Thư viện

“Vai trò lãnh đạo của Đảng là một tất yếu lịch sử”

Ảnh minh họa.

Ngày 14/3, Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam đã tổ chức Hội nghị lấy ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

Nhiều vấn đề liên quan đến chế độ chính trị, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, sở hữu đất đai… đã được các đại biểu tham gia góp ý.

Các đại biểu cho rằng dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã bảo đảm cụ thể hóa các quan điểm của Đảng trong Cương lĩnh và Văn kiện của Đại hội XI về sửa đổi Hiến pháp năm 1992, dự thảo Hiến pháp xác lập được cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, thể hiện rõ nội dung đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội; tăng tính dân chủ và pháp quyền theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân.

Các ý kiến đều thống nhất giữ nguyên Điều 4 Dự thảo Hiến pháp. Trong tình hình hiện nay, cần tập trung làm rõ và khẳng định vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Vai trò lãnh đạo của Đảng là một tất yếu lịch sử đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Đối với vấn đề đất đai, nhiều đại biểu cho rằng Hiến pháp quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân đã cho thấy tính chất ưu việt của đất nước là quyền thuộc về nhân dân, quyền tối thượng là phục vụ nhân dân, thể hiện tính dân chủ cao. Song, không ít ý kiến băn khoăn cho rằng khái niệm này còn chung chung, dễ dẫn đến tình trạng lợi dụng để đồng hóa việc thu hồi đất phục vụ công trình phúc lợi công cộng với phục vụ sản xuất, đây là mầm mống của những vụ khiếu kiện.

Khoản 3 Điều 58 cần nêu rõ nhà nước thu hồi đất như thế nào, với các công trình an ninh quốc phòng, công trình công cộng, Nhà nước thu hồi phải có bồi thường thỏa đáng nhưng với những dự án phát triển kinh tế-xã hội thì phải thu mua.

Do đó, cần tách nội dung “các dự án phát triển kinh tế-xã hội” ra khỏi khoản này, để chủ đầu tư các dự án phát triển kinh tế – xã hội thực hiện theo quy định của pháp luật, tránh tình trạng lợi dụng để lấy đất của dân.

Xung quanh những quy định về Mặt trận Tổ quốc được thể hiện tại Điều 9, các đại biểu đề nghị giữ nguyên cụm từ “Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân” như Hiến pháp 1992.

Đồng thời, cần làm rõ khái niệm giám sát và phản biện của tổ chức này theo hướng giám sát đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, cơ quan dân cử; phản biện đối với các chủ trương, chính sách của cơ quan Nhà nước, cơ quan có thẩm quyền để các chủ trương, chính sách đó phục vụ lợi ích của Nhà nước và nhân dân.

Cũng liên quan đến quy định này, nhiều ý kiến cho rằng Nhà nước phải có trách nhiệm bảo đảm hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, do vậy, không thể nói “Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam” như khoản 3 mà cần nói rõ Nhà nước bảo đảm hay có cơ chế chính sách để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoạt động./.

Chu Thanh Vân (TTXVN)
vietnamplus.vn

Khi “quả chanh” Nguyễn Văn Thiệu kiệt nước

Vào ngày 12/1/1973, sau những đình hoãn do vụ “ném bom vào dịp Lễ Giáng sinh” gây ra, một điệp viên của CIA đã dựa vào những nguồn tin từ Hà Nội dự đoán rằng Mỹ và Hà Nội sẽ ký kết một hiệp định ngừng bắn vào ngày 20. Do bị Kissinger cấm không được phán tán thông tin, CIA tại Hà Nội đã thúc giục trụ sở chính phải nhanh chóng báo cáo thông tin này vì họ hiểu tầm quan trọng của ngày được nêu ra.

Hiệp định Paris và San Clemente

Cũng đã có dấu hiệu cho thấy ít nhất chính quyền Sài Gòn đã có lời gợi ý xa xôi về bản hiệp định. Bunker lo ngại về sự nhạy cảm của Kissinger, nên đã giục giã Polgar cảnh báo cơ quan đầu não CIA. Polgar lập tức làm theo với hy vọng ” ngăn chặn mọi sự nghi ngờ và tức giận” có thể xảy ra tại Nhà Trắng nếu thông tin bị rò rỉ ra từ phía Mỹ.

Ngày 16/1, Haig chuyển cho Thiệu một tối hậu thư nữa của Nixon, đe dọa sẽ tố cáo Thiệu là cản trở hòa bình nếu ông ta từ chối ký vào bản hiệp định. Thiệu tiếp tục giữ thái độ ngoan cố của mình, chỉ nói với Haig rằng ông ta sẽ trả lời vào ngày hôm sau.

15 phút sau khi Haig rời đi, Thiệu đến và đọc bức thư của Nixon cho quốc hội nghe. Cuộc thảo luận tiếp sau đó chỉ tập trung vào bàn các biện pháp thực thi, trên cơ sở chiến thuật “một mũi tên trúng nhiều đích” của Thiệu, nghĩa là việc ông ta thể hiện sự ngoan cố của mình là để nhằm bòn rút mọi thứ có thể từ Mỹ trước khi ông ta đặt bút ký vào bản hiệp định.

Những nguồn tin khác cũng cho CIA biết rằng ngày hôm đó Thiệu đã nhượng bộ trước những điều không thể tránh khỏi và sẽ đồng ý ký hiệp định. Haig nhẹ cả người và ông ta sẽ không phải lo lắng về những chiến thuật mà ông ta định sử dụng với Thiệu vào ngày 17.

