Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Lời khuyên anh em viên chức

Anh em viên chức hiện giờ đang gặp nhiều nỗi khó khǎn vì giá sinh hoạt đắt đỏ. Nhưng ta chớ nên quên rằng nước nhà đang ở thời kỳ kháng chiến. Anh em viên chức, cũng như toàn thể quốc dân, muốn qua được bước khó khǎn hiện tại, phải biết hy sinh một chút về tinh thần để tham dự vào công cuộc kiến quốc. Có chịu kham khổ bây giờ, mai sau mới được hưởng nhiều quyền lợi. Vậy để giúp công việc Chính phủ một cách đắc lực, để nâng cao tinh thần kháng chiến, anh em viên chức bây giờ phải có 4 đức tính là: cần, kiệm, liêm, chính. Cần, anh em viên chức phải tận tâm làm việc, một người làm bằng hai, ba người. Và phải tôn trọng kỷ luật. Anh em phải theo nguyên tắc là có việc mới cần đến người, chứ không phải là có sẵn người nên phải tìm việc cho làm. Kiệm, phải biết tiết kiệm đồng tiền kiếm được, cũng như các vật liệu và đồ dùng trong các sở. Rút bớt hết những sự gì không cần thiết, chớ phao phí giấy má và các thứ của công. Phao phí những thứ đó tức là phao phí mồ hôi nước mắt của dân nghèo. Chớ tưởng tiết kiệm những cái cỏn con như mẩu giấy, ngòi bút là không có ảnh hưởng. Một người như thế, trǎm người như thế, vạn người như thế, công quỹ đã bớt được một số tiền đáng kể, lấy ở mồ hôi nước mắt dân nghèo mà ra.

Có cần, có kiệm, không tiêu đến nhiều tiền, anh em viên chức mới có thể trở nên liêm, chính để cho người ngoài kính nể được.

Anh em viên chức phải gột bỏ hẳn những ý nghĩ trái với 4 nguyên tắc trên do chính sách của bọn thực dân gây nên trong đám công chức thời Pháp và Nhật thuộc.

Nói ngày 17-1-1946.

Báo Cứu quốc, số 146, ngày 19-1-1946.
cpv.org.vn

Chế độ thực dân Pháp và xứ Đông Dương (6-1928)

Trong tất cả các thuộc địa Pháp, Đông Dương là một thuộc địa rộng nhất và giàu nhất, với 710.000 kilômét vuông, 20 triệu dân và 4 tỷ đồng về thương nghiệp hằng nǎm.

Người xứ Đông Dương cũng là những người bị bóc lột và bị chà đạp nhất vì thuế khoá mỗi nǎm một tǎng lên:

1913: 57.000.000 đồng (tính số tròn)

1915: 62.000.000 ” “

1917: 70.000.000 ” “

1920: 84.000.000 ” “

1922: 87.000.000 ” “

1928: 91.500.000 ” “

Ngoài khoản sưu thuế đó, người Đông Dương còn bắt buộc phải đóng góp nhiều khoản khác nữa: 32.300.000 phrǎng cho chi phí quân sự, 700.000 phrǎng cho chi phí hàng không (1927), v.v..

Trong khi bóc lột người bản xứ, bọn đế quốc Pháp lại cho là chúng đang đem lại sự giáo dục và dân chủ cho họ.

Với 20 triệu dân, mà (nǎm 1926) Đông Dương chỉ có được 3.395 trường học với chưa đầy 214.000 học sinh. Trong khi đó, người Đông Dương – do sáng kiến của mình – đã tổ chức ra 6.751 trường học, tập hợp được 99.800 học sinh. Nhưng Chính phủ thuộc địa lại cố tìm mọi cách để cản trở phong trào giáo dục đó: họ thường đóng cửa các trường tư hoặc cấm người bản xứ không được tổ chức các trường tư mới. Đó là nói về giáo dục.

Còn đây là “dân chủ”: Một giáo viên bản xứ lĩnh 555 phrǎng và một giáo sư người bản xứ lĩnh 1.200 phrǎng mỗi tháng, còn một giáo viên người Pháp lại lĩnh những 3.750 phrǎng và một giáo sư người Pháp lĩnh những 6.000 phrǎng mỗi tháng, đấy là chưa kể mọi thứ phụ cấp mà chỉ riêng giáo viên và giáo sư người Pháp mới được hưởng.

Ta hãy nêu ra một vài con số nữa: một viên thiếu uý Pháp lĩnh 62.244 phrǎng; một viên trung uý Pháp được 77.844 phrǎng; một viên đại uý Pháp thì được 93.444 phrǎng; một viên công sứ ở Bắc Kỳ thì mỗi nǎm được 234.000 phrǎng, chưa kể các khoản phụ cấp. Còn một công nhân nông nghiệp người bản xứ thì mỗi nǎm kiếm được từ 400 đến 500 phrǎng.

ách thống trị của bọn đế quốc được dựng lên không những chỉ bằng chính sách ngu dân, chế độ không bình đẳng và nạn bóc lột, mà còn bằng chính sách khủng bố và mật thám nữa. ở Pháp, người ta nói rằng xứ Đông Dương chưa bao giờ được phồn thịnh và an ninh như thế cả. Nhưng nhà tù ở Đông Dương lại chật ních và chế độ kiểm duyệt thì thường xuyên.

Đây là một đoạn trích dẫn hai chỉ thị của Chính phủ nói về chế độ kiểm duyệt:

“Tôi ra lệnh cho các ông… phải thoả thuận với các chủ sở bưu chính để đặt việc kiểm soát các thư từ và vǎn kiện đủ các loại nhằm chặn những thứ đó lại cho kịp thời…”.

Lệnh này là do viên thống sứ ở Cao Miên ký ngày 24-7-1925 gửi cho các nhân viên cảnh sát.

Một chỉ thị khác, gửi ngày 17-10-1926, yêu cầu các tỉnh trưởng hoặc những đại diện của họ phải hợp tác với cảnh sát để làm công việc đó và cho phép họ được “vào phòng gửi các bưu kiện để kiểm duyệt các thứ đó”.

