Tag Archive | Báo điện tử ĐCSVN

Tư tưởng vì nhân dân, vì con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Bộ đội Cụ Hồ”

Sáu mươi năm đã trôi qua, kể từ ngày Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh tại khu rừng Sam Cao thuộc tổng Hoàng Hoa Thám, châu Nguyên Bình (nay thuộc xã Cẩm Lý, huyện Hòa An), tỉnh Cao Bằng.

”Bộ đội Cụ Hồ” đã trở thành một biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của nhân cách và tâm hồn Việt Nam, sống mãi trong trái tim khối óc mỗi con người Việt Nam, vĩnh hằng cùng lịch sử dân tộc. ”Bộ đội Cụ Hồ” trong phẩm chất nhân cách của mình, trong sâu thẳm tâm hồn mình, luôn luôn quán triệt và thấm nhuần sâu sắc tư tưởng vì nhân dân, vì con người trong văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh.

Trong những ngày này, dân tộc ta, mỗi con người Việt Nam chúng ta rất tự hào và xúc động khi từ các diễn đàn trong cả nước đang vang lên những lời ngợi ca về hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, những con người mang đậm cốt cách tư tưởng, tác phong, đạo đức, văn hóa Hồ Chí Minh.

Càng tự hào và xúc động, chúng ta càng thấm thía công ơn trời biển của Bác Hồ, bởi chính Người đã sáng lập, giáo dục và rèn luyện bộ đội ấy, để bộ đội ấy thực sự là bộ đội vì nhân dân, vì con người, bộ đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà hy sinh chiến đấu không ngừng, không mệt mỏi. Có thể nói, sự thấm nhuần tư tưởng vì nhân dân, vì con ngưới trong văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh của ”Bộ đội Cụ Hồ” được thể hiện sâu sắc và phong phú trên nhiều phương diện, trong đó không thể không kể đến một số phương diện độc đáo và nổi bật.

Tư tưởng chỉ đạo thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân của lãnh tụ Hồ Chí Minh là tư tưởng vì nhân dân, vì con người, thể hiện sâu sắc trong ”Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân” do Người trực tiếp khởi thảo. Ngay trong mục ”Tên và phương châm hoạt động” của Đội, Người đã nêu rõ: Tên, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền. Đây là tư tưởng rất cơ bản về vận động, giác ngộ quần chúng, vận động nhân dân trong quá trình tiến hành cách mạng. Ngay từ tháng 12 năm 1944, Người đã xác định: Cuộc kháng chiến của ta là kháng chiến toàn dân, động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, nên khi tập trung xây dựng đội chủ lực vẫn cần duy trì lực lượng vũ trang các địa phương, cùng phối hợp hành động và giúp đỡ nhau về mọi mặt. Đội chủ lực có nhiệm vụ dìu dắt các đội vũ trang địa phương, giúp đỡ về huấn luyện, vũ khí làm cho lực lượng địa phương không ngừng trưởng thành.

Về quan hệ giữa đội chủ lực với các đội vũ trang địa phương, Người chỉ rõ: Đưa cán bộ địa phương về huấn luyện, tung các cán bộ đã huấn luyện đi các địa phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến. Về chiến thuật, Người nhấn mạnh: Vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, ẩn hiện bất thường, làm cho kẻ địch luôn bị bất ngờ, khó truy tìm và chịu thất bại. Khi xác định vai trò của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ”là đội quân đàn anh”, là đội chủ lực, Người cũng đã chỉ ra tiền đồ phát triển của Đội: ”Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”. Để thực hiện được vai trò và tiền đồ đó, Người đã căn dặn cán bộ và chiến sĩ của Đội: Phải dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ địch không thể nào tiêu diệt được, tổ chức của Đội phải lấy chi bộ Đảng làm hạt nhân lãnh đạo.

Quán triệt tư tưởng vì nhân dân, vì sự nghiệp giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến trong ”Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân” của lãnh tụ Hồ Chí Minh, tại buổi lễ thành lập Đội, trước đại diện của Liên tỉnh ủy Cao – Bắc Lạng, đại biểu nhân dân các dân tộc Tày, Nùng, Dao… và 34 cán bộ, đội viên được chọn lọc từ các đội du kích địa phương, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã đọc diễn từ nêu bật ý nghĩa thành lập Đội và khẳng định: ”Nhiệm vụ mà đoàn thể ủy thác cho chúng ta là một nhiệm vụ quan trọng nặng nề. Chính trị trọng hơn quân sự tuyên truyền trọng hơn tác chiến, nhiệm vụ ấy có tính chất là một nhiệm vụ giao thời…, để kêu gọi toàn dân đứng dậy, chuẩn bị cơ sở cnính trị và quân sự cho cuộc khởi nghĩa sau này… Thế là từ giở phút này trở đi, chúng ta cùng nhau tiến lên trên con đường vũ trang tranh đấu. Chúng ta… quyết tiến tới để làm tròn nhiệm vụ. Bao nhiêu oán hờn của dân tộc, bao nhiêu sự tàn khốc thê thảm đang chờ một cuộc thanh toán. Chúng ta nguyện đem xương và máu để làm việc đó. Chúng ta sẽ vạch rõ cho toàn dân rằng con đường sống duy nhất là con đường đoàn kết để vũ trang đứng dậy, Quân giải phóng sẽ tỏ rằng mình là một đội quân của dân, của nước, đi tiên phong trên con đường giải phóng dân tộc… Từ giờ phút này, các đồng chí sẽ noi theo ngọn cờ mà tiến lên trên con đường máu. Chúng ta tiến tiến mãi cho đến ngày giải phóng của toàn dân”.

Hồi tưởng lại những ngày đầu quân đội ta mới ra đời cách đây tròn sáu mươi năm, chúng ta càng thấm thía sâu sắc rằng: Bác Hồ quan tâm chăm sóc quân đội với một trái tim thương yêu vô bờ bến ngay từ những ngày quân đội mới chập chững vào đời. Đấy chính là cội rễ kiến tạo nên một quân đội ngay từ khi ra đời đã là quân đội của nhân dân, một quân đội vì dân, vì con người trong cả tâm hồn, tình cảm, lý tưởng, đạo đức, văn hóa và cả mọi mặt hoạt động chiến đấu, công tác và lao động sản xuất.

Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử văn hóa nhân loại và trở thành một danh nhân văn hóa thế giới. Ngôi sao văn hóa Hồ Chí Minh trong bầu trời văn hóa nhân loại toả chiếu khắp các châu lục và rọi chiếu cả đến nền văn hoá tương lai. Bởi văn hóa Hồ Chí Minh là văn hóa vì dân, vì con người. Vì văn hóa xét đến cùng là do con người và vì con người. Mà Hồ Chí Minh là một con người cả tâm hồn và cuộc sống vốn lúc nào và bao giờ cũng vì nhân dân, vì con người. Đạo đức Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo cao cả, sáng ngời lòng nhân ái, sự quên mình, luôn luôn sống vì đồng loại, vì đồng bào và vì nhân dân. Được tắm mình trong ánh sáng văn hóa, đạo đức đó, được học tập, rèn luyện và noi theo tấm gương văn hóa, đạo đức đó, ”Bộ đội Cụ Hồ” trong sáu mươi năm qua đã mang đậm nét cốt cách, phong thái, tâm hồn Hồ Chí Minh. Đạo đức, văn hóa Hồ Chí Minh được kết tinh sâu đậm trong những đức tính, phẩm chất tốt đẹp của «Bộ đội Cụ Hồ”.

Ngày nay, trong khi nền văn hóa vật chất của thế giới đang đạt được những bước phát triển phi thường, thì loài người lại đang lo ngại cho nền văn hóa của mình, bởi nguy cơ suy thoái về tinh thần có chiều hướng phát triển gia tăng ở quy mô thế giới. Ở nước ta, trước tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường, trước sự tấn công thâm độc và xảo quyệt của các thế lực thù địch trên mọi mặt đời sống xã hội, nhất là trên lĩnh vực văn hóa, đạo đức, lối sống, nền văn hóa, đạo đức của chúng ta cũng đang đứng trước những thách thức nghiêm trọng. Người ta hồ nghi một nền văn hóa lành mạnh, mang bản sắc dân tộc sâu sắc sẽ không có khả năng chiếm lĩnh trận địa tư tưởng – văn hóa, không thể mang tính trội trong đời sống xã hội trước sự xâm thực của các loại ấn phẩm văn hóa xấu độc. Bao nhiêu lo toan, trăn trở trước lối sống thực dụng chỉ biết bản thân mình, chỉ sống cho mình mà không mảy may chăm lo đến lợi ích của cộng đồng, của xã hội đang thường trực trong suy nghĩ của những người đã từng hiến dâng cả quãng đời thanh xuân tươi đẹp của mình cho lý tưởng của Đảng và hạnh phúc của nhân dân.

Bao nhiêu hệ thống giá trị đang bị đảo lộn, lẫn lộn và mơ hồ. Bao nhiêu vấn đề trớ trêu về đạo đức, lối sống đang nảy nở tràn lan tha hóa về nhân phẩm, trống rỗng về tâm hồn, cạn kiệt về lý tưởng bởi sự tác động của xu hướng phi chính trị hóa, phi lý tưởng, sự quay trở về lợi ích cá nhân ích kỷ tầm thường nhỏ nhen.

Làm sống lại hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” thấm nhuần tư tưởng vì nhân dân, vì con người trong văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sẽ có ý nghĩa to lớn và tác dụng thiết thực! Ngày nay, trong bối cảnh mới, trước yêu cầu mới của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, ”Bộ đội Cụ Hồ” không chỉ phát huy và phát triển bản chất, truyền thống vẻ vang của quân đội lên một trình độ mới, làm cho tư tưởng vì nhân dân, vì con người trong văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh ngày càng nở rộ trong cán bộ, chiến sĩ quân đội, mà còn phải tuyên truyền, vận động mọi người quán triệt sâu sắc tư tưởng đó để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần đẩy lùi những tác nhân làm vẩn đục hay hoen ố nền văn hóa, đạo đức dân tộc. Đó là một nhiệm vụ to lớn và vẻ vang của quân đội ta trong tình hình hiện nay.

Tư tưởng vì nhân dân, vì con người trong văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh thấm nhuần trong ”Bộ đội Cụ Hồ” còn được thể hiện ở phương diện ”Bộ đội Cụ Hồ” luôn luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, luôn luôn được nhân dân nuôi nấng, chở che, đùm bọc.

Hồ Chí Minh là một con người vĩ đại nhưng không bao giờ Người tách mình ra khỏi nhân dân. Người khiêm tốn, giản dị, gắn bó, hoà mình cùng mọi người, bất cứ lúc nào cũng đến với đồng bào, đồng chí, đến với nhân dân như một người bạn, người thân, người ruột thịt. Trong sự bình dị ấy, Người nâng mọi người lên ngang tầm cái thiện, cái cao cả: ”Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta. Ta bỗng lớn ở bên Người một chút”. Với Hồ Chí Minh:

”Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân.

Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân
Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân.
“Trong ba yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa thì nhân hoà là hơn tất cả”.
”Hết lòng hết sức phục sự nhân dân, bất kỳ việc to việc nhỏ cũng nhằm mục đích ấy”.

Đó là tư tưởng vì nhân dân nhất quán trong văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh. Qua sáu mươi năm lịch sử, tư tưởng đó thấm vào máu thịt ”Bộ đội Cụ Hồ”, trở thành nét đặc trưng tiêu biểu cho phẩm chất nhân cách ”Bộ đội Cụ Hồ”. Và cũng chính vì vậy mà ”Bộ đội Cụ Hồ” trở thành một bộ đội vì dân, thực sự của dân. Bởi “Bộ đội Cụ Hồ” là bộ đội được giáo dục, rèn luyện theo văn hóa, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh. Phẩm chất hàng đầu của bộ đội ấy là tính nhân dân sâu sắc. Đó là cội nguồn làm nên sức mạnh bách chiến bách thắng của quân đội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cho quân đội ta một sự ưu ái đặc biệt, nhất là đối với người chiến sĩ. Người chiến sĩ chính là hình ảnh nhân dân trong ”Bộ đội Cụ Hồ”. Vì vậy, kỷ niệm sáu mươi năm Ngày thành lập quân đội, chúng ta không thể không coi trọng xây dựng ngày càng tốt hơn mối quan hệ giữa cán bộ và chiến sĩ, nhất là ở các phân đội. Chúng ta phải nghiên cứu tìm hiểu thật sự sâu sắc và đầy đủ hơn nữa về người chiến sĩ hiện đại, để đổi mới toàn diện công tác đối với chiến sĩ. Phải đến với chiến sĩ bằng văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh. Phải nâng tầm người chiến sĩ hiện đại lên ngang tầm văn hoá, đạo đức Hồ Chí Minh. Phải làm sao cho nhân dân nhìn vào chiến sĩ thấy mình, thấy dân tộc và thấy được cả tương lai của quân đội. Phát huy nhân tố con người – người chiến sĩ ”Bộ đội Cụ Hồ”, đang trở thành một vấn đề cấp bách, nóng hổi trong xây dựng quân đội hiện nay. Đó là nhiệm vụ nặng nề và hệ trọng của công tác đảng, công tác chính trị của quân đội trong những năm tới.

Theo Nguyễn Quang Hoài, Tạp chí Dân vận, tháng 12/2004

cpv.org.vn

Tầm nhìn thời đại của Hồ Chí Minh về văn hoá giáo dục

Năm 1945, cùng với thắng lợi chính trị, nhân dân ta đã xóa đi một nên giáo dục đồi bại, xảo trá của thực dân Pháp: Chỉ dạy cho nhân dân sùng bái những kẻ mạnh hơn mình; dạy cho thanh niên yêu một Tổ quốc không phải là Tổ quốc của mình; dạy cho thanh niên khinh rẻ nguồn gốc, dòng giống mình…Đó là một nền giáo dục nguy hiểm hơn cả sự dốt nát. Chế độ mới ra đời, cùng với việc thiết lập nền cộng hòa dân chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc giải quyết nạn dốt là một tronh những nhiệm vụ cấp bách. Bởi vì “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, “Yếu thì dại, dại thì hèn”. Nói như Lênin : mù se đứng ngoài chính trị. Quan điểm của Hồ Chí Minh là phải làm cho nhân dân biết đọc, biết viết, từng bước nâng cao dân trí. Bởi vì nước ta là một nước dân chủ, dân là chủ và dân làm chủ. Công việc kháng chiến kiến quốc, đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Chúng ta phải đem tài dân, sức dân, của dân để làm lợi cho dân. Muốn làm được điều đó, cần phải có giáo dục và giáo dục lại nhân dân.

Giáo dục theo quan điểm của Hồ Chí Minh sẽ tạo ra tính liên tục của cách mạng. Bởi vì với việc nâng cao dân trí, nhân dân sẽ biết quyền lợi, bổn phận, có kiến thức mới để tham gia vào công việc xây dựng. Sự thành công của cả nước, không có yếu tố nào quan trọng hơn giáo dục.

Giáo dục sẽ tạo ra những nguyên liệu không có sẵn trong tự nhiên như kĩ sư, chuyên gia, bác học… Giáo dục sẽ góp phần quyết định làm cho non sông Việt Nam trở nên tươi đẹp, dân tộc bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu. Giáo dục tạo ra nhân cách và từng bước hoàn thiện con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh:

“Ngủ thì ai cũng như lương thiện
Tỉnh dậy sinh ra kẻ dữ hiền;
Hiền, dữ đâu phải là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên”

Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, giáo dục là yếu tố quyết định trực tiếp nâng cao trình độ học vấn, trình độ khoa học kĩ thuật, chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, trình độ chuyên môn quản lý. Giáo dục sẽ giúp cho người học có một vốn liếng về lịch sử, văn hóa của dân tộc Việt Nam và thế giới, mà nếu không có nó sẽ không giữ được độc lập, không thể tham gia vào công vjiệc kiến thiết xây dựng nước nhà dân giàu, nước mạnh. Giáo dục sẽ giúp cho mỗi người dân có kiến thức mới để “biến mỗi nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui, hạnh phúc”.

Với tầm nhìn thời đại, Hồ Chí Minh-người sáng lập nền giáo dục mới, nền giáo dục cách mạng Việt Nam đã đưa ra những mục tiêu của giáo dục là “đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam”, làm “Phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em. Học để làm việc, làm người , làm cán bộ. Học để phục vụ đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”. Đồng thời “Học để sữa chữa tư tưởng” “Học để tu dưỡng đạo đức cách mạng”… Theo quan điểm của Người, những mục tiêu đó của giáo dục có quan hệ biện chứng với nhau. Có phẩm chất chính trị và chuyên môn, mà thiếu phẩm chất đạo đức với ý nghĩa là gốc, là nguồn thì cũng vô dụng. Người dạy “Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thi còn làm nổi việc gì ?”. (Hồ Chí Minh toàn tập-T5-Tr 253).

Muốn đạt được mục tiêu đó thì nội dung giáo dục phải toàn diện, bao gồm cả văn hóa, chuyên môn nghề ngiệp, các nghành nghề liên quan trực tiếp tới công nghiệp, nông nghiệp, nông thôn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Theo quan điểm của Người, các nội dung giáo dục có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nếu không có trình độ học vấn thì không học tập được kĩ thuật, không học được kĩ thuật thì không theo kịp thời đại mà cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật, công nghệ đang phát triển mạnh mẽ, và như vậy ngày càng tụt hậu xa hơn so với các nước. Nhưng điều đặc biệt là phải học tập chính trị. Bởi nếu chỉ học tập văn hóa, kĩ thụât, chuyên môn mà không chính trị thì như người nhắm mắt mà đi. Giáo dục chính trị là nền tảng, trên cơ sở đó nâng cao chất lượng văn hóa và chuyên môn. Chính trị nói ở đây là Chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối quan điểm của Đảng. Học chính trị không phải là thuộc sách Mác-Lênin làu làu, không phải học một cách giáo điều, mà là “Học cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình”.

Giáo dục chỉ phát huy hết vai trò, sức mạnh của mình khi thực hiện đúng đắn phương châm, phương pháp giáo dục. Đây là nội dung được Bác Hồ đặc biệt quan tâm, vì nó sẽ tạo ra sự khác biệt về chất so với nền giáo dục phong kiến xa rời thực tế, và nền giáo dục thực dân đồi bại, xảo trá.
Theo Hồ Chí Minh, phải luôn luôn gắn nội dung giáo dục với thực tiễn Việt Nam, học đi đôi với hầnh, lí luận đi đôi với thực tế, học tập phải kết hợp với lao động sản xuất.

Theo Người, cần có một thái độ hiếu học, cầu tiến, ý thức chủ động, học tập không mệt mỏi, học suốt đời, học mọi lúc mọi nơi, học mọi người. Bác Hồ rất quan tâm tới việc học tập bạn bè, đồng chí, đồng nghiệp, đặc biệt là nhân dân. Bởi vì “không học nhân dân thì không lãnh đạo được nhân dân” và có “Biết làm học trò dân thì mới làm được thầy của dân”.

Một phương pháp quan trọng là phải giúp đỡ lẫn nhau, đoàn kết với nhau, tự phê bình và phê bình trong học tập. Người nói “Càng học càng thấy dôt”, có nghĩa là không ai co thể tự cho mình là biết hết mọi điều. Kho tàng tri thức Việt Nam và nhân loại là vô tận. Chúng ta đang sống trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang tiến như vũ bão. Khoa học Xã hội-Nhân văn, khoa học tự nhiên đang có những bước tiến vượt bậc. Bởi thế, nếu tự mình-dù tài giỏi đến mấy-cũng không thể am hiểu mọi lĩnh vực. Khẩu hiệu điều kiện không chỉ có giá trị bền vững trong chính trị mà còn có ý nghĩa to lớn trong giáo dục.

Một vấn đề lớn thuộc phương châm giáo dục là giáo dục phải phù hợp với lứa tuổi và điều kiện thực tế. Đây thực sự là một khoa học phù hợp với lứa tuổi cả nội dung và phương pháp. Và điều kiện này liên quan đến nhiệm vụ của mỗi cấp giáo dục “Đại học thì cần kết hợp lý luận khoa học với thực hành… Trong học thì cần đảm bảo cho học trò những tri thức phổ thông chắc chắn thiết thực…Tiểu học thì cần giáo dục cho các cháu thiếu nhi: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của công…”. (HCM toàn tập, NXB CTQG, HN, 1995. T8. Tr81.

Để có một nền giáo dục đạt chất lượng, hiệu quả cao, thể hiện bản chất tốt đẹp của nền giáo dục xã hội xã hội chủ nghĩa chủ nghĩa, thì phải thật sự dân chủ, bình đẳng trong giáo dục; phải gắn liền với thi đua và phương pháp nêu gương. Dân chủ thể hiện ở thảo luận, bàn bạc, phát biểu ý kiến, ở quan hệ đoàn kết chặt chẽ giữa những người làm công tác giáo dục, giữa thầy giáo với học sinh.

Vấn đề then chốt quy định chất lượng giao dục là xây dựng đội ngũ những người thầy giáo. Bởi vì “ Nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục”. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, phải xây dựng những người thầy giáo tốt – yêu nghề, yêu trường, luôn tất cả vì học sinh thân yêu, không ngừng trao dồi đạo đức cách mạng. Phải thường xuyên tự bồi dưỡng, nâng cao tay nghề, trình độ chuyên môn, phương pháp sư phạm để thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo.

Những nội dung nêu trên trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục không chỉ có ý nghĩa đối với dân tộc mà còn hoàn toàn phù hợp với những nguyên lý giáo dục trong thế kỉ XX. Trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế tri thức, nhân loại đã có sự lựa chọn “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để làm người, tự khẳng định mình”. Loài người đang quan tâm tới vấn đề giáo dục thường xuyên, suốt đời. Giáo dục được xác định cho tất cả và tất cả giáo dục, tức là mọi người được học tập, một xã hội học tập.

