Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Khâm Thiên – Gương mặt cuộc đời

Nhân kỷ niệm 40 năm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, nhà nghiên cứu Giang Quân cho ra mắt cuốn sách “Khâm Thiên – Gương mặt cuộc đời” (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội).

340 trang sách dành để “kể chuyện” con phố Khâm Thiên, nơi tác giả đang sống và chứng kiến nhiều đổi thay. Các phần viết ăm ắp những tư liệu về một thời B-52 Mỹ rải thảm hòng hủy diệt con phố này. Kế đó, gương mặt Khâm Thiên còn hiện lên qua các chương “Cái thú ả đào”, “Sênh phách một thời” cho độc giả những tư liệu  thú vị liên quan đến các đào nương Chu Thị Bốn, Chu Thị Năm, Phó Thị Yến, Quách Thị Hồ… và nhiều văn nghệ sĩ nổi tiếng: Trần Tuấn Khải, Nguyễn Xuân Khoát, Thâm Tâm, Vũ Bằng, Nguyễn Tuân,…

Ngoài ra cuốn sách còn dành riêng phần “Khâm Thiên trong chớp lửa bom chùm” để in bài viết của các nhà văn, nhà thơ Ngô Văn Phú, Hà Đình Cẩn, Nguyễn Sĩ Chung, Nghiêm Đa Văn…

HT
daidoanket.vn

Gắn kết nhân chứng với bảo tàng

Chương trình “Bảo tồn nhân chứng B-52”

QĐND – Bảo tàng Phòng không – Không quân (PK-KQ) là một trong những bảo tàng đầu tiên trong cả nước triển khai chương trình “Bảo tồn nhân chứng B-52” (đây là một phần của chương trình bảo tồn nhân chứng chiến tranh). Sau hơn một năm triển khai chương trình, Bảo tàng PK-KQ đã thu về được hàng nghìn phiếu bảo tồn nhân chứng, trong đó 500 phiếu liên quan trực tiếp đến sự kiện B-52. Chương trình mới này đã cung cấp những dữ liệu quan trọng giúp đơn vị làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nhân dịp kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.Từ mô hình đăng ký bạn chiến đấu

Đại tá Nguyễn Hữu Đạc, Giám đốc Bảo tàng PK-KQ cho biết:

– Ý tưởng ra đời chương trình “Bảo tồn nhân chứng B-52” của đơn vị được hình thành từ năm 2008 khi xuất hiện cách làm của các cựu chiến binh (CCB) với mô hình đăng ký phiếu bạn chiến đấu.

Mô hình đăng ký phiếu bạn chiến đấu là hoạt động tự nguyện của các CCB đăng ký những thông tin cá nhân thông qua lá phiếu để trao đổi, liên lạc với nhau. Theo anh Đạc, mô hình này chỉ là hoạt động tự phát của các ban liên lạc bạn chiến đấu, nó chưa thu hút được nhiều CCB tham gia, mặt khác, còn thiếu tính ràng buộc về mặt pháp lý.

Cán bộ, nhân viên Bảo tàng Bảo tàng PK-KQ trao đổi nghiệp vụ.

Từ mô hình đó, Bảo tàng PK-KQ đã xây dựng chương trình “Bảo tồn nhân chứng B-52” và được Bộ tư lệnh Quân chủng PK-KQ phê duyệt. Nội dung cơ bản của chương trình tạo sự gắn kết và phát huy vai trò của CCB đối với hoạt động của bảo tàng, thông qua việc tự nguyên hiến tặng các kỷ vật kháng chiến. Ngay sau khi chương trình ra đời, để thuận lợi cho các CCB tham gia vào quá trình bảo tồn, tự nguyện hiến tặng những hiện vật, đơn vị đã tổ chức tuyên truyền rộng rãi, phát phiếu đăng ký và gửi đến từng gia đình CCB. Phiếu bảo tồn được làm theo đúng quy định của Luật Di sản, với các tiêu chí hết sức cụ thể, rõ ràng nhằm bảo đảm tính chính xác như: Thông tin của nhân chứng; thông tin về không gian, thời gian của sự kiện lịch sử; thông tin về các tư liệu lịch sử có liên quan. Trong đó, đặc biệt lưu ý thể hiện rõ tư cách pháp nhân của nhân chứng, như: Bút tích, chữ ký, hình ảnh… Từ cách làm trên, giúp cho Bảo tàng PK-KQ lưu trữ được những thông tin có giá trị xung quanh các sự kiện lịch sử, đặc biệt là chiến thắng B-52 trong 12 ngày đêm trên bầu trời Hà Nội; đồng thời lưu giữ được lâu dài, bảo đảm tính nhất quán trong các dữ liệu, sự kiện lịch sử.

Sau hơn một năm triển khai chương trình, Bảo tàng PK-KQ đã thu về được hàng nghìn phiếu với nhiều thông tin có giá trị; trong đó 500 phiếu liên quan đến sự kiện B-52, với nhiều thông tin mới được công bố, đồng thời giúp cho đơn vị tổ chức thành công nhiều hoạt động, thu hút gần 40 nhân chứng tiêu biểu tham gia.

Gắn kết nhân chứng B-52 với bảo tàng

Thiếu tướng Phan Thanh Giảng, Phó chủ nhiệm Chính trị Quân chủng PK-KQ khẳng định:

– Chương trình “Bảo tồn nhân chứng B-52” đã giúp Bảo tàng PK-KQ nói riêng, Quân chủng PK-KQ nói chung có thêm những tư liệu giá trị về lịch sử chiến đấu hào hùng của Bộ đội PK-KQ, đặc biệt là những thông tin mới, hết sức giá trị về sự kiện chiến thắng B-52 những ngày cuối năm 1972.

Qua tìm hiểu chúng tôi được biết, để phát huy tối đa những thông tin, hiện vật, câu chuyện, hình ảnh mà các CCB hiến tặng thông qua chương trình “Bảo tồn nhân chứng B-52”, trong đợt cao điểm tuyên truyền kỷ niệm 40 năm “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không”, Bảo tàng PK-KQ đã mời các nhân chứng như: Phạm Tuân, Nguyễn Văn Phiệt, Nguyễn Xuân Đài, Phạm Ngọc Lan, Nguyễn Văn Cốc nói chuyện truyền thống cho nhân dân, học sinh, sinh viên.

Từ khi có chương trình “Bảo tồn nhân chứng B-52”, việc kết nối các nhân chứng với bảo tàng không còn là sự kết nối “cơ học”, mà là sự kết nối gắn với các hoạt động đa dạng phong phú, hấp dẫn của các CCB. Trung tá Phạm Văn Chắt, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 72, Trung đoàn 285, Sư đoàn 363, người trực tiếp chỉ huy đơn vị bắn cháy B-52 rơi xuống hồ Hữu Tiệp xúc động nói:

– Tôi rất tự hào được gửi gắm những câu chuyện về chiến thắng B-52 thông qua chương trình “Bảo tồn nhân chứng B-52”. Tôi hy vọng những câu chuyện chân thực của mình và nhiều đồng đội sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam; đồng thời giáo dục cho thế hệ trẻ hôm nay lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc.

Bảo tàng chiến thắng B-52.

Mở hướng đi mới

Theo kế hoạch, năm 2013, Bảo tàng PK-KQ sẽ đưa vào trang mạng quản lý thông tin của đơn vị để độc giả dễ dàng tra cứu các hiện vật, tư liệu lịch sử về Bộ đội PK-KQ. Hình ảnh, hiện vật của các nhân chứng cũng sẽ được đơn vị tổ chức trưng bày trực quan theo từng chủ đề, gắn với các sự kiện lịch sử, các ngày lễ lớn của đất nước, của Quân đội và Quân chủng PK-KQ. Thượng tá QNCN Nguyễn Thị Thanh Lương, Trưởng ban Sưu tầm Bảo tàng PK-KQ nói:

– Mặc dù mới triển khai, nhưng bước đầu chương trình đã mang lại hiệu quả thiết thực, tạo ra một kênh mới để huy động có hiệu quả những hiện vật làm phong phú, đa dạng hóa các hoạt động của giáo dục lịch sử, truyền thống cho thế hệ trẻ.

Việc Bảo tàng PK-KQ xây dựng và triển khai chương trình “Bảo tồn nhân chứng B-52” không chỉ giúp cho hoạt động của đơn vị thêm phong phú, sinh động, chân thực khi tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục truyền thống, mà còn mở ra hướng đi mới trong việc gắn kết các nhân chứng lịch sử với hoạt động của bảo tàng.

Bài và ảnh: LẠI NGUYÊN THẮNG
qdnd.vn

Từ hầm chỉ huy tác chiến…

QĐND – Hầm Chỉ huy tác chiến (Bộ tổng Tham mưu) đóng tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long (Ba Đình, Hà Nội) vừa mở cửa đón khách tham quan đúng dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không”. Thăm căn hầm, nhiều du khách không khỏi ngỡ ngàng về sức mạnh từ nơi đây- một sức mạnh như huyền thoại.

Căn phòng lớn nhất – Phòng trực ban tác chiến, nơi cán bộ, nhân viên làm việc 24/24 giờ, có nhiệm vụ trực tiếp trả lời Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người gọi, hỏi; theo dõi tình hình bảo vệ miền Bắc (kể cả trên bộ, trên biển, trên không) và chiến sự diễn ra trên các chiến trường Đông Dương, đề xuất với Bộ tổng Tham mưu các phương án tác chiến…và đảm nhiệm những công việc tác chiến cực kỳ quan trọng khác đối với cả nước và Hà Nội, chỉ rộng 34m2, bậu cửa, tường quét vôi ve, gạch lát nền đơn giản. Ông Trần Độ, nguyên sĩ quan tác chiến, trực ban trưởng ngày 18-12-1972, giải thích: Căn phòng vẫn còn “nguyên gốc” như khi tôi trực ban đánh B-52 cách đây 40 năm”.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh (đứng giữa) kể chuyện trực chiến tại Hầm chỉ huy tác chiến trong chiến dịch 12 ngày đêm cuối năm 1972.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh, nguyên Cục phó Cục Tác chiến, Bộ Tổng tham mưu, suốt 12 ngày đêm cuối năm 1972 đã trực chiến trong căn hầm này. Ông giới thiệu một chiếc máy điện thoại trên bàn ở góc phòng, cạnh bộ ấm chén uống nước: “Chiếc điện thoại này được dùng cho một việc duy nhất là trả lời Bác Hồ. Chuông reo là lúc Bác Hồ gọi để Bác nghe báo cáo tình hình”.

Chị Vũ Thu Hà, cầm chiếc bút chì xanh đỏ đặt trong chiếc khay cạnh bảng tiêu đồ, ngắm nghía như tìm lại được kỷ vật cuộc đời. Chị xúc động kể: “Tôi lúc ấy 19 tuổi, làm nhiệm vụ trong phòng tiêu đồ. Chúng tôi viết ký hiệu và thông tin lên tấm bản đồ kính để sĩ quan tác chiến ở phòng ngoài nhận biết và xử lý”. Theo yêu cầu của một số đại biểu, chị Hà đưa nét bút…Người đứng cùng chiều với chị thì không hiểu gì, nhưng người đối diện ở phía bên kia tấm kính đọc được ngay, vì chị viết chữ ngược! Đó cũng là nét đặc sắc của nhân viên tiêu đồ hầm chỉ huy tác chiến…

Đồ dùng sinh hoạt trong hầm, từ chiếc đèn bão, bộ ấm chén, bát đũa ăn cơm…, đều như đồ dùng của gia đình ở thôn quê. Thăm căn hầm, tôi không thể nén được cảm xúc và thốt ra thành lời: Căn hầm giản dị này mà đã làm cho Lầu năm góc phải mất ăn mất ngủ, làm cho quân đội Mỹ và Quân lực Việt Nam cộng hoà được trang bị “đến tận răng” cũng phải khốn đốn. Đặc biệt, từ đây, những mệnh lệnh điều hành tác chiến làm cho pháo đài bay B-52 yêng hùng, tích tụ văn minh đế quốc đầu sỏ bị đánh tan tành, thảm bại ngay tại vùng trời trên nóc hầm!

Tôi hỏi Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh: “Thưa ông, trong chiến dịch 12 ngày đêm, các ông có nghĩ tới trường hợp B-52 trút bom trúng hầm?”.