Người dân Đông Dương bị tước quyền tự do được tổ chức, đi lại, ǎn nói và viết lách, họ đều bị bịt mồm bịt miệng và bị giám sát, tuy vậy đế quốc Pháp vẫn cứ luôn luôn run sợ cho nền thống trị của chúng. Chúng sợ cách mạng từ ngoài vào. Chính Varen, đảng viên

Đảng Xã hội là người được chúng giao cho trách nhiệm phải “trừ” mối nguy cơ đó. Và thực ra thì anh chàng đảng viên của Quốc tế thứ hai ấy đã cố gắng hết sức để xứng đáng với lòng tin cậy của các ông chủ của hắn. Chúng ta hãy nghe những lời thú nhận do anh ta ký tên đǎng trên tờ Tư bản ngày 21-2-1928:

“Phương pháp trừ bỏ một nguy cơ là phải phòng trước nguy cơ đó. Chính tôi đã làm như thế. Tôi đã đặt biên giới vào tình trạng phòng thủ. Lúc tôi sang tới nơi, thì số quân của ta giảm đi một nửa so với hồi trước chiến tranh, quân nhu thì rõ ràng là thiếu thốn, các vùng biên giới được trang bị tồi. Đồng ý với Chính phủ, tôi đã tìm đủ mọi cách để trong một thời hạn ngắn nhất, cải thiện được tình hình thật sự nguy ngập đó. Ngay trước khi tôi sang Đông Dương, quân nhu, đạn dược cũng đã được tải từ Pháp sang, tiếp theo là vũ khí, sau cùng là quân đội tiếp viện. Ngay khi tôi sang tới nơi, người ta đã gấp rút trang bị cho quân đội đóng ở vùng giáp giới Trung Quốc. Bây giờ, đằng sau vỏ bọc chắc chắn hơn, chúng ta có thể dứt điểm tiến hành tổ chức quân đội”.

Ngài Varen đã quên không nói thêm rằng mình cũng đã bán đạn dược cho bọn quân phiệt Trung Quốc ở Vân Nam, bạn đồng minh của ngài.

Dù bọn xã hội đế quốc chủ nghĩa có đề phòng như thế nào đi nữa, thì nạn nghèo khổ và sự bóc lột vẫn cứ thúc đẩy người dân Đông Dương làm cách mạng, để đạp đổ ách thống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc Pháp.

WANG

———————

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 49, tháng 6-1928
cpv.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn được trân trọng ở Thái Lan

Nhiều thập niên qua, không chỉ cộng đồng Việt kiều mà cả người dân Thái, nhất là ở vùng Đông bắc nước này, vẫn còn nhắc mãi về một người làm cách mạng có tên là Thầu Chín với tấm lòng thương yêu và trân trọng.

HCM luon duoc tran trong o thai lanCác thanh thiếu nhi là con em Việt kiều múa hát trong dịp kỷ niệm
Ngày sinh của Bác tại Làng hữu nghị. (Ảnh: Ngọc Tiến/Vietnam+)

Những tình cảm và kỷ niệm sâu sắc về Người luôn được nhân dân Thái Lan trân trọng giữ gìn và ngày càng được vun đắp để làm tăng thêm mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước.

            Nhà cách mạng Thầu Chín

Trong quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi khắp năm châu, bốn biển, trong đó có Thái Lan. Người đã từng đến sống và hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước ở các tỉnh Udon Thani, Phichit, Nong Khai, Sakon Nakhon và một số nơi khác ở Thái Lan; để lại nhiều kỷ niệm sâu sắc và tình cảm đối với đất nước, con người xứ sở này.

Làng hữu nghị Thái – Việt ở tỉnh Nakhon Phanom được xây dựng và khánh thành vào năm 2004, để ghi nhớ một thời Bác Hồ đã sống và hoạt động tại đây với tên là Thầu Chín. Đó đồng thời là một trong những biểu tượng minh chứng cho tình hữu nghị giữa hai nước, sự yêu quý ngưỡng mộ của nhân dân Thái Lan, nhân dân Việt Nam đối với Hồ Chủ tịch.

Thầu Chín là bí danh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở Xiêm, nay là Vương quốc Thái Lan, trong thời gian năm 1928 – 1929. Thầu là tiếng Thái Lào, để gọi người nhiều tuổi và biểu thị sự tôn kính. Câu chuyện về cộng đồng người Việt cùng với Thầu Chín trên đất Xiêm ngày ấy đã vượt thời gian, trở thành một phần giá trị tài sản tinh thần, đặc biệt là ở những nơi dấu chân Người đã đi qua giúp nở hoa hữu nghị.

Được Việt kiều và nhân dân yêu nước Thái che chở trước sự truy lùng của mật thám Pháp, Thầu Chín ở Nakhon Phanom cho đến tháng 11 năm 1929 thì sang Trung Quốc, sau đó về Việt Nam chỉ đạo cách mạng. Ngoài bí danh Thầu Chín, một vài bí danh khác của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh cũng được Việt kiều tại Thái Lan nhắc đến với lòng kính trọng.

Theo tài liệu ghi nhận, từ Bản Mạy ở Nakhon Phanom, nhà cách mạng Thầu Chín thường có mặt tại các Bản Noọng Xén (cùng tỉnh Nakhon Phanom), Bản Đông thuộc tỉnh Phichít, Bản Noóng Ổn tỉnh Udon Thani…

Đến đâu Người cũng mang đến luồng sinh khí mới cho cuộc sống của bà con Việt kiều tại đó cùng với rất nhiều câu chuyện, rất nhiều thông tin được truyền đến bà con bằng phong cách nói chuyện rõ ràng và dễ hiểu, với sự hiểu biết rất rõ về tình hình kiều bào ở Thái Lan.

Bằng sự lôi cuốn và cảm hóa, Người mở mang tầm nhìn, cách nghĩ cho bà con qua các câu chuyện giản dị mà ẩn chứa nhân sinh quan sâu sắc, phổ biến cho bà con những kiến thức bổ ích về cách thức cải tạo vườn tạp thành vườn cây ăn quả, tìm chỗ đất thấp đào ao thả cá.

Người vận động bà con xin phép chính quyền sở tại mở lớp dựng trường dạy chữ quốc ngữ cho con em, động viên người lớn học cả chữ Thái, chữ Việt để biết những điều cần thiết cho cuộc sống hiện tại, đồng thời tạo nền móng cho quá trình học tập lâu dài để có những kỹ năng tự phân tích, tự tổng hợp ứng dụng vào làm ăn.

Và bao trùm lên tất cả là học để làm người, để có khả năng làm chủ bản thân trong mọi hoàn cảnh, để đủ hiểu biết mà chung sống hòa hợp với các cộng đồng có văn hóa khác nhau.

