Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Chủ tịch Hồ Chí Minh và báo chí

ba ho doc bao nd

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem báo chí là vũ khí, là tiền đồn của mặt trận tư tưởng mà những người cách mạng cần phải nắm giữ và sử dụng có hiệu quả trong hoạt động đấu tranh cách mạng.

Trong hoạt động đấu tranh để giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng báo chí như một công cụ sắc bén chống lại những âm mưu của chủ nghĩa thực dân đối với các dân tộc thuộc địa, lấy báo chí làm điểm gắn kết các dân tộc cần lao lại với nhau nhằm tạo sức mạnh to lớn làm nên thắng lợi, đồng thời với quá trình đó Hồ Chí Minh cũng trở thành một nhà báo xuất sắc của nền báo chí cách mạng Việt Nam nói riêng và báo chí vô sản nói chung. Trong hoạt động sáng tạo báo chí của mình, Hồ Chí Minh cũng đồng thời đã hình thành những quan điểm sâu sắc về vị trí, vai trò, bản chất và đặc trưng của báo chí và đặc biệt là quan điểm về xây dựng đạo đức của đội ngũ nhà báo.

Báo chí Việt Nam ra đời muộn, lại phát triển trong hoàn cảnh đặc biệt khi bị sự áp bức của chế độ thực dân nửa phong kiến. Báo chí giai đoạn này chia làm hai chiến tuyến. Một bên là nền báo chí phản động được sự ủng hộ của thực dân đã dùng ngòi bút phản động để “ru ngủ”, “nhồi sọ” nhân dân và chống phá các tư tưởng cách mạng. Chính phủ Pháp cũng giành luôn lấy “Cái quyền hạn bỉ ổi chỉ cho phép xuất bản những loại nào ca ngợi mình và sau khi đã có kiểm duyệt. Chính phủ lợi dụng cái độc quyền ấy để lập ra những tờ báo tiếng Việt theo ý mình, được hưởng trợ cấp bí mật của Nhà nước và chuyên việc làm quảng cáo tuyên truyền cho chính phủ và thường kỳ viết những bài phỉnh nịnh các quan trên có thế lực ở thuộc địa”[1].

Ở phía bên kia chiến tuyến là những tờ báo cách mạng (mặc dù rất ít) nhưng cũng đã bước đầu khuyến khích được những tư tưởng yêu nước, thương dân, truyền bá những giá trị mới từ bên ngoài vào và tích cực đấu tranh chống lại chủ nghĩa thực dân và phong kiến, những tờ báo này là ngọn cờ đấu tranh với kẻ địch trên lĩnh vực chính trị tư tưởng, thức tỉnh lòng yêu nước và chí khí tự hào của dân tộc. Tuy nhiên phải hoạt động trong điều kiện vô cùng khó khăn, bị cấm đoán, đình bản, đóng cửa và những người làm báo lúc nào cũng có thể đeo vào cổ án tù…

Trong quá trình tìm đường cứu nước, nghiên cứu về những giá trị của phương Tây, Hồ Chí Minh đã nhận thấy sức mạnh to lớn của báo chí trên mặt trận văn hóa tư tưởng. Hồ Chí Minh là một trong những người Việt Nam đầu tiên viết báo trên đất Pháp. Việc viết báo của Người là cả một quá trình rèn luyện, từ chỗ chỉ bắt đầu bằng những mẩu tin năm ba dòng, với những việc rất nhỏ rồi dần dần viết dài ra, đến khi đã viết được dài rồi, người ta lại yêu cầu Bác phải thu ngắn lại, càng cô đọng, càng súc tích càng tốt, dùng được càng nhiều những từ “đắt” nghĩa càng tốt, đó là một việc làm rất khó khăn khi mà trình độ ngoại ngữ của Người lúc đó vẫn còn nhiều hạn chế.

Tài năng viết báo của Hồ Chí Minh đồng hành với quá trình đấu tranh cho cách mạng Việt Nam, Người đã lấy báo chí làm vũ khí lý luận của mình và coi báo chí là một mặt trận vô cùng quan trọng, mặt trận văn hóa tư tưởng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trên mặt trận đó, Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng, cây bút trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”[2]. Trách nhiệm của nhà báo là định hướng và bảo vệ tư tưởng của đảng trong cán bộ và quần chúng nhân dân. Hồ Chí Minh cho rằng “một tờ báo có ảnh hưởng trong dân chúng rất mạnh, có thể giúp chính phủ rất nhiều”[3].

Trong sự nghiệp chấn hưng dân tộc, báo chí cũng là một mặt trận đấu tranh để “phò chính trừ tà”, tuyên truyền những giá trị tốt đẹp của chế độ mới, giáo dục đạo đức trong quần chúng nhân dân, đồng thời đi đôi với đấu tranh chống lại những tật bệnh trong xã hội như tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu mà nguồn gốc sâu xa chính là do chủ nghĩa cá nhân sinh ra. Đi đôi với đấu tranh chống cái xấu, báo chí phải tuyên truyền những tấm gương người tốt, việc tốt trong xã hội để mọi người học hỏi, Hồ Chí Minh cho rằng: “Báo chí phải khuyến khích những người tốt, việc tốt và thẳng thắn phê bình những điều xấu như: Lười biếng, tham ô, lãng phí, quan liêu. Đó là một việc làm rất cần thiết”[4], thắng lợi trên mặt trận này sẽ góp phần to lớn vào sự nghiệp cách mạng chung của cả dân tộc trên con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

● Hồ Chí Minh – Người khai sinh nền báo chí cách mạng Việt Nam

Với vai trò là người sáng lập, Hồ Chí Minh đã trực tiếp cho ra đời 9 tờ báo cách mạng, đó là: Người Cùng Khổ (1922); Quốc Tế Nông Dân (1924); Thanh Niên (1925); Công Nông (1925); Lính Kách Mệnh (1927); Việt Nam Tiền Phong (1927); Thân Ái (1928); Đỏ (1929); Việt Nam Độc Lập (1941); Cứu Quốc (1942). Ngoài ra Người còn đóng góp hàng nghìn bài viết trên các tờ báo của Việt Nam cũng như quốc tế. Từ bài báo đầu tiên cho đến những tác phẩm cuối cùng, với vai trò là người sáng lập cũng như quản lý báo chí, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều thực hiện đúng như tôn chỉ cầm bút của mình mà Người từng chia sẻ đó là đấu tranh cho độc lập dân tộc, cho tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

Theo thống kê, Chủ tịch Hồ Chí Minh có hơn 170 tên gọi, bút danh và bí danh[5] thì 2/3 những tên gọi trong số đó được người sử dụng trong các tác phẩm báo chí của mình. Từ tác phẩm đầu tay Vấn đề dân bản xứ (đúng với tính cách một bài báo)[6] được đăng trên Báo Nhân Đạo (L’Humanité) ngày 2.8.1919 nhằm đòi những quyền dân tộc cơ bản cho dân tộc Việt Nam và lên án những chính sách cai trị, những thủ đoạn áp bức bóc lột cực kỳ dã man, tàn bạo của thực dân Pháp cho đến tác phẩm cuối cùng Thư trả lời Tổng thống Mỹ Risớt M. Níchxơn được Người đề ngày 25.8.1969 và đăng trên Báo Nhân Dân số 5684, ngày 7.11.1969 thì chúng ta thấy rằng, Hồ Chí Minh đã làm báo cả cuộc đời và đã để lại hơn 2.000 bài báo các loại, gần 300 bài thơ và gần 500 trang truyện và ký.

Hồ Chí Minh – Tấm gương đạo đức báo chí

Chủ tịch Hồ Chí Minh ví đạo đức giống như gốc của cây và ngọn nguồn của sông suối “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”[7]. Đạo đức của người làm báo phải thể hiện trước hết ở bản lĩnh chính trị vững vàng, lập trường tư tưởng kiên định. Theo Người, báo chí phản ánh đời sống nhân dân, phản ánh sự nghiệp cách mạng của dân tộc vì vậy, không lúc nào người làm báo được quên trách nhiệm của mình với Đảng, với dân. Nhà báo chính là những chiến sĩ cách mạng trên mặt trận văn hóa tư tưởng, cho nên phải không ngừng “trau dồi tư tưởng nghiệp vụ và văn hóa; chú trọng học tập chính trị để nắm vững chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ; đi sâu vào thực tế, đi sâu vào quần chúng lao động”[8].

Đạo đức của nhà báo phải được thể hiện thông qua những tác phẩm báo chí của mình. Đó phải là những tác phẩm có hình thức đẹp, nội dung phong phú, giá trị chân thật. Mà để làm được điều đó theo Hồ Chí Minh nhà báo phải trả lời được những câu hỏi: Tác phẩm của của mình viết ra để cho ai xem? Tác phẩm viết để làm gì? Tác phẩm viết cái gì? Tác phẩm viết như thế nào? Câu trả lời theo Hồ Chí Minh đó chính là vì nhân dân, vì sự nghiệp chung của toàn dân tộc Việt Nam, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, chỉ khi hướng đến cái đích đó báo chí mới khẳng định được vị thế của mình trong nhân dân, được nhân dân truyền tụng và ca ngợi.

Báo chí cũng phải là tấm gương của tự phê bình và phê bình, bản thân báo chí là cơ quan phản ánh, có trách nhiệm phê bình những những thói hư, tật xấu trong xã hội, Người căn dặn: “Viết để nêu những cái hay, cái tốt của dân ta, của bộ đội ta, của cán bộ ta, của bạn ta. Đồng thời để phê bình những khuyết điểm của chúng ta, của cán bộ, của nhân dân, của bộ đội. Không nên chỉ viết cái tốt mà giấu cái xấu”[9], nhưng muốn làm được điều đó thì trước tiên nhà báo phải tự phê bình bản thân mình đã, mình có hay, có tốt, có đẹp mới đi nói và viết về người khác được, nếu tự bản thân mình đã “hủ hóa, xấu xa” thì còn ai tin vào bài viết, tin vào tác phẩm của mình nữa. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu: “Các báo cũng cần khuyến khích quần chúng giúp ý kiến và phê bình báo mình để tiến bộ mãi”[10].

Đối với hoạt động sáng tạo báo chí, Người đặc biệt lưu ý các nhà báo phải có sự chân thật, khách quan đối với từng con người, từng sự việc trong tác phẩm của mình, phải tránh tư tưởng ba hoa, nói không có sách, mách không có chứng, những gì không biết, không được nghe hoặc nhìn thấy cụ thể thì “chớ nói, chớ viết”.

Hiện nay, chúng ta đang thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, báo chí phải thấy rõ trách nhiệm của mình trong cuộc vận động này, đó là phải tuyên truyền những giá trị đạo đức tốt đẹp mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta, báo chí phải trở thành kênh thông tin để không những giáo dục cho nhân dân học tập mà còn phải giúp nhân dân làm theo, phải khuyến khích những tấm gương người tốt, việc tốt, những điển hình tiên tiến trong nhân dân. Phải tuyên truyền phê phán, lên án những thói hư, tật xấu, những tật bệnh trong xã hội… cùng với đó tự bản thân các nhà báo và những người hoạt động báo chí hãy trở thành một tấm gương về đạo đức.

Đào Anh Tuấn

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 1, tr. 19
[2]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 13, tr. 466
[3] Trần Đương: Chủ tịch Hồ Chí Minh với báo chí cách mạng Việt Nam, Nxb Thông Tấn, Hà Nội, 2004, tr.114
[4]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 13, tr.391-392
[5] Theo Bảo tàng Hồ Chí Minh: Những tên gọi, bút danh, bí danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2007
[6] Trước khi bài vấn đề dân bản xứ được đăng trên báo cũng đã có 1 số tác phẩm khác của Nguyễn Ái Quốc như: Quyền của các dân tộc thuộc địa, Tâm địa thực dân được đăng nhưng với tư cách một bài báo thực sự thì đây có thể coi là tác phẩm đầu tay của Nguyễn Ái Quốc
[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2011, tập 5, tr. 292
[8]Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2011, tập 13, tr. 466
[9]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 8, tr. 206
[10] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 13, tr. 464

Theo nguoilambao.vn
Vkyno (st)

Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong cán bộ, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015

Ban Thường vụ Hội Nhà báo Việt Nam ban hành Kế hoạch số 226/KH-HNBVN về việc đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong cán bộ, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015. Sau khi được nghiên cứu, quán triệt, nhiều Hội xây dựng chương trình hành động chung và hội viên cũng đăng ký thực hiện theo chỉ tiêu riêng của từng hội viên.