Vị tướng trả lời chắc nịch: “Mặc dù hầm rất kiên cố, nhưng không phải không có lúc nghĩ tới chuyện đó. Có điều, trong chỉ huy tác chiến, cuộc đấu trí nơi đây luôn hướng vào việc tấn công kẻ thù, tiêu diệt chúng, để chúng không thể gây tội ác với nhân dân ta. Chúng tôi hầu như không có lúc nào để nghĩ đến khả năng xấu có thể đến. Bộ đội ta chưa lập công, hầm tác chiến cũng căng thẳng với bao băn khoăn, day dứt. Khi B-52 bị bắn rơi, hầm tác chiến hân hoan, rộn rã tiếng reo vui…

Rời căn hầm, tôi mang theo những cảm xúc đặc biệt. Những căn phòng, hiện vật đều đã cũ, nhưng vẫn luôn âm vang bài học cho hiện tại và cả với tương lai: Ta đánh giặc bằng lương tri, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam!

Bài và ảnh: PHẠM XƯỞNG
qdnd.vn

Hầm chỉ huy Sư đoàn phòng không 361 được công nhận Di tích quốc gia

QĐND Online – Chiều 28-12, tại Hà Nội, Sư đoàn phòng không 361 (Quân chủng PK-KQ) tổ chức Lễ công bố quyết định và đón nhận Bằng di tích quốc gia cho Hầm chỉ huy Sư đoàn phòng không 361. Đến dự có Đại tá Ngô Doãn Tạo, Phó chủ nhiệm Chính trị Quân chủng PK-KQ và đại diện Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Ngày 19-5-1965, Đoàn phòng không Hà Nội, nay là Sư đoàn phòng không 361 được thành lập. Ngay sau đó, Ủy ban hành chính Hà Nội đã ra quyết định cấp đất để xây dựng sở chỉ huy cơ bản của Sư đoàn, mang mật danh K1, trên diện tích 850m2. Đầu năm 1966, Hầm chỉ huy cơ bản K1 được xây dựng xong và đưa vào sử dụng.

Đại diện Quân chủng PK-KQ và lãnh đạo, chỉ huy Sư đoàn phòng không 361 đón nhận Bằng di tích quốc gia.

Sở chỉ huy Sư đoàn phòng không 361 là trung tâm điều hành, chỉ huy chiến đấu của Sư đoàn. Từ Sở chỉ huy này, Sư đoàn phòng không 361 đã hiệp đồng với LLVT Thủ đô và các binh chủng bạn, đánh bại các cuộc tập kích đường không của địch, bảo vệ Hà Nội. Đây cũng là nơi diễn ra các cuộc đấu trí quyết liệt của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn phòng không 361 với các thủ đoạn kỹ, chiến thuật của không quân Mỹ. Do vậy, trong 3 năm (từ 1966 đến 1968), các lực lượng của Sư đoàn đã bắn rơi 159 máy bay địch; phối hợp với các đơn vị khác bắn rơi 323 chiếc khác.

Cũng tại Sở chỉ huy cơ bản K1, Đảng ủy Sư đoàn phòng không 361 đã ra Nghị quyết chuyên đề về đánh máy bay B-52. Ngày 21-9-1972, phương án đánh máy bay B-52, bảo vệ Hà Nội của Sư đoàn phòng không 361 đã được thông qua tại Sở chỉ huy cơ bản K1.

Trong chiến dịch 12 ngày đêm chống cuộc tập kích đường không chiến lược của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh, thành phố lớn trên hậu phương miền Bắc, tại Sở chỉ huy Sư đoàn phòng không 361, kíp trực chỉ huy chiến đấu rút gọn đã ngày đêm sẵn sàng chiến đấu, hỗ trợ chỉ huy, cùng với các lực lượng của Quân chủng PK-KQ, quân và dân Thủ đô và các địa phương, đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng B-52 của đế quốc Mỹ, làm nên Chiến thắng lừng lẫy “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”.

Hiện tại, Hầm Sở chỉ huy Sư đoàn phòng không 361 vẫn giữ nguyên hiện trạng, tại số 2 đường Lê Văn Lương, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội. Trong thời gian tới, Sư đoàn phòng không 361, Bảo tàng PK-KQ sẽ tiếp tục phối hợp với Ban quản lý di tích tiến hành củng cố, tôn tạo, để Hầm chỉ huy Sư đoàn phòng không 361 ngày càng xứng đáng với tầm vóc lịch sử của mình; đồng thời trở thành địa chỉ tham quan hấp dẫn đối với nhân dân Thủ đô và nhân dân cả nước và là nơi giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ hôm nay.

Tin, ảnh: HOÀNG HÀ
qdnd.vn

Bác Hồ chọn Phó Thủ tướng

Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức là một trong những nội dung quan trọng của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010 và tiếp tục được xác định là nội dung trọng tâm của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020. Trong công tác cán bộ, việc đánh giá, xem xét, lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý có vai trò rất quan trọng.

bac-hoBác Hồ đi công tác ở chiến khu Việt Bắc

Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công tác cán bộ. Người nói: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”(1). Để có cán bộ tốt, Người rất chú trọng đến công tác huấn luyện, lựa chọn và sử dụng cán bộ.

Đối với cán bộ, Người yêu cầu họ phải là những người có đức, có tài, phải vừa “hồng” lại vừa “chuyên”. Đức của người cán bộ phải được thể hiện ở ba phương diện: 1. Tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của dân tộc (trách nhiệm trước đất nước); 2. Thương yêu và chăm lo đến quyền lợi của nhân dân (trách nhiệm trước nhân dân); 3. Có đạo đức công vụ tốt, hết lòng vì công việc chung, không bè phái, không tham nhũng, lãng phí (trách nhiệm trước công vụ). Tài của người cán bộ phải được biểu hiện ở năng lực lãnh đạo, tổ chức, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nói cách khác là biểu hiện ở năng lực của người cán bộ. Năng lực đó không chỉ thể hiện ở trình độ học vấn mà phải được biểu hiện ở năng lực thực tế, ở hiệu quả công việc. Người tài là người phải có hoài bão làm những việc ích nước, lợi dân. Nhiều bài nói, bài viết và thực tiễn công tác lựa chọn cán bộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã toát lên các tiêu chuẩn đó.

Ngoài các tiêu chuẩn về “đức” và “tài”, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh người cán bộ lãnh đạo còn phải là những người:

– “Những người đã tỏ ra rất trung thành và hăng hái trong công việc, trong lúc đấu tranh.

– Những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng. Luôn luôn chú ý đến lợi ích của dân chúng. Như thế, thì dân chúng mới tin cậy cán bộ và nhận cán bộ đó là người lãnh đạo của họ.

– Những người có thể phụ trách giải quyết các vấn đề trong những hoàn cảnh khó khăn. Ai sợ phụ trách và không có sáng kiến thì không phải người lãnh đạo.

– Người lãnh đạo đúng đắn cần phải: Khi thất bại không hoang mang, khi thắng lợi không kiêu ngạo. Khi thi hành các nghị quyết kiên quyết, gan góc không sợ khó khăn.

– Những người luôn giữ đúng kỷ luật” (2).

Tác giả xin kể lại câu chuyện “Bác Hồ chọn Phó Thủ tướng” với hy vọng một phần nào giúp chúng ta hiểu về Bác Hồ, hiểu cách thức Người lựa chọn cán bộ lãnh đạo cũng như những tiêu chuẩn cần có đối với người cán bộ lãnh đạo theo quan niệm của Người. Câu chuyện được kể lại dựa theo tài liệu lưu trữ của Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Vào những năm đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, đồng chí Đỗ Mười được Trung ương Đảng giao phụ trách việc chi viện cho chiến trường, lo cung cấp lương thực, xăng dầu, vũ khí cho miền Nam. Năm 1966, đồng chí trực tiếp chỉ đạo xây dựng đường ống dẫn dầu từ miền Bắc đến các vùng căn cứ kháng chiến miền Trung và miền Tây Nam Bộ.

Đầu năm 1967, đồng chí Đỗ Mười đến Hải Phòng để chỉ đạo thực hiện kế hoạch đối phó với bước leo thang mới của đế quốc Mỹ ra miền Bắc. Trong lúc đang triển khai công việc với địa phương, đồng chí nhận được điện thoại thông báo về Hà Nội để gặp Bác Hồ. Về đến Hà Nội vào giữa buổi trưa, đồng chí được Bác mời ăn bữa cơm trưa thanh đạm. Bác hỏi thăm kế hoạch đối phó với âm mưu mới của địch, việc chi viện cho chiến trường miền Nam, đời sống của cán bộ, chiến sĩ và căn dặn một số công việc khác. Khi đó, Bác không nói chuyện việc Bác có ý định chọn đồng chí làm Phó Thủ tướng.

Sáu tháng sau, đồng chí Đỗ Mười nhận được quyết định làm Phó Thủ tướng Chính phủ, tiếp tục chỉ đạo công việc chi viện cho chiến trường miền Nam và phụ trách khối kinh tế của miền Bắc Xã hội chủ nghĩa.

Sau này đồng chí Đỗ Mười mới biết, trước khi có cuộc gặp với Bác Hồ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã trình lên Bác danh sách một số đồng chí, xin ý kiến của Bác để lựa chọn vào chức vụ Phó Thủ tướng. Trao đổi với Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Bác Hồ thấy đồng chí nào cũng có quá trình công tác tốt, đáng tin cậy. Bác nêu ý kiến của mình về ưu, khuyết điểm của từng đồng chí được giới thiệu. Cuối cùng Bác nói: “Làm Phó Thủ tướng ngoài năng lực, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, phải là người sâu sát công việc; có óc tổ chức và triển khai đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ; phải kiểm tra, đôn đốc để các đường lối, chủ trương, chính sách ấy trở thành hiện thực. Khối lượng công việc được giao rất lớn, nhưng chú Mười luôn tích cực, không ngại khó khăn, gian khổ, không bao giờ làm việc hời hợt, chung chung. Việc gì chú ấy cũng bàn bạc dân chủ, công khai và chỉ đạo sát sao, cụ thể. Bác thấy chú Mười có đủ các tiêu chuẩn làm Phó Thủ tướng, nhưng để Bác hỏi thêm sức khỏe của chú ấy như thế nào”(3).

Qua câu chuyện trên chúng ta thấy Bác Hồ đặt tiêu chuẩn rất cao để lựa chọn cán bộ lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Ngoài “đức” và “tài”, cán bộ lãnh đạo phải là những người có ý thức tổ chức kỷ luật, có tinh thần trách nhiệm; sâu sát thực tế, không quan liêu, không làm việc hời hợt, chung chung, có sáng kiến và biết vượt qua hoàn cảnh khó khăn; dân chủ, công khai, liên hệ mật thiết với nhân dân, quan tâm đến quyền lợi của nhân dân; có khả năng tổ chức và triển khai kế hoạch và phải có sức khỏe.

Những tiêu chuẩn lựa chọn cán bộ lãnh đạo nêu trên của Bác vẫn còn nguyên giá trị đối với việc lựa chọn cán bộ lãnh đạo của chúng ta ngày hôm nay. Việc lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay vẫn đang còn nhiều yếu kém, hạn chế và ở không ít nơi có cả những biểu hiện tiêu cực. Đánh giá, lựa chọn cán bộ chủ yếu dựa vào bằng cấp mà ít căn cứ vào năng lực thật sự và hiệu quả công việc của họ. Không ít cán bộ có tài, có đức không được lựa chọn, bổ nhiệm hoặc được bổ nhiệm vào những vị trí “trái chân”. Những hạn chế trong công tác đánh giá, lựa chọn cán bộ đã dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, không ít cán bộ lãnh đạo không có đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ, quản lý yếu kém, gây thất thoát lớn; một bộ phận cán bộ thoái hóa, biến chất, tạo phe cánh, gây mất đoàn kết, xa dân, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí,…

Trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo yêu cầu Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI hiện nay, những bài học qua câu chuyện lựa chọn cán bộ của Bác cần được nghiên cứu, học tập, quán triệt để đánh giá, lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo “đúng người, đúng việc”, qua đó góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng./.

            Chú thích

(1). Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2009, trang 269, 273.

(2). Sách đã dẫn, trang 275.

(3). Kho tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh, số BTHCM-TL117.