            Biểu tượng của tấm lòng cao cả

Nhân dịp Lễ kỷ niệm lần thứ 121 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và lần thứ 100 ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước vừa tổ chức ở Làng Hữu nghị Thái – Việt, Tỉnh trưởng tỉnh Nakhon Phanom, ông Lơngxặc Vinittraimôntri nói rằng tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và Thái Lan được vun đắp từ nhiều năm nay, nhất là từ thời Chủ tịch Hồ Chí Minh hoạt động tại làng Najok trong những năm 1928-1929. Nơi đây đã trở thành Khu Di tích, địa điểm du lịch mang tính lịch sử và văn hóa quan trọng của Thái Lan.

Khi dẫn đầu đoàn Việt Nam vừa sang thăm Thái Lan và trao các Huân chương, Huy chương và Bằng khen cho bà con kiều bào có nhiều đóng góp với sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, Thứ trưởng Ngoại giao kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Người Việt Nam ở Nước ngoài Nguyễn Thanh Sơn nói: “Thái Lan là địa bàn mà Bác Hồ của chúng ta đã sinh sống, học tập và hoạt động cách mạng ở đây. Tổ chức Việt kiều yêu nước tại Thái Lan cũng được Bác Hồ tổ chức, thành lập và xây dựng từ ban đầu cho nên quan hệ giữa nước ta với Thái Lan đang ngày càng được củng cố và phát triển tốt đẹp.”

“Hy vọng trên đất nước Thái Lan, với sự kính trọng của nhân dân Thái dành cho Hồ Chủ tịch, các Khu Di tích lưu niệm về Bác Hồ ở Bản Mạy và một số nơi khác sẽ được quan tâm và chúng ta sẽ cùng Thái Lan xây dựng những Khu Di tích đó xứng đáng với tình cảm, sự kính trọng của nhân dân hai nước dành cho Bác, xứng với vị thế và vai trò của Người trên thế giới” – Thứ trưởng nói thêm.

Theo Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn, các Khu Di tích và công trình ở Udon Thani, Khon Kaen cũng sẽ được Đảng và Chính phủ quan tâm đầu tư để tương xứng với một quốc gia có ngàn năm văn hiến như Việt Nam – đất nước luôn được bạn bè thế giới, trong đó có Thái Lan, ngưỡng mộ và khâm phục.

Bác Cao Văn San, Chủ tịch Tổng hội lâm thời người Việt Nam tại Thái Lan, cho hay hai tiếng Bác Hồ hết sức thiêng liêng đối với kiều bào và tình cảm của Việt kiều đối với Bác Hồ là không bao giờ phai nhạt.

Vào dịp 19 tháng 5 hằng năm, bà con Việt kiều thường tổ chức lễ kỷ niệm Ngày sinh của Bác, thắp hương tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh – một tấm gương sáng về đạo đức và sự tận tụy với Tổ quốc, nhân dân./.

Theo dangcongsan.vn
Kim Yến (st)

Tết

Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng đồng tình và bác ái. Trong lúc này toàn quốc đồng bào từ giàu đến nghèo, từ già đến trẻ, ai cũng sửa soạn ǎn Tết mừng Xuân. Tôi kêu gọi đồng bào và các đoàn thể làm thế nào để chia sẻ cuộc vui Xuân mừng Tết với:

Những chiến sĩ oanh liệt ở trước mặt trận,

Những gia quyến các chiến sĩ,

Những đồng bào nghèo nàn,

Sao cho mọi người đều được hưởng các thú vui về Tết Xuân đầu tiên của nước Việt Nam độc lập.

Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 147, ngày 21-1-1946.
cpv.org.vn

Trả lời các nhà báo nước ngoài

Nhân dịp các bạn tân vǎn ký giả ngoại quốc hỏi đến, tôi xin đem câu trả lời của tôi công bố ra cho đồng bào trong nước và nhân sĩ các nước ngoài đều biết:

1) Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào uỷ thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ǎn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chǎn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi.

2) Trong một nước dân chủ thì mọi người đều có tự do tin tưởng, tự do tổ chức. Nhưng vì hoàn cảnh và trách nhiệm, tôi phải đứng ra ngoài mọi đảng phái. Nay tôi chỉ có một tin tưởng vào Dân tộc độc lập. Nếu cần có đảng phái thì sẽ là Đảng dân tộc Việt Nam. Đảng đó sẽ chỉ có một mục đích làm cho dân tộc ta hoàn toàn độc lập. Đảng viên của đảng đó sẽ là tất cả quốc dân Việt Nam, trừ những kẻ phản quốc và những kẻ tham ô ra ngoài.

Rất mong nhân sĩ nước ngoài và đồng bào trong nước rõ cho.

Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 147, ngày 21-1-1946.
cpv.org.vn

Quốc lệnh

Trong một nước thưởng phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn, kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công. Vậy Chính phủ ra Quốc lệnh rõ ràng gồm có 10 điểm thưởng và 10 điểm phạt, cho quân dân biết rõ những tội nên tránh, những việc nên làm.

I. THƯỞNG

1. Nhà nào có 3 con tòng quân sẽ được thưởng.

2. Ai lập được quân công sẽ được thưởng.

3. Ai vì nước hy sinh sẽ được thưởng.

4. Ai ra trận can đảm phi thường sẽ được thưởng.

5. Ai làm việc công một cách trong sạch, ngay thẳng sẽ được thưởng.

6. Ai làm việc gì có lợi cho nước nhà, dân tộc và được dân chúng mến phục sẽ được thưởng.

7. Ai bỏ tiền ra xây đắp cầu cống, đê, đường sẽ được thưởng.

8. Ai bắt được những kẻ phản quốc sẽ được thưởng.

9. Ai liều mình về việc công sẽ được thưởng.

10. Ai cứu được người bị nạn sẽ được thưởng.

II. PHẠT

1. Thông với giặc, phản quốc sẽ bị xử tử.

2. Trái quân lệnh sẽ bị xử tử.

3. Ra trận tự ý rút lui sẽ bị xử tử.

4. Tự ý phá hoại giao thông sẽ bị xử tử.

5. Phá hoại quân khí sẽ bị xử tử.

6. Để cho bộ đội hại dân sẽ bị xử tử.