Ở Trung ương, các Liên chi hội, Chi hội trực thuộc, ngoài việc xây dựng, phổ biến nội dung các văn bản đến cán bộ, hội viên và tổ chức học tập các chuyên đề, còn xây dựng Bộ Quy tắc tác nghiệp nhằm hoàn thiện chuẩn mực đạo đức của những người làm báo trong Đài theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phù hợp với đặc thù hoạt động của đơn vị, gắn với quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam.

Ở địa phương, Hội Nhà báo các tỉnh, thành phố phối hợp với Ban Tuyên giáo và các cơ quan báo chí căn cứ Kế hoạch 03-KH/TW của Ban Bí thư và các văn bản hướng dẫn của các cơ quan Trung ương, các tỉnh, thành ủy và Kế hoạch số 226/KH-HNBVN xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện. Nhiều Hội có văn bản hướng dẫn đến Chi hội tổ chức cho cán bộ, hội viên gắn việc học tập, nghiên cứu, quán triệt và thực hiện tại đơn vị với nhiệm vụ chính trị của của Hội và của từng cơ quan báo chí, từng hội viên có ý thức trách nhiệm cao trước công việc, trong đó hội viên là đảng viên phải thể hiện tính tiên phong, luôn đi đầu đảm nhận những công việc khó, ủng hộ cách làm mới, thực hành tiết kiệm, không lãng phí, không quan liêu.

Các cơ quan báo chí trung ương và địa phương đã sáng tạo hàng nghìn tác phẩm về chủ đề học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đăng phát trên các phương tiện thông tin đại chúng. Các tác phẩm tập trung ca ngợi, làm nổi bật tư tưởng, đạo đức, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, phản ánh sinh động việc tổ chức thực hiện “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” ở các địa phương, tổ chức đảng, các tổ chức đoàn thể và nhân dân trong cả nước; biểu dương những đơn vị, địa phương làm tốt, phê bình những nơi làm chưa tốt; giới thiệu những kinh nghiệm tổ chức tốt việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Phát hiện, nêu gương, nhân rộng những nhân tố mới, điển hình tiên tiến trong quá trình thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng – an ninh, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Các cấp Hội lựa chọn hơn 300 tác phẩm gửi về dự thi Giải thưởng về sáng tạo sáng tạo, quảng bá tác phẩm báo chí viết về chủ đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để Hội Nhà báo Việt Nam thẩm định.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt làm được, vẫn còn nhiều Hội chưa chỉ đạo các Chi hội trực thuộc xây dựng được chương trình, nội dung cụ thể cho hội viên. Việc kiểm tra, theo dõi việc “làm theo” ở một số hội viên, nhà báo chưa được thường xuyên, liên tục và chưa trở thành hành động tự giác, phong trào chưa rộng khắp, một số ít các nhà báo chưa xem việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là việc làm hàng ngày của mình. Việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức của Bác trong các Liên chi hội, Chi hội cũng còn một số mặt hạn chế. Việc xác định mục tiêu đối với việc học tập và làm theo Bác ở nhiều đơn vị còn chung chung, trừu tượng, khó có cơ sở để đánh giá, kiểm tra mức độ đạt được ở mức nào.

Theo nguoilambao.vn
Vkyno (st)

Bác Hồ với báo chí cách mạng Việt Nam (Bài 5)

Từ ngày Báo Thanh niên ra số đầu tiên đến tháng 8-1945, trong vòng 20 năm, hoạt động báo chí nước ta luôn gắn liền với cuộc vận động cách mạng của nhân dân. Sau bao năm bôn ba ở nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về nước và sáng lập tờ Việt Nam độc lập, nhằm kêu gọi nhân dân đoàn kết đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp.

Hàng loạt tờ báo, tạp chí khác cũng được thành lập như Cứu quốc, Cờ giải phóng, Tạp chí Cộng sản và nhiều tờ báo ở các địa phương đã góp phần tuyên truyền đường lối cứu nước trong cán bộ, nhân dân.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, báo chí cách mạng được Đảng trao cho sứ mệnh là người tiên phong trong việc tuyên truyền, giáo dục về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, phản ánh thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với quan điểm xuyên suốt: độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Đây cũng là mục tiêu, là tiêu chí quy định chức năng, nhiệm vụ; đồng thời cũng là môi trường phát triển của nền báo chí nước nhà.

Với Bác Hồ, mặc dù bận rất nhiều công việc của một vị Chủ tịch nước, nhưng Người vẫn luôn quan tâm đến sự phát triển của nền báo chí cách mạng. Nói về mục tiêu của báo chí cách mạng, trong phát biểu tại Đại hội Hội Nhà báo Việt Nam lần thứ II (4-1959), Người chỉ rõ: “Về nội dung viết, mà các cô các chú gọi là đề tài thì tất cả những bài Bác viết chỉ có một đề tài là chống thực dân, đế quốc, chống phong kiến, địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Duyên nợ của Bác đối với báo chí là như vậy đó”.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ đã viết khoảng 2000 bài báo, tác phẩm với nhiều thể loại, và được ký bằng 174 tên gọi, bí danh và bút danh khác nhau. Đó là những tác phẩm lý luận quan trọng, là cẩm nang chỉ đường cho Đảng và nhân dân ta trong các giai đoạn cách mạng.

Ảnh tư liệu

Theo Người, giữa cách mạng và báo chí có sự thống nhất hữu cơ, bởi vì “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Đối với một vấn đề, mọi người bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó, quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý. Chân lýlà cái gìcó lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý”. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, chân lý là Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là đích phấn đấu của báo chí cách mạng Việt Nam trong suốt 80 năm qua.

Để thực hiện được chân lý đó, Người khẳng định: “Phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho nên, các báo chí của ta đều phải có đường lối chính trị đúng”. Tính tư tưởng cao của báo chí suy cho cùng chính là điều này.

Xuất phát từ mục đích hoạt động của nền báo chí cách mạng là vì dân và từ vai trò to lớn của báo chí đối với xã hội, Người nhắc nhở những người làm báo: “Không biết rõ, hiểu rõ, chớ nói, chớ viết. Khi không có gì cần nói, không có gì cần viết, chớ nói, chớ viết càn”. Để báo chí luôn là diễn đàn của nhân dân, Người khẳng định: “Một tờ báo không được đại đa số (dân chúng) ham muốn thì không xứng đáng là một tờ báo”, và “không riêng gì viết sách, viết báo, mà công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân”.

Cũng là để bảo vệ quyền lợi của nhân dân, nên với Hồ Chí Minh, báo chí không chỉ là người tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể, tổ chức tập thể; mà còn là vũ khí sắc bén chống lại mọi biểu hiện phản động, tiêu cực đi ngược lại quyền lợi của nhân dân, của đất nước; báo chí là công cụ đấu tranh xã hội, đấu tranhdân tộc và đấu tranh giai cấp. Trong bức điện gửi Hội Nhà báo Á Phi (ngày 24-4-1965), Người viết: “Đối với những người viết báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng”. Với đội ngũ các nhà báo nước ta Người nhắc nhở: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sỹ cách mạng, cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén”, “ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà”, “cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu”.

Trong cách thể hiện, Người cho rằng, để báo chí hoàn thành sứ mệnh là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và quần chúng; là cầu nối giữa các quốc gia,là phương tiện để các cộng đồng hiểu biết nhau hơn, “cho nên, làm báo phải hết sức cẩn thận về hình thức, về nội dung, về cách viết”. Theo tư tưởng đó, Đảng ta khẳng định: báo chí, một mặt phải chủ động, sáng tạo “làm tốt công tác thông tin đối ngoại, giúp cho cộng đồng quốc tế, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có thông tin kịp thời, đúng đắn về tình hình đất nước, tranh thủ sự đồng tình của nhân dân ta”. Mặt khác “không ngừng nâng cao chất lượng chính trị, văn hóa, khoa học công nghệ, nghề nghiệp, từng bước hiện đại hóa”.

Có thể nói, với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hơn 80 năm qua báo chí cách mạng Việt Nam đã trưởng thành vượt bậc cả về số lượng và chất lượng, nội dung và hình thức; cũng như sự lớn mạnh chưa từng có của đội ngũ những người làm báo. Đặc biệt, trong gần 20 năm đổi mới, báo chí nước ta đã đi đầu trong việc định hướng tư tưởng, góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội, tích cực đấu tranh chống tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; là một trong những động lực trực tiếp tham gia và thúc đẩy sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Theo Hà Nội Mới
Vkyno (st)


Tin bài liên quan

Bác Hồ với báo chí cách mạng Việt Nam
Bác Hồ với Báo chí cách mạng Việt Nam (Bài 2)
Bác Hồ với báo chí cách mạng Việt Nam (Bài 3)
Bác Hồ với báo chí cách mạng Việt Nam (Bài 4)

Báo chí cách mạng Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Báo chí cách mạng Việt Nam ra đời trong hoàn cảnh đất nước bị xâm lược, rơi vào cảnh đen tối, nhân dân phải chịu bao khổ cực lầm than. Lúc bấy giờ báo chí cách mạng nước ta ra đời với mục đích làm công cụ tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin, giác ngộ những người yêu nước đấu tranh cách mạng đánh đuổi quân xâm lược, giải phóng dân tộc, giành độc lập cho đất nước. Đồng thời, phục vụ mục đích trong sáng và cao cả của Đảng, của sự nghiệp cách mạng, là công cụ để tuyên truyền khơi dậy tinh thần yêu nước của nhân dân ta, biểu dương những cái tốt, người tốt, việc tốt, ngăn chặn và đẩy lùi cái xấu, cái tiêu cực.

ImageBác Hồ viết báo bằng máy đánh chữ. (Ảnh tư liệu)

Nền báo chí cách mạng Việt Nam ra đời đã 88 năm (21/6/1925 – 21/6/2013), kể từ khi tờ “Báo Thanh Niên” đầu tiên ra đời cho đến nay, những thế hệ nhà báo nước ta đã có nhiều đóng góp quan trọng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước. Và không thể nào quên người đã sáng lập ra nền báo chí cách mạng Việt Nam, cũng là một nhà báo xuất sắc, người thầy vĩ đại của báo chí cách mạng nước ta, đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam, lãnh tụ vĩ đại vô vàn kính yêu của dân tộc ta. Giờ đây, đã 44 năm Bác đã đi xa (từ 1969 đến nay), song những quan điểm, tư tưởng và tấm gương đạo đức sáng ngời của Bác trên từng lĩnh vực mãi luôn in đậm trong lòng dân tộc ta. Cũng như những quan điểm, tư tưởng và lời dạy của Bác về báo chí đến nay vẫn còn nguyên giá trị từ tính chất, nội dung và những nhiệm vụ trong bất kỳ hoàn cảnh nào của mỗi giai đoạn lịch sử đất nước.

Tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Bác ngay từ những ngày đầu ra đi tìm đường cứu nước, Bác rất coi trọng báo chí đối với sự nghiệp cách mạng. Nhìn lại chặng đường hoạt động cách mạng của Bác, lúc bôn ba hải ngoại cũng như khi đặt chân về nước, Bác đã sớm thấy lợi khí cách mạng của báo chí là phương tiện, là vũ khí sắc bén, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp kháng chiến giải phóng cho dân tộc, giành độc lập cho đất nước. Bác đã để lại cho đội ngũ làm báo những bài học sâu sắc và nhớ lại ngày 21/6/1925 tại Quảng Châu (Trung Quốc), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập ra tờ “Báo Thanh niên” – cơ quan của tổ chức Thanh niên Cách mạng Việt Nam. Đây là tờ báo cách mạng Việt Nam đầu tiên do Bác Hồ sáng lập, chỉ đạo và là người biên tập chính. Thời ấy “Báo Thanh Niên” với 88 số, mở ra lớp đào tạo 300 cán bộ đều do Bác Hồ khởi thảo, chủ trì, giảng dạy là sự mở đầu một cuộc cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thời gian đầu báo ra mỗi tuần một kỳ với trên 500 tờ, sau đó do điều kiện khó khăn, báo ra 3 tuần, thậm chí 5 tuần một kỳ. Các tổ chức cách mạng trong nước ta đã dùng tờ báo để tuyên truyền, giác ngộ và giáo dục quần chúng; làm cầu nối truyền thông điệp và truyền ánh sáng tư tưởng cách mạng của Bác về cho dân tộc, góp phần to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước ta.

Bác Hồ là người đã sáng lập ra nền báo cách mạng nước nhà, Bác đặt nền móng, Bác khơi nguồn cho báo chí cách mạng nước nhà phát triển, cũng như Bác tham gia viết báo suốt cả đời làm cách mạng. Những bài báo do Bác viết thật giản dị, dễ hiểu và vô cùng sâu sắc. Bác viết nhiều thể loại: chính luận, tuyên ngôn, tin ngắn, dài, tin bình, trào phúng, ký, hiệu triệu, thơ tự sự, trữ tình… và được ký bằng nhiều tên gọi, bí danh, bút danh khác nhau. Những bài báo Bác viết, được xem đó là những tác phẩm lý luận quan trọng, là cẩm nang chỉ đường cho Đảng và nhân dân ta trong các giai đoạn cách mạng. Bài báo cuối cùng Bác viết: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Một nhà văn hóa nổi tiếng của Liên Xô đã nhận xét: “Nguyễn Ái Quốc là một nhà văn hóa lớn. Phong cách viết báo của Người thường đi thẳng vào đề, làm rõ tư tưởng trung tâm sự kiện bằng ngôn ngữ giản dị, ngắn gọn, ngôn ngữ thông tin đại chúng”.

ImageBác Hồ đọc báo nhân dân. (Ảnh tư liệu)

Quan tâm đặc biệt đến nền báo chí cách mạng nước nhà, tại Đại hội lần thứ II của Hội Nhà báo Việt Nam (16/4/1959), Bác đã chỉ rõ: “Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ”. Với Bác, để báo chí luôn là diễn đàn của nhân dân, phục vụ nhân dân, Bác khẳng định: “Một tờ báo không được đại đa số (dân chúng) ham muốn thì không xứng đáng là một tờ báo” và “Không riêng vì viết sách, viết báo, mà công tác gì muốn làm tốt điều phải coi trọng ý kiến nhân dân”. Bác còn nói với các nhà báo: “Nếu các bạn viết báo mà quần chúng hiểu, quần chúng ham đọc, quần chúng khen hay, thế là các bạn tiến bộ. Trái lại, là các bạn chưa thành công”. Đến Đại hội lần thứ III (8/9/1962), Bác lại nói: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Quan điểm, tư tưởng của Bác để báo chí hoàn thành sứ mệnh là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và quần chúng; là cầu nối để cộng đồng hiểu nhau hơn, để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang đó, Bác đòi hỏi cán bộ báo chí cách mạng phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ hiểu biết chính trị và nhận thức. Chính vì vậy, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Bác viết: “Chúng ta muốn tuyên truyền quần chúng, phải học cách nói của quần chúng mới lọt tai quần chúng”. Bác còn căn dặn: “Viết dài mà rỗng thì không tốt, viết ngắn mà rỗng cũng không hay. Chúng ta phải chống tất cả những thói rỗng tuếch”. Bác cũng từng nhắc nhở: “Phải đặt câu hỏi: Viết cho ai? Viết cho đại đa số Công – Nông – Binh. Viết để làm gì? Để giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình. Để phục vụ quần chúng”. Từ đó, Bác dạy: “Muốn cho người xem hiểu được, nhớ được, làm được thì phải viết cho đúng trình độ của người xem, viết rõ ràng, gọn gàng, chớ dùng chữ nhiều”. Bác phê phán: “Viết ba hoa, dây cà dây muống là hình như để đếm dòng lấy tiền, có những bài nhạt nhẽo thế nào ấy” và Bác chỉ trích: “Có người muốn làm cái gì để lưu danh thiên cổ. Muốn viết bài cho oai, muốn đăng bài mình lên các báo lớn. Cái đó cũng không đúng, những khuyết điểm đó đều do chủ nghĩa cá nhân đẻ ra”. Bác nhắc nhở đội ngũ nhà báo phải cẩn thận: “Không biết rõ, hiểu rõ, chớ nói, chớ viết, chớ viết càn. Khi viết xong một bài báo, một bản báo cáo, hoặc thảo một bài diễn văn, nhất định phải đọc đi đọc lại vài lần. Mình tự phê bình bài của mình, hỏi ý kiến đồng chí khác. Những câu, những chữ thừa vô ích bỏ đi”; “Viết phải thiết thực”; “Nói có sách, mách có chứng”…

Nhớ đến công ơn, công lao trời biển của Bác, thế hệ những người làm báo nước ta đã tích cực rèn luyện, mài giũa ngòi bút, tự trau dồi và nâng cao cho mình bản lĩnh chính trị, bản lĩnh nghề nghiệp, tác phong, đạo đức của người làm báo cách mạng, để xứng đáng là học trò của Bác và yêu cầu nhiệm vụ mới đang đặt ra. Nhất là trong thời đại ngày nay, thời kỳ của sự hội nhập báo chí nước ta với báo chí quốc tế là một bước ngoặt không thể quên được. Hơn bao giờ hết, đội ngũ nhà báo cả nước nói chung và Bến Tre nói riêng, cần bản lĩnh khẳng định rằng dù đổi mới, hiện đại và hội nhập, báo chí nước ta vẫn là nền báo chí cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ thiên tài kính yêu vô vàng của Việt Nam sáng lập ra và do Đảng ta lãnh đạo cho đến nay. Do đó, hiện tại và mãi mãi về sau, đội ngũ cán bộ làm báo phải luôn lấy tư tưởng, quan điểm của Bác làm kim chỉ nam cho nghề nghiệp của mình; học nhiều điều từ sự nghiệp làm báo, làm cách mạng của Bác; không ngừng trau dồi đạo đức cách mạng, học tập và làm theo tấm gương của Bác, bằng ra sức nghiên cứu đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đi sát cuộc sống nhân dân, để tuyên truyền, vận động chuyển tải thông tin có ích đến với nhân dân. Đó là cách người làm báo tu dưỡng, rèn luyện nâng cao đạo đức và chuyên môn, tinh thông nghề nghiệp, tận tụy phục vụ nhân dân, góp phần tích cực trong công cuộc đổi mới, trong đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm.

ImageĐồng chí Nguyễn Thành Phong – Bí thư Tỉnh ủy họp mặt báo chí tỉnh nhà nhân dịp đầu xuân 2013. (Ảnh: H.C)

Theo dòng lịch sử của đất nước, báo chí cách mạng Bến Tre cũng đã sớm có mặt và liên tục hoạt động dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy từ những năm 1930 đến nay. Báo chí tỉnh ra đời nhằm phục vụ cho công tác tuyên truyền vận động cách mạng quần chúng, giáo dục đảng viên và đáp ứng yêu cầu lãnh đạo của Đảng. Tờ báo đầu tiên mang tên “Dân Cày” được xuất bản sau khi liên Tỉnh ủy Bến Tre – Mỹ Tho được thành lập vào tháng 6/1930. Khi Đảng bộ Bến Tre tách ra thành một Đảng bộ độc lập, thì tháng 5/1930 Tỉnh ủy cho ra tờ “Búa Liềm”. Đến tháng 8/1933 thì có tờ “Tranh Đấu”, tiếp theo là tờ “Cờ Chiến Đấu” ra đời phục vụ cho việc phát động phong trào Đông Dương đại hội và chỉ đạo các cuộc đấu tranh vì dân sinh, dân chủ liên tục nổ ra trong tỉnh suốt từ năm 1936-1939. Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940 thất bại, Đảng bộ Bến Tre bị địch đánh khốc liệt, cơ sở Đảng nhiều nơi tan rã. “Ủy ban Sáng Kiến” lúc bấy giờ (như Tỉnh ủy lâm thời) được thành lập và cho phát hành ngay tờ báo “Sự Thật” vào tháng 4/1944. Đây là tờ báo bí mật cuối cùng của Bến Tre trong thời kỳ thực dân Pháp thống trị. Báo “Sự Thật” vẫn tồn tại hoạt động đều đặn; đến năm 1945 bước sang giai đoạn kháng chiến chống Pháp thì được thay tên mới là báo “Hy Sinh”. Ngay từ khi ra đời tờ báo “Hy Sinh” đã có những đóng góp hiệu quả trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia “Tuần lễ vàng”, vận động bầu cử Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, cùng các phong trào toàn dân sẵn sàng chiến đấu, thanh niên tòng quân, thành lập các đội cảm tử quân…. Sau này, tờ báo “Hy Sinh” được đổi tên mới là “Đoàn Kết” và tồn tại đến cuối năm 1950 thì nhường chỗ cho tờ “Thông tin Bến Tre” ra đời, được in chì, phát hành đều đặn mỗi tuần 01 kỳ. Sau Hiệp định Genève năm 1954, để hướng dẫn và chỉ đạo cuộc đấu tranh chính trị trong hoàn cảnh mới, Tỉnh ủy cho ra đời tờ “Hòa bình thống nhất” phát hành rộng rãi trong nhân dân và duy trì hoạt động cho đến ngày nổ ra cuộc Đồng Khởi long trời lở đất vào ngày 17/1/1960. Đến tháng 3/1960, tờ “Hòa bình thống nhất” được đổi thành báo “Chiến Thắng”, được in sáp, phát hành từ 700 – 1.000 bản/kỳ. Đến ngày 25/12/1960 nhân dịp chào mừng Mặt trận Dân tộc giải phóng tỉnh Bến Tre ra đời, báo “Chiến Thắng” bắt đầu in chữ chì và giữ vững suốt đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Đặc biệt, cùng tồn tại hoạt động với báo “Chiến Thắng” suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, còn có tờ báo “Văn nghệ Bến Tre” và tờ báo “Cứu nước cứu đạo”. Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, ngày 11/11/1976, nhân ngày khai mạc Đại hội Đảng bộ, Tỉnh ủy Bến Tre quyết định đổi tên báo “Chiến Thắng” thành báo “Đồng Khởi” cho đến ngày nay. Và sau đó đến ngày 20/12/1976 Tỉnh ủy đã quyết định thành lập Đài Phát thanh Bến Tre, đến ngày 07/3/1995 thành lập Đài Truyền hình Bến Tre; ngày 23/11/1978 Chi hội Nhà báo tỉnh Bến Tre cũng chính thức được thành lập và đến ngày 16/12/2004 là Hội Nhà báo Bến Tre; báo Điện tử của báo Đồng Khởi tiếp tục được ra đời vào ngày 23/10/2007… và còn nhiều chuyên san, tạp chí, thông tin nội bộ, bản tin, báo điện  tử…  của các sở, ngành, đoàn thể tiếp nối ra đời và có mặt hàng tháng, quý… trên địa bàn tỉnh nhà. Có thể nói, báo viết, báo nói, báo hình, báo điện tử ra đời ở tỉnh ta đang trở thành kênh thông tin thống nhất, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu sinh hoạt thông tin, đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân và ngày càng phát huy hiệu quả tiếng nói của Đảng bộ, của hệ thống chính trị và diễn đàn làm chủ của nhân dân Bến Tre. Điều đó, đã minh chứng nhiều năm qua lãnh đạo tỉnh đã quan tâm đặc biệt đến công tác báo chí, tạo điều kiện thuận lợi để đội ngũ nhà báo trong tỉnh không ngừng phát triển, ngày càng lớn mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả của các hoạt động báo chí. Thấm nhuần quan điểm, tư tưởng của Bác, đội ngũ nhà báo của tỉnh cũng đã tích cực nâng cao tinh thần trách nhiệm, tạo ra những ấn phẩm báo chí đáp ứng tốt nhu cầu thông tin, định hướng dư luận, động viên khích lệ các tầng lớp nhân dân hăng hái thi đua sản xuất, kinh doanh; phát triển kinh tế  – xã hội; xây dựng đời sống văn hóa; xây dựng nông thôn mới; phát huy tuyên truyền người tốt việc tốt, cổ vũ động viên những con người mới, những nhân tố mới, những tấm gương tiêu biểu trong sự nghiệp đổi mới quê hương; tuyên truyền chủ quyền biển đảo và bảo vệ toàn vẹn chủ quyền Tổ quốc Việt Nam…. Và thực tế báo chí của tỉnh nhà nhiều năm qua đã làm tốt vai trò cầu nối giữa Đảng với nhân dân, chính quyền với nhân dân; là diễn đàn của nhân dân; tiếp thu sự phê bình của nhân dân; góp phần giáo dục toàn dân; đi đầu trong việc định hướng tư tưởng, góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội; tích cực đấu tranh chống tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