Tác giả : Ngô Thị Vân – Gv khoa Xây dựng Đảng

truongchinhtrina.gov.vn

Tư duy quân sự Hồ Chí Minh – tiếp cận từ góc độ vǎn hoá

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân

“Quân sự” dùng ở đây hiểu theo nghĩa rộng, như “quân sự” trong “đường lối quân sự” của Đảng. Tư duy quân sự Hồ Chí Minh là sự tiếp tục của tư duy chính trị Hồ Chí Minh bằng chiến tranh và trong chiến tranh cách mạng, nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu của cách mạng vì độc lập dân tộc (ĐLDT) và chủ nghĩa xã hội (CNXH). Đã có nhiều công trình nghiên cứu công phu về tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Bài này chỉ tiếp cận đôi điều từ góc độ văn hóa, xuất phát từ nguồn gốc văn hóa và ảnh hưởng văn hóa đối với tư duy chính trị Hồ Chí Minh là: tinh hoa văn hóa Việt Nam, chủ nghĩa Mác – Lê-nin (là cơ sở lý luận và phương pháp luận, cũng là tinh hoa văn hóa phương Tây hiện đại đã trở thành tinh hoa văn hóa nhân loại), cùng ảnh hưởng của những tinh hoa văn hóa khác Đông – Tây kim cổ.

* * *

Văn hóa bản chất là nhân văn. Nói văn hóa với tư duy quân sự dường như nghịch lý. Nhưng đó lại là thuận lý, mười lần thuận lý đối với tư duy quân sự Hồ Chí Minh. Bởi, với Hồ Chí Minh, “dùng binh là việc nhân nghĩa, muốn cứu nước, cứu dân”. Bởi chiến tranh chính nghĩa, yêu nước và cách mạng là “văn minh thắng bạo tàn”. Chiến tranh xâm lược, phi nghĩa không có gì liên quan đến văn hóa, đến văn minh, trái lại, là chống lại văn hóa, phản lại văn minh một cách tàn bạo nhất – dù dưới bất cứ chiêu bài gì, cả chiêu bài “can thiệp nhân đạo”, như ở Cô-xô-vô mà thực chất là xâm lược.

Tư duy quân sự Hồ Chí Minh, đó trước hết vẫn là việc giải quyết những vấn đề chính trị của chiến tranh và trong chiến tranh nhằm đáp ứng những yêu cầu của chiến tranh, của đấu tranh vũ trang – quy luật chung của chiến tranh – nhằm giành thắng lợi cho chiến tranh cách mạng và tiếp tục đưa cách mạng phát triển trong chiến tranh. Nó phản ánh những vấn đề có tính quy luật của chiến tranh nhân dân, chiến tranh cách mạng ở Việt Nam trong thời đại mới.

Cụ thể là: xác định mục đích chính trị của chiến tranh cách mạng là nhằm thực hiện mục tiêu cơ bản và lâu dài của cách mạng: ĐLDT (dân chủ nhân dân), tiến lên CNXH, vì nhiệm vụ dân tộc và nghĩa vụ quốc tế. Xây dựng lực lượng của chiến tranh cách mạng trên cơ sở khối đại đoàn kết của toàn dân tộc, lấy liên minh công nông làm nền tảng, phát động và tổ chức toàn dân đánh giặc, lấy lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt, mở rộng đoàn kết quốc tế.

Giải quyết những vấn đề về phương thức tiến hành chiến tranh và nghệ thuật quân sự trên cơ sở vận dụng trong chiến tranh và theo yêu cầu của quy luật quân sự, những phương pháp và hình thức đấu tranh cách mạng, phát động và tổ chức toàn dân đánh địch một cách toàn diện: quân sự, chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa. Do vậy, tiếp cận tư duy quân sự Hồ Chí Minh, không thể tách rời nguồn gốc văn hóa và ảnh hưởng văn hóa đối với tư duy chính trị Hồ Chí Minh (như nêu ở trên).

Trực tiếp liên quan đến tư duy quân sự xét theo góc độ văn hóa, đó là văn hóa quân sự. Trong vàn hóa Việt Nam, có một bộ phận tiêu biểu là văn hóa quân sự Việt Nam (VHQSVN) – linh hồn của truờng phái quân sự Việt Nam. Bởi nói dân tộc là phải nói bản sắc văn hóa. Nói trường phái quân sự dân tộc không thể không thấy dòng máu văn hoá dân tộc chảy trong đó. Đây là dòng văn hoá quân sự (VHQS) chủ yếu trong tư duy quân sự (cũng là tư duy chính trị) Hồ Chí Minh.

Cũng cần nói thêm, văn hóa bản chất là nhân văn nhưng mang bản sắc riêng của các dân tộc khác nhau và dấu ấn riêng của những giai cấp khác nhau trong lịch sử phát triển lâu dài của dân tộc (quốc gia – dân tộc). VHQSVN được xây dựng và phát triển trong lịch sử lâu dài giữ nước gắn với dựng nước của dân tộc Việt Nam: trong các cuộc khởi nghĩa dân tộc và chiến tranh dân tộc, chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc nhằm lật đổ ách thống trị ngoại bang và đánh bại chiến tranh xâm lược. VHQSVN phát triển cả trong sự nghiệp củng cố quốc phòng kết hợp với phát triển kinh tế và văn hóa qua những thế kỷ sống trong hòa bình. VHQSVN thấm nhuần tinh hoa văn hoá Việt Nam, thể hiện trong chiến tranh lòng yêu nước, thương nòi, tinh thần cộng đồng và ý thức dân chủ, đặc biệt ở làng xã.

Nhờ vậy mới có quyết tâm chiến đấu kiên cường để bảo vệ cộng đồng, bảo vệ quê hương, đất nước; mới có “cả nước đánh giặc”, “toàn dân là binh”, đánh địch toàn diện, đánh địch khắp nơi, làm chủ làng xã, có thể tạm thời mất nước nhưng không để mất làng, không để mất bản sắc văn hoá dân tộc, từ làng, nhà lấy lại nước, giữ gìn và phát triển văn hoá dân tộc (đương nhiên dưới sự lãnh đạo của tập đoàn phong kiến tiến bộ, giữ vai trò lịch sử tích cực trong dân tộc). Có văn hoá yêu nước nồng nàn, tinh thần cố kết dân tộc, mới có chiến tranh toàn dân quyết đánh và quyết thắng, cách đánh mưu mẹo, thông minh, sáng tạo, “lấy đoản chế trường”, “lấy yếu đánh mạnh”.

Có bình đẳng nam nữ (thuận vợ, thuận chồng, tát Biển Đông cũng cạn – chứ không phải “phu xướng, phụ tùy”), mới có “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Đó là chiến tranh và chiến thắng của văn hóa “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” của dân tộc nhỏ đánh thắng kẻ thù xâm lược to bắt nguồn từ sức mạnh của văn hóa. Dân tộc Việt Nam rất yêu chuộng hòa bình, thiết tha với hòa bình trong độc lập tự do, hiểu rõ cái giá của độc lập tự do.

Do vậy, cố gắng tránh chiến tranh mà vẫn giữ được độc lập, tự do; buộc phải làm chiến tranh thì quyết thắng trong mọi hoàn cảnh để giữ được độc lập tự do; đánh địch bằng mọi cách, đánh cả vào lòng địch (tâm công) chứ không riêng bằng quân sự; cầu đánh bại quân địch chứ không cầu tiêu diệt nhiều quân địch; thắng rồi nhưng vẫn “mở đường hiếu sinh” tha chết cho tàn quân chiến bại, lấy đường hòa hiếu với kẻ xâm lược bị đánh bại để “dập tắt muôn đời chiến tranh”.

Tư duy quân sự Hồ Chí Minh đậm cái chất của văn hóa Việt Nam, VHQSVN truyền thống phát triển lên một chất mới, trên cơ sở chủ nghĩa Mác Lê-nin, để đánh thắng kẻ thù xâm lược trong thời đại mới là bọn đế quốc có tiềm lực quân sự hiện đại của nền công nghiệp hiện đại cùng quân đội của chúng được trang bị nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại. (Khác kẻ thù trước đây mà ông cha ta đánh thắng cùng trình độ phát triển, cùng hình thái kinh tế – xã hội với nước ta thời đó).

Hồ Chí Minh và Đảng ta đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Việt Nam, tìm ra đáp số của bài toán mới đó, trước hết bằng lời giải về chính trị – đường lối cách mạng thấm nhuần văn hóa, lời giải về quân sự thấm nhuần văn hóa: lời giải về văn hóa. Chính giới Mỹ, nhiều nhà chiến lược của Mỹ thừa nhận: thắng lợi của Việt Nam với Mỹ là thắng lợi của văn hóa Việt Nam.

Nên nói thêm: Văn hoá Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Tư duy quân sự Hồ Chí Minh đương nhiên còn tiếp nhận những dòng văn hoá khác, những tri thức quân sự cổ kim đông tây. Bác Hồ của chúng ta từng lược dịch Binh pháp Tôn Tử, viết Kinh nghiệm du kích Tàu, Kinh nghiệm du kích Pháp, Kinh nghiệm du kích Nga, Phép dạy làm tướng của Khổng Minh… Những di sản quân sự Mác và Ăng-ghen – nhất là của Ăng-ghen được Bác nghiên cứu khi nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Trong quá trình cuộc kháng chiến lâu dài chống hai đế quốc to, tư duy quân sự của Bác đã từng bước được làm phong phú thêm bởi khoa học quân sự xô-viết, kinh nghiệm đấu tranh vũ trang của cách mạng Trung Quốc, những kiến thức về vũ khí kỹ thuật hiện đại. Bác không chỉ coi trọng xây dựng dân quân du kích và cách đánh du kích mà coi trọng cả xây dựng bộ đội chủ lực, xây dựng các quân binh chủng kỹ thuật hiện đại, cách đánh của quân đội chính quy.

Văn hóa trong tư duy quân sự Hồ Chí thể hiện rõ ở chủ nghĩa nhân văn mới, có thể gọi là chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh, sản phẩm tổng hợp của chủ nghĩa yêu nước và lòng nhân ái truyền thống Việt Nam với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản. Cố tránh chiến tranh nếu có thể được. Buộc phải làm chiến tranh thì đó là vì nhân nghĩa, vì mục đích chính nghĩa, nhân văn của chiến tranh. Quán triệt tư tưởng nhân văn trong xây dựng lực lượng, trong các cách đánh; tìm mọi cách giảm tổn thất cho ta và cả cho địch. Bác từng nói: “Tôi quý sinh mạng thanh niên Pháp như quý sinh mạng thanh niên Việt Nam”. “Máu thanh niên Pháp hay máu thanh niên Việt Nam cũng đều là máu”.

Như đã biết, sau thắng lợi của cách mạng tháng 8/1945, trước âm mưu xâm lược của nhiều kẻ thù cùng lúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm mọi cách rất kiên quyết và khéo léo, đối nội và đối ngoại, kể cả những biện pháp đau đớn, để bảo vệ thành quả cách mạng, củng cố nền độc lập mới giành được mà không phải làm chiến tranh. Nhưng thực dân phản động Pháp cố tình cướp nước ta hòng đạt lại ách thống trị của chúng. “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ?”.

