngay từ buổi đầu thành lập, Người đã cùng Trung ương Đảng hết lòng xây dựng quân đội ta thành một quân đội kiểu mới, một quân đội nhân dân, luôn tuân theo những định hướng chính trị của Đảng, kiên định những quan điểm có tính nguyên tắc được ghi rõ trong Cương lĩnh chính trị và các Nghị quyết của Đảng.

Kế thừa và phát triển truyền thống anh hùng của dân tộc ta, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là tập hợp đông đảo những người công nhân, nông dân, trí thức dũng cảm, có bản lĩnh chính trị – tinh thần vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, quân đội ta luôn thấm nhuần lời dạy của Người: “quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất”[8]. Đó là đội quân của những người chiến sĩ dũng cảm chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì CNXH, gương mẫu về đạo đức lối sống cả trong chiến đấu cũng như trong cuộc sống đời thường, “gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm có gan sữa chữa. Cực khổ, khó khăn có gan chịu đựng. Có gan chống lại những vinh hoa, phú quý không chính đáng. Nếu cần, thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát”[9]. Đó cũng là đội quân luôn học tập để nâng cao năng lực toàn diện, bởi theo quan điểm của Người, “muốn trở nên người quân nhân mới…mỗi chiến sĩ từ trên đến dưới, các cấp bậc đều phải nghiên cứu học tập, luôn luôn cầu tiến bộ”[10]. Đó cũng còn là đội quân trên dưới luôn đoàn kết một lòng, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, đồng cam cộng khổ cùng nhau, trên cơ sở thực sự phát huy dân chủ và thực hiện nghiêm túc phương châm “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” của Đảng trong điều kiện đặc thù của quân đội.

Gắn bó với nhân dân là một nét đẹp của truyền thống quân đội ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng căn dặn, vốn xuất thân từ các tầng lớp nhân dân, và là con em của nhân dân, quân đội ta phải hết lòng yêu thương và kính trọng nhân dân. Thấm nhuần quan điểm của Người: cốt lõi lòng trung thành của người quân nhân cách mạng chính là mỗi chiến sĩ phải “luôn luôn phát triển cái kỷ luật nghiêm như sắt, cái tinh thần vững như đồng, cái chí khí quật cường tất thắng, cái đạo đức, trí, dũng, liêm, trung của Giải phóng quân”[11], những chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam . luôn “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”, dựa vào nhân dân như “cá với nước”,và đó là những người chiến sĩ không chỉ đánh giặc giỏi mà còn là những người làm công tác dân vận giỏi.

Là quân đội của nhân dân, chiến đấu vì nhân dân, gắn bó với nhân dân, đó là bản chất của quân đội cách mạng, đó cũng chính là nhân tố quan trọng góp phần làm nên sức mạnh tổng hợp về chính trị, về tinh thần, về ý chí quyết chiến, quyết thắng, tài thao lược của quân đội ta trước mọi kẻ thù, trong mọi hoàn cảnh. Là quân đội của nhân dân, những người lính “bộ đội cụ Hồ” sẵn sàng giúp dân về mọi mặt, nhưng quyết “không động đến cái kim và sợi chỉ của nhân dân”, để “làm cho dân mến, khi sắp tới dân mong, khi đi dân tiếc”.

Là quân đội của nhân dân do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, quân đội ta luôn nhận được từ Người sự quan tâm đặc biệt. Người không chỉ dõi theo mỗi bước trưởng thành của quân đội; động viên họ và rút kinh nghiệm trước mỗi trận ra quân chưa giành được thắng lợi; viết thư thăm hỏi, chia sẻ nỗi đau thương mất mát với những thương bệnh binh và gia đình liệt sĩ, dành huy hiệu, phần quà, và cả sổ tiết kiệm của mình tặng cho những người chiến sĩ để mua nước uống cho đỡ khát trong những ngày hè nóng nực năm 1967,v.v..mà còn để lại tình thương yêu của Người cho các lực lượng vũ trang, thân nhân các gia đình thương binh, liệt sĩ trong Di chúc lịch sử.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quan tâm chăm sóc của Người, với sự nỗ lực đoàn kết của toàn quân, đoàn kết quân dân và đoàn kết quốc tế, quân đội ta – công cụ bạo lực vũ trang chủ yếu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, đã góp phần to lớn vào thắng lợi chung của dân tộc, xứng đáng với lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”[12].

Sáng lập và rèn luyện quân đội ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh yêu cầu phải xây dựng quân đội phải ngày càng chính quy, hiện đại, và trong bối cảnh của thời kỳ đổi mới và hội nhập hiện nay, yêu cầu đó càng trở nên bức thiết. Tuy nhiên, cũng theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân đội ta tiến lên hiện đại, song phải tiến lên dần dần từng bước (không thể thoát ly điều kiện của đất nước), đồng thời kết hợp với sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế và vận dụng sáng tạo thành tựu khoa học kỹ thuật của nền kinh tế tri thức. Đặc biệt, hiện đại hoá quân đội còn là phải thông qua giáo dục, huấn luyện để giải quyết mối quan hệ con người và vũ khí, trong đó con người có vai trò quyết định và trong tư tưởng Hồ Chí Minh luôn luôn là “người trước, súng sau”.

Lịch sử cách mạng Việt Nam đã ghi nhận vai trò to lớn của quân đội ta trong cuộc chiến tranh giải phóng và trong công cuộc xây dựng chế độ xã hội mới. Ngày nay, xu thế hội nhập và toàn cầu hóa mở ra cho đất nước ta nhiều vận hội lớn đi liền cùng những thách thức khôn lường. Càng nhiều cam go, thử thách, càng đòi hỏi chúng ta phải thấm nhuần sâu sắc hơn nữa những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội cách mạng, xứng đáng là “lực lượng trụ cột” của cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN ngày một phồn vinh. Và càng phải đối phó với những âm mưu, thủ đoạn mới của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, thù địch, quân đội ta càng phải luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu. Trên tinh thần đó, phải tạo nên sức mạnh tổng hợp của quốc gia về cả tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân, với lực lượng vũ trang cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, gắn bó chặt chẽ với nhân dân, đủ sức đánh thắng mọi hành động xâm lược, chống phá của kẻ thù. Đặc biệt, không chỉ chiến đấu với kẻ thù để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ cuộc sống yên bình của nhân dân, những chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam – những người lính luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh thương yêu, chăm sóc, dạy dỗ còn sẵn sàng tham gia chống thiên tai, bảo vệ an toàn tính mạng và tài sản của nhân dân, xứng đáng với niềm tin yêu và quý trọng của nhân dân./.

TS. Văn Thị Thanh Mai
(*) Tiêu đề do ban biên tập đặt


[1] Hồ Chí Minh, Tuyển tập, Nxb. Sự thật, H, 1960, t.2, tr.466
[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.3, tr.1
[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.3, tr.508
[4] Hồ Chủ tịch với các lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb. QĐND, H, 1962, tr.69
[5] Hồ Chí Minh, Lời kêu gọi ngày 3/11/1968
[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.9, tr.140
[7] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.11, tr.350
[8] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.9, tr.285
[9] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr.252
[10] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr.417
[11] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr.330
[12] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.11, tr.350

hochiminhhoc.com

Chủ tịch Hồ Chí Minh với chiến lược xây dựng xã hội học tập

Vấn đề “Xã hội học tập” mà ngày nay các quốc gia coi là tiêu điểm của chính sách phát triển đã được Bác Hồ khai sáng trong tư duy và chiến lược hành động cho nước ta ngay từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng.

index.jpgBác Hồ thăm lớp bình dân học vụ. Ảnh: Tuấn Anh

Xã hội học tập chỉ thành hình và phát triển khi người quản  lý thúc đẩy được mọi người dân có nhu cầu học tập, có khát vọng học tập. Nhu cầu này gắn liền với việc quản lý hỗ trợ cho nhân dân nâng cao năng lực tiếp nhận sự học tập và mở rộng cơ hội học tập cho nhân dân.

Quản lý phải làm sao cho bộ ba “Nhu cầu – Năng lực – Cơ hội” gắn bó chặt chẽ với nhau.

Không tạo ra nhu cầu đích thực thì dù có ra sức nâng cao năng lực và mở rộng cơ hội đến đâu cũng không thể hiện thực được mục tiêu về xã hội học tập.

Song khi đã tạo ra nhu cầu – Người dân có tha thiết học mà người quản lý không giúp người dân có năng lực để “Học được” và cơ hội “Được học” thì cũng không thể hình thành xã hội học tập.

Nhu cầu càng lớn thì năng lực và cơ hội càng phải được nâng cao và mở rộng và ngược lại càng nâng cao năng lực và mở rộng cơ hội học tập thì càng phải thúc đẩy nhu cầu.

Để cho ba nhân tố này rời rạc với nhau thì không thể nói đến xã hội học tập. Xã hội học tập hội tụ và làm phát triển ba nguồn vốn: vốn con người, vốn tổ chức, vốn xã hội, nó là nhân tố đưa quốc gia tăng trưởng có chất lượng và phát triển bền vững.

Hiện nay có quan niệm xã hội phải tiến tới “Kinh tế tri thức”, đạt “Kinh tế tri thức”, mới có thể xây dựng xã hội học tập. Không ai phủ nhận tầm quan trọng của kinh tế tri thức tạo ra nhu cầu rộng lớn và điều kiện thuận lợi về học tập để có một xã hội học tập đích thực và bền vững.

Tuy nhiên cứ phải chờ có “Kinh tế tri thức” mới xây dựng được xã hội học tập thì những nước nghèo, những nước chậm phát triển và đang phát triển sẽ mất bao nhiêu năm (?) mới đi tới xã hội học tập.

Thực tế của Việt Nam từ sau Cách mạng tháng 8/1945 và suốt năm 1946 đã chứng minh cho một điều khác hẳn. Khi bắt đầu xây dựng chính quyền cách mạng (2/9/1945) 95% nhân dân còn mù chữ, nạn đói đã làm kiệt quệ nền kinh tế; giặc ngoại xâm với những kẻ thù hung bạo xảo quyệt nhất can thiệp vào nước ta.

Bác Hồ người chèo lái con thuyền cách mạng trong lúc đất nước còn nguy nan đã chấn hưng dân khí, khai sáng cho dân tộc ý chí quyết tâm đẩy lùi cái dốt của bản thân, cái dốt của cộng đồng, của đất nước. Bác đã lãnh đạo, tạo cho toàn dân có nhu cầu trở thành một dân tộc thông thái làm cho mọi người giác ngộ “Dân cường nước thịnh”, “Dân mạnh nước giàu” và trên cơ sở này Người tổ chức cho chính quyền cách mạng dù còn trứng nước có các phương án quản lý hiệu quả nâng cao năng lực học tập của mọi người và mở rộng cơ hội học tập cho  mọi người.