ImageHọp mặt báo chí tỉnh Bến Tre tại huyện Giồng Trôm nhân kỷ niệm 88 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam. (Ảnh tư liệu)

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là những quan điểm, tư tưởng của Bác đã trường tồn gắn liền với nền báo chí cách mạng Việt Nam suốt 88 năm qua, đã góp phần cho đội ngũ báo chí cách mạng Việt Nam trưởng thành vượt bậc cả về số lượng và chất lượng, nội dung và hình thức. Những quan điểm, tư tưởng của Bác để lại cho nền báo chí cách mạng nước nhà là một kho tàng quý báu, đội ngũ nhà báo hôm nay và mai sau của nước ta nói chung, Bến Tre nói riêng cần phải luôn phấn đấu kế thừa và phát triển sự nghiệp báo chí của Bác trong giai đoạn cách mạng hiện nay, cùng với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, lĩnh vực báo chí ngày một đổi mới, hiện đại và chiếm vị trí quan trọng trong đời sống xã hội. Vì vậy, đòi hỏi người làm báo tiếp tục học tư duy, học phong cách và đạo đức làm báo của Bác, để góp phần phát huy tính chiến đấu của báo chí cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hội nhập, trước hết đội ngũ nhà báo cần thể hiện trong việc làm sáng tỏ đường lối, chủ trương và các chính sách của Đảng và Nhà nước ta; động viên và cổ vũ lòng hăng hái, tinh thần phấn đấu của nhân dân vì sự nghiệp đổi mới đất nước… Và phát huy tính chiến đấu của báo chí cách mạng Việt Nam còn được thể hiện trong việc đấu tranh bác bỏ các quan điểm sai trái, phê phán các luận điệu xuyên tạc và các hành vi chống phá của các thế lực thù địch đối với Việt Nam ta.

Nhân kỷ niệm 88 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925 – 21/6/2013), những người làm báo hôm nay thật vinh dự, tự hào vì có Bác, nhà báo cách mạng vĩ đại, người thầy lỗi lạc của báo chí cách mạng Việt Nam. Mỗi nhà báo, để trở thành nhà báo cách mạng thật sự chân chính, hãy tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác; nâng cao trách nhiệm của người làm báo, phải có đạo đức cách mạng, nhất là chí công vô tư, cái tâm trong sáng, có hiểu biết rộng; không ngại khó khăn, hy sinh, vì nhân dân phục vụ; trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa; chú trọng học tập chính trị, để nắm vững chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nâng trình độ về mọi mặt, hiểu biết ngoại ngữ, lăn lộn thực tiễn và gắn bó mật thiết với nhân dân. Đặc biệt, kiên định lập trường tư tưởng, giữ vững quan điểm báo chí cách mạng do Bác sáng lập ra và do Đảng ta lãnh đạo suốt 88 năm qua. Có như thế, đội ngũ nhà báo mới thật sự xứng đáng góp phần nâng cao tính chiến đấu của báo chí cách mạng Việt Nam trong việc tuyên truyền, động viên, cỗ vũ toàn Đảng, toàn quân, toàn dân phấn đấu đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội; xây dựng đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và theo mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.

(Tham khảo tư liệu HCM toàn tập và Thông tin nội bộ BTG TU Bến Tre)

Theo bentre.gov.vn
Vkyno (st)

Ngược đãi tù nhân Irắc và vấn đề nhân quyền ở Mỹ

16:49 | 24/06/2004

Đến nay, việc ngược đãi tù nhân ở Irắc tiếp tục được thế giới quan tâm với những sự thật đau lòng được báo giới phanh phui, điều này không chỉ là nỗi nhục của nước Mỹ khó lòng che đậy, mà quan trọng hơn giúp người ta hiểu rõ về thực chất nhân quyền của Mỹ.

I. Hình ảnh nhân quyền nước Mỹ từ các cuộc chiến tranh trước đây…

Ỷ thế vào sức mạnh kinh tế, quân sự cộng với chính sách diều hâu, sen đầm của nhà cầm quyền Mỹ, nhân loại không chỉ chứng kiến mà còn là nạn nhân của nhiều cuộc chiến tranh xâm lược, can thiệp thô bạo do Mỹ gây ra. Chỉ tính riêng 10 năm cuối Thế kỷ XX, Mỹ đã hơn 40 lần sử dụng vũ lực ở nước ngoài để trừng phạt các quốc gia không theo gậy chỉ huy của mình. Minh chứng cho sự bành trướng này là địa chỉ hơn 140 căn cứ quân sự của Mỹ hiện nay trên thế giới. Khi thực hiện các cuộc xâm lược, Mỹ không ngần ngại sử dụng các loại vũ khí giết người tàn bạo nhất, dã manh nhất nhằm buộc đối phương phải khuất phục, như vũ khí có độ hủy diệt, sát thương cao, vũ khí hóa học, các chất phóng xạ… Nhưng khốc liệt hơn lại chính là sự tàn bạo của lính Mỹ, những hành vi phi nhân tính diễn ra đối với dân thường vô tội ở chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, Côxôvô năm 1999… ở rất nhiều nơi có quân Mỹ chiếm đóng, không ít những hành động vi phạm nhân quyền đã xẩy ra, khi thì tra tấn, ngược đãi tù nhân, ném bom, bắn pháo “ nhầm” vào khu dân cư, lúc thì cưỡng bức, hành hạ dân thường sở tại…

Theo điều tra, hiện nay ở Mỹ có gần 100 công ty chế tạo và bán ra nước ngoài khối lượng lớn các dụng cụ tra tấn vốn đã bị cấm sử dụng. Báo cáo điều tra của Uỷ ban Ân xá quốc tế ngày 26 tháng 2 năm 2001 đã nêu rõ, với tất cả các dụng cụ tra tấn hiện nay trên thế giới, Mỹ có khoảng 80 công ty tham gia sản xuất, bao gồm roi điện, xích chân, khóa tay có răng cưa, các dụng cụ tra tấn kỹ thuật cao có thể làm tổn thương hoặc làm chết người ngay tại chỗ. Một sự thật khủng khiếp mà văn minh nhân loại ngày nay cũng khó tin, nhưng đó lại là thực tế: Mỹ còn dùng xác trẻ em nước ngoài để làm thí nghiệm phóng xạ. Theo tờ “Tin điện hàng ngày” và “Người quan sát ở Anh” tháng 6/2001 nêu rõ, trong thập kỷ 50 của Thế kỷ XX, Mỹ thực hiện thí nghiệm mang tên “ánh sáng mặt trời”, đã mua từ nước ngoài khoảng 6000 xác trẻ em, đem hỏa thiêu rồi đưa vào phòng thí nghiệm để nghiên cứu phóng xạ.

Nếu chúng ta ngược dòng thời gian vài chục năm trở về trước, nhân loại chứng kiến cuộc chiến tranh xâm lược do Mỹ gây ra ở Việt Nam, mặc dù là kẻ bại trận, nhưng các tội ác mà Mỹ gây ra cho nhân dân Việt Nam là hết sức to lớn, những vũ khí giết người hàng loạt đã được sử dụng, khoảng 80 triệu lít chất độc, trong đó có chất độc da cam, đã để lại cho dân thường vô tội những di chứng chiến tranh nặng nề, đến nay sau ngót 30 năm chiến tranh đã đi qua, nỗi đau vẫn còn đó. Ngoài ra còn phải kể đến nhiều cuộc tàn sát đẫm máu, vi phạm thô bạo các quyền cơ bản của con người, biết bao nhiêu sự thật đến nay còn chưa được phanh phui. Năm 1969, dưới thời của Tổng thống Mỹ Richard Nixon, ký giả người Mỹ Seymour Hersh đã đưa ra ánh sáng vụ thảm sát Mỹ Lai (ngày 16/3/1968), chỉ hơn 2 giờ đồng hồ, lính Mỹ đã giết hại 504 người chủ yếu là người già, phụ nữ và trẻ em. Đó là một chút phác thảo về hình ảnh nhân quyền của Mỹ trong các cuộc chiến tranh đã đi qua.

II … đến vụ ngược đãi tù nhân Irắc…

Về vấn đề ngược đãi tù nhân Irắc, đặc biệt là ở nhà tù Abu Graib đến nay càng thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới, một lần nữa hình ảnh sự thực về nhân quyền của Mỹ được làm rõ, cho dù nhà cầm quyền Mỹ cố tình che đậy, xoa dịu dư luận. Tờ Washington Post ngày 21/5/2004 lại tiếp tục công bố những hình ảnh mới về vụ ngược đãi, vi phạm nhân quyền, kèm theo lời kể “sinh động” của 13 tù nhân ở nhà tù Abu Graib. Toàn bộ lời kể có tuyên thề của các tù nhân này, được ghi chép lại trong suốt 5 ngày, dài trên 65 trang giấy, nói về những điều họ chứng kiến bên trong nhà tù, như: “Họ bị đánh đập một cách dã man, liên tục bị xâm hại tình dục bởi các binh sĩ làm ca đêm tại khu 1A; một số khác kể rằng, họ bị buộc phải từ bỏ đạo Hồi, phải ăn thịt lợn và uống các chất kích thích trong tháng Lễ Ramadan trái với quy định của đạo Hồi”; tù nhân Hiadar Sabar Abed Miktub al-Aboodl số13077 phẫn uất kể rằng:“Họ buộc chúng tôi bò quanh sàn giống như loài chó và chúng tôi phải sủa giống chó. Nếu không, họ bắt đầu thụi vào mặt, vào ngực chúng tôi một cách không thương tiếc… sau đó, họ đưa chúng tôi về các buồng giam, lột chiếu lên và đổ nước ra sàn và bắt mọi người phải ngủ trong tư thế úp bụng xuống sàn, đầu tỳ lên những chiếc túi và họ chụp hình”. Một tù nhân khác đã mô tả những hành vi độc ác, phi nhân tính của lính Mỹ như sau: “Người quản giáo bắt tôi trườn trên sàn và nhổ nước miếng vào lưng tôi, đạp vào lưng, đầu và chân tôi… một số người trong số họ đè đầu, một số khác thì đập vỡ chiếc đèn phốt pho, đổ chất độc này lên người tù nhân khiến toàn thân anh ta sáng rực lên”. Mohanded Juma tù nhân số 152307 cho biết, anh ta bị lột truồng trong 6 ngày liền, phải nhặt thức ăn do quản giáo ném xuống nhà vệ sinh để ăn, rằng: “họ bắt chúng tôi xếp hình, hai người làm đáy, hai người chồng lên trên, hai người xếp tiếp và trên cùng là một người. Cuối cùng họ chụp hình trong khi tất cả chúng tôi đều trần như nhộng”.