Tiến sĩ. Bùi Huy Khiên – Học viện Chính trị
Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Theo dvhnn.org.vn
Phương Thúy
(st).

bqllang.gov.vn

Hà Nội 12 ngày đêm – Bản Anh hùng ca Máu và Hoa – Bài 5: Tài tình nghệ thuật quân sự Việt Nam: “Dụng binh như thần”

Trong hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta gần như thường xuyên phải chiến đấu chống giặc ngoại xâm và luôn chiến thắng oanh liệt. Mỗi chiến công vang dội trong lịch sử đều sáng lên nghệ thuật quân sự tài tình của dân tộc. Và chiến thắng 12 ngày đêm Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không cũng không ngoại lệ. Nhờ có nghệ thuật quân sự khéo léo mà chúng ta đã đánh bại một đế quốc sừng sỏ nhất thế giới.

Ảnh: Hoàng Long

Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử

Năm 938, quân Nam Hán tràn sang xâm lược nước ta. Ngô Quyền huy động quân dân vào rừng đẵn gỗ, vót nhọn, bịt sắt đóng xuống dòng sông Bạch Đằng. Vấp phải bãi cọc, quân Nam Hán phần bị chết đuối, phần bị giết, thiệt hại đến quá nửa, Hoằng Thao bỏ mạng tại chỗ.

Khi quân Tống xâm lược nước ta lần thứ 2, Lý Thường Kiệt đã đánh giá đúng mưu đồ tiến quân của giặc và có kế hoạch đối phó tài tình: đánh bại cánh quân đường thủy, không cho hợp quân với đường bộ; bố trí lực lượng chặn đánh địch trên các cửa ải biên giới nhằm tiêu hao sinh lực địch, đồng thời làm chậm bước tiến của chúng; và đặc biệt là xây dựng chiến tuyến nam sông Như Nguyệt (sông Cầu) để phòng ngự với mục đích hạn chế sở trường dùng kỵ binh của giặc, phát huy sở trường đánh thủy của ta.

Hay trận Đông Bộ Đầu (năm 1258) trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ nhất cũng thể hiện rõ nghệ thuật quân sự tài tình của quân dân ta. Nhà Trần đã tạm thời rút lui để tránh sức mạnh ban đầu của địch. Sau đó ngày đêm tổ chức tập kích, quấy rối khiến địch không dám đóng quân trong thành mà đưa quân về đóng ở bến Đông Bộ Đầu. Sau 9 ngày vào Thăng Long, giặc Nguyên Mông đã mất hết nhuệ khí và đây cũng là thời cơ để nhà Trần phản công với chiến thắng Đông Bộ Đầu vang đội. Sau đó, quân Nguyên Mông hai lần xâm phạm bờ cõi của nước ta đều bị quân và dân nhà Trần đánh bại bằng những chiến thuật quân sự tài tình ở trận Vạn Kiếp (2-1285) trong lần xâm lược thứ 2 và trận Bạch Đằng (4-1288) trong lần xâm lược thứ 3.

Phát huy tinh hoa nghệ thuật quân sự tổ tiên, vận dụng sáng tạo

Nói về nghệ thuật quân sự trong thắng lợi 12 ngày đêm Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không, Trung tướng Trần Hanh khẳng định: Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các lực lượng; sự chỉ huy tài tình của Đảng, Nhà nước trong việc vận dụng sáng tạo nghệ thuật quân sự của ông cha, đánh giá tương quan lực lượng từ đó quyết định lối đánh để phát huy tối đa sở trường của ta, hạn chế sở trường của địch. Ông lấy ví dụ: Xét về tương quan lực lượng, ta và địch chênh lệch nhau quá nhiều: Mỹ có hàng trăm máy bay và các phương tiện tác chiến điện tử hết sức hiện đại, trong khi ta chỉ có ra đa cũ kỹ, máy bay Mig, pháo cao xạ và tên lửa Sam 2. “Nếu chỉ có lòng dũng cảm mà không có cách đánh phù hợp thì sẽ khó nắm phần chắc thắng. Phải có sự vận dụng sáng tạo trong chiến đấu. Chẳng hạn, máy bay Mig có trang bị tên lửa nhưng nếu cứ bắn từ xa thì sẽ không hiệu quả, mà phải tiếp cận gần thì mới ăn chắc. Đó là lý do vì sao chưa có nước nào trên thế giới bắn rơi được máy bay B52 mà chỉ có Việt Nam làm được điều đó” – Tướng Trần Hanh chia sẻ.

Theo Trung tướng Phạm Tuân, việc dùng pháo cao xạ và tên lửa làm sao cho hiệu quả cũng là nghệ thuật của quân đội ta. Ông cho biết, sau một thời gian nghiên cứu cách đánh của địch, ta phát hiện ra quy luật: Ban ngày Mỹ chỉ đưa các máy bay do thám, trinh sát điện tử và các loại tiêm kích vào vừa để quấy nhiễu, vừa để bắn phá nhỏ lẻ. Đến đêm, các phi đội máy bay B52 mới mò vào ném bom. Do vậy, ban ngày lực lượng phòng không hầu như chỉ cho pháo cao xạ bắn dọa máy bay địch, hỗ trợ cho không quân xua đuổi chúng. Tên lửa của ta lúc đó không “xuất đầu lộ diện” để địch không biết thực lực quân sự của ta ra sao, đồng thời cũng không phát hiện được những nơi bố trí trận địa tên lửa. Khi máy bay B52 vào, “rồng lửa” của ta mới xuất kích khiến địch bất ngờ không kịp trở tay và bị bắn hạ. Điều đó minh chứng vì sao ngay trong đêm đầu tiên, ta đã bắn rơi 3 máy bay B-52 Mỹ, 5 máy bay tiêm kích, bắt sống 7 giặc lái Mỹ.

Trung tướng Trần Hanh nhấn mạnh, phong ba bão táp ở từng chặng đường lịch sử đã hun đúc nên tinh thần thép của mỗi người dân Việt Nam. Và bất cứ kẻ thù nào của dân tộc Việt Nam khi vấp phải tinh thần thép ấy đều phải chùn bước. “Bên cạnh tinh thần thép, dân tộc Việt Nam lại có truyền thống “dụng binh như thần” truyền từ đời này sang đời khác, khiến bất cứ kẻ thù nào dù mạnh tới đâu khi tới xâm lược nước ta đều phải nếm mùi thất bại và tiu nghỉu quay về nước, từ bỏ dã tâm bành trướng” – Tướng Trần Hanh đúc kết.

Lê Anh Đức
daidoanket.vn

Hà Nội 12 ngày đêm – Bản Anh hùng ca Máu và Hoa – Bài 4: Hà Nội chiến thắng

Mặc dù đã sử dụng những vũ khí tối tân nhất, nhưng cuối cùng đế quốc Mỹ cũng đã phải chịu khuất phục trước tinh thần chiến đấu anh dũng của quân và dân Thủ đô Hà Nội. 81 máy bay các loại, trong đó có 34 “Siêu pháo đài bay B52” đã bị bắn hạ trong 12 ngày đêm oanh kích Hà Nội. Chiến thắng vang dội này thực sự là một trận Điện Biên Phủ trên không của quân, dân Việt Nam anh hùng.

Quân thù khiếp sợ

Trung tướng Phạm Tuân nhớ lại, trong vòng 12 ngày đêm (từ 18 đến 30-12-1972), Mỹ đã huy động hàng trăm lượt các loại máy bay tiêm kích, máy bay cường kích tấn công bắn phá và dội bom vào Hà Nội. Tuy nhiên, trước sự chặn đánh quyết liệt của lực lượng Không quân Việt Nam với những chiếc MiG 19, MiG 21; sự chiến đấu mưu trí, dũng cảm của lực lượng Phòng không với lưới lửa dày đặc đã khiến quân thù khiếp sợ, không thể tiếp cận và đánh phá chính xác mục tiêu là những kho xăng, sân bay, nhà máy, nhất là Sở chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không của ta.

Chỉ trong vòng 12 ngày đêm, Mỹ đã phải tiêu tốn hàng tỉ đô la một cách vô ích cho những tấn bom, những quả tên lửa được phi công Mỹ trút bừa bãi khi vào gần đến bầu trời Hà Nội. Có những tên phi công sừng sỏ, có rất nhiều kinh nghiệm tác chiến do đã từng tham chiến tại các chiến trường cũng đã bị bắn hạ, buộc phải nhảy dù và bị bắt sống. Điều khiến không lực Hoa Kỳ phải hổ thẹn là những máy bay hiện đại “Thần sấm”, “Con ma”, “Siêu pháo đài bay B52” được điều khiển bởi những phi công dày dạn chiến trường, lại bị tiêu diệt bởi những phi công trẻ thậm chí chỉ mới xuất kích lần đầu và phương tiện của họ cũng chỉ là những chiếc MiG già nua từ sau Thế chiến thứ II.

Nhiều phi công Mỹ khi bị bắt đã thú nhận không thể tưởng tượng được rằng Việt Nam chỉ với tên lửa Sam 2, máy bay MiG cũ kỹ lại có thể bắn rơi được B52 và những máy bay tiêm kích hiện đại khác. Và khi được biết những người đã hạ đo ván mình là những phi công trẻ chưa có kinh nghiệm không chiến, thậm chí có người mới xuất kích lần đầu, các phi công Mỹ đã cúi đầu kính phục. Không chỉ vậy, tin đồn Việt Nam có những vũ khí mạnh có thể bắn hạ bất cứ máy bay hiện đại nào khiến những phi công Mỹ hoang mang, lo sợ, hoặc là không dám xuất kích, hoặc là trút bom bừa bãi rồi quay về giữ lấy mạng sống.

Chiến thắng vang dội

Trung tướng Trần Hanh không sao quên được hình ảnh chiến đấu anh dũng, mưu trí của phi công Trần Việt khi đối đầu với hàng đàn máy bay địch. Được lệnh cất cánh từ sân bay dã chiến Miếu Môn (Hà Tây cũ), Trần Việt có nhiệm vụ xua đuổi và bắn hạ các máy bay hộ tống B52, để tạo điều kiện cho tên lửa của lực lượng phòng không đỡ “nhiễu”, tập trung tiêu diệt B52. Mặc dù chưa có kinh nghiệm thực tế chiến đấu không chiến, nhưng Trần Việt đã khiến cho các phi công Mỹ “lão làng” lái những chiếc máy bay hiện đại như F4, F105… phải lúng túng, không thể gây nhiễu và bảo vệ phi đội B52 được. Trong khi địch đang chưa biết xoay sở ra sao thì bất ngờ Trần Việt áp sát một chiếc tiêm kích, phóng tên lửa chính xác tiêu diệt gọn. Viên phi công bắt buộc phải bật dù nhảy xuống đất Hòa Bình và bị bắt sống.

Do có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, cộng với tinh thần chiến đấu anh dũng, quật cường, với những lối đánh sáng tạo, mưu trí, trong vòng 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không, quân và dân Thủ đô đã bắn hạ 81 máy bay các loại, trong đó có tới 34 Siêu pháo đài bay B52. Lầu Năm Góc không khỏi kinh hoàng, bởi từ trước tới nay, B52 là niềm tự hào bất khả chiến bại của họ. Chưa có bất cứ lực lượng Phòng không – Không quân nào trên thế giới có thể bắn hạ Siêu pháo đài bay B52, vậy mà một đất nước nhỏ bé như Việt Nam, với những vũ khí có thể nói là thô sơ lại làm nên kỳ tích bắn hạ tới hơn phân nửa số pháo đài bay họ có. Từ trước tới nay, B52 đến đâu là tàn sát, là san phẳng đến đó. Vậy mà khi đến Hà Nội chúng không những không đạt được mục đích biến Hà Nội quay về thời kỳ đồ đá mà còn phải chịu tổn thất nặng nề.

Tiểu đoàn 59 Trung đoàn 261 bắn tan xác chiếc B.52 đầu tiên
đêm 18-12-1972 trên bầu trời Hà Nội

Ảnh: Hoàng Long

Mừng vui xen lẫn đau thương

Nhắc đến chiến thắng oanh liệt của trận Điện Biên Phủ trên không, Tướng Hanh không khỏi bồi hồi xúc động: “Mặc dù chúng ta đã chiến thắng vang dội, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán tại Paris, ký kết hiệp định hòa bình. Tuy nhiên, nhiều cán bộ, chiến sĩ bộ đội, dân quân tự vệ đã hy sinh, nhiều người dân vô tội đã chết bởi hàng tấn bom đạn của kẻ thù. Tâm trạng của mình và người dân Hà Nội nói riêng, nhân dân cả nước nói chung đan xen cảm xúc giữa mừng vui trong chiến thắng, đau thương bởi những tổn thất, hy sinh của đồng bào và chiến sĩ…”, Tướng Hanh chia sẻ.