Ngày 2/9/1945 tiếp theo bản Tuyên ngôn độc lập mà vị Chủ tịch nước long trọng đọc trước quốc dân đồng bào, tuyên bố sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trước thế giới, Chính phủ đã nêu ra chương trình, nội dung chính của chính sách phát triển đất nước. Mục tiêu của giáo dục trong chương trình này đã được khẳng định: “Nền giáo dục mới đang ở thời kỳ tổ chức. Chắc chắn là bậc sơ học sẽ cấp bách. Trong thời hạn rất ngắn sẽ thi hành lệnh bắt buộc học chữ quốc ngữ để chống nạn mù chữ đến triệt để. Vấn đề vô cùng quan trọng ấy chúng ta chẳng chờ đến lúc sự sinh hoạt trở nên bình thường mới giải quyết mà ngay trong hoàn cảnh eo hẹp này chúng ta phải kiên quyết tiến hành. (Đ/c Võ Nguyên Giáp được Hồ chủ tịch giao cho việc trình bày chính sách nội chính của Chính phủ. Tư liệu: Những sự kiện giáo dục phổ thông 1945 – 1985. Viện Khoa học Giáo dục 1985, tr2)”.

Ngày 3/9/1945 trong phiên họp đầu tiên của chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà. Người nêu nhiệm vụ giáo dục – chống giặc dốt là nhiệm vụ cấp bách của chính quyền mới.

Tháng 10/1945, Người ra lời kêu gọi chống nạn thất học như một mệnh lệnh hội tụ toàn dân tộc đưa đất nước vào công cuộc đại nghĩa mở ra kỷ nguyên mới của đất nước.

Dưới sự lãnh đạo của Bác chỉ có 4 tháng của năm 1945 hệ thống giáo dục quốc dân với các thiết chế: Nha bình dân học vụ, Nha giáo dục phổ thông, Hội đồng cố vấn học chính đã hình thành. Trong hoàn cảnh lúc đó hệ thống này đã tạo ra những cơ hội cho nhân dân xoá được nạn thất học, hé mở những cánh cửa cho nhân dân phát triển sự tiến hoá.

Bước sang năm 1946, dù còn biết bao sự bộn bề của các vấn đề kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự của đất nước, Bác Hồ vẫn dành cho sự nghiệp giáo dục sự chăm lo tỉ mỉ chu đáo.

Kiên trì quốc sách của một đất nước dưới chính thể mới là làm cho ba lĩnh vực: kinh tế giáo dục quốc phòng phải luôn luôn gắn bó với nhau, Bác đã chỉ đạo cho chính quyền mới coi giáo dục là then chốt của sự kết hợp này.

Chỉ trong năm 1946 Bác đã viết hàng chục bài báo, thực hiện hàng chục lần tiếp xúc với nhân dân để khích lệ mọi người ham học, ham dạy. Gây ngạc nhiên cho thế hệ ngày nay là tại thời điểm này (1946) Người đã có thông điệp “Học suốt đời” (nói chuyện với đ/c Nguyễn Thị Định), “Phải làm cho dân tộc Việt Nam trở thành dân tộc thông thái” (có hàm ý như các yêu cầu xây dựng kinh tế tri thức – Nói chuyện với đồng bào Hải Phòng khi đi Pháp về 10/1946).

Vị Chủ tịch nước coi lĩnh vực giáo dục bình dân là tiêu điểm cho sự phát triển hệ thống giáo dục quốc dân (ngày nay chính là giáo dục cộng đồng); Người nói với anh chị em giáo viên bình dân học vụ: “Anh chị em yêu quí! Chương trình của Chính phủ ta là làm thế nào cho đồng bào cả nước ai cũng có ăn, có mặc, có học

Trước khi bước lên máy bay đi Pháp (4/5/1946) , Người còn căn dặn cụ Huỳnh Thúc Kháng, lúc đó là Quyền Chủ tịch nước “Chú ý đến công việc bình dân học vụ”.

Ngay sau khi đi Pháp về Bác tổ chức kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá 1 thành lập Chính phủ mới (từ 3/11/1946). Dù có rất nhiều công việc khẩn trương của thời gian nóng bỏng này (Thực dân Pháp tạo ra những gây chiến khiêu khích ngay trong lòng Hà Nội), Bác vẫn quan tâm đến sự nghiệp bình dân học vụ. Ngày 5/11/1946 Người viết văn kiện “Công việc khẩn cấp bây giờ” chỉ ra nhiệm vụ và phương hướng kháng chiến toàn quốc. Tối cùng ngày Bác đến thăm các lớp bình dân ở Trường Hàng Than và khu phố Hàng Bún (Hà Nội) sát nơi đóng quân của quân đội Pháp. Vào từng lớp học Bác ân cần hỏi học viên làm những nghề gì, học viên trả lời người thì kéo xe, người đi ở, người đi bán kẹo rong, người làm nội trợ, Bác khen thầy trò Trường Hàng Than “Thầy siêng dạy, trò siêng học thế là tốt lắm”.

Ngày 24/11/1946 (trước toàn quốc kháng chiến 19/12/1946 gần một tháng) Bác đọc diễn văn khai mạc Hội nghị văn hoá toàn quốc lần thứ nhất, Bác kêu gọi các nhà văn hoá Việt Nam xây dựng nền văn hoá mới sửa đổi được “Tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ, phải làm cho ai ai cũng có lý tưởng tự chủ độc lập”. Bác kêu gọi các nhà văn hoá chú ý đến việc học tập của nhi đồng, giáo dục cho nhân dân thực hiện độc lập, tự cường và tự chủ.

Từ tháng 3/1947 khi cuộc kháng chiến chống Phap vừa bắt đầu và bước vào giai đoạn gian khó nhất, về công tác tại Thanh Hoá, Bác Hồ đã giao cho lãnh đạo Thanh Hoá qua các ông Lê Thước, Đặng Thai Mai xây dựng Thanh Hoá có các “Gia đình học hiệu”, người dân Thanh Hoá thành “Tiểu giáo viên”. Ngày nay đề cập vấn đề xã hội học tập, UNESCO nêu ra vấn đề “Gia đình học hiệu” (learning family). Tự hào tham ý tưởng của thời đại đã được Bác cảm nhận từ trước đó hàng mấy thập niên khi đất nước còn vô vàn khó khăn và Người đã truyền tâm ý cho đ.c, cho nhân dân hiện thực được ý tưởng này dù trong nước bất cứ hoàn cảnh nào kể cả lúc khó khăn.

Những sự kiện của Bác Hồ với ngành giáo dục thời kỳ đầu chính quyền cách mạng 9/1945 – 12/197 càng chứng tỏ vai trò của công tác quản lý khi nắm chắc 3 khâu cơ bản: Thúc đẩy nhu cầu – Nâng cao năng lực – Mở rộng cơ hội của người dân trong lĩnh vực giáo dục và biết gắn bó ba khâu này vào với nhau thì đó là tiền đề quan trọng cho việc xây dựng và phát triển xã hội học tập.

Sau 6 thập niên phát triển nền giáo dục cách mạng nước ta ngày nay trong những năm đầu tiên của thiên niên kỷ mới đã có mặt bằng giáo dục với số người lớn biết chữ 90,3%, tỷ lệ thanh thiếu niên 6 – 24 tuổi được học tại các nhà trường là 64%, chỉ số phát triển giáo dục là 0,82 (Báo cáo Phát triển con người 2005).

Nếu tính trong số 177 quốc gia và vùng lãnh thổ có mặt trong Báo cáo Phát triển con người thì giáo dục nước ta có thứ hạng 93.

Giá trị và thứ hạng này cho phép chúng ta có thể khẳng định: những tiền đề xây dựng xã hội học tập ở nước ta đã có dù rằng mặt bằng kinh tế của nước ta còn khá thấp trong tương quan chung (chỉ số kinh tế mới đạt 0,572 xếp thứ 122/177 nước).

Xây dựng xã hội học tập của nước ta dù có những tín hiệu tốt song còn đó những thách thức. Dù số người biết chữ có tỷ lệ cao dù nhiều trường học mở ra, số thanh thiếu niên được đi học đông, song để có một nền học vấn thiết thực từ nhu cầu không phù phiếm tạo cho công dân có kỹ năng đời sống phát triển cộng đồng bền vững thì vấn đề lại còn nhiều nỗi băn khoăn.

Nước ta đang thực hiện chương trình giáo dục cho mọi người (Education for All – EFA), các chương trình phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, những dự án mở rộng trung học phổ thông, những ý tưởng đưa đại học tinh hoa thành đại học đại chúng nhằm tạo ra nền móng của “xã hội học tập”. Có thể khẳng định rằng các chương trình này chỉ có ý nghĩa nếu ta quán triệt được các ý tưởng giáo dục nhân văn và thân dân của Bác Hồ kính yêu.

(Theo báo Giáo dục & Đào tạo)

hochiminhhoc.com

Bác Hồ với thiếu niên, nhi đồng Việt Nam

(TCTG) – Bác Hồ kính yêu, Người đã cống hiến cả đời mình cho dân tộc Việt Nam. Trong cuộc đời làm cách mạng, Người đã “quên mình cho hết thẩy” để giải phóng, giữ gìn và phát huy sức mạnh Việt Nam. Trong đó, thế hệ thiếu niên, nhi đồng được Người đặc biệt quan tâm và dành cho tình thương yêu vô hạn.

Bác xót xa khi phải chứng kiến cảnh cơ cực lầm than của trẻ em lúc vận nước gian nan. Bác đau đớn, thốt lên: “Vì ai nên nỗi thế này? Vì ai ta phải…” và Bác chỉ kẻ thù là: “Vì giặc Nhật giặc Tây bạo tàn / Khiến ta mất nước nhà tan / Trẻ em cũng bị cơ hàn xót xa”. Từ xót xa ấy, từ nguyên nhân ấy, Bác đã vận động, giáo dục, giác ngộ các cháu phải hành động: “Vậy nên trẻ em nước ta/Phải đoàn kết lại để mà đấu tranh / Người lớn cứu nước đã đành / Trẻ em cũng góp phần mình một tay” , rồi Bác kêu gọi các cháu hăng hái, tự nguyện tham gia Hội nhi đồng cứu quốc, một tổ chức của Mặt trận Việt Minh: “Nhi đồng cứu quốc hội ta / Ấy là lực lượng, ấy là cứu tinh / Ấy là bộ phận Việt Minh / Dân mình khắc cứu dân mình mới xong”. Tình yêu thương của Bác không chỉ là xót xa mà đã trở nên cụ thể, mạnh mẽ và đầy thuyết phục.

P5-NS.jpg

Sinh thời, Bác đã chăm lo, dạy dỗ các cháu từ việc nhỏ đến việc lớn: “Các cháu phải chăm ngoan, ở nhà phải nghe lời bố mẹ, đi học phải siêng năng, đối với thầy phải kính trọng, lễ phép, đối với bạn phải đoàn kết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau”, “Giữ kỷ luật, chớ tự do phóng túng vì tự do phóng túng là không tốt”, “phải biết gắng, gắng giúp đỡ thương binh và gia đình các chiến sĩ”, “phải yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, yêu lao động”, “phải thật thà, dũng cảm”, “việc gì có ích cho kháng chiến, có ích cho Tổ quốc thì các cháu nên gắng sức làm. Tuổi các cháu còn nhỏ. Nhiều công việc nhỏ cộng lại thành công việc to”, “Mong các cháu mai sau lớn lên thành những người dân xứng đáng với nước độc lập, tự do” …

Sự quan tâm của Bác đối với trẻ em gắn chặt với những trăn trở về tương lai của dân tộc, của đất nước. Ngay từ những ngày đầu tiên của Nhà nước Việt Nam non trẻ, vị Chủ tịch nước trong bộn bề công việc vẫn không quên “những người tiểu quốc dân của một nước độc lập”. Tết Trung thu độc lập đầu tiên năm 1945, Người gửi thiếu nhi Việt Nam hai bức thư trong vòng một tuần lễ. Hai bức thư ấy tràn đầy niềm vui, niềm tự hào vì nước nhà đã độc lập, các em thoát kiếp “bầy nô lệ trẻ con”. Một mùa thu, Bác gửi cho các em lời yêu thương tha thiết:

Trung thu trăng sáng như gương
Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng
Sau đây Bác viết mấy dòng
Gửi cho các cháu tỏ lòng nhớ nhung.