Cũng cần lưu ý rằng, “lính Mỹ thường xuyên hạ nhục tù nhân Irắc” là kết luận được nêu trong bản báo cáo dài 24 trang, do Hội chữ Thập đỏ Quốc tế (ICRC) công bố vào ngày 10/5/2004, trong đó có đoạn: “Chứng kiến những vụ việc như vậy, Đoàn ICRC đã bỏ dở chuyến thăm và yêu cầu nhà chức trách giải thích. Sĩ quan tình báo quân sự cho biết việc đó nằm trong quá trình thẩm vấn”. Cũng theo báo cáo của tổ chức này cho biết, các sĩ quan tình báo liên quân ước tính 70-90% số tù nhân ở Irắc bị bắt giam nhầm, rằng ngược đãi tù nhân “không phải là các vụ hiếm gặp và có thể được coi là hành động thường làm của liên quân”. ICRC khẳng định đã nhiều lần thông báo về các vụ ngược đãi với nhà chức trách, trong báo cáo có đoạn: “Thái độ thời ơ của liên quân và việc không nhanh chóng cung cấp thông tin chính xác về những người bị tước quyền tự do cho gia đình họ đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh của lực lượng chiếm đóng với cư dân Irắc”.

Vấn đề ngược đãi tù nhân Irắc của lính Mỹ đã bị nhiều nước lên án, trong đó có cả các đồng minh của Mỹ. Đài Truyền hình “ Tấm gương” của Đức ngày 14/5/2004 đưa tin lính Mỹ đã tra tấn đến chết một tù nhân Irắc và có trong tay lời tố giác và các tài liệu về sự ngược đãi nhiều tù nhân khác. Chính phủ Italia đã ra tuyên bố kịch liệt lên án lính Mỹ ngược đãi tù nhân và yêu cầu trừng phạt một cách thích đáng những thủ phạm gây ra các vụ việc trên. Ngoại trưởng các nước Nga, Pháp và Canada bày tỏ quyết tâm sẵn sàng thảo luận bất cứ nghị quyết nào của Liên Hợp Quốc để chấm dứt tình trạng rối loạn hiện nay. Trong bối cảnh đó, Chính phủ Đan Mạch cũng hết sức bối rối trong việc quyết định có nên kéo dài sự hiện diện của 1000 binh sĩ nước này ở Irắc sau ngày 30/6 hay không? Tại cuộc gặp của các ngoại trưởng nhóm các nước phát triển G8 ở Oasinhtơn cùng thời gian trên, ngoại trưởng Đức Giô-xca Phi-sơ cho biết, trong các cuộc thảo luận, Tổng thống Mỹ Bush đã cam kết rằng, ông ta sẽ theo đuổi đến cùng vụ bê bối này và đưa các thủ phạm ra trước pháp luật, phải chăng đây chỉ là những thủ đoạn nhằm xoa dịu dư luận của nhà cầm quyền Mỹ, khi sự thực về hình ảnh “nhân quyền và văn minh” của Mỹ bị thế giới chê bai. Cũng có lẽ nhờ đó, đợt đầu 315 tù nhân trong tổng số khoảng 3800 tù nhân ở nhà tù Abu-Graib được thả tự do, một số lính Mỹ bị ra tòa và một vài quan chức, tướng lĩnh bị điều chuyển. Tuy nhiên có nguồn tin, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Rumsfeld- người gia lệnh, cho phép quân nhân hạ nhục tù nhân để lấy cung, đang được đích thân Tổng thống Mỹ hết lòng bảo vệ !

Thực tế đó như nhiều nhà phân tích khẳng định, đó là vết nhơ của nước Mỹ về nhân quyền trong con mắt của cộng đồng quốc tế.

III …và nhân quyền tại Mỹ, những giọng lưỡi đạo đức giả…

Nói về nhân quyền tại Mỹ, đã có nhiều quốc gia lên tiếng phê phán. Điều đáng nói là Mỹ luôn tự cho mình cái quyền phán xét các nước khác về nhân quyền, còn ở ngay tại nước Mỹ thì sao?

– Nước Mỹ là xã hội tràn đầy bạo lực:

Mỹ là nước có số lượng người dân giữ súng đạn nhiều nhất trên thế giới, theo số liệu của Cục điều tra Liên bang Mỹ, trong tháng 9-11/2001, số lượng súng, đạn và chất nổ ở Mỹ tăng từ 9-22%, chỉ riêng tháng 10/2001 có tới 1,02 triệu khẩu súng được đăng ký sử dụng. Bình quân mỗi năm ở quốc gia này có tới 15.000 người bị chết do súng đạn. Cần lưu ý rằng, lịch sử nước Mỹ đã có tới 3 tổng thống bị ám sát, trong đó 2 người bị chết, 1 bị trọng thương. Những cảnh tượng đau lòng xẩy ra do dùng súng đạn xuất hiện thường xuyên, như: Ngày 15/7/2001, một học sinh 15 tuổi của trường trung học thuộc Bang California đột nhiên dùng súng bắn vào bạn học cùng lớp của mình làm 2 học sinh bị chết và 13 người khác bị thương; ngày 7/3/2001 một nữ học sinh 14 tuổi ở Bang Pensynavila đã dùng súng bắn chết bạn học của mình ở ngay trong nhà ăn; ngày 7/9/2001 một người đàn ông dùng súng xông vào một gia đình ở ngoại ô thành phố Los Angeles, bắn chết 3 người, bắn bị thương 2 người khác… các thông tin này được nêu thường xuyên trên các phương tiện thông tin ngay ở Mỹ.

Vấn đề bạo lực trong xã hội Mỹ được coi là căn bệnh kinh niên, năm 1998 tại quốc gia này có tới 12,47 triệu vụ án phạm tội, 1,53 triệu vụ án về bạo lực và 17.000 vụ mưu sát. Như vậy, nếu tính bình quân cứ 100.000 người dân thì có 4.616 vụ án phạm tội, 566 vụ án bạo lực. Từ năm 1977-1996 đã có hơn 400.000 người Mỹ bị mưu sát (con số này lớn gấp 7 lần số lính Mỹ bị chết trong chiến tranh Việt Nam). Một trong những nguyên nhân chính làm gia tăng bạo lực ở Mỹ là ngay từ bé, thanh thiếu niên đều chịu tác động của những phim ảnh bạo lực. Nghiên cứu một chương trình truyền hình hàng ngày từ 8h-9h tối trong một năm, nội dung bạo lực được đăng tải tăng 78%, ăn nói thô tục tăng 71%. Riêng Hãng Truyền hình Côlômbia được xếp là tương đối sạch sẽ thì mỗi giờ cũng có 3,2 cảnh bạo lực.

– Quyền tư pháp của công dân bị vi phạm nhiều:

Số án tử hình ở Mỹ ngày càng tăng, chỉ tính riêng từ năm 1976 đến nay, theo thống kê của giới chuyên môn, Mỹ đã hành quyết hơn 600 người, trong đó không ít trường hợp bị oan ức. Bên cạnh đó, số người bị giam giữ trong các nhà tù của Mỹ cũng đứng đầu thế giới. Từ năm 1992-2000, có 670.000 người bị đưa vào nhà tù, như vậy cứ 100.000 dân thì có 476 người bị giam giữ. Mỹ lên án các quốc gia khác về tỷ lệ tù nhân trong nhà tù cao, trong khi đó nhà tù ở Bang Caliornia theo thiết kế chỉ chứa được 2.200 người, nhưng hiện nay Mỹ đã giam tới trên 4000 tù nhân.

Bên cạnh đó, nước Mỹ ngày nay càng chứng kiến nhiều hành động phi nhân tính xuất hiện, tháng 2/2002 dân chúng Mỹ cũng như thế giới rất sửng sốt về chuyện 3 công ty hỏa táng ở thành phố Atlanta đều nhận tiền dân thuê hỏa táng cho thân nhân của họ, nhưng cả 3 công ty đều đưa những xác này vào chất đống trong rừng. Người ta phát hiện hành động vô nhân tính này đã diễn ra trong 15 năm qua và ít nhất 300 thi hài đã bị ném vào rừng !

– Tình trạng nghèo đói, vô gia cư ở nước Mỹ ngày càng tăng lên:

Từ năm 1979-1999, sự chênh lệch về tài sản giữa người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp ngày càng tăng lên, chênh lệch bình quân thu nhập của 5% gia đình giầu nhất so với thu nhập bình quân của 20% gia đình nghèo nhất ở Mỹ đã tăng từ 10 lần lên 19 lần. Hiện nay, chỉ với 1% người giầu nhất nước Mỹ đã chiếm 40% tài sản của Mỹ, trong khi đó 80% dân số nước Mỹ chỉ chiếm 16% tài sản. Sự thật ấy có bất công hay không?

Theo Báo cáo hàng năm của Hội nghị Thị trưởng các thành phố Mỹ công bố tháng 12/2001, trong các thành phố chủ yếu của Mỹ số người chịu đói rách, không có nhà tăng nhanh trong năm 2001. Điều tra ở 27 thành phố cho thấy, số người yêu cầu cứu tế thực phẩm đã tăng 23%, yêu cầu khẩn cấp về nhà ở tăng 13%. Ngay Bộ Lao động Mỹ cũng phải thừa nhận, số người sống nhờ vào chế độ cứu tế hiện nay là 4,02 triệu người; hơn 2 triệu người không có nhà ở, ban đêm những người này thường ngủ ở vỉa hè, công viên, trong các thùng xe rác…Một điều nghịch lý là, ở Mỹ giá trị về tính mạng của người giầu và người nghèo rất khác nhau. Theo tờ “ Liberation”của Pháp số ra ngày 9/1/2002 công bố: Quỹ bồi thường Liên bang của Chính phủ Mỹ quy định mức bồi thường cho nạn nhân trong sự kiện 11/9 được căn cứ theo tuổi tác, mức lương và số người trong gia đình, sau đó mới cộng thêm bồi thường về mặt tinh thần, theo đó nếu nạn nhân là phụ nữ thì chồng và 2 con được bồi thường 500.000 USD, ngược lại nếu nạn nhân là nam giới, là nhà quản lý kinh doanh ở phố Wall, thì vợ góa và 2 con của ông ta sẽ được bồi thường lên tới 4,5 triệu USD, thật phi lý làm sao !

– Sự ngược đãi phụ nữ và bạo lực với trẻ em đang ngày càng tăng:

Theo thống kê chính thức của Mỹ, cứ 15 giây thì có một phụ nữ bị đánh, hàng năm có khoảng 700.000 vụ phụ nữ bị cưỡng hiếp. Trong nhà tù, hầu hết các nữ tù nhân thường xuyên bị quấy rối tình dục, bị giám thị cưỡng hiếp. Theo điều tra của Tổ chức Ân xá quốc tế về trẻ em thì ở Mỹ, quyền lợi của trẻ em không được đảm bảo chắc chắn. Mỹ là một trong 2 nước trên thế giới không chịu ký vào Công ước về quyền trẻ em, là một trong 5 nước trên thế giới vẫn thực hiện án tử hình đối với phạm nhân là thiếu niên. Điều đáng nói ở đây là, tình trạng trẻ em bị mất tích ở đây cũng rất nghiêm trọng. Theo Cục điều tra Liên bang Mỹ công bố năm 2001, năm 1999 có 750.000 trẻ em bị mất tích, chiếm 90% số người bị mất tích trong cả nước, như vậy bình quân một ngày có 2.100 trẻ em dưới 17 tuổi bị mất tích.