Thiệu đã trao cho Haig một bức thư gửi Nixon đòi hỏi thêm sự thay đổi nhưng vấn đề đó giờ đã được quyết định. Thiệu chỉ còn mỗi việc là thông báo quyết định của mình cho chính phủ và quân đội của ông ta. Vào ngày 20/1, Thiệu triệu tập Hội đồng An ninh quốc gia. Phó Tổng thống Hương vừa khóc vừa mô tả lại phiên họp ảm đạm đó và tự coi mình là kẻ giơ đầu chịu báng.

Hương nói rằng ông ta so sánh Nam Việt Nam với một cỗ xe ngựa đang đứng trên một chiếc cầu đang sập, sẽ gặp nguy hiểm cho dù đi về bất cứ hướng nào và nói về việc ký vào hiệp định như một thứ đỡ tệ hại nhất trong số những thứ tệ hại. Sau khi để cho Phó tổng thống nổi tiếng về việc chống Cộng Hương cầm chịch, Thiệu tiếp tục để cho Hương công nhận cái thực tế mà họ không thể tránh khỏi.

Ngày 23/1, ám chỉ đến việc Mỹ đang gây sức ép đối với việc ký vào bản thỏa thuận, Thiệu nói trong một cuộc họp nội các rằng hiệp định Paris phản ánh một sự đồng thuận giữa Mỹ, Trung Quốc và Liên bang Xô Viết; sự chấp thuận của Nam Việt Nam là điều không thể tránh khỏi.

Nhưng ông ta tin rằng việc ông ta không chấp nhận thoả thuận hồi tháng 10/1972 đã giúp ngăn cản một kết quả bất lợi hơn; kết quả của đợt ném bom trong Lễ Giáng sinh, như Thiệu nói, là sẽ ngăn cản hoạt động quân đội miền Bắc ở miền Nam trong ít nhất là 3 tháng nữa.

Nhưng Thiệu không hề hiểu rằng ông ta đã thuận theo những áp lực mà Nhà Trắng đã áp đặt lên ông ta như thế nào. Haig đã nói với đại sứ Bunker sau lễ ký hiệp định rằng Thiệu không thể không chấp nhận hiệp định này được.

Tổng thống Nixon đã hứa sẽ đón tiếp Tổng thống Thiệu khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực, và ông ta đã thực hiện lời hứa của mình khi ông mời Thiêụ tới thăm Nhà Trắng phía Tây ở San Clemente vào đầu tháng 4. Đại sứ Bunker và trưởng văn phòng CIA tại Sài Gòn đã có mặt trong đoàn của sứ quán. Ngày 31/3, Polgar đã tới sân bay sớm để đến San Clemente và ông ta gặp tướng Szuecs người Hungary.

Tướng Szuecs có mặt là bởi ông ta phải đón Tư lệnh quân đội của chính phủ cách mạng lâm thời. Khi họ chờ máy bay hạ cánh, Szuecs đã chỉ vào 2 sĩ quan Cộng sản dẫn một đội danh dự của quân đội miền Bắc từ Ủy ban quân đội liên hiệp Paris uỷ thác và hỏi Polgar: “Ngài có biết những người này không?”.

Polgar nói rằng, không biết và Szuecs đã giới thiệu Polgar với một chỉ huy người miền Bắc Việt Nam trẻ tuổi, Szuecs nói bằng tiếng Anh rằng Polgar là “một trong những nhân vật quan trọng nhất của sứ quán Mỹ, sau đại sứ Bunker”. Người chỉ huy Việt Nam này đáp lại một cách lịch sự: “Ngài có muốn duyệt đội ngũ không?” và Polgar đã nhận lời mời.

Ngay sau khi đến San Clemente, Bunker phàn nàn với Polgar rằng ông ta không được mời tới dự bữa tối duy nhất mà Nixon mời Thiệu. Ông ta nghĩ rằng Thiệu sẽ thấy điều này là khó hiểu. Polgar đương nhiên là đồng ý, và ông ta nói vấn đề này với Kissinger, người đã rất “tức giận” khi khám phá ra rằng người chiếm chiếc ghế cuối cùng của bữa tiệc là H.R.

Haldeman, Chánh văn phòng của Nixon. Haldeman đã từ chối đề nghị rút lui khỏi bữa tiệc của Kissinger và Ngoại trưởng đã đến gặp trực tiếp Tổng thống. Nixon cuối cùng đã quyết định để Bunker tham dự.

Những rắc rối không chỉ dừng lại ở giai thoại này. Kissinger rất thân thiện với Polgar và đã một lần mời ông cùng ăn sáng. Nhưng rút cục là nhà bếp do văn phòng Halderman điều hành đã không mang tới bất cứ thứ gì cho họ tại phòng của Kissinger ngày hôm đó. Họ không bàn gì nhiều về những việc đại sự nhưng ngay buổi chiều hôm đó, đại sứ Mỹ tại Nam Việt Nam vừa được bổ nhiệm Graham Martin đã gõ cửa phòng Polgar.

Ông ta đã nghe kể về bữa sáng, và theo như Polgar nhận thấy trong cách thức “bí ẩn và lôi cuốn” của Martin, thì Martin có vẻ lo lắng vì sợ rằng Polgar sẽ có thể bỏ qua ông ta mà bàn luận thẳng mọi việc với Kissinger. Nhưng Polgar đã đảm bảo với Martin rằng, là trưởng cơ quan CIA tại Sài Gòn, Polgar phải làm việc cho đại sứ và cho dù cuộc gặp đầu tiên giữa họ khá căng thẳng, họ đã có một mối quan hệ tốt đẹp ở Sài Gòn, sau khi Martin đến nhậm chức vào giữa mùa hè.