Nói với trẻ em, viết cho trẻ em, đến với trẻ em, Hồ Chí Minh nhất quán trong phong cách và văn phong giản dị, gần gũi. Hàng trăm bức thư, bài báo, bài thơ tự tay Bác viết, tặng cho các cháu. Điều ấy hiếm gặp ở bất kỳ một chính khách nào, điều ấy độc đáo và làm nên một nhân cách Hồ Chí Minh.

Trong các bài nói, bài viết của Bác về công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ không chỉ chứa đựng những tư tưởng quan điểm cơ bản mà còn có cả những lời chỉ bảo ân cần rất cụ thể và gần gũi với thực tế. Trong trái tim nhân ái của Người, trẻ em được ví “như búp trên cành” cần được che chở, chăm sóc và nâng niu để nở hoa tươi thắm, khỏe mạnh và tỏa hương cho đời. Người đã đặt niềm tin yêu vào những chủ nhân tương lai của đất nước, rằng: “… Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu…”

Người đã để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng và đặc biệt cho “toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng”. Trong mỗi giai đoạn của cách mạng cũng như của cuộc đời đầy cống hiến và hy sinh của mình, trẻ em luôn là lớp “công dân đặc biệt” được Hồ Chí Minh dành sự quan tâm sâu sát. Chăm lo cho thế hệ trẻ, cho trẻ em thể hiện trong phong cách sống, trong đạo đức, trong tầm nhìn chiến lược và khoa học của Người. Trong bản di chúc của mình, Bác Hồ 2 lần nhắc đến nhi đồng. Đoạn mở đầu, Bác viết: “Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp 2 miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng; thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta”. Ở đoạn kết thúc Bác lại viết: “Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thiếu niên và nhi đồng”.

Tình thương yêu trẻ luôn thường trực trong Bác. Xúc động biết bao khi đọc bài viết của Bác trước lúc từ biệt thế giới này để gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, Bác viết: “Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà. Vì vậy chăm sóc giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ… Vì tương lai của con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt”.

Là một nhà giáo dục vĩ đại, Bác Hồ coi trọng việc giáo dục thế hệ trẻ không chỉ ở nội dung mà cả phương pháp dạy học và giáo dục. Nói chuyện với lớp cán bộ đào tạo mẫu giáo, Bác nhắc nhở: “…làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ. Muốn làm thế thì trước hết phải yêu trẻ. Các cháu nhỏ hay quấy, phải bền bỉ, chịu khó mới nuôi dạy được các cháu. Dạy trẻ như trồng cây non. Trông cây non được tốt thì sau này cây lên tốt. Dạy trẻ nhỏ tốt thì sau này cháu trở thành người tốt”. “Trong lúc học cẩn phải làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học. Ở trong nhà, trong trường, trong xã hội chúng đều vui, đều học… Về nội dung giáo dục ở các cấp học, Bác nhắc nhở nhiều lần: “Cần chú trọng hơn nữa về mặt đức dục; Dạy cho các cháu đạo đức cách mạng, biết yêu Tổ Quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu khoa học, yêu lao động và người lao động, thật thà,dũng cảm, sẵn sàng tham gia lao động và bảo vệ Tổ Quốc”. Những điều Bác dạy về nhi đồng, về việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ toát lên chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh.

Bác đặc biệt nhấn mạnh, điều quan trọng nhất là người giáo dục trẻ em phải là tấm gương sáng cho các em noi theo: “Trẻ em hay bắt chước cho nên thầy giáo, cán bộ phụ trách phải gương mẫu, từ lời nói đến việc làm. Dạy các cháu thì nói với các cháu chỉ một phần, cái chính là phải cho các cháu nhìn thấy, cho nên những tấm gương thực tế là rất quan trọng. Muốn dạy cho trẻ em thành người tốt thì trước hết các cô, các chú phải là người tốt”. Và Bác đã dạy rằng:

“Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây,
vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.

Thấm nhuần tư tưởng của Bác “Chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân”, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã thường xuyên quan tâm đến công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Năm 1991, Quốc hội đã thông qua “Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em”. Ngày 30-5-1994, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VII) đã ra Chỉ thị số 38CT/TW “Về công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em”. Ngày 30-7-1998, Thường vụ Bộ Chính trị (khóa VIII) đã ra thông tri “Về việc tăng cường lãnh đạo công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em”. Và, ngày 28/6/2000, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 55-CT/TW “Về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng cơ sở đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em”… Đây là một sự nghiệp lớn lao và hệ trọng, nó đòi hỏi “các Đảng ủy, Ủy ban thiếu niên nhi đồng, Đoàn thanh niên, ngành Giáo dục và các ngành, các đoàn thể phải có kế hoạch thật cụ thể chăm sóc các cháu ngày càng khỏe mạnh và tiến bộ. Các tỉnh ủy, thành ủy cần phải phụ trách, đôn đốc việc này cho có kết quả tốt…”.

Tình yêu thương vô hạn của Bác để lại cho nhi đồng Việt Nam của những ngày đã qua, bây giờ và mãi về sau niềm tự hào mãnh liệt, lòng thành kính cao vời và niềm kiêu hãnh biết bao khi được hát về Người: “Ai yêu các nhi đồng / Bằng Bác Hồ Chí Minh” và “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh / Hơn chúng em nhi đồng / Ai yêu Bác Hồ Chí Minh / Hơn thiếu nhi Việt Nam”…

Phạm Thị Điểm
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Nam

hochiminhhoc.com

“Bác đi… Di chúc giục lòng ta”

GS.Song Thành
Trước khi ra đi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân bản Di chúc lịch sử. Lời nhắn nhủ của Người, từng ý, từng lời, từng câu, từng chữ đã thấm sâu và lắng đọng vào trái tim mỗi người dân Việt Nam, giục giã bao thế hệ người Việt Nam sống, chiến đấu, lao động và học tập theo lý tưởng của Người, như nhà thơ Tố Hữu sau này đã viết: “Bác đi… Di chúc giục lòng ta”.

544.jpg
Bút tích “Di chúc” của Bác năm 1965

Bốn mươi năm về trước, đúng vào ngày khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã vĩnh biệt chúng ta! Trong đời sống chính trị – tinh thần của nhân dân Việt Nam, chưa bao giờ không khí đau thương lại trùm lên tất cả mọi người, mọi nhà như những ngày cả nước chịu tang vị lãnh tụ thiên tài, nhà yêu nước vĩ đại, người cha, người bác, người anh đức độ và nhân ái của toàn dân tộc. Cả thế giới nghiêng mình tiếc thương vĩnh biệt một vĩ nhân đã in dấu sâu sắc vào thời đại với những lời ca ngợi chân thành, cao đẹp và sâu sắc nhất.

597.jpg  598.jpgBút tích “Di chúc” của chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1968

Trong đau thương, nhân dân Việt Nam cảm thấy vô cùng tự hào về lãnh tụ vĩ đại, người thầy kính yêu của mình. Đúng như Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta đã viết: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, non sông đất nước ta”.

Trước khi từ biệt thế giới này, Người đã gửi gắm những lời căn dặn thiết tha, những mong muốn, khát khao cháy bỏng vào Di chúc: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”. Thay mặt toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, trước anh linh của Người, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã long trọng tuyên đọc 5 lời thề, nguyện sẽ kiên quyết phấn đấu đem lá cờ bách chiến, bách thắng của Người tới đích cuối cùng. Bốn mươi năm sau khi Người đi xa, chúng ta kính cẩn báo cáo lên Người những nỗ lực phấn đấu thực hiện 5 lời thề đã long trọng hứa trước anh linh Người.

Quyết thắng đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Ngay trong những ngày tang lễ, hàng vạn lá đơn xin gia nhập Đảng đã được gửi tới các tổ chức cơ sở đảng, bày tỏ nguyện vọng được sống, chiến đấu, lao động, học tập dưới ngọn cờ, theo lý tưởng và tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hàng vạn thanh niên nô nức tòng quân, lớp lớp lên đường, mang theo Di chúc vào chiến trường, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nhiều sư đoàn mới được thành lập. Binh đoàn vận tải 559 được tăng cường. Tuyến đường vận tải chiến lược Trường Sơn, bao gồm cả tuyến xăng dầu, được mở ra. Hàng vạn thanh niên xung phong và dân công hoả tuyến từ miền Bắc đã vào chiến trường… Cả nước rầm rộ “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”.

Tháng 12-1972, quân và dân miền Bắc đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng không quân B52 của Mỹ, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri (tháng 1-1973), chấp nhận rút quân khỏi miền Nam. Trưa ngày 29-3-1973, Bộ Chỉ huy quân đội Mỹ ở Nam Việt Nam đã lặng lẽ làm lễ cuốn cờ tại căn cứ Tân Sơn Nhất. Cùng ngày, những quân lính chư hầu Nam Triều Tiên, Phi-lip-pin cũng rút khỏi nước ta. Toàn Đảng, toàn dân ta đã hoàn thành mục tiêu “đánh cho Mỹ cút”.

Ở miền Nam, quân và dân ta biến đau thương thành sức mạnh dồn xuống đầu thù, liên tục tiến công và nổi dậy, làm phá sản kế hoạch “bình định nông thôn” của địch, mở rộng vùng giải phóng. Phong trào đấu tranh ở đô thị phát triển mạnh: công nhân Sài Gòn tổng bãi công; sinh viên, học sinh đồng bào Phật giáo ở Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng,… liên tục xuống đường đấu tranh chống chính quyền Mỹ – Thiệu. Các lực lượng vũ trang của ta phối hợp với quân đội nhân dân Lào và Cam-pu-chia, giành chiến thắng lớn trong chiến dịch Đường 9 Nam Lào, chiến dịch Xnun, cuộc hành quân Chenla II,…giải phóng 7 tỉnh của Cam-pu-chia, tạo ra hậu phương trực tiếp cho cách mạng miền Nam.

Quân ngụy – xương sống của chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của Mỹ – bị thua nặng ở các chiến trường, đã giảm sút về số lượng, sa sút về tinh thần, lại phải dàn mỏng ra để thay thế quân Mỹ và chư hầu rút về nước, nên thế trận ngày càng sơ hở. Quân dân ta giành quyền chủ động trên chiến trường, liên tiếp mở các cuộc tiến công trên cả 3 hướng chiến lược: Trị Thiên, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, đồng thời phối hợp chiến đấu với quân đội bạn trên chiến trường Lào và Cam-pu-chia, giành được thắng lợi to lớn: giải phóng tỉnh Quảng Trị, phần lớn các tỉnh Kon Tum, Bình Định, Bình Long, Phước Long…, mở ra một vùng giải phóng rộng lớn.