7. Vô cớ sát hại kiều dân ngoại quốc sẽ bị xử tử.

8. Trộm cắp của công sẽ bị xử tử.

9. Hãm hiếp, cướp bóc sẽ bị xử tử.

10. Can tội bắt cóc, ám sát sẽ bị xử tử.

Hà Nội, ngày 26 tháng 1 nǎm 1946
Chủ tịch Chính phủ
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 155, ngày 5-2-1946.
cpv.org.vn

Tự phê bình

Hỡi các đồng bào yêu quý,

Vì yêu mến và tin cậy tôi, mà đồng bào giao vận mệnh nước nhà, dân tộc cho tôi gánh vác. Phận sự tôi như một người cầm lái, phải chèo chống thế nào để đưa chiếc thuyền Tổ quốc vượt khỏi những cơn sóng gió, mà an toàn đi đến bờ bến hạnh phúc của nhân dân.

Nhờ sức đoàn kết của toàn dân mà chúng ta tranh được quyền độc lập. Nhưng Chính phủ vừa ra đời thì liền gặp những hoàn cảnh khó khǎn.

Ngoài thế giới, tuy chiến tranh đã hết rồi, nhưng hoà bình chưa đến. Trong nước thì miền Nam bị nạn xâm lǎng, miền Bắc bị nạn đói kém. Bộ máy thống trị cũ đã huỷ bỏ, nhưng nền nếp dân chủ mới chưa hoàn toàn. Tiền của dân ta đã bị bọn thực dân vơ vét sạch trơn, phần đông đồng bào ta đã lâm vào cảnh nghèo khó.

Trước hoàn cảnh khó khǎn đó, đồng bào đã cố gắng, người giúp sức, kẻ giúp tiền. Còn tôi thì lo lắng đêm ngày để làm tròn nhiệm vụ của mình, sao cho khỏi phụ lòng đồng bào toàn quốc. Chỉ vì tôi tài hèn đức mọn, cho nên chưa làm đầy đủ những sự mong muốn của đồng bào.

Xây dựng nền độc lập của nước nhà; lãnh đạo cuộc kháng chiến miền Nam; ra sức kêu gọi tǎng gia sản xuất và tìm mọi cách cứu nạn đói ở miền Bắc; tổ chức cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên ở nước ta, chuẩn bị thành lập Quốc hội.

Ngoài những việc đó, Chính phủ do tôi đứng đầu, chưa làm việc gì đáng kể cho nhân dân.

Tuy tranh được quyền độc lập đã nǎm tháng, song các nước chưa công nhận nước ta.

Tuy các chiến sĩ ta rất oanh liệt, song kháng chiến chưa thắng lợi.

Tuy nhiều người trong ban hành chính làm việc tốt và thanh liêm, song cái tệ tham ô, nhũng lạm chưa quét sạch.

Tuy Chính phủ ra sức sửa sang, song nhiều nơi chính trị vẫn chưa vào lề lối.

Tuy Chính phủ luôn luôn chủ trương rằng: hai dân tộc Việt – Hoa là như anh em, chúng ta cần phải thân thiện và hợp tác với anh em Trung Hoa, cũng như anh em Trung Hoa cần phải thân thiện và hợp tác với chúng ta, song vẫn có nơi chưa tránh hết sự xích mích giữa Hoa kiều và dân Việt.

Tuy Chính phủ luôn luôn chủ trương rằng: dân ta chỉ đòi quyền độc lập, chỉ kiên quyết chống chế độ thực dân; đối với kiều dân Pháp yên phận làm ǎn, chúng ta phải ra sức giữ gìn tính mệnh tài sản của họ cho được an toàn. Đó là vì nhân đạo, mà cũng có lợi cho mục đích cao thượng của chúng ta. Song sự tự động không hay đối với kiều dân Pháp vẫn xảy ra một đôi chỗ.

Có thể nói rằng: những khuyết điểm đó là vì thời gian còn ngắn ngủi, vì nước ta còn mới, hoặc vì lẽ này, lẽ khác.

Nhưng không, tôi phải nói thật: những sự thành công là nhờ đồng bào cố gắng. Những khuyết điểm kể trên là lỗi tại tôi.

Người đời không phải thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm. Chúng ta không sợ có khuyết điểm, nhưng chỉ sợ không biết kiên quyết sửa nó đi. Từ nay, tôi mong đồng bào ra sức giúp tôi sửa chữa những khuyết điểm đó bằng nhiều cách, trước hết là bằng cách thi hành cho đúng và triệt để những mệnh lệnh của Chính phủ.

Vận mệnh nước ta ở trong tay ta. Chúng ta đồng tâm nhất trí, trên dưới một lòng, thì chúng ta nhất định thắng lợi.

Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 153, ngày 28-1-1946
cpv.org.vn

Gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết sắp đến

Hỡi thanh niên và nhi đồng yêu quý!

Một nǎm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội.

Vậy qua nǎm mới, các cháu phải xung phong thực hành “đời sống mới” 30 .

Đời sống mới là:

– Hǎng hái, kiên quyết, không sợ khó, không sợ khổ.

– Phải siêng học, phải siêng làm, phải tiết kiệm.

– Việc nên làm (như ủng hộ kháng chiến, tǎng gia sản xuất) thì ta không chờ ai nhắc nhủ.

– Việc nên tránh (như tự tư tự lợi) thì ta không đợi ai ngǎn ngừa.

Nǎm mới, chúng ta thực hành đời sống mới để trở nên những công dân mới, xứng đáng với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Việt Nam độc lập muôn nǎm!

Tháng 1 nǎm 1946
Hồ Chí Minh

Sách Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch,
Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1958, t.1, tr.69.
cpv.org.vn

Cảm ơn người tặng cam

Cảm ơn bà biếu gói cam,
Nhận thì không đúng, từ làm sao đây!
Ǎn quả nhớ kẻ trồng cây,
Phải chǎng khổ tận đến ngày cam lai?

Tháng 1 nǎm 1946

Sách Hồ Chí Minh:
Thơ, Nxb Vǎn học, Hà Nội, 1970, tr.48.
cpv.org.vn

Thư chúc mừng nǎm mới

Hỡi đồng bào cả nước!

Hôm nay là mồng một Tết nǎm Bính Tuất. Ngày Tết đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tôi thay mặt Chính phủ chúc đồng bào nǎm mới muôn sự tốt lành.

Tôi riêng chúc các gia quyến của các chiến sĩ thân yêu, nǎm mới vui vẻ.

Nǎm mới, đồng bào ta sẽ phấn đấu cho một đời sống mới, ai cũng góp sức vào cuộc kháng chiến lâu dài, để làm cho nước ta được hoàn toàn tự do độc lập.