Polgar đã ngồi nghe khi Nixon hứa với Thiệu sẽ cung cấp 1 tỷ USD viện trợ quân sự và một tỷ nữa viện trợ kinh tế. Polgar cho rằng chính điều này đã giải thích tại sao Thiệu lại luôn tin rằng Nixon trung thành với chế độ Sài Gòn.

Thêm áp lực cho Thiệu

Sự thiết lập của một bộ máy thực thi lệnh ngừng bắn ở miền Nam không có nghĩa là tất cả các bên đều đã nhất trí với các biện pháp tiến hành. Kissinger và Lê Đức Thọ đã bắt đầu tái thương lượng một số điều khoản và Thiệu phản đối những lời lẽ trong dự thảo về phân định ranh giới giữa Sài Gòn và vùng lãnh thổ do phe Cộng sản kiểm soát.

Một bản thông cáo dự định sẽ được công bố ngày 7/6, và quyền đại sứ Charles Sheldon Whitehouse (Bunker đã rời nhiệm sở sau 6 năm làm việc một cách kiệt sức ở Sài Gòn) đã cố gắng để thuyết phục Thiệu nhất trí. Khi thấy việc thuyết phục Thiệu trở nên khó khăn, Polgar đã gặp tướng Quang để nhắc lại luận điệu quen thuộc rằng “sự ủng hộ của Mỹ đối với Nam Việt Nam quan trọng hơn nhiều bất cứ một chiến thắng về ngôn từ nào tại bàn đàm phán”.

Cả Quang và Thiệu đều không biết rằng Nixon sẽ có cuộc họp với lãnh đạo Quốc hội Mỹ ngày hôm đó và bởi thế nên ông ta rất cần sự chấp thuận của Thiệu. Polgar đã nói điều này với tướng Quang. Vì thế, những lời nói của Polgar đã khiến cho Thiệu quyết định triệu tập Whitehouse đến gặp ông ta vào chiều hôm đó.

Nhưng quyền đại sứ Whitehouse cũng không thể lay chuyển được Thiệu. Theo quan điểm của Polgar, sự ngoan cố của Thiệu bắt nguồn từ 3 lý do. Ở mức độ chiến thuật, Polgar cho rằng Thiệu không tin cả động cơ của Mỹ và Bắc Việt Nam trong việc tái đàm phán về các điều khoản thi hành, vì ông ta nghĩ rằng những đàm phán về lãnh thổ từ hồi tháng 1 vốn có lợi cho chính quyền Sài Gòn khiến những cuộc đàm phán nữa là không cần thiết.

Hơn nữa, Polgar còn nhìn nhận nguyên nhân của việc này là do thái độ thù địch cá nhân của Thiệu với Kissinger và nỗi tức giận trong khi Hà Nội tham gia đàm phán trực tiếp, còn miền Nam Việt Nam thì bị giáng cấp xuống vị trí khách hàng.

Sự đình trệ giữa Mỹ và Thiệu vẫn tiếp tục. Ngày 10/6, Nhà Trắng ra lệnh cho Polgar nhắc lại với tướng Quang về những thiệt hại với chính quyền Sài Gòn nếu Quốc hội đột ngột cắt khoản hỗ trợ tài chính để đáp lại thái độ ngoan cố của chính quyền Sài Gòn. Một quan chức CIA gặp tướng Quang tại nhà thờ Sài Gòn và đã thiết lập cuộc gặp.

Quang chấp nhận lập luận của Polgar nhưng Thiệu vẫn tiếp tục đòi hỏi “những thay đổi không đáng kể” mà ông ta cho rằng là thiết yếu trong việc tránh được một sự “hợp pháp hóa việc phân chia miền Nam Việt Nam”. Tuy nhiên, Polgar nghĩ rằng Thiệu sẽ đối ý: “Cảm nhận của tôi là chỉ cầm thêm một lá thư nữa của Nixon là sẽ đạt được mục đích”.

Song những cố vấn của Thiệu, bao gồm cả Quang, ủng hộ một cách hoàn toàn và mạnh mẽ thái độ không khoan nhượng của Thiệu khi đưa vào bản thông cáo một điều khoản của hiệp định liên quan tới tổng tuyển cử. CIA đã báo cáo về Washington vấn đề này và Nixon lập tức hạ lệnh cho đại sứ William Sullivan ở Paris phải nhắc tới điểm này với Lê Đức Thọ.

Bức thông điệp của Nixon gửi Thiệu công bố nhượng bộ này đến vào lúc 6h sáng ngày 13/6 và Polgar đã gặp Quang 1 giờ sau đó để trao đổi. Quang đã đoán trước một cuộc tranh cãi trong Hội đồng An ninh Quốc gia của Thiệu, tại đó ông ta và Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên thúc giục ký chấp thuận, còn những nhân vật dân sự diều hâu như Hoàng Đức Nhã sẽ phản đối.

Polgar cho biết họ đã đi tới gần cuối con đường và giục Quang phải thuyết phục được Tổng thống chấp thuận vào buổi trưa. Quang và Viên đã thắng thế và họ đã tránh được sự đổ vỡ trong quan hệ với Mỹ khi tất cả các bên đều ký vào nghị định thư ngày hôm đó ở Paris.

Polgar nói với cơ quan đầu não CIA rằng CIA tại Sài Gòn đã đóng một vai trò quan trọng trong việc đạt được thoả thuận với chính quyền Nam Việt Nam và CIA tại Mỹ đã phúc đáp, nhấn mạnh rằng họ đã làm rất tốt công việc, đã cho thấy “sự phối hợp của việc thu thập thông tin tình báo và các hoạt động chính trị”.