Trên đà thắng lợi, tháng 7-1973, Trung ương Đảng ta họp Hội nghị lần thứ 21, bàn chủ trương, biện pháp đưa cách mạng miền Nam đi đến thắng lợi hoàn toàn. Kế hoạch đó được các hội nghị Bộ Chính trị tiếp theo bổ sung, hoàn chỉnh và đi tới quyết tâm: giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975. Tháng 3-1975, chiến dịch Tây Nguyên, mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng miền Nam, giành thắng lợi to lớn. Địch rơi vào thế rút lui chiến lược. Chiến dịch Huế – Đà Nẵng đã giải phóng hoàn toàn miền Trung. Tháng 4-1975, ta giải phóng các hải đảo và đồng bằng sông Cửu Long. Chiến dịch Hồ Chí Minh, mở màn từ ngày 9-4 đến ngày 30-4-1975, đã hoàn thành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Vào 10 giờ 45 phút, xe tăng của ta tiến vào Dinh Độc Lập. Tổng thống chính quyền Sài Gòn phải chấp nhận đầu hàng không điều kiện. Trong giây phút lịch sử đó, mọi người đều xúc động nhớ tới Bác Hồ, nắm tay nhau hát vang “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”!

Cả nước sung sướng, tự hào đã thực hiện trọn vẹn lời thề với Bác: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”, thống nhất đất nước.

Phấn đấu thực hiện lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đem lại phồn vinh cho đất nước, hạnh phúc cho đồng bào

620.jpgBút tích “Di chúc” của Bác năm 1969

Những ngày vui thống nhất, Bắc – Nam sum họp trôi qua nhanh chóng, toàn Đảng, toàn dân ta lại đối mặt với những khó khăn của thời hậu chiến. Thực tiễn đòi hỏi phải thay đổi cách làm ăn cho phù hợp với quy luật của cuộc sống.

Tổng kết kinh nghiệm, sáng kiến của nhiều địa phương, Đại hội VI của Đảng (tháng 12 – 1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện với hình thức và bước đi thích hợp. Cả nước chuyển mình, nhiều sáng kiến thi đua tìm tòi cách làm ăn mới, làm giàu cho bản thân và gia đình, cho địa phương và cho đất nước được phát huy. Công cuộc đổi mới từng bước đạt được những kết quả quan trọng: đất nước dần thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, xã hội dân chủ hơn, cởi mở hơn, đời sống nhân dân thay đổi nhanh chóng – nhất là ở thành thị, uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được tăng lên.

Thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đảng phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá nhằm nâng cao đời sống của nhân dân”, Đại hội VII của Đảng đã thảo luận và thông qua “Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2000” nhằm bình ổn xã hội, phát triển đất nước, đưa đất nước ra khỏi khó khăn. Chiến lược này đã được các đại hội tiếp theo phát triển, bổ sung đến năm 2020. Kết quả đã làm cho đất nước mỗi ngày một đổi mới. Nhiều công trình thế kỷ đã đi vào sử dụng và phát huy tác dụng như: Nhà máy Thủy điện Hòa Bình, đường dây 500 KV Bắc – Nam, Nhà máy Thuỷ điện Trị An, Yaly, các nhà máy đóng tàu, Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại, cầu Mỹ Thuận, đường Hồ Chí Minh xuyên Việt,v.v.. Mặc dầu vẫn còn những hạn chế nhưng nhân dân ta đã cố gắng thực hiện mong muốn của Bác Hồ: “Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”!

Thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, giáo dục, đào tạo được chú trọng phát triển, quy mô đào tạo được mở rộng cả ở đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề; trình độ văn hoá của nhân dân được nâng cao thêm một bước. Đặc biệt, ngay sau chiến tranh, Đảng và Nhà nước ta lựa chọn những thanh niên ưu tú nhất, đã qua rèn luyện trong chiến đấu, được ưu tiên đi học nước ngoài và các trường đại học trong nước, và họ đã trở thành những nhà chuyên môn có tài, những cán bộ quản lý đất nước có năng lực, vừa “hồng”, vừa “chuyên”. Trong đổi mới, đã và đang xuất hiện một thế hệ trẻ đầy tài năng, đi tiên phong trong các phong trào “thanh niên lập thân, lập nghiệp”, đã xuất hiện nhiều tấm gương năng động, sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh, trong học tập, nghiên cứu khoa học và sáng tạo nghệ thuật… Tuy nhiên, thế hệ thanh niên hiện nay vẫn còn những nhược điểm và yếu kém cần khắc phục. Muốn bồi dưỡng cho đời sau, thế hệ đi trước phải mẫu mực nêu gương về mọi mặt – cả về ý chí và đạo đức cách mạng, trước hết là những người lãnh đạo, có chức, có quyền.

Một trong những thành tựu quan trọng trong quá trình đổi mới là sự đổi mới tư duy về quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại. Đây chính là cơ sở tạo ra những thắng lợi hết sức to lớn về ngoại giao và kinh tế: Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 170 nước, tranh thủ được nguồn vốn viện trợ không hoàn lại của hơn 50 nước, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của nhiều tập đoàn, công ty của hơn 60 nước và vùng lãnh thổ, chủ động hội nhập kinh tế khu vực (AFTA). Sau hơn 10 năm đàm phán, Việt Nam đã thành công và gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới vào cuối năm 2006, đánh dấu một mốc quan trọng đưa kinh tế Việt Nam hội nhập với kinh tế thế giới. Việt Nam cũng đã được nhất trí bầu là thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc khoá 2008 – 2009. Những thành tựu đó đã nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Giữ gìn đoàn kết trong Đảng, làm hạt nhân cho khối đoàn kết toàn dân

“Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Thực hiện những lời dặn dò trong Di chúc của Người, từ Đại hội IV đến nay, Đảng ta đã mở nhiều cuộc vận động, tiêu biểu là cuộc vận động thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được tiến hành từ năm 2006 cho đến Đại hội XI. Theo nhận định của Đảng: Các cuộc vận động này vẫn chưa đạt yêu cầu mong muốn. Tham nhũng, tiêu cực vẫn diễn ra, pháp luật chưa nghiêm, trừng trị chưa đúng người, đúng tội. Thực tế cho thấy, cuộc đấu tranh đẩy lùi cái xấu, cái hư hỏng, cũ kỹ, như Bác Hồ nói, là một cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ và đòi hỏi phải có quyết tâm rất lớn, sự gương mẫu rất cao, trong đó đề cao vai trò nêu gương của những người lãnh đạo, người có chức, có quyền.

Để thực hiện đại đoàn kết dân tộc, sau Đại thắng mùa xuân 1975, Đảng ta đưa ra chủ trương: lấy độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng, đồng thời chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc, cùng nhau xoá bỏ định kiến, mặc cảm, hướng tới tương lai, xây dựng tinh thần đoàn kết, cởi mở, tin cậy lẫn nhau. Theo tinh thần đó, nhiều nhân sĩ, trí thức yêu nước, nhiều nhân vật thuộc “lực lượng thứ ba”,…đã được cử vào Ủy ban Trung ương và Đoàn Chủ tịch của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, được bầu vào Quốc hội thống nhất, tham gia Chính phủ hoặc giữ các cương vị lãnh đạo ở Thành phố Hồ Chí minh; nhiều kiều bào đã tin tưởng, chuyển vốn đầu tư về trong nước làm ăn; nhiều nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ có tên tuổi đã chuyển về sinh sống ở trong nước…

Trong vấn đề đoàn kết tôn giáo, chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng tự do tín ngưỡng. Ở Việt Nam hiện nay, các sinh hoạt tôn giáo như Lễ hội Phật đản, các lễ hội Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, tháng ăn chay Ramadan của Hồi giáo, đặc biệt lễ hội Phật đản VESAK được Unesco thừa nhận, v.v.. đều được tổ chức trang nghiêm, trọng thể, đã trở thành ngày vui chung của văn hóa dân tộc. Ngày nay, các chùa chiền, nhà thờ, thiền viện (như Thiền viện Trúc Lâm Yên tử, Tây Thiên, Sóc Sơn, Đà Lạt,…) được xây dựng mới với quy mô chưa từng có so với bất kỳ thời nào trong lịch sử trước đây.

Phát huy tình cảm quốc tế trong sáng, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hoà bình của nhân dân thế giới

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn giáo dục cán bộ và nhân dân ta về tình nghĩa quốc tế thuỷ chung, về nghĩa vụ góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới, “giúp bạn tức là tự giúp mình”.

Trong kháng chiến chống kẻ thù chung, ba nước Đông Dương Việt Nam – Lào và Cam-pu-chia đã đoàn kết trong một mặt trận, sát cánh bên nhau, giúp đỡ nhau trong đấu tranh và cùng nhau giành thắng lợi vào năm 1975. Trong hòa bình, xây dựng, ba nước đã ký kết nhiều hiệp định hợp tác về kinh tế và văn hoá, hiệp định về biên giới hoà bình, hữu nghị. Việt Nam đã viện trợ và đầu tư giúp Lào mở con đường ra biển, xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng về kinh tế – kỹ thuật; giúp cách mạng Cam-pu-chia loại bỏ chế độ Pôn-pốt diệt chủng, v.v.

Sau khi thống nhất đất nước, thực hiện ước muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc: “sẽ thay mặt nhân dân ta đi thăm và cảm ơn các nước bầu bạn khắp năm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta”, nhiều đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước ta đã đi thăm nhiều nước ở châu Á, châu Âu, châu Mỹ để thể hiện lòng biết ơn và tình cảm quốc tế trong sáng này.

Trong bối cảnh hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới không còn tồn tại, Việt Nam vẫn không ngừng thắt chặt quan hệ đoàn kết, hữu nghị với các đảng cộng sản và công nhân trong các nước tư bản; vẫn tiếp tục ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì độc lập dân tộc, dân chủ, hoà bình, công bằng và đạo lý trong các mối quan hệ quốc tế.

Chúng ta tự hào đã trung thành và thực hiện tốt lời thề với Chủ tịch Hồ Chí Minh: luôn luôn phát huy tình cảm quốc tế trong sáng, thuỷ chung, theo đúng tấm gương của Người.

Suốt đời học tập đạo đức, tác phong của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đạo đức cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, suốt đời hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc và nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương cao cả, tuyệt vời trong sáng, có sức cổ cũ lớn lao, một nhân tố làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Ngay từ Đại hội II (1951), Đảng ta đã nhận thấy sức mạnh to lớn của tấm gương đạo đức vô song này, nên đã sớm có nghị quyết về học tập tư tưởng, đạo đức, tác phong của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, coi đó là điều kiện tiên quyết để đưa cách mạng đến thành công.

Sau khi Người qua đời, Đảng ta đã liên tục đề ra các cuộc vận động học tập, làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức của Người. Tiến lên một bước, Đại hội VII đã ra nghị quyết: lấy tư tưởng Hồ Chí Minh cùng chủ nghĩa Mác – Lê-nin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng.

Các cuộc vận động này đã khơi dậy ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện cho cán bộ, đảng viên và thanh niên, đã góp phần vào việc bồi dưỡng nhiều thế hệ chiến sĩ cách mạng sống và làm theo tấm gương của Người. Tuy nhiên, trong đấu tranh cách mạng lâu dài và gian khổ, cũng đã có một số người không vượt lên được, đặc biệt là ở những thời điểm có tính bước ngoặt. Một số người có chức, có quyền đã tha hoá, biến chất, tham nhũng, cửa quyền. Điều đó cho thấy tính chất khó khăn, gian khổ, lâu dài của việc xây dựng con người mới; cho thấy ý nghĩa cấp bách, tầm quan trọng của cuộc vận động giáo dục, làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh hiện nay.

Thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một quá trình phấn đấu lâu dài của toàn Đảng, toàn dân. Bốn mươi năm qua mới là một chặng đường ngắn ngủi, trong đó có những việc chúng ta đã hoàn thành xuất sắc, có những việc làm chậm, có việc làm chưa tốt. Nhiều nhân tố “mới mẻ, tốt tươi” đã xuất hiện, nhưng cũng còn nhiều cái “cũ kỹ, hư hỏng” vẫn chưa được loại bỏ, đang là điều nhức nhối, phần nào làm giảm niềm tin của nhân dân. Chúng ta hứa với Người rằng, “cuộc chiến đấu khổng lồ” mà Người căn dặn trong Di chúc được chúng ta kiên trì phấn đấu thực hiện, nhằm đạt tới những thắng lợi ngày càng to lớn hơn nữa trên con đường hội nhập và phát triển./.

nhoNguoicha

Xây dựng chính quyền “Thân Dân” theo Tư tưởng Hồ Chí Minh

Tiếp nhận dòng chảy văn hóa truyền thống của dân tộc và thời đại, Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức được vai trò to lớn của nhân dân. Không chỉ dừng lại ở đó, Người còn luôn luôn tôn trọng, tin tưởng và đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết. Chính vì vậy, cả cuộc đời của Hồ Chí Minh chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Về thực chất, đây cũng chính là tư tưởng thân dân. Người cán bộ giữ được cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, là người có ý thức phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân, của Tổ quốc, của Đảng lên trên hết, là thân dân.

134.jpgChính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Ảnh: Tuấn Anh

Vậy thì vì sao ta phải xây dựng chính quyền “Thân dân”? Hồ Chí Minh giải thích: dân là gốc của nước. Dân là người đã không tiếc máu xương để xây dựng và bảo vệ đất nước. Nước không có dân thì không thành nước. Nước do dân xây dựng nên, do dân đem xương máu ra bảo vệ, do vậy dân là chủ của nước. Nhân dân đã cung cấp cho Đảng những người con ưu tú nhất. Lực lượng của Đảng có lớn mạnh được hay không là do dân. Nhân dân là người xây dựng, đồng thời cũng là người bảo vệ Đảng, bảo vệ cán bộ của Đảng. Dân như nước, cán bộ như cá. Cá không thể sinh tồn và phát triển được nếu như không có nước. Nhân dân là lực lượng biến chủ trương, đường lối của Đảng thành hiện thực. Do vậy, nếu không có dân, sự tồn tại của Đảng cũng chẳng có ý nghĩa gì. Đối với Chính phủ và các tổ chức quần chúng cũng vậy.

Chính quyền “Thân dân”, phải là chính quyền hiểu dân, nghe được dân nói, nói được cho dân nghe, làm được cho dân tin, là nhận biết được những nhu cầu của họ, biết được họ đang suy nghĩ gì, trăn trở cái gì? Họ mong muốn những gì? Và họ đang mong đợi gì ở chính quyền, nhất là ở người lãnh đạo, quản lý; phải biết phát hiện và đáp ứng kịp thời những nhu cầu và lợi ích thiết thực của dân; là nhìn thấy cả cái thực tại và vạch ra được viễn cảnh (tương lai) đúng đắn cho dân phát triển; là biết chia sẻ, đồng cảm và gần gũi với cuộc sống của dân, mọi quyết sách đều xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của dân, phản ánh đúng tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của dân. Tháng 10-1945, trong thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “…Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì… Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”(1) . Người yêu cầu cán bộ từ Chủ tịch nước trở xuống đều phải là đày tớ trung thành của nhân dân. Theo Người: “Dân làm chủ thì Chủ tịch, Bộ trưởng, Thứ trưởng, Ủy viên này khác là làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho nhân dân, chứ không phải là làm quan cách mạng”(2) .

420.jpgTheo Hồ Chí Minh thì cán bộ là công bộc, là đầy tớ trung thành của nhân dân. Ảnh: Tuấn Anh

Từ thực tế, Hồ Chí Minh đã thẳng thắn phê phán nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao, khi xuống cấp dưới triển khai công việc thì khệnh khạng như “ông quan” và nội dung truyền đạt thì rất đại khái, hình thức, vì vậy mà quần chúng không hiểu và rất sợ đi họp. Đó là bệnh xa quần chúng, bệnh hình thức, không phải vì lợi ích của quần chúng. Việc đặt ra chương trình làm việc, kế hoạch hành động, tuyên truyền, nhiều cán bộ cũng không hỏi xem quần chúng cần cái gì, muốn nghe, muốn biết cái gì, “chỉ mấy ông cán bộ đóng cửa lại mà làm, ngồi ỳ trong phòng giấy mà viết, cứ tưởng những cái mình làm ra là đúng, mình viết là hay. Nào có biết, cách làm chủ quan đó, kết quả là “đem râu ông nọ chắp cằm bà kia”, không ăn thua, không thấm thía, không lợi ích gì cả”.

Là người phục vụ nhân dân, cán bộ Đảng, Nhà nước, đoàn thể đồng thời là người lãnh đạo, người hướng dẫn của nhân dân. Theo Người: Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng, nếu không có Chính phủ, thì nhân dân không ai dẫn đường. Cán bộ, đảng viên phải làm thế nào để xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Điều này cho thấy, Hồ Chí Minh không bao giờ đối lập vai trò người lãnh đạo với người đày tớ của nhân dân trong bản thân người cán bộ của Đảng và Nhà nước, mà trái lại Người yêu cầu phải làm thế nào để xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Là lãnh đạo không có nghĩa là đè đầu cưỡi cổ nhân dân. Bởi vì: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ cấp nào và ngành nào đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân”(3).

Trong Nhà nước của dân thì dân là chủ, người dân được hưởng mọi quyền dân chủ, nghĩa là có quyền làm bất cứ việc gì mà pháp luật không cấm và có nghĩa vụ tuân theo pháp luật. Nhà nước của dân phải bằng mọi nỗ lực, hình thành được các thiết chế dân chủ để thực thi quyền làm chủ của người dân. Cũng trên ý nghĩa đó, các vị đại diện của dân, do dân cử ra, chỉ là thừa ủy quyền của dân, chỉ là “công bộc” của dân theo ý nghĩa đúng đắn của từ này.

Chính những tư tưởng của Người về vấn đề thân dân đã chỉ đạo cho hoạt động cách mạng của chúng ta trong việc huy động sức mạnh vật chất và tinh thần phục vụ cho cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng mối quan hệ đoàn kết toàn dân. Hiện nay, đại đa số cán bộ, đảng viên ta đã nhận thức và làm tốt việc coi trọng nhân dân, vì nhân dân phục vụ, làm cho kinh tế, văn hóa và xã hội có tiến bộ trên nhiều mặt; đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện…

Tuy nhiên, dưới tác động mặt trái của cơ chế thị trường và mở cửa, hội nhập cùng những thiếu sót, khuyết điểm chủ quan của chúng ta trong lãnh đạo, quản lý cũng như trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước nên thời gian qua ở nước ta, các hiện tượng tiêu cực xã hội phát triển, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng, chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống. Tệ tham nhũng diễn ra nghiêm trọng, có nguy cơ làm biến chất Đảng, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào Nhà nước và chế độ, làm giảm sút mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân, gây nguy hại cho sự nghiệp cách mạng.

Trong quan hệ giữa chính quyền với nhân dân, những biểu hiện như quan liêu, cửa quyền, vô cảm với nhân dân, xa dân, sách nhiễu dân đang có nguy cơ phát triển. Sự tha hóa của một bộ phận cán bộ có chiều hướng phát triển, thể hiện ở xa dân, sách nhiễu dân, tệ quan liêu, tham nhũng… Cán bộ lãnh đạo một số nơi còn lúng túng trước nhiệm vụ đặt ra, hội họp nhiều nhưng giải quyết công việc chưa hiệu quả, không sâu sát thực tế…

Đối thoại giữa chính quyền và người dân chưa thường xuyên. Còn đùn đẩy, né tránh trách nhiệm nên giải quyết khiếu nại, tố cáo chậm. Bệnh che giấu khuyết điểm, nơi này đổ lỗi cho nơi kia còn khá phổ biến… Tình trạng hành dân, khinh dân, thậm chí lợi dụng quyền hành để bắt dân cống nạp, vẫn xảy ra ở nơi này nơi kia trong bộ máy chính quyền các cấp, kể cả cấp cơ sở, ở các vùng nghèo, vùng sâu.

Nhiều cơ quan công quyền thường có thói quen ra những mệnh lệnh, những quyết định bắt người dân phải thi hành mà không tham khảo ý kiến của nhân dân. Ở nhiều địa phương việc xây dựng Quy chế dân chủ còn hình thức, trên thực tế người dân chưa được thực hiện quyền chính đáng của mình. Chính quyền một số nơi, nhất là ở cơ sở, nơi trực tiếp với nhân dân nhưng lại xa dân, ít quan tâm đến đời sống của nhân dân, không chú ý tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc và tâm tư, nguyện vọng của dân, phong cách chỉ đạo, quản lý nặng về quan liêu, mệnh lệnh, vô cảm trước khó khăn, vất vả của dân. Những chủ trương liên quan đến nghĩa vụ và quyền lợi của dân không được đưa ra bàn bạc, thảo luận, lấy ý kiến của nhân dân hoặc giải thích cho nhân dân hiểu rõ để nhân dân tự giác chấp hành. Vì vậy, một số quyết định của chính quyền cấp cơ sở không được nhân dân đồng tình, có nơi khiến nhân dân bất bình, là một trong những nguyên nhân làm nảy sinh tình trạng khiếu kiện vượt cấp, kéo dài.

Để khắc phục được tình trạng đó, đòi hỏi chính quyền các cấp, những “đày tớ”, “công bộc” của dân, có bổn phận phục vụ nhân dân, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của dân giao, chịu sự kiểm soát của dân và sẽ bị tước quyền nếu đi ngược lại lợi ích của nhân dân. Để phục vụ nhân dân, người cán bộ, đảng viên phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có giác ngộ sâu sắc về mục đích sống, mục đích hành động và việc làm của mỗi người, để trở thành những người “vừa hồng, vừa chuyên”, thực sự là tấm gương sáng để quần chúng nhân dân noi gương. Tinh thần tận tụy phục vụ nhân dân chỉ có được khi chính quyền các cấp có cán bộ, đảng viên thực sự thân dân.

Thời đại Hồ Chí Minh, những giá trị văn hóa chính trị yêu nước, thương dân, lấy dân là gốc được soi sáng và phát triển rực rỡ, trở thành chân lý khoa học, kim chỉ nam cho hành động. “Thân dân”, luôn coi dân là gốc, là đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ, đảng viên những người đại diện cho chính quyền, đoàn thể các cấp phải tự đặt mình vào địa vị của người dân mà mình đại diện để hiểu, suy xét, chia sẻ tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị, đề xuất , mong muốn của người dân. Có lắng nghe, thấu hiểu nguyện vọng chính đáng của dân thì đại biểu dân cử mới thực hiện tốt việc “Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì hại đến cho dân ta phải hết sức tránh”. Bởi, ta có yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta.