Nǎm mới đồng bào ta đoàn kết càng chặt, tranh đấu càng mạnh, sản xuất càng nhiều. Chúc đồng bào:

Trong nǎm Bính Tuất mới

Muôn việc đều tiến tới.

Kiến quốc chóng thành công,

Kháng chiến mau thắng lợi.

Trong dịp Tết này, đồng bào khắp nơi, từ các cụ già đến các em trẻ, đã gửi cho tôi nhiều thơ từ và quà bánh. Tiếc rằng tôi không thể trả lời từng người được. Vậy tôi xin trân trọng cảm ơn chung hết thảy đồng bào yêu mến.

Hỡi các chiến sĩ yêu quý!

Trong khi đồng bào ở hậu phương đốt hương trầm để thờ phụng Tổ tiên, thì các chiến sĩ ở tiền phương dùng súng đạn để giữ gìn Tổ quốc. Trong khi đồng bào ở hậu phương rót rượu mừng xuân, thì các chiến sĩ ở tiền phương tuốt gươm giết giặc. Các chiến sĩ hǎng hái chống địch, để cho đồng bào được an toàn mừng xuân.

Trong mấy ngày Tết, đồng bào ở hậu phương ai cũng đoàn tụ sum vầy chung quanh những bình hoa, mâm bánh. Mà các chiến sĩ thì ǎn gió nằm mưa, lạnh lùng ở chốn sa trường. Song, hình dung các bạn thì ấm áp trong lòng thân ái của mỗi một quốc dân.

Hiện nay, bọn thực dân Pháp ra sức tấn công, chúng nó mưu chiếm nước ta từ 16 độ trở vào Nam. Tình thế tuy nghiêm trọng, nhưng chắc các chiến sĩ quyết ra sức chống giữ để phá tan âm mưu của chúng, đồng thời Chính phủ và toàn quốc đồng bào quyết đem tất cả tinh thần, lực lượng để giúp các chiến sĩ. Chúng ta quyết không để cho bọn thực dân Pháp trở lại đè nén chúng ta.

Tôi thay mặt Chính phủ và toàn quốc đồng bào chúc các chiến sĩ nǎm mới mạnh khoẻ và thắng lợi.

Nhờ có anh em Trung Hoa, mà miền Bắc nước ta tránh được hoạ binh đao, đồng bào ta được làm ǎn yên ổn, do đó mà có thể giúp đỡ đồng bào miền Nam. Tinh thần thân thiện đó, chúng ta phải biết và phải nhớ luôn luôn.

Vậy nên nhân dịp Tết này, tôi kính thay mặt toàn quốc đồng bào mà chào mừng toàn thể anh em Trung Hoa ở đây và ở Trung Quốc, nǎm mới muôn sự tốt lành.

Chúng ta cùng hô to:

Nǎm mới Hoa – Việt thân thiện muôn nǎm!

Việt Nam kháng chiến thắng lợi!

Việt Nam độc lập muôn nǎm!

Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 155, ngày 5-2-1946
cpv.org.vn

Hiệu quả công tác tư tưởng ở đơn vị cơ sở trong Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tại Hội nghị rút kinh nghiệm về công tác tư tưởng trong quản lý bộ đội ở đơn vị cơ sở ngày 30/7/2012 do Thường vụ Đảng ủy Đoàn 969 tổ chức, lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cơ sở phát biểu đều nhận định: Công tác tư tưởng là yếu tố tiên quyết trong công tác quản lý bộ đội, xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị tư tưởng làm cơ sở để xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Những năm qua (2009 – 2012), công tác tư tưởng trong quản lý bộ đội ở đơn vị cơ sở luôn được triển khai với tinh thần chủ động, tích cực, toàn diện, phù hợp với đặc thù của đơn vị làm nhiệm vụ chính trị đặc biệt, đạt hiệu quả thiết thực, luôn giữ vững sự ổn định về chính trị tư tưởng, trực tiếp góp phần xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa của Công trình Lăng.

CTTTT a1Thiếu tướng Đặng Nam Điền, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Bộ Tư lệnh định hướng việc nghiên cứu, tìm hiểu cuốn sách Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh – Đài hoa vĩnh cửu“.

Kết quả công tác tư tưởng ở cơ sở thời gian qua luôn gắn liền với sự lãnh đạo chỉ đạo chặt chẽ, thống nhất của cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp. Chấp hành sự lãnh đạo, chỉ đạo của Thường vụ Đảng ủy Đoàn 969 và Chính ủy Bộ Tư lệnh về công tác tư tưởng, các đảng ủy, chi bộ hàng tháng, hàng quý, hoặc trong những nhiệm vụ trọng tâm, đột xuất đều xác định cụ thể những chủ trương biện pháp lãnh đạo giữ vững sự ổn định, thống nhất về tư tưởng trong cơ quan, đơn vị. Các đồng chí chính ủy, chính trị viên, bí thư đảng ủy, chi bộ và cơ quan chính trị trong xây dựng và triển khai chương trình, kế hoạch CTĐ, CTCT đều xác định công tác tư tưởng là một nội dung trọng tâm để tập trung chỉ đạo và tổ chức thực hiện phù hợp với từng thời điểm, nhiệm vụ cụ thể.

Trong tiến hành công tác tư tưởng, các cơ quan, đơn vị tập trung làm tốt công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng đúng, coi đây là nội dung quan trọng nhất để xây dựng bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống cho cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ. Trong giáo dục chính trị, bên cạnh việc thực hiện đầy đủ nội dung chương trình cơ bản theo quy định của Tổng cục Chính trị, các cơ quan, đơn vị đã chủ động tổ chức giáo dục bổ trợ về tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, về truyền thống, nhiệm vụ Bộ đội Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, về công tác bảo đảm an ninh, nghi lễ, đón tiếp tuyên truyền, phát huy ý nghĩa chính trị, văn hóa của Công trình Lăng Bác. Quá trình giáo dục đã phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ chính trị, báo cáo viên, tuyên truyền viên, kịp thời thông tin những vấn đề nổi bật trên thế giới, trong nước, quân đội và đơn vị để định hướng tư tưởng cho bộ đội. Đồng thời tích cực nghiên cứu, ứng dụng nhiều hình thức, phương pháp phù hợp, như: sử dụng thiết bị trình chiếu khi giảng bài, tổ chức các khối học tập và kiểm tra vấn đáp đối với HSQ-BS, tổ chức tham quan truyền thống, tham quan học tập đơn vị bạn, thư báo công, thi báo tường; vận dụng các trò chơi trên truyền hình “Ai là triệu phú”, “Vòng quay trí tuệ” vào thi tìm hiểu truyền thống và phát huy có hiệu quả các thiết chế văn hoá, như: thư viện, phòng Hồ Chí Minh, câu lạc bộ thể thao, truyền thanh nội bộ … tạo sân chơi lành mạnh cho bộ đội, nhất là trong những ngày nghỉ cuối tuần và các dịp lễ, tết.