– Sự vi phạm nhân quyền ở Mỹ còn thể hiện ở tình trạng phân biệt chủng tộc: Theo Tạp chí “Diễn đàn kinh tế thế giới” số tháng 7+8 năm 2000 cho biết, trong số 535 nghị sĩ quốc hội Mỹ giai đoạn này thì chỉ có 19 nghị sĩ người gốc Mỹ La Tinh có quyền bỏ phiếu chiếm 3,4%, trong khi tỷ lệ người gốc Mỹ La Tinh của dân số Mỹ là 12,5%; người da đen tuy chiếm 13% số dân Mỹ nhưng chỉ chiếm 5% trong số quan chức dân cử. Bên cạnh đó, tỷ lệ người da đen thất nghiệp cao gấp 2 lần so với người da trắng. Báo cáo của Liên Hợp Quốc cho biết, tại Mỹ khi cùng phạm một tội như nhau thì người da mầu bị trừng phạt nặng gấp hai, ba lần người da trắng. Số người da đen bị kết án tử hình do giết người da trắng nhiều gấp 4 lần số người da trắng bị tử hình khi giết người da đen.

Sự thật về nhân quyền ở Mỹ như đã nêu trên là điều đáng hổ thẹn trong thế giới ngày nay, ấy vậy mà Mỹ vẫn phớt lờ, vẫn luôn mồm dùng giọng lưỡi đạo đức giả để nêu ra cái gọi là “báo cáo nhân quyền của Mỹ”. Ngày 17/5/2004 chậm hơn 12 ngày so với dự kiến, bản báo cáo mang tên” Hỗ trợ nhân quyền và dân chủ: “Thành tích Mỹ năm 2003-2004” dài 270 trang cuối cũng đã được công bố, vẫn theo kiểu đạo đức giả như trước, lần này tổng cộng có tới 101 nước trên thế giới theo Mỹ là “có vấn đề về nhân quyền” . Phần nói về Đông á – Thái Bình Dương (dài 27 trang), trong năm 2003 các nước “có vấn đề về nhân quyền”, được Bộ Ngoại giao Mỹ “nhắc nhở” ở khu vực này bao gồm: Myanmar, Campuchia, Trung Quốc, FiJi, Indonesia, CHDCND Triều Tiên, Lào, Papua New Guinea, quần đảo Solomon, Thái Lan và Việt Nam… vẫn là những điệp khúc: “ngược đãi, tra tấn tù nhân, thiếu tự do chính trị, bắt cóc, giết người bất đồng chính kiến, o ép người thiểu số…”. Thật là điển hình của thói đạo đức giả, đúng như nhiều nhà bình luận đã nêu, Mỹ khi nói về nhân quyền ở các nước khác trước tiên hãy sờ tay lên gáy mình đã !

_______________________________

Tài liệu tham khảo
– Tài liệu Hội nghị công tác tư tưởng – văn hóa toàn quốc (16/4-18/4/2002)
– Lính Mỹ thường xuyên hạ nhục tù nhân Irắc – Báo cáo của ICRC
– Báo cáo nhân quyền của Mỹ- Tiếng còi lạc điệu (Báo tuổi trẻ)

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Phản đối việc áp đặt các tiêu chuẩn để trở thành thành viên Ủy ban nhân quyền Liên hợp quốc

21:21 | 05/04/2005

Theo phóng viên TTXVN tại Liên hợp quốc, tại cuộc hội thảo “Phản ứng đối với các đề nghị của Tổng Thư ký LHQ về cải tổ Ủy ban nhân quyền LHQ” tổ chức tại Giơ-ne-vơ (Thụy Sĩ), nhiều đại biểu tham dự đã phản đối việc áp đặt tiêu chuẩn để trở thành viên Ủy ban nhân quyền LHQ.

A-xma Gian-han-gi, nhà hoạt động nhân quyền Pa-ki-xtan kiêm báo cáo viên đặc biệt của LHQ, cho rằng việc áp đặt tiêu chuẩn như vậy là “mưu toan nguy hiểm” muốn dán nhãn phê chuẩn trước đối với các nước muốn trở thành thành viên Ủy ban nhân quyền LHQ.

Đại sứ Ai-len bên cạnh Ủy ban nhân quyền LHQ ở Giơ-ne-vơ Me-ri Uê-lân nhấn mạnh rằng bà không đồng ý với nhận xét trong báo cáo của TTK LHQ cho rằng nhiều nước tìm cách trở thành thành viên Ủy ban nhân quyền LHQ để bảo vệ mình và đả kích các nước khác. Bà cho rằng nhận xét này không đúng và là sự phủ nhận những nhân tố tích cực của Ủy ban trong việc xác lập sự hợp tác giữa các nước, các tổ chức xã hội dân sự và các đối tác khác.

Còn Giáo sư Xtê-phen Tô-pơ, Chủ tịch Nhóm làm việc của LHQ về nhân quyền đã phê phán các nước phương Tây thiếu nghiêm túc khi đưa ra các nghị quyết mới về nhân quyền nhưng không cung cấp các nguồn thông tin phù hợp. Ông kêu gọi LHQ cần đánh giá đúng thực tế về hoạt động Ủy ban nhân quyền LHQ./.

(TTXVN)

Theo dangcongsan.vn
Vkyno (st)

Đạo lý chính trị trong nhân quyền

Việc Hãng AP tố cáo Chính phủ Mỹ trộm dữ liệu điện thoại:
Về mặt đạo lý, những người nhân danh bảo vệ “giá trị Mỹ”, mang sẵn thiên kiến với “chính quyền Cộng sản” đã áp dụng “chuẩn mực kép” (applying double standards) đối với Việt Nam là không thể chấp nhận được.

Khổng Tử có một danh ngôn mà cả phương Đông và phương Tây đều ngưỡng mộ, đó là “Điều gì mình không muốn thì không nên áp dụng cho người khác”. Trong quan hệ quốc tế trên lĩnh vực nhân quyền, điều này có nghĩa, những vấn đề nhân quyền trong nước mà người dân đang bức xúc, luật pháp quốc gia không cho phép mà ở trong nước chưa giải quyết được thì không nên rao giảng cho các quốc gia khác. Đó là đạo lý chính trị của nền văn minh nhân loại.

Vừa qua, trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng, người ta được biết: “Associated Press (AP) tố cáo chính phủ Mỹ ăn trộm dữ liệu điện thoại” với nội dung: Chính quyền Mỹ đã tìm cách nắm thông tin về các nguồn tin mật của AP. Hãng này lên án chính phủ Hoa Kỳ bí mật thu thập dữ liệu các cuộc gọi của phóng viên của họ và xem đây là “sự xâm phạm ở quy mô lớn và chưa từng có”. Bản tin này còn nói rõ: Hôm thứ sáu, ngày 10/5/2013, Giám đốc Điều hành của hãng, ông Gary Pruitt, nói hãng tin của ông đã được cho biết Bộ Tư pháp Hoa Kỳ đã thu thập dữ liệu các cuộc gọi đi từ hơn 20 đường dây… Phản ứng về vấn đề này, Hạ nghị sỹ Cộng hòa Darrell Issa, Chủ tịch Ủy ban Giám sát và Cải cách Chính phủ của Hạ viện, đã lên tiếng chỉ trích mạnh mẽ.`

Thượng nghị sỹ Dân chủ Patrick Leahy, Chủ tịch Ủy ban Tư pháp Thượng viện thì nói: “Tôi rất phiền lòng trước những cáo buộc này và muốn nghe lời giải thích từ chính phủ”. Còn Liên đoàn Quyền công dân Mỹ thì xem đây là hành vi chính quyền “uy hiếp báo chí”.

Liên quan đến câu chuyện trên, người ta nhớ đến quyền giữ bí mật cá nhân ở Anh. Vừa qua, Chính phủ Anh bị Tổ chức Privacy International (Tổ chức Bảo mật Quốc tế) kiện ra Tòa án Tối cao ở London (16/3/2013) về việc một số quan chức Anh liên quan đến Công ty Gamma International – bị tố cáo là đã bán công nghệ theo dõi cá nhân cho một số chính phủ mà người ta gọi là “độc tài” như Bahrain, Ethiopia, Turkmenistan…

Việc cá nhân hay cơ quan, tổ chức của Hoa Kỳ, Anh quốc có vi phạm pháp luật về quyền con người hay không? Vì sao họ làm như vậy? Điều này hãy để các cơ quan pháp lý và người dân ở các quốc gia đó trả lời. Song về mặt đạo lý, những người nhân danh bảo vệ “giá trị Mỹ”, mang sẵn thiên kiến với “chính quyền Cộng sản” đã áp dụng “chuẩn mực kép” (applying double standards) đối với Việt Nam là không thể chấp nhận được. Chẳng hạn trong các báo cáo, nghị quyết, dự luật về tình hình nhân quyền ở Việt Nam, trong đó người ta lên án, xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, báo chí. Thậm chí có người cho rằng: Chính quyền Hà Nội bắt bớ, cầm tù nhiều người dựa trên những điều luật “mơ hồ” và họ đòi xóa bỏ Điều 88 về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”; Điều 79 về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, trong Bộ luật Hình sự 1999 của Việt Nam.

Điều đáng tiếc là trong những báo cáo, dự luật, nghị quyết, điều trần, người ta đã cóp nhặt những thông tin đã bị bóp méo, xuyên tạc làm căn cứ.

Trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, dân chủ, nhân quyền đang là một vấn đề cần giải quyết, nhưng đó không phải là một trở ngại không thể vượt qua. Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đã, đang và sẽ nỗ lực bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền con người của người dân Việt Nam. Hoa Kỳ có thể đóng góp thiết thực hơn để giải quyết những vấn đề nhân quyền trong “tầm tay” của mình: chẳng hạn, Mỹ có thể đóng góp nhiều hơn vào việc giúp đỡ nạn nhân chất độc dioxin/da cam; xóa bỏ rào cản thương mại cho cá basa Việt Nam được tiếp cận thị trường Mỹ dễ dàng.

Thiết nghĩ, những nỗ lực của Việt Nam có thể xem là “đủ” đối với những người có thiện chí, thật sự  mong muốn Việt Nam thịnh vượng, người dân được hưởng các quyền con người một cách thiết thực. Tất nhiên, điều đó sẽ không bao giờ là “đủ” đối với những người luôn mang sẵn định kiến đối với “chính quyền Cộng sản Việt Nam”, hy vọng dùng áp lực chính trị, kinh tế và các thủ đoạn khác hòng xóa bỏ chế độ xã hội hiện hữu, đưa Việt Nam sang con đường khác

N.H.
cand.com.vn

Đảng lãnh đạo toàn diện lực lượng vũ trang

PGS.TS Nguyễn Viết Thông (Tổng Thư Ký Hội Đồng Lý Luận Trung Ương)
Sự ra đời và tồn tại của lực lượng vũ trang gắn liền với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước.

Với tư cách là một tổ chức của Nhà nước, do Nhà nước xây dựng, nên lực lượng vũ trang bao giờ cũng mang bản chất giai cấp của Nhà nước.

C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định rằng, lực lượng vũ trang của bất cứ nhà nước bóc lột nào cũng đều là công cụ bạo lực chủ yếu để bảo vệ lợi ích của giai cấp bóc lột, để đàn áp những người lao động, để thực hiện chính sách xâm lược của chúng.

V.I.Lênin đã bảo vệ và phát triển lý luận của C.Mác và Ph.Ăngghen về lực lượng vũ trang, chỉ rõ lực lượng vũ trang của các nước tư sản “là công cụ vững chắc nhất để duy trì chế độ cũ, là thành trì kiên cố nhất để bảo vệ trật tự tư sản và sự thống trị của tư bản” (V.I.Lênin: Toàn tập, tập 37, NXB CTQG, HN 2001, tr.361).

Đồng thời, V.I.Lênin đã khẳng định bản chất giai cấp của quân đội kiểu mới – quân đội của giai cấp vô sản: “Quân đội chúng ta là quân đội của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản”.