Xây dựng chính quyền “Thân dân” biểu hiện ở việc cán bộ, đảng viên thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi do pháp luật quy định. Tức là, phải trung thành với mục tiêu lý tưởng, với chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, phải hướng đến một nền hành chính, một tổ chức, một bộ máy phục vụ nhân dân; luôn gương mẫu hoàn thành kế hoạch được giao và nếu có chức vụ phải biết sử dụng quyền lực để giao việc, kiểm tra, theo dõi, đánh giá, phê bình, khen thưởng một cách công minh chính trực; phải lắng nghe và dựa vào quần chúng nơi cơ quan để xây dựng quy chế làm việc, quy chế dân chủ cơ sở, quy chế chi tiêu tài chính, các biện pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, làm cho cơ quan đoàn kết nhất trí; không xu nịnh, không ưa nịnh, không chia bè chia cánh, cục bộ, bản vị; phải luôn đề cao trách nhiệm vì dân để giải quyết nhanh chóng, kịp thời những chế độ, chính sách liên quan đến người dân; phải thận trọng trong việc xem xét, quyết định các vấn đề hệ trọng có ảnh hưởng đến quyền bình đẳng, quyền lợi của các tầng lớp nhân dân. Khi nhân dân có ý kiến, khiếu nại, tố cáo, kể cả tố cáo cá nhân mình, thì phải biết bình tĩnh lắng nghe, phân tích và có thái độ kiên quyết sửa chữa khuyết điểm, nếu quyết định của mình chưa đúng. Không né tránh, đùn đẩy, gây phiền hà và khó khăn, tốn kém cho dân…

Nói và thực hành “Thân dân” trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay càng đòi hỏi chính quyền các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên phải gần dân, sát dân, luôn luôn lắng nghe và thấu hiểu mọi tâm tư, tình cảm và nguyện vọng của dân, nhằm giải quyết kịp thời những nhu cầu và lợi ích chính đáng, thiết thực và cụ thể của quần chúng; phải từ trong dân, từ ý chí và tâm trạng của dân để phục vụ nhân dân.

Th.S Nguyễn Năng Nam
Phòng Chính trị, Học viện Khoa học Quân sự


[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002, t.4, tr.56-57.
[2] Hồ Chí Minh: Sđd, t.8, tr.375.
[3] Hồ Chí Minh: Sđd, t.10, tr.323.

nhoNguoicha

Học tập phong cách sống giản dị và tiết kiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh chăm vườn rau muống trong khu Phủ Chủ tịch (6-1957). ( Ảnh: Ảnh tư liệu )

Tấm gương đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, một lòng vì dân, vì nước, cùng với tính giản dị vĩ đại và sự khiêm tốn cao độ của Người được cả thế giới ca ngợi và khâm phục.

Con người Hồ Chí Minh, từ lúc làm một thợ ảnh bình thường ở ngõ hẻm Compoint nước Pháp đến khi làm Chủ tịch nước Việt Nam, vẫn sống một cuộc đời thanh bạch, giản dị, tao nhã từ câu nói, tác phong đến vật dụng, tư trang hàng ngày, từ bữa ăn đến cách sống hòa mình với nhân dân.

Thời kỳ hoạt động cách mạng ở Pác Bó (Cao Bằng), lãnh tụ Hồ Chí Minh cũng như các đồng chí khác phải ăn cháo bẹ, rau măng ròng rã. Khi đi công tác, ngoài những đồ đạc cần thiết mang theo, Người cho làm món thịt rang mặn Việt Minh theo công thức một thịt – một muối – một ớt. Như vậy đi tới đâu chỉ cần thổi cơm, tìm thêm rau xanh nấu canh, rồi bỏ “thịt” của nhà ra ăn là xong bữa. Cách nấu nướng như vậy rất tiện, cần nghỉ chỗ nào cũng được, khỏi phải vất vả mua bán ở dọc đường, lại tiết kiệm.

Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, trở về Thủ đô Hà Nội làm việc ở Bắc Bộ Phủ, Bác cùng ăn cơm gạo đỏ, muối vừng với anh em văn phòng, bảo vệ, lái xe… mà không có sự ưu tiên nào khác. Tháng 6-1946, Bác sang thăm Pháp với tư cách khách mời của Chính phủ Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh ở khách sạn, nhưng ngủ trên sàn, ăn sáng vào lúc sáu giờ, và tự giặt quần áo… Các đồng chí cùng đi thấy ngạc nhiên vì giữa thủ đô Pa-ri hoa lệ mà Bác vẫn giữ những thói quen ở trong nước. Nhưng sau đó thì ai cũng hiểu rằng, Bác muốn cho tất cả cùng theo Bác để tự kiềm chế mình trước mọi cám dỗ của cuộc sống xa hoa. Ðồng thời, Bác cũng nhắc nhở mọi người rằng, nước ta còn nghèo, mà cái nghèo thì không phải dễ dàng nhanh chóng khắc phục, còn phải chịu đựng nó lâu dài, vậy thì sống giản dị, tiết kiệm là thói quen tốt, cần rèn luyện thường xuyên. Sự giản dị, phong thái ung dung ấy của Bác bắt nguồn từ một thế giới quan và nhân sinh quan cách mạng. Nó kết hợp nhuần nhị những nét cao đẹp của tính cách dân tộc với đạo đức cộng sản. Nó có sức thu hút mạnh mẽ tình cảm mọi người và qua đó Bác càng trở nên vĩ đại.

Quay lại chiến khu, nơi chở che cho Bác suốt những năm dài kháng chiến trên chiến khu Việt Bắc, là mái lán đơn sơ của cây rừng Việt Nam. Vượt qua những gian nan thiếu thốn, ở nơi đâu Bác cũng tạo nên một không khí bình thản, tự tại, một cuộc sống đầm ấm tình đồng chí. Lán của Bác ở, diện tích bằng khoảng hai chiếc chiếu, được làm bằng vật liệu sẵn có chung quanh như tre, luồng hoặc nứa, đủ cho Bác kê chiếc bàn nhỏ làm việc. Vật dụng trong lán chỉ có một chiếc ghế bằng gỗ tạp đủ để cái máy chữ, vài cuốn sách, tài liệu cần thiết, những thứ đồ dùng vặt như bút giấy, hòn đá cuội luyện gân tay… Di chuyển đến bất kỳ địa điểm nào, Bác cũng trồng rau, nuôi gà để cải thiện cuộc sống kham khổ.

Cuối năm 1953, được tin quân và dân miền Nam thắng trận ở U Minh, Ðồng Tháp Mười, Tây Nguyên, Bác quyết định mở tiệc khao quân bằng món thịt gà luộc (được chặt ra làm 20 miếng đều nhau vừa đủ số người trong cơ quan), canh cải xanh, rau muống xào tỏi, xôi nếp, cơm tẻ đều là sản phẩm cơ quan tăng gia.

Kháng chiến thắng lợi, trở về Thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh không ở trong ngôi nhà Toàn quyền cũ vì tự nhủ mình là Chủ tịch một nước nghèo, chưa có quyền hưởng thụ. Bác quyết định chọn cho mình ngôi nhà của một người thợ điện, nơi mà mùa hè thì nhiệt độ cao hơn hẳn chung quanh, thiếu ánh sáng. Năm 1958, Trung ương quyết định xây nhà cho Bác, nhưng Bác đề nghị chỉ nên làm một căn nhà nho nhỏ theo kiểu nhà đồng bào dân tộc ở Việt Bắc, giống như ngôi nhà Người đã từng ở trong những năm kháng chiến.

Khác hẳn với công trình kiến trúc đồ sộ, bề thế như Phủ Chủ tịch và các ngôi nhà xây dựng bằng những nguyên liệu bền vững như sắt, thép, xi-măng,… trong khu vực, ngôi nhà sàn của Bác được xây dựng bằng gỗ dổi bình thường, hai tầng, chung quanh có mành che, tầng dưới để thoáng. Tầng trên chỉ có những đồ dùng rất quen thuộc: chiếc giường đơn trải chiếu cói, cái tủ nhỏ, bộ bàn ghế, trên bàn để đèn, lọ hoa, chiếc máy thu thanh, cái quạt nan, mấy quyển sách. Trước nhà là một vườn hoa nhỏ, trồng nhiều loại hoa thơm. Phía ngoài là hàng rào dâm bụt gợi nhớ hình ảnh quê hương Nghệ An, nơi Bác sinh ra và lớn lên. Trong hồ nước trước nhà sàn, Bác nuôi cá vừa cải tạo môi trường sống trong lành, cải thiện bữa ăn hàng ngày, vừa là một cách thư giãn thú vị sau giờ làm việc. Nhà sàn của Bác hòa hợp với thiên nhiên là thế đấy! Nó tạo ra nét bình dị gần gũi với mọi người dân Việt Nam ở khắp mọi miền Tổ quốc.

Không chỉ nơi ở đơn sơ, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày của Bác cũng thật giản dị. Ðôi dép cao-su, Bác dùng đến mòn vẹt phải đóng đinh bao lần, đã theo Bác trên những nẻo đường Pác Bó, Ðiện Biên, trở về Thủ đô Hà Nội rồi lại theo Người đi thăm các nước anh em. Ðôi dép đã góp phần tạo nên huyền thoại về một vị Chủ tịch nước dân chủ nhất thế giới như lời báo chí Ấn Ðộ đã từng ca ngợi. Rồi bộ quần áo lụa nâu, bộ quần áo ka-ki, đôi tất vá đến hai, ba lần. Chỉ khi đi ra nước ngoài Bác mới mặc áo sơ-mi và mới đồng ý may bộ quần áo dạ đen.

Quen nếp sống giản dị, đồ ăn thức uống của Bác cũng không cầu kỳ. Bác dạy cán bộ rằng, tiết kiệm của cải tức là quý trọng sức lao động của con người. Nếu làm ra mà tiêu phí, ăn xài hết thì việc lao động đó không có ý nghĩa, không thể làm được việc gì lớn. Bữa ăn thường ngày của Bác trong Khu Phủ Chủ tịch cũng không quá ba món: Một bát canh, một món xào hoặc thịt luộc, cá quả hoặc cá bống kho gừng và không thể thiếu hương vị quê nhà là cà dầm tương hoặc đường ớt. Quý trọng công sức của nhân dân, trong bữa ăn, Bác không bao giờ để thừa, lãng phí. Ðặc biệt, bữa ăn, Bác thường tự mình sắp xếp gọn gàng bát đĩa trên bàn để các đồng chí phục vụ đỡ vất vả khi thu dọn. Khi đi thăm các địa phương, Bác bảo anh em phục vụ chuẩn bị cơm mang theo, hễ lúc nào thuận tiện thì dừng lại ăn cơm. Với Bác, thăm các địa phương, đơn vị là để nắm tình hình thực tế và góp ý, nhắc nhở về các công việc, chứ không phải xuống dự tiệc tùng, gây tốn kém. Có tỉnh nọ, mặc dù đã được báo trước là Bác có mang cơm theo, nhưng vẫn sắm sửa cỗ bàn thịnh soạn. Khi được mời, Bác kiên quyết không ăn mà còn phê bình rất nghiêm khắc.

Có thể dẫn ra nhiều câu chuyện về cách ăn uống tiết kiệm của Bác, thậm chí vào dịp liên hoan chào mừng Ngày thành lập Ðảng cũng chỉ có bát cơm, món xào, tô canh và đĩa cá. Bác thường nói khi mời cơm khách: “Chủ yếu là thật lòng với nhau”. Trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc năm 1965, Bác cương quyết đề nghị nhà bếp cho ăn cơm độn ngô như tất cả những người dân khác.