Chiến tranh yêu nước như vậy, rõ ràng là nhân văn, vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì cuộc sống của mỗi người dân. Trong mấy thập kỷ chiến tranh, Hồ Chí Minh và Đảng ta nhiều lần tiến hành các cuộc thương lượng hòa bình, ký kết những hiệp ước hòa bình: Hiệp định sơ bộ 6/3, Tạm ước 14/9, Hiệp nghị Giơ-ne-vơ, Hiệp định Pa-ri. Nhưng các thế lực xâm lược vẫn cố tình áp đặt chiến tranh, buộc nhân dân ta cuối cùng vẫn phải giành lấy hòa bình bằng chiến tranh – hòa bình trong Độc lập Tự do. Hồ Chí Minh, những người cộng sản không sùng bái bạo lực, không sùng bái cả bạo lực cách mạng, bạo lực cách mạng chỉ cần thiết để đánh bại bạo lực phản cách mạng. Cuộc chiến tranh yêu nước 30 năm 1945 – 1975 hoàn toàn do kẻ thù áp đặt chúng ta phải tiến hành.

Chủ nghĩa nhân văn trong tư duy quân sự Hồ Chí Minh thể hiện trong nhiều chủ trương chiến lược và sách lược của Đảng ta trong quá trình chiến tranh, trong các cách đánh của lực lượng vũ trang nhân dân, trong nhiều chính sách đối với nhân dân, quân đội, cả đối với những người lầm đường, tù hàng binh, đối với kẻ thù, mà mọi người đều biết. Nổi lên vẫn là sự quan tâm của Hồ Chí Minh đối với con người, đối với nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân chiến đấu và phục vụ chiến đấu kết hợp chiến đấu với xây dựng. Tích cực bồi dưỡng sức dân đi đôi với động viên sức dân, chăm lo mọi mặt đời sống của các tầng lớp nhân dân, của công nông, của bộ đội. Đẩy mạnh việc xây dựng chế độ mới ngay trong hoàn cảnh chiến tranh để càng đánh càng mạnh, để nhân dân lao động, để mọi người dân được hưởng từng bước thành quả của cách mạng ngay trong chiến tranh.

Những đòn tiến công ngoại giao trong chiến tranh, chính sách đối ngoại có nguyên tắc và đầy tình nghĩa của Đảng và Nhà nước ta thể hiện nổi bật trong hoạt động của cá nhân Hồ Chí Minh. ở Người, trong quan hệ đối ngoại, là sự am hiểu sâu sắc văn hóa và văn minh Đông Tây, lòng yêu nước, vị tha gắn liền với lòng căm thù địch, tính nguyên tắc cứng rắn gắn liền với sách lược mềm dẻo, có lý có tình, khiến bạn bè khâm phục, kẻ thù kiêng nể. Cuộc hòa đàm ở Pari (1968-1973) đã gây ấn tượng mạnh trong chính giới và báo giới thế giới về một “trường phái ngoại giao Việt Nam”.

Đó là di sản quý báu của văn hóa Hồ Chí Minh, của tư duy chính trị – quân sự – ngoại giao Hồ Chí Minh mà những học trò của Người kế tục xuất sắc khi Người đã đi xa. Tiếp cận từ góc độ văn hóa tư duy quân sự Hồ Chí Minh, giúp chúng ta hiểu rõ hơn tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư duy chính trị – quân sự Hồ Chí Minh nói riêng để xử lý theo góc độ văn hóa những vấn đề quân sự, quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 của Đảng về văn hóa mà chúng ta đã biết.

Quang Cận (Tạp chí Quốc phòng toàn dân, tháng 5/2000)

cpv.org.vn

Những nguyên tắc trong rèn luyện đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không phải chỉ thông qua những tác phẩm của Người về đạo đức mà quan trọng hơn là phải thông qua chính hành vi được thể hiện trong toàn bộ hoạt động thực tiễn của Người; thông qua mẫu mực đạo đức trong sáng mà Người đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta học tập. Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đã trở thành một đặc trưng nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Vì vậy, trong việc rèn luyện đạo đức cách mạng, Người không chỉ nêu lên những nội dung của việc tu dưỡng để có đạo đức cách mạng mà Người còn chỉ rõ những nguyên tắc trong rèn luyện đạo đức cách mạng.

Muốn có đạo đức cách mạng: Trước hết nói phải đi đôi với làm và luôn nêu gương về đạo đức. Điều này đã được Người đề cập trong “Đường Kách mệnh” khi nói đến tư cách của một người cách mệnh. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình Người đã giáo dục mọi người và ngay chính bản thân mình đã thực hiện một cách nghiêm túc và đầy đủ nhất. Đối với mỗi người đều nói nhiều mà làm ít, nói mà không làm, hơn nữa nói một đằng, làm một nẻo thì chỉ đem lại hậu quả phản tác dụng. “Hãy làm theo tôi nói, đừng làm theo tôi làm”, đó là thói đạo đức giả của các giai cấp bóc lột. Còn việc nêu gương thì không ở lĩnh vực nào mà vấn đề nêu gương lại được đặt ra như trong lĩnh vực đạo đức. Trong gia đình: Đó là tấm gương của bố mẹ đối với con cái, của anh chị đối với các em; trong nhà trường thì đó là tấm gương của thầy, cô giáo đối với học sinh; trong tổ chức, tập thể, Đảng, Nhà nước là tấm gương của những người đứng đầu, phụ trách, lãnh đạo, của cấp trên đối với cấp dưới; trong xã hội thì đó là tấm gương của người này đối với người khác; những gương “Người tốt việc tốt” mà Hồ Chí Minh đã dầy công phát hiện thu thập, chỉ đạo việc in thành sách để mọi người học tập và làm theo là một việc làm rất cụ thể. Một bài diễn văn hay không bằng một tấm gương sống – điều mà Hồ Chí Minh nói về Lê-nin đã đặt ra cho việc xây dựng đạo đức mới một nguyên tắc rất cơ bản là sự nêu gương về đạo đức. Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương chung cho cả dân tộc và cho các thế hệ người Việt Nam mãi mãi về sau học tập.

Nguyên tắc thứ hai để rèn luyện đạo đức cách mạng là xây đi đôi với chống. Bởi vì trong cuộc sống hàng ngày, những hiện tượng tốt – xấu, đúng – sai, cái đạo đức và cái vô đạo đức vẫn còn đan xen nhau, đối chọi nhau, thông qua hành vi của mỗi một con người khác nhau. Thậm chí, những đan xen và đối chọi ấy còn diễn ra ngay trong bản thân mỗi một con người. Do đó việc xây và chống trong lĩnh vực đạo đức hoàn toàn là điều không đơn giản. Xây phải đi đôi với chống, muốn xây phải chống, chống nhằm mục đích xây. Trong khi xây dựng, bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức mới phải đồng thời chống lại cái xấu, cái sai, cái vô đạo đức. ở đây điều quan trọng là phải phát hiện sớm, hướng cho mọi người vào cuộc đấu tranh cho sự trong sạch và lành mạnh về đạo đức. Để xây và chống có hiệu quả phải tạo thành phong trào quần chúng rộng rãi; Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động rất nhiều phong trào như vậy. Đó là phong trào thi đua thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu (năm 1952); đó là phong trào: 3 xây, 3 chống” năm 1963)… Có phong trào, có cuộc vận động cho toàn Đảng, toàn dân; nhưng lại có phong trào, có cuộc vận động riêng cho từng ngành, từng giới. Thông qua đó mà lôi cuốn mọi người vào cuộc đấu tranh nhằm xây gì, chống gì rất cụ thể, rõ ràng để mọi người phấn đấu, tự bồi dưỡng và nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng.

Nguyên tắc thứ ba là: Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời. Bởi mỗi người phải thường xuyên chăm lo tu dưỡng đạo đức như việc rửa mặt hàng ngày, đó là công việc kiên trì, bền bỉ suốt đời. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nêu lại tấm gương của người xưa: Mỗi buổi tối đều tự kiểm điểm để bỏ đỗ đen, đỗ trắng vào hai cái lọ, để cứ nhìn vào đó có thể biết mình tốt xấu ra sao? Trong thực tiễn, có người trong lúc đấu tranh thì hăng hái, trung thành, không sợ nguy hiểm, không sợ gian khổ, hy sinh, nhưng đến khi có ít quyền hạn thì đâm ra kiêu ngạo, xa xỉ, phạm vào tham ô, lãng phí, quan liêu, biến thành người có tội với cách mạng. Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh mới đưa ra một kết luận khái quát: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi một con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân. Cho nên trong khi ta kiên trì và đẩy mạnh cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước, làm cho văn minh chiến thắng bạo tàn thì đồng thời phải loại trừ những cái xấu xa do chế độ cũ để lại trong xã hội và trong mỗi con người”.

Đối với mỗi con người việc rèn luyện đạo đức cách mạng phải được thực hiện trong hoạt động thực tiễn, trong đời tư cũng như trong đời công, sinh hoạt, học tập, lao động, chiến đấu; trong mọi mối quan hệ xã hội từ hẹp đến rộng, từ nhỏ đến lớn, từ gia đình đến nhà trường, đoàn thể, xã hội; từ quan hệ bạn bè đến đồng chí, anh em, cấp trên, cấp dưới, với Đảng, với nước, với dân và cả trong quan hệ quốc tế. Có rèn luyện công phu theo các nguyên tắc trên đây thì con người mới có được phẩm chất đạo đức tốt đẹp, những phẩm chất ấy sẽ ngày càng được bồi đắp và nâng cao.

Theo báo Bắc Ninh điện tử

cpv.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác giáo dục lý luận chính trị

(ĐCSVN)- Là người sáng lập, rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều thời gian cho công tác giáo dục lý luận chính trị, nâng cao trình độ lý luận, nhận thức chính trị cho cán bộ, đảng viên.

Ngay từ năm 1925, khi thành lập tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Người đã xây dựng chương trình, biên soạn tài liệu, trực tiếp lên lớp truyền đạt những vấn đề cơ bản về lý luận, tổ chức 10 lớp huấn luyện cho hơn 200 cán bộ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Những bài giảng của Người sau này được biên tập và in thành cuốn sách “Đường Kách Mệnh”. “Đường Kách Mệnh” là tác phẩm lý luận chính trị, là cẩm nang, sách gối đầu giường của lớp cán bộ đầu tiên của Đảng. Những thanh niên yêu nước được Người đào tạo đã vượt qua muôn vàn thử thách, hy sinh, gian khổ, hoà mình vào phong trào cách mạng, vận động quần chúng đưa chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam để hình thành nên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Với cương vị là người lãnh đạo cao nhất của Đảng và của cách mạng Việt Nam, Người vẫn thường xuyên có những bài viết, bài nói, chỉ dẫn công tác giáo dục lý luận chính trị. Vào cuối những năm 1960, bệnh tật, sức khoẻ không cho phép Người làm việc nhiều. Người đã chỉ thị cho lãnh đạo Ban Tuyên huấn Trung ương phối hợp với Thành uỷ Hà Nội, mở những lớp bồi dưỡng lý luận chính trị cho đảng viên mới kết nạp thuộc khối công nghiệp và nông nghiệp để từ đó rút kinh nghiệm và nhân rộng trong cả nước.

Tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác giáo dục lý luận chính trị,

Tìm hiểu tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác GDLLCT là vấn đề lớn, song bước đầu nghiên cứu các bài nói, bài viết của Người về công tác giáo dục lý luận, có thể rút ra một số vấn đề sau:

Thứ nhất: Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vị trí, vai trò to lớn của lý luận, từ đó Người yêu cầu đảng viên và cán bộ phải thường xuyên học tập lý luận chính trị để nâng cao nhận thức giác ngộ cách mạng. Theo Hồ Chí Minh: Lý luận là sự tổng kết kinh nghiệm của loài người, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử. Lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lê-nin là sự tổng kết kinh nghiệm của phong trào công nhân từ trước đến nay của tất cả các nước .

“Đối với công việc kháng chiến kiến quốc, lý luận là rất quan trọng không hiểu lý luận thì như người mù đi đêm”. Trong thư gửi Quốc tế cộng sản, trong những năm đầu thành lập Đảng, Người nhận xét: Nhận thức về lý luận của các đồng chí An Nam rất thấp. Các đồng chí của chúng tôi rất dũng cảm và hăng hái, công tác rất tận tụy nhưng vì thiếu kiến thức lý luận, buộc các đồng chí phải mò mẫm từng bước, luôn vấp ngã. Từ đó, Hồ Chí Minh cho rằng: Phải tổ chức giáo dục lý luận cho đảng viên, cán bộ để họ hoàn thành tốt nhiệm vụ. Người cho rằng: Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng, học tập là trách nhiệm và nghĩa vụ của cán bộ, đảng viên. Bởi vì theo Bác có học lý luận Mác – Lê-nin mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao sự hiểu biết và trình độ chính trị mới làm được tốt công tác Đảng giao phó.

Thứ hai: Về mục đích của việc học tập lý luận chính trị Người cho rằng:

a. Học để sửa chữa tư tưởng: Hăng hái theo cách mạng, điều đó rất hay nhưng tư tưởng chưa thật đúng là tư tưởng cách mạng, vì thế cần phải học tập để sửa chữa cho đúng. Tư tưởng đúng, mới khỏi sai lạc và làm tròn nhiệm vụ cách mạng được.

b. Học để tu dưỡng đạo đức cách mạng. Có đạo đức cách mạng thì mới hy sinh tận tuỵ với cách mạng, mới lãnh đạo được quần chúng, đưa cách mạng thắng lợi hoàn toàn.

c. Học để tin tưởng:
Tin tưởng vào đoàn thể
Tin tưởng vào nhân dân
Tin tưởng vào tương lai của dân tộc
Tin tương vào tương lai cách mạng.

Có tin tưởng thì lúc ra thực hành mới vững chắc,hăng hái lúc gặp khó khăn mới cương quyết hi sinh.

d. Học để hành: “Học với hành phải đi đôi. Học mà không hành thì học vô ích. Hành mà không học thì hành không trôi chảy”1. Học để làm việc, làm người làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại.

Thứ ba: Về phương châm giáo dục và học tập lý luận chính trị

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Lý luận phải liên hệ với thực tế, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn trở thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông.

Thứ tư: Về phương thức giáo dục, huấn luyện đảng viên, cán bộ

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Huấn luyện là phải thiết thực chu đáo, chớ tham nhiều. Việc cốt yếu là phải làm cho người học hiểu vấn đề. Phải khắc phục sửa chữa ngay việc giáo dục lý luận chính trị và huấn luyện hiện nay là tham làm nhiều mà không chu đáo. “Quý hồ tinh, bất quý hồ đa” , rõ nhất là lớp quá đông, mở quá nhiều lớp. Theo Hồ Chí Minh: Đông quá thì dạy và học ít kết quả. Do đó Người yêu cầu phải hợp lý hoá. Nghĩa là mở lớp nào cho ra lớp ấy, lựa chọn người dạy và người học cho cẩn thận đừng mở rộng lung tung…

Ngoài ra Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đề cập đến các vấn đề khác trong quá trình dạy và học lý luận chính trị như tư liệu học tập, cách thức tổ chức học tập, phương thức dạy và học lý luận chính trị. Cuối cùng Người yêu cầu đảng viên, cán bộ đi học lý luận chính trị cần có thái độ nghiêm túc và phương pháp học tập sáng tạo chủ động tìm tòi suy nghĩ, có như vậy việc học mới có kết quả cao.

Thực hiện và vận dụng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác giáo dục lý luận chính trị. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm chăm lo công tác này, có nhiều tìm tòi, đổi mới, cải tiến nội dung hình thức phương pháp cả giảng dạy lý luận chính trị cho cán bộ đảng viên. Vì vậy, công tác giáo dục lý luận trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của đảng viên, cán bộ và nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, thực hiện đường lối đổi mới với mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

TS. Vũ Ngọc Am (CTV)

cpv.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng (Từ tác phẩm Đường Kách Mệnh đến bản Di chúc cuối cùng)

(ĐCSVN) – Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, từ bài giảng đầu tiên trong tác phẩm Đường Kách Mệnh[1] đến bản Di chúc cuối cùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và việc tu dưỡng đạo đức, coi đạo đức là “cái gốc” của người cách mạng.

Vấn đề đạo đức cách mạng trong tư tưởng của Hồ Chí Minh luôn có sự nhất quán và tính lôgic cao về tinh thần cách mạng cũng như phương pháp tư duy, nhất là phương pháp tư duy khoa học, tư duy biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin, trên cơ sở truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, chắt lọc tinh hoa đạo đức của nhân loại, Người còn phát triển và sáng tạo những giá trị tư tưởng đạo đức mới phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Tầm quan trọng của đạo đức bao giờ cũng được Người đặt ở vị trí hàng đầu. Ngay từ khi Đảng ta chưa ra đời, không phải ngẫu nhiên những bài giảng đầu tiên của Người cho thế hệ thanh niên yêu nước đầu tiên ở nước ta theo con đường cách mạng vô sản là những bài giảng về tư cách của người cách mạng. Trong trang đầu cuốn Đường Kách Mệnh – Người đã ghi 23 nét tư cách của một người cách mạng trong ứng xử với mình, với người, với đời, với việc. Đó là những chuẩn mực: “Tự mình phải:

Cần kiệm.
Hòa mà không tư.
Cả quyết sửa lỗi mình.
Cận thận mà không nhút nhát.
Hay hỏi.
Nhẫn nại (chịu khó).
Hay nghiên cứu, xem xét.
Vị công vong tư.
Không hiếu danh, không kiêu ngạo.
Nói thì phải làm.
Giữ chủ nghĩa cho vững.
Hy sinh.
Ít lòng ham muốn về vật chất.
Bí mật.
Đối với người phải:
Với từng người thì khoan thứ.
Với đoàn thể thì nghiêm.
Có lòng bày vẽ cho người.
Trực mà không táo bạo.
Hay xem xét người.
Làm việc phải:
Xem xét hoàn cảnh kỹ càng.
Quyết đoán.
Dũng cảm.
Phục tùng đoàn thể”[2].

Trên cơ sở nhận thức về nền tảng của việc hình thành đạo đức mới, vấn đề đạo đức cách mạng được Người nhắc lại nội dung tương tự khi nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa, năm 1947, nhưng cụ thể hơn[3], gồm 5 điểm: một, Mình đối với mình; hai, Đối với đồng chí mình phải thế nào?; ba, Đối với công việc phải thế nào?; bốn, Đối với nhân dân; và năm, Đối với đoàn thể. Với những lời căn dặn này cho thấy, Người đã đặt vấn đề đạo đức cách mạng một cách rất lôgic và có cơ sở khoa học về các quan hệ lợi ích. Hầu như các nguyên tắc đạo đức Người đề ra trước hết cho mình thực hiện, sau đó mới để giáo dục người khác, có thể nêu ra một số chuẩn mực cơ bản về đạo đức cách mạng theo tư tưởng của Người, như sau:

1/ Nếu bài học về đạo đức cách mạng đầu tiên trong cuốn Đường Kách Mệnh, Người chỉ đề ra những nguyên lý chung thể hiện mối quan hệ giữa ba khía cạnh, phản ánh mối quan hệ đạo đức mới, đạo đức cách mạng mà người cách mạng cần quán triệt trước tiên, đồng thời nêu cao việc tu dưỡng đạo đức cách mạng; thì ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Người đã đề ra những nguyên tắc về hành vi đạo đức cách mạng đối với người có chức, có quyền trong Chính phủ từ toàn quốc đến các làng, Người đề nghị: “Mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: Cần, kiệm, liêm, chính” để “làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động”.

Người coi cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là phẩm chất đạo đức cơ bản nhất của con người mới, đồng thời là chuẩn mực cơ bản của nền đạo đức mới của dân tộc ta. Đây là phẩm chất được Người đề cập đến nhiều nhất, thường xuyên nhất với một nội dung đạo đức mới rất cách mạng mà vẫn giữ được nền tảng của các khái niệm đạo đức cũ rất quen thuộc với mọi người. Phẩm chất này gắn liền với họat động hàng ngày của mỗi con người và có quan hệ mật thiết với tư tưởng trung với nước, hiếu với dân. Chí công vô tư về thực chất là nối tiếp cần, kiệm, liêm, chính. Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công vô tư và ngược lại. Người có tinh thần chí công vô tư là người ham làm những việc ích nước, lợi dân, không ham địa vị, công danh, phú quý, không nghĩ đến quyền lợi cá nhân. Người cho rằng những cán bộ, đảng viên có đầy đủ đức tính nêu trên sẽ đứng vững trước mọi thử thách, hơn nữa yêu cầu họ phải thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đối với người, với việc và với chính mình.

Người từng nói: “Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công, vô tư. Mình đã chí công, vô tư thì khuyết điểm sẽ càng ít, mà những tính tốt như sau, ngày càng thêm. Nói tóm tắt, tính tốt ấy gồm có 5 điều: Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm” [4]. Có thể thấy rằng từ các khái niệm đạo đức cũ như: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm, Người đã đưa vào đây nội dung đạo đức mới bằng cách giải thích nó theo quan niệm mới, với một nội dung hoàn toàn khác, rất cách mạng, phản ánh các mối quan hệ một cách rõ ràng, cụ thể và dễ hiểu.