Để nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng, các cơ quan, đơn vị luôn coi trọng công tác nắm, quản lý tư tưởng bộ đội. Để thực hiện tốt việc nắm tư tưởng, cán bộ các cấp phải nắm chắc hồ sơ, lý lịch, hoàn cảnh gia đình cũng như các mối quan hệ của quân nhân; nhất là những đồng chí công tác tại các bộ phận trọng yếu, cơ mật. Từ khâu tuyển chọn thanh niên nhập ngũ, đơn vị đã tổ chức bồi dưỡng, giao nhiệm vụ cụ thể cho từng cán bộ tuyển quân trực tiếp về phối hợp cùng địa phương, gia đình để lựa chọn, xác minh, báo cáo lý lịch từng thanh niên đủ điều kiện nhập ngũ vào đơn vị. Sau khi kết thúc khóa huấn luyện chiến sỹ mới, từng chiến sỹ khi về cơ quan, đơn vị mới công tác đều gửi kèm theo bản nhận xét, đánh giá kết quả huấn luyện, rèn luyện phục vụ cho công tác quản lý sau này. Quá trình quản lý tư tưởng, các cơ quan, đơn vị đã chú trọng các biện pháp, như: thông qua sinh hoạt tổ 3 người, chiến sĩ dân vận, chiến sĩ bảo vệ, tổ đội thanh niên xung kích; thông qua các mối quan hệ đồng chí, đồng đội, quan hệ cấp trên, cấp dưới; quan hệ gia đình và quan hệ xã hội; quan hệ chiến sĩ cũ và chiến sĩ mới để quản lý tư tưởng. Hàng tháng, hàng quý các cấp ủy, chi bộ đều tổ chức phân tích chất lượng tư tưởng bộ đội. Những quân nhân nhận thức tư tưởng lệch lạc, kết quả thực hiện nhiệm vụ hạn chế, hoặc chấp hành quy định chưa nghiêm đều phân công cán bộ gặp gỡ, giúp đỡ.

CTTTT a2
Tổ chức thi tìm hiểu truyền thống ở Đoàn 275

Nét nổi bật của các đơn vị cơ sở trong những năm qua khi tiến hành công tác tư tưởng luôn gắn chặt với việc duy trì nề nếp chính quy, rèn luyện kỷ luật, đẩy mạnh các phong trào thi đua và kết hợp chặt chẽ với công tác tổ chức, công tác chính sách. Để kỷ luật quân đội trở thành “tự giác và nghiêm minh”, các cơ quan, đơn vị đã coi trọng việc giáo dục, nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội và các quy định của đơn vị, nhất là giáo dục tình thương yêu giúp đỡ đồng chí như ruột thịt giữa cấp trên với cấp dưới, giữa cán bộ với chiến sỹ, giữa các lớp chiến sỹ và xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh trong tập thể quân nhân. Đồng thời duy trì nề nếp các chế độ, lễ tiết tác phong quân nhân và đẩy mạnh phong trào thi đua quyết thắng. Trong dịp kỷ niệm các ngày lễ, hoặc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm, đột xuất, các khối thi đua, các cơ quan, đơn vị đều tổ chức phát động thi đua cao điểm động viên cổ vũ bộ đội phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Các tập thể, cá nhân tiêu biểu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đều được các cấp bình xét công tâm và biểu dương, khen thưởng đúng người, đúng việc. Những trường hợp thiếu cố gắng, hoàn thành nhiệm vụ thấp, vi phạm quy định đều phải xem xét phê bình, nhắc nhở, hoặc thi hành kỷ luật theo đúng điều lệnh. Bên cạnh đó, các cơ quan, đơn vị luôn duy trì và thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Những nội dung về chính trị, quân sự, chuyên môn nghiệp vụ, hậu cần, tài chính đều được bàn bạc dân chủ, công khai trong tập thể cấp ủy, chỉ huy và toàn thể quân nhân. Các ý kiến của bộ đội, hoặc những vấn đề khó khăn ở cơ sở đều được chỉ huy các cấp tiếp thu, giải quyết triệt để. Vào các dịp lễ, tết, các cơ quan, đơn vị đều tổ chức thăm hỏi, gặp gỡ, động viên bộ đội. Ở hầu hết các đơn vị đều xây dựng quỹ “Tình đồng đội” để giúp đỡ các trường hợp gặp khó khăn đột xuất. Một số trường hợp khó khăn đặc biệt, cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ trong đơn vị đã chủ động ủng hộ giúp đỡ kịp thời.

Với tinh thần chủ động, tích cực và hiệu quả, công tác tư tưởng ở đơn vị cơ sở trong 3 năm qua đã trực tiếp giữ vững sự ổn định về chính trị tư tưởng trong đảng bộ và đơn vị. Tuyệt đại đa số cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ đều có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, luôn trung thành, gắn bó, tâm huyết với nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh; có động cơ phấn đấu đúng đắn; phẩm chất đạo đức tốt; đoàn kết nội bộ gắn bó; kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch và chủ động, tích cực khắc phục những tác động tiêu cực mặt trái của nền kinh tế thị trường xâm nhập vào đơn vị.