Có dịp trò chuyện với ông Lê Hòa Bình – người từng tham gia lực lượng dân quân tự vệ Thủ đô chống trả lại các trận oanh kích của máy bay Mỹ, ông cho biết vẫn nhớ như in hình ảnh những người dân vô tội ở phố Khâm Thiên đã chết thảm như thế nào; hình ảnh những đứa trẻ mếu máo vì lạc cha mẹ khi tìm nơi trú ẩn tránh máy bay Mỹ ném bom, những đường phố bị cày sâu bởi bom đạn, những mái nhà còn bốc khói nghi ngút khi còi báo yên… Nhưng bên cạnh những hình ảnh bi thương ấy, nổi lên những hình ảnh anh hùng của những người dân quân tự vệ với súng trường trong tay hiên ngang bám trụ chờ giặc tới, những chiến sĩ phòng không mặt đen nhẻm khói súng vẫn vững vàng trên mâm pháo, những Anh hùng Phạm Tuân, Trần Hanh, Vũ Xuân Thiều… còn mãi trong lòng ông Bình như chuyện chỉ mới xảy ra ngày hôm qua. “Hồi đó, mọi người dân Hà Nội đều chung một quyết tâm là phải đánh thắng giặc Mỹ trên bầu trời Hà Nội. Vì thế, ai có khả năng làm việc gì đều cố hết sức, mong góp chút sức lực nhỏ bé của mình để đánh đuổi quân xâm lược…”, ông Bình cho biết.

“Những năm tháng hào hùng ấy, trên tất cả các phố phường Hà Nội đều toát lên hào khí Thăng Long – Hà Nội, hào khí kiên cường, bất khuất chống ngoại xâm dù phải hy sinh xương máu. Mọi người đều hừng hực khí thế quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược. Đó chính là sức mạnh đoàn kết – sức mạnh lớn nhất dẫn đến thắng lợi của chúng ta, của dân tộc Việt Nam…”, Trung tướng Trần Hanh nhấn mạnh.

Báo động, báo yên…

“Máy bay địch cách Hà Nội 70km. Đồng bào chú ý, máy bay địch cách Hà Nội 50km. Các lực lượng vũ trang sẵn sàng chiến đấu…”. Từ các loa phóng thanh công cộng được bố trí trên khắp phố phường Hà Nội, giọng của phát thanh viên Nguyễn Thị Thìn vang lên dõng dạc, rõ ràng, bình tĩnh trong những năm tháng chống Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, đánh phá Hà Nội. Giờ đây, mỗi khi nhớ lại những âm điệu này, cụ Kiều Văn Lư – một thầy giáo về hưu, chủ Lư trà quán ở Khu tập thể Thanh Xuân (Hà Nội) không khỏi bồi hồi. Cụ nói: Báo động rồi lại báo yên, vẫn cái chất giọng ấy, chị đã làm ấm lòng bao con người phải chịu đau thương, mất mát, trấn an mọi nỗi lo âu, thôi thúc mọi người hăng say chiến đấu. Chị Nguyễn Thị Thìn ngày ấy là phát thanh viên của Đài truyền thanh Hà Nội (tiền thân của Đài Phát thanh và truyền hình Hà Nội bây giờ). Những người cùng thời với chị kể lại: Chị rất đẹp và gan dạ. Ngày ấy, Đài đóng ở khu vực Bờ Hồ. Nhiều lúc chị phát thanh ngay trên mặt đất, khi cái chết cận kề nếu đài bị dính bom nhưng chất giọng của chị vẫn không hề thay đổi.. “Đồng bào chú ý! Đồng bào chú ý!…”. Sau ca trực được đưa xuống hầm trú ẩn của Bộ chỉ huy chiến sự thành phố, nhiều lúc không kịp bật băng ghi âm soạn sẵn, chị vẫn phát thanh đĩnh đạc, rõ ràng từng tiếng một.

Lâu dần thành quen, hòa bình rồi gặp lại, nhiều người vẫn nhắc đến chị, yêu cầu chị phát lại những lời năm xưa, cho vơi kỷ niệm. Nhưng giờ đây không một ai có thể làm được điều đó nữa vì chị đã đi xa, rất xa về cõi vĩnh hằng. Viết những dòng chữ muộn mằn này tôi ngậm ngùi vì trong tay vẫn còn nắm giữ bức ảnh này của chị, chưa trả lại được…

Trần Ngọc Kha

Lê Anh Đức
daidoanket.vn

Hà Nội 12 ngày đêm – Bản Anh hùng ca Máu và Hoa – Bài 3: Hà Nội quật cường

Trong những ngày cuối tháng 12-1972, quân và dân Thủ đô đã anh dũng, kiên cường chống trả lại một đội quân mạnh gấp nhiều lần với những loại vũ khí tối tân, hiện đại vào bậc nhất như: “Thần sấm”, “Con ma”, “Siêu pháo đài bay- B52”… Tuyên bố đưa Hà Nội quay trở về thời kỳ đồ đá của Mỹ đã phá sản hoàn toàn trước tinh thần quật cường của người Hà Nội.

Một trong những máy bay của Đoàn 921 anh hùng,
đơn vị đã bắn rơi 137 máy bay Mỹ

Ảnh: HOÀNG LONG

Tương quan lực lượng

Trao đổi với Đại Đoàn Kết, Trung tướng Phạm Tuân – Anh hùng lực lượng vũ trang, người trực tiếp chiến đấu trong 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không cho biết, do liên tiếp thất bại tại chiến trường miền Nam, giặc Mỹ đã leo thang bắn phá miền Bắc với ý định đưa Hà Nội trở về thời kỳ đồ đá. Để đạt được mục đích san phẳng Hà Nội, Mỹ đã huy động tất cả những vũ khí tối tân nhất mà họ có lúc bấy giờ như F105 (Thần sấm), F4 (Con ma), F100, F111 và đặc biệt là “Siêu pháo đài bay – B52”, dồn dập dội bom Hà Nội.

“Siêu pháo đài bay – B52” là loại máy bay ném bom chiến lược có khả năng mang bom hạt nhân và bom thông thường với số lượng lớn (khoảng 30-40 tấn). B52 là niềm kiêu hãnh của không lực Hoa Kỳ, họ rêu rao dưới cánh B52 không một sinh vật nào có thể tồn tại được. Không chỉ vậy, mỗi lần phi đội B52 cất cánh vào Hà Nội oanh tạc là có hàng đàn “Thần sấm”, “Con ma” mang theo bom, tên lửa không đối đất, không đối không bay theo hộ tống, đánh phá các trận địa phòng không (pháo cao xạ, tên lửa), đồng thời đánh chặn máy bay tiêm kích của ta để bảo vệ B52. Đó là chưa kể trước khi phi đội B52 vào đã có rất nhiều máy bay chiến thuật F111 vào trinh sát, RB66 gây nhiễu sóng ra đa.

Trong khi đó, không quân ta chỉ gồm những chiếc Mig 17, Mig 19 và thêm vài chiếc Mig 21 để đối đầu với các loại máy bay tiêm kích, cường kích vô cùng tối tân của Mỹ. Lực lượng phòng không của ta lúc đó chủ yếu là trọng liên và pháo cao xạ: 14,5 ly; 23 ly; 40 ly; 57 ly; 85 ly và lớn nhất là 100 ly. Tên lửa của ta lúc đó chỉ có Sam 2.

Tìm cách đánh

Trung tướng Phạm Tuân hồi tưởng: “Từ năm 1967, Bác Hồ đã dự đoán: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng đưa B52 ra đánh phá Hà Nội rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước tình huống này càng sớm càng tốt, để có thời gian mà suy nghĩ chuẩn bị…. Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”. Do vậy, quân đội ta đã có sự chuẩn bị cho những trận chiến khốc liệt nhất khi đối đầu với máy bay ném bom chiến lược B52…”. Trận quyết chiến trên bầu trời Hà Nội có sự đồng tâm hiệp lực của cả 3 thứ quân: Dân quân tự vệ, bộ đội địa phương và quân chủ lực, quyết tâm đánh thắng kẻ thù ngay từ khi chúng tới. “Người Hà Nội lúc đó, từ dân thường đến cán bộ, chiến sĩ phòng không – không quân đều hừng hực khí thế quyết tâm đánh tan âm mưu rải thảm Hà Nội của đế quốc Mỹ. Mỗi người một việc, tất cả sẵn sàng cho trận quyết chiến chiến lược trên bầu trời Thủ đô…”, Trung tướng Phạm Tuân kể lại.

Anh hùng Phạm Tuân

Theo Trung tướng Trần Hanh – Anh hùng Lực lượng vũ trang, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam, ngày đó, để có thể chắc thắng khi B52 vào ném bom Hà Nội, phi công ta phải rèn luyện kỹ năng cất và hạ cánh ở những điều kiện địa hình hết sức phức tạp: Đường băng chỉ rộng 15m, trong khi đường băng chính rộng 60m (phòng trường hợp đường băng bị đánh phá không cất cánh được), đường đất nện (được “lu” qua vài lần bằng xe tải) tại các sân bay dã chiến… Lực lượng phòng không thì được đưa vào “thử lửa” với B52 tại các chiến trường khốc liệt như Quảng Bình, Quảng Trị. Ngày 17-9-1967, Tiểu đoàn 84, Trung đoàn tên lửa 238 đã bắn rơi 2 chiếc B52 đầu tiên trên chiến trường Vĩnh Linh. Trận đánh đã giúp cho bộ đội tên lửa có được kinh nghiệm bước đầu về nhận biết tín hiệu B52 trên màn hiện sóng qua bản vẽ, những quy luật hoạt động của máy bay chiến thuật trong điều kiện nhiễu điện tử.

Mưu trí, quật cường

Từ kinh nghiệm có được khi đối đầu với B52 trước đó, lực lượng phòng không đã có cách bố trí trận địa xung quanh Hà Nội hết sức khoa học để đạt được hiệu quả cao nhất khi B52 xâm phạm bầu trời Thủ đô. Ngoài tập trung bố trí các trận địa trong nội đô lấy hạt nhân là trung tâm Hà Nội, nhằm đảm bảo an toàn cho người dân, trung tâm chỉ huy… lực lượng phòng không còn bố trí các trận địa vòng ngoài để bảo vệ các kho xăng, sân bay, đảm bảo cho không quân có thể cất cánh bất cứ lúc nào. Về phía không quân cũng đã có sự chuẩn bị, bố trí hết sức mưu trí, tài tình cả xung quanh Thủ đô (Đa Phúc, Gia Lâm) và các vùng phụ cận (Yên Bái, Thọ Xuân, Anh Sơn, Kiến An) để có thể vừa bảo vệ bầu trời Hà Nội, vừa có thể đánh chặn máy bay Mỹ từ xa, không cho chúng vào ném bom Hà Nội.

Trung tướng Trần Hanh kể: “22 giờ ngày 27-12-1972, Phạm Tuân được lệnh xuất kích tại sân bay Yên Bái. Sở chỉ huy tại Chùa Trầm dẫn đường cho anh bay thấp vượt qua nhiều “hàng rào” tiêm kích F4, gần đến đội hình B52 đang bay từ hướng Sơn La về Hòa Bình thì vọt lên độ cao trên 11km (bay trên đội hình B52), mở đến tốc độ 1.600km/h tiếp cận rất nhanh máy bay địch. Còn cách khoảng 3km, nhận lệnh từ Sở chỉ huy: “Uống cả 2 chai”, Phạm Tuân phóng cả 2 quả tên lửa vào một chiếc B52 rồi vọt lên cao. Một quầng lửa bùng lên, vậy là lực lượng không quân đã bắn rơi chiếc B52 đầu tiên. Hôm sau, cũng vào giờ đó, phi công trẻ Vũ Xuân Thiều được lệnh cất cánh. Tuy nhiên sau khi bắn hạ được một chiếc B52 anh đã hy sinh cùng với chiếc Mig 21.

Trung tướng Trần Hanh còn kể nhiều câu chuyện hết sức cảm động về những người anh hùng khác trong trận chiến 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không. Từ những dân quân tự vệ tại các nhà máy, từ các anh bộ đội địa phương với những vũ khí thô sơ như súng cối, súng trung liên… đến lực lượng chủ lực là bộ đội phòng không – không quân, đều không ngại hy sinh xương máu để bảo vệ bầu trời Hà Nội. Như phi công trẻ Hoàng Tam Hùng – con trai của một Phó Thủ tướng – xung phong xuất kích chiến đấu với các loại “Thần sấm”, “Con ma”, “Siêu pháo đài bay – B52”… để rồi hy sinh anh dũng, góp phần bảo vệ Thủ đô. Với những con người mưu trí, dũng cảm như thế, với tinh thần quật cường của quân và dân Thủ đô nói riêng, dân tộc Việt Nam nói chung, việc đế quốc Mỹ thua đau trên bầu trời Hà Nội là điều tất yếu.

Không thể nào tin được…

“Vận mệnh của Tổ quốc đang nằm trong tay các chiến sĩ phòng không bảo vệ Hà Nội” – Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp trực tiếp gọi điện thoại xuống các sư đoàn biểu dương bộ đội Phòng không Hà Nội vào những ngày này cách đây vừa tròn 40 năm. “Cả nước đang hướng về. Toàn thế giới đang hướng về Hà Nội. Từng giờ, từng phút, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương theo dõi chặt chẽ cuộc chiến đấu của Hà Nội” – Đại tướng nhấn mạnh. Chưa bao giờ sứ mệnh của các anh lại cao cả, thiêng liêng đến vậy. Bởi vì, cũng đêm 21, rạng sáng 22 tháng 12 cách đây 40 năm, đúng 21 giờ 37 phút đêm, địch huy động 24 lần chiếc máy bay B – 52 và 36 lần chiếc máy bay chiến thuật hộ tống vào đánh sân bay và Bệnh viện Bạch Mai, Giáp Bát, Văn Điển… Ngoài ra, 30 lần chiếc F4, F105 vào đánh phá các khu vực Bắc Giang, ga Kép, sân bay Yên Bái, cảng Hải Phòng, Cát Bi và An Lão (Kiến An). Bây giờ, nhìn phố xá sầm uất, ít ai có thể hình dung ngày ấy Bệnh viện Bạch Mai bị đánh bom B52 thế nào. Nếu chỉ là 1,2 lần thì còn có thể nghĩ là chúng ném bom nhầm mục tiêu nhưng đằng này lại là 4 lần. Không thể tin được đế quốc Mỹ lại dã man như thế. Bây giờ, những nhân chứng còn sống như BS Đỗ Doãn Đại, nguyên Giám đốc Bệnh viện này, giai đoạn 1969-1982, vẫn còn ám ảnh về những ngày tháng đó. Đau thương, oanh liệt mà cũng thật là đẹp tình người. “Chưa bao giờ Bạch Mai có một tập thể đoàn kết, hết mình như thế” – ông nhớ lại. Ngày này các đây 40 năm, 27 bác sĩ, y tá, hộ lý và cán bộ của Bệnh viện này bị bom Mỹ sát hại, cùng 1 bệnh nhân. Khi có báo động, các bệnh nhân được ưu tiên chuyển vào hầm trú ẩn trước. Các bác sĩ, y tá , hộ lý ở lại phía cửa hầm. Mới hay chính vào những tháng ngày đau thương nhất của Hà Nội, của cả nước, Máu và Hoa hòa quện vào nhau, dệt nên bản anh hùng ca bất diệt.

Trần Ngọc Kha

Lê Anh Đức
daidoanket.vn

Hà Nội 12 ngày đêm – Bản Anh hùng ca Máu và Hoa – Bài 2: Hà Nội đau thương

“Cha khóc con bằng máu trái tim/ Sao nó lại giết con/ Hà ơi! Sao thế?Dấu hỏi lớn xoáy vào lòng cha, đau xé!” Đó là những lời thống thiết trong bài thơ khóc con của ông Đặng Văn Phúc – bố em Đặng Thị Hà (16 tuổi, học sinh lớp 10 ở Gia Lâm) bị bom Mỹ giết hại ngay trong đêm 18-12-1972, đêm đầu tiên máy bay B-52 đánh phá, hòng đưa Hà Nội về “thời kỳ đồ đá”.

Bệnh viện Bạch Mai bị bom B52 Mỹ hủy diệt
ảnh: Tư Liệu

Cho đến nay, bài thơ khóc con của ông Đặng Văn Phúc đã trở thành bản cáo trạng dành cho Níchxơn – kẻ đích thân ra lệnh tiến hành cuộc ném bom lớn nhất xuống các mục tiêu ở Hà Nội, Hải Phòng, hòng đem ưu thế của sức mạnh không quân, giội đau thương tang tóc lên đầu biết bao người dân vô tội của một dân tộc anh hùng.

Từ đêm 18-12-1972, đế quốc Mỹ bắt đầu tiến hành cuộc ném bom hủy diệt vô cùng man rợ bằng máy bay B52 vào Hà Nội, Hải Phòng và một số nơi khác trên miền Bắc nước ta. Hà Nội – trái tim của cả nước suýt bị biến thành một “Hirôsima không cần bom nguyên tử”. Chỉ trong đêm 26-12-1972, tốp B52 đã rải gần 90 tấn bom xuống Khâm Thiên – một trong những khu phố sầm uất và trù phú nhất Hà Nội – biến nơi đây thành bình địa dài hàng kilômét khiến 2.265 ngôi nhà bị phá sập, 287 người chết và 290 người bị thương, trong đó phần lớn là phụ nữ và trẻ em. Trong nháy mắt, nhà trẻ, trạm y tế, cửa hàng lương thực, đình Tương Thuận và nhà hàng ngàn hộ dân đã bị bom B52 tàn phá thành đống tro tàn và những “ngôi mộ phố”.

Sau ngày Mỹ ngừng ném bom Miền Bắc, ông Romesh Chandra – Tổng Thư ký Hội đồng Hòa bình thế giới đã đến thăm Việt Nam. Chứng kiến cảnh tượng hoang tàn của bệnh viện Bạch Mai, ông Romesh Chandra đã phát biểu: “Chúng ta bày tỏ lòng biết ơn của chúng ta về những gì mà họ đã cống hiến cho thế giới. Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã trở thành cuộc chiến tranh mới trong lịch sử, trong từ điển của tất cả các thứ tiếng và nó có nghĩa là lòng dũng cảm vô song, lòng quyết tâm và chủ quyền của một dân tộc…”.

Nữ diễn viên điện ảnh Hollywood Jane Fonda (người đoạt giải Oscar 1971) đã từng khóc như mưa trước tội ác của Mỹ ở Việt Nam: “Tôi đau cho nỗi đau mất mát của nhân dân Việt Nam, cho nỗi đau mất mát của chính đất nước tôi, một nước tự cho là văn minh giờ đây có nguy cơ trở lại thời kỳ hoang dã

Văn Úc (TH)

Có mặt tại Khâm Thiên vào buổi chiều hôm sau (19-12), đại tá Lưu Trọng Lân – khi đó là Phó Trưởng Phòng Tác huấn, Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không – Không quân kể rằng: Ở phía ngoài, con đường lớn chỉ bị nứt nẻ vài đoạn với ba căn nhà bị sập. Nhưng ở bên trong, đằng sau dãy phố chính ấy là cả một vùng trải dài hàng cây số đổ nát tan hoang. Những hình ảnh thương đau đập vào mắt tôi, nhức nhối. Khu phố đông dân gốm phần lớn là nhà ở của bà con lao động nghèo, đã bị một loạt bom rải thảm của B52 Mỹ biến thành bình địa. Hố bom chi chít, cùng với gỗ, đá, gạch, ngói vụn nát ngổn ngang. Một cụ già tóc bạc trắng, hai tay ôm đầu, ngồi yên lặng trước ngôi nhà thân yêu, kết quả của một đời chắt chiu, dành dụm, giờ dây chỉ còn mấy cây cột gãy đổ. Một bà mẹ, đôi mắt mọng sưng, lôi ra từ trong đống đổ nát những vật kỷ niệm còn sót lại của đứa con trai vừa bị bom Mỹ cướp đi mạng sống. Trong khói lửa chưa tan, nhiều nhóm người hối hả đào bới, tìm kiếm thi thể người thân. Đây đó vang lên những tiếng than khóc não ruột, xé lòng.

Căn nhà số 22 Khâm Thiên bị biến thành một hố sâu, không còn gì hết ngoài một tập sách cháy dở và một vài mảnh áo bông thấm máu của hai chị em Lan và Phượng – 2 nữ sinh viên ở lại Hà Nội khi cả gia đình đã đi sơ tán.

Gia đình ông Đoan (số 49 Khâm Thiên) có 4 người, khi bom B52 nổ, ông bà bị chết vùi ngay dưới chân cầu thang. Hai cô con gái của ông bà kịp chạy xuống hầm, nhưng cửa hầm sập và một ống nước gần đó bị vỡ. Nước tuôn như xối vào căn hầm nhỏ. Hai chị em thét lên kinh hãi và bằng đôi tay nhỏ yếu của mình, cuống cuồng đào bới. Nhưng khối nước vô tình cứ dâng lên, dâng lên mãi cho đến khi toàn bộ căn hầm bị nước ngập đầy.

Ở ngôi nhà số 47 Khâm Thiên, có hai mẹ con không may bị sức ép của bom B52 cướp đi sinh mạng. Người mẹ ấy đã chết nhưng vẫn giữ nguyên tư thế đứng ôm chặt đứa con, che chở cho con. Và người con của bà tuy không còn sống nhưng tấm thân còn mềm, cánh tay vẫn bám chặt vào chân mẹ như muốn bấu víu vào cuộc sống mỏng manh. Đó là nguyên mẫu của “Tượng Khâm Thiên” của họa sĩ Nguyễn Tự được đặt tại khu tưởng niệm Khâm Thiên, nơi trước đó có ba ngôi nhà số 47, 49 và 51 bị bom Mỹ phá hủy hoàn toàn.

Những chùm bom ác nghiệt không chỉ gieo tai ương thảm khốc xuống “phố vắng 3 số nhà” Khâm Thiên mà còn xuống các khu dân cư yên lành như Yên Viên, Gia Lâm, Uy Nỗ… và Bệnh viện Bạch Mai. Ở thôn Gia Thụy (Gia Lâm) có gia đình bác Hiển, chỉ trong một trận bom, cả nhà có 10 người thì có tới 9 người thiệt mạng. Gia đình bác Quốc bị một quả bom cướp đi sinh mạng của bà mẹ già cùng đàn cháu thơ.

Xót xa nhất là câu chuyện ở thị trấn Yên Viên. Bom B52 đã biến một chiếc xe ca đang chở khách thành một đống sắt bẹp dúm. Những người chết và bị thương nặng lần lượt được đưa ra khỏi xe. Chỉ còn một cô gái trẻ bị thương ở cánh tay, máu chảy lênh láng, trong khi đôi chân thì bị kẹp cứng giữa hai chân ghế, không sao rút ra được. Nhiều chiến sĩ công an, dân phòng đã tìm mọi cách nhưng lực bất tòng tâm, vẫn không thể cứu được cô gái. Để rồi, giữa cảnh đêm khuya rùng rợn ấy, tiếng kêu la đau đớn, tuyệt vọng của cô gái trẻ còn kẹt lại trong xe, cứ vang lên não nuột từng hồi cho đến khi hoàn toàn lịm tắt.

Trước đó 4 hôm, đêm 21 rạng sáng 22-12-1972, hơn 100 quả bom từ máy bay B52 của không quân Mỹ được ném xuống bệnh viện Bạch Mai làm 28 y, bác sĩ của bệnh viện thiệt mạng. GS Đỗ Doãn Đại – Giám đốc bệnh viện Bạch Mai giai đoạn 1969 – 1982 cho biết: Toàn bộ Bệnh viện Bạch Mai như một bãi hoang tàn. Nhà sập, cây đổ, gạch nát, nhiều người đã phải hy sinh. Tòa nhà chính của bệnh viện đổ sập, đè lên những căn hầm, trong đó có rất nhiều bệnh nhân và nhân viên y tế đang ẩn nấp. Ban lãnh đạo bệnh viện đã làm đủ mọi cách mà đành bất lực. Không có chiếc xe cẩu nào đủ sức nhấc nổi khối bê tông và gạch đá khổng lồ ấy. Tiếng kêu khóc từ trong lòng đất vang lên yếu ớt, nghe như từ cõi xa xăm vọng về. Các bác sĩ, y tá đã phải dùng những ống cao su nhỏ, luồn qua những khe nứt để bơm sữa xuống cho những người bị nạn. Sau đó nhiều người đã chết vì ngạt, vì đói hoặc vì chấn thương.

Tại Khu nhà B, các mảng bê tông chặn cửa xuống hầm, các y, bác sĩ của khoa Da liễu bị kẹt bên trong. Có những lối vào hầm quá nhỏ hẹp, các bác sĩ phải bò vào hầm để xem xét tình hình. Ở đoạn đầu ngách hầm một tấm bê tông đè chết hộ lý Hoàn Kim Thoa (39 tuổi). Thi thể của chị chắn ngang lối vào hầm, những người bị kẹt trong hầm kêu gào: “Các anh ơi, cứu chúng em với, cứu chúng em với”. Để nhanh chóng cứu được những người phía trong, các bác sĩ và những cứu hộ đành nén đau thương chọn phương sách cắt thi thể người hộ lý làm ba phần rồi dùng dây thừng kéo ra ngoài sau đó khâu lại. Cô Đỗ Thị Thanh Nhàn, điều dưỡng ở khoa Nhi cho biết: Trong số các nạn nhân còn có chị Diên đang mang bầu ba tháng, em Liên, em Thạch mới có người yêu. Đêm ấy, em của Liên vào bệnh viện cùng chị và cũng gặp nạn”. Tất cả những thi thể tìm thấy được đặt cạnh nhau trên cáng và chuyển xuống nhà xác để khâm liệm. Lễ khâm liệm cũng diễn ra đơn giản, chóng vánh vì lo sợ sẽ lại có những đợt đánh bom mới.

Đại tá Lưu Trọng Lân cho biết: Có một câu chuyện đau lòng mà báo chí hồi đó đã đưa tin. Một đôi trai gái, đều là bác sĩ của bệnh viện Bạch Mai, đã chuẩn bị ngày hôn lễ. Thiếp mời dự tiệc cưới đã gửi đến tất cả bè bạn. Vậy mà, đêm nay, những quả bom độc ác của Nichxơn đã cướp đi mạng sống và hạnh phúc của hai người.

Và còn biết bao chuyện thương tâm khác nữa. Nhưng, trái ngược với ý đồ đen tối của đế quốc Mỹ, cầm đầu là “kẻ mất trí” R.Nixon, những tổn thất, thương vong lớn về sinh mạng không hề làm cho tinh thần dân ta khiếp đảm, lòng dân ta hoang mang, nao núng, mà chỉ làm tăng thêm lòng căm thù và quyết tâm chiến đấu của quân dân ta mà thôi. Không chỉ có “Khâm Thiên khắc sâu căm thù giặc Mỹ” mà tấm “Bia căm thù” đã được dựng lên trong tâm trí hơn 30 triệu con dân đất Việt đương thời. Thực tế diễn ra trong chiến dịch 12 ngày đêm đã chứng minh điều đó.

Ngô Quang Chính
daidoanket.vn

Sách mới “Thắng B52 trên bầu trời Hà Nội”

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, NXB QĐND ra mắt cuốn sách “Thắng B52 trên bầu trời Hà Nội” của tác giả Đoàn Hoài Trung – Trưởng đại diện Trung tâm Phát thanh – Truyền h́nh Quân đội tại TP. Hồ Chí Minh. Cuốn sách “Thắng B52 trên bầu trời Hà Nội” là tập hợp những bài viết của tác giả Đoàn Hoài Trung về các tướng lĩnh, sĩ quan chỉ huy và những người lính trực tiếp tham gia chiến đấu trong chiến dịch 12 ngày đêm tháng Chạp năm 1972.

Cuốn sách có những câu chuyện hay như Bác Hồ đặt tên cho Quân chủng Phòng không – Không quân; chiến công của Tiểu đoàn 57 (đoàn tên lửa Thành Loa – Bộ đội Pḥng không Hà Nội) diễn ra vào đêm 20 rạng ngày 21-12-1972, tức là vào đêm thứ 3 cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B52 của giặc Mỹ vào Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và các vùng lân cận.

Trong trận “Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972, vai trò của bộ đội rađa rất quan trọng trong việc phát hiện đường bay B52 vào Hà Nội. Thật thú vị, một trong những Trung đoàn trưởng rađa ngày ấy lại là người Thành phố Hồ Chí Minh. Cuốn sách ghi lại cuộc trò chuyện với Đại tá Đỗ Văn Năm – nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn rađa đầu tiên phát hiện B52 bay vào Hà Nội, đêm ngày 18-12-1972.

Phạm Xuân Trường

Hà Nội 12 ngày đêm – Bản Anh hùng ca Máu và Hoa – Bài 1: Hà Nội chờ giặc tới

Ý nghĩa quan trọng của trận “Điện Biên Phủ trên không” là rõ ràng. Nhưng vẫn có ý kiến cho rằng chúng ta bị bất ngờ trước cuộc không kích bằng pháo đài bay B52 của không quân Mỹ vào Hà Nội, cho đến ngày 18-12-1972. Nhưng đó chỉ là ý kiến đơn lẻ, bởi chúng ta đã chờ giặc tới để tiêu diệt, cho dù đó là B52 – phương tiện chiến tranh hiện đại nhất.

Thế hệ trẻ Thủ đô thăm quan Bảo tàng Phòng không Không quân,
khâm phục chiến công của cha ông

Ảnh: Hoàng Long

Sẵn sàng đánh khi B52 vào bầu trời Hà Nội

Ra đời từ năm 1952, là trụ cột của không quân Mỹ, B52 được mệnh danh là “siêu pháo đài bay”, vũ khí cuối cùng kết thúc chiến tranh – theo cách nói của giới quân sự Mỹ. Ngày 10-4-1972 được ghi nhận là lần đầu tiên B52 đánh phá thành phố Vinh (Nghệ An). Sau đó là đánh phá Hải Phòng (ngày 16-4-1972). Sự hủy diệt của nó là hết sức lớn.

Trong cuốn hồi ký nhan đề “Những năm ở Nhà Trắng” (Nxb Fayard, Paris, 1979), Henri Kítxinhgiơ – cố vấn an ninh của Tổng thống Mỹ, cố vấn đặc biệt đoàn đàm phán của Chính phủ Hoa Kỳ tại hội nghị Pari, kể về sự phẫn nộ của mọi người trên thế giới và trong nước Mỹ đối với Níchxơn và ông ta. Trong số đó có các nghị sĩ quốc hội. Thượng nghị sĩ Maxki nhận xét: “Chiến dịch ném bom là sai lầm và nguy hại”. Nghị sĩ Đavít đe dọa: “Sẽ kêu gọi Quốc hội cắt ngân sách”. Nghị sĩ Sácbơ nguyền rủa: “Níchxơn là kẻ không còn lý trí”. Nghị sĩ Menxphin lên án: “Đây là chiến thuật man rợ của thời kỳ đồ đá”. Nghị sĩ Lexta ví: “Cuộc ném bom bằng B52 là cuộc truy lùng của ma quỷ”. Còn nghị sĩ Kennơđi thì khẳng định: “Chiến dịch ném bom dịp Nôen làm nổi giận lương tâm tất cả mọi người”.

Văn Úc (st)

Trước đó, đầu năm 1968, Bác Hồ đã nhận định: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước tình huống này càng sớm càng tốt, để có thời gian mà suy nghĩ, chuẩn bị… Ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua, nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Theo lời Bác, chúng ta đã lên kế hoạch chiến thắng B52, kể cả việc chúng dám vào Hà Nội. Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh, lúc bấy giờ là Cục phó Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu cho biết, sau vụ B52 Mỹ ném bom Hải Phòng, một cuộc họp mở ra với những câu hỏi rất quan trọng: Mỹ có đưa B52 ném bom Hà Nội và vùng lân cận không? Nếu đưa thì thời điểm nào? Ta có đánh rơi được B52 không? Cách đánh ra sao?

Cuối tháng 10-1972, tài liệu về cách đánh B52 đã được phổ biến trong toàn quân chủng Phòng không- Không quân. Tuy nhiên, để đánh được B52 không đơn giản. Nói như Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học – Kỹ thuật Nhà nước Trần Đại Nghĩa lúc ấy, trước hết phải khắc phục các loại nhiễu điện từ. Tổng Tham mưu phó Phùng Thế Tài chỉ thị, phải chuẩn bị đầy đủ phương tiện, nghiên cứu kĩ, Quân chủng Phòng không – Không quân phải được chuẩn bị chi tiết cả về con người và vũ khí cho chiến thắng B52. Đại tướng Võ Nguyên Giáp liên tục làm việc với Quân chủng Phòng không – Không quân, Tư lệnh các Binh chủng radar, tên lửa, không quân, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không Hà Nội để xác định phương hướng tác chiến chiến dịch phòng không đánh B52, bảo vệ Hà Nội.

Tháng 9-1972, Bộ Tổng tham mưu và Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân bổ sung và hoàn thiện phương án mới đánh B52, được gọi là “Phương án tháng 9”; trong đó xác định trọng điểm vào hai khu vực Hà Nội và Hải Phòng. Ngày 24-11, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng phê chuẩn kế hoạch và lệnh cho Quân chủng Phòng không- Không quân tiếp tục hoàn thiện công tác chuẩn bị chiến đấu trước ngày 3-12-1972.

Về phía Mỹ, ngày 14-12-1972, Tổng thống Mỹ R.Nixon chính thức thông qua kế hoạch tập kích chiến lược bằng B52 vào Hà Nội và Hải Phòng. Đây là kế hoạch tiếp nối từ thời Tổng thống tiền nhiệm LB. Johnson với mong muốn hủy diệt nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tham vọng “đưa Bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá”. Các thế lực hiếu chiến Mỹ tin tưởng chắc chắn rằng, với vũ khí tối tân bậc nhất là pháo đài bay B52, thì mọi sự sẽ bị san phẳng, hủy diệt và đối phương sẽ phải quy hàng. Nhưng chúng đã lầm. Bom đạn không khuất phục được ý chí con người Việt Nam. Và trong tình thế nguy nan ấy, chúng ta đã chuẩn bị chờ giặc tới.

Ga Hàng Cỏ, bệnh viện Bạch Mai bị bom Mỹ tàn phá
ảnh tư liệu

18-12-1972, đêm đầu tiên “rồng lửa Thăng Long” quật ngã pháo đài bay B52

Ngày 17-12-1972, Bộ Tổng Tư lệnh ra lệnh cho Bộ đội Phòng không – Không quân chuyển vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao nhất. 19h10 ngày 18-12-1972, Trung đoàn radar 291 ở Nghệ An phát hiện được nhiều tốp B52 đang bay trên không phận Lào về phía Bắc Việt Nam. Ngay lập tức, vào lúc 19h15, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu phó Phùng Thế Tài, Cục trưởng Cục Tác chiến Vũ Lăng có mặt tại Sở Chỉ huy Tổng hành dinh.

B52 là loại máy bay ném bom chiến lược hạng nặng, tầm xa do hãng Boeing sản xuất từ năm 1952, có thể mang vũ khí hạt nhân và vũ khí thông thường, khả năng hủy diệt lớn.

Cho đến nay máy bay ném bom B52 vẫn là máy bay ném bom chủ lực của lực lượng không quân chiến lược Hoa Kỳ. Lực lượng không quân chiến lược là 1 trong 3 nền tảng trụ cột của sức mạnh quân sự Hoa Kỳ, đó là: tên lửa hạt nhân chiến lược, tầu ngầm mang đầu đạn hạt nhân và không quân chiến lược – được xem là “át chủ bài” trong các cuộc chiến tranh mà quân đội Mỹ tham gia.

19h40 phút ngày 18-12-1972, thực hiện chiến dịch Linebacker II, 90 lần chiếc B52 và 135 lần máy bay chiến thuật Mỹ đánh liên tiếp 3 đợt vào các mục tiêu ở Hà Nội và vùng phụ cận. Do đã có phương án đánh giặc, ngay đêm đầu tiên B52 Mỹ rải thảm Hà Nội, mở đầu chiến dịch tàn sát, chúng ta đã bắn rơi 3 pháo đài bay B52. Đây là chiến công tuyệt vời của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, mà trực tiếp là của Quân chủng Phòng Không- Không quân. Cụ thể, ngày 18-12 và rạng sáng 19-12: D59, E261 tên lửa bằng 2 quả đạn đã bắn rơi 1 B52 – chiếc B52 đầu tiên bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội. Đêm đầu tiên ấy ta bắn rơi 6 máy bay các loại trong đó có 2 B52 rơi tại chỗ.

Sau đêm không kích đầu tiên, phía Mỹ nhận ra rằng, họ đã gặp phải một đối thủ kiên cường và tài giỏi. B52 bay tầm cao, được hộ tống bởi rất nhiều máy bay chiến thuật các loại hiện đại, được che đậy bởi tầng tầng lớp lớp sóng nhiễu radar nhưng vẫn bị bắn hạ. Người Mỹ bàng hoàng, giới chóp bu điên cuồng, phi công lái B52 hoảng loạn. Họ không ngờ quân đội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chuẩn bị kĩ lưỡng đến thế, tốt đến thế và càng không ngờ “con ma” B52 tối tân đã không đe dọa được những người lính quyết tử bảo vệ Tổ quốc.

BẮC PHONG
daidoanket.vn

Tương quan lực lượng cuộc chiến Hà Nội 12 ngày đêm

– Phía Mỹ: 1.192 máy bay, gồm 193 B52 và 250 tổ lái; 999 máy bay chiến thuật, trong đó có 50 máy bay F111. Tổng số lần xuất kích: B52 là 663 lần, riêng ở Hà Nội 444 lần; Máy bay chiến thuật: 3.920 lần chiếc.

– Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: 3 Sư đoàn phòng không. Tại Hà Nội, từ 18 đến 24-12-1972 có 9 tiểu đoàn tên lửa tham gia chiến đấu; còn từ 26 đến 29-12 là 13 tiểu đoàn. Pháo cao xạ: 16 trung đoàn. Không quân: 4 Trung đoàn tiêm kích MIG-21, MIG-19, MIG-17. Radar: 4 trung đoàn và 1 tiểu đoàn cảnh giới, dẫn đường.

(Nguồn: “Đối mặt với B52”, NXB Trẻ, 2012)

Triển lãm Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không

Hôm nay (18-12), Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam khai mạc triển lãm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, nhân dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng giặc Mỹ trên bầu trời Hà Nội. Triển lãm gồm 4 phần: Phần mở đầu khái quát cho người xem triển lãm hình dung một cách chung nhất “chủ trương và quyết tâm chiến lược của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh bại cuộc tập kích bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng”. Bước vào phần thứ nhất, tác giả tái hiện lại “những âm mưu và tội ác của đế quốc Mỹ trong cuộc tập kích bằng máy bay chiến lược B52 và Hà Nội, Hải Phòng”, phần thứ hai “Hà Nội chiến đấu và chiến thắng”, phần thứ ba gợi lại khí thế hào hùng và những bài học rút ra được qua chiến thắng quan trọng này: “Viết tiếp bản hùng ca “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Lê Anh Đức

Sai lầm lớn của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam (tiếp theo và hết)

Người Mỹ nhìn về “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”

“Giải mã” nguyên nhân thất bại của Mỹ

QĐND – Nhận xét về “Chiến dịch Linebacker II, tướng Gióoc-giơ I-đơ, cựu Phó tham mưu trưởng phụ trách kế hoạch và tác chiến của Không quân Mỹ đã viết trong tạp chí “Không quân” 6-1973, như sau: “Bắc Việt Nam có lực lượng phòng không dày dạn kinh nghiệm nhất thế giới, nhất là kinh nghiệm phóng tên lửa SAM để hạ máy bay. Về không chiến, các phi công Mỹ dựa vào hệ thống cảnh giới trên không tuy hiện đại song chắp vá nên hạn chế, trái với các máy bay MiG được ra-đa hoàn chỉnh điều khiển cho nên đa số máy bay Mỹ bị rơi vì đối phương đánh bất ngờ và chỉ khi một tên lửa lao đến ống thoát khí ở đuôi thì phi công mới biết là máy bay đang bị tiến công…”.

Tù binh Mỹ bị bắt trong chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Ảnh tư liệu.

Vì sao B-52 bị “hạ đo ván”?

Đại úy Phi công Mỹ Rô-bớt E Hon-phơ, người đã trực tiếp tham gia “Chiến dịch Linebacker II”, trong bài báo nhan đề “Cuộc hành quân Linebacker II theo nhận định của một phi công” đăng trên tạp chí “Không quân” tháng 9-1973, đã viết: “Không phải B-52 không được bảo dưỡng tốt (trong 729 phi vụ chỉ có một chiếc B-52 bị hỏng động cơ khi bay) mà một số máy bay chiến lược Mỹ bị rơi nhiều chính là vì mật độ vũ khí phòng không của Hà Nội, Hải Phòng tập trung cao buộc máy bay B-52 phải bay lên tầm cao và ở tầm này dễ bị tên lửa bắn hạ…”.

Trong cuốn sách nhan đề: “Người Mỹ ở Việt Nam” xuất bản năm 1980, Gu-en-tơ Le-vi viết: “Chiến dịch Linebacker II kéo dài 12 ngày đêm, mặc dù thời tiết chỉ cho phép hoạt động khoảng 12 giờ/ngày. Trong 12 ngày đã có 729 phi vụ hoạt động của B-52 và 1000 phi vụ của máy bay cường kích, 20.370 tấn bom được ném xuống Bắc Việt Nam. Mỹ bị tổn thất 26 máy bay, trong đó có 15 B-52. Các cuộc đánh phá chủ yếu tập trung vào các mục tiêu xung quanh Hà Nội, Hải Phòng bao gồm các nút giao thông, nhà ga xe lửa, kho tàng, nhà máy điện, sân bay… Việc ném bom đã gây ra tổn thất lớn cho Bắc Việt Nam, song lại không thể ngăn cản được Hà Nội tiến công Nam Việt Nam. Cả chiến dịch “Sấm rền” và “Linebacker II” đều không mang lại sự nhượng bộ quan trọng của Bắc Việt Nam. Cái giá mà Mỹ phải trả cho cuộc chiến tranh không quân ở Bắc Việt Nam là quá đắt về mặt tài chính và chính trị…”.

Khi phân tích nguyên nhân thất bại của chiến dịch Linebacker II, J.T Giôn-út viết trong cuốn “Cuộc chiến tranh Việt Nam”: “Những điểm yếu nghiêm trọng của việc vạch kế hoạch và thực hiện bộc lộ trong những cuộc oanh tạc ngày thứ nhất đã trở nên rõ rệt một cách bi thảm trong những ngày sau. Các chiến thuật áp dụng trong chiến dịch ném bom ở miền Nam không thích hợp với khu vực Hà Nội, nơi có hỏa lực phòng không mạnh”.

Trong bài viết nhan đề “Chiến dịch Linebacker II” đã đăng trên tạp chí “Không quân”, 11-1997, Oa-tơ Boi-nơ viết: “Vào thời điểm năm 1972, sau một thời gian xây dựng, Bắc Việt Nam đã có một hệ thống phòng không tích hợp mạnh nhất thế giới. Quy mô và sức mạnh của hệ thống phòng không-không quân này mạnh đến mức nhiều người tin rằng, các máy bay ném bom B-52, “át chủ bài” của lực lượng tiến công tầm xa của Mỹ khó mà sống sót… Có ba nguyên nhân dẫn đến tổn thất của B-52. Thứ nhất, các ra-đa của Bắc Việt Nam có thể vô hiệu hóa các biện pháp đối phó điện tử của B-52. Thứ hai, diện tích phản xạ hiệu dụng của B-52 quá lớn. Thứ ba, tốc độ gió quá lớn làm giảm tốc độ của máy bay”.

Nỗi sợ hãi của những phi công Mỹ

Rô-met Chan-đra, Tổng thư ký Hội đồng Hòa bình thế giới, trong bài đăng trên “Báo Cứu quốc” ngày 14-12-1973 đã viết: “Tại Hà Nội anh hùng… người ta đã thấy rõ một dân tộc không đầu hàng và không hề sợ sệt, quyết tâm làm theo di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Hà Nội anh hùng đã đập tan vĩnh viễn câu chuyện thần thoại của những B-52”. Hãng Roi-tơ ngày 29-12-2972 thì cho rằng “cái đà mất máy bay, phi công này nếu Mỹ còn tiếp tục ném bom thì chỉ đến ngày 28-4-1973, toàn bộ lực lượng không quân chiến lược của Mỹ ở Đông Nam Á sẽ hết nhẵn”.

Dưới đây là lời của các phi công Mỹ tham gia chiến dịch Linebacker II bị bắt làm tù binh:

“Ở sân bay U Ta-pao không khí bao trùm làm lo lắng và sợ hãi. Bởi vì chúng tôi phải đi vào những nơi nguy hiểm nhất. Bởi vì cứ như thế này thì ai cũng sẽ đến lượt phải chết. Chết trong đêm tối. Chết bi thảm. Chết vì mục đích không thể hiểu nổi”. (Giôn Ha-ri I-u-nin, trung tá, lái chính bị bắt tại Hải Hưng).

“Tôi có thể khẳng định rằng, nếu B-52 còn vào thì còn bị bắn rơi nhiều nữa. Các ông chiến đấu dũng cảm, mưu trí, có chính nghĩa. Tôi tin rằng nhất định các ông sẽ thắng vì lịch sử ở phía các ông, đạo lý cũng ở phía các ông”. (Uy-li-am Con-li).

“Máy bay chúng tôi trúng tên lửa SAM. Chỉ huy chẳng ra lệnh gì cả. Tôi nghe hai tiếng “búp”, “búp” biết rằng hai thằng ngồi trên ca bin nhảy dù rồi. Tôi liền nhảy dù theo, chẳng kịp gọi thằng ngồi sau. Vừa luống cuống cởi dù thì tôi bị bắt. Lạy Chúa, tất cả diễn ra chừng 15 phút, 15 phút kinh hoàng nhất đời tôi”. (R. Tô-mat Sim-xơn, đại úy bị bắt đêm 28-12-1972).

“Trước hôm tôi tham gia chuyến bay cuối cùng, trên báo quân đội Mỹ “Sao và Vạch” có đưa lên một số máy bay B-52 bị bắn hạ từ ngày 18 đến 24-12. Chuyến bay nào cũng có máy bay không trở về. Thật đáng sợ! Không khí bao trùm căn cứ An-đéc-xơn là không khí căng thẳng. Không cười, không đùa, không nói to… ai nấy đều lo lắng. Không khí căng thẳng này tăng lên từng ngày một”. (Giêm Côn-đân, thiếu tá, bị bắt ngày 27-12-2972).

Từ kinh nghiệm của chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972, chúng ta có thể vận dụng vào xây dựng các khu vực phòng thủ, tìm tòi, sáng tạo nhiều cách đánh linh hoạt của chiến tranh nhân dân, trong đó có việc nghiên cứu hình thành và phát triển nghệ thuật chiến dịch phòng không chống tập kích đường không bằng vũ khí công nghệ cao của địch. Tuy chiến tranh đã lùi xa, nhưng những bài học của chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Đại tá, PGS, TS TRẦN NAM CHUÂN – Viện CLQP/BQP
qdnd.vn

Kỳ 1: Sai lầm lớn của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam

Bài 3: Sức mạnh từ sự đồng thuận

“Thông tin ảo” và “hiểm họa thật”

QĐND – Dù rắn độc Hydra trong truyền thuyết tưởng như không thể tiêu diệt vì chém đầu này mọc đầu khác nhưng cuối cùng, để chiến thắng, dũng sĩ Héc -quyn đã nghĩ ra cách dùng lửa đốt ngay chỗ vết thương của những cái đầu vừa bị chặt. Vậy đâu là “lửa” để diệt “rắn Hydra – thông tin bẩn trên internet”?

Bài học quốc tế

Sự bất ổn tại Trung Đông, châu Phi mấy năm qua khiến nhiều người nhớ tới câu chuyện “Mùa Xuân A -rập”, khởi đầu từ cuộc biểu tình của lực lượng lao động Tuy -ni-di vào ngày 14-1-2011 nhằm bày tỏ sự đoàn kết và cảm thông với một thanh niên bán trái cây trẻ tuổi tên là M. Bu -a-di-di (Mohamed Bouazizi), người đã tự thiêu vì tuyệt vọng để phản đối cảnh sát. Hình thức bày tỏ của “sự cảm thông” qua các trang thông tin cá nhân, mạng xã hội đã nhanh chóng thổi bùng ngọn lửa phản kháng vốn đã âm ỉ do sự bức xúc đang “ứ” lên ở Tuy -ni-di vì thất nghiệp, tham nhũng, biến thành những cuộc biểu tình lật đổ chế độ. Phong trào được tiếp sức từ các thế lực trong ngoài, tiếp tục lan rộng, gây sụp đổ thể chế ở nhiều quốc gia. “Trái đắng” của cái gọi là “mùa xuân” ở chỗ, chẳng có “thành công của cuộc cách mạng” nào ngoài cuộc sống bất ổn hơn, khó khăn hơn cho người dân. Các cuộc bạo động đường phố ở Anh, xuống đường “chiếm phố Wall” ở Mỹ và nhiều nước khác, cuộc biểu tình phản đối kết quả bầu cử ở Nga năm 2011 và phản đối ông Pu -tin đầu năm 2012… được giới truyền thông quốc tế phản ánh đều liên quan tới việc các thế lực đối lập sử dụng mạng xã hội như Facebook, Twitter, youtube và cả điện thoại di động để kích động.

Câu chuyện ấy đã được các thế lực thù địch âm mưu sử dụng ở Việt Nam. Vụ việc điển hình là đúng vào thời điểm biểu tình bạo động chính trị ở Trung Đông – Bắc Phi lên đến cao trào, các tổ chức phản động lưu vong như Việt Tân, Đảng Dân chủ… liên tục phát tán thông tin xuyên tạc về vụ tự thiêu của Phạm Thành Sơn, kỹ sư công nghệ thông tin ở Đà Nẵng trước trụ sở UBND thành phố để kích động giống như vụ người thanh niên bán hoa quả tại Tuy -ni-di.

Để không còn “khoảng trống” thông tin

Trung tướng Nguyễn Quốc Thước cho rằng, bản chất của các thế lực thù địch thì không bao giờ thay đổi, chúng ta phải kiên quyết đấu tranh, không mơ hồ, ảo tưởng. “Họ giả nhân giả nghĩa, đã đóng góp gì cho đất nước, dân tộc đâu. Phá Đảng, phá chính quyền cũng chính là “phá dân”. Nếu ai đó bị mê hoặc tưởng họ tốt thì cứ đặt câu hỏi sao họ không ra trực diện mà phải chui lủi ở đâu. Tuy nhiên, không nên quy chung một rọ những người có ý kiến trái chiều với các thế lực phản động. Đối với những người còn có nhận thức khác, cần chủ động tăng cường đối thoại, thông tin hai chiều. Cung cấp thông tin đúng đắn, chính xác, khách quan phản hồi kịp thời các kiến nghị của cán bộ, đảng viên và nhân dân là cách tốt nhất đẩy lùi thông tin “bẩn”. Ví dụ như vừa qua, một bản kiến nghị của tôi đã được đồng chí Tổng biên tập Báo Nhân Dân tiếp thu, trao đổi phản hồi và cho đăng tải là cách làm rất đáng ghi nhận” – Trung tướng Nguyễn Quốc Thước nói.

Theo một cán bộ ngành tuyên giáo có kinh nghiệm, không phải tất cả web, blog đều là xấu độc và cũng không nên quá cường điệu hóa nguy cơ từ web, blog có nội dung xấu, nên coi nó như một phần “tối”, phần “rác” không đáng kể trên con đường chúng ta đang lựa chọn để đi. Cùng với việc xử lý nghiêm hơn về pháp luật, nên xác định rõ mục tiêu của chúng ta không phải chỉ là xử lý vài trang mạng cụ thể mà cần đấu tranh kiên trì, thường xuyên, có hệ thống với chiến lược “Diễn biến hòa bình” cũng như nguy cơ “tự diễn biến”, nhìn nhận vấn đề ở tầm cao hơn, toàn diện hơn.

TS Nguyễn Thế Kỷ, Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương cho rằng: “Cần phải có một cơ chế cung cấp thông tin thật nhanh và chính xác cho báo chí trong nước. Các phương tiện truyền thông trong nước phải đưa thông tin thật nhanh nhạy, hấp dẫn, bổ ích để đáp ứng nhu cầu bạn đọc. Khi công chúng được đáp ứng đủ nhu cầu thông tin thì họ không cần phải tìm kiếm ở bên ngoài. Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Hội Nhà báo Việt Nam sẽ có một cơ chế cung cấp thông tin cho báo chí nhanh hơn, nhạy hơn và đầy đủ hơn. Chúng ta cần phải nhanh chóng nói đúng bản chất sự việc, nói có tính định hướng để công chúng hiểu”.

Quản lý và xử lý

Đồng chí Nguyễn Bắc Son, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, trong một cuộc giao lưu trực tuyến gần đây đã khẳng định: “Những thông tin vu khống, bịa đặt, xuyên tạc cần được kiểm soát chặt chẽ và có chế tài cụ thể. Đây là hành vi mà không chỉ Luật Báo chí mà cả những luật khác phải có chế tài vì nó vi phạm đến nhân phẩm, quyền tự do của người khác, uy tín cá nhân. Bộ đang hoàn thiện dự thảo thay thế Nghị định 97 theo hướng làm sao vừa tạo điều kiện tự do cho mọi người, đồng thời cũng để hạn chế những hành vi lợi dụng để xâm phạm tự do cá nhân, vi phạm pháp luật”. Trao đổi với phóng viên Báo Quân đội nhân dân, một số cán bộ thuộc Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử cho biết thêm: Dự thảo nghị định này sẽ bổ sung một số quy định và khái niệm như “thông tin công cộng”, “thông tin riêng”, “trang thông tin điện tử cá nhân” để có chính sách quản lý phù hợp. Theo đó, những blog nếu cung cấp thông tin công cộng thì phải tuân thủ theo quy định về thông tin công cộng, không thể tùy tiện thông tin sai trái.

Còn theo các cơ quan chức năng thuộc Bộ Công an, cần sớm xây dựng và ban hành hệ thống pháp luật bảo đảm an ninh, an toàn trong lĩnh vực internet, trước mắt, cần ban hành Luật An ninh thông tin, thông tư của Bộ Công an về quản lý hoạt động thông tin điện tử cùng các quy định khác phục vụ công tác đấu tranh, xử lý tội phạm trên môi trường internet. Cần bổ sung chức năng thanh kiểm tra về an ninh thông tin để cơ quan công an có thể trực tiếp thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm. Rà soát, thống kê, đánh giá toàn bộ các trang web, blog, diễn đàn, trang tin, báo điện tử mà các đối tượng dùng làm công cụ truyền bá, phát tán thông tin phản động, sai trái, xác minh, phân loại để có biện pháp đấu tranh ngăn chặn. Kiểm soát, phát hiện việc để lộ, lọt bí mật qua internet, khắc phục các lỗ hổng bảo mật. Mặt khác, cũng cần phải có nguồn kinh phí riêng cho việc xử lý, ngăn chặn, kiểm soát internet, sớm xây dựng dự án kiểm soát internet cấp quốc gia đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kiểm soát được các loại hình dịch vụ gia tăng trên internet và mạng xã hội, không phụ thuộc nhiều vào các nhà cung cấp dịch vụ như hiện nay.

“Cái kiềng” tư tưởng

Ở đây, cũng cần nhấn mạnh đến vai trò, trách nhiệm của người đảng viên và quản lý của tổ chức Đảng. Vừa qua, có hiện tượng đảng viên đang công tác tại các cơ quan Nhà nước sử dụng blog, web cá nhân phát tán thông tin xấu nhưng tổ chức cơ sở Đảng chưa nắm bắt, xử lý và thi hành kỷ luật. Quy định số 47-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về những điều đảng viên không được làm nêu rất rõ các điều cấm như: “Nói, làm trái hoặc không thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, kết luận của Đảng; làm những việc mà pháp luật không cho phép”; “cung cấp, để lộ, làm mất hoặc viết bài, đăng những thông tin, tài liệu bí mật của Đảng và Nhà nước hoặc những việc chưa được phép công bố; tàng trữ, tuyên truyền, tán phát hoặc xúi giục người khác tuyên truyền, tán phát thông tin, tài liệu dưới mọi hình thức để truyền bá những quan điểm trái với đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước”; “viết bài, cho đăng tải tin, bài sai sự thật, vu cáo, bịa đặt hoặc quy kết về tội danh, mức án trước khi xét xử… Sáng tác, sản xuất, tàng trữ, tán phát các tác phẩm, công trình văn học, nghệ thuật không lành mạnh, mang tính kích động gây ảnh hưởng xấu trong xã hội; tán phát bài viết, hồi ký không đúng sự thật”: “Tổ chức, xúi giục, tham gia các hoạt động bè phái, chia rẽ, cục bộ gây mất đoàn kết nội bộ. Lợi dụng việc phát ngôn, nhân danh việc phản ánh, góp ý kiến đối với Đảng để đả kích, vu cáo, xúc phạm, nhận xét, đánh giá tùy tiện đối với người khác…”. Những nội dung nói trên rất cần được thi hành nghiêm túc trong Đảng, phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của đảng viên khi hoạt động trên môi trường internet.

Một bài học đáng tham khảo từ Ai Cập, khi “cách mạng hoa nhài” đã trở thành “lửa gần” vào đầu năm 2011, Tổng thống Mu -ba-rắc mới ra lệnh chặn Facebook, cắt internet… nhưng đã quá muộn. Cho nên, “xây” luôn đi đôi với “chống”, quản lý không có nghĩa là “khóa, cấm” cực đoan mà phải gắn liền với mục tiêu phát triển. Bác Hồ từng căn dặn: “Sự nghiệp làm nên bởi chữ “đồng”. Trong một lần trả lời phỏng vấn báo chí gần đây, nhà báo Hữu Thọ, nguyên Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương đã nhắc đến câu của Anh -xtanh mà ông rất tâm đắc, đại ý: Thảm họa của xã hội không phải nằm ở một số kẻ xấu, mà nó nằm ở số đông người im lặng. Mà kẻ xấu thì bao giờ cũng ít hơn rất nhiều so với những người không xấu song im lặng.

Nếu toàn Đảng và toàn xã hội làm tốt hơn việc phát huy dân chủ, đấu tranh phê bình và tự phê bình, đẩy lùi những sự “im lặng đáng sợ” thì chắc chắn sẽ không còn đất sống cho các web, blog có nội dung xấu. Chúng sẽ thực sự lạc lõng, bị “bỏ qua” trước “cái kiềng” tư tưởng và ngọn lửa luôn cháy sáng bởi tình yêu Tổ quốc và sự đồng thuận, phát triển, đúng như câu ca dao mà Bác Hồ từng nhiều lần trích dẫn, căn dặn chúng ta: “Dù ai nói ngả nói nghiêng / Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân!”.

Một số kinh nghiệm quản lý internet trên thế giới:

Trung Quốc: Lập những “tường lửa”, ngăn chặn toàn bộ các mạng xã hội bên ngoài nếu xét thấy nguy hại nghiêm trọng. Quy định các nhà cung cấp dịch vụ trên internet phải đặt máy chủ ở Trung Quốc.

Nga: Chính phủ kiểm soát chặt chẽ mạng xã hội từ nước ngoài.

Bê -la-rút: Cảnh sát tăng cường kiểm soát thông tin trên các mạng xã hội.

Mỹ: Các nghị sĩ đang tranh cãi về một dự luật internet mà Tổng thống Mỹ rất muốn ban hành.

Các quốc gia khác như: Pa-ki-xtan, I-ran, Xy-ri, Triều Tiên, Băng-la Đét, Các tiểu Vương quốc A -rập thống nhất, Mi-an-ma… đã chặn các mạng xã hội nước ngoài như Facebook, Flickr, Twitter…

(Theo TS Nguyễn Thế Kỷ, Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương)

Nguyên Minh, Nguyễn Hòa, Ngọc Hưng
qdnd.vn

(Tiếp theo và hết)

Bài 2: “Con rắn Hydra” mang cái đầu “thông tin bẩn”