Co kéo điểm mấu chốt

Mùa hè năm 1973, 6 tháng sau khi Hiệp định Paris được ký kết, trưởng cơ quan CIA tại Sài Gòn Polgar cho rằng lực lượng của Thiệu “đã tiến bộ và củng cố kiểm soát ở phần lớn những vùng dân cư ở Nam Việt Nam”.

Khi đưa ra nhận xét này, rõ ràng là Polgar đã không đánh giá đúng tầm quan trọng của những thông tin tình báo thu thập được từ những tháng trước đó cho hay phe Việt Cộng đã quyết định chuyển trọng tâm của mình từ hoạt động quân sự sang đấu tranh chính trị.

Vài năm sau đó, ông ta cho rằng chiến dịch bình định hóa nông thôn đã thành công khi mà chính phủ Sài Gòn kiểm soát được tất cả các thủ phủ quận, huyện. Và ngay cả căn bệnh ung thư của chính quyền Sài Gòn là tham nhũng thì ông cũng cho rằng căn bệnh đó rất phổ biến ở khắp Đông Nam Á.

Tuy nhiên phó của Polgar là Conrad LaGueux không tự tin như sếp của mình. Ông ta cho rằng sự đầu tư ồ ạt của Mỹ vào nền kinh tế nông thôn đã không khiến cho người dân trung thành hơn với chế độ Sài Gòn. Theo quan điểm của ông ta “Việt Cộng đã có được sự ủng hộ sâu sắc và rộng rãi”.

Một trong những quan chức của Polgar thuộc cơ quan đánh giá và chỉ dẫn (IAB) nhớ lại rằng cơ quan này còn đưa ra những đánh giá bi quan hơn cả của LaGueux. Robert Vandaveer đã điều hành văn phòng CIA ở Huế trong vòng 2 năm trước khi đến Sài Gòn vào giữa năm 1973 để tham gia vào IAB.

Giải thích cho lý do điều chuyển công việc này, Polgar nói với Vandaveer rằng ông ta cần có sự tham gia của CIA để những đánh giá của cơ quan này được cân bằng hơn. Vandaveer hiểu rằng Polgar muốn chính phủ Mỹ cam kết nhiều hơn với chính quyền Nam Việt Nam và ít dằn vặt hơn vì những điểm yếu của nó. Polgar không cấm báo cáo về trung ương tin xấu nhưng ông ta đã áp đặt một tiêu chuẩn kiểm dịch chặt chẽ và đòi hỏi những báo cáo kiểu như vậy phải được “đặt vào viễn cảnh xa hơn”.

Trên thực tế, điều này có nghĩa những báo cáo về nạn tham nhũng của chính phủ, những nhận định cá nhân theo hướng xấu, thường hiếm khi được công bố. Và mỗi khi một làng nào đó rơi vào sự kiểm soát của phe Cộng sản sau hiệp định Paris, bản báo cáo đó phải chỉ rõ rằng một số lượng lớn hơn các làng vẫn nằm dưới sự kiểm soát của Sài Gòn.

Nhưng yêu cầu về “viễn cảnh” này lại không áp dụng cho những tin tốt, Vandaveer cho rằng khi Thiếu tướng Timmes thay mặt CIA tiến hành những chuyến hành vi thường kỳ về tình hình quân đội Nam Việt Nam, ông ta thường đưa ra những báo cáo lạc quan về mặt bề nổi và Polgar chấp nhận điều đó.

Ngược lại, những nhà phân tích tại CIA lại đưa ra dự báo về sự thâm nhập ngày một sâu của phe Cộng sản và rất nhiều sĩ quan CIA hoạt động ở hiện trường hoàn toàn hoài nghi về sự tiến bộ của tiến trình chính trị ở Nam Việt Nam.

Sự tô điểm chính trị

Cho dù quan điểm chính trị của tầng lớp nông dân vào năm 1973 như thế nào, sự cam kết của Mỹ để Nguyễn Văn Thiệu tiếp tục quản lý Nam Việt Nam đã đặt dấu chấm hết cuộc đấu tranh nhằm phương Tây hóa tiến trình chính trị quốc gia ở Nam Việt Nam.

Như những phần trước đã đề cập, vào cuối năm 1971, trưởng văn phòng CIA ở Sài Gòn lúc đó là Ted Shackley đã đoán trước khả năng về một cuộc đấu tranh chính trị cam go khi hiệp định ngừng bắn có hiệu lực. Nhưng vào tháng 6/1973, khi cuộc bầu cử thượng viện đến gần, CIA và Bộ Ngoại giao Mỹ chỉ quan tâm đến hình ảnh của Sài Gòn ở Mỹ hơn là sự sống còn của thể chế này.

Cơ quan đầu não CIA ở Mỹ và ở Sài Gòn cố gắng liên hệ với các đảng phái trong chính phủ và cả đảng phái đối lập nhằm tạo cho cuộc bầu cử “dáng vẻ của một cuộc diễn tập đa đảng phải càng nhiều càng tốt”.

Polgar hứa sẽ cố gắng nhưng cũng nói rõ rằng ông ta không thể làm gì nhiều vì chính quyền Nam Việt Nam vẫn tức giận vì Mỹ đã gây áp lực buộc họ ký vào hiệp định Paris, khiến cho họ “không còn tin rằng Mỹ sẽ là đúng như những cam kết của mình”, có nghĩa tiếng nói của Mỹ sẽ còn rất ít trọng lượng với họ.

Ngày 18/6, CIA tại Sài Gòn báo cáo rằng những áp lực của họ lên các nhân vật chính trị để họ lập ra đảng đối lập đã thất bại bởi những nhân vật này hiểu rõ được thất bại hiển hiện một khi tranh cử.