Trong những năm tới, để thực hiện mục tiêu “Xây dựng 100% đảng bộ, chi bộ, cơ quan, đơn vị trong sạch vững mạnh về chính trị tư tưởng, 100% cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, ý chí trách nhiệm cao, trung thành, gắn bó và quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hoá của Công trình Lăng trong giai đoạn mới; góp phần xây dựng Đảng bộ Đoàn 969 TSVM, là đảng bộ tiêu biểu trong Đảng bộ Quân đội, xây dựng đơn vị VMTD, tiêu biểu về điều lệnh và nghi lễ trong toàn quân mà Thường vụ Đảng ủy Đoàn 969 xác định, lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị đều tiếp tục khẳng định công tác tư tưởng trong quản lý bộ đội là một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong toàn bộ hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị; đòi hỏi cấp uỷ, chính uỷ, chính trị viên, chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp phải làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục cho cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ nhận thức sâu sắc niềm vinh dự tự hào gắn với trách nhiệm cao được phục vụ tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; thường xuyên nắm chắc và quản lý chặt chẽ tình hình tư tưởng của bộ đội, chủ động phát hiện, giải quyết triệt để tư tưởng nảy sinh từ cơ sở; tích cực cải tiến, đổi mới các khâu, các bước công tác tư tưởng trong quản lý bộ đội phù hợp với đặc thù của đơn vị làm nhiệm vụ chính trị đặc biệt; kết hợp chặt chẽ giữa công tác tư tưởng với công tác tổ chức và chính sách; thực hiện tốt quy chế dân chủ gắn với duy trì chấp hành kỷ luật nghiêm; phát huy vai trò trách nhiệm, tính nêu gương của cán bộ chủ trì các cấp và sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng trong tiến hành công tác tư tưởng ở cơ sở./.

Nguyễn Hữu Mạnh
bqllang.gov.vn

Cảm nhận từ một chuyến thăm không gian Hồ Chí Minh tại nước Pháp

DoancongtactaiPhap1Trong những ngày tháng Tư lịch sử, Đoàn cán bộ của Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có chuyến đi khảo sát và thăm một số địa danh lịch sử tại Pháp gắn liền với tên tuổi, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian Người hoạt động cách mạng tại đây vào đầu thế kỷ XX.

Ngược dòng thời gian trở lại, vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đất nước ta đắm chìm trong đêm trường nô lệ. Trước tình cảnh ấy, nhân dân ta đã phát huy truyền thống yêu nước từ bao đời để lại, đấu tranh chống lại ách thống trị của thực dân Pháp và bè lũ tay sai giành độc lập, tự do cho nhân dân nhưng đều thất bại. Nhiều nhà yêu nước đã ra đi tìm đường cứu nước nhưng vẫn không tìm ra con đường mang lại hiệu quả đích thực. Trước thực tế ấy, người thanh niên Nguyễn Tất Thành, người con xứ Nghệ, mới 21 tuổi đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước. Ngày 5/6/1911, trên con tàu Latútsơ Tơrevin, từ Bến cảng Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc thân yêu ra đi tìm đường cứu nước.

Hành trình bôn ba khắp năm châu bốn biển để tìm ra con đường cứu dân, cứu nước của chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành là hành trình lao động đầy vất vả với bao công việc khó khăn, nặng nhọc để kiếm sống, học tập, thâm nhập vào phong trào công nhân và tầng lớp lao động các nước. Từ tàu buôn Pháp, qua tàu buôn Mỹ, cạo tuyết thuê cho một trường học rồi phục vụ trong một khách sạn ở Anh. Năm 1917, Nguyễn Tất Thành trở lại Pháp. Bắt đầu từ đây, anh có nhiều cuộc tiếp xúc với các nhà văn hoá, trí thức, tham gia các cuộc sinh hoạt chính trị sôi nổi. Dấu ấn của những hoạt động chính trị đó là sự kiện Nguyễn Ái Quốc tham gia Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp tại thành phố Tua với tư cách là đại biểu chính thức và duy nhất của các nước thuộc địa Đông Dương. Tại Đại hội này, cùng những người cách mạng chân chính của nước Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành tham gia quốc tế III – Quốc tế Cộng sản, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và Người cũng trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Việc Người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp năm 1920 đã đánh dấu một bước chuyển biến quyết định, bước nhảy vọt, thay đổi về chất trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị của Người: Từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Lênin.

Doan cong tac tai Phap 3Toàn cảnh Bảo tàng Sống Montreuil

Những hoạt động trên đất Pháp của Người còn in đậm dấu ấn bởi sự hiện hữu của các di tích lịch sử, trong đó phải kể đến căn phòng trong ngôi nhà số 9 ngõ Công-poanh, quận 17- Pa-ri. Nơi đây, Người đã sống và hoạt động lâu nhất, từ ngày 14/7/1921 đến ngày14/3/1923. Căn phòng nằm trên tầng 3 của ngôi nhà cũ kỹ trong ngõ cụt thuộc một khu phố nghèo ở Pa-ri, không điện thắp sáng, rộng 9m2, chỉ vừa đủ kê chiếc giường cá nhân, một bàn nhỏ và một chiếc ghế. Qua nhiều năm tháng, căn phòng nhỏ vẫn được giữ nguyên vẹn như một kỷ niệm, một dấu ấn không thể phai mờ. Cuối năm 1986, thành phố Pa-ri có kế hoạch phá bỏ những toà nhà cũ kỹ để xây dựng lại, trong đó có ngôi nhà số 9 ngõ Công-poanh. Lúc đó, Đảng Cộng sản Pháp đã cùng Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp bàn cách giữ gìn di tích quan trọng này. Cuối cùng, căn phòng lưu niệm được quyết định sẽ được phục chế tại Bảo tàng Lịch sử Sống Montreuil với những chi tiết nguyên bản (hiện vật gốc) tháo dỡ từ căn phòng trong ngôi nhà số 9 Công-poanh. Việc phục dựng căn phòng được tiến hành khẩn trương đồng thời với việc cải tạo Bảo tàng, đến tháng 9 năm 1988 thì hoàn thành.

Đoàn chúng tôi đặt chân đến Bảo tàng Lịch sử Sống Montreuil khi mùa xuân còn đang đọng lại trên các tán cây, ngọn cỏ nơi đây. Nắng vàng trải dài trên những thảm cỏ xanh mượt, tiếng chim hót trong các lùm cây hai ven đường líu lo. Công viên Montreau – Daniel Renoult nằm tại xã (commune) Montreuil, ngoại ô phía đông Pa-ri. Từ cổng công viên vào là một đoạn đường thẳng tắp, hai bên đưòng trồng nhiều loại hoa đua nhau khoe sắc, phía bên trong là một khu đất rộng trồng nhiều hoa dưới những tán cây cổ thụ. Bảo tàng Lịch sử Sống với 3 tầng màu trắng, mái ngói đỏ tươi nằm thấp thoáng bên những tán cây cao vút. Các cán bộ Bảo tàng niềm nở đón chúng tôi và rất vui khi biết đoàn từ Việt Nam tới. Nữ hướng dẫn viên nhiệt tình đưa chúng tôi tham quan một vòng quanh Bảo tàng vì biết chúng tôi là những cán bộ của Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và giới thiệu về Bảo tàng – nơi lưu giữ hình ảnh 100 nhân vật có dấu ấn trong lịch sử nhân loại – mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong số 100 nhân vật được giới thiệu ở đây. Một không gian riêng của Bảo tàng được dành cho trưng bày căn phòng tại số 9, ngõ Công-poanh, nơi gắn liền với Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người hoạt động cách mạng ở Pháp từ năm 1921-1923 được phục dựng với tỷ lệ 1/1. Đứng trong căn phòng của Bảo tàng, mỗi thành viên trong đoàn chúng tôi ai cũng xúc động, bởi chính từ ngôi nhà trọ số 9 ngõ Công-poanh này đã nuôi dưỡng một tâm hồn, một ý chí mãnh liệt của người thanh niên Nguyễn Ái Quốc với con đường cứu dân, cứu nước, để dân tộc có độc lập, tự do như ngày hôm nay.

