Tag Archive | Bác Hồ

Chủ tịch Hồ Chí Minh với Quốc hội đầu tiên của đất nước

(ANTĐ) -Sau thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám, giành lại chính quyền về tay nhân dân, việc tổ chức thành công Tổng tuyển cử bầu Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có ý nghĩa vô cùng trọng đại, khẳng định tính hợp pháp và hợp hiến của Nhà nước trước toàn thế giới. Trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, thù trong giặc ngoài đang câu kết với nhau hòng phá hoại Tổng tuyển cử, lật đổ Chính phủ Hồ Chí Minh, thì cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội càng mang ý nghĩa sâu sắc hơn.

Bác Hồ đi bỏ phiếu bầu cử

Trong những ngày tháng vô cùng gian nan ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người đứng đầu sóng ngọn gió, chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua mọi thác ghềnh, vừa chỉ đạo các Bộ chuẩn bị tốt mọi mặt cho cuộc Tổng tuyển cử; đồng thời, Người trực tiếp gặp gỡ các tầng lớp nhân đan Thủ đô, kêu gọi toàn dân đoàn kết, không nghe theo luận điệu tuyên truyền phản dân hại nước của bọn Việt quốc, Việt cách, thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi thiêng liêng của công dân yêu nước.

15 giờ ngày 5-1-1946, tại Việt Nam học xá (nay là khu Đại học Bách khoa), thay mặt các ứng cử viên của Quốc hội tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với đồng bào dự mít tinh: “Làm việc nước bây giờ là hy sinh phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì không nên bầu”(1). Cùng ngày, Người viết “Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu” bầu đại biểu Quốc hội – những người ra gánh vác việc nước, trong đó, Người căn dặn đại biểu Quốc hội: “Những người trúng cử sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào.

Phải luôn luôn nhớ và thực hành câu: vì lợi nước, quên lợi nhà; vì lợi chung, quên lợi riêng. Phải làm cho xứng đáng với đồng bào, với Tổ quốc. Người không trúng cử, cũng không nên ngã lòng… ở trong Quốc hội hay ở ngoài Quốc hội, mình cũng cứ ra sức giúp ích nước nhà”(2).

Ngày 6-1-1946, Hà Nội tưng bừng trong ngày hội lớn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đến địa điểm hòm phiếu ở số 10 phố Lý Thái Tổ thực hiện nghĩa vụ công dân, sau đó, Người đi thăm hỏi cử tri ở phố Hàng Bạc, Hàng Đào, Lò Đúc, Thụy Khuê, Hồ Khẩu, Yên Thái… Hình ảnh vị Chủ tịch nước giản dị, gần gũi trong ngày bầu cử mãi khắc sâu trong tâm khảm nhân dân. Người đã được  bầu với số phiếu cao nhất.

Ngày12-1-1946, Hà Nội tổ chức mít tinh mừng thắng lợi của Tổng tuyển cử. Thay mặt các đại biểu Quốc hội đã trúng cử, Hồ Chủ tịch cảm ơn nhân dân Hà Nội, biểu dương nhân dân Hà Nội và cả nước, trong hoàn cảnh khó khăn phức tạp đã làm tròn nhiệm vụ của người công dân yêu nước. Người căn dặn đồng bào ra sức củng cố và giữ gìn độc lập. Kết thúc bài phát biểu, Hồ Chủ tịch hứa: “Trước sự khó khăn của nước nhà, chúng tôi xin đi trước. Với việc giữ gìn nên độc lập, chúng tôi xin đi trước”.

Ngày 2-3-1946, kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa I được tổ chức, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời khai mạc, báo cáo trước Quốc hội những việc chính phủ liên hiệp lâm thời đã làm trong 6 tháng: Ra sức kháng chiến; giảm bớt đói kém bằng cách thực hành tiết kiệm, tăng gia sản xuất; tổ chức Tổng tuyển cử; bầu Quốc hội thành công. Quốc hội đã nhất trí thành lập Chính phủ mới – Chính phủ kháng chiến với 10 Bộ do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, Nguyễn Hải Thần làm Phó chủ tịch.

Thay mặt Chính phủ kháng chiến, Người đọc lời tuyên thệ thiêng liêng trước bàn thờ Tổ quốc, trước Quốc hội: “Cương quyết lãnh đạo nhân dân kháng chiến, thực hiện nền dân chủ cộng hòa Việt Nam, mang lại tự do, hạnh phúc cho dân tộc. Trong công việc giữ gìn nền độc lập, chúng tôi quyết vượt nỗi khó khăn dù phải hi sinh tính mệnh cũng không từ”(3).

Thực hiện lời tuyên thệ, Hồ Chủ tịch đã lãnh đạo chính phủ tiếp tục kháng chiến kiến quốc, củng cố chính quyền, thành lập mặt trận liên Việt mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến.

Ngày 31-10-1946, tại kỳ họp thứ hai của Quốc hội, Người được giao trọng trách tiếp tục làm Chủ tịch nước. Đọc lời tuyên thệ, Hồ Chủ tịch thẳng thắn bày tỏ: “Hồ Chí Minh không phải là kẻ tham quyền cố vị, mong được thăng quan phát tài(…) Tôi xin tuyên bố trước Qốc hội, trước quốc dân, trước thế giới: Tôi chỉ có một đảng, đảng Việt Nam. Tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và thế giới, chính phủ sau đây phải là chính phủ liêm khiết”(4). Quốc hội đã nhất trí thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đặt nền móng cho tổ chức và hoạt động luật pháp của Nhà nước. Đó là một sự kiện  lớn có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử Quốc hội nước ta.

Năm 1960, nhìn lại những ngày tháng cam go ấy, trong bài “Quốc hội thật vĩ đại, Hồ Chủ tịch viết: “Hồi đó, có người nói: nhân dân ta trình độ non kém, không nên vội tổ chức Tổng tuyển cử, nhưng Đảng ta kiên quyết nói: đồng bào ta phải được hưởng quyền dân chủ, chúng ta phải tổ chức Tổng tuyển cử.(…) Quốc hội đầu tiên trong lịch sử Việt Nam – Quốc hội khóa I – đã được toàn dân bầu ra(…) Quốc hội khóa I của ta là Quốc hội kháng chiến”(5).

Tự mình làm gương đạo đức cách mạng: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, trước toàn đảng toàn dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã là người tổ chức và là linh hồn của Quốc hội, phát huy được sức mạnh đoàn kết của mọi tầng lớp nhân dân để chống thù trong giặc ngoài, xây dựng chính quyền thực sự do dân, vì dân, thực hiện dân chủ và dân quyền của nhân dân. Đó chính là cội nguồn để ngọn cờ độc lập dân tộc được giữ vững trước muôn vàn thử thách của giặc giã, đói nghèo, lạc hậu.

Ths Phạm Kim Thanh

(1), (2),(3),(4): Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 4, NXB CTQG,H.1995, tr

(5): Hồ Chí Minh, toàn tập , tập 10, NXB CTQG, H.1996, tr

anninhthudo.vn

Giới thiệu cuốn sách “Hồ Chí Minh – Một biên niên sử”

(VOV) – Cuốn sách gồm 25 chương, dài gần 300 trang tái hiện tiểu sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh do dịch giả Đinh Hương và Thiên Hà biên dịch.

Nhân kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và 35 năm thiết lập ngoại giao Đức – Việt, chiều 19/5/2010 tại Hà Nội, Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức giới thiệu cuốn sách “Hồ Chí Minh – Biên niên sử” của tác giả người Đức Hellmut Kapfenbeger. Cuốn sách viết về các thời kỳ hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cuốn sách Hồ Chí Minh – Một biên niên sử” gồm 25 chương, dài gần 300 trang tái hiện tiểu sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh do dịch giả Đinh Hương và Thiên Hà biên dịch. Dưới ngòi bút của tác giả Hellmut Kapfenbeger, người đọc được dẫn dắt qua những chặng đường hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là quá trình học tập của Hồ Chí Minh để tiếp thu truyền thống yêu nước của gia đình, của dân tộc, tinh hoa văn hóa Phương Đông và Phương Tây; khoảng thời gian Hồ Chí Minh ra đi bôn ba khắp thế giới để tìm hiểu xã hội tư bản và cuộc sống tại các nước thuộc địa; quá trình trưởng thành trong nhận thức và tư duy thông qua hoạt động xã hội – chính trị tại Pháp, Liên Xô…

Nhà báo Kapfenberger (trái) tại nhà riêng với cuốn sách và bức phù điêu
Hồ Chí Minh

Phát biểu tại buổi giới thiệu sách, ông Trần Đoàn Lâm, Giám đốc Nhà xuất bản Thế giới nói: “Điểm nổi bật của cuốn sách chính là viết và kết hợp một cách rất khéo léo giữa nghiên cứu lịch sử và kể truyện lịch sử nhưng kể truyện lịch sử không rơi vào hoang đường, dã sử mà kể truyện lịch sử trên cơ sở tư liệu lịch sử rất dễ chấp nhận với bạn đọc phương Tây. Ai đọc cuốn sách này cũng nhận biết được quan điểm và thái độ của tác giả khi đánh giá và tiếp cận những chi tiết và lịch sử về Bác Hồ”.

Qua tác phẩm, tác giả Hellmut Kapfenbeger cũng khẳng định rằng: Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một chiến sỹ cộng sản, nhà yêu nước vĩ đại đấu tranh không mệt mỏi vì độc lập tự do hạnh phúc cho dân tộc mình và cho toàn bộ những người lao động bị áp bức bóc lột mà là một con người mẫu mực về phẩm chất đạo đức cách mạng./.

Phương Thoa

vov.vn

Hồ Chí Minh và hành trình cứu nước

Bến cảng Nhà Rồng, nơi Bác Hồ bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước. Ảnh: Lê Toàn

(baodautu.vn) Năm 2011, tròn 100 năm kể từ ngày Người khởi xướng con đường đấu tranh cho độc lập, tự do, chúng ta cùng nhìn lại con đường Người đã chọn, trở thành ngọn cờ vẫy gọi cả dân tộc vùng lên, chung sức, đồng lòng, phá tan xiềng xích thực dân, đế quốc, giành lại quyền tự chủ, giành lại giống nòi, giang sơn gấm vóc Việt Nam.

Lối đi riêng đến phương trời mới

Một ngày đầu mùa hạ năm 1911, ở tuổi 20, ấp ủ biết bao hoài bão và lòng tin, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành rời bến cảng Nhà Rồng, bắt đầu hành trình cứu nước.

Như bao người yêu nước đương thời, Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh quyết định xuất dương nhằm xem xét, tìm hiểu thế giới, quan sát cuộc sống của các dân tộc, nhất là những dân tộc bị áp bức, đọa đày, để từ đó tìm ra con đường cho dân tộc Việt Nam tự giải phóng mình.

Trân trọng, khâm phục tâm huyết của các bậc tiền bối, nhưng vượt thoát khỏi phương sách cứu nước nhờ vào trợ giúp của nước ngoài hay xu hướng cải lương, Hồ Chí Minh đã tự xác định lối đi riêng bằng nhận thức và bằng linh cảm của chính mình.

Trong mười năm đầu của cuộc hành trình, cùng con tàu của Hãng Năm Sao (Pháp) mang tên Amiran Latouche Tréville, Hồ Chí Minh bôn ba qua nhiều lục địa. Cuối năm 1917, khi chiến tranh thế giới (thực chất là cuộc chiến tranh giữa các nước đế quốc) ở thời kỳ ác liệt nhất, Hồ Chí Minh trở lại Pháp tiếp tục hoạt động. Ngày 18/6/1919, các nước họp Hội nghị Hoà bình tại Versaille, thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Người gửi đến Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam (gồm 8 điểm và ký tên Nguyễn Ái Quốc), đòi chính phủ Pháp thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam.

Nhưng các nước đế quốc không hề để ý tới những yêu cầu trên. Điều này cho thấy, những lời tuyên bố của Mỹ và các nước đế quốc khác về tự do, dân chủ, tự trị, độc lập hoàn toàn chỉ là sự lừa bịp. Hồ Chí Minh nhận ra rằng, muốn được độc lập và tự do thật sự, các dân tộc bị áp bức phải dựa vào sức mình là chính; người Việt Nam phải tự giải phóng mình.

Thời gian ở Pháp, Hồ Chí Minh đã có những chuyển biến mạnh mẽ mang tính bước ngoặt về nhận thức, tư tưởng. Người biết đến Cách mạng Tháng Mười Nga và bắt gặp Chủ nghĩa Lênin.

Người tự bạch: “… Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”. Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”.

Chuẩn bị cho cuộc cách mạng dân tộc giải phóng

Ủng hộ Cách mạng Tháng Mười, tin theo Chủ nghĩa Lênin, Hồ Chí Minh tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, tán thành Quốc tế thứ ba do Lênin lập ra (1920). Trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên là sự kiện lớn đánh dấu bước ngoặt trong quá trình hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh; từ chủ nghĩa yêu nước, Người đến với Chủ nghĩa Cộng sản.

Cuộc gặp gỡ ấy được cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng (người đồng chí thân thiết – học trò xuất sắc của Hồ Chí Minh) mô tả một cách hình ảnh: “Tia lửa chân lý lóe bừng khi đọc luận cương của Lênin, đã gặp những chất liệu được chuẩn bị sẵn trong tư tưởng và tâm hồn Hồ Chí Minh để cháy thành ngọn lửa của lý luận về cách mạng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, theo luận điểm cách mạng giải phóng dân tộc gắn với cách mạng xã hội chủ nghĩa”.

Những việc làm quan trọng nhất của Hồ Chí Minh ở Paris những năm 1920 đánh dấu sự bắt đầu hình thành và đi vào cuộc sống của một chiến lược cách mạng vừa có ý nghĩa dân tộc, vừa có ý nghĩa quốc tế. Hồ Chí Minh lập ra “Hội những người Việt Nam yêu nước”, tham gia sáng lập “Hội liên hiệp thuộc địa” và ra báo “Người cùng khổ” (Le Paria). Đồng thời, thông qua những trang viết trần trụi về thực tế cuộc sống, với những chi tiết khốc liệt, không lý luận, không triết lý trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Hồ Chí Minh đã “vạch mặt” được đối tượng của cách mạng, chỉ ra phương hướng đấu tranh của dân tộc và nhân loại bị áp bức.

Tiếp đó, Người tiến hành một cuộc vận động cách mạng kiên trì, gian khổ trên phạm vi quốc tế cũng như ở trong nước; truyền bá những quan điểm cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin và con đường của cách mạng Việt Nam do Người đề xướng tới công nhân, nông dân và những người Việt Nam yêu nước thông qua “Hội Việt Nam cách mạng thanh niên” và tờ báo của Hội (Quảng Châu, Trung Quốc – 6/1925).

Những “hạt giống đỏ” được gieo mầm từ lớp huấn luyện Quảng Châu trở thành hạt nhân trong phong trào đấu tranh cách mạng của dân tộc những năm sau đó. Và các bài giảng của Hồ Chí Minh tại lớp huấn luyện Quảng Châu đã được tập hợp lại rồi in thành cuốn “Đường kách mệnh”, xác định đối tượng, vai trò của cách mạng thuộc địa đối với cách mạng chính quốc và khả năng thắng lợi của cách mạng thuộc địa.

Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và những luận điểm được trình bày trong Đường kách mệnh đã trực tiếp chuẩn bị về tư tưởng, lý luận, chính trị và tổ chức, tạo những điều kiện cần thiết cho sự ra đời của một đảng vô sản ở Việt Nam.

Mùa Xuân năm 1930, tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc), Hồ Chí Minh đã chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, ra tuyên bố thành lập Đảng cộng sản Việt Nam. Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt, Lời kêu gọi thành lập Đảng do Hồ Chí Minh soạn thảo đã được Hội nghị thông qua và trở thành Cương lĩnh của Đảng, là ngọn cờ tập hợp, đoàn kết toàn dân trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Trở về Tổ quốc, đưa dân tộc đến bến bờ độc lập, tự do

Trở về nước vào dịp Tết Tân Tỵ (Xuân 1941) qua cửa ngõ Cao Bằng trên biên giới Việt Nam – Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã cùng Trung ương Đảng chuẩn bị và tổ chức Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (họp từ ngày 10 đến 19/5/1941, tại Pác Bó, Cao Bằng), nhằm giải quyết mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và dân chủ. Đây là hội nghị có tính chất bước ngoặt, hoàn chỉnh đường lối giải phóng dân tộc.

Theo đề nghị của Hồ Chí Minh, Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh – 19/5/1941) đã được thành lập. Kể từ đây, diễn ra một quá trình chuẩn bị khởi nghĩa vô cùng sôi sục dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Hồ Chí Minh. Các khu căn cứ địa cách mạng hình thành; đoàn thể cách mạng quần chúng lần lượt ra đời; lực lượng vũ trang cách mạng cũng được thành lập, sẵn sàng đón thời cơ.

Những ngày đầu tháng 8/1945, khi thời cơ xuất hiện, Hồ Chí Minh quyết định triệu tập Quốc dân Đại hội vào trung tuần tháng 8, dù các đại biểu chưa về đủ. Ngày 13/8, Trung ương Đảng ra lệnh khởi nghĩa và chỉ trong hai tuần, cuộc Cách mạng tháng Tám “long trời lở đất” đã nổ ra và giành thắng lợi trên khắp cả nước. Thành quả lớn nhất của cuộc cách mạng là nền độc lập, tự do của dân tộc và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Trong buổi lễ trọng đại của dân tộc và dưới nắng vàng của buổi chiều Thu ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân và thế giới: “…Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do, độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.

Lời tuyên ngôn bất hủ đó là lời khẳng định giá trị của độc lập, tự do, cũng chính là lời hiệu triệu toàn thể dân tộc Việt Nam chung sức, đồng lòng, kề vai, sát cánh quyết tâm giữ vững thành quả của Cách mạng tháng Tám 1945.

Kể từ mùa Thu lập nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta luôn giữ vững tinh thần đoàn kết, đạp bằng mọi khó khăn, gian khổ, kiên trì kháng chiến chống Thực dân Pháp ròng rã 9 năm trường và làm nên thiên sử vàng Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”.

Nhưng Pháp bại, Mỹ lại thừa cơ nhảy vào với âm mưu thâm độc chia cắt vĩnh viễn nước ta, chà đạp lên nền độc lập, tự do, sự toàn vẹn của non sông gấm vóc Việt Nam. Trận đụng đầu lịch sử với thế lực hùng mạnh nhất hành tinh ấy, thắng lợi cuối cùng thuộc về nhân dân ta, với mốc son Đại thắng mùa Xuân (30/4/1975)- ngày hội thống nhất non sông – ngày vui trong nước mắt dâng trào – ngày mà triệu triệu con tim Việt Nam tha thiết gọi tên Hồ Chí Minh, hình ảnh vĩ đại của Người như rực sáng trong “ngày vui đại thắng”.

Lê Quang Lạng
Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam

baodautu.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh: Sinh khí của một học thuyết

Tư tưởng Hồ Chí Minh, sắc lại, vì con người, do con người. Suy thoái đạo đức là khởi điểm cho mọi suy thoái. Tư tưởng Hồ Chí Minh từng chấp nhận cái mềm dẻo cần thiết cho đại cục nhưng chính trong những hy sinh thông minh ấy, phẩm chất con người, xã hội phải được củng cố hơn bao giờ hết, nếu không, những bước lùi sẽ là quá trình tuột dốc “không phanh” chẳng hé ra tiền đề cho những bước tiến…

…………………………………………..

1. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, theo tôi nghĩ, là nghiên cứu đồng thời ba bộ phận hợp thành một tổng thể:

– Trước tác.

– Cuộc đời.

– Diễn biến của đất nước, xã hội và con người Việt Nam từ khi tư tưởng Hồ Chí Minh tác động tại đây cho đến hôm nay.

Cả ba bộ phận hợp thành đều mang tầm quan trọng như nhau, bổ sung cho nhau, cả ba cộng lại mới đủ sức vẽ lên trung thực toàn bộ và hệ thống một tư tưởng lớn của Việt Nam và thời đại.

Trước tác là mặt biểu thị trực tiếp nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh. Qua các bài báo, phát biểu, sách, sáng tác văn học, lời kêu gọi… suốt 5 thập kỷ (1919 – 1969), chúng ta biết được quan điểm của Người trước các vấn đề đặt ra cho vận nước và một số vấn đề đặt ra cho loài người. Tuy nhiên, sẽ chỉ tiếp cận một phần tư tưởng Hồ Chí Minh nếu chúng ta chủ yếu nghiên cứu tư tưởng của Người qua trước tác, Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng gắn chặt tư duy với hành động thực tiễn.

Cuộc đời của Người từ buổi thanh niên đến khi vĩnh biệt chúng ta nối dài một chuỗi hoạt động cách mạng không ngơi nghỉ. Tư tưởng của Người hóa thân vào các ứng xử cả tầm chiến lược lẫn trong giao tiếp đời thường. Chính phạm vi hoạt động của Người, công tác mà Người đảm trách, mối quan hệ của Người với đủ đối tượng và nhất là chính với tư cách con người mà Người sống với chung quanh đã nói thậm chí nhiều hơn những gì Người lưu lại cho chúng ta trong Toàn tập.

Cái mà có người gọi là tác phong Hồ Chí Minh phản ánh một lối sống gần với tự nhiên, xuất phát từ sự chân thật trong cốt cách. Trước tác và cuộc đời của Hồ Chí Minh rất phong phú, song cũng chưa phản ánh trọn vẹn tư tưởng của Người. Không thể xem quá trình diễn biến của cách mạng, đất nước, xã hội và con người Việt Nam từ 1920, 1930, đặc biệt từ 1945 và nhất là hiện nay như ngoại biên của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Làm sao hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh nếu không hiểu cái gì là trung tâm dẫn đồng bào ta thực hiện toàn thắng cuộc cách mạng tháng Tám, hai cuộc kháng chiến và đang thực hiện thắng lợi bước đầu sự nghiệp Đổi mới. Sự đứng vững của Việt Nam trước cơn khủng hoảng cực kỳ gay gắt dẫn đến sự sụp đổ của nhiều nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Liên Xô, cơn thoái trào cách mạng xã hội chủ nghĩa thế giới và ngay những thành tựu kinh tế hiện nay của nước ta cũng không ra khỏi sự hướng dẫn của tư tưởng Hồ Chí Minh – có những thoát ly đấy và đã thoát ly tư tưởng Hồ Chí Minh thì không phải là thành tựu mà trái lại hoặc dự báo cho cái rất xấu khó tránh khỏi dù với toàn cục hay với từng cá nhân.

Như vậy, quỹ đạo của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với Việt Nam hết sức rộng.

2. Tư tưởng Hồ Chí Minh được ấp ủ lâu dài trong cái nôi chủ nghĩa yêu nước, tẩm mình sâu sắc trong hồn dân tộc, là kết tinh của truyền thống nhiều nghìn năm dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam. Trên cái nền kiên cố ấy, trên mảnh đất phì nhiêu ấy, tư tưởng Hồ Chí Minh gạn lọc các hạt giống trí tuệ cổ kim phương Đông, phương Tây và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, sản phẩm khoa học hiện đại vào một đất nước cụ thể. Người ta không thể tìm thấy chủ nghĩa quốc gia cực đoan, thủ cựu, hẹp hòi, vị kỷ, cũng như người ta không thể tìm thấy chủ nghĩa quốc tế không tưởng trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh – lúc còn là Nguyễn Ái Quốc – đã nói rõ chủ nghĩa Lênin cung cấp cho Người chủ yếu nhất là điều gì và tại đại hội Tours, một đại hội của những đảng viên xã hội và cộng sản, Người nhấn mạnh quan điểm của mình. Chủ nghĩa quốc tế vô sản đến với Người tức đến với nước Việt Nam thuộc địa, chậm tiến và Người thể hiện sự nghiệp quốc tế qua sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người – giải phóng tập thể dân tộc thoát khỏi ách nô lệ nước ngoài đồng thời giải phóng những “cùng đinh” thoát khỏi “giặc đói, giặc dốt”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng Mác-Lênin đã được tiêu hóa vào không gian và thời gian xác định, lấy cái cốt lõi giải phóng con người khỏi ách áp bức, tự do hóa tiềm năng con người bắt đầu từ một đối tượng cụ thể là đồng bào của Người. Để thực hiện nhiệm vụ đó, tư tưởng Hồ Chí Minh dựa trên nguyên lý giải phóng con người bị áp bức trong xã hội tư bản, trong các xứ thuộc địa nói chung để tìm ra phương thức giải phóng con người Việt Nam. Tất nhiên, trào lưu giải phóng vốn đa dạng, tư tưởng Hồ Chí Minh chọn khả năng tối ưu hơn cả.

Tư tưởng Hồ Chí Minh chấm dứt ở Việt Nam mặc cảm “nỗi buồn nhược tiểu” và trang bị cho những người dân Việt Nam bình thường niềm tự tin khả năng “đào núi lấp biển, có chí cũng làm nên”.

3. Tư tưởng Hồ Chí Minh tất nhiên là tư tưởng chính trị, định hướng chính trị song mang đặc thù dễ phân biệt với các tư tưởng đương thời khác ở phần lớn biểu hiện của tư tưởng dưới dạng văn hóa. Nói cách khác, tư tưởng Hồ Chí Minh tác động vào xã hội như một sức mạnh văn hóa, sức mạnh hợp chất lý và tình, tổng quát và đơn lẻ, thuyết phục bằng cảm hóa. Đặc thù này bộc lộ rõ và trở thành xuyên suốt từ 1945, tức từ khi nước ta giành được độc lập, Đảng Cộng sản trở thành đảng cầm quyền.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một thành tố quan trọng trong nền văn hóa dân tộc Việt Nam, là chuẩn mực bổ sung cho nền luân lý truyền thống. Cũng có thể xem tư tưởng Hồ Chí Minh đã hiện đại hóa nền luân lý lâu đời của Việt Nam. Cái đáng lưu ý là tư tưởng Hồ Chí Minh như giáo huấn xã hội chủ nghĩa mà không mâu thuẫn với giáo huấn dân tộc cổ truyền thậm chí dân gian. Gạch nối này tôn tạo văn hóa dân tộc, đồng thời truyền bá các tri thức hiện đại, các khái niệm đạo đức hiện đại.

Tự biểu hiện đến trình độ một nền văn hóa, tư tưởng Hồ Chí Minh thâm nhập vào xã hội, ảnh hưởng đến nếp nghĩ, nếp sống hàng chục triệu người, đến quan hệ cộng đồng và đến sự tu thân cá nhân. Đạo đức Hồ Chí Minh, phần kết tinh lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chúng ta có thể cắt nghĩa hiện tượng trên ở chỗ tư tưởng Hồ Chí Minh xuất phát từ chữ “Cứu” – cứu nước, cứu dân, cứu người – và ở chỗ một tư tưởng đạt mức xã hội hóa như thói quen cần phải giữ gìn, vun bồi của mọi người Việt Nam thuộc mọi giới, mọi lứa tuổi…

Theo tôi, về phương diện này, tư tưởng Hồ Chí Minh đã “đắc đạo”.

4. Tư tưởng Hồ Chí Minh coi rất trọng đoàn kết dân tộc trong các lĩnh vực đấu tranh. Việt Nam là nước nhỏ, luôn phải đối phó với nạn xâm lược nước ngoài, tồn tại trong điều kiện thiên nhiên có nơi rất khắc nghiệt. Cho nên, những “tình làng, nghĩa xóm”, “đồng bào”, “người chung một nước”, v.v… đã nối liền nhân dân ta suốt nhiều nghìn năm. Đó cũng là cái lẽ sinh tồn của dân tộc. Tư tưởng Hồ Chí Minh thừa kế gia tài đồ sộ, giàu có ấy, mở rộng biên độ khái niệm quần chúng đến tất cả những ai vẫn còn thừa nhận mình là con dân nước Việt Nam.

Sáng tạo này nắm được cái hồn của nhận thức đấu tranh giai cấp và nhờ đó đã hóa giải khôn ngoan những đối kháng về quyền lợi bộ phận trong những hoàn cảnh nhất định phục vụ tập trung cao nhất cho quyền lợi toàn cục, bởi vì mục tiêu của cách mạng đồng thời phải là mục tiêu của nhân dân lao động và, trong các trường hợp xác định, mục tiêu ấy thống nhất với đòi hỏi của dân tộc và tình thế. Chỉ có như vậy, hành động cho cái chung mới huy động được đông đảo người tham gia.

“Đại đoàn kết” của tư tưởng Hồ Chí Minh là một tư duy triết học, khác với một số nhà tư tưởng đương thời khi họ có quan điểm cực đoan về mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, tách biệt hoặc đối lập một cách siêu hình các tầng lớp xã hội cơ bản với các tầng lớp xã hội khác, khiến quá trình cách mạng vừa chậm vừa khó khăn không đáng có. Tư tưởng Hồ Chí Minh cố tìm mẫu số chung của toàn dân tộc thay vì khoét sâu sự cách biệt, đặt tiến trình xoáy trôn ốc đi lên của lịch sử trên căn bản quy tụ thay vì loại trừ.

5. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã thực hiện nhiệm vụ lịch sử: Đưa Đảng Cộng sản trở nên chính đảng đại biểu của dân tộc mà không làm nhòa tính công nhân tiền phong. Chính ý thức thời đại cho phép tư tưởng Hồ Chí Minh thành đạt trong vấn đề mấu chốt này cả trên bình diện lý luận lẫn thực tiễn, cả trong quá trình giành độc lập dân tộc lẫn thời kỳ xây dựng xã hội mới.

Xử lý vấn đề mấu chốt này liên quan đến ba trọng điểm: một, Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân phải thể hiện cho được ý nghĩa tiền phong chính yếu là đi đầu một đội ngũ quần chúng đông đúc, gồm tuyệt đại đa số dân tộc, không biệt phái, không đứng trên mà đứng trong đội ngũ ấy; hai, chủ nghĩa quốc tế vô sản hòa nhập với dân tộc, cái phổ cập phải được đặc thù hóa, Đảng Cộng sản phải tự trở thành đảng của dân tộc; ba, khi đảng đã cầm quyền, sự thống nhất lên đến mức cao giữa giai cấp, nhân dân, dân tộc, quốc gia và đảng mà lợi ích bao trùm là lợi ích dân tộc – dân tộc không tự tôn, không tham vọng bá quyền, thông cảm và đoàn kết với mọi lực lượng tiến bộ, tán thành, ủng hộ cái đúng, chống cái sai bất kể từ đâu đến, khôn khéo (song tự trọng), tự xếp mình như mọi dân tộc khác trong cộng đồng thế giới.

6. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một khoa học, nó luôn tiếp nhận sự bồi bổ từ trí tuệ, thực tế phát triển của Việt Nam và thế giới. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh vào đầu thế kỷ XXI này tức nghiên cứu một tầng nấc cụ thể của tư tưởng ấy sau nhiều chục năm vận động. Cũng như nghiên cứu các học thuyết Phật, Lão, Khổng, Thiên Chúa, Mác… điều chúng ta quan tâm phát hiện là phương pháp tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dù rằng trong tư tưởng Hồ Chí Minh không hiếm những giáo huấn đã dân gian hóa.

Giữa một thế giới biến động – và đảo lộn nữa – Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh và đôi phần khiêm tốn mà chúng ta vừa giành được trong những năm qua khẳng định rằng con đường chúng ta đi dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh là đúng. Tuy nhiên, nếu nhìn thực trạng Việt Nam hiện nay, chúng ta dễ dàng thấy sự tuân thủ tư tưởng Hồ Chí Minh chưa nghiêm, nếu không nói là lơi lỏng.

Trong thứ tự: tu thân, tề gia, trị quốc, chúng ta đã vấp hai cái đầu, do vậy, trị quốc rơi vào chỗ khó khăn – sẽ còn khó khăn hơn. Bên ngoài – những người Cộng sản, những người xã hội chủ nghĩa, những người tiến bộ và đương nhiên, luôn kẻ thù – theo dõi chúng ta với niềm tin, nỗi lo và sự đố kỵ. Tư tưởng Hồ Chí Minh giúp chúng ta vượt cơn thử thách một cách ngoạn mục, nhưng sự suy thoái đạo đức đe dọa chúng ta. Trong sự suy thoái ấy, óc độc tôn, độc quyền tất nhiên đẻ ra đẳng cấp “ăn trên ngồi trước”, hủy hoại thành quả cách mạng, nguy hiểm hơn mọi âm mưu thâm độc nhất của kẻ thù.

Trong bối cảnh thế giới hiện nay, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh đồng thời có nghĩa nghiên cứu về một thời sự: chủ nghĩa xã hội, chế độ định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển đất nước trong lúc cả phong trào xã hội chủ nghĩa gặp khó khăn nghiêm trọng ở một nước không đông lắm về dân số, không rộng lắm về đất đai, không phát triển lắm về kinh tế. Tất nhiên, đây là một chủ nghĩa xã hội xét từ thực chất, tức không phải mang trong nó chủ nghĩa bành trướng, không đối địch với nhân quyền, kết hợp dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng và đạo lý trong một thể hài hòa, nói cách khác, phù hợp với tư trào hiện đại của loài người.

Tất nhiên, tư tưởng Hồ Chí Minh không thể cho tất cả đáp số của mọi bài toán nảy sinh trong mọi điều kiện lịch sử, đó cũng không phải là thánh kinh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh, sắc lại, vì con người, do con người. Suy thoái đạo đức là khởi điểm cho mọi suy thoái. Tư tưởng Hồ Chí Minh từng chấp nhận cái mềm dẻo cần thiết cho đại cục nhưng chính trong những hy sinh thông minh ấy, phẩm chất con người, xã hội phải được củng cố hơn bao giờ hết, nếu không, những bước lùi sẽ là quá trình tuột dốc “không phanh” chẳng hé ra tiền đề cho những bước tiến.

Đến nay, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời đã 34 năm. Tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn sống với chúng ta. Nhưng, cần phải nhớ chính hôm nay, ngày mai, chính những người Cộng sản Việt Nam, chính nhân dân Việt Nam là tác giả nối tiếp trên tư duy, trong tình cảm và trên thực địa tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh đã bảo vệ thành công sự nghiệp xây dựng đất nước, xã hội, con người Việt Nam qua bao nhiêu giông tố – không phải lãnh tụ của quốc gia nào cũng làm được như thế.

Đó là một học thuyết đầy sinh khí.

Hạnh phúc đối với dân tộc Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam có tư tưởng Hồ Chí Minh. Càng hạnh phúc khi tư tưởng ấy, học thuyết ấy được kế thừa theo tinh thần trung thành các nguyên lý bản chất và luôn được bổ sung, đổi mới.

TRẦN BẠCH ĐẰNG – 3-1993
(theo Đến với Tư tưởng Hồ Chí Minh – NXB Trẻ – 2-2007)

Tuổi trẻ Onlnie

Ứng cử viên Hồ Chí Minh

Bác Hồ với nông dân (từ sách Ánh sáng từ sông Hồng, 1955 - của nhà báo Đức Franz Faber)

TTCT – Ngày 10-12-1945, danh sách ứng cử viên khu vực Hà Nội được niêm yết rộng rãi. Trong danh sách, Bác đứng thứ hai sau cụ Nguyễn Văn Tố. Tất cả 74 ứng cử viên, chọn lấy sáu đại biểu.

>>Vị Chủ tịch với người bạn cũ
>>Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản tinh thần vô giá
>>Hai bộ sưu tập tranh độc đáo về Bác Hồ
>>Chuyên trang mới trên Tuổi Trẻ Online: Theo gương Bác

Một điều bất ngờ với Chủ tịch Hồ Chí Minh trước ngày tổng tuyển cử là: tại thủ đô Hà Nội, 118 chủ tịch các UBND và tất cả đại biểu làng xã tại Hà Nội đã nhất trí công khai một bản kiến nghị.

Nội dung bản kiến nghị là: Yêu cầu Cụ Hồ Chí Minh được miễn phải ứng cử trong cuộc tổng tuyển cử sắp tới vì Cụ đã được toàn dân suy tôn là Chủ tịch vĩnh viễn của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đáp lại nguyện vọng trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư trả lời đồng bào ngoại thành Hà Nội:

“Tôi rất cảm động được đồng bào quá yêu mà đề nghị: tôi không phải ra ứng cử, đồng bào các nơi khắc cử tôi vào Quốc hội. Nhưng tôi là một công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nên tôi không thể vượt khỏi thể lệ của cuộc tổng tuyển cử đã định.

Tôi ra ứng cử ở Hà Nội, nên không thể ra ứng cử ở nơi nào nữa.

Xin cảm tạ đồng bào đã có lòng yêu tôi và yêu cầu toàn thể đồng bào hãy làm tròn nhiệm vụ người công dân trong cuộc tổng tuyển cử sắp tới”.

Mặc dù tất cả ứng cử viên đã được đăng tiểu sử kèm theo ảnh trên báo, nhưng cử tri còn muốn được trực tiếp nghe các ứng cử viên nói rõ chương trình hành động của mình. Đó là những cuộc tiếp xúc rộng rãi, diễn ra hết sức sôi nổi ở khắp mọi nơi, trong một khung cảnh thật sự tự do và dân chủ.

Chiều 5-1-1946, Bác đến Khu học xá (nay là Trường đại học Bách Khoa, Hà Nội) cùng các ứng cử viên gặp gỡ cử tri.

Hôm ấy, trước đông đảo quần chúng có mặt, Bác đã nói với các ứng cử viên:

“… Vừa rồi đây, ta vừa giành được độc lập. Một số ít người, chỉ một số ít thôi, đã quên cái công khó nhọc của dân chúng. Ta đã phải hi sinh nhiều mới có cái quyền cầm lá phiếu ngày nay đó. Cụ Phan Đình Phùng, cụ Hoàng Hoa Thám đã khó nhọc vì cái quyền dân chủ ấy lắm. Biết bao người đã bị bắn, bị chém, đã đeo cái tên chính trị phạm và bị nhốt đầy các nhà tù Sơn La, Côn Đảo, Ban Mê Thuật mới đòi được cái quyền dân chủ ngày nay…”.

Bác Hồ còn quay sang phía các ứng cử viên nhắc nhở:

“Làm việc nước bây giờ là hi sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ đến lợi chung…”.

Rồi hướng về các cử tri, Bác căn dặn: “Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu. Ngày mai, không ai ép, không ai mua, toàn dân sẽ thực hiện cái quyền dân chủ ấy…”.

Sáng 5-1-1946, lời kêu gọi quốc dân đi bầu cử của Chủ tịch Hồ Chí Minh được các báo đều đăng:

“Ngày mai, mồng 6 tháng Giêng năm 1946.

Ngày mai, là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ:

Ngày mai, là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình.

Ngày mai, dân ta sẽ tỏ cho các chiến sĩ ở miền Nam rằng: về mặt quân sự thì các chiến sĩ dùng súng đạn mà chống quân thù. Về mặt chính trị, thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống với quân địch. Một lá phiếu cũng có sức lực như một viên đạn.

…

Ngày mai, dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình, và gánh vác việc nước.

Ngày mai, người ra ứng cử thì đông, nhưng số đại biểu thì ít, lẽ tất nhiên, có người được cử, có người không được cử.

Những người trúng cử sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào. Phải luôn luôn nhớ và thành thực câu: Vì lợi nước, quên lợi nhà; vì lợi chung, quên lợi riêng…”.

Đúng 7g sáng 6-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng hàng vạn cử tri thủ đô đi làm nghĩa vụ công dân.

Tư liệu TTXVN

Mùa thu lịch sử


Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Người sống mãi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam!
nhoNguoicha

Quyền lực và đạo đức

Quyền lực, quyền uy, đạo đức trong xã hội có giai cấp, trong điều kiện đảng cầm quyền có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhận thức đúng điều này sẽ góp phần nâng cao đạo đức cách mạng, chống suy thoái về đạo đức.

…………………………………………..

Theo “Từ điển tiếng Việt”, quyền lực được hiểu là “quyền định đoạt mọi công việc quan trọng về mặt chính trị và sức mạnh để bảo đảm việc thực hiện quyền ấy”… Còn theo “Từ điển từ và ngữ Hán – Việt” của Giáo sư Nguyễn Lân thì quyền lực được hiểu “sức mạnh của quyền lực được giao để bắt buộc người khác phải theo (ví dụ: Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của cả nước). Còn quyền uy – cũng theo Nguyễn Lân – là quyền lực và uy thế.

Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội, đối với chính đảng của mình và đối với chính đảng và các giai cấp khác…. Những khái niệm về thiện và ác, về lương tâm và danh dự, nghĩa vụ và quyền lợi, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng… là những phạm trù thuộc ý thức đạo đức. Đạo đức mang tính giai cấp. Đạo đức chiếm vị trí chi phối, giữ địa vị thống trị đạo đức xã hội là đạo đức của giai cấp cầm quyền.

Như vậy, quyền lực, quyền uy, đạo đức trong xã hội có giai cấp, trong điều kiện đảng cầm quyền có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhận thức đúng điều này sẽ góp phần nâng cao đạo đức cách mạng, chống suy thoái về đạo đức.

Không nhận thức đúng về quyền lực sẽ dẫn tới suy thoái đạo đức

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cho đến tận cuối đời, Bác Hồ luôn trăn trở với sứ mệnh cầm quyền của Đảng. Nỗi bận tâm của người sáng lập Đảng là hoàn toàn có cơ sở, vì nước ta là nước dân chủ, nghĩa là dân làm chủ và dân là chủ.

Từ khi Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, Đảng có quyền lực chính trị lãnh đạo hệ thống chính trị, lãnh đạo toàn diện đất nước, lãnh đạo toàn dân xây dựng xã hội mới. Đảng cầm quyền nhưng dân là chủ. Đảng cầm quyền lấy dân làm gốc. Quyền lực của Đảng do dân uỷ thác.

Theo Hồ Chí Minh, “Đảng cầm quyền trong một nước dân chủ, thì việc giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và luôn luôn lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi. Cách xa dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dân chúng, cũng như đứng lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại”. Hồ Chí Minh chỉ rõ, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào.

Gương sáng thì dân soi, gương mờ thì dân quay lại

Hồ Chí Minh (1890-1969) là nhà cách mạng, một nhà văn hóa kiệt xuất, góp phần làm nên lịch sử đất nước, lịch sử thế kỷ 20 một phần bởi sự nghiệp văn hóa to lớn người đã cống hiến cho dân tộc Việt Nam và nhân loại.

Về mặt lý luận và thực tiễn, giành chính quyền đã khó, giữ và xây dựng chính quyền còn khó hơn. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chống đế quốc phong kiến là tương đối dễ, thắng nghèo nàn lạc hậu khó khăn hơn nhiều”. Chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng (cần hiểu theo tinh thần Hồ Chí Minh là hư hỏng cả tổ chức và con người), để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi là một cuộc chiến đấu khổng lồ. Trong Di chúc, Hồ Chí Minh nêu việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng. Tại sao như vậy?

Bởi vì Đảng ta là đảng cầm quyền, mọi sai, đúng về đường lối, tư tưởng, phẩm chất đạo đức tốt, xấu không bó hẹp trong nội bộ Đảng mà tác động tới toàn xã hội. Hệ thống chính trị mà đứng đầu là Đảng là tấm gương của xã hội, gương sáng thì dân soi, gương mờ thì không soi được, dân quay lưng lại. Như vậy, Đảng giữ vị trí quan trọng hàng đầu của mọi tầm quan trọng.

Quy luật của cuộc sống là đập tan thì dễ, xây dựng, mà thật sự xây dựng thì khó. Cái khó ở đây không phải chỉ ở quy mô của sự nghiệp cách mạng, mà vấn đề là làm sao trong điều kiện Đảng cầm quyền, có được đội ngũ cán bộ đảng viên đủ trí tuệ, bản lĩnh, cái tâm, cái đức để phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn. Trong xây dựng đất nước, Đảng phải có tư duy mới, bố trí lực lượng mới, phương pháp cách mạng và hành vi mới…

Ngay từ sau khi giành được độc lập, với tầm nhìn xa, trông rộng, Bác Hồ đã cảnh báo những nguy cơ và chỉ ra những căn bệnh của Đảng cầm quyền và của cán bộ, đảng viên do chủ nghĩa cá nhân gây ra, trong đó rất đáng chú ý những căn bệnh như quan liêu, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, “hữu danh vô thực”, xu nịnh a dua, kéo bè kéo cánh, mất dân chủ, nhũng lạm (lạm dụng quyền lực để nhũng nhiễu dân), dìm người tài…

Con người thì ai cũng có cái xấu trong lòng, nhưng không phải ai cũng có thể đục khoét được nhân dân và không phải ai cũng được người ta đút lót. Bác Hồ đã chỉ ra rằng trong điều kiện Đảng cầm quyền, những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng cần, kiệm, liêm, chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân.

Cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”. Như vậy, theo tinh thần của Bác Hồ, ta hiểu tham nhũng không chỉ là tham nhũng kinh tế, mà gốc rễ là tham nhũng quyền lực, và đó là bệnh của cán bộ, công chức.

Thực tiễn cho thấy, nếu cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ đứng đầu, chủ chốt có chức, có quyền mà không tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, trở thành những tấm gương sáng trong xã hội, thì sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc sẽ gặp muôn vàn khó khăn. Bởi vì, cán bộ, đảng viên là tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm; là lực lượng tiên phong, nòng cốt của dân tộc: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”.

Quyền lực nếu được trao vào tay cán bộ thiếu đức, dưới tầm thì việc lộng quyền, kéo bè kéo cánh, thiếu ý thức phục vụ nhân dân, thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, thiếu tinh thần trách nhiệm là tất yếu, và cũng tất yếu sẽ dẫn tới tha hóa, biến chất. Ngược lại, nếu quyền lực đó được trao vào tay cán bộ có đức, có trí thì sẽ biến thành sức mạnh, động lực góp phần xây dựng và phát triển đất nước.

Phải rèn luyện đạo đức thật sự

Trong khi nói và viết để giáo dục cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh thường dùng hai chữ “thật sự”, như bảo đảm quyền làm chủ thật sự của nhân dân, xây dựng nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân… Trong Di chúc, Người viết : “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.

Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Tại sao trong một đoạn ngắn, Hồ Chí Minh lại dùng đến bốn lần cụm từ “thật”, “thật sự”? Bởi vì “thật sự” là đối lập với giả dối, lừa lọc, mà giả dối là bản chất đạo đức của giai cấp bóc lột.

Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy chúng ta rèn luyện đạo đức mới, đạo đức cách mạng tức là đạo đức phục vụ cách mạng, phụng sự tổ quốc, phụng sự nhân dân, mà lõi cốt là vì độc lập tự do, hạnh phúc của nhân dân. “Thật sự” là bản chất của một đảng cộng sản chân chính cầm quyền, có sứ mệnh lãnh đạo nhân dân xây dựng một xã hội tốt đẹp, công bằng, dân chủ, văn minh. Đảng đó phải là đạo đức, là văn minh như Bác Hồ đã chỉ ra. Rèn luyện thật sự là để chống lại thói nói mà không làm, nói nhiều làm ít, nói ít làm ít, nói ít không làm, nói một đằng làm một nẻo.

Phải có cơ chế kiểm soát quyền lực

Nhiều nơi trên thế giới có tham nhũng. Ở đâu có quyền lực thì ở đó có tham nhũng. Nếu tham nhũng trước hết là tham nhũng quyền lực, thì phải có cơ chế kiểm soát quyền lực. Theo Hồ Chí Minh, đã kiểm soát quyền lực, nhất là quyền lực của người lãnh đạo, thì phải kiểm soát từ dưới lên. Tức là quần chúng và cán bộ kiểm soát sự sai lầm của người lãnh đạo và bày tỏ cách sửa chữa sai lầm đó.

Trong sinh hoạt Đảng, phê bình và tự phê bình, thật sự bảo đảm dân chủ của đảng viên theo tinh thần Hồ Chí Minh là “để đảng viên dám mở mồm ra, dám nói, dám làm” là cách kiểm soát theo nguyên tắc tập trung dân chủ cần phải thực hành triệt để. Cần xây dựng cơ chế trách nhiệm người đứng đầu, trong đó có cơ chế từ chức, được nâng lên thành “văn hóa từ chức”. Vấn đề từ chức rất cần sức mạnh của dư luận xã hội, như là một nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận.

Qua dư luận xã hội, mà một kênh rất quan trọng là báo chí, những người có chức quyền tự cảm thấy xấu hổ, lạc lõng giữa quần chúng, đứng về phía đối lập với cái đẹp. Bản chất của vấn đề là “đức trị”, tức là tăng cường giáo dục đạo đức. Nhưng đối với kẻ tham nhũng, chỉ có giáo dục đạo đức không thôi thì không thể tiêu diệt được tham nhũng. Cần kết hợp “đức trị” với “pháp trị”.

Rất cần “pháp trị” với ý nghĩa là tính khoa học, minh bạch của bộ máy trong điều kiện nhà nước pháp quyền; mặt khác phải nghiêm minh và công bằng về pháp luật. Nếu xử nhẹ kẻ tham nhũng, ăn hối lộ và hối lộ thì sẽ trở thành trò cười cho thiên hạ. Bài học của Bác Hồ về kết hợp chặt chẽ giữa “đức trị” với “pháp trị” vẫn còn nguyên giá trị trong tình hình hiện nay.

PGS – TS BÙI ĐÌNH PHONG
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Theo Lao Động

Tuổi trẻ Online

Hầm ngầm là lòng dân

Trước câu hỏi của khách về việc ngôi nhà nơi Bác ở có lối bí mật xuống hầm ngầm an toàn bằng “bấm nút” không?”. Bác Hồ hơi ngạc nhiên, nhưng chân thật nói ngay: “Chúng tôi đã có hầm ngầm là nhân dân…”.

Bác Hồ và ông Nguyễn Lương Bằng (ngồi giữa) ở miếu Đá Chông ngày 23/2/1958

Chúng tôi được nhiều dịp nghe các vị lão thành từng vinh dự giúp việc Bác Hồ kể về những nơi ở của Người từ khi trở thành Chủ tịch nước. Các vị đều nhấn mạnh rằng, qua nơi ở của Người, ta không chỉ nhận rõ một nhân sinh quan mang tính nhân bản sâu sắc, mà còn thấy thể hiện những quan điểm nhất quán trong tư tưởng và thiên tài Hồ Chí Minh.

Chuyện làm hầm

Tháng 4/2007, chúng tôi hăm hở đi cùng ông Tạ Quang Chiến – người cận vệ được Bác đổi tên, trở lại chiến khu xưa – ATK Việt Bắc. Thăm ba căn hầm khoét sâu trong lòng núi ở Kim Quan, Yên Sơn, Tuyên Quang – nơi làm việc của Chính phủ, Trung ương Đảng và Bác Hồ, tôi hỏi: “Một dạo có đồn đại rằng do ta đánh Điện Biên Phủ, phòng Mỹ liều lĩnh ném bom nguyên tử mà đào hầm…?”.

Ông Chiến cười: “Đề phòng cũng không thừa. Có điều, Bác tính toán từng đường đi nước bước rồi. Hiện vẫn còn tấm ảnh: Hội đồng Chính phủ họp ngoài cửa hang, Bác đứng điều khiển phiên họp dưới lá cờ Tổ quốc. Đây là pha duy nhất được dàn dựng theo yêu cầu của nhiếp ảnh gia Đinh Đăng Định để làm… tư liệu”.

Còn thực tế hồi ấy, theo lời ông Chiến, xem qua bản thiết kế căn hầm có chỗ làm việc, ăn ngủ…, Bác cười bảo: “Làm cho Bác căn lán ở gần cửa hang là đủ rồi”.

Nhà sàn đầu tiên

Từ tháng 4/1954, ông Chiến cùng Chánh văn phòng Phan Mỹ và đội trưởng Cảnh vệ Hoàng Hữu Kháng nhận lệnh Bác về Đại Từ, Thái Nguyên tìm địa điểm mới, gần Hà Nội hơn, dự phòng chiến tranh kết thúc.

Đang là Đội trưởng Thanh niên xung phong Đội 36 phục vụ ATK, ông Chiến điều hai đại đội 272 và 273 về Vai Cày dựng hai khu nhà kỹ thuật cao: một, dinh Đại sứ ở xã Hùng Sơn, và nhà sàn Bác Hồ ở La Bằng – Bản Ngoại. Nay là Di tích quốc gia, dựng Đài kỷ niệm.

Nhà sàn của Bác ở Vai Cày khá cao bên bờ suối, trông bề thế, khác hẳn mọi lều lán Người từng ở trước đó thường kín đáo dưới lùm cây giữa rừng già.

Chính tại đây, sáng 26/7/1954, Bác tiếp người nước ngoài cuối cùng trước khi về Thủ đô – nhà đạo diễn điện ảnh Xô Viết nổi tiếng Roman Carmen. Đáp câu phỏng vấn: “Thưa Chủ tịch, trong một ngày Chủ tịch làm việc mấy giờ?” – Bác trả lời rất hay, mộc mạc mà thanh tao đúng với một tâm hồn nghệ sĩ: “Chim rừng đánh thức tôi, còn tôi đi nằm lúc trên nền trời các vì sao xuất hiện…” (Hồ Chí Minh. Biên niên tiểu sử, tập 5, trang 514).

Nhà sàn đầu tiên của Bác ở Vai Cày, Đại Từ, Thái Nguyên

Tìm trước nơi sơ tán

Ông Vũ Kỳ (1921 – 2005, thư ký của Bác) cho biết đã mấy lần theo Bác lên vùng Ba Vì dự các cuộc tập trận, thử súng đạn của bộ đội. Và, lần ấy, trưa 23/2/1958, Bác, anh Cả Sao Đỏ (Nguyễn Lương Bằng) và Bí thư Tỉnh ủy Hà Tây đã dừng lại, nghỉ ăn trưa tại “cụm đá chồng-vợ-con” bên trên bờ sông Đà, rồi cắm đất dựng nhà.

Những năm Mỹ đánh phá miền Bắc, Bác thường sơ tán lên đây. Nay nhà tôn tạo lại to đẹp làm nhà lưu niệm, xung quanh sân vẫn rải sỏi như ý Bác: để đêm hôm người lạ đi vào gây tiếng động và anh em đi bộ tập luyện được “xoa bóp” bàn chân.

Lối dốc xuống sông gần cụm đá ba hòn chông, tới đây ai cũng ngậm ngùi thương nhớ Bác khi nghe kể hồi Bác sắp đi xa vẫn cố tập luyện đôi chân ở đây mong được vào Nam.

Chuyện dựng nhà sàn trong Phủ Chủ tịch

Ông Cù Văn Chước (1928 – 2007), tôi viết báo lạm phép gọi là vị “Tổng quản của Bác Hồ” – đại diện “bên A” lo việc dựng nhà sàn trong Phủ Chủ tịch với bên B Cục Doanh trại Quân đội khi còn sống kể rằng sáng 1/3/1958, Bác gặp đoàn đại biểu các dân tộc Việt Bắc tại Phủ Chủ tịch. Người có hỏi qua các lều, lán ngày kháng chiến còn không.

Hôm sau, Bác lên Thái Nguyên và trên đường về Người nói ý định dựng nhà sàn bên kia ao. Mọi việc xong xuôi, ngày 15/4 sau đó khởi công.

Bác dặn kỹ: Phải bí mật, tiết kiệm, đơn giản, không dùng gỗ quý, nhặt nhạnh từng cái đinh, mẩu gỗ thừa, vỏ bào, mùn cưa gom quét làm củi đun, tính việc phân công người làm, không lãng phí công sức, tránh ồn ào…

Thỉnh thoảng Bác ra thăm, anh em hết sức phấn khởi, ra sức thi đua hoàn thành căn nhà trong một tháng để mừng thọ Bác 68 tuổi.

Ngày 15/5, khánh thành nhà, mọi việc gói gọn trong buổi sáng. Bác nói ông Chước trích lương “chủ nhà” đãi thợ bữa liên hoan, tặng họ Huy hiệu và mời chụp ảnh kỷ niệm với Bác.

Chiều 4 giờ, mọi người ra trước nhà sắp hàng. Bác tới, nhìn khắp lượt chưa thấy kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh. Nhìn ra, ông đang lững thững đi tới: “À, chú Kiến!”, Bác lên tiếng. Ai cũng ngạc nhiên. Người giải thích: “Kiến là kiến trúc sư, nhưng… bò – mọi người phải đợi”. Mọi người cười rộ, vỗ tay…

Bỗng, Bác quay về phía mọi người đã xếp hàng: “Hừm! Thế này ngược sáng rồi. Quay lại phông phía bờ ao! Ảnh thuận sáng cho đẹp…”.

Anh em ai cũng nghĩ, tiếc không lấy được nhà sàn làm kỷ niệm. Không hiểu được ý Bác: Bí mật!

Nhà sàn trong Phủ Chủ tịch

Hầm ngầm dưới nhà sàn?

Nguyên thủ một nước anh em sang thăm, lúc thân tình ngỏ ý muốn thăm tư thất Chủ tịch như Chủ tịch Chủ tịch đoàn Xô Viết tối cao Liên Xô K.Vôrôsilôv từng thăm khi Bác còn ở phòng nghỉ trưa của anh thợ điện.

Câu nói của Nguyên soái Vôrôsilôv cũng đến tai vị này rằng “Tận mắt thấy nơi ở của Hồ Chủ tịch, tôi thật xấu hổ nghĩ tới tiện nghi mình ở trong Điện Kremli”…

Bác tiếp khách dưới sàn. Khách muốn xem tầng sàn. Chủ nhà mến khách nói nhỏ “Xin mời! Chỉ đề nghị lên 6 người một, kẻo sập nhà tôi”.

Khách xem, hết sức ngạc nhiên, nhận xét rằng ngôi nhà là một công trình độc nhất vô nhị của thế giới cả về kiến trúc học và tư chất chủ ngôi nhà. Nhưng khách vẫn hỏi có lối bí mật xuống hầm ngầm an toàn bằng “bấm nút” không?”.

Bác Hồ của chúng ta hơi ngạc nhiên, nhưng chân thật nói ngay: “Chúng tôi đã có hầm ngầm là nhân dân…”.

Tự hào biết bao hai tiếng NHÂN DÂN! Đó là tư tưởng, là đạo đức Hồ Chí Minh – một tinh hoa truyền thống dân tộc có thể suy rộng lịch sử từ câu ca tiền nhân:

Giặc tan đất nước thanh bình
Phải đâu đất hiểm – bởi mình có nhân.

Trịnh Tố Long
Theo Tiền Phong

Tuổi trẻ Online

Hồ Chí Minh: Dân là tối thượng

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dân là tối thượng. Người thường nhắc cán bộ, đảng viên phải “dĩ dân vi thượng”. Nhân dân trước hết là những người lao động, là nông dân, công nhân, trí thức và tất cả những người Việt Nam yêu nước, bị áp bức, bóc lột, “bị đoạ đày đau khổ”…

……………………………

Năm 1947, trước khi viết “Sửa đổi lối làm việc” – một tác phẩm có giá trị lịch sử và ý nghĩa hiện thực to lớn đối với Đảng ta, nhân dân ta – Hồ Chí Minh đã viết cuốn “Đời sống mới”, cuốn sách mà Người mong rằng “đồng bào ta mỗi người có một cuốn”, “để xem, để hiểu, để thực hành đời sống mới”.

Cuốn sách do Uỷ ban Trung ương vận động Đời sống mới xuất bản năm 1947, nhân một năm phát động xây dựng đời sống mới. Mặc dù dung lượng cuốn sách chỉ có 17 trang, với 19 câu hỏi và trả lời, được Người viết đơn giản, dễ hiểu, nhưng đó là cả một vấn đề lớn, có giá trị cho đến tận hôm nay và mai này.

Trong cuốn sách, Hồ Chí Minh khẳng định, “đời sống mới là Cần, Kiệm, Liêm, Chính” ; “Nêu cao và thực hành Cần, Kiệm, Liêm, Chính tức là nhen lửa cho đời sống mới” .

Giải thích cho câu hỏi: “Sao gọi là đời sống mới”, Người cho rằng “Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới.

Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ…

Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý…

Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm…

Cái gì mới mà hay, thì ta phải làm” .

Mấy lời giải thích trên đây của Người, dường như không phải chỉ nói về đời sống mới theo một nghĩa hẹp. Đó là tư duy của Người về cách mạng, về đổi mới. Cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi vĩ đại là nhờ đi theo con đường cách mạng của Người. Rất tiếc, về sau này, nhiều khi chúng ta không nhớ lời Người dạy, dẫn đến bảo thủ, trì trệ. Và nhiều khi có nhớ cũng làm chưa thật đúng, chưa triệt để và sáng tạo. Cho đến Đại hội VI, Đảng ta mới đưa ra quan niệm đúng về đổi mới, như Hồ Chí Minh đã chỉ ra trước đó. Một lần nữa, tư duy đổi mới của Đảng đã vận dụng và quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, và nhờ đó đưa đất nước vượt qua được khó khăn, thử thách, giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Nhắc lại mấy điều trên đây, chúng tôi muốn khẳng định, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đời sống mới vừa là cái đích mà chúng ta cần vươn tới, vừa là những điều cần và có thể thực hiện ngay. Trong sự nghiệp đó, Đảng và cán bộ của Đảng phải là người đi đầu. Hồ Chí Minh yêu cầu như vậy và Người đã đi đầu trong thực hành đời sống mới ở Việt Nam.

Cũng phải nói rằng, Hồ Chí Minh không phải là người đầu tiên đưa ra những từ “cần, kiệm, liêm, chính”. Nhưng đến Hồ Chí Minh, những từ “cần, kiệm, liêm, chính” mới được Người thổi vào luồng sinh khí mới, tạo nên một chất mới, có ý nghĩa cách mạng. Người nói rằng, “Làm thế nào cho đời sống của dân ta, vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn. Đó là mục đích của đời sống mới” . Cội nguồn mọi suy nghĩ và hành động của Người là luôn luôn vì dân.

Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, Hồ Chí Minh không phải là người đầu tiên đứng lên chống Pháp, cũng không phải là người Việt Nam đầu tiên ra đi tìm đường cứu nước. Nhưng Hồ Chí Minh là người đầu tiên, bằng lòng yêu nước, thương dân và trí tuệ mẫn tiệp của mình đã đến với tư tưởng tiên tiến của thời đại, tư tưởng giải phóng triệt để nhân dân lao động. Và cũng từ đó, những từ “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư” đã được Người nâng lên một tầm cao mới, với một nội hàm căn bản: vì Dân, vì Tổ quốc, vì Chủ nghĩa xã hội, mà trong đó Dân có vị trí quan trọng bậc nhất.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dân là tối thượng. Người thường nhắc cán bộ, đảng viên phải “dĩ dân vi thượng”, điều mà trước đó các bậc tiền bối đã nhắc đến, nhưng đến Người, thì đã có sự khác biệt căn bản: Nhân dân trước hết là những người lao động, là nông dân, công nhân, trí thức và tất cả những người Việt Nam yêu nước, bị áp bức, bóc lột, “bị đoạ đày đau khổ”. Trong hành động, Người thật sự là một tấm gương mẫu mực, đầy sức thuyết phục về “dĩ dân vi thượng”, không màng danh lợi cho riêng mình. Nếu nói tiêu chí hàng đầu của đời sống mới là hết lòng vì dân, thì Hồ Chí Minh là Người tiêu biểu nhất của đời sống mới.

Hồ Chí Minh từng nói rằng: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi” . Cũng vì “ham muốn tột bậc” đó, Người đã dâng cả cuộc đời cho Tổ quốc, cho dân tộc, cho nhân dân.

Người nói “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, trong công việc, trong sinh hoạt, Người luôn làm kiểu mẫu về những đức tính ấy. Không những thế, Người còn đi đầu trong chống chủ nghĩa cá nhân – một thứ giặc nội xâm, đối lập với đạo đức cách mạng, đối lập với “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”. Để xây dựng đời sống mới mà không chống chủ nghĩa cá nhân thì không bao giờ đạt được mục đích. Để có đời sống mới, theo Người “Tốt nhất là miệng nói, tay làm, làm gương cho người khác bắt chước” . Cuộc đời Người là mẫu mực về sự làm gương cho người khác.

Tác phẩm “Đời sống mới” Hồ Chí Minh viết vào đầu năm 1947. Trước đó một năm, Người và Chính phủ đã phát động xây dựng đời sống mới. Theo Hồ Chí Minh, đời sống mới là lo cho dân có ăn, có mặc, được học hành trong tư thế một người dân độc lập. Và để lo được việc đó, không phải đến 1947, mà ngay từ khi ra đi tìm đường cứu nước, Người đã thực hành công việc lo đời sống mới cho dân. Đó cũng là quá trình Người đấu tranh chống lại thực dân, phong kiến – những kẻ muốn dìm dân ta trong sự nghèo đói, ngu dốt, lạc hậu và những hủ tục.

Đời sống mới là văn hoá, là một biểu hiện và là nét bản chất của văn hoá. Dân tộc ta đã đứng vững trước những thách thức của thiên nhiên khắc nghiệt, những cuộc xâm lăng của các thế lực ngoại xâm hùng mạnh là nhờ chúng ta khẳng định và không ngừng làm giàu thêm bản sắc văn hoá của mình. Lịch sử dân tộc ta là lịch sử luôn luôn đổi mới và phát triển. Hồ Chí Minh đã góp phần quyết định làm cho văn hoá Việt Nam có sự phát triển về chất trong thời đại mới.

Hiện nay, chúng ta đang thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đảng ta cũng khẳng định văn hoá là mục tiêu và là động lực của sự phát triển. Lịch sử của dân tộc chứng minh rằng, văn hoá là một yếu tố bền vững, một sức mạnh không gì cản nổi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thiết nghĩ, trong thời điểm hiện nay cũng như mai sau, cùng đọc, cùng suy ngẫm về tác phẩm “Đời sống mới” của Hồ Chí Minh là việc làm cần thiết của chúng ta.

PGS, TS Vũ Quang Đạo – Website Đảng cộng sản Việt Nam

Tuổi trẻ Online

Tột bậc là tự do, hạnh phúc cho nhân dân

Bác viết “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì”. Bác hiểu rất rõ độc lập cũng chỉ là phương tiện để thực hiện tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Tự do, hạnh phúc cho nhân dân mới là mục đích của nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước…

……………………………………..

Chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc năm 1918. Ngày 28 tháng 6 năm 1919, các nước thắng trận và bại trận đã họp Hội nghị tại Versailles, Pháp, để ký kết các hòa ước chính thức, cũng như phân chia các quyền lợi cho các nước thắng trận.

Các nước thắng trận bao gồm Anh, Pháp, Nga, Ytalia, Mỹ. Các nước bại trận bao gồm Đức, Áo – Hungary, và Thổ Nhĩ Kỳ.

Tại Hội nghị Versailles này, bên cạnh các đoàn đại biểu chính thức, còn có đại diện các dân tộc bị áp bức, đến dự Hội nghị để yêu cầu độc lập và tự do cho dân tộc mình, như đại diện cho người Aixơlen, người Ấn Độ, người Triều Tiên, người Arập… Khi đó người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở Pháp, đã tự tổ chức nhóm người Việt Nam yêu nước tại Pa-ri, và tại các tỉnh ở Pháp. Ông Nguyễn Ái Quốc đã đến Hội nghị Versailles với danh nghĩa đại diện cho tổ chức này.

Tại Hội nghị Versailles, ông Nguyễn Ái Quốc đã phát cho các đại biểu dự Hội nghị “Bản yêu sách của dân tộc Việt Nam gửi đến Hội nghị Versailles”. “Bản yêu sách” này bao gồm 8 điểm rất ôn hòa, yêu cầu Chính phủ Pháp trao trả một số quyền tự do, dân chủ cơ bản tối thiểu cho nhân dân Việt Nam.

“Bản yêu sách” nổi tiếng của người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc  gửi Hội nghị Versaillé năm 1919 đó, bao gồm 8 điểm là:

1 – Ân xá toàn thể chính trị phạm Việt Nam.

2 – Cải cách nền pháp lý Đông Dương, cho người Việt Nam cũng được bảo đảm về mặt pháp lý như người Âu, bỏ hẳn Tòa án đặc biệt, công cụ để khủng bố những người Việt Nam lương thiện nhất.

3 – Tự do báo chí và tự do tư tưởng.

4 – Tự do lập hội và tự do hội họp.

5 – Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do ra nước ngoài.

6 – Tự do học tập và mở các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp cho người bản xứ ở khắp các tỉnh.

7 – Thay thế chế độ sắc lệnh bằng chế độ luật pháp.

8 – Phải có đại biểu thường trực người Việt Nam do người bản xứ bầu ra, ở bên cạnh Nghị viện Pháp để trình bày nguyện vọng của người bản xứ”.

Sau “Bản yêu sách 8 điểm” gửi Hội nghị Versailles, lần đầu tiên dư luận ở Pháp, và ở Việt Nam biết đến cái tên Nguyễn Ái Quốc, một thanh niên Việt Nam trẻ tuổi đấu tranh cho độc lập, tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam.

Và cũng từ đó, mật thám Pháp bắt đầu để ý, theo dõi chặt chẽ mọi hoạt động của ông Nguyễn Ái Quốc. Bởi vì, với Nhà nước thực dân độc tài, phản dân chủ, thì mọi tiếng nói đòi tự do, dân chủ cho người dân Việt Nam đều bị coi là nguy hiểm cho Nhà nước thực dân.

Nhưng tất cả những yêu sách ôn hòa đó của Nhóm người Việt Nam yêu nước của ông Nguyễn Ái Quốc đều không được Chính phủ Pháp, cũng như các nước trong Hội nghị Versailles quan tâm, để ý. Từ đó, ông Nguyễn Ái Quốc rút ra kết luận quan trọng rằng không thể trông cậy vào các nước khác, “muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”.

Bây giờ nhìn lại Bản yêu sách 8 điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Hội nghị Versailles năm 1919, chúng ta thấy rằng tư tưởng của Bác Hồ về một thể chế tôn trọng những quyền tự do, dân chủ cho người dân được hình thành từ rất sớm. Khi đó Bác Hồ mới 29 tuổi, và mới sang Pháp được 8 năm. Trong số các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta, thì Bác Hồ là người duy nhất sống ở nước ngoài tới 30 năm.

Bác ra đi tìm đường cứu nước năm 1911, tại bến Nhà Rồng, Sài Gòn, và chỉ đến năm 1941 mới trở về nước, để lãnh đạo Đảng, nhân dân đấu tranh giành chính quyền. Bởi vậy Bác là người hiểu rất rõ những hạn chế, xấu xa của chế độ tư bản, thực dân, nhưng đồng thời Bác cũng hiểu được rất rõ các giá trị của nền văn minh phương Tây, của chế độ tự do, dân chủ phương Tây.

Chính bởi vậy, vào năm 1946, khi Bác Hồ chỉ đạo soạn thảo bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, bản Hiến pháp 1946 đó chứa đựng rất nhiều giá trị tiến bộ của nền dân chủ phương Tây. Bác Hồ đã lãnh đạo Đảng và nhân dân Việt Nam đánh đuổi thực dân, nhưng những giá trị của nền văn minh phương Tây, thì cần phải khiêm tốn học hỏi. Đó chính là tính biện chứng trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Điều 10 của Hiến pháp 1946 qui định: “Công dân Việt Nam có quyền: – Tự do ngôn luận. – Tự do xuất bản. – Tự do tổ chức và hội họp. – Tự do tín ngưỡng. – Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Nội dung của điều 10 này rất giống một phần nội dung 8 điểm mà Bác Hồ đã gửi Hội nghị Versailles cách năm 1946 đó 27 năm.

Hiện nay trong cả nước đang dấy lên phong trào “lao động, học tập gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Đây là phong trào rất hay, rất cần thiết, nhưng theo tôi thiển nghĩ thì chưa đủ. Bởi vì đạo đức Hồ Chí Minh chỉ là một nội dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Một diểm nhất quán và hết sức quan trọng trong Tư tưởng Hồ Chí Minh là về xây dựng một Nhà nước công bộc của dân, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, “việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh”. Trong thư “Gửi các ủy ban nhân dân các bộ, tỉnh, huyện, và làng” tháng 10 năm 1945, Bác viết “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì”. Như vậy, Bác hiểu rất rõ độc lập cũng chỉ là phương tiện để thực hiện tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Tự do, hạnh phúc cho nhân dân mới là mục đích của nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước.

Chừng nào còn có kẻ đánh bạc cả triệu đôla, nhưng cả triệu người dân còn thiếu thốn nhiều bề, chừng nào còn có cán bộ hách dịch, xếch mé với dân, không làm tròn trách nhiệm là công bộc của dân, chừng nào người dân còn chịu oan khuất, phải đi khiếu kiện kêu cầu công lý, chừng nào bộ máy hành chính còn hành dân, thì chừng đó, tư tưởng Hồ Chí Minh còn chưa được quán triệt trở thành hành động trong thực tế.

Bây giờ nhìn lại Bản yêu sách 8 điểm của Bác Hồ cách đây gần 100 năm, và bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, chúng ta thấy rõ tư tưởng của Bác Hồ về xây dựng một thể chế tôn trọng các quyền cơ bản của nhân dân.

Từ đó chúng ta thấy rõ rằng cần phải từ phong trào lao động, học tập theo gương đạo đức Hồ Chí Minh hiện nay, nâng cao lên thành phong trào học tập và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng một nhà nước công bộc của dân.

Theo Minh Tuấn (Tokyo, Nhật Bản) – Dân trí

Tuổi trẻ Online

Tết kháng chiến đầu tiên của Bác

Sau lễ trọng đại tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời chưa được bao lâu, cuộc trường kỳ kháng chiến đã bắt đầu.

Bác Hồ lội suối đi công tác

Bác Hồ phải tạm lánh về xã Cần Kiệm thuộc đất Sơn Tây. Chiều 30 Tết Đinh Hợi (21 tháng 1 năm 1947), Hội đồng Chính phủ họp ở phủ Quốc Oai (Sơn Tây). Trời mưa rét, đường trơn như đổ mỡ, các thành viên Chính phủ và Thường vụ Quốc hội đã lặn lội về đông đủ, song vẫn chưa thấy Bác đến. Trời tối dần, nỗi lo bắt đầu lan rộng. 9 giờ tối, trong nỗi thấp thỏm, bồn chồn của các đại biểu, Bác bất ngờ gỡ khăn áo cải trang, bước vào phòng họp. Mọi người thở phào nhẹ nhõm.

Cuộc họp tất niên trong đêm không pháo, không bánh chưng, không rượu, không giò nhưng có hoa đào… Sau lời chúc Tết Chính phủ và Ban Thường vụ Quốc hội của Bác, cụ Bùi Bằng Đoàn thay mặt mọi người cảm ơn và chúc Tết Người. Dưới sự chủ trì của Bác, cuộc họp trong vòng 2 giờ đã bàn những vấn đề cấp bách, phải khẩn trương làm không chờ nghỉ Tết. Gần 12 giờ khuya, ai nấy đều phải trở về ngay nơi làm việc của mình.

Bác lại lên xe, chiếc xe ọc ạch chạy đi theo hướng chùa Trầm. Trong đêm giá lạnh, Bác đi vào trong hang núi, nơi đặt hệ thống phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam để đọc thơ Xuân Đinh Hợi, chúc Tết đồng bào cả nước và kiều bào đang ở nước ngoài.

Bác chúc Tết xong lại lên đường trở về Cần Kiệm giữa đêm khuya. Rời khỏi chùa Thầy, đã qua giờ Sửu, mưa lại thêm nặng hạt; đến lối rẽ vào chùa Tây Phương, cả hai bánh xe bị sa xuống ruộng, rất may chưa bị lật nhào. Mọi người hốt hoảng, còn Bác lại bình tĩnh nói vui: “Ngày đầu năm, chúng ta gặp hoạ, nhưng phúc có ngay trong hoạ, phúc đỡ cho rồi. Thế là điều vui!…”.

Trên đường gió hun hút thổi, người lái ở lại giữ xe, Bác cùng những người giúp việc đi bộ trở về giữa trời mưa, giá rét, đường trơn… Rạng sáng, anh Cả (Nguyễn Lương Bằng), anh Cần (Vũ Kỳ) cùng một số người giúp việc Bác “xuất hành” đi khiêng xe. Bác dậy sớm như thường lệ đi mấy bài quyền. Kể lại những kỷ niệm này, anh Cần mắt rưng rưng lệ, nói nhỏ với tôi: “Chúng tôi khiêng xe lên và mang được đến nơi cần gửi; gia chủ thành tâm mời cùng cả nhà ăn Tết. Ngồi vào mâm cỗ thịnh soạn, chúng tôi ứa nước mắt nhớ Bác ở nhà,… Bác đang cố để viết cho xong cuốn sách”.

Chiều mồng một Tết, một số người đi chúc Tết trong thôn, bà con mời lại ăn cỗ. Ở cơ quan chỉ còn anh Ninh (Trần Đăng Ninh) và anh Cần ngồi ăn cơm nguội, Bác ăn cơm nóng độn sắn với canh rau cải. Anh Cần nói vui: “Bác ơi! Bác ăn canh rau cải phải đi giải nhiều..”. Bác cười hỏi lại: “Chú có nhớ ca dao nói gì không?” Rồi với giọng ôn tồn Bác đọc: Không canh nào bằng canh rau cải /Chẳng đạo ngãi nào bằng nghĩa vợ chồng.

Tối mồng một, mưa thêm nặng hạt, gió lọt qua phên liếp, lạnh thấu tận xương…Bác bảo nhóm lửa giữa nhà. Bác, anh Cả, anh Râu Xồm (Trần Đăng Ninh) và những người giúp việc quây quần bên nhau như đêm lửa trại. Trời về khuya, anh Nhân (Trường Chinh), anh Văn (Võ Nguyên Giáp) quần sắn quá gối, chân bê bết bùn đất, hé liếp bước vào. Hỏi ra mới biết, hai anh “xuất hành” đi chúc Tết Bác, định đến sớm để bàn công việc khẩn cấp, nhưng xe đã bị sa lầy ngay từ đầu xã…

Bác cùng  anh Nhân, anh Văn, anh Cả, anh Ninh ngồi quanh bếp lửa họp bàn… những người giúp việc Bác còn lại vội vã đội mưa rét đi cứu xe. Khi đưa được xe lên cũng vừa lúc chuông chùa Tây Phương ngân vang báo sáng. Tiễn  anh Nhân, anh Văn ra về bên thềm lập loè ánh lửa Bác ân cần nói với các anh: “Ngồi bên bếp lửa ấm, ra đi ngay dễ ngộ lạnh, phải dừng lại mấy phút cho quen dần cái rét rồi hai chú hãy đi…”.

Tết ra, Hội đồng Chính phủ họp phiên đầu tiên vào ngày 12 tháng giêng âm lịch (2 tháng 2 năm 1947) cũng ở Quốc Oai. Mở đầu, Bác đề nghị ai có thơ Xuân, câu đối Tết xin đọc làm đà” cho Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi; Thống nhất, Độc lập nhất định thành công (thư chúc Tết của Bác). Sau lời giới thiệu của cụ Bùi (Bùi Bằng Đoàn), Bộ trưởng Phan Anh đọc liền 2 vế đối:

Cha, ông hương khói lạnh, con cháu cỗ bàn suông; khắp ba kỳ còn nếm nỗi gian truân, buồn Tết nhất càng căm thù quân cướp nước;

Tổ quốc bờ cõi yên, non sông Nam Bắc hợp; mấy mươi triệu đồng bào thề quyết thắng, bước vinh quang sẽ hẹn lúc về nhà.

Bộ trưởng dứt lời, Bác ứng khẩu đọc ngay một câu “kiều lẩy”:

Rằng hay thì thật là hay,
Khẩn trương kháng chiến hẹn ngày bình sau.

Cụ Tôn (Tôn Đức Thắng) ghé tai nói nhỏ với cụ Bùi: “Ông ạ! Thánh thật, sống xa đất nước trên 30 năm mà hầu như Cụ không phai nhạt một thứ gì là của Việt Nam”. Cụ Bùi cười mãn ý đáp lời: “Cụ Hồ thuộc về thiên nhân, tuệ giác”.

Sau kỳ họp này, Bác không về Cần Kiệm mà ở lại Sài Sơn. Anh Râu Xồm đã vận động được sư cụ chùa Thầy để Bác ở trên tầng núi lưng chừng của chùa Một Mái. Bác làm việc trong cái vòm đá của Núi Sài. Chùa có sân rộng, vắng vẻ; Bác nhờ anh Văn, anh Cần giúp tập đi xe đạp để lúc cần có thể chủ động đối phó được nhanh, gọn nhẹ.

Thành Ý (ghi theo lời kể của nhà báo Sơn Tùng)