Trong những tuần ở khoảng thời gian giữa lúc Ellsworth rời nhiệm sở và Graham Martin chuẩn bị nhậm chức, Polgar phải giải quyết những bản báo cáo về mối bất hòa giữa Tổng thống Thiệu và Thủ tướng Khiêm. Lo ngại rằng những diễn biến như vậy có thể gây ra bất ổn, đại sứ lâm thời đã khuyến khích Polgar đến gặp trực tiếp Khiêm để hỏi về chuyện này.

Thủ tướng sẵn sàng thừa nhận những căng thẳng gần đây giữa họ do ông rút lui khỏi vị trí đứng đầu danh sách ứng cử viên thượng viện cho đảng Dân chủ của Thiệu và bởi vì quan điểm chống đối của ông với những cố vấn diều hâu như Hoàng Đức Nhã, một người mà ông ta cho là “hung hăng, kiêu ngạo và có sức thuyết phục”.

Khiêm, một người thường tự cho mình là không biết sợ gì cả và có những hành động theo nguyên tắc mà Polgar không hề tin tưởng, đã nói rằng ông ta và tướng Cao Văn Viên chống lại những nỗ lực của Nhà Trắng trong việc thúc đẩy một chế độ “chuyên chế, hoàn toàn tập trung” theo mô hình của Ngô Đình Diệm.

Tháng 7/1973, vào giữa giai đoạn mà Polgar gọi là khoảng lặng trước cơn bão, Graham Martin đến nhận nhiệm vụ là đại sứ Mỹ tại Sài Gòn. Ông này đã từng làm đại sứ ở Thái Lan và Italy. Khi họ đến Sài Gòn, Martin và vợ đã mất một đứa con trai trong cuộc chiến ở Việt Nam. Mặc dù có phong cách hoàn toàn khác với Bunker, người được Polgar miêu tả là hòa nhã, thân thiện và tử tế, Martin dường như không đưa ra thay đổi gì đáng kể đối với phái đoàn trong phương cách tiếp cận những vấn đề cơ bản.

Trong giai đoạn đầu, quan hệ của Polgar với đại sứ mới ở mức trung bình, nhưng chỉ sau vài tháng, Polgar “rõ ràng đã trở thành người thân tín nhất của đại sứ”. Quan hệ của họ tốt đẹp mặc dù Polgar nhiệt tình ủng hộ một số nhà báo Mỹ mà Martin không thích. Sau đó, Polgar còn đảm nhận thêm nhiệm vụ giúp Martin tìm một người phó mới cho ông ta và cùng ông ta đánh giá lại những quan chức cấp cao của sứ quán.

Đại sứ mới tận dụng văn phòng CIA như một kênh thông tin và gây ảnh hưởng một cách tối đa, giống như Bunker đã từng làm. Như phó trưởng văn phòng CIA tại Sài Gòn LaGueux nhận xét, lý do là bởi Martin rất tin tưởng ở sự cẩn trọng của văn phòng CIA.

Một lý do khác là bởi CIA có những mối liên hệ mật thiệt với người của Thiệu như Khiêm, Quang, những người sẵn sàng thúc đẩy những quan điểm và chính sách của Mỹ với Thiệu. Thêm vào đó, còn có những yếu tố khác khiến CIA trở nên quan trọng.

Phó đại sứ mới, Wolfgang Lehmann, không được phong hàm đại sứ như người tiền nhiệm của ông ta là đại sứ Whitehouse, và điều này đã khiến ông ta không được tổng thống Thiệu coi là một nhân vật đối thoại chính thức. Trong khi đó, văn phòng CIA lại có thể duy trì mối liên lạc không chính thức với Khiêm trong lúc Ngoại trưởng Trần Văn Lắm phản đối mối liên lạc thường xuyên của sứ quán với Thủ tướng mà không thông qua bộ của ông ta.

Đáp ứng đòi hỏi của sứ quán và Washington, CIA bắt đầu sử dụng những quan hệ của họ, cả với những người trong quốc hội, để phục vụ mục tiêu tô điểm chính trị. Conrad LaGueux nhớ lại rằng mục tiêu của họ thời gian đó tập trung xung quanh việc chính quyền đối xử với những tù nhân chính trị đã gây ra sự bất bình trong công luận Mỹ.

LaGeuex không hiểu Thiệu được cái gì khi bắt giam những người chống đối không phải là Cộng sản. Ông ta đã thuyết phục chính quyền Sài Gòn công bố thông tin về những tù nhân và đảm bảo rằng họ được đối xử tử tế. Khi vụ xìcăngđan Watergate xảy ra, chính quyền Nixon không thể đảm bảo được sự ủng hộ Thiệu như trước. Vấn đề càng leo thang vào tháng 9/1973, Martin thì thuyết phục Thiệu và Polgar thì thuyết phục Khiêm để họ quyết định thả một nhân vật chống đối không phải là Cộng sản. Con bài quen thuộc của Mỹ lại là triển vọng về viện trợ nếu chính quyền Sài Gòn không tuân thủ.

Polgar đã gặp Hoàng Đức Nhã về trường hợp những người chống đối này và nhắc nhở ông ta rằng khoản viện trợ cho cảnh sát đang có nguy cơ không còn nữa. Kết cục, ngày 18/9, chính quyền đã hứa sẽ thả 3 thành viên nghiệp đoàn mà không kết tội họ.

Khi mùa hè chuyển sang thu vào năm 1973, người Mỹ đã thắng thế vị khách hàng bướng bỉnh của họ khi ép được Thiệu phải ký vào hiệp định ngừng bắn và nghị định thư thực thi hồi tháng 6. Nhưng rút cục, chính quyền của Nixon đã không thể giữ lời hứa của mình là ủng hộ Thiệu tới cùng. Kết cục của những con rối chính trị như thế nào thì ai cũng đã rõ.