Chúng tôi đã tới thăm Tượng Bác Hồ được đặt ngay trong công viên Montreau, bên cạnh Bảo tàng Lịch sử Sống Montreuil. Từ xa chúng tôi đã nhận ra bức tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt trang trọng, nổi bật giữa không gian yên bình của công viên. Phía trước là khoảng sân nhỏ lát đá để tiến hành các nghi thức nghi lễ, phía sau là hai cây hoa tím biếc và hai cây tùng cổ thụ đổ bóng mát quanh năm, xung quanh là những bông hoa màu sắc sặc sỡ và thảm cỏ mượt như nhung. Dưới tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm biển đồng ghi dòng chữ:

«Président HỒ CHÍ MINH 1890 – 1969 Héros de la libération nationale et eminent homme de culture du Vietnam

(Résolution de LUNESCO 1987) »

Tạm dịch: «Chủ tịch HỒ CHÍ MINH 1890 – 1969 Anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hoá của Việt Nam

(Nghị quyết của UNESCO năm 1987)»

Người hướng dẫn viên cho biết, lễ đặt tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được tổ chức trọng thể vào hồi 14 giờ 30 ngày 19 tháng 5 năm 2005, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 115 năm Ngày sinh của Người.

Chia tay các cán bộ của Bảo tàng với lời hẹn gặp lại, đoàn chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình tìm tới nơi mà Bác Hồ đã từng ở năm xưa: Nhà số 9, ngõ Công-poanh.

Qua vài bến tàu điện ngầm, chúng tôi đến phố Guy Môquet. Ngõ Công- poanh nằm trên phố Guy Môquet là một ngõ nhỏ, ngắn, hai bên là hai dãy chung cư. Con phố khá vắng vẻ, chúng tôi không cần hỏi thăm đã nhận ra nhà số 9 nằm ở phía bên trái, gần cuối ngõ, nay được chia ra thành số 9 và số 9 bis. Bên ngoài số 9 bis, có tấm biển với nội dung như sau:

“ICI, DE 1921 A 1923 A VECU ET MILITE POUR LINDEPENDANCE ET LA LIBERTE DU PEUPLE VIETNAMIEN ET DES AUTRES PEUPLES OPPRIMES NGUYỄN ÁI QUỐC CONNU SOUS LE NOM DE HỒ CHÍ MINH

JANVIER 1983”

Tạm dịch: «Tại đây, từ năm 1921 đến 1923, Nguyễn Ái Quốc được biết đến dưới tên gọi Hồ Chí Minh đã sống và chiến đấu cho độc lập và tự do của nhân dân Việt Nam và các dân tộc bị áp bức khác

Tháng 1 năm 1983”

Doan cong tac tai Phap 2Bên tấm biển đồng tại nhà số 9 ngõ Công-poanh (Bà Christiane Suzet đứng giữa)

Đây chính là tấm biển của ngôi nhà cũ, do Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Pháp phối hợp với Đại sứ quán Việt Nam và Hội Việt kiều tại Pháp gắn biển lưu niệm vào ngày 15 tháng 01 năm 1983 để ghi nhớ và giữ gìn những kỷ niệm sâu sắc về Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh tại đây.

Đứng ngay dưới chân của căn gác xép năm xưa, nơi Bác Hồ của chúng ta đã từng sống và hoạt động cách mạng, chúng tôi ai cũng xúc động. Vậy là từ gác xép nhỏ nơi phố nghèo này, Bác của chúng ta đã tự thân, tự lập nơi xứ người, hoà vào cuộc sống của những người cùng khổ để tìm ra con đường cứu dân, cứu nước. Để rồi hơn hai mươi năm sau (năm 1945) tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nhân loại tiến bộ đều biết đến Người – một chiến sỹ cách mạng lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Có một kỷ niệm nho nhỏ đối với chúng tôi đó là khi cả đoàn đang loay hoay tìm cách chụp ảnh chung nhưng chưa biết nhờ ai, vì con phố về trưa quá vắng vẻ, thì được ông bà Christiane Sauzet ở căn hộ phía kế bên đã nhiệt tình chụp ảnh giúp. Bà Christiane Sauzet cho biết, bà đã ở khu phố này từ khi mới xây dựng lại và năm nào cũng chứng kiến các đoàn khách Việt Nam đến thăm địa danh này và bà rất ấn tượng với cụm từ: Việt Nam – Hồ Chí Minh. Bà cho biết hai ông bà sẽ sang Việt Nam và đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh vào một dịp thích hợp.

Rời ngõ nhỏ Công-poanh khi nắng chiều đang nhạt dần, chúng tôi có chung một cảm xúc khi nhớ về một thời hoạt động cách mạng sôi nổi của Bác Hồ nơi xứ người, với bao khó khăn vất vả nhưng vẫn kiên định về một con đường: Cứu dân, cứu nước. Những khó khăn trong hành trình tìm đường cứu nước gian khổ là vậy nhưng không làm nhụt ý chí mà càng hun đúc nhiệt huyết cách mạng của người thanh niên trẻ tuổi Nguyễn Ái Quốc. Điều đó càng làm chúng tôi, những cán bộ, nhân viên đang ngày đêm thực hiện nhiệm vụ bên Lăng Bác như tiếp thêm sức mạnh và quyết tâm để hoàn thành nhiệm vụ chính trị đặc biệt mà Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân đã tin cậy giao phó: Giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát huy ý nghĩa chinh trị, văn hóa của Công trình Lăng trong giai đoạn mới./.

Duy Hưng
bqllang.gov.vn