V.I.Lênin cũng đã phê phán những quan điểm cho rằng quân đội “trung lập hoá” chính trị, “phi chính trị”. Người chỉ rõ: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị – đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản và của chế độ Nga hoàng, bọn này trong thực tế bao giờ cũng lôi kéo quân đội vào chính trị phản động”.

VI.Lênin đã đề ra những nguyên tắc căn bản xây dựng lực lượng vũ trang kiểu mới: Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với lực lượng vũ trang; quan điểm giai cấp trong xây dựng lực lượng vũ trang; sự thống nhất giữa lực lượng vũ trang và nhân dân… Trong đó, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nguyên tắc quan trọng nhất, quyết định sức mạnh, sự tồn tại và phát triển của lực lượng vũ trang.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận của V.I.Lênin về lực lượng vũ trang kiểu mới, sáng lập ra lực lượng vũ trang của dân tộc ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng xây dựng bản chất cách mạng của lực lượng vũ trang.

Nói về quân đội, Người chỉ rõ: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 11, NXB CTQG, HN, 2002, tr.350).

Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, giáo dục và rèn luyện. Từ khi ra đời đến nay, lực lượng vũ trang không ngừng phát triển và đã thực sự trở thành lực lượng chính trị – vũ trang hùng mạnh, trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Nhờ có đường lối đúng đắn, có chiến lược và sách lược phù hợp, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam cùng với toàn dân ta làm nên những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đưa dân tộc tiến vào kỷ nguyên độc lập tự do, thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, đại thắng mùa xuân năm 1995, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế.

Lịch sử, gần 70 năm qua đã khẳng định nhờ sự lãnh đạo toàn diện đúng đắn, tài tình của Đảng đối với lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, nên lực lượng vũ trang cùng toàn dân đã làm nên những  kỳ tích nêu trên.

Sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của lực lượng vũ trang nói riêng, của cách mạng Việt Nam nói chung.

Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam từ khi ra đời đến nay luôn luôn là lực lượng trung thành, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Tổ quốc gắn liền với bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ.

Sinh ra và lớn lên trong phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân, của dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam thật sự là lực lượng vũ trang của nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Cội nguồn sức mạnh của lực lực lượng vũ trang là từ nhân dân, ở trong nhân dân. Bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ thiêng liêng của lực lượng vũ trang.

Trong chế độ ta, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Tổ quốc gắn liền với bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ. Đảng ra đời, tồn tại là vì nhân dân, vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Đảng lãnh đạo nhân dân xây dựng chế độ mới.

Do đó lực lượng vũ trang là lực lượng trung thành với Tổ quốc, nhân dân, và Đảng Cộng sản Việt Nam, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế.

Hiến pháp là đạo luật cơ bản, thể hiện tập trung ý chí, nguyện vọng của nhân dân và lực lượng lãnh đạo xã hội, có quy định những nội dung về bảo vệ Tổ quốc và các lực lượng vũ trang nhân dân là đúng đắn, cần thiết.

Hiến pháp năm 1980, Chương IV. Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, có 2 điều, trong đó Điều 51 quy định: “Các lực lượng vũ trang nhân dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ những thành quả cách mạng, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội, tự do, hạnh phúc và lao động hoà bình của nhân dân, cùng toàn dân xây dựng nước nhà”.

Hiến pháp năm 1992, Chương IV. Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, có 5 điều, trong đó Điều 45 quy định “Các lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và những thành quả của cách mạng, cùng toàn dân xây dựng đất nước”.

Kế thừa những bản Hiến pháp trước đây, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, công bố lấy ý kiến nhân dân, Chương IV. Bảo vệ Tổ quốc, giữ 5 điều, nhưng có sửa đổi, bổ sung trong từng điều, trong đó Điều 70 quy định: “Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế”.

Đa số nhân dân đồng tình với Dự thảo, có đề nghị thay đổi trật tự một số cụm từ và kiến nghị viết như sau: “Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, nhân dân, với Đảng Cộng sản Việt Nam, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế”.

Sửa đổi, bổ sung như trên là chính xác. So với Hiến pháp năm 1992 có bổ sung quy định lực lượng vũ trang không chỉ trung thành với Tổ quốc và nhân dân mà còn trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì Điều 4 đã quy định: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước.

Bổ sung quy định lực lượng vũ trang bảo vệ nhân dân, Đảng, Nhà nước là đúng đắn. Đồng thời, bổ sung nhiệm vụ “thực hiện nghĩa vụ quốc tế” phù hợp với quyết định của Đại hội XI là hội nhập quốc tế, trong đó có hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh

N.V.T.
cand.com.vn

Ban Công tác Phụ nữ Bộ Công an báo công dâng Bác

Nhân dịp kỷ niệm 123 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 65 năm Ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, 65 năm Ngành Công an thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy và tổng kết 5 năm thực hiện phong trào thi đua “Phụ nữ Công an nhân dân học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; kỷ cương sáng tạo vì an ninh Tổ quốc; xây dựng gia đình hạnh phúc” và triển khai mô hình Ban Chấp hành Hội Phụ nữ trong Công an nhân dân, sáng 6/6/2013, tại Quảng trường Ba Đình, Đoàn đại biểu Ban Công tác Phụ nữ Bộ Công an đã về báo công dâng Bác.

phu-nu-cong-anKhông khí báo công trang nghiêm của Đoàn trên Quảng trường Ba Đình

          Khắc ghi và thực hiện lời dạy của Bác, tiếp nối truyền thống vẻ vang của dân tộc và lực lượng Công an nhân dân, trong 5 năm qua, các cấp Hội Phụ nữ Công an luôn năng động, sáng tạo triển khai các hoạt động Hội và phong trào thi đua “Phụ nữ Công an nhân dân học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; kỷ cương, sáng tạo vì an ninh Tổ quốc; xây dựng gia đình hạnh phúc”. Phong trào đã thể hiện ý chí quyết tâm, sáng tạo, kết hợp tư tưởng chỉ đạo của Bác, chủ trương, đường lối của Đảng, sự chỉ đạo của Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an và Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam một cách đầy đủ, sinh động trong cuộc sống, công tác và chiến đấu. Điều này đã tạo môi trường thuận lợi để cán bộ, hội viên Phụ nữ Công an thi đua rèn luyện, lập thành tích đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ an ninh trật tự, xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh.

Qua 5 năm triển khai thực hiện, công tác Hội ngày càng có nhiều đổi mới, với nhiều nội dung phong phú, hình thức đa dạng. Tổ chức Hội ngày càng vững mạnh, là ngôi nhà chung để tập hợp đoàn kết trong cán bộ, hội viên phụ nữ. Đặc biệt phong trào thi đua của Phụ nữ Công an được triển khai với hàng trăm mô hình, công trình, phần việc và các hoạt động thiết thực, trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, có sức lan tỏa mạnh mẽ, nhận được sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy, lãnh đạo các cấp, sự đồng tình hưởng ứng của cán bộ, chiến sỹ và hăng hái, thi đua thực hiện trong toàn thể Phụ nữ Công an.

Qua hoạt động công tác Hội và phong trào thi đua, Phụ nữ Công an đã được tôi luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực công tác để từng bước thấm nhuần và hành động theo lời dạy và tấm gương đạo đức cách mạng của Người.

Trong 5 năm qua, phong trào thi đua của Phụ nữ Công an nhân dân đã đạt nhiều thành tích, được các cấp tặng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhất, 3 tập thể được tặng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba; hàng nghìn lượt tập thể, cá nhân được các cấp khen thưởng.

Nhân dịp này, Bộ Công an đã tặng Bằng khen cho 69 tập thể và 67 cá nhân tiêu biểu cho phong trào thi đua của phụ nữ Công an nhân dân, trong đó có phụ nữ Công an Hà Nội, đã có 656 lượt hội viên có sáng kiến nổi bật trong công tác chuyên môn; 977 đồng chí trực tiếp tham gia các chuyên án, bóc gỡ, đấu tranh ngăn chặn và xử lý nhiều đối tượng, đường dây tội phạm; 200 lượt đồng chí làm tốt công tác vận động quần chúng, tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, được các cấp biểu dương khen thưởng; có 7 đề tài cấp nhà nước, 60 đề tài cấp bộ, 363 đề tài cấp cơ sở do phụ nữ làm chủ nhiệm được đánh giá xuất sắc và từng bước ứng dụng vào thực tiễn; 9199 học viên đạt danh hiệu xuất sắc, 143 học viên ưu tú, 8 hội viên được phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú, Thầy thuốc ưu tú.

Đặc biệt, thông qua hoạt động Hội đã xuất hiện hàng trăm tấm gương Phụ nữ Công an xuất sắc trong các lĩnh vực công tác. Họ đã không ngại khó khăn, gian khổ ngày đêm tận tuy, sáng tạo, kiên cường lập công trên trận tuyến bảo vệ an ninh, trật tự của Tổ quốc.

Trước anh linh của Người, Phụ nữ Công an nhân dân xin bày tỏ lòng thành kính đối với Người, kính dâng lên Người lòng biết ơn vô hạn, lòng tận trung với Đảng, hiếu với dân; nguyện đoàn kết, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, đem hết sức lực và trí tuệ của mình cùng lực lượng Công an nhân dân thực hiện nghiêm túc di huấn 6 điều Bác dạy; hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, nhân dân giao phó, xứng đáng với niềm tin yêu và những lời dạy sâu sắc của Người.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Quyền giám sát của nhân dân

(VOV) -Lấy phiếu tín nhiệm đề cao trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, là một bước tiến mới trong thực hành dân chủ.

Lần đầu tiên trong lịch sử gần 70 năm, hôm qua (11/6) Quốc hội đã công bố kết quả lấy phiếu tín nhiệm đối với 47 chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Nhiều đại biểu Quốc hội và cử tri đánh giá “kết quả tương đối sát thực tế, đáp ứng sự mong đợi của đa số cử tri”. Thông qua lần lấy phiếu tín nhiệm này cho thấy rõ hơn về quyền giám sát của nhân dân.

Với đại biểu Quốc hội, đây được coi là trách nhiệm nặng nề, chứa đựng trong lá phiếu cả cái tâm, cái tầm, cả kỳ vọng nhưng cũng là “sức ép” của cử tri và nhân dân cả nước. Qua cuộc lấy phiếu đầu tiên này, mỗi vị đại biểu sẽ có thêm kinh nghiệm tiếp cận, phân tích thông tin cho những lần bỏ phiếu tiếp theo.

Việc lấy phiếu tín nhiệm các chức danh cấp cao của Nhà nước thể hiện vai trò giám sát tối cao của Quốc hội với tư cách “là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất”; tiếp tục là một bước đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội để quyền lực của nhân dân được thể hiện trên thực tế và trở thành thông lệ trong các đợt sinh hoạt chính trị rộng khắp.

Kết quả lấy phiếu tín nhiệm là lần “chấm điểm” một cách tương đối chính xác để trả lời câu hỏi: Mỗi chức danh Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn đã thực hiện nhiệm vụ đạt kết quả đến đâu? Uy tín của mỗi cán bộ đang giữ trọng trách trong bộ máy nhà nước như thế nào? Đó là cơ sở quan trọng giúp mỗi người được lấy phiếu tín nhiệm “thấy được mức độ tín nhiệm của mình để phấn đấu, rèn luyện, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động; làm cơ sở để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ”.

Lâu nay, cử tri và nhân dân cả nước đánh giá mức độ tín nhiệm những cán bộ giữ vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước (nhất là các Bộ trưởng, trưởng ngành) theo cách riêng của mình. Cách đánh giá đó từ những phiên chất vấn và trả lời chất vấn công khai, được phát thanh truyền hình trực tiếp; qua các buổi tiếp xúc cử tri và thông tin báo chí. Với kết quả lấy phiếu tín nhiệm vừa công bố công khai, có thể được coi là “thước đo” cụ thể nhất, góp phần quan trọng thực hiện nguyên tắc: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”.