2/ Từ nội dung hẹp của các phạm trù đạo đức cũ, Người mở rộng, đưa vào đây một nội dung rất mới, tiến bộ, cách mạng, vượt qua những hạn chế của tư tưởng đạo đức truyền thống và nâng lên thành tư tưởng đạo đức mới, mà tiêu biểu nhất là các khái niệm: trung, hiếu, nhân, nghĩa… “Từ trung với vua thành trung với nước; từ hiếu với cha mẹ mình thành hiếu với dân; từ nhân chỉ là nhân ái thành nhân dân, từ cần cho riêng mình thành cần cho cả xã hội; từ kiệm cho riêng mình thành tiết kiệm chung phục vụ cho đất nước; từ liêm nghĩa là liêm khiết, không tham nhũng, nghĩa là chỉ giữ cho bản thân mình trong sạch, Người mở rộng thành vấn đề liêm khiết mang tính xã hội; từ chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đúng đắn, Người chuyển sang vấn đề thiện, ác; làm việc chính, là người thiện; làm việc tà là người ác”[5]. Người nhấn mạnh: “Người cán bộ phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải trái, giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”[6]. Trung vơí nước, hiếu với dân được coi là nội dung cơ bản nhất, bao trùm nhất trong tư tưởng đạo đức cách mạng của Người, thể hiện mối quan hệ giữa con người với Tổ quốc và nhân dân. “Trung với nước” là trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc, nước ở đây là nước của dân, dân là chủ nhân của đất nước. Người cho rằng bao nhiêu quyền hạn đều là của dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Xuất phát từ quan niệm như vậy, nên “hiếu” trong tư tưởng của Người chính là “Hiếu với dân”. Hiếu với dân không chỉ là xem người dân như đối tượng dạy dỗ, ban ơn mà là đối tượng phải phục vụ hết lòng. Ở người, lý luận luôn gắn chặt với thực tiễn, lời nói luôn đi đôi với việc làm. Cuộc đời của Người là minh chứng sinh động về tư tưởng tận trung với nước, tận hiếu với dân.

3/ Nếu như trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất của mỗi con người – công dân đối với Tổ quốc, đối với nhân dân, thì yêu thương con người là trách nhiệm của mỗi con người đối với con người. Người cho đây là phẩm chất cao đẹp nhất của con người. Yêu thương con người trước hết là tình cảm dành cho những người bị áp bức, bóc lột, những người cùng khổ. Yêu thương con người còn được thể hiện trong mối quan hệ hàng ngày với những người đồng chí xung quanh, trong cuộc sống bình thường. Phải luôn nghiêm khắc với bản thân, nhưng rộng rãi độ lượng với ngươì khác. Điều đặc biệt là ở Người, yêu thương con người luôn luôn gắn với niềm tin vào con người, tin vào lương tri, tin vào lòng dũng cảm, tin vào sức sáng tạo của họ trong hành trình con người tự giải phóng lấy mình, để con người làm chủ xã hội, làm chủ bản thân mình.

4/ Người đã có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cá nhân và giai cấp, giữa dân tộc và quốc tế, giữa truyền thống và hiện đại tạo ra trong quan niệm về đạo đức cách mạng sự hài hòa về các mối quan hệ lợi ích. Theo Người, tinh thần quốc tế trong sáng thực chất là chủ nghĩa yêu nước gắn liền với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Người cho rằng nếu tinh thần yêu nước không chân chính, tinh thần quốc tế không trong sáng thì có thể dẫn tới tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, hẹp hòi, sô vanh, biệt lập, kỳ thị chủng tộc. Từ rất sớm, Người đã chủ trương quan hệ với các quốc gia dân tộc và các tổ chức trên thế giới để thêm bạn, bớt thù. Quan điểm dân tộc đã được thổi vào thời đại, đã vượt qua biên giới quốc gia, hướng tới mục tiêu độc lập, dân chủ, hòa bình, hữu nghị và hợp tác.

Cần nhấn mạnh là tuy có những cách định nghiã khác nhau về nội hàm các khái niệm đạo đức cách mạng, nhưng nhìn chung ở Người đều có sự nhất quán về tinh thần cách mạng và phương pháp tư duy. Từ các khái niệm, phạm trù của các tư tưởng đạo đức đã có từ trước như: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm, đến cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; từ trung, hiếu, đến thiện, ác… bao giờ Người cũng có cách giải thích riêng về những chuẩn mực đạo đức phù hợp dễ hiểu, dễ chấp nhận với từng đối tượng, với mọi tầng lớp nhân dân: trí thức, quân đội, công an, công nhân, nông dân, phụ nữ, phụ lão, các cháu thiếu niên và nhi đồng… Đề cao đạo đức mới, Người đã thể hiện một tầm nhìn xa trông rộng về nhân cách con người. Những phẩm chất mà Người nêu ra là nhằm hướng con người tới cái thiện, cái tốt, cái cao cả, đồng thời ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện thoái hóa, biến chất có thể xảy ra, đặc biệt là chống khuynh hướng lạm dụng quyền lực để tham nhũng, lãng phí. Ngay cả trước khi qua đời, việc đầu tiên được đề cập đến trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân là nói về Đảng, việc đầu tiên khi đề cập đến Đảng là đạo đức, Người viết: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”[7].

Tóm lại, từ bài viết đầu tiên trong tác phẩm Đường Kách Mệnh đến bản Di chúc cuối cùng, dù ở những thời điểm lịch sử khác nhau nhưng tư tưởng của Người về đạo đức cách mạng đều có sức thuyết phục rất cao, có sức sống mạnh mẽ và có giá trị lâu bền. Bởi đó là sự thống nhất giữa lời nói, tư tưởng và hành động. Người đặt vấn đề đạo đức cách mạng từ lĩnh vực lý luận sang lĩnh vực thực tiễn, đưa đạo đức cách mạng vào chính sự nghiệp cách mạng, coi đó là một trong những nguyên tắc hoạt động cách mạng, phản ảnh các quan hệ mới về lợi ích tạo ra nền tảng vững chắc của chính quyền cách mạng nói chung và người cách mạng nói riêng./.
Tùng Khánh


[1] Đường Kách Mệnh, xuất bản năm 1927 – đây là một tác phẩm lý luận và chính trị vô cùng quan trọng, gồm những đề cương bài giảng của Nguyễn Ái Quốc, tức Chủ tịch Hồ Chí Minh giảng cho các lớp huấn luyện chính trị được tổ chức bí mật ở Quảng Châu, Trung Quốc từ đầu năm 1925 nhằm đào tạo cán bộ cách mạng nước ta, chuẩn bị về tư tưởng, đường lối và tổ chức cho việc thành lập một chính đảng mác xít của giai cấp công nhân Việt Nam.
[2] Nguyễn Ái Quốc. Đường Cách Mệnh. Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1982, tr..22-23.
[3] Xem thêm: Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 5. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 54-55.
[4] Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 5. Sđd, tr. 251.
[5] Thành Duy, Văn hóa đạo đức: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2004, tr. 35.
[6] Hồ Chí Minh. Toàn tập, Tập 7, Sđd, tr. 480.
[7] Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 12, Sđd, tr. 510.

cpv.org.vn

Toàn văn Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố năm 1969

Trong lễ tang của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đồng chí Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đọc lời điếu và công bố Di chúc của Người.

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

(công bố năm 1969)

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
————————-

Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.

Đó là một điều chắc chắn.

Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng, thǎm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta.

Kế theo đó, tôi sẽ thay mặt nhân dân ta đi thǎm và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, và các nước bầu bạn khắp nǎm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

*
* *

Ông Đỗ Phủ là người làm thơ rất nổi tiếng ở Trung Quốc đời nhà Đường, có câu rằng “Nhân sinh thất thập cổ lai hy”, nghĩa là “Người thọ 70, xưa nay hiếm”.

Nǎm nay, tôi vừa 79 tuổi, đã là lớp người “xưa nay hiếm” nhưng tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt, tuy sức khoẻ có kém so với vài nǎm trước đây. Khi người ta đã ngoài 70 xuân, thì tuổi tác càng cao, sức khoẻ càng thấp. Điều đó cũng không có gì lạ.

Nhưng ai mà đoán biết tôi còn phục vụ cách mạng, phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân được bao lâu nữa?

Vì vậy, tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột.

TRƯỚC HẾT NÓI VỀ ĐẢNG – Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hǎng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

ĐOÀN KẾT là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.

Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

ĐOÀN VIÊN THANH NIÊN ta nói chung là tốt, mọi việc đều hằng hái xung phong, không ngại khó khǎn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chǎm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.

NHÂN DÂN LAO ĐỘNG ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều nǎm chiến tranh.

Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hǎng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng.

Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và vǎn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

Còn non, còn nước, còn người, Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

Dù khó khǎn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to – là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.

VỀ PHONG TRÀO CỘNG SẢN THẾ GIỚI – là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hoà hiện nay giữa các đảng anh em!

Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình.

Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại.

*
* *

VỀ VIỆC RIÊNG – Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa.

Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân.

*
* *

Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng.

Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế.

Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Hà nội, ngày 10 tháng 5 nǎm 1969
Hồ Chí Minh

(Theo Bác Hồ viết tài liệu Tuyệt đối bí mật-NXB Lý luận chính trị)

cpv.org.vn

Bản Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh sửa chữa năm 1969

Ngày 10-5, Chủ tịch Hồ Chí Minh họp Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 16. Đến giờ nghỉ giải lao, Người xin về trước. Từ 9h30 đến 10h30, Chủ tịch Hồ Chí Minh sửa chữa bản Di chúc, Người viết toàn bộ đoạn mở đầu Di chúc vào mặt sau tờ Tin tham khảo đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam ra ngày 3-5-1969.

Ngày 11-5, Chủ tịch Hồ Chí Minh bổ sung và sửa chữa bản Di chúc.

Ngày 12-5, từ 8h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh họp Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Đến 15h, Người sửa bản Di chúc phần mở đầu và phần viết thêm của năm 1968.

Ngày 13-5, từ 9h đến 10h, Chủ tịch Hồ Chí Minh sửa chữa bản Di chúc. Người sửa đoạn mở đầu và phần viết thêm của năm 1965.

Ngày 14-5, từ 9h đến 10h, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem và sửa chữa bản Di chúc.

Ngày 15-5, từ 9h đến 10h, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem và sửa chữa bản Di chúc.

Ngày 16-5, từ 9h đến 10h, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem và sửa chữa bản Di chúc.

Ngày 17-5, từ 9h đến 10h, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem và sửa chữa bản Di chúc.

Ngày 18-5, từ 9h đến 10h, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem và sửa chữa bản Di chúc.

Ngày 19-5, từ 9h đến 10h, Chủ tịch Hồ Chí Minh sửa chữa bản Di chúc của các năm 1965, 1968, 1969. Người xem lại tài liệu lần cuối và xếp vào phong bì cất đi.

Bản thảo Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh sửa chữa năm 1969

Dưới đây là toàn văn bản Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh sửa chữa năm 1969

10-5-1969

Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.

Đó là một điều chắc chắn.

Tói có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ, và chiến sĩ anh hùng, thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta.

Kế theo đó, tôi sẽ thay mặt nhân dân ta thăm và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, và các nước bầu bạn khắp năm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Ông Đỗ Phủ là người làm thơ rất nổi tiếng ở Trung Quốc, đời nhà Đường, có câu rằng “nhân sinh thất thập cổ lai hy” nghĩa là “người thọ 70, xưa nay hiếm”.

Năm nay, tôi vừa 79 tuổi, đã là hạng người “xưa nay hiếm” nhưng tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt, tuy sức khỏe có kém so với vài năm trước đây. Khi người ta đã ngoại 70 xuân, thì tuổi tác càng cao, sức khỏe càng thấp. Điều đó cũng không có gì lạ.

Nhưng ai mà đoán biết tôi còn phục vụ cách mạng, phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân được bao lâu nữa?

Vì vậy tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột.

BVK (tổng hợp)

cpv.org.vn

Bản “Tuyệt đối bí mật” – Di chúc Bác sửa chữa năm 1968

Năm 1969, từ các ngày 1-15/5, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc lại và viết lại Tuyệt đối bí mật (Di chúc). Người đã căn dặn thêm nhiều điểm cụ thể về công tác đảng, về việc chăm lo đời sống nhân dân, hạnh phúc con người, về những điều mà Người luôn đau đáu.

Ngày 10-5, đúng 9h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết lại phần mở đầu của bản Di chúc và phần “về việc riêng”. Đến 10h30, Người làm việc với Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh về việc chuẩn bị cho kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá III.

Ngày 11-5, đúng 9h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục viết Di chúc phần nói về công tác chỉnh đốn Đảng: “Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình…”. Đến 10h, Người làm việc với đồng chí Hoàng Quốc Việt về kế hoạch đi thăm vùng mỏ.

Ngày 12-5, đúng 9h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục viết Di chúc, đọc và sửa chữa những phần đã viết. Người căn dặn thêm nhiều điểm cụ thể về việc chăm lo đời sống của nhân dân sau chiến tranh:

“Đầu tiên là công việc đối với con người.

Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, chiến sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong…), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”…”. Đến 10h, Người tiếp đạo diễn điện ảnh Hà Lan Jorit Iven.

Ngày 13-5, đúng 9h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục viết và sửa chữa bản Di chúc. Người sửa đoạn viết về chăm lo hạnh phúc đối với con người: “Trong bao năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta, ra sức góp của góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn, gian khổ. Nay ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho các hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”.

Ngày 14-5, đúng 9h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục sửa bản Di chúc.

Ngày 15-5, từ 9h đến 10h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lại và sửa bản Di chúc.

Ngày 16-5, từ 9h đến 10h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc và sửa bản Di chúc.

Ngày 17-5, từ 9h sáng Chủ tịch Hồ Chí Minh bổ sung và sửa chữa bản Di chúc. Đến 10h, Người nghe Bộ trưởng Bộ Ngoại giao báo cáo về công tác ngoại giao.

Ngày 18-5, đúng 9h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục bổ sung và sửa chữa bản Di chúc. Sau bữa cơm chiều hôm ấy, Người rời nhà sàn đến nhà nghỉ Hồ Tây.

Ngày 19-5, tại nhà nghỉ Hồ Tây, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thân mật một số cán bộ đến chúc thọ Người. Từ 9h sáng đến đến 10h, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục bổ sung và sửa chữa bản Di chúc.

Dưới đây là bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Toàn văn Di chúc Bác sửa chữa năm 1968

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập, Tự do, Hạnh phúc(Tuyệt đối bí mật)

Năm nay, tôi vừa 78 tuổi, vào lớp những người “trung thọ”. Tinh thần vẫn sáng suốt tuy sức khỏe có kém so với vài năm trước đây. Người ta đến khi tuổi tác càng cao thì sức khỏe càng thấp. Đó là điều bình thường.

Nhưng không ai đoán biết được tôi sẽ sống và phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng mấy tháng, mấy năm nữa?

Vì vậy tôi viết sẵn và để lại mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước và đồng chí trong Đảng khỏi cảm thấy đột ngột.

Về việc riêng

Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa.

Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân.

Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là “hỏa táng”. Tôi mong rằng cách “hỏa táng” sau này sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất ruộng. Khi ta có nhiều điện, thì “điện táng” càng tốt hơn.

Tro thì chia làm 3 phần, bỏ vào 3 cái hộp sành. Một hộp cho miền Bắc. Một hộp cho miền Trung. Một hộp cho miền Nam.

Đồng bào mỗi miền nên chọn l quả đồi mà chôn hộp tro đó. Trên mả, không nên có bia đá tượng đồng, mà nên xây 1 ngôi nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ, để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi.

Nên có kế hoạch trồng cây trên và chung quanh đồi. Ai đến thăm thì trồng một vài cây làm kỷ niệm. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp. Việc săn sóc nên giao phó cho các cụ phụ lão.

Tháng 5-1968, khi xem lại thư này tôi thấy cần phải viết thêm mấy điểm không đi sâu vào chi tiết.

Ngay sau khi cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi, công việc toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phải ra sức làm là mau chóng hàn gắn vết thương nghiêm trọng do đế quốc Mỹ gây ra trong cuộc chiến tranh xâm lược dã man. Đó là một công việc cực kỳ to lớn, phức tạp và khó khăn. Chúng ta phải có kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo, để tránh khỏi bị động, thiếu sót và sai lầm. Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi.

Đầu tiên là công việc đối với con người.

Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong..,), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”.

Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta.

Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét.

Những chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong đều đã được rèn luyện trong chiến đấu và đều tỏ ra dũng cảm. Đảng và Chính phủ cần chọn một số ưu tú nhất, cho các cháu ấy đi học thêm các ngành, các nghề, để đào tạo thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc. Đó là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thăng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ.

Đối với những nạn nhân của chế độ xã hội cũ, như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu, v.v.. thì Nhà nước phải dùng vừa giáo dục, vừa phải dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện.

Trong bao năm kháng chiến chống Pháp, tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta, ra sức góp của góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn gian khổ. Nay ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho các hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất.

Ở đây nói về kế hoạch xây dựng lại thành phố và làng mạc đẹp đẽ, đàng hoàng hơn trước chiến tranh. Khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế. Phát triển công tác vệ sinh, y tế. Sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân, như phát triển các trường nửa ngày học tập, nửa ngày lao động. Củng cố quốc phòng. Chuẩn bị mọi việc để thống nhất Tổ quốc…

Công việc trên đây là rất to lớn, nặng nề, và phức tạp, mà cũng là rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân.

BVK (tổng hợp)

cpv.org.vn

Bản Di chúc của Bác viết năm 1965

(ĐCSVN) – Năm 1965, khi tròn 75 tuổi, Bác Hồ bắt tay vào viết “Tuyệt đối bí mật” chúc. Lúc này, đồng bào và chiến sĩ cả nước đang sôi nổi thi đua lập thành tích chúc thọ Bác.

Từ ngày 10 đến ngày 14-5-1965, mỗi ngày Người dành từ một đến hai tiếng để viết và đã hoàn thành bản thảo Di chúc đầu tiên gồm 3 trang, do chính Người tự đánh máy, ở cuối đề ngày 15-5-1965.

Ngày 10-5, từ 9h đến 10h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu thảo tài liệu “Tuyệt đối bí mật” – Di chúc.

Ngày 11-5, từ 5h 45′ sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi tiễn đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Italia về nước. Sau đó từ 9h đến 10h, Người viết tiếp tài liệu “Tuyệt đối bí mật”.

Ngày 12-5, từ 9h đến 10h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục viết tài liệu “Tuyệt đối bí mật”.

Ngày 13-5, từ 9h đến 10h sáng Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục viết tài liệu “Tuyệt đối bí mật”.

Ngày 14-5, sáng sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm Hợp tác xã nông nghiệp Phương Đông (Từ Liêm, Hà Nội).

10h sáng, Người họp Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng bàn về công tác đào tạo cán bộ. Từ 14h đến 16h, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết phần cuối tài liệu “Tuyệt đối bí mật”.

18h, Người tiếp các đồng chí ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng đến chúc thọ Người.

Ngày 15-5, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Hà Nội đi thăm Trung Quốc.

Dưới đây là bản thảo đánh máy “Tuyệt đối bí mật” năm 1965 của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nguyên văn bản thảo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

VIỆT NAM DÂN CHỦ CÔNG HOÀ
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
————————-

Tuyệt đối bí mật Nhân dịp mừng 75 tuổi

Người làm thơ rất nổi tiếng, ở Trung Quốc đời nhà Đường là cụ Đỗ Phủ có câu thơ rằng “nhân sinh thất thập cổ lai hy”. Nghĩa là: Người thọ 70, xưa nay hiếm.

Nǎm nay, tôi đã 75 tuổi. Tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn mạnh khỏe. Tuy vậy, tôi cũng đã là lớp người “xưa nay hiếm”.

Ai đoán biết tôi sẽ sống và phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng mấy năm mấy tháng nữa?

Vì vậy, tôi để lại mấy lời này, chỉ nói tóm tắt vài việc thôi. Phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước và đồng chí trong Đảng khỏi cảm thấy đột ngột.

Trước hết nói về Đảng – Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hǎng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.

Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hằng hái xung phong, không ngại khó khǎn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chǎm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.

Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều nǎm chiến tranh.

Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hǎng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng.

Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và vǎn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể kéo dài mấy năm nữa. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

Còn non, còn nước, còn người,
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

Dù khó khǎn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam, Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to – là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.

Về phong trào cộng sản thế giới – là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hoà hiện nay giữa các đảng anh em!

Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý có tình.

Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại.

*
*  *

Về việc riêng – Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức đám đình, lãng phí ngày giờ và tiền bạc của nhân dân.

Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, nói chữ là “hỏa táng”. Tôi mong rằng cách “hỏa táng” dần dần sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất. Bao giờ ta có nhiều điện, thì “điện táng” càng tốt hơn.

Tro xương thì tìm một quả đồi mà chôn. Gần Tam Đảo và Ba Vì như hình có nhiều đồi tốt. Trên mộ, nên xây 1 cái nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi.

Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thăm thì trồng một cây làm kỷ niệm. Trồng cây nào phải tốt câu ấy. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp.

Nếu tôi qua đời trước ngày nước ta được thống nhất, thì nên gửi một ít tro xương cho đồng bào miền Nam.

Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng.

Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn, và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế.

Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Hà nội, ngày 15 tháng 5 nǎm 1965
Hồ Chí Minh

BVK (tổng hợp)

cpv.org.vn

Học và làm theo gương Bác là nhiệm vụ thường xuyên của các cấp uỷ, của mỗi cán bộ, đảng viên*

(ĐCSVN)Ngày 17/8, đồng chí Lê Hồng Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng đã tới dự và phát biểu khai mạc Hội nghị quán triệt, triển khai thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị và Kế hoạch 03-KH/TW của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh (khu vực phía Bắc). Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu.

Hôm nay, trong không khí cả nước chuẩn bị kỷ niệm 66 năm Cách mạng Tháng 8 và Quốc khánh 2/ 9, tôi rất vui mừng đến dự và khai mạc Hội nghị cán bộ chủ chốt các đảng ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng các bộ, ngành, đoàn thể Trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy khu vực phía Bắc quán triệt, triển khai thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị và Kế hoạch 03-KH/TW của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, tôi xin gửi tới các đồng chí lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành công.

Tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh là kết tinh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và tinh hoa văn hóa của nhân loại, là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và nhân dân ta, là tấm gương sáng để mọi người Việt Nam học tập và noi theo. Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, Bộ Chính trị (khóa X) đã phát động Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn Đảng và toàn xã hội. Cuộc vận động đã nhận được sự hưởng ứng, sự tham gia tích cực của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhờ đó đã đạt được kết quả bước đầu quan trọng. Kết quả thực hiện Cuộc vận động đã khẳng định: việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vừa có ý nghĩa cấp bách, trước mắt, vừa có ý nghĩa cơ bản, lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Trên cơ sở đó, Đại hội XI của Đảng đã quyết định đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thành nhiệm vụ thường xuyên trong Đảng và xã hội.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội, ngày 14/5/2011, Bộ Chính trị (khóa XI) đã ban hành Chỉ thị 03-CT/TW về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Chỉ thị xác định rõ mục đích của việc tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là: Phát huy kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế trong việc thực hiện Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong thời gian qua, tiếp tục làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức sâu sắc những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh; tạo chuyển biến mạnh mẽ và sâu rộng hơn nữa về ý thức tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn tham nhũng, tiêu cực; góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng. Chỉ thị yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh phải trở thành nhiệm vụ thường xuyên, là trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, của mỗi cán bộ, đảng viên.

Để đạt được mục đích, yêu cầu đó, Bộ Chính trị yêu cầu cấp ủy đảng, trực tiếp là ban thường vụ cấp ủy, đồng chí bí thư cấp ủy phải trực tiếp chỉ đạo thực hiện, không thành lập ban chỉ đạo như trước đây. Ở Trung ương, chỉ đạo việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong toàn Ðảng và xã hội là nhiệm vụ của Ban Bí thư Trung ương Ðảng và đồng chí Tổng Bí thư; trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo đòi hỏi phải đồng bộ, chặt chẽ, kết hợp việc tổ chức học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, các cuộc vận động và các phong trào đang triển khai trong Đảng và trong xã hội; kết hợp giữa xây và chống với đẩy mạnh thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng.

Căn cứ vào nội dung Chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương đã ban hành Kế hoạch số 03-KH/TW, xác định các công việc cần thực hiện trong nhiệm kỳ khóa XI của Đảng, tập trung vào 8 nhóm công việc cụ thể:

Một là, tiếp tục tổ chức học tập tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, bao gồm cả việc học tập và làm theo tác phong, phong cách của Bác, thể hiện cụ thể trong công việc thường ngày, trong quan hệ với nhân dân, đồng chí, đồng nghiệp… Đặc biệt nhấn mạnh việc làm theo qua những hành vi thiết thực, cụ thể.

Hai là, tiếp tục xây dựng và tổ chức thực hiện những chuẩn mực đạo đức theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, phù hợp với đặc điểm hoạt động của từng ngành, từng địa phương, cơ quan, đơn vị trong giai đoạn hiện nay.

Ba là, quy định rõ trách nhiệm tự giác đi đầu, gương mẫu của cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu các cấp, của cán bộ, đảng viên. Xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên.

Bốn là, đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào sinh hoạt thường xuyên của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể. Xây dựng và tổ chức thực hiện tốt chương trình hành động của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị; chương trình tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Lấy kết quả học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một trong những tiêu chuẩn đánh giá, bình xét, phân loại đảng viên, tổ chức đảng hằng năm.

Năm là, tiếp tục chỉ đạo việc biên soạn chương trình, giáo trình về đạo đức Hồ Chí Minh để giảng dạy ở các cấp học, bậc học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở các học viện, trường chính trị, trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp.

Sáu là, coi trọng việc giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ. Cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp có biện pháp cụ thể để tổ chức, chỉ đạo thực hiện tốt việc giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ theo tấm gương đạo đức Bác Hồ.

Bảy là, định kỳ tổ chức kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết, phát hiện và biểu dương các điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Phê bình, uốn nắn các nhận thức lệch lạc, những việc làm thiếu gương mẫu, nói không đi đôi với làm. Đấu tranh với các quan điểm sai trái, các biểu hiện quan liêu, tham nhũng, lãng phí.

Tám là, tiếp tục đẩy mạnh việc tuyên truyền về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, về các điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ bằng nhiều hình thức phong phú và sinh động.

Ban Tuyên giáo Trung ương, cơ quan được Bộ Chính trị giao là thường trực thực hiện nhiệm vụ này, đã ban hành hướng dẫn số 12- HD/BTGTW để triển khai thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, Kế hoạch của Ban Bí thư. Sau đây, lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương sẽ trình bày cụ thể hơn với Hội nghị về những nội dung quan trọng của các văn bản, cũng như hướng dẫn về việc tổ chức triển khai thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, Kế hoạch của Ban Bí thư.

Thực hiện thắng lợi Chỉ thị của Bộ Chính trị, để đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành công việc thường xuyên trong Đảng và xã hội, có vai trò và tác động lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, trực tiếp góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng trong những năm tới. Nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức và triển khai thực hiện có kết quả Chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị cán bộ chủ chốt các cơ quan, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương để quán triệt và triển khai thực hiện, chia làm hai khu vực. Hội nghị khu vực phía Nam đã tổ chức ngày 12/8/2011 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hội nghị của chúng ta hôm nay là Hội nghị thứ hai dành cho các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc và các đảng ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng các bộ, ngành, Mặt trận, đoàn thể ở Trung ương.

Để hội nghị có kết quả thiết thực, tôi đề nghị các đồng chí nghiên cứu, quán triệt kỹ mục đích, yêu cầu và các nội dung cơ bản trong Chỉ thị của Bộ Chính trị và Kế hoạch thực hiện của Ban Bí thư; trao đổi, thảo luận về trách nhiệm của Ban cán sự đảng, đảng đoàn, thường vụ cấp ủy các cấp trong thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, Kế hoạch của Ban Bí thư; các nhiệm vụ, phương thức chủ yếu để triển khai Chỉ thị có hiệu quả; góp phần nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Tôi tin rằng, với nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, với trách nhiệm trước Đảng và nhân dân, nhất định Chỉ thị của Bộ Chính trị, Kế hoạch của Ban Bí thư sẽ được các cấp ủy, tổ chức Đảng thực hiện có kết quả tốt./.

——————–
* Đầu đề do Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đặt

cpv.org.vn

Thường xuyên Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Bác Hồ mãi mãi là tấm gương cho thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam học tập và noi theo ( Nguồn: Ảnh tư liệu)

Hơn bốn năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, chặt chẽ của các cấp ủy, tổ chức đảng, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã được triển khai sâu rộng trong hệ thống chính trị và toàn xã hội, làm cho toàn Ðảng, toàn dân nhận thức sâu sắc hơn về những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Cống hiến trọn đời mình cho lý tưởng cao cả: Giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng trọn vẹn cho ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc ta suốt hàng nghìn năm lịch sử. Người là hiện thân của khối đoàn kết toàn Ðảng, toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế. Tư tưởng và tấm gương đạo đức của Người mãi mãi ngời sáng ý chí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập, tự chủ, lòng yêu nước, yêu nhân dân thắm thiết; sáng ngời phẩm chất cách mạng: hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; suốt đời cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Tấm gương đạo đức của Người là sự kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại. Thực hiện cuộc vận động lớn, chúng ta đã tạo được những chuyển biến về nhận thức và ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, góp phần vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội X của Ðảng. Tuy nhiên như Báo cáo Chính trị của BCH T.Ư Ðảng khóa X tại Ðại hội lần thứ XI của Ðảng đã chỉ rõ: ‘Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chưa thực sự đi vào chiều sâu, ở một số nơi còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao, làm theo chưa đạt yêu cầu’.

Ngày 14-5 vừa qua, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 03-CT/T.Ư về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Chỉ thị nhấn mạnh, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người là rất quan trọng và cần thiết, chẳng những đáp ứng yêu cầu cấp bách trước mắt, mà còn có ý nghĩa cơ bản, lâu dài đối với sự nghiệp cách mạng của Ðảng và nhân dân ta.

Ðể đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thành nền nếp thường xuyên đạt hiệu quả ngày càng cao, đòi hỏi cấp ủy đảng các cấp, trực tiếp là ban thường vụ cấp ủy, đồng chí bí thư cấp ủy cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc quán triệt sâu sắc, đầy đủ và tổ chức thực hiện nghiêm túc Chỉ thị của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo đúng Kế hoạch số 03-KH/T.Ư ngày 1-7-2011 của Ban Bí thư về triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/T.Ư ngày 14-5-2011 của Bộ Chính trị từ nay đến năm 2015. Trong bối cảnh của tình hình và nhiệm vụ mới, chúng ta quyết tâm làm cho toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân ta nhận thức sâu sắc những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh; tạo sự chuyển biến sâu sắc hơn nữa ý thức tu dưỡng, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội thực dụng, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và các tệ nạn tham nhũng, tiêu cực, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội XI của Ðảng. Phải coi việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người là việc làm hằng ngày, là trách nhiệm và là lợi ích thiết thân của mọi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; gắn kết chặt chẽ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, các cuộc vận động đang triển khai; các phong trào thi đua yêu nước; tạo nên động lực thúc đẩy việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị ở từng địa phương, đơn vị. Ðây là công việc đòi hỏi ý thức tự tu dưỡng tự rèn luyện của từng người. Cán bộ, đảng viên giữ chức vụ càng cao, càng phải gương mẫu cho cấp dưới và các tầng lớp nhân dân học theo, noi theo, kể cả tác phong, phong cách công tác lãnh đạo, chỉ đạo.

Ðiều quan trọng có ý nghĩa quyết định là phải xây dựng cho được những chuẩn mực đạo đức theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh phù hợp thực tiễn hoạt động của từng ngành nghề, cơ quan, đơn vị, phù hợp từng đối tượng; theo phương châm: dễ hiểu, dễ nhớ, dễ vận dụng. Xây dựng và thực hiện nghiêm túc các quy định, quy chế về trách nhiệm tự giác gương mẫu của cán bộ chủ chốt, người đứng đầu cơ quan, đơn vị; quy định về đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ vào sinh hoạt thường xuyên của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân. Tiếp tục xây dựng và thực hiện chương trình giảng dạy và học tập tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cho học sinh, sinh viên, cán bộ, đảng viên. Cùng với đó là các quy định, quy chế kiểm tra, giám sát đồng bộ, chặt chẽ của cấp ủy đảng, chính quyền và đoàn thể để việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là nhiệm vụ hằng ngày, thường xuyên, tiến tới trở thành nhu cầu tự thân của từng tập thể và cá nhân, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Ðội ngũ những người làm văn học, nghệ thuật, báo chí cần tiếp tục sáng tạo nhiều hơn nữa những tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao về tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; động viên, cổ vũ, tôn vinh những tập thể, cá nhân kiên trì, bền bỉ học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người.

Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi đường cho chúng ta đi tới tương lai tươi sáng! Ðạo đức của Người là tấm gương để chúng ta suốt đời học tập và làm theo!

(Theo báo Nhân dân)

cpv.org.vn