Trong tình hình kinh tế, chính trị của ta hồi đó, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh hoạt bình thường như cán bộ và nhân dân chứng tỏ Bác hiểu rất rõ, rất sát tình hình đời sống vật chất của nhân dân và cán bộ, đồng thời thể hiện tấm lòng chân thành của Bác, tấm lòng của một lãnh tụ muốn cùng chịu gian khổ với dân. Nhận xét về nếp sống giản dị của Bác, một tờ báo Pháp đã viết: “Sự ăn ở giản dị đến cực độ, như một nhà ẩn sĩ, đó là một đức tính rõ rệt nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một tuần lễ ông nhịn ăn một bữa, không phải là để hạ mình cho khổ sở, mà là để nêu một tấm gương dè xẻn gạo cho đồng bào đặng làm giảm bớt nạn đói trong nước. Hết thảy mọi người chung quanh đều bắt chước hành động đó của ông…”.

Như vậy, nếp sống giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đơn thuần là tiết kiệm mà mang ý nghĩa rất cao đẹp. Người tiết kiệm nhưng không ki bo, keo kiệt, không lãng phí, phô trương. Ngày 15-7-1969, Charles Fournio – nhà báo Pháp cuối cùng được phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chứng kiến và kể rằng: “Khi nghe nói đến những dự kiến tổ chức mừng thọ Người 80 tuổi (vào ngày 19-5 sang năm), Hồ Chủ tịch đã tỏ ý không tán thành tất cả mọi biểu hiện chú ý đặc biệt đến Người và nói rõ là không được bày vẽ gì nhân dịp này, chừng nào còn cần thêm tiền để làm nhà trẻ, trường học, bệnh viện và thư viện”.

Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị, để học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên cần rèn luyện, tu dưỡng mình, việc tưởng dễ nhưng lại rất khó. Dễ vì cách sống của Bác rất bình thường, đơn giản nếu quyết tâm thì ai cũng làm được. Còn khó vì nếu không có tâm trong sáng, không có chí hướng, không có nghị lực, không có lòng yêu thương con người thật sự thì không thể làm theo Bác Hồ được.

Xã hội ngày nay đã phát triển hơn nhiều so với thời kỳ đất nước trong chiến tranh và bao cấp, mức sống chung của người dân đã được nâng lên rõ rệt. Nên dù không cần phải đi dép cao-su, mang cơm nắm khi đi công tác như Bác Hồ, thì mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta cũng không nên lãng phí, xa hoa, tiệc tùng, tiêu hoang công sản khi thi hành nhiệm vụ, gây phản cảm cho dư luận và tạo dựng hình ảnh xấu trong nhân dân. Vì vậy, thiết nghĩ để việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thật sự có kết quả thì mỗi chúng ta đều phải tự giác, tích cực điều chỉnh từ cách sống tiết kiệm và giản dị hàng ngày.

Theo Bùi Kim Hồng
Giám đốc Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Đồng chí Phạm Văn Đồng – Tấm gương tiêu biểu nghiên cứu và thực hành đạo đức Hồ Chí Minh

Nét đặc sắc nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Phạm Văn Đồng là luôn được tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chiếu sáng. Vì vậy, Phạm Văn Đồng sớm trở thành người học trò xuất sắc – gần gũi, người đồng chí chiến đấu của Hồ Chí Minh, được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho nhiều trọng trách: 41 năm là Uỷ viên Trung ương Đảng, 35 năm là Uỷ viên Bộ Chính trị, 32 năm là Thủ tướng Chính phủ, 10 năm là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Về phần mình, Phạm Văn Đồng đã hoàn thành tốt những trọng trách đó…

1. Nửa đầu những năm 20 thế kỷ trước, Phạm Văn Đồng cũng như nhiều thanh niên trí thức trong nước bí mật tìm đọc những tài liệu của Nguyễn Ái Quốc từ nước ngoài truyền về. Anh đã tìm thấy trong đó nhiều điều mới, tiến bộ và mong được gặp gỡ trực tiếp. Và “cơ may” đã đến (theo từ dùng của Phạm Văn Đồng): Cuối năm 1926, Phạm Văn Đồng được cử sang Quảng Châu (Trung Quốc) dự lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc tổ chức và trực tiếp giảng dạy. Từ đó, đến “cơ may” thứ hai là năm 1940 Phạm Văn Đồng cùng Võ Nguyên Giáp sang Côn Minh (Trung Quốc) tìm gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh thì “sức hấp dẫn” của người Thầy dậy lý luận đã gắn bó trọn đời Phạm Văn Đồng với tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tiếp đó, Phạm Văn Đồng được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, được Hồ Chí Minh giao cho nhiệm vụ học tập kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Trung Quốc và sau đó được cử về Cao Bằng xây dựng căn cứ địa cách mạng ở khu Cao Bắc Lạng.
Về phần mình, Hồ Chí Minh sớm thấy phẩm chất cách mạng và sự tin tưởng ở Phạm Văn Đồng. Do đó, liên tục trong gần 30 năm (1940-1969) từ sau lần gặp nhau thứ hai tại Côn Minh đến khi Hồ Chí Minh qua đời, Phạm Văn Đồng luôn luôn được sống bên cạnh Hồ Chí Minh, được sự dìu dắt, đào tạo thành nhà cách mạng chuyên nghiệp. Trong đó 15 năm cuối đời, Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng đã cùng sống sinh hoạt và làm việc trong khu Phủ Chủ tịch. Thời kỳ đầu về tiếp quản Thủ đô, Hồ Chí Minh không ở trong Dinh Toàn quyền mà ở trong ngôi nhà của người thợ điện còn Phạm Văn Đồng ở ngôi nhà của người quản lý Dinh toàn quyền. Hai nhà chỉ cách nhau một sân nhỏ. Hàng ngày hai người thường bàn việc nước, tiếp khách, cùng sinh hoạt. Vì vậy giữa hai con người – hai nhà lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước ta càng có nhiều quan hệ thân thiết. Giữa họ, tình thầy trò, đồng chí hoà quyện vào nhau nên nghĩa tình sâu nặng, đạo lý sống và lý tưởng cách mạng cao cả vì nước vì dân.

Nét đặc sắc nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Phạm Văn Đồng là luôn được tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chiếu sáng. Vì vậy, Phạm Văn Đồng sớm trở thành người học trò xuất sắc – gần gũi, người đồng chí chiến đấu của Hồ Chí Minh, được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho nhiều trọng trách: 41 năm là Uỷ viên Trung ương Đảng, 35 năm là Uỷ viên Bộ Chính trị, 32 năm là Thủ tướng Chính phủ, 10 năm là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Về phần mình, Phạm Văn Đồng đã hoàn thành tốt những trọng trách đó, ngay cả khi Hồ Chí Minh đã đi xa. Đã hơn 40 năm qua, nhưng hình ảnh Phạm Văn Đồng cố kìm nén xúc động trong giờ phút truy điệu, đưa tang người Thầy, người đồng chí chiến đấu gần gũi của mình – Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn hiện lên trước mắt mọi người…

2. Trọn cuộc đời hoạt động cách mạng của Phạm Văn Đồng đã gắn liền với công cuộc giải phóng và xây dựng đất nước ta, là tấm gương tiêu biểu nghiên cứu và thực hành đạo đức Hồ Chí Minh. Điều này không chỉ thể hiện qua hoạt động thực tiễn của Phạm Văn Đồng như vừa phác hoạ trên đây, mà còn được thể hiện khá rõ thông qua những trang viết của Phạm Văn Đồng về Hồ Chí Minh. Vì vậy, ngay sau cách mạng Tháng Tám, nhân dịp ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh 19-5-1948, Phạm Văn Đồng đã có những nhận xét xác thực và khâm phục trong tác phẩm Hồ Chủ tịch, hình ảnh của dân tộc: “Bình sinh Hồ Chủ tịch là người rất giản dị, lão thực. Vĩ nhân, thật vĩ nhân bao giờ cũng giản dị, lão thực…Hồ Chủ tịch là người Việt Nam, Việt Nam hơn người Việt Nam nào hết”(1). Cũng trong tác phẩm này Phạm Văn Đồng còn rút ra 4 bài học ở người thầy của mình là: Học trung với nước, hiếu với dân, đoàn kết toàn dân, học phấn đấu …Và phải học suốt đời cũng không sao học hết được nhưng “Mọi người Việt Nam đều học được Hồ Chủ tịch”.

Đặc biệt từ sau khi Hồ Chí Minh đi xa, Phạm Văn Đồng đã dành nhiều công sức để nghiên cứu cuộc đời, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh vừa để tỏ lòng biết ơn người thầy vừa để thực hành tấm gương đạo đức và góp phần tuyên truyền giáo dục tư tưởng đạo đức của Người cho toàn xã hội. Chỉ 5 năm sau khi Hồ Chí Minh đi xa, Phạm Văn Đồng cho xuất bản tác phẩm “”Hồ Chủ tịch, hình ảnh của dân tộc, tinh hoa của thời đại”. Từ đầu những năm 90, sức khoẻ yếu, đôi mắt nhìn không rõ nữa, nhưng Phạm Văn Đồng vẫn miệt mài nghiên cứu Hồ Chí Minh.

Đồng chí Nguyễn Tiến Năng nguyên trợ lý cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cho biết: Nhiều khách quốc tế cũng như đồng chí trong nước trong những lần thăm, làm việc đã đề nghị Thủ tướng viết Hồi ký để người đọc biết thêm về cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí qua các thời kỳ cách mạng. Câu trả lời chung là: “Viết hồi ký thường đụng chạm đến người này, người nọ và thông thường là đề cao “cái tôi” của mình hơn mọi người, hơn cả tập thể. Tôi không viết hồi ký mà chỉ tập trung viết về Bác Hồ. Nhưng viết về Bác là điều cực kỳ khó bởi người ta (cả trong nước và ngoài nước) đã viết hàng trăm cuốn sách về Bác, vậy mình viết cái gì và viết như thế nào, thật không dễ”(2). Biết vậy nhưng Phạm Văn Đồng vẫn vượt khó viết về người thầy, người đồng chí gần gũi – lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Trong khoảng thời gian chưa đầy một thập niên, Phạm Văn Đồng đã dành tâm lực nghiên cứu và cho xuất bản hàng loạt công trình về Hồ Chí Minh. Đó là “Hồ Chí Minh, một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp”(1990), “Hồ Chí Minh, quá khứ, hiện tại, tương lai” (1991), “Hồ Chí Minh và con người Việt Nam trên con đường dân giàu nước mạnh” (1993), “Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh” (1998)… Bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau, thông qua những hoạt động lý luận và thực tiễn sinh động trong quá trình tiếp nhận sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh và trên cương vị một đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước trong nhiều năm, Phạm Văn Đồng trong các tác phẩm nêu trên đã minh chứng đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh và vai trò quan trọng tư tưởng và tấm gương đạo đức của Người trong suốt tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc trước kia và trong công cuộc đổi mới hiện nay. Phạm Văn Đồng đánh giá cao sự nhạy bén về chính trị, tính cách mạng sâu sắc và giá trị to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với công cuộc xây dựng và chấn hưng đất nước ngày nay. Khó có thể phân tích, đánh giá hết những luận điểm khoa học, những giá trị to lớn các công trình nghiên cứu của Phạm Văn Đồng về Hồ Chí Minh. Vì đó là sự nghiên cứu khoa học sâu sắc, với những trải nghiệm của một nhân chứng lịch sử, một nhà lãnh đạo cao cấp, một nhà văn hoá lớn của dân tộc. Ở đây, chỉ xin được nêu ra một vài nhận xét đánh giá nhằm minh hoạ một phần giá trị của những công trình nghiên cứu ấy. Chẳng hạn, trong tác phẩm “Hồ Chí Minh, một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp”, Phạm Văn Đồng đã lý giải sâu sắc về mối quan hệ giữa Hồ Chí Minh và tư tưởng của Người với thời đại, với công cuộc giải phóng dân tộc mình: “Một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp, bốn nhân tố ấy kết hợp và hoà nhập vào nhau, tạo thành sự vận động của lịch sử, bắt đầu từ một con người, thông qua một dân tộc và một thời đại, cuối cùng đưa đến một sự nghiệp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Đó là điều Hồ Chí Minh tìm kiếm lúc rời nước ra đi, ấp ủ lúc trở về, tâm niệm suốt cuộc đời, cho đến những lời trong Di chúc”(3). Những luận điểm chính Phạm Văn Đồng thấm nhuần sâu sắc tư tưởng và những kinh nghiệm của Hồ Chí Minh – người thày dạy lý luận của mình: “Chủ nghĩa xã hội theo đặc điểm Việt Nam là sự kết thúc thắng lợi hành trình lịch sử của dân tộc mà Hồ Chí Minh đã vạch ra từ đầu thế kỷ”(4). Theo gương Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng tiếp tục khẳng định nội dung cách mạng và tính sáng tạo trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin: “Chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là tín điều, mà là lý luận và phương pháp luận về sự phát triển có quy luật của thiên nhiên, xã hội và con người, sự phát triển ấy luôn luôn biến hoá một cách biện chứng, từ đó lý luận và phương pháp luận cũng chuyển động sáng tạo, không ngừng phong phú và giàu sức sống mới, theo những bước tiến triển của lịch sử và sự nghiệp cách mạng của con người(5)”.