“…Thiệu đã thực thi chính sách ‘một mũi tên trúng nhiều đích’, nghĩa là ông ta thể hiện sự ngoan cố của mình là để nhằm bòn rút mọi thứ có thể từ Mỹ trước khi ông ta đặt bút ký vào bản hiệp định…”.

Bắc Bình (lược dịch) – CSTC số 8
cand.com.vn

Nhận dạng B-52

QĐND-Trước khi dùng B-52 rải bom ở chiến trường miền Nam Việt Nam, giới quân sự Mỹ đã tuyên truyền khá ầm ĩ cho loại máy bay chiến lược được mệnh danh là pháo đài bay này. Pháo đài chỉ sự kiên cố, vững chắc. Bay để chỉ sự cơ động. Hoa Kỳ quảng cáo rằng, với chiều dài 48,5m, sải cánh 34m, có sức chở hơn 27 tấn bom đạn, độ cao có thể lên tới 17km, B-52 loại tất cả các tầm đạn pháo cao xạ của đối phương dưới tầm bay.

Dạo ấy hình dáng B-52 như thế nào, ở chiến trường lính ta không được biết, nhưng nhận dạng B-52 qua bãi bom. Hàng trăm quả bom được ném theo tọa độ, với bề rộng ngót trăm thước, chiều dài có khi kéo dài hơn một cây số. Đó là bãi bom hủy diệt, vì kẻ giết người đã nghiên cứu pha trộn các loại bom theo phương án tối ưu, nhằm phá sạch, giết sạch những gì nằm trên diện tích rộng lớn mà ít tốn kém nhất. Có một điều giới quân sự Mỹ thời ấy không ngờ tới, là lính ta không chỉ nhận biết B-52 từ bãi bom, mà trong khá nhiều trường hợp, còn nhận ra những tọa độ nào B-52 sắp ném bom, bởi thế bom B-52 đào đất, phá rừng thì nhiều, chứ mấy khi chụp được đội hình bộ đội hành quân hoặc khu vực đóng quân. Giới quân sự Mỹ lại đổ cho vì địa hình rừng núi quá rộng, quá phức tạp nên hiệu quả tiêu diệt đối phương của B-52 còn hạn chế, nếu như ở thành phố thì khác.

Bộ đội ta bắt sống giặc lái B-52 trong trận “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972. Ảnh: Cảnh trong phim “Hà Nội – Bản hùng ca” của Điện ảnh Quân đội.

Trước mùa đông năm 1972, người Hà Nội chưa một ai nhìn thấy hình dạng B-52. Và trong thâm tâm, nhiều người nghĩ rằng, sự tàn ác của kẻ thù cũng chỉ có giới hạn và không tin chúng có thể đem loại máy bay chiến lược đó để rải bom vào Thủ đô của một nước. Nhưng ý nghĩ đó đã hoàn toàn sai lầm. Khoảng tám giờ tối ngày 18-12-1972, anh em lớp Bồi dưỡng sáng tác của Hội Nhà văn Việt Nam đang ngồi đàm đạo thì nghe những âm thanh lạ như tiếng đá lăn ở phía chân trời. Mọi người hỏi nhau đó là tiếng gì? Nhà thơ Cảnh Trà, công tác ở tuyến lửa Vĩnh Linh, người đã nhập học chậm hơn một tháng trời vì phải đi bộ từ Vĩnh Linh ra Hà Nội khi tất cả các nhịp cầu đã bị phá sạch, nói:

– Theo mình thì đó là tiếng B-52!

Liền sau đó là tiếng còi báo động, tất cả vội vàng chạy ra hầm. Tôi nhớ đêm đó còi báo động Nhà hát Lớn thành phố rú lên 5 lần, anh em 5 lần tung chăn vùng dậy chạy ra hầm trú ẩn. Học viên nói chung còn trẻ, phản ứng khá nhanh nên khi còi báo động vừa rú lên là ra ngay được hầm, chỉ có nhà thơ Hoàng Cát, người đã bị cưa một chân trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968 ở miền Nam, mỗi lần nghe còi báo động là phải ngồi dậy lắp chân gỗ vào. Mà động tác này đâu phải đơn giản, thường là mất 4-5 phút. Có khi còi báo yên, Hoàng Cát vừa mới vào giường, tháo chân gỗ ra chưa kịp nằm xuống thì đã nghe còi báo động. Đêm ấy cả lớp coi như thức trắng, nhưng chưa một ai biết chắc chắn B-52 đã ném bom Hà Nội, bởi trường viết văn ở Quảng Bá, cách trung tâm thành phố khá xa.

Pháo đài bay B-52. Ảnh chụp lại tại Trung tâm Văn hóa Pháp L’Espace.

Đêm 19-12, chúng tôi thức đón trận chiến chống B-52. Lúc đầu nghe còi báo động thì còn xuống hầm, nhưng khi nghe tiếng người hò reo vì B-52 cháy thì không ai có thể ngồi yên trong hầm được, bởi ánh sáng của đám cháy giữa trời cao đã chiếu sáng đến mọi ngóc ngách hầm trú ẩn. Lần đầu tiên, tôi được nhận dạng B-52 như thế này đây: Tôi đứng cùng nhiều học viên khác trên nóc hầm trú ẩn ở góc trường Quảng Bá, nhìn chênh chếch về phía Đông Anh, phía bên kia bến Chèm. Trong vô vàn tiếng nổ của các cỡ súng cao xạ, có một tiếng nổ to hơn, đó là tên lửa ta bắt đầu phóng. Đường đi của quả tên lửa vẽ lên nền trời đêm màu sáng rực, trông rất rõ. Lúc đầu vệt sáng đó chạy chênh chênh một đoạn khá dài, sau đó nó bay ngược lên theo chiều gần như thẳng đứng. Cuối chiều thẳng đứng đó tên lửa nổ, một quầng sáng nhỏ bung ra rồi tắt lặng. Chỉ chừng vài giây sau, phía trên chỗ tên lửa vừa nổ, phát ra một tiếng nổ lớn, ánh sáng bùng lên mãnh liệt, làm sáng đỏ cả bầu trời. Đấy là tiếng nổ của chiếc B-52 đã lĩnh đủ mảnh của quả tên lửa nổ cách nó không xa. Lúc này người Hà Nội không ai nghĩ là mình đang tránh bom, mà nhảy lên, reo lên để theo dõi cái bó đuốc khổng lồ đó vừa cháy, vừa rơi, lúc đầu còn rơi thẳng, sau đó vừa rơi vừa quay cho tận khi cắm xuống đất.

Lớp học còn ở lại Hà Nội qua đêm 20-12. Đó là đêm thứ ba, chúng tôi như đã quen với B-52, không chỉ leo nên nóc hầm xem B-52 cháy mà còn rủ nhau theo dân quân đi bắt phi công. Sáng 21 thì được lệnh của nhà trường phải đi sơ tán, đúng hơn là chia nhỏ lớp ra để đi thực tế đến các trận địa phòng không ở vùng ngoại vi thành phố.

Tôi theo một đơn vị dân quân của xã Liên Hà, huyện Đan Phượng với những khẩu pháo 37mm trực trên bãi Nổi giữa sông Hồng. Nhiệm vụ của đơn vị này là đón đánh những chiếc máy bay tầm thấp trước khi chúng lẻn vào đánh phá Hà Nội. Tại trận địa này, tôi đã nhìn thấy hình dạng B-52 khi nó đang bay trên bầu trời: Sau hồi còi báo động, nghe tiếng động cơ nặng nề, ngước mắt lên bầu trời đêm mùa đông ù ù những cơn gió lạnh, tôi bắt gặp những bóng đèn nhấp nháy trên cao. Chỉ một lúc sau, từ phía Hà Nội, ánh sáng của những quả đạn tên lửa đã vạch sáng nền trời.

Sau mười hai ngày đêm, sáng ngày 1-1-1973, dù chưa có lệnh của nhà trường, nhưng học viên từ các hướng khác nhau đã trở lại Hà Nội. Sau khi đi dọc phố Khâm Thiên đổ nát, có nhiều người chít khăn xô trắng đào bới trong gạch vụn, tôi tìm về vườn Bách Thảo cùng bao người khác. Tới Bách Thảo không phải để xem thú, xem cây mà là vì xác những chiếc B-52 đã được mang về chất đống trên khoảng đất rộng phía trong cổng. Đây là lần thứ ba tôi được nhận dạng B-52, khi nó chỉ còn là những mảnh vụn rời rạc. Tôi ngạc nhiên về bề rộng của sải cánh và chi chít những u cục nổi lên dọc những đường hàn tiếp nối. Biểu tượng “Bàn tay nắm giữ tia sét” trên một mảng cánh đã bị mảnh tên lửa của ta xé ra làm hai nửa. Thì ra tên lửa của ta còn mạnh hơn những tia sét của trời, làm cho không lực Hoa Kỳ không thể nào nắm giữ nổi!

Bên xác máy bay B-52, tôi đã sáng tác ngay một bài thơ, vài ngày sau đăng trên Báo Nhân Dân. Nhân dịp này, mời các bạn đọc lại bài thơ này trong không khí cả nước long trọng kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” của thủ đô Hà Nội anh hùng.

CHÚNG TÔI HIỂU B-52
(Lời một người Hà Nội)

B-52 chở được bao nhiêu tấn bom?
Điều đó chúng tôi không rõ
Chỉ biết chúng san bằng từ đầu đến
cuối phố
Như Khâm Thiên.
Bệnh viện Bạch Mai
Khu lao động An Dương
Nằm gọn trong tầm bom nổ.

B-52 bay cao bao nhiêu cây số?
Điều đó chúng tôi không rõ
Chỉ biết chúng bốc cháy từ rất cao
Chiếc nào cũng giống nhau
Mắt chỉ thấy khi đã bừng sắc lửa
Rồi ánh chớp lóe lên
Rực sáng tận từng góc phố.

Không biết chúng dài bao nhiêu thước
Vì chẳng gặp chiếc nào vẹn nguyên
Chỉ thấy từng mảng sạm đen
Từng mảng quăn queo, rách nát
Với hàng vạn mũi đinh
Như những vết đen ghi tội ác.

Chúng tôi hiểu B-52
Không phải qua sách báo Hoa Kỳ quảng cáo
Mà qua xương máu
Của đồng đội, bà con
Qua bàn tay run rẩy xin hàng
Của những tên giặc lái.

VƯƠNG TRỌNG
qdnd.vn

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy và “7 nét đặc sắc”

QĐND – Sau khi hoàn thành khóa đào tạo phi công chiến đấu ở Liên Xô, Nguyễn Văn Bảy (A) về nước và được biên chế vào Trung đoàn Không quân tiêm kích 923. Biên đội MiG-17 của Nguyễn Văn Bảy là một trong những đơn vị bắn rơi nhiều máy bay địch.