Cũng như việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI, việc lấy phiếu tín nhiệm các chức danh được thực hiện “từ trên xuống”; Quốc hội gương mẫu làm trước, tiếp đó sẽ đến HĐND các cấp. Nhiều đại biểu Quốc hội cho rằng, kết quả kiểm điểm phê bình, tự phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 vừa qua là một lần “đánh giá mức độ tín nhiệm” đối với cán bộ, đảng viên trong bộ máy Đảng, nhà nước, đoàn thể. Còn lần lấy phiếu tín nhiệm này, nhằm đánh giá năng lực điều hành, quản lý; đánh giá phẩm chất, đạo đức, lối sống của các vị trí chủ chốt trong bộ máy nhà nước do dân bầu. Nghị quyết Trung ương 4 và Nghị quyết 35 của Quốc hội về lấy phiếu tín nhiệm đều xác định rất rõ: “Căn cứ vào kết quả lấy phiếu, những người hai năm liền tín nhiệm thấp, không hoàn thành nhiệm vụ cần được xem xét cho thôi giữ chức vụ, không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi”. Tinh thần dứt khoát và thống nhất đó, đều thể hiện sự giám sát của nhân dân đối với hoạt động của đảng viên và tổ chức Đảng trong các cơ quan quyền lực nhà nước.

Lấy phiếu tín nhiệm được thực hiện định kỳ hàng năm, không chỉ “đề cao trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, bảo đảm tiêu chuẩn của người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn; bảo đảm sự ổn định và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, sự lãnh đạo của Đảng trong công tác cán bộ”, mà còn là một bước tiến mới trong thực hành dân chủ.

Hôm nay, Quốc hội bắt đầu phiên chất vấn – một hình thức hoạt động độc lập với lấy phiếu tín nhiệm, nhưng cũng là một cách “chấm điểm” năng lực điều hành của các “Tư lệnh ngành” và cũng là hoạt động giám sát được cử tri mong đợi. Chất vấn và lấy phiếu tín nhiệm tuy hai cách làm nhưng cùng một mục đích là: biến nguyên tắc “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và HĐND” trở thành hiện thực, bởi Quốc hội và HĐND là những cơ quan “do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”./.

Nguyễn Ngọc Năm/VOV- Trung tâm Tin
vov.vn

Lắng nghe, tiếp thu và trọng trách

(VOV) -Đa số ý kiến đều có chung mong muốn: Hiến pháp là ý chí, nguyện vọng của dân, phục vụ lợi ích của dân.

Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 đang là một trong những chủ đề “nóng” nhất, được cử tri và nhân dân cả nước cũng như kiều bào ta ở nước ngoài đặc biệt quan tâm. Trong hai ngày 3 và 4/6, Quốc hội dành toàn bộ thời gian thảo luận tại hội trường về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, được phát thanh, truyền hình trực tiếp để cử tri theo dõi. Đây là đợt sinh hoạt chính trị, pháp lý rộng lớn, dân chủ và sôi nổi nhất từ trước tới nay với hàng triệu ý kiến góp ý tâm huyết của các tầng lớp nhân dân.

Lịch sử lập hiến Việt Nam qua 4 bản Hiến pháp, dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 được tổ chức lấy ý kiến nhân dân một cách rộng rãi nhất, ý kiến nhiều chiều nhất. Chỉ trong vòng 4 tháng, đã có trên 26 triệu lượt ý kiến góp ý của các tầng lớp nhân dân, hơn 28.000 hội nghị, hội thảo, tọa đàm được tổ chức.

Hàng chục vạn bản dự thảo được các đơn vị, địa phương in ấn, phát hành rộng rãi đến từng hộ dân như ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Hàng nghìn bài báo, tham luận, phát biểu, phỏng vấn, tin tức liên quan đến góp ý cho dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 được đăng tải trên các loại hình báo chí.

Không ai có thể phủ nhận sự quan tâm đặc biệt của các tầng lớp nhân dân đối với dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992. Một vị nguyên là lãnh đạo cấp cao nhận xét: “Chưa bao giờ việc lắng nghe, tiếp thu ý kiến nhân dân lại có kết quả đáng chú ý như vậy. Đây là một bước tiến mới về thực hành dân chủ”.

Đó cũng là sự kế thừa trong việc hoàn thiện hiến pháp kể từ khi xây dựng bản Hiến pháp đầu tiên ở nước ta năm 1946. Mặc dù trong hoàn cảnh “thù trong giặc ngoài” vô cùng khó khăn, chính quyền cách mạng còn non trẻ, nhưng bản dự thảo Hiến pháp 1946 đã được chính thức công bố trên báo in và gửi đến các làng, xã để thu thập ý kiến nhân dân.

Thông cáo của Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa nêu rõ: “Muốn cho tất cả nhân dân Việt Nam dự vào việc lập hiến của nước nhà nên Chính phủ công bố bản dự án Hiến pháp này để mọi người được đọc kỹ càng và tự do bàn bạc, phê bình”.

Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 thu nhận được nhiều ý kiến nhân dân là nhờ trình độ dân trí được nâng cao so với trước đây, cùng với sự bùng nổ của truyền thông và các mạng xã hội. Đặc biệt, người dân đã nhận thức rõ hơn về một bản Hiến pháp dân chủ với nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”; về các quyền cơ bản của họ được ghi nhận, trong đó có quyền sống, quyền lao động, học tập, làm việc, quyền được pháp luật bảo vệ và quyền mưu cầu hạnh phúc. Đó cũng chính là trí tuệ, khát vọng độc lập, tự do, hòa bình và phát triển của nhân dân Việt Nam.

Nhiều ý kiến tâm huyết từ các vị tướng lĩnh từng vào sinh ra tử; từ các nhà khoa học dày công nghiên cứu, chắt lọc tinh hoa Hiến pháp các nước trên thế giới, đến tầng lớp doanh nhân, những cán bộ nghỉ hưu, công nhân, nông dân, tiểu thương và lực lượng vũ trang … Có những ý kiến khác nhau về một vấn đề trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, nhưng đa số đều có chung mong muốn: Hiến pháp là ý chí, nguyện vọng của dân, phục vụ lợi ích của dân.

Con số 26 triệu lượt ý kiến góp ý vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp chắc chắn chưa hết, nên việc tập hợp, tiếp thu và chọn lọc cần hết sức tỉ mỉ, công phu để có được kết quả tốt nhất. Bởi thực tế chứng minh, đây là diễn đàn rộng rãi để các ý kiến được trao đổi, tranh luận, tìm ra lý lẽ thuyết phục nhất. Chính bởi vậy, tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội gần đây, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã ba lần yêu cầu Ban soạn thảo “phải thật lòng trong tổng hợp, lắng nghe, tiếp thu góp ý của dân”.

Còn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong bản Tổng hợp kiến nghị của cử tri trình bày tại phiên khai mạc kỳ họp thứ 5: “Cử tri kiến nghị Ban soạn thảo tiếp thu nghiêm túc trong quá trình lấy ý kiến góp ý cho dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992. Nếu điểm nào không tiếp thu thì Ban soạn thảo cũng phải lý giải rõ cho người dân được biết, những vấn đề có ý kiến khác nhau cần tiếp tục thảo luận, làm rõ”.

Quốc hội, Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 và các Đại biểu Quốc hội khóa 13 đang gánh vác một trọng trách hết sức nặng nề, nhưng cũng rất vẻ vang. Đó là thay mặt cử tri và nhân dân cả nước sửa đổi Hiến pháp 1992 với rất nhiều nội dung mới. Điều đó đòi hỏi bản lĩnh, trí tuệ, sự lắng nghe và kỹ năng tiếp thu ý kiến của các đại biểu để cho ra đời một bản Hiến pháp có chất lượng, thể hiện đúng nguyện vọng của đại đa số cử tri và nhân dân cả nước./.

Ngọc Năm/VOV-Trung tâm tin
vov.vn

Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương báo công dâng Bác

Hòa trong không khí thi đua lập thành tích chào mừng kỷ niệm 65 năm Ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948 – 11/6/2013), 300 cán bộ, công chức, viên chức đại diện cho toàn thể cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng đã vinh dự có mặt tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, dâng lên Bác tấm lòng thành kính biết ơn và báo cáo với Bác thành tích trong phong trào thi đua, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đến dự Lễ báo công dâng Bác và tặng Huy hiệu Bác Hồ cho các đại biểu điển hình tiên tiến có đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương – Trưởng ban Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

bao-cong-a
Không khí báo công trang nghiêm trên Quảng trường Ba Đình

Lúc sinh thời Bác luôn quan tâm đến công tác thi đua, khen thưởng. Ngày 11 tháng 6 năm 1948, giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta hết sức ác liệt, khó khăn, Bác đã ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, mở đầu cho phong trào thi đua yêu nước của cả dân tộc dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng.

Hưởng ứng Lời thi đua ái quốc của Người, 65 năm qua, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã phát động tổ chức nhiều phong trào thi đua sôi nổi, rộng khắp. Phong trào đã tạo động lực to lớn, cổ vũ động viên đồng bào, chiến sĩ cả nước vượt qua khó khăn gian khổ, chung sức, đồng lòng làm nên những thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam ở từng thời kỳ, vững bước tiến lên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời tiến hành công cuộc đổi mới góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Trong những năm qua cán bộ làm công tác thi đua trong cả nước đã không ngừng phấn đấu, nỗ lực, xây dựng ngành thi đua, khen thưởng ngày càng trưởng thành và phát triển. Ngành đã đóng góp tích cực vào sự đổi mới của đất nước, ngày càng khẳng định vai trò tham mưu với Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành trong việc ban hành những chủ trương, chính sách, pháp luật và thực hiện nhiều biện pháp cụ thể để thi đua, khen thưởng ngày càng thiết thực.

Hướng tới kỷ niệm 65 năm Ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, cả nước đã có nhiều hoạt động kỷ niệm và nhiều phong trào thi đua sôi nổi, thiết thực, nhằm phát huy truyền thống thi đua yêu nước, lòng tự hào dân tộc, huy động sức mạnh toàn dân.

bao-cong-b
Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương – Trưởng ban Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, gắn Huy hiệu cho các đại biểu điển hình tiên tiến

Trong giờ phút trang nghiêm và xúc động của buổi Lễ, đồng chí Trần Thị Hà, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Thi đua – Khen thưởng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương đã bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Đảng, Bác Hồ vĩ đại. Người đã đi xa, nhưng tư tưởng và đạo đức, tác phong của Người vẫn luôn tỏa sáng, các thế hệ con cháu hôm nay và mai sau tiếp nối học tập.

Trước anh linh của Bác, toàn thể đại biểu tham dự Lễ báo công đã hứa: Không ngừng tu dưỡng đạo đức, rèn luyện bản thân, khắc phục khó khăn, phát huy kết quả 65 năm qua, ra sức thi đua hoàn thành xuất sắc các mục tiêu, nhiệm vụ được Đảng, Chính phủ giao cho, tập trung đẩy mạnh công tác phối hợp, phát hiện, tuyên truyền nêu gương các tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu xuất sắc trong phong trào thi đua, trọng tâm là tuyên truyền điển hình, nhân tố mới trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; tiếp tục nâng cao chất lượng thi đua khen thưởng, đảm bảo khen thưởng kịp thời, chính xác; quan tâm đến người tốt, việc tốt trong phong trào thi đua, để khen thưởng thi đua kịp thời; xây dựng và thực hiện chuẩn mực đạo đức người cán bộ làm công tác thi đua khen thưởng “tận tụy, gương mẫu, sáng tạo”.

bao-cong-c
Đoàn đại biểu kính cẩn dâng vòng hoa và vào Lăng viếng Bác

Kết thúc Lễ báo công, đồng chí Trần Thị Hà – Trưởng ban Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương và đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương – Trưởng ban Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đoàn đại biểu điển hình tiên tiến đã kính cẩn dâng vòng hoa, vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trần Tiên Long
bqllang.gov.vn