Trong “Hồ Chí Minh và con người Việt Nam trên con đường dân giàu nước mạnh”, Phạm Văn Đồng tập trung nghiên cứu Hồ Chí Minh về con người, đặc biệt về “con người Việt Nam trong lịch sử Việt Nam” và “Hồ Chí Minh và con người Việt Nam”. Trong hầu hết các trang viết của tác phẩm này Phạm Văn Đồng quán triệt sâu sắc sự quan tâm của Hồ Chí Minh về nỗi thống khổ của người dân Việt Nam nô lệ và những biện pháp, tư tưởng của Hồ Chí Minh để giải phóng toàn diện con người Việt Nam khỏi ách áp bức dân tộc, giai cấp để con người Việt Nam được hưởng quyền dân sinh, dân trí, dân chủ (6). Hơn thế, theo Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh không chỉ tìm con đường giải phóng cho con người Việt Nam mà còn giải phóng cho con người nước khác(7). Từ đó, Phạm Văn Đồng khái quát về quá trình hình thành con người Hồ Chí Minh và nêu ra một cách tiếp cận rất khoa học và tổng quát về con người và tư tưởng Hồ Chí Minh: “Sự hình thành con người Hồ Chí Minh là một quá trình trải dài suốt đời hoạt động của Hồ Chí Minh. Về tư tưởng Hồ Chí Minh, tôi có nói đó là sự kết hợp hài hoà giữa 3 nguồn: truyền thống dân tộc Việt Nam, chủ nghĩa Mác-Lênin và thành quả nhiều học thuyết xưa nay ở Đông Tây. Tư tưởng Hồ Chí Minh nói gộp lại, đó là tư tưởng, tình cảm, đạo đức, phẩm chất và phong cách, tất cả trở thành con người Hồ Chí Minh, biểu hiện trong mọi cử chỉ và hành động, lời nói và việc làm, ứng xử trong mọi tình huống(8). Từ đó, Phạm Văn Đồng chỉ ra mối quan hệ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với công cuộc đổi mới hiện nay: “Cơ sở lý luận và phương pháp luận của sự nghiệp đổi mới là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”(9). Điều này góp phần khẳng định vai trò nền tảng của tư tưởng Hồ Chí Mimh (cùng với chủ nghĩa Mác- Lênin) trong các văn kiện của Đảng ta.

Những công trình nghiên cứu cuối đời của Phạm Văn Đồng về Hồ Chí Minh thực hiện với sự giúp đỡ nghe đọc và ghi chép của các đồng chí thư ký giúp việc. Tuy nhiên, những công trình ấy lại có nội dung khoa học, mang tính tổng kết sâu sắc, gắn bó chặt chẽ của sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh với cuộc sống hôm nay. Trong đó, công trình “Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh” được hoàn thành và xuất bản năm 1998 có một vị trí đặc biệt trong quá trình nghiên cứu của Phạm Văn Đồng về Hồ Chí Minh và tư tưởng của Người. Ngoài phần phụ lục “Hồ Chí Minh và truyền thống dân tộc”(trích từ Văn hoá và đổi mới), “Hồ Chí Minh và cuộc sống”, “Hồ Chí Minh về đạo đức” và “Hồ Chí Minh và các tầng lớp nhân dân” (trích từ: Hồ Chí Minh, quá khứ, hiện tại, tương lai), trong tác phẩm này, Phạm Văn Đồng đã tổng kết những hiểu biết mới nhất của mình và của xã hội về: Quá trình hình thành và nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh, Phương pháp luận và phong cách Hồ Chí Minh và mối quan hệ của những bài học kinh nghiệm, vai trò quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh với công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng ta hiện nay. Điều đặc biệt trong tác phẩm này, một lần nữa Phạm Văn Đồng lại lý giải thêm nội hàm tư tưởng Hồ Chí Minh: “Đó là lý luận và thực tiễn của cách mạng Việt Nam mà nột dung chủ yếu là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nó là sự vận dụng sáng tạo và có phát triển học thuyết Mác-Lênin trong hoàn cảnh Việt Nam, một nước thuộc địa và phong kiến từ đầu thế kỷ đến nay và mai sau.”(10). Và từ đó Phạm Văn Đồng chỉ ra cho chúng ta thấy rõ hơn sự cần thiết phải học tập và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước: “Chính vì lẽ đó mà chúng ta phải nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, một công trình nghiên cứu không chỉ để hiểu biết và đánh giá tư tưởng Hồ Chí Minh mà điều quan trọng hơn là vận dụng một cách sáng tạo nhằm đóng góp vào quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam”(11).

Nội dung thứ hai trong tác phẩm này là Phạm Văn Đồng quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, về dân tộc. Phạm Văn Đồng nhấn mạnh: “Rút lại tư tưởng Hồ Chí Minh luôn luôn xuất phát từ con người và cuối cùng trở về con người với những khả năng thiên biến vạn hoá của nó”(15) và: “Hồ Chí Minh luôn luôn bắt đầu từ con người, từ nhân dân, từ dân tộc để cuối cùng trở về con người, nhân dân và dân tộc, đó là điểm xuất phát đồng thời cũng là mục tiêu cuối cùng của cách mạng”(12).

Không chỉ nghiên cứu và viết về Hồ Chí Minh, trong những năm cuối đời Phạm Văn Đồng còn nhiều bài viết đề cập đến đời sống nhân dân, gìn giữ sự đoàn kết và thắt chặt quan hệ giữa Đảng với nhân dân, những trăn trở trước những biểu hiện suy thoái, biến chất của một bộ phận cán bộ đảng viên…Chỉ 1 năm trước khi đi xa, Phạm Văn Đồng còn viết bài báo: Nêu cao danh hiệu Đảng Cộng sản Việt Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam nhân ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phạm Văn Đồng đã bày tỏ sự vui mừng, phấn khởi trước những thành tựu to lớn dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự lo âu trước những tiêu cực đang nảy sinh trong xã hội; đặc biệt ở một bộ phận đảng viên, những người có chức quyền đang biến chất. Theo đồng chí, cần phải tiếp tục chỉnh đốn Đảng ngang tầm với nhiệm vụ và xứng đáng với Đảng của Hồ Chí Minh. Ở đây, một lần nữa xin được khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc những nghiên cứu của Phạm Văn Đồng về Hồ Chí Minh, về Đảng Cộng sản Việt Nam và xin được khâm phục và ngợi ca cuộc đời một con người suốt đời sống và chiến đấu với lý tưởng của Đảng, trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh và là tấm gương tiêu biểu nghiên cứu và thực hành đạo đức Hồ Chí Minh.

Trong các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, không chỉ có Phạm Văn Đồng viết nhiều và học tập tốt tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Song có thể nói, Phạm Văn Đồng là người có sớm (13) và nhiều công trình nghiên cứu về Con người, Tư tưởng và Đạo đức Hồ Chí Minh. Đó là những trang viết hay, có hàm lượng khoa học cao và tính chính trị sắc bén thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh. Bởi lẽ Phạm Văn Đồng là nhà nghiên cứu, nhà văn hoá và là học trò xuất sắc – người đồng chí chiến đấu trung thành của Hồ Chí Minh kính yêu. Và vì vậy, Phạm Văn Đồng còn là tấm gương tiêu biểu trong việc nghiên cứu và thực hành tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh.

Đồng chí Phạm Văn Đồng là bậc lão thành, trường thọ. Ông là một trong những nhà lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước ta, là học trò xuất sắc và gần gũi, người đồng chí chiến đấu rất mực trung thành của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vì vậy, những kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Đồng về Hồ Chí Minh và tấm gương thực hành tư tưởng đạo đức của Đồng chí được phản ảnh trong các tác phẩm trên đây không chỉ là những công trình nghiên cứu khoa học có giá trị, tổng kết những trải nghiệm cuộc đời, những phát hiện mới về mối quan hệ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với công cuộc đổi mới hiện nay mà còn là lời nhắn gửi – một thông điệp đối với chúng ta trong việc đẩy mạnh việc học tập nghiên cứu và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào các lĩnh vực của đời sống xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế hiện nay./.

———————————–

(1) Điếu văn đọc tại Lễ truy điệu đồng chí Phạm Văn Đồng, ngày 6-5-2000
(2) Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: Đồng chí Phạm Văn Đồng với cách mạng Việt Nam, Nxb. Lý luận chính trị, H.2006, tr.225
(3) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh, một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp, Nxb. ST, H.1990, tr.39
(4) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh, một con người…Sdd. tr.85
(5) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh, một con người…Sdd. tr.81-82
(6) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh và con người Việt Nam trên con đường dân giàu nước mạnh, Nxb.CTQG, H.1993,tr.50-60
(7) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh và con người Việt Nam…Sdd, tr.116
(8) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh và con người Việt Nam…Sdd, tr.117
(9) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh và con người Việt Nam…Sdd, tr.35
(10) , Phạm Văn Đồng: Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh,Nxb.CTQG,H.1998, tr.23
(11) Phạm Văn Đồng: Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh, Sdd, tr.87
(12) Phạm Văn Đồng: Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh, Sdd, tr.94
(13) Theo chúng tôi biết, Bài báo đầu tiên viết về Hồ Chí Minh là bài:” Kính chúc Hồ Chủ tịch sống lâu muôn tuổi” của Đồng chí Trường Chinh đăng trên báo Nhân Dân số đầu tiên

Theo PGS.TS Lê Văn Tích
Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn