Tag Archive | Chính trị – Xã hội

Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ với hòa đàm Paris

(VOV) -Lê Đức Thọ từng khiến Kissinger phải thốt lên rằng: Ông là một đối thủ xứng đáng.

Trên bàn đàm phán Paris, người ta chú ý tới một người đàn ông cao gầy, có đôi mắt cương nghị. Đó chính là cố vấn đặc biệt của phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà- Lê Đức Thọ.

Gần 5 năm bên bàn đàm phán, với bề dày cách mạng, tầm nhìn xa trông rộng, bản lĩnh chính trị vững vàng, cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thuỷ đã đưa ra những sáng kiến, giải pháp ngoại giao chiến lược, khiến cho kẻ thù phải khâm phục, trân trọng.

Chính ông đã được đề nghị trao giải thưởng Nobel Hòa bình – giải Nobel duy nhất dành cho người Việt từ trước tới nay nhưng ông đã từ chối với lý do hòa bình chưa thực sự lập lại trên đất nước Việt Nam.

Bộ trưởng Xuân Thủy cùng cố vấn đặc biệt của Việt Nam DCCH Lê Đức Thọ rời cuộc gặp riêng tại địa điểm của đoàn Việt Nam DCCH ở 11 phố Darthe. Ảnh tư liệu

Một tháng sau cuộc thương lượng chính thức giữa đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và đại diện Chính phủ Hoa Kỳ tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber (Paris- Pháp), ngày 12/6/1968, người ta thấy xuất hiện trong Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà một gương mặt mới- đồng chí Lê Đức Thọ, Cố vấn đặc biệt của Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thuỷ.

Theo các tài liệu lịch sử, năm 1968, đồng chí Lê Đức Thọ đang là Uỷ viên Bộ chính trị. Sau Tết Mậu Thân, ông được điều vào miền Nam tăng cường cho Trung ương Cục. Cuối đợt 2 của cuộc Tổng tấn công bắt đầu từ ngày 4/5/1968, Hồ Chủ tịch gọi ông ra Hà Nội và cử ông làm Cố vấn đặc biệt cho Bộ trưởng Ngoại giao Xuân Thuỷ.

Ông Lưu Văn Lợi- Thư ký của đồng chí Lê Đức Thọ từ năm 1968 đến năm 1989 kể lại: “Tại sao Bác Hồ lại chọn đồng chí Lê Đức Thọ? Như tôi hiểu và cảm nhận thì thấy rằng, từ đầu cách mạng Tháng Tám, đồng chí Lê Đức Thọ đã ở gần bên Bác. Bác rất hiểu con người này. Đó là một con người rất kiên định, đã từng trải qua nhiều công tác quan trọng, 8 năm có mặt ở Nam Bộ, hiểu được chiến trường, hiểu được tình cảm của nhân dân cho nên Bác đã trực tiếp đề cử đồng chí Lê Đức Thọ đi Paris. Theo Bác nói, con người này biết cương và nhu đúng lúc. Suốt 5 năm tại hội nghị Paris, đồng chí đã thể hiện được đúng tinh thần đó”.

Hội nghị Paris về Việt Nam (1968-1973) được coi là một trong những cuộc thương thuyết kéo dài nhất trong lịch sử thế giới. Đó cũng là cuộc đấu trí giữa ngành ngoại giao non trẻ của Việt Nam với ngoại giao nhà nghề sừng sỏ ở Mỹ với những cái tên như Harriman, Kissinger, …

Với tư cách là đại diện của Bộ Chính trị chỉ đạo cả hai đoàn đàm phán Bắc và Nam, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và các nhà ngoại giao Việt Nam luôn kiên định lập trường “Nước Việt Nam là một dân tộc. Chiến đấu và bảo vệ Việt Nam là quyền thiêng liêng của mọi người dân Việt Nam từ Nam đến Bắc”.

Nhà ngoại giao Phạm Ngạc khi đó giữ vai trò phiên dịch và ghi biên bản hội nghị nhớ lại: Trên bàn thương thuyết, hai ông Xuân Thuỷ và Lê Đức thọ đã phối hợp với nhau rất ăn ý. Lúc người này nhu thì người kia cương và ngược lại. Trong đó, phần nhiều cố vấn Lê Đức Thọ sắm vai cương . Không ít lần, ông đã đập bàn, nổi cơn thịnh nộ ngay trước mặt Kissinger.

“Ông Lê Đức Thọ là một con người kiên định trong lập trường, kiên quyết giữ lại các lợi ích cơ bản của mình, không mắc bẫy thủ đoạn của đối phương. Khi văn bản Hiệp định đã hoàn thành đến một mức độ nào đó rồi, Kissinger muốn phía ta ký tắt vào văn bản nội bộ nhưng ông Lê Đức Thọ không chịu nhượng bộ và Kissinger đã phải thốt lên rằng: ông là một đối thủ xứng đáng. Lập trường chính nghĩa và sáng suốt theo đường lối ngoại giao Hồ Chí Minh đã được ông Lê Đức Thọ thực hiện và nhận được sự cảm phục của đối phương”- Ông Phạm Ngạc nói.

Trong các cuốn hồi ký, ông Henry Kissinger từng nhiều lần nhắc đến đối thủ của mình trên bàn đàm phán là cố vấn đặc biệt của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Lê Đức Thọ. Kissinger thừa nhận Lê Đức Thọ là người có phong cách đàm phán uyển chuyển, sắc sảo. Ông cũng nhớ như in giây phút đầu tiên gặp cố vấn Lê Đức Thọ ngày 21/2/1970. Ông miêu tả Lê Đức Thọ có mái tóc hoa râm, bao giờ cũng mặc bộ đại cán, đôi mắt mở to và sáng, ít khi để lộ suy nghĩ.

Có thể nói, các cuộc đấu trí giữa ông Lê Đức Thọ với đại diện phái đoàn Mỹ, cả bí mật lẫn công khai tại Paris đã trở thành một huyền thoại trong lịch sử ngoại giao thế giới.

Kết quả là Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam đã được ký kết ngày 27/1/1973, tạo tiền đề dẫn đến thắng lợi cuối cùng ngày 30/4/1975. Cũng trong năm 1973, cố vấn Lê Đức Thọ cùng Henry Kissinger được đồng trao giải Nobel Hoà bình nhưng ông đã từ chối nhận giải.

Ông Lưu Văn Lợi- Thư ký của đồng chí Lê Đức Thọ cho biết: “Trong nhiều cuộc trả lời phỏng vấn, đồng chí Lê Đức Thọ đã giải thích vì sao lại từ chối giải thưởng chung với Kissinger. Ông nói, tại sao lại đặt ngang hàng giữa một nước luôn luôn gây ra chiến tranh và một nước luôn đấu tranh để giành lại độc lập. Giữa xâm lược và bị xâm lược lại nhận chung một giải thưởng. Hơn nữa, vì chưa có hoà bình thực sự ở Việt Nam nên ông chưa nhận giải thưởng đó và người xứng đáng chính là nhân dân Việt Nam”

5 năm giữ vai trò Cố vấn tại Hội nghị Paris dù chỉ chiếm một khoảng thời gian ngắn trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình nhưng đồng chí Lê Đức Thọ đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của một nhà ngoại giao chiến lược thời đại Hồ Chí Minh.

Trong bài viết nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của đồng chí Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh cho rằng, từ kinh nghiệm hoạt động của đồng chí Lê Đức Thọ tại Hội nghị Paris có thể rút ra một số bài học quí báu cho thế hệ ngoại giao Việt Nam hôm nay và mai sau, trong đó bài học đầu tiên là bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng trong công tác ngoại giao nhằm bảo vệ tốt nhất lợi ích quốc gia./.

Hương Giang/VOV- Trung tâm tin
vov.vn

Những bài học của đàm phán

Khi có ý định làm loạt bài nhân kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris (1973-2013), lật giở lại những trang tư liệu xưa, chúng tôi tìm gặp ông với mong muốn hiểu thêm về cuộc đàm phán lịch sử ấy; hiểu thêm về câu chuyện của những nhà ngoại giao Việt Nam trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của những năm tháng chiến tranh ác liệt ấy. Và ông- nhà ngoại giao Nguyễn Khắc Huỳnh- thành viên đoàn đàm phán Hiệp định Paris năm nào đã say sưa chia sẻ với chúng tôi về những gì ông đã trải qua trong những thời khắc ấy.

Thưa ông, là một trong những thành viên của đoàn đàm phán, ông có thể kể đôi chút về diễn biến cũng như đặc điểm của cuộc đàm phán này. Nó có gì giống và khác so với các cuộc đàm phán khác?

Theo tôi, tất cả các cuộc đàm phán về cơ bản giống nhau là có 2 phe hoặc nhiều phe khác nhau cùng ngồi đàm phán và đó là cái chung nhất. Ở đàm phán Hiệp định Paris cũng thế.  Nhưng  cuộc đàm phán Paris còn có đặc điểm khác. Thứ nhất, đây là một cuộc đối đầu rất quyết liệt của 2 nền ngoại giao. Nếu nền ngoại giao của Mỹ là nền ngoại giao của nước mạnh, nước giàu nhất thế giới suốt  thế kỷ 20. Tôi muốn nhấn mạnh yếu tố này là bởi, nếu không thấy được cái đối chọi giữa khó khăn như thế thì không thấy được bối cảnh lịch sử của đàm phán Paris lúc ấy. Thứ hai, về mặt quân sự, Việt Nam yếu phải đánh Mỹ mạnh. Chúng ta không thể thắng Mỹ trong ngày một ngày hai được; chiến tranh kéo dài đàm phán càng kéo dài. Thứ ba, cuộc đàm phán Paris là cuộc đàm phán có nhiều loại diễn đàn.  Diễn đàn giữa hai bên Việt Nam-Hoa Kỳ (diễn ra suốt năm 1968); Diễn đàn 4 bên kéo dài hơn 3 năm  (1969-1971) gồm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam; còn bên kia là Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Thứ tư, các bên đều sử dụng cuộc đàm phán này để nói cho bên thứ ba nghe. Nói cách khác,  tức là nói cho nhân dân thế giới nghe.

Vậy, vào thời kỳ đầu của cuộc đàm phán, ông cùng các đồng nghiệp tham gia vào đoàn đàm phán như thế nào?

Phải nói, tôi may mắn là một trong những người đầu tiên được thông báo về việc chuẩn bị đàm phán. Ngay sau đó, anh em chúng tôi bắt đầu tỏa ra tìm tài liệu có liên quan đến các cuộc đàm phán. Tiếp đó, chúng tôi lo tư liệu, nội dung lên án tội ác của Mỹ, lên án Mỹ xâm lược làm nội dung tranh đấu; lên án chính quyền Sài Gòn bù nhìn- từ đó để đòi Mỹ  chấm dứt hoàn toàn ném bom miền Bắc.

Từ cuộc đàm phán Paris, ông thấy có thể rút ra được những bài học gì trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập tự do nói chung, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ nói riêng, thưa ông?

Kinh nghiệm tôi nhớ nhất, quan tâm nhất chính là phải nắm chỗ mạnh của ta, xoáy vào chỗ yếu của đối phương để mà đánh. Bởi vì mình bảo vệ độc lập chủ quyền bao giờ mình cũng ở phía chính nghĩa, người nào động đến độc lập chủ quyền và chủ quyền lãnh thổ của mình thì người đó không phải là chính nghĩa. Vì vậy, mình phải nắm lấy cái chính nghĩa xoáy vào cái phi chính nghĩa, phi pháp của họ. Giờ tôi thấy, tuyên truyền về điều này của chúng ta hơi yếu. Giờ với kinh nghiệm của đàm phán Paris, của cuộc đấu tranh chính nghĩa bảo vệ chủ quyền, tôi cho phải tuyên truyền mạnh hơn, nhiều hơn. Tờ báo nào không dám viết vì lý do này, lý do khác là yếu. Gần đây tôi có thấy báo Đại Đoàn kết, báo Thanh niên có nhiều bài hơn một chút về bảo vệ độc lập chủ quyền. Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ là nhiệm vụ thường xuyên bất di dịch của bất kỳ quốc gia nào. Cần coi đó là công việc của toàn dân nhưng trước hết các nhà lãnh đạo phải quan tâm từng ngày từng giờ. Bài học thứ hai là đề cao độc lập tự chủ. Đàm phán Paris gay go lắm, rất nhiều ý kiến đề nghị ta phải thế này, phải thế kia. Nhưng ta phải có độc lập, tự chủ, đánh theo cách của ta; đàm cũng theo cách của ta. Bài học thứ ba là đoàn kết quốc tế. Độc lập tự chủ phải gắn với đoàn kết quốc tế. Từ chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, Việt Nam luôn phải đối đầu với nước lớn, giàu mạnh hơn ta. Theo truyền thống của cha ông, nhân dân Việt Nam lấy tự lực, tự cường làm chính; nhưng phải biết vận dụng sự ủng hộ của quốc tế, ta thường nói là kết hợp sức mạnh thời đại. Bởi vậy độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế là điểm sáng chói trong đường lối ngoại giao quốc tế của Việt Nam.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Mai Loan- Lục Bình (thực hiện)
daidoanket.vn

Những câu chuyện về Hội nghị Paris Điều kỳ diệu mang tên Việt Nam!

Ngày 14-12-1972 trước khi lên máy bay tại sân bay Paris để trở về Hà Nội, anh Lê Đức Thọ dặn tôi: “Mình về thì nay mai chắc nó sẽ đánh Hà Nội bằng B52, việc này cậu đã biết. Cậu cần có kế hoạch hiệp đồng tốt với nhà trong trận đánh này”. Do đó về mặt ngoại giao trong 12 ngày đêm B52 đánh Hà Nội, Bộ trưởng Ngoại giao Pháp lúc đó là Maurice Schumann và tôi ngày nào cũng có những cuộc gặp nhau, có lúc còn gọi điện thoại cả vào đêm khuya để thông tin tình hình và trao đổi ý kiến. Phía Pháp cần thông tin để có thái độ còn phía ta cũng muốn Pháp góp phần lên án Mỹ. Thực tế trong những ngày đó Chính phủ Pháp đã phát tuyên bố lên án cuộc đánh phá Hà Nội mà Mỹ gọi là Chiến dịch Linebaker-II. Đến ngày 30.12.1972 sau khi tôi báo tin thắng lợi của ta trong 12 ngày đêm bắn rơi 81 máy bay Mỹ, trong đó có 34 chiếc B52, ông Schumann đã thốt lên: “Thật là kỳ diệu!”. Rồi ông đưa tôi ra thềm trụ sở Bộ Ngoại giao Pháp gặp hàng chục nhà báo Pháp và quốc tế đang nóng lòng chờ sẵn ở đó để tôi thông báo cho họ về “điều kỳ diệu” ấy.

Trong thời gian này song song với các hoạt động ngoại giao trên, cũng đã diễn ra cả một chiến dịch vận động dư luận rộng rãi ở Pháp và Tây Âu do tất cả các cơ quan đại diện Việt Nam, các hội đoàn người Việt Nam và bạn bè quốc tế phối hợp tiến hành. Cùng với 12 ngày đêm rực lửa trong trận “Điện Biên Phủ trên không” trên bầu trời Hà Nội giữa mùa Đông năm 1972 ấy cũng là những ngày đêm hừng hực nóng bỏng tình cảm của người Việt và bạn bè  của Việt Nam ở Pháp và các nước đấu tranh chống đế quốc Mỹ, bảo vệ Hà Nội anh hùng, bảo vệ đất nước của Hồ Chí Minh. Không phải ngẫu nhiên mà chúng ta đã chủ động đáp trả và toàn thắng trong chiến dịch “12 ngày đêm” bởi đây thực sự là thành công tất yếu của công tác dự báo tình hình. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau này được UNESCO vinh danh là “người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất”, đã có lời tiên tri thiên tài lúc sinh thời: “Chỉ sau khi bị thua ta trên bầu trời Hà Nội thì Mỹ mới thực sự chịu thua”. Suốt 30 năm kháng chiến chống ngoại xâm, Tư tưởng Hồ Chí Minh chẳng những đã giữ vững quyết tâm, củng cố niềm tin của nhân dân ta, mà còn dẫn dắt từng bước đi cho thắng lợi của dân tộc.

Võ Văn Sung
Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Pháp
Nguyên thành viên đoàn đàm phán Paris

“Hiệp định Paris 1973 là bài học về độc lập tự chủ”

Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao, nguyên Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam.
(Nguồn: TTXVN)

Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết đầu năm 1973 là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược dẫn đến đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Nhân kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp định Paris (27/1/1973-27/1/2013), bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao, nguyên Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam đã dành cho phóng viên TTXVN cuộc trả lời phỏng vấn về những ngày tháng không thể nào quên tại Paris 40 năm về trước. Sau đây là nội dung cuộc phỏng vấn:

– Là nữ Bộ trưởng Ngoại giao duy nhất tại Hội nghị Paris, xin bà cho biết cảm xúc của mình khi nhận nhiệm vụ thiêng liêng nhưng cũng đầy khó khăn này?
 
Bà Nguyễn Thị Bình: Khi được giao nhiệm vụ đi Paris, tôi rất lo vì biết đây là nhiệm vụ quan trọng và khó khăn, hơn nữa, bản thân tôi không học qua trường ngoại giao nào.

Trong thực tế, tham gia một cuộc đàm phán tức là tham gia một cuộc đấu tranh chính trị không đơn giản, nhưng lúc bấy giờ, tôi nghĩ các đồng chí lãnh đạo đã cân nhắc khi cử tôi đi làm nhiệm vụ này, chắc chắn các đồng chí đã tin tưởng và đánh giá tôi có đủ điều kiện cũng như khả năng hoàn thành nhiệm vụ, vì vậy, tôi đã tự tin lao vào công việc, thực tế là tôi đã rất cố gắng.

Chúng tôi và một số cán bộ từ nhiều cơ quan chức năng, được phân công tham gia hai đoàn đàm phán: đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đều đã hết sức cố gắng và hoàn thành nhiệm vụ.

-Trước khi Hiệp định Paris được ký kết năm 1973, giai đoạn đàm phán quyết định nhất là thời gian nào, thưa bà?
 
Bà Nguyễn Thị Bình: Cuộc đàm phán 4 bên ở Paris với mục đích tìm giải pháp chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, thời gian hội nghị hơn 4 năm 8 tháng, nhiều lúc rất khó khăn.

Theo tôi, đợt đàm phán có ý nghĩa quyết định nhất diễn ra vào tháng 10/1972. Khi đó phía Mỹ, chính quyền Nixon nghĩ không thể đánh bại chúng ta bằng quân sự. Vì vậy, họ chấp nhận Dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” và Dự thảo “Thỏa thuận về quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam” do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra, trong đó chấp nhận rút quân hoàn toàn khỏi Việt Nam và để vấn đề chính trị của miền Nam Việt Nam cho các bên của Việt Nam tự giải quyết.

Tuy nhiên, sau đó, chính quyền Nixon đã lật lọng, ngừng đàm phán và tìm mọi cách để không chấp nhận những yêu cầu của Việt Nam đồng thời gây sức ép để phía ta sửa đổi một số điều trong dự thảo không có lợi cho Mỹ. Mỹ muốn thực hiện các ý đồ bằng chiến dịch “Việt Nam hóa chiến tranh,” dùng vũ khí Mỹ nhưng dùng quân đội miền Nam Việt Nam thay thế quân đội Mỹ để thực hiện thôn tính Việt Nam.

Đỉnh điểm của sự gây sức ép là cuộc không kích bằng B52, tàn phá Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh miền Bắc suốt 12 ngày đêm. Nhưng, cuộc không kích của Mỹ đã thất bại nặng nề không những về mặt quân sự mà còn về chính trị và buộc Mỹ phải chấp nhận trở lại đàm phán đi đến ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

– Xin bà cho biết, đâu là nhân tố quyết định thành công của Hiệp định Paris?

Bà Nguyễn Thị Bình: Có thể nói, Hiệp định Paris là kết quả của cả một cuộc chiến đấu trường kỳ suốt 20 năm của quân và dân ta, từ sau chiến dịch Điện Biên Phủ, năm 1955 ta đã bắt đầu đấu tranh, đến năm 1959, chúng ta vừa đấu tranh vũ trang đồng thời kết hợp đấu tranh chính trị. Như vậy, kết quả của hiệp định là kết quả của cả một cuộc đấu tranh kéo dài.

Cuộc đấu tranh của chúng ta là cuộc đấu tranh toàn dân, toàn diện. Thắng lợi đây là thắng lợi quân sự, nhưng cũng là thắng lợi về chính trị đồng thời là thắng lợi về ngoại giao. Nói đến nhân tố quyết định thì phải nói về cả một cuộc đấu tranh lâu dài và thắng lợi trên các mặt trận để đi đến thúc ép Mỹ ký Hiệp định Paris.

– Theo bà, từ Hiệp định Paris có thể rút ra những bài học quý báu nào cho công tác ngoại giao sau này?
 
Bà Nguyễn Thị Bình: Tôi nghĩ rằng, Hội nghị Paris trải qua hơn 4 năm, nếu nói cho đúng, trước đó chúng ta cũng đã quan tâm đến vấn đề đấu tranh trên mặt trận dư luận, ngoại giao, nhưng tập trung ở cuộc đàm phán 4 bên ở Paris. Với nhân dân ta nói chung, đặc biệt là các đồng chí làm công tác ngoại giao thì tôi nghĩ cuộc đấu tranh ở hội nghị cho chúng ta rất nhiều bài học và những bài học đó vẫn có giá trị cả ngày nay và mai sau.

Theo tôi, trước hết cuộc đấu tranh của chúng ta rất phức tạp. Tuy là giữa ta và Mỹ nhưng cũng là mối quan tâm của nhiều nước lớn trên thế giới. Nên bài học từ Hội nghị trước hết là phải giữ vững nguyên tắc về độc lập tự chủ, phải xuất phát từ lợi ích quốc gia, phải biết rõ lực lượng mình như thế nào, đối phương ra sao để quyết định từng bước đi và luôn luôn có sự kết hợp giữa chiến trường và trên mặt trận ngoại giao – đó là bài học về độc lập tự chủ.

Bài học thứ 2 là chúng ta phải hết sức kiên định đối với lập trường nguyên tắc và mục tiêu chiến lược của mình, nhưng trong sách lược phải biết mềm dẻo. Ví dụ, lúc đầu chúng ta đặt ra mục tiêu trong cuộc đàm phán gồm 2 yêu cầu: yêu cầu quân sự là Mỹ phải rút quân hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam. Yêu cầu thứ 2 là ở miền Nam Việt Nam phải bỏ chính quyền tay sai của Mỹ để nhân dân tự lựa chọn chính quyền của mình. Nhưng dựa trên tình hình thực tế, chúng ta đã tập trung vào 1 mục tiêu là Mỹ phải rút hoàn toàn khỏi miền Nam Việt Nam. Chúng ta biết nếu Mỹ rút khỏi và chấm dứt sự can thiệp vào miền Nam Việt Nam thì vấn đề miền Nam Việt Nam ta hoàn toàn có thể giải quyết được.

Bài học lớn nữa là chúng ta biết kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Nghĩa là chúng ta phải trông vào sức mình; về mặt chính trị, quân sự chúng ta đã hết sức cố gắng để đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Ngoài ra, trong một cuộc đấu tranh hết sức quyết liệt với đối phương mạnh hơn nhiều lần, chúng ta đã biết tranh thủ sức mạnh đoàn kết quốc tế. Có thể nói, phong trào đoàn kết quốc tế ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của ta là phong trào đoàn kết quốc tế rộng lớn chưa từng có trong lịch sử. Đó chính là sức mạnh to lớn đã góp phần vào thắng lợi trong cuộc đấu tranh của dân tộc ta./.

Đỗ Quyên (TTXVN)
vietnamplus.vn

Giao lưu “Hiệp định Paris và tấm lòng bạn bè quốc tế”

Giao lưu giữa các đại biểu Việt Nam và quốc tế. (Ảnh: An Đăng/TTXVN)

Trong khuôn khổ các hoạt động kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973-27/1/2013), khoảng 50 đại biểu quốc tế tham dự các hoạt động kỷ niệm tại Việt Nam.

Sáng 26/1, tại Cung Văn hóa, Thể thao Thanh niên Hà Nội, Đoàn đại biểu quốc tế đã tham dự giao lưu “Hiệp định Paris và tấm lòng bạn bè quốc tế.”

Cùng dự có: nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình; Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam Vũ Xuân Hồng; Phó Trưởng ban Đối Ngoại Trung ương Trần Đắc Lợi, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga; một số đại biểu Việt Nam đã tham gia quá trình đàm phán và ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam; đại diện các ban, ngành hữu quan và đại diện các tầng lớp nhân dân…

Những người bạn quốc tế…

Có khoảng 30 trong số 50 đại biểu đến từ 14 quốc gia và một số tổ chức quốc tế là những người đã đóng góp trực tiếp, gián tiếp vào thành công của Hiệp định Paris, tham gia tích cực các phong trào đoàn kết quốc tế ủng hộ Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất đất nước.

Đó là những đại biểu đã lên tiếng phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và có nhiều hoạt động đoàn kết ủng hộ Việt Nam; thành viên Nhóm du kích tham gia vụ bắt giữ sỹ quan Mỹ Michael Smolen để đánh đổi chiến sỹ biệt động Nguyễn Văn Trỗi; hay là người đã từng tổ chức nhiều hoạt động trong phong trào thanh niên sinh viên Ấn Độ phản đối chiến tranh ở Việt Nam; kiều bào tại Pháp đã tham gia và đóng góp tích cực trong thời gian đàm phán và ký kết Hiệp định Paris; nhà hoạt động xã hội đã từng tham gia các hoạt động chống chiến tranh ở Việt Nam, đang tích cực ủng hộ nạn nhân chất độc da cam Việt Nam….

Khách mời giao lưu là những người bạn quốc tế đã giúp đỡ trực tiếp Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh ký kết Hiệp định Paris.

Ông Ramsey Clark, nguyên Bộ trưởng Tư pháp Mỹ (1967-1969) đã nhớ về thời điểm tháng 8/1972 ông tham gia một đoàn đại biểu quốc tế đi thực tế ở miền Bắc Việt Nam lúc chiến tranh ác liệt để tìm hiểu, bày tỏ sự ủng hộ đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa, vì hòa bình, độc lập dân tộc và thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam. Chuyến đi này đã gây tiếng vang rộng rãi trong dư luận Mỹ và thế giới.

Ông từng nói “Tôi cảm thấy Chính phủ Hoa Kỳ đã phạm sai lầm bi thảm khi tiến hành những hoạt động quân sự ở Việt Nam, và một người nào đó thực sự yêu đất nước có nghĩa vụ cao cả là nói lên điều đó và đứng lên phản kháng.”

Người nước ngoài đầu tiên mang quốc tịch Việt Nam

Tiếng Việt nhỏ nhẹ mang âm sắc Nam Bộ, ông Andre Marcel Menras tự hào nhận mình là người nước ngoài đầu tiên mang quốc tịch Việt Nam. Xúc động nghẹn lời khi nhớ về thời điểm năm 1970, khi ông cùng một người bạn đồng hương Pháp treo lá cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trước hạ nghị viện của Việt Nam cộng hòa (nay là nhà hát lớn) và rải truyền đơn đòi hỏi Mỹ và quân đội đồng minh rút quân để Việt Nam lặp lại hòa bình trong độc lập.

Ông bị bắt giam trong suốt 2 năm rưỡi. Cái tên Hồ Cương Quyết trong chứng minh thư của ông chính là do một người bạn Việt Nam cùng trong tù đặt tặng.

Chia sẻ lý do tại sao một người Pháp lúc đó lại sẵn sàng làm những việc nguy hiểm như thế, ông Andre Marcel Menras cho biết năm 1968 sau khi tốt nghiệp đại học sư phạm thành phố Montpellier (Pháp), ông sang Việt Nam dạy học tại Đà Nẵng. Là một thầy giáo trẻ, phải chứng kiến những cảnh chiến tranh tang thương hằng ngày, ông không cầm lòng được. Ông cho biết, sự phản kháng lúc đó là một phản ứng rất con người và tự nhiên từ trái tim, chỉ mong có thể góp phần nhỏ bé để mang lại hòa bình cho Việt Nam.

Ông bị trục xuất về nước ngày 1/1/1973, tức là 27 ngày trước khi Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết. Từ đầu năm 1973 đến Chiến dịch Hồ Chí Minh hoàn toàn thành công, ông đã vận động tuyên truyền trên thế giới để chính quyền Sài Gòn tôn trọng Hiệp định Paris và trả tự do cho các tù nhân chính trị và để dư luận buộc chính quyền Nixon phải ngừng hỗ trợ cho chiến tranh ở Việt Nam.

Khi được trả tự do từ nhà lao Chí Hòa, ông đã bí mật lấy danh sách tù nhân chính trị đang bị giam giữ tại Côn Đảo, Chí Hòa, Tân Hiệp và Phú Quốc lúc đó để gửi tận tay bà Phạm Thị Minh (phái đoàn chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa Miền nam Việt Nam) nhằm giúp phái đoàn bác bỏ luận điệu của phái đoàn Việt Nam cộng hòa và Mỹ rằng không có tù nhân chính trị tại miền Nam Việt Nam.

4 năm đồng hành cùng phái đoàn Việt Nam tại Paris

Nhớ lại thời điểm nhận trọng trách lái xe cho phái đoàn Việt Nam trong 4 năm tại Paris, ông Michel Strachinescu (Pháp) đã chia sẻ niềm vinh dự của mình cùng đông đảo các đại biểu quốc tế và Việt Nam. Đối với ông, 4 năm đồng hành cùng Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình và những người bạn Việt Nam khác lúc bấy giờ là những kỷ niệm lớn lao không bao giờ quên trong cuộc đời.

Một câu chuyện mà ông nhớ như in là có lần, đang chở các bạn Việt Nam trên đường cao tốc Pháp thì lá cờ của Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam bị rơi xuống đường. Xe đã chạy qua, lại trong điều kiện đường cao tốc có nhiều phương tiện đi nhanh, “Tôi suy nghĩ các bạn Việt Nam tại quê nhà đang chiến đấu hy sinh vì lá cờ đó nên bằng mọi giá phải quay lại ngay lập tức để cầm lại lá cờ”, ông Michel Strachinescu bồi hồi chia sẻ về tình yêu và sự đồng lòng ủng hộ Việt Nam của mình.

Xen lẫn các câu chuyện về những tấm lòng bạn bè quốc tế đại diện cho cả phong trào đoàn kết quốc tế ủng hộ Việt Nam là những phóng sự được trình chiếu, bắt đầu từ cảnh ký Hiệp định Paris về Việt Nam, về niềm vui, sự hân hoàn về thành quả đã đạt được trên mặt trận ngoại giao của nhân dân ta. Đó là kết quả của một chặng đường dài 5 năm đấu tranh không ngừng nghỉ, những lúc khó khăn, bế tắc nhưng cuối cùng cũng đạt được kết quả tốt đẹp nhờ nỗ lực không ngừng của nhân dân ta và sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế.

Các đại biểu đến từ Liên bang Nga (ông Khyupenen), Trung Quốc (ông Lương Phong); Tổ chức đoàn kết Nhân dân Á Phi (ông Nouri Hussain), Mỹ (ông John Francis)…. chia sẻ về những phong trào nhân dân khắp nơi trên thế giới đấu tranh ủng hộ Việt Nam, về những năm tháng sát cánh cùng nhân dân Việt Nam đấu tranh dẫn tới việc ký kết Hiệp định Paris; nỗ lực góp phần cùng nhân dân Việt Nam hiện thực hóa Hiệp định Paris để cuối cùng dẫn tới thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc vào mùa Xuân năm 1975.

Những vị khách mời đến từ Hội đồng Hòa bình thế giới, Tổ chức Hòa bình đoàn kết toàn Ấn, Italy…. chia sẻ về những hoạt động ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam sau Hiệp định Paris và trong công cuộc xây dựng phát triển ngày nay, những nỗ lực góp phần chia sẻ hậu quả chiến tranh để lại như vấn đề bom mìn, chất độc da cam/dioxin…

Sau 40 năm kể từ ngày Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết, phần lớn những đại biểu quốc tế nay tuổi đã cao, nhưng những câu chuyện về tình yêu Việt Nam của họ năm xưa như chưa bao giờ phai mờ, vẫn nguyên vẹn và đầy xúc động. Đến Việt Nam lần này, các bạn quốc tế có một cảm nhận chung như được trở về nhà, cảm nhận được sự chân tình hiếu khách của người dân Việt Nam đồng thời bày tỏ vui mừng khi chứng kiến một đất nước Việt Nam đang nỗ lực phát triển và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Thay mặt nhân dân Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình phát biểu bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc và khẳng định, nhân dân Việt Nam mãi mãi ghi nhớ và biết ơn về sự ủng hộ của hàng triệu bạn bè quốc tế đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa, vì hòa bình, độc lập dân tộc và thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam trước đây.

Tại buổi giao lưu, bày tỏ niềm xúc động khi lắng nghe những câu chuyện, những kỷ niệm về tình cảm bạn bè quốc tế trong quá trình đàm phán Hiệp định Paris, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình và Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam Vũ Xuân Hồng phát biểu nhấn mạnh, cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam trước đây được đông đảo nhân dân toàn thế giới ủng hộ. Cuộc đấu tranh đó đã cổ vũ hàng triệu người trên khắp thế giới xuống đường tuần hành biểu thị tình đoàn kết với Việt Nam. Trong lịch sử, thật hiếm có trường hợp nào huy động được số người ủng hộ đông đảo đến vậy.

Tin tưởng tình đoàn kết hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới ngày càng phát triển tốt đẹp, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình và Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam Vũ Xuân Hồng cùng bày tỏ mong muốn, bạn bè quốc tế từng ủng hộ Việt Nam trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây, sẽ tiếp tục ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước ngày này./.

Hoàng Thị Hoa (TTXVN)
vietnamplus.vn

Khách quốc tế về dự kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris

Đại biểu Mỹ tặng Chủ tịch nước bức ảnh nhân dân Mỹ xuống đường phản đối cuộc chiến tranh của đế quốc Mỹ tại Việt Nam. (Ảnh: Nguyễn Khang/TTXVN)

Ngày 25/1, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã tiếp thân mật đoàn khách quốc tế đang có mặt tại thủ đô Hà Nội dự lễ kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Tại buổi tiếp, các đại biểu xúc động cảm ơn đón tiếp nồng hậu của Ban tổ chức lễ kỷ niệm, đã tạo điều kiện để các đoàn khách đến Việt Nam dự buổi lễ trọng đại.

Đại diện các đoàn Pháp, Nga, Mỹ, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào nhấn mạnh những ngày này, tại những địa điểm khác nhau trên thế giới có liên quan đến Hiệp định Paris năm 1973, nhiều hoạt động kỷ niệm đã được tổ chức trọng thể.

Các đại biểu đã ôn lại những kỷ niệm không quên trong quãng thời gian phục vụ hai đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Paris hơn 4 thập kỷ trước.

Các đại biểu khẳng định trước tính chất chính nghĩa sáng ngời của cuộc chiến tranh giải phóng và thiện chí hòa bình của nhân dân Việt Nam, dù sinh sống tại các quốc gia khác biệt về chính trị, văn hóa với Việt Nam, đông đảo các tầng lớp nhân dân tiến bộ trên thế giới cùng kề vai sát cánh, ủng hộ Việt Nam, vạch trần tính chất phi nghĩa, của cuộc chiến tranh xâm lược; nhấn mạnh thắng lợi của Hiệp định Paris đã niềm cổ vũ lớn lao nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới.

Các đại biểu cũng bày tỏ những vấn đề đang được cộng đồng quốc tế quan tâm: bảo vệ môi trường, khai thác và sử dụng tài nguyên năng lượng, giải quyết bất đồng tranh chấp biển đảo, đề nghị Việt Nam với vai trò vị thế ngày càng được khẳng định trên các diễn đàn quốc tế, tích cực tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu, để thế kỷ 21 là thế kỷ hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển của nhân loại tiến bộ.

Phát biểu tại buổi gặp mặt, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang hoan nghênh sự hiện diện của các vị khách quốc tế đúng vào dịp Việt Nam tổ chức kỷ niệm ngày lễ trọng đại.

Chủ tịch nước bày tỏ lòng biết ơn của Đảng, Nhà nước Việt Nam, với các nước xã hội chủ nghĩa anh em, bạn bè quốc tế, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ, đã ủng hộ cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, tin tưởng trái tim và khối óc của bạn bè quốc tế sẽ đồng hành với nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chủ tịch nước nhấn mạnh Việt Nam luôn chào đón những người bạn quốc tế và sẵn sàng hợp tác với các nước trên nhiều lĩnh vực.

Chủ tịch nêu rõ trên các diễn đàn trong nước và quốc tế, Việt Nam luôn thể hiện rõ vai trò là thành viên tin cậy và trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, góp phần xây dựng môi trường hòa bình và phát triển cho các quốc gia.

Trước đó, chiều 25/1, đoàn đại biểu quốc tế, Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam Vũ Xuân Hồng và đại diện các cơ quan hữu quan đã tham dự Lễ trồng cây tại Công viên Hòa Bình, Hà Nội./.

Hoàng Giang (TTXVN)
vietnamplus.vn

Paris – sự lựa chọn sáng suốt

(VOV) -“Paris đã chứng minh đúng là địa điểm tốt nhất cho hòa đàm giữa Việt Nam và Hoa Kỳ”.

Thắng lợi của Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam hay còn gọi là Hiệp định Paris năm 1973 là thắng lợi của tổng hòa sức mạnh quân sự, chính trị và ngoại giao cùng với những lựa chọn chiến lược sáng suốt của Đảng ta. Trong đó, phải kể đến sự tài tình trong việc lựa chọn địa điểm cho cuộc đàm phán lịch sử.

Sau khi Việt Nam và Mỹ đồng ý tiến hành các cuộc đàm phán chấm dứt chiến tranh Việt Nam, tháng 4/1968, hai bên cùng đưa ra những địa điểm để lựa chọn cho cuộc thương lượng.

Trái với những đề xuất của Mỹ chọn một số thủ đô ở Đông Nam Á để gần và tiện cho phía Việt Nam, thì chúng ta lại chọn Paris, một nơi không những xa mà còn là một trong những thủ đô đắt đỏ nhất thế giới. Một tháng sau vào ngày 13/5/1968, phiên họp chính thức đầu tiên được diễn ra tại Paris.

Ông Phạm Ngạc – Nguyên Vụ trưởng Vụ Tổ chức Quốc tế Bộ Ngoại giao, từng là thành viên của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho biết: “Ta đồng ý ở Paris thì có ý nghĩa khác, đó là ngay lúc đó chính Tổng thống Pháp Charles de Gaulle cũng đã lên án Mỹ trong chính sách tại Việt Nam. Ngoài ra, Pháp là nơi có lực lượng Đảng Cộng sản rất mạnh, Việt kiều rất đông và cũng là nơi cụ Hồ khởi sự ra cuộc đấu tranh quốc tế”.

Toàn cảnh Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Ảnh tư liệu

Trong suốt quá trình đàm phán kéo dài gần 5 năm, đoàn Việt Nam không chỉ nhận được sự ủng hộ chính trị của Chính phủ Pháp mà còn nhận được ủng hộ và giúp đỡ tối đa về tinh thần và hậu cần  từ các tầng lớp nhân dân nước này.

Liên tục trong 5 năm, họ thường xuyên tổ chức các cuộc mít tinh, biểu tình, hội họp để ủng hộ lập trường của các đoàn đàm phán của ta. Riêng Đảng Cộng sản Pháp đã chuyển toàn bộ Trường đảng Trung ương Maurice Thorez đi nơi khác để nhường địa điểm cho đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sử dụng suốt 5 năm và cử nhiều đảng viên của đảng đến phục vụ 2 phái đoàn của ta như lái xe, nấu ăn, gác cổng… Nhờ có cơ sở vật chất tốt nên công tác an ninh của đoàn đã được đảm bảo an toàn tuyệt đối.

Ông Phạm Ngạc cho biết: “Đảng Cộng sản Pháp đã dành cho ta chỗ họp an ninh rất tốt, đầy đủ các phương tiện; phòng ngủ, chỗ làm việc, tiếp khách rất tốt. Trong suốt quá trình 5 năm Hiệp định Paris có rất nhiều chuyện nhưng chưa bao giờ bị lộ bí mật. Đó là một thành công, hậu cần rất thuận lợi. Từ chỗ tưởng như rất khó khăn cho Việt Nam nhưng bây giờ lại rất thuận lợi và khó nơi nào có được như vậy”.

Hai đoàn đàm phán của ta là Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam còn nhận được sự ủng hộ to lớn và tham gia trực tiếp của cộng đồng người Việt tại Pháp. Nhiều người Việt Nam giỏi tiếng Pháp đã tình nguyện làm phiên dịch, biên dịch, ghi biên bản các cuộc họp, họp báo…

Bà Tôn Nữ Thị Ninh, Nguyên Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại Quốc hội, lúc đó là một sinh viên Việt kiều nhớ lại: “Việt Nam, lúc đó là khẩu hiệu tiêu biểu nhất của phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới nói chung và tại Paris nói riêng, cho nên việc tham gia phong trào phản chiến của người Việt là lẽ rất tự nhiên. Lúc đó phải nói thật là chuyện học và bằng cấp là chuyện thứ yếu. Công việc chính yếu của chúng tôi là kiếm sống để có thể tham gia phong trào rất tự nhiên và hào hứng. Phải nói rằng chúng tôi trưởng thành trong phong trào phản chiến đó”.

Tại Paris trong suốt 5 năm đàm phán chúng ta còn có sự ủng hộ mạnh mẽ từ báo chí Pháp. Hầu hết các báo đều có những bài viết ủng hộ lập trường của ta.

40 năm trôi qua, điểm lại những diễn biến trên bàn đàm phán có thể thấy rằng Paris là địa điểm có môi trường đàm phán, đấu tranh dư luận, tranh thủ quốc tế tốt nhất cho hai Đoàn đàm phán của ta.

Một trong những nhà ngoại giao ủng hộ đề xuất phương án địa điểm Paris lúc đó là  ông Võ Văn Sung- nguyên Đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pháp, thành viên phái đoàn đàm phán Paris đã từng khẳng định: ” Có thể nói rằng liên tục trong 5 năm, Paris đã sống theo giờ Việt Nam và Việt Nam đã sống theo giờ Paris vì Paris đã chứng minh đúng là địa điểm tốt nhất cho hòa đàm giữa Việt Nam và Hoa Kỳ”./.

Mỹ Trà/VOV- Trung tâm tin
vov.vn

Bà Nguyễn Thị Bình: Nếu tôi ở tuổi 20

Bà Nguyễn Thị Bình

(VOV)- Đọc hồi ký “Gia đình, đất nước và bạn bè” của bà, ta sẽ tìm thấy một lời khuyên giản dị: điều gì có lợi cho đất nước thì làm

Bài học lớn nhất của nhân dân ta là bài học đoàn kết. Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước, Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hòa đàm Paris đã khẳng định như vậy trong cuốn hồi ký “Gia đình, bạn bè và đất nước” của mình. Sách do nhà xuất bản Tri thức phát hành tháng 5/2012, dày hơn 400 trang, hé lộ nguồn gốc tạo nên sức mạnh đặc biệt của bà.

Cuốn sách cũng là sự gửi gắm những mong mỏi và tâm huyết của bà và thế hệ của mình-những con người đã dành cả tuổi xuân đấu tranh giành độc lập cho đân tộc đến các bạn trẻ-chủ nhân quyết định đến vận mệnh và sự phát triển của nước nhà.

Về cuốn hồi ký, bà Nguyễn Thị Bình chia sẻ: “Trong những ngày này, tôi nhớ đến kinh nghiệm của bản thân và những bài học của cuộc đấu tranh của nhân dân ta trước đây. Chúng tôi nghĩ bài học lớn nhất của nhân dân ta là bài học đoàn kết. Đoàn kết dân tộc vì một mục tiêu chung. Đó là phương châm của thắng lợi trong quá khứ. Bây giờ chúng ta đều hiểu rằng, sở dĩ mà chúng ta thắng ở trong hai cuộc kháng chiến là vì chúng ta có đoàn kết dân tộc vì một mục tiêu chung, vì độc lập tự do của đất nước. Chúng tôi nghĩ đó cũng sẽ là những phương châm của sự thành công trong hiện tại và tương lai”.

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình cho rằng có 3 cơ sở để tạo nên đại đoàn kết dân tộc để tiếp tục phát triển. Chúng ta có chung một cội nguồn, chung một mối an nguy đối với thế lực bên ngoài và chung một tương lai huy hoàng cho đất nước. 3 cái chung đó nó gắn kết chúng ta trước đây và trong ngày hôm nay. Và niềm tin trước đây và hôm nay vẫn sẽ là sức mạnh tinh thần to lớn nhất của dân tộc ta.

“Tôi nghĩ để xây dựng đất nước Việt Nam hùng mạnh, để chúng ta đủ sức bảo vệ đất nước và có một xã hội trong đó mọi người dân được tự do, hạnh phúc và có thể góp phần vào tiến trình phát triển của đất nước thì chúng ta phải có những con người mới, có nhân cách, có dân trí cao. Những con người có lý tưởng và niềm tin. Đó là kinh nghiệm trước đây và chúng tôi tin rằng ngày nay và trong tương lai”, bà Nguyễn Thị Bình nói.

Cuộc đời của bà Nguyễn Thị Bình gắn chặt với những sự kiện lịch sử quốc gia của thế kỷ 20, từ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đến hơn 30 năm sau hòa bình. Qua cuốn hồi ký, bà muốn tri ân đến đồng chí, đồng bào đã hi sinh xương máu đem lại hòa bình độc lập cho đất nước.

Bà Nguyễn Thị Bình tâm sự: “Chúng ta đã từng tạo được những lớp người Việt Nam làm nên những điều thần kỳ thì giờ đây chúng ta phải chuyển tinh thần đó vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Và tôi tin rằng nhân dân ta với truyền thống của mình, đặc biệt là thanh niên sẽ thực hiện được điều đó. Đó là những điều tôi muốn gửi gắm qua hồi ký của mình. Và tôi dám chắc rằng đó là những gì mà thế hệ chúng tôi mong muốn với thế hệ sau”.

Sau khi phát hành cuốn hồi ký, nhiều câu hỏi của các bạn đọc trẻ tuổi đã được gửi đến bà, hỏi về những điều tiếc nuối cũng như nếu bây giờ, trong hoàn cảnh đất nước hiện nay, bà 20 tuổi, bà sẽ làm gì? Bà Nguyễn Thị Bình nêu ví dụ, nếu bà giỏi cả tiếng Pháp và tiếng Anh thì trong đàm phán Paris đã có thể làm được nhiều điều tốt hơn cho đất nước và nếu giờ bà trẻ lại như các bạn thanh niên bà sẽ trau dồi kiến thức thật tốt để cống hiến cho đất nước.

Bà cũng cho rằng: “Là người biết tự trọng thì luôn phải biết tự phê bình, không cần phải báo cáo với ai là mình đã tự phê bình như thế nào, mà là để thấy được những gì mình làm chưa tốt để lần sau làm tốt hơn”.

Những ai còn băn khoăn về bản thân và thời cuộc khi đọc cuốn hồi ký “Gia đình, đất nước và bạn bè” của nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình sẽ tìm thấy một lời khuyên giản dị của bà. Đó là: điều gì có lợi cho đất nước thì nên làm, điều gì có hại thì không nên./.

Mỹ Trà/VOV- Trung tâm tin
vov.vn

Đại sứ quán Việt Nam tại Mỹ tọa đàm về Hiệp định Paris

(VOV) – Tại buổi tọa đàm, các diễn giả đã trình bày khái quát về tiến trình đàm phán, kết quả và ý nghĩa lịch sử của Hiệp định Paris.

Ngày 18/1, Đại sứ quán Việt Nam tại Mỹ đã tổ chức buổi tọa đàm nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký “Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” (27/1/1973-27/1/2013), gọi tắt là Hiệp định Paris.

Đại sứ Việt Nam tại Mỹ Nguyễn Quốc Cường phát biểu tại buổi tọa đàm

Tại buổi tọa đàm, các diễn giả đã trình bày khái quát về tiến trình đàm phán, kết quả và ý nghĩa lịch sử của Hiệp định Paris. Diễn ra trong 4 năm 8 tháng 16 ngày, với 202 phiên họp công khai tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế Kléber và 36 phiên gặp riêng cấp cao tại nhiều địa điểm khác nhau ở Paris (Pháp), đây là một trong những cuộc đàm phán dài nhất và cam go nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam.

Hiệp định Paris năm 1973 có ý nghĩa rất to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Việc thực hiện Hiệp định Paris đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng miền Nam tháng 4/1975 và công cuộc thống nhất đất nước. Nhiều bài học trong đàm phán đã được các đại biểu ôn lại như bài học về tranh thủ thời cơ, bài học về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, bài học về kết hợp giữa ngoại giao và quân sự,….

Phát biểu kết luận buổi tọa đàm, Đại sứ Việt Nam tại Mỹ Nguyễn Quốc Cường khẳng định, 40 năm đã trôi qua nhưng ý nghĩa lịch sử của Hiệp định Paris vẫn còn nguyên giá trị. Đại sứ đề nghị các cán bộ Đại sứ quán và các cơ quan bên cạnh đại sứ quán vận dụng linh hoạt, sáng tạo những bài học kinh nghiệm từ cuộc đàm phán Paris vào thực tiễn công tác, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN; thúc đẩy mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Mỹ trong tình hình mới./.

Huy Hoàng/VOV – Washington
vov.vn

“Cuộc đàm phán dài nhất lịch sử” – Kỳ cuối: Thắng lợi

Đến cuối tháng 9/1972, chỉ còn hai tháng nữa là đến ngày bầu cử tổng thống Mỹ. Đây là thời cơ thuận lợi để ép Mỹ đi vào đàm phán thực chất. Đồng chí Lê Đức Thọ, cố vấn đặc biệt của Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã mang từ trong nước sang “Dự thảo Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam”. Chúng tôi được thông báo nội dung Dự thảo Hiệp định đã được Bộ Chính trị trong nước cân nhắc rất kỹ.

Bộ trưởng Xuân Thủy (phải) và ông Hariman, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ (trái) tại cuộc họp báo sau Phiên thứ 27 Cuộc nói chuyện chính thức giữa đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đại diện chính phủ Hoa Kỳ ở Pari ngày 23/10/1968.

Từ ngày đầu cuộc đàm phán đến tháng 9/1972, lập trường của Việt Nam luôn nhấn mạnh hai nội dung cơ bản, được coi là giải pháp “cả gói”: Mỹ phải rút quân hoàn toàn vô điều kiện ra khỏi miền Nam Việt Nam và phải xóa bỏ chính quyền Sài Gòn do Mỹ dựng lên, hai vấn đề này phải gắn chặt với nhau. Dự thảo Hiệp định lần này, ta chủ động nhấn mạnh việc Mỹ phải rút quân hoàn toàn ra khỏi miền Nam, chấm dứt chiến tranh, song nới lỏng yêu cầu vấn đề chính trị ở miền Nam Việt Nam.

Khi biết được nội dung cụ thể của Dự thảo Hiệp định, một số đồng chí trong đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời chúng tôi cũng có những băn khoăn. Liệu để lại vấn đề chính trị ở miền Nam thì Mỹ có chịu rút quân thực sự không? Có thể chấm dứt chiến tranh không? Kinh nghiệm ở Lào cho thấy sau Hiệp định Genève 1962 vì chấp nhận chính phủ liên hiệp nhiều thành phần mà đã dẫn đến nội chiến. Và còn hàng chục vạn anh chị em tù chính trị của ta, có đảm bảo họ được thả và an toàn không? Chúng tôi phải trao đổi với nhau nhiều ngày, hình dung tình hình miền Nam sau rút quân… sẽ như thế nào? Nhưng rồi mọi người cũng hiểu việc quân Mỹ rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam là vấn đề mấu chốt.

Trong hơn 2 tháng giữa đồng chí cố vấn Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Xuân Thủy và ông Henry Kissinger cố vấn đặc biệt của Tổng thống Nixon, có những cuộc tranh cãi “nảy lửa”, xung quanh bản Dự thảo Hiệp định Paris. Lúc đó, dư luận quốc tế, nhất là ở Paris, nói nhiều về ông cố vấn, đặc biệt là Kissinger, như là một nhà ngoại giao khôn ngoan, có kinh nghiệm về đàm phán chính trị… Có người hỏi tôi gặp ông Kissinger không? Sự thật là tôi gặp ông nhiều lần nhưng mà “gián tiếp”, trong các cuộc đối thoại giữa hai ông cố vấn, khi nói đến lập trường của Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam, chỉ một lần tôi và ông ấy trực tiếp nói chuyện với nhau là khi Hiệp định Paris được ký kết xong, để nâng cốc sâm – panh, chúc mừng hòa bình!

Đến đầu tháng 10/1972, hai bên đã thỏa thuận về cơ bản một dự thảo và dự định đến ngày 30/10 sẽ ký Hiệp định Paris nhằm chấm dứt chiến tranh. Những ngày này hai đoàn đàm phán chúng tôi hoạt động rất nhộn nhịp. Đoàn miền Nam tăng cường các cuộc tiếp xúc để làm rõ thêm lập trường của ta, tố cáo địch ngoan cố muốn kéo dài chiến tranh. Nhiều đại biểu các nước muốn biết kết quả của các tiếp xúc “bí mật”. Chúng tôi vừa phấn khởi, vừa lo lắng… Quả nhiên đến đầu tháng 11/1972, khi Nixon thắng cử, thì ông ta liền lật lọng, đòi sửa lại nội dung Hiệp định. Và để buộc Việt Nam chấp nhận, ông ta đã tiến hành cuộc không kích tội ác liên tục 12 ngày đêm, từ ngày 18/12 đến ngày 31/12, bằng B52 xuống Hà Nội, Hải Phòng.

Khi nghe Mỹ dùng B52 oanh tạc thủ đô và các thành phố lớn của ta, chúng tôi thực sự lo. B52 là máy bay giội bom hiện đại nhất của Mỹ, bay cao trên 10 km, có hệ thống máy bay chiến đấu hỗ trợ và gây nhiễu khiến rađa của ta khó phát hiện, tên lửa khó bắn trúng… Các bạn ở Pháp và các nước cũng đều lo lắng cho chúng ta, liệu lần này ta có chống cự được không? Đây là đòn đánh phản trắc và quyết liệt nhất của Mỹ. Ngày 21/12, chúng tôi tuyên bố ngừng đàm phán để phản đối. Đó là những ngày vô cùng căng thẳng.

Chúng tôi hồi hộp theo dõi tình hình trong nước. Đến khi nghe tin chiếc máy bay B52 đầu tiên bị bắn rơi ở Hải Phòng, rồi ở Hà Nội, liên tiếp bắn rơi một, hai, ba máy bay B52… chúng tôi vui mừng khôn xiết, tin rằng cuộc oanh kích cực kỳ dã man này của kẻ thù nhất định bị quân đội và nhân dân anh hùng của chúng ta đánh bại. Ngoài việc lo cho cái chung, tất cả anh chị em trong đoàn, nhất là các chị, đều hồi hộp theo dõi nghe ngóng các trận mưa bom B52 có rơi vào khu vực người thân mình đang sống không? Riêng tôi, khi nghe tin Mỹ giội bom trúng thị xã Hưng Yên, một thị xã nhỏ cách Hà Nội khoảng 30 km, tôi bàng hoàng lo lắng, không biết các con tôi có thoát khỏi nguy hiểm không? May quá, vài ngày sau, các đồng chí trong nước báo tin các con tôi đều an toàn. Tôi thở phào!

Tôi được gọi về nước cấp tốc. Đến Trung Quốc tôi gặp Chủ tịch Mao Trạch Đông và một số lãnh đạo khác của Trung Quốc. Chủ tịch Mao nói: “Sao các đồng chí Việt Nam phản ứng mạnh như vậy? Rồi Mỹ sẽ ra đi thôi”. Tôi không hiểu ý của Chủ tịch nên cũng không trả lời. Giữa đêm 30/12, tôi về Hà Nội, được tin Mỹ tuyên bố sẽ chấm dứt ném bom.

Mỹ đã cay đắng thấy rằng cả B52 cũng không thể làm nhụt ý chí của nhân dân ta. Trái lại, ngoài thất bại quân sự, tổn thất nặng nề về B52, thất bại chính trị của Mỹ còn lớn hơn. Cả thể giới lên án Mỹ. Chính phủ Anh, đồng minh thân cận nhất của Mỹ cũng ra tuyên bố “đáng tiếc” trước hành động này của Mỹ.

Sau này, tôi được biết từ những năm 1960, Hồ Chủ tịch đã nói: “Kinh nghiệm ở Triều Tiên, Mỹ cuối cùng sẽ dùng B52 để đe dọa chúng ta. “Và theo sự chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, từ đó quân đội ta đã nghiên cứu cách hạ máy bay B52. Quả là Bác đã nhìn xa và quân đội ta thật anh hùng, thông minh.

Ngày 21/1/1973, tôi trở lại Paris, thời tiết Paris bớt lạnh, nắng đẹp. Ngày 23/1/1973 đồng chí Lê Đức Thọ và Henri Kissinger ký tắt vào văn bản Hiệp định. Và Hiệp định Paris được ký kết. Đòi hỏi dai dẳng từ đầu của Mỹ “Hai bên cùng rút quân (quân Mỹ và quân miền Bắc)”, cái gọi là “có đi có lại” đã thất bại. Phải ký Hiệp định hòa bình với Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam rõ ràng Mỹ không còn con đường nào khác. Chúng ta đã đạt được thắng lợi to lớn, quan trọng, Mỹ phải rút hết đi, còn quân Việt Nam vẫn ở trên đất Việt Nam.

Trong lòng tôi, một cảm xúc mãnh liệt, bên cạnh một cảm giác bình thản, vì đinh ninh cái gì phải đến, tất sẽ đến.

Ngày 27/1/1973, ngày ký kết Hiệp định Paris, có một ý nghĩa lịch sử to lớn đối với dân tộc. Đối với mỗi chúng tôi trong đoàn cũng là ngày không thể quên trong cả cuộc đời.

Tất cả các báo trên thế giới để đưa lên trang nhất sự kiện trọng đại này. Mọi người yêu hòa bình và công lý trên thế giới đều hồ hởi như chính mình đã chiến thắng.
Đêm 26 tháng Giêng, trong cả hai đoàn hầu như không ai ngủ, mọi người đều khẩn trương chuẩn bị cho công việc sẽ làm trong ngày hôm sau.

Sáng 27/1/1973, phòng hội nghị Kléber rực sáng ánh đèn. Trước nhà hội nghị, hàng vạn người – kiều bào ta, bạn bè Pháp và các nước – vẫy chào chúng tôi giữa một rừng cờ đỏ sao vàng và cờ nửa đỏ nửa xanh. Tôi bước và phòng họp, rất hồi hộp… Đúng 10 giờ, bốn Bộ Trưởng Ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Nguyễn Duy Trinh), Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam (Nguyễn Thị Bình), Mỹ (William P. Rogers), Cộng hòa miền Nam (Trần Văn Lắm) ngồi vào bàn. Mỗi người ký vào 32 văn bản của Hiệp định.

Đặt bút ký văn bản Hiệp định Paris lịch sử, tôi vô cùng xúc động, nghĩ đến đồng bào, đồng chí, đến bạn bè ở cả hai miền Nam Bắc… Khi nhớ đến những người không còn nữa để biết được sự kiện này, tôi trào nước mắt. Tôi đã được thay mặt nhân dân và các chiến sĩ cách mạng miền Nam Việt Nam làm nhiệm vụ đấu tranh trực diện với Mỹ tại Paris, được thấy niềm tự hào vinh quang cùng với ân tình sâu đậm mà cả thế giới dành cho cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân ta. Vinh dự đó đối với tôi thật quá to lớn. Tôi không có đủ lời để nói lên được lòng biết ơn vô tận đối với đồng bào và chiến sĩ ta từ Nam chí Bắc đã chấp nhận mọi hy sinh dũng cảm chiến đấu để có được thắng lợi to lớn hôm nay, biết ơn Bác Hồ và cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Đảng, Mặt trận và Chính phủ Cách mạng Lâm thời đã tin cậy giao cho tôi nhiệm vụ khó khăn nhưng rất vẻ vang này. Tôi muốn nói lời cảm ơn sâu sắc bà con Việt kiều tại Pháp và các nước xung quanh, cảm ơn bạn bè quốc tế đã hết lòng vì cuộc chiến đấu của chúng ta, cảm ơn sự đoàn kết cộng tác của tất cả anh chị em trong hai đoàn đàm phán và các cơ quan, đoàn thể của ta ở Paris. Và tôi nghĩ đến gia đình, đến chồng con…

(Trích hồi ký của nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình)
baotintuc.vn

————————

Tin liên quan:

“Cuộc đàm phán dài nhất lịch sử”- Kỳ 4: Căng thẳng

Ngày 17/9/1970, tại bàn đàm phán Pari chúng tôi mở đợt tấn công 8 điểm của Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam đòi Mỹ rút hết quân trước ngày 30/6/1971 và gạt bỏ Thiệu – Kỳ – Khiêm, thành lập Chính phủ Liên hiệp lâm thời ở miền Nam và được dư luận thế giới hoan nghênh, cho là linh hoạt, mềm dẻo.

Quang cảnh phiên khai mạc Hội nghị Pari tại Phòng họp Trung tâm Hội nghị Quốc tế ở Pari (Thủ đô CH Pháp) ngày 13/5/1968. Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (bên phải) và đoàn đại biểu Hoa Kỳ (bên trái) tham dự Hội nghị. Ảnh Tư liệu -TTXVN

… Năm 1971, tình hình chiến trường rất căng thẳng. Trên bàn hội nghị cuộc đấu lý cũng hết sức gay gắt. Đến những tháng cuối năm 1971, đầu 1972 thế địch ta giằng co, trên bàn hội nghị cuộc đấu tranh vẫn tiếp tục nhưng là “Cuộc nói chuyện giữa những người điếc” như lời các nhà báo. Có thể nói đây là thời gian chán ngán nhất của chúng tôi. Những lúc như thế càng thấy nhớ gia đình. Tôi đọc đi đọc lại mấy dòng chữ nguệch ngoạc của Mai, con gái tôi, đã mười một tuổi (khi tôi ra đi, cháu mới lên tám) “Chừng nào mẹ về với chúng con?”. Chồng tôi vẫn ở trường Công binh nhưng sức khỏe anh đã bắt đầu giảm sút. Tôi thêm một mối lo mà chẳng biết làm sao, tôi không được ở gần để chăm sóc anh…

Tâm trạng riêng của tôi là vậy, và tôi biết mỗi người trong đoàn đều có những ngổn ngang riêng, nhưng có điều rất đặc biệt là tất cả chúng tôi không bao giờ nghĩ Việt Nam có thể thất bại. Chúng ta nhất định chiến thắng, vấn đề chỉ là “lúc nào?”.

Tháng 2/1971, Mỹ mở chiến dịch đường 9 Nam Lào nhằm cắt đứt liên lạc giữa Bắc – Nam, hòng bao vây cô lập Quân giải phóng của chúng ta, nhưng chúng đã thất bại nặng nề. Khi chúng tôi từ Pari thông báo cho Stockholm, Rome, Montréal, New York về việc Mỹ mở rộng xâm lược đối với Lào, thì từ các nơi này tin tức lập tức lan truyền đến các nước khác. Các cuộc biểu tình, mít tinh liền nổ ra khắp nơi, lên án Mỹ, đòi Mỹ chấm dứt leo thang chiến tranh.

Những ngày đó, cả hai đoàn Nam Bắc chúng tôi rất bận rộn. Chúng tôi thực hiện cái mà chúng tôi gọi “đối ngoại phối hợp với chiến trường”. Hơn một tháng sau, quân Mỹ – ngụy phải rút khỏi Nam Lào, tổn thất rất lớn về quân sự và cả về chính trị. Thế ta ngày càng mạnh lên rõ rệt. Với ý thức hết sức khiêm tốn, tôi nghĩ có thể nói những chiến sĩ ở Pari bấy giờ cũng đã góp phần dù nhỏ và gián tiếp của mình vào chiến thắng Nam Lào năm ấy.

Ngày 1/7/1971, đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam đưa ra kế hoạch nổi tiếng 7 điểm: Mỹ rút hết quân đi đôi với việc thả tù binh, chính quyền miền Nam phải từ chức và nhường chỗ cho một chính quyền mới sẵn sàng bàn bạc với Chính phủ Cách mạng Lâm thời để lập ra Chính phủ hòa hợp dân tộc. Như vậy là ta chủ động tách vấn đề rút quân Mỹ với vấn đề chính trị ở miền Nam Việt Nam. Lại thêm một bước đi khôn khéo của chúng ta. Trong ngoại giao vẫn thế, rất nhiều khi mềm dẻo lại chính là tấn công. Sáng kiến này gây chấn động mạnh, được dư luận thế giới hoan nghênh, nhiều Chính phủ các nước lên tiếng ủng hộ. Oasinhtơn tìm cách bày mưu khác. Kissinger rồi Nixon đi thăm Bắc Kinh, thâm ý làm cho mọi người nghĩ rằng vấn đề Việt Nam sẽ do các nước lớn giải quyết với nhau, và cũng còn nhằm chia rẽ giữa Liên Xô và Trung Quốc. Báo chí nước ngoài nói nhiều về cuộc họp bí mật ở Thượng Hải và tuyên bố của Trung Quốc “Mi không đụng đến ta thì ta không đụng đến mi”. Tôi nghĩ rằng rồi lịch sử sẽ còn ghi nhớ cuộc họp bí mật “không bình thường” này.

Không gì có thể làm cho nhân dân hai miền chúng ta nhụt chí, cuộc đấu tranh trên các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao càng được đẩy mạnh.

Giữa năm 1971, tôi về Hà Nội đúng những ngày lũ lụt lớn. Quân đội và nhân dân đang cố gắng vừa chống chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ, vừa giữ vững đê sông Hồng, phá cả đê bao Gia Lâm để nước không tràn vào Hà Nội.

Tháng 3/1972, quân dân ta bắt đầu cuộc tiến công lớn ở Đông Nam bộ, Tây Nguyên và Quảng Trị – Thừa Thiên là hướng quan trọng. Chiến dịch ở Quảng Trị kéo dài đến tháng 9/1972 là một trong những chiến dịch ác liệt nhất trong chiến tranh Việt Nam.

Tôi trở lại Pari đầu năm 1972 và lại tiếp tục đến Kléber mỗi sáng thứ năm. Trên chiến trường lúc này rất căng thẳng, nhưng trên bàn hội nghị thì vẫn là cuộc đối đáp “giữa những người điếc”. Cảm giác chán ngán vẫn đeo đẳng, cứ phải tố cái âm mưu, tội ác của Mỹ – Thiệu, đòi Mỹ rút quân không điều kiện, không biết chừng nào mới ra khỏi bế tắc. Phải tìm cách gỡ ra cho kỳ được. Ngày 11/1/1972, tôi được chỉ thị tuyên bố 2 điểm, đề nghị một giải pháp logic và hợp lý: Rút quân Mỹ, thành lập ở miền Nam một Chính phủ hòa hợp dân tộc ba thành phần: Chính phủ Cách mạng Lâm thời, chính quyền miền Nam và thành phần thứ ba.

Lúc này trên chiến trường quân ta ở thế phản công, ở Mỹ là năm bầu cử Tổng thống, Nixon đang chịu áp lực mạnh của nhân dân đòi đưa binh lính Mỹ về nước. Tôi cho rằng lập trường 7 điểm của Chính phủ Cách mạng Lâm thời cùng 2 điểm nói thêm, nhấn mạnh đến yêu cầu Mỹ phải rút quân, để các bên Việt Nam ở miền Nam giải quyết vấn đề nội bộ của mình, là một chủ trương chiến lược sáng suốt và đúng lúc, chúng tôi ra sức tuyên truyền, giải thích… Dư luận thế giới, đặc biệt ở Mỹ hoan nghênh, chính quyền Sài Gòn càng lúng túng, mâu thuẫn nội bộ của họ càng tăng, họ càng bị nhân dân căm ghét.

Để đánh lừa dư luận Mỹ trước bầu cử rằng chính quyền Nixon đang sắp đạt được một giải pháp chính trị cho chiến tranh ở Việt Nam, tại Pari phía Mỹ đồng ý cùng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đi vào đàm phán “bí mật”. Cuộc đấu trí lịch sử giữa đồng chí Lê Đức Thọ và Kissinger bắt đầu. Có thể nói đến lúc này trên cả hai mặt trận quân sự và ngoại giao đều vào hồi quyết liệt. Đồng thời không quân Mỹ còn dự định ném bom phá đê sông Hồng giữa mùa nước lớn hòng dìm xuống nước mấy triệu con người. Lúc đó, tại bàn hội nghị, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lên tiếng tố cáo âm mưu độc ác của Mỹ. Chúng ta đã mời nhiều đoàn khách quốc tế đến tận nơi để quan sát. Chính vào lúc này, chị Jane Fonda đến thăm đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời ở Pari, ăn cơm với tôi, rồi đi thăm Việt Nam. Và cũng vào dịp này, ông Ramsey Clark – nguyên Bộ trưởng Tư pháp dưới thời kỳ Tổng thống Johnson, đã từ chức vì không tán thành chính sách chiến tranh của Mỹ, cũng đi Hà Nội. Cả hai, chị Jane và ông Ramsey, sau khi từ Việt Nam trở về Mỹ, đều nói điều “mắt thấy tai nghe” rằng đó là những đê điều bảo vệ đồng bằng sông Hồng, không phải là hệ thống quân sự như chính phủ Mỹ lừa dối dư luận. Ông Raymomd Aubrac, người bạn lớn của chúng ta ở Pháp cũng rất tích cực vận động Vatican, Liên hợp quốc lên tiếng ngăn chặn kế hoạch tội ác nói trên. Ở trong nước, chiến tranh lên đến đỉnh cao ở cả hai miền. Đường mòn Hồ Chí Minh bị bắn phá 24/24 giờ mỗi ngày. Các cảng ở miền Bắc bị thủy lôi bao vây.

Ở Pari, chúng tôi từng giờ hướng về Quảng Trị, đặc biệt về cuộc chiến đấu ở Thành cổ nổi tiếng. Không có tin tức cụ thể, kịp thời, nhưng những gì được thông báo làm nhói tim chúng tôi. Chúng tôi biết các chiến sĩ của chúng ta đều rất trẻ. Họ hiểu cuộc giành giật “đất” ở đây có nghĩa là giành lại Tự do và Độc lập cho Tổ quốc, và họ sẵn sàng hy sinh. 81 ngày đêm khốc liệt, quân ta không giữ được Thành cổ, nhưng tinh thần kiên cường chiến đấu của các chiến sỹ là thể hiện quyết tâm không gì lay chuyển được của cả dân tộc, và ở Pari chúng tôi hiểu chính tinh thần đó đã góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của chúng tôi trên bàn hội nghị.

(Trích hồi ký của nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình)
baotintuc.vn

Kỳ 5: Thắng lợi

“Cuộc đàm phán dài nhất lịch sử”- Kỳ 3: Mặt trận báo chí

Thiên thời, địa lợi, nhân hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời được 8 năm đã lớn nhanh như Phù Đổng. Các Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng được thành lập ở khắp nơi, kể cả trong vùng còn bị địch tạm chiếm.

Đồng chí Xuân Thủy, đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và các cố vấn tại phiên đàm phán chính thức giữa Việt Nam và Hoa Kỳ ngày 13/5/1968. Ảnh: Tư liệu – TTXVN

Ở nước ngoài, tuy với danh nghĩa là Mặt trận, nhưng đã được nhiều nước xã hội chủ nghĩa và nhiều nước bạn bè khác công nhận như là một chính phủ. Đã đến lúc thành lập chính phủ để thực hiện việc quản lý vùng giải phóng ngày càng rộng lớn, và có tiếng nói chính thức của nhân dân miền Nam trên trường quốc tế. Ngày 6/6/1969, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố thành lập với 12 chính sách đối nội và đối ngoại, là một bước phát triển mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

Chính phủ có Hội đồng Cố vấn do luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch, luật sư Trịnh Đình Thảo làm Phó Chủ tịch, cùng nhiều trí thức yêu nước nổi tiếng tham gia. Đứng đầu Chính phủ là kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát. Tôi được cử làm Bộ trưởng Ngoại giao, đồng thời làm trưởng đoàn đàm phán tại hội nghị bốn bên ở Pari thay đồng chí Trần Bửu Kiếm về nước làm Bộ trưởng Phủ Chủ tịch Chính phủ. Đón tin bổ nhiệm làm Bộ trưởng, tôi thực sự không coi là tin vui, mà thấy nhiệm vụ sẽ nặng nề hơn.

Việc công bố thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam là sự kiện rất quan trọng, nhân dân trong nước vui mừng, ở Sài Gòn rất xôn xao, dư luận quốc tế cũng hết sức quan tâm. Tại bàn đàm phán khi đưa ra việc tôi thay thế đồng chí Trần Bửu Kiếm làm trưởng đoàn, đồng thời đoàn ta từ đây sẽ dự hội nghị với tư cách là đại diện của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam vừa được thành lập, chúng tôi dự kiến có mấy khả năng xảy ra: đại diện Mỹ có thể phản đối, ngừng cuộc họp… Không ngờ hôm đó trưởng đoàn Mỹ chỉ tỏ ra hơi bất ngờ và phát biểu gượng gạo “ai đại diện là việc nội bộ của quý vị…”. Còn ở đoàn chúng tôi tại Pari những ngày này là những ngày hội. Tôi nhận được rất nhiều hoa và thiếp chúc mừng, phải liên tục đón tiếp các đoàn. Đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do đồng chí Lê Đức Thọ và đồng chí Xuân Thủy dẫn đầu đến trước tiên. Rồi đến các Đại sứ Liên Xô, Trung Quốc, Cuba… đến chúc mừng và thông báo Chính phủ các nước ấy chính thức công nhận ngoại giao Chính phủ Cách mạng Lâm thời. Hội Liên hiệp Việt kiều ở Pháp, Đảng Cộng sản Pháp cùng các đoàn thể phụ nữ, thanh niên, công đoàn… liên tiếp đến. Báo chí quốc tế đưa tin dồn dập. Chỉ trong một thời gian ngắn đã có 20 nước, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa và hai nước bạn chí cốt của Việt Nam là Cuba và Algérie, ra tuyên bố công nhận ngoại giao Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Thế của đại diện miền Nam trên bàn hội nghị rõ ràng mạnh hơn và đàng hoàng hơn.

Thành phần đoàn chúng tôi không có gì thay đổi lớn. Tôi thay đồng chí Trần Bửu Kiếm làm trưởng đoàn. Các đồng chí Đinh Bá Thi và Nguyễn Văn Tiến là phó trưởng đoàn. Chị Duy Liên cũng về nước, nhưng đoàn lại được tăng cường chị Nguyễn Thị Chơn, và năm sau là chị Phan Thị Minh.

Tại Pari, đoàn chúng tôi có trụ sở tại Verrièré-le-Buisson (đường Cambacéres) và một bộ phận tại Massy cách đó năm, sáu cây số, trong một khu lao động. Toàn bộ đoàn không quá 30 người kể cả cán bộ nhân viên giúp việc. Riêng ở Verrièré-le-Buisson chỉ có 10 người: Tôi, Bình Thanh và vài đồng chí lễ tân, bảo vệ… Đây là một biệt thự cũ nhưng xinh xắn, nằm trên một khu đồi rộng, từ đó nhìn xuống hồ nước có mấy con thiên nga bơi lội, rất nên thơ. Sau nhà là một vườn nhỏ với khoảng chục cây cerise, buổi chiều chị em trong đoàn thường thích ra hái quả ăn và trò chuyện. Trước dãy nhà sau bếp, đồng chí cấp dưỡng có trồng mấy luống rau cải và nuôi mấy con gà. Sau những buổi làm việc căng thẳng, chúng tôi thường tham gia tưới rau, cho gà ăn, giải trí. Chúng tôi đã sống tại biệt thự Verrièré-le-Buisson gần năm năm cùng với năm năm đời thiên nga trong hồ. Cũng là năm năm lịch sử khó quên.

Phục vụ việc đi lại hoạt động của đoàn, chúng tôi được Chính phủ Pháp cử cảnh sát hộ tống, trưởng đoàn được một xe cảnh sát, bốn mô tô hộ tống hai bên, nếu đi cả đoàn như những hôm họp ở Kléber thì phải tám mô tô.

Đảng Cộng sản Pháp là tổ chức giúp đỡ đoàn nhiều nhất. Chúng ta chỉ có một số cán bộ bảo vệ từ trong nước sang, còn tất cả các đồng chí bảo vệ khác và cả lái xe đều do Đảng Cộng sản Pháp phái đến giúp đoàn, không công.

Hầu hết thành viên của đoàn là cán bộ chính trị từ nhiều địa phương, nhiều ngành đến, chỉ có một đồng chí quân sự. Chúng tôi làm việc với nhau rất đoàn kết, mọi người chỉ đinh ninh một tâm niệm vì miền Nam ruột thịt, vì những người thân yêu đang chiến đấu ở quê hương, phải làm tốt nhất nhiệm vụ của mình. Bình Thanh, cô thư ký rất nhạy cảm của tôi thường nói: “Đây là một tập thể yêu thương”. Chúng tôi ít đi chơi, chỉ thỉnh thoảng cả đoàn rủ nhau ra công viên hay vào rừng hái nấm. Bên Massy có hai bàn bóng bàn, chiều nào anh em cũng đánh bóng và chơi bi sắt. Báo chí nước ngoài, nhất là báo Pháp, so sánh đoàn chúng tôi với đoàn Sài Gòn. Lương của họ khá cao, họ có điều kiện đi giải trí nhiều nơi. Có báo viết cơ quan chúng tôi như một “nhà tu”, nam giới không có vợ đi theo, nữ cũng không có chồng đi theo. Chúng tôi sống rất đạm bạc, tiết kiệm.

Có những nhà báo muốn quay phim cảnh sinh hoạt ăn ở của trưởng đoàn “Việt cộng”, chúng tôi kiên quyết từ chối, lấy lý do phong tục Việt Nam không cho phép đưa công khai sinh hoạt riêng của người phụ nữ. Thực tế là chúng tôi khó lòng cho họ xem chỗ ở của tôi và Bình Thanh, trên gác thượng (mansarde) sát mái, chỉ có hai cái giường sắt như ở bệnh viện. Có nhà báo tò mò hỏi tôi đi may áo dài ở đâu, làm tóc ở đâu, chăm sóc sắc đẹp ở đâu, tôi tìm cách đối đáp cho qua chuyện. Cũng có phóng viên hỏi soi mói: “Bà có phải là đảng viên cộng sản không?”, tôi chỉ mỉm cười trả lời: “Tôi là người yêu nước, Đảng tôi là đảng yêu nước, kiên quyết đấu tranh cho độc lập tự do của đất nước”. Có nhà báo nhận xét: “Tên bà là hòa bình nhưng bà chỉ nói về chiến tranh”. Tôi có thể nói gì khác là lên án cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ và nêu rõ ý nghĩa cuộc chiến đấu của nhân dân ta, vì hòa bình và độc lập, tự do? Phải khẳng định rằng chúng ta không hề muốn có chiến tranh. Chính thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã buộc nhân dân ta phải đứng lên tự vệ…

Đối phương cũng như một số báo chí thường xoáy vào vấn đề có quân đội miền Bắc ở miền Nam Việt Nam không? Chúng tôi được chỉ thị không nói có mà cũng không nói không. Tôi trả lời: “Dân tộc Việt Nam là một, người Việt Nam ở Bắc cũng như Nam đều có nghĩa vụ chiến đấu chống xâm lược”. Các nhà báo có xoay đi xoay lại thế nào chúng tôi cũng chỉ một mực giữ nguyên cách nói đó, cuối cùng họ cũng đành chịu. Năm 1969, chúng tôi tuyên bố vùng giải phóng chiếm hai phần ba miền Nam.

Đến năm 1971, chúng tôi “mở rộng” ra đến ba phần tư. Lúc đó chiến trường quân chủ lực ta có khó khăn, một số phải dạt ra biên giới Campuchia. Địch ném bom khắp nơi, kể cả vùng ngoại ô Sài Gòn. Chúng tôi bàn với nhau để trả lời báo chí: “Nơi nào Mỹ ném bom, bắn phá thì đấy chính là vùng giải phóng của chúng tôi. Nếu không tại sao Mỹ lại phải ném bom?”. Lý lẽ này vững vàng, khiến các nhà báo đều gật đầu.

Tôi nhớ nhất một cuộc gặp mặt báo chí trên truyền hình trực tiếp vào giữa năm 1971. Truyền hình Pháp có sáng kiến tổ chức cuộc họp báo ở hai đầu Pari và Washington. Có 20 nhà báo tham gia, 10 người phần lớn là Mỹ coi như bảo vệ lập trường của Mỹ, 10 người khác phần lớn là Pháp coi như trung lập, khách quan. Khi được mời, tôi có phần ngần ngại, nghĩ mình chỉ có một mình giữa bao nhiêu nhà báo sừng sỏ không quen biết, lại phải tranh luận bằng tiếng Pháp. Đồng chí Dương Đình Thảo, người phát ngôn của đoàn và anh chị em động viên tôi, coi đây là dịp rất tốt để ta giới thiệu trước toàn thế giới lập trường chính nghĩa của ta và vạch âm mưu, tội ác của Mỹ, nên phải hết sức tận dụng. Gần hai tiếng đồng hồ căng thẳng dưới ánh đèn sáng chói của trường quay. Các nhà báo chủ yếu xoay quanh lập trường của Mỹ và Việt Nam tại bàn đàm phán. Tuy hồi hộp tôi vẫn cố gắng bình tĩnh đối đáp đàng hoàng, mạnh mẽ nhưng hòa nhã, nêu rõ thiện chí của chúng ta muốn tìm giải pháp chính trị, chấm dứt đau khổ của nhân dân, và cũng kiên quyết đến cùng vì tự do độc lập và thống nhất thiêng liêng của đất nước… Kết thúc họp báo tôi thở phào vì đã hoàn thành một nhiệm vụ phức tạp. Đồng chí Xuân Thủy điện thoại khen: “Cô rất dũng cảm”. Nhiều bạn Pháp, nhất là các bạn nữ thì gọi điện hoan hô, coi đây là một thành công quan trọng. Nhiều ngày sau, báo chí còn tiếp tục nói đến sự kiện này.

(Trích hồi ký của nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình)
baotintuc.vn

Kỳ 4: Căng thẳng

Cuộc đàm phán dài nhất lịch sử – Kỳ 2: Quyết tâm sắt đá

Ngày 20/12/1960, sau bốn năm đấu tranh chính trị quyết liệt không thành, nhân dân miền Nam Việt Nam đã thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, đoàn kết các tầng lớp nhân dân giương cao ngọn cờ tiếp tục đấu tranh chống xâm lược đòi độc lập và thống nhất.

Mặt trận tuyên bố lập trường hòa bình trung lập, là một chủ trương rất phù hợp với tình hình, làm nổi bật nguyện vọng tha thiết nhất của nhân dân miền Nam và tranh thủ được sự ủng hộ rộng lớn của nhân dân thế giới, từ các lực lượng cách mạng tiến bộ đến các nhà hoạt động xã hội, tôn giáo, hòa bình, các đảng phái chính trị khác nhau, kể cả những người không ưa chủ nghĩa xã hội và “sợ cộng sản”. Trong gần 16 năm, lá cờ nửa đỏ nửa xanh của Mặt trận đã phấp phới bay trên hầu khắp năm châu, thực sự là biểu tượng cuộc chiến đấu của nhân dân miền Nam. Biết bao nhiêu người đã ngã xuống dưới lá cờ vẻ vang này vì sự nghiệp chung của dân tộc.

Ngày 9/5/1968, tại sân bay Buốcgiê (Pháp), đông đảo kiều bào Việt Nam, nhân dân Pari và các phóng viên nước ngoài vây đón đồng chí Xuân Thủy, đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến Pari tham dự cuộc đàm phán hòa bình. Ảnh: Tư liệu – TTXVN

Tại cuộc đàm phán bốn bên ở Pari, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam với tư cách đại diện của nhân dân miền Nam đang trực tiếp chiến đấu đã đưa ra giải pháp chính trị nhằm chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình, và từng thời kỳ, linh hoạt theo từng bước diễn biến của cuộc đấu tranh, đã đưa ra những sáng kiến mà chúng tôi gọi là những cuộc tấn công ngoại giao, tỏ rõ thiện chí của mình, tranh thủ thêm dư luận, đẩy đối phương vào thế ngày càng lúng túng. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, với tư cách đại diện cho nhân dân miền Bắc, hậu phương của cuộc chiến đấu, luôn đề cao vai trò của Mặt trận, ủng hộ mọi giải pháp do Mặt trận đưa ra. Đến nay nhớ lại tôi vẫn còn như thấy bên tai tiếng nói điềm đạm, khoan thai của đồng chí Xuân Thủy mỗi lần tôi tuyên bố một sáng kiến mới: “Tôi hoàn toàn nhất trí với bà Bình”. Đấy cũng là lúc ở trong nước vang lên tiếng nói tha thiết của nhân dân hai miền: “Miền Nam gọi, miền Bắc trả lời”. Về mặt công khai là vậy, còn bên trong hai đoàn phối hợp với nhau rất chặt chẽ dưới một sự chỉ đạo linh hoạt và tinh tế từ trong nước.

Bước vào đàm phán, buộc phải công nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một bên đàm phán, là một thất bại lớn của Mỹ. Trên bàn hội nghị, cuộc đấu lý diễn ra rất dai dẳng. Hai đoàn chúng ta nhằm vào Mỹ phê phán, lên án. Còn Mỹ thì tránh né, đẩy cho đoàn Sài Gòn đối đáp dài dòng…

Sau 5 tháng hội nghị, ngày 8/6/1969, Tổng thống Nixon tuyên bố chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh”, để lộ ý đồ dùng người Việt đánh người Việt, báo chí quốc tế thì gọi là “thay màu da trên xác chết”.

Trung tâm hội nghị quốc tế Kléber của Pháp nằm trên đường Kléber, cách Khải hoàn môn gần trăm mét, tức ở chính giữa thủ đô Pari. Tòa nhà kiến trúc hơi xưa, không rộng lắm, nhưng rất uy nghi. Một cái sảnh dẫn đến phòng họp lớn, xung quanh có bốn phòng làm việc. Có hai cửa chính đi vào, đoàn Mỹ và chính quyền Sài Gòn cùng vào một cửa, đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam một cửa.

Phiên họp đầu tiên là sự kiện quan trọng, có thể nói cả thế giới đều hướng về nơi đây, mong hội nghị sẽ sớm tìm ra giải pháp chấm dứt cuộc chiến tranh đã gây biết bao đau thương hơn chục năm trời. Các nhà báo đến rất đông. Nhân dân Pari, đặc biệt đông đảo kiều bào ta với lá cờ đỏ sao vàng và cờ xanh đỏ của Mặt trận hân hoan chào đón hai đoàn chúng tôi. Lác đác cũng có mấy lá cờ ba sọc của chính quyền Sài Gòn. Khó nói hết được cảm xúc của bà con Việt kiều trước cảnh lá cờ của Tổ quốc và của Mặt trận xuất hiện giữa Pari, lại trong ngày diễn ra một sự kiện trọng đại gắn liền với cuộc chiến đấu gian nan và anh hùng của nhân dân ta. Biết bao nhiêu xương máu đã đổ dưới hai ngọn cờ vinh quang này. Có cụ phụ lão Việt kiều nghẹn ngào tâm sự: “Bao nhiêu năm nay chúng tôi đâu có quyền được phất lá cờ này. Có người đã vì nó mà phải bị bắt bớ tù đày. Nay thấy đại diện của ta giương cao ngọn cờ của đất nước, được cả cảnh sát Pháp hộ tống đi giữa Pari, còn vui sướng nào bằng!”. Còn chúng tôi, được vinh dự thay mặt nhân dân hai miền đang chiến đấu để đến đây, chúng tôi hiểu sâu sắc dù nhiệm vụ của chúng tôi có khó khăn đến mấy cũng không thể so sánh được với sự hy sinh của đồng bào chiến sĩ ta trên chiến trường. Nhưng tiền tuyến ngoại giao này cũng là một mặt trận, cố gắng góp phần đắc lực nhất cho thắng lợi của chiến trường. Trong suốt bốn năm liền, cứ mỗi ngày thứ năm hàng tuần, hai đoàn chúng tôi đến trung tâm hội nghị Kléber chính là để làm nhiệm vụ đó, nhiệm vụ vạch trần âm mưu xâm lược của Mỹ trước dư luận thế giới, làm rõ chính nghĩa vì độc lập, tự do và thống nhất của nhân dân ta.

Trong các phái đoàn ở hội nghị điều đáng chú ý là ba đoàn không có thành viên nữ, chỉ đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam có. “Đội quân tóc dài” miền Nam có mặt tại Pari. Đoàn chính quyền Sài Gòn lúc đầu có Nguyễn Thị Vui, nhưng sau không thấy xuất hiện nữa. Cũng khá lý thú là chuyện thiết bị kỹ thuật: trên bàn của hai đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam chỉ có một máy magnétophone để thu phát biểu của mỗi đoàn, trong khi phía Mỹ thì đầy máy móc hiện đại, có thể thông tin thẳng về Washington, quả thật “tương quan” rất chênh lệch. Nhưng về đấu lý ta chẳng hề thua, nhất là khi mọi người đều có thể thấy thái độ khoan thai, điềm đạm mà cứng cỏi của đồng chí Xuân Thủy. Đồng chí Xuân Thủy và tôi (sau khi nhận nhiệm vụ thay đồng chí Trần Bửu Kiếm) đã làm trưởng đoàn đàm phán đến khi hội nghị kết thúc, trong lúc Mỹ thay trưởng đoàn tới năm lần (Cabot Lodge, David Bruce, William Porter, Habib, Bunker). Nhiều nhà bình luận đã nói vui: “Việt cộng nhất định thắng vì họ quá kiên trì!”. Đây cũng là sự thể hiện quyết tâm sắt đá của ta, và sự lúng túng của Mỹ.

Tại bàn hội nghị, tôi thường chú ý quan sát hai đoàn đối phương, nhất là đoàn chính quyền Sài Gòn, trong nhiều năm do Phạm Đăng Lâm làm trưởng đoàn. Nhìn họ, tôi tự hỏi không biết họ đang nghĩ gì trong đầu, về tương lai của đất nước, và của chính họ? Sau này, tôi được biết Phạm Đăng Lâm là người cùng quê với tôi, quả là Mỹ chia cắt đất nước, đến từng xóm làng, từng gia đình.

Cuối tháng 4/1969 tôi về Hà Nội để nhận chỉ thị mới. Tôi đi thăm ba tôi ở Bệnh viện Việt – Xô. Ba tôi nằm bệnh viện đã mấy tháng rồi. Đó cũng là lần cuối cùng tôi gặp Ba. Cuối tháng 5, ở Pari, tôi được tin ba đã mất. Tôi vô cùng đau đớn, ân hận đã không có mặt bên cạnh ba trong những giây phút cuối cùng của ông.

Cũng lần về nước này, Bác Hồ gọi tôi đến thăm và ăn một bữa cơm với Bác, Bác hỏi thăm về công việc đàm phán ở Pari phong trào kiều bào ở Pháp, ở Anh… Bác dặn tôi hết sức quan tâm vận động nhân dân các nước, vì họ là những người yêu chuộng hòa bình và công lý. Tôi không ngờ đó là lần cuối tôi được gặp Bác.

Tôi đem đến bàn hội nghị lập trường 10 điểm của Mặt trận. Đồng chí Trần Bửu Kiếm, trưởng đoàn, tuyên bố lập trường này tại cuộc họp ở Kléber ngày 8/5/1969. Tác động của lập trường 10 điểm rất lớn, đặc biệt đối với dư luận Mỹ, chính điều này cắt nghĩa cho những hoạt động sôi nổi, có lúc quyết liệt ở Mỹ trong thời gian đó.

Đầu tháng 9, một điều vô cùng đau đớn đối với chúng tôi: Bác Hồ, vị cha già của dân tộc đã ra đi… khi cuộc chiến đấu của nhân dân đang trong giai đoạn quyết liệt.

Ngày 2/9, tôi và đồng chí Xuân Thủy về Hà Nội, chịu tang Bác. Cả nước đau buồn.

Chính quyền Nixon hy vọng nhân dân ta sẽ xao lòng, nhưng ngược lại càng thương nhớ Bác, nhân dân ta càng quyết tâm chiến đấu để đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ sớm đến thắng lợi cuối cùng. Hai đoàn đàm phán của chúng tôi ở Paris cùng một tâm nguyện: đấu tranh đi đến một giải pháp đảm bảo hoàn toàn quyền độc lập tự do thiêng liêng của dân tộc.

Nguyễn Thị Bình
baotintuc.vn

Kỳ 3: Mặt trận báo chí