Trận đánh ngày 26-4-1966 trên vùng trời Võ Nhai (Bắc Thái cũ) là trận đánh tuyệt đẹp, ghi dấu ấn riêng của Nguyễn Văn Bảy. Khi nhìn thấy mục tiêu, như một tia chớp, Nguyễn Văn Bảy bất ngờ xông thẳng vào giữa đội hình máy bay địch, làm cho chúng hốt hoảng tháo chạy toán loạn. Anh bình tĩnh bám chắc một chiếc. Tới cự ly có hiệu quả, bằng hai loạt đạn, Nguyễn Văn Bảy hạ gục tại chỗ chiếc máy bay tiêm kích F-4 vốn rất hung hăng của địch.

Phi công Nguyễn Văn Bảy, năm 1967.

Ba ngày sau, ngày 29-4-1966, trên vùng trời Việt Trì (Phú Thọ), biên đội của Nguyễn Văn Bảy bị một tốp rất đông máy bay tiêm kích địch bám đuổi. Anh lập tức quay lại đối đầu, buộc địch phải giãn ra né tránh. Biên đội anh giành được thế chủ động, nhanh chóng chớp thời cơ bắn rơi hai máy bay địch, riêng Nguyễn Văn Bảy bắn rơi một chiếc.

Trong hai tháng 6 và 7-1966, hơn một chục máy bay Mỹ bị các biên đội MiG-17 của Trung đoàn 923 bắn rơi, ta chỉ tổn thất một chiếc.

Ngày 5-9-1966, Nguyễn Văn Bảy cùng biên đội 4 chiếc MiG-17 quần nhau với 16 chiếc F-4 và F-105 của địch trên vùng trời Chí Linh (Hải Dương). Toàn biên đội đã giành chiến thắng rực rỡ, bắn rơi 3 máy bay địch và trở về an toàn. Riêng Nguyễn Văn Bảy bắn rơi một chiếc.

Chiều 12-12-1966, sau Đại hội anh hùng và chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước toàn quốc, Nguyễn Văn Bảy vinh dự cùng 37 chiến sĩ không quân có thành tích xuất sắc được lên Phủ Chủ tịch gặp Bác Hồ. Người tươi cười hỏi:

– Chú nào bắn rơi 4 máy bay Mỹ trở lên?

Đồng chí Chính ủy Quân chủng Đặng Tính báo cáo:

– Thưa Bác, đồng chí Bảy, đồng chí Mẫn và đồng chí Trung ạ!

Bác nói:

– Chú Bảy, chú Mẫn, chú Trung đâu, đứng lên cho Bác biết?

Cả ba người cùng đứng dậy sung sướng hướng lên phía Bác. Bác tỏ ra rất hài lòng, Người nói:

– Như vậy là tất cả các chú ở đây đều đã lập công xuất sắc, cả ba chú này đều bắn rơi nhiều máy bay Mỹ lập công xuất sắc nhất phải không?

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy trong vườn nhà hiện nay…

Tư lệnh Phùng Thế Tài báo cáo:

– Thưa Bác, đúng ạ! Riêng hai đồng chí Bảy và Mẫn lại luôn chiến đấu trong một biên đội. Trong trận chiến đấu ngày 5-9 vừa rồi, hai đồng chí đã diệt gọn cả một tốp hai chiếc F-8 của Mỹ, nên ngay tối hôm đó đã được Bác gửi tặng hai huy hiệu.

– Bác nhớ rồi. Hai chú đều quê ở miền Nam, chú Bảy ở Sa Đéc, còn chú Mẫn ở Bến Tre phải không? Bác hoan nghênh chiến công của tất cả các chú. Các chú đánh khá, nhưng đừng thấy Bác khen mà mũi to ra. Bắn rơi 4 chiếc còn ít. Các chú phải đánh giỏi, bắn rơi nhiều máy bay nữa để Bác vui, đồng bào miền Nam vui…

Nghe lời căn dặn của Bác, Nguyễn Văn Bảy chợt nhớ tới trận đánh rất thú vị ở cầu Giẽ, Hà Tây ngày 5-9-1966. Lúc ấy chiều muộn, Bảy và Mẫn đang được lệnh trở về sân bay. Bỗng anh phát hiện hai chiếc máy bay địch như hai chấm nhỏ ở phía trái. Chúng cũng phát hiện ra MiG nên đổi hướng, không vào đánh cầu Giẽ mà tăng tốc kéo dài hai vệt khói ra phía sau. Bảy tưởng chúng tăng tốc để tấn công các anh. Không dè, chúng đang lao nhanh chạy ra hướng biển. Bảy lệnh cho Mẫn: “Số 2 bắn chiếc bên trái!”. Bảy hô xong, liền tiếp cận và bắn cháy bùng ngay chiếc bên phải. Mấy giây sau, Mẫn cũng bắn nổ tung chiếc bên trái. Trận đánh gặp địch bất ngờ diệt gọn cả một tốp hai chiếc F-8 chỉ có 45 giây…

Chiều 23-4-1967, biên đội 4 chiếc MiG-17 bí mật hạ cánh xuống sân bay Kiến An-Hải Phòng, phục kích địch kéo vào từ phía biển. Vào lúc 16 giờ 30 phút, nhiều tốp F-4 và F-105 bay vào từ biển và đánh khu vực Đông Triều-Quảng Yên. Biên đội xuất kích, được dẫn vòng đến khu vực Sơn Động-Hà Bắc, thuận ánh mặt trời dễ quan sát. Số 2 Nguyễn Bá Địch báo cáo: “Địch bên phải, phía trước 10km!”. Biên đội trưởng Mẫn bình tĩnh ra lệnh: “Vứt thùng dầu phụ, tăng lực, số 2 theo tôi đánh tốp đầu, số 3 đánh tốp sau”. Sau vài phút rượt đuổi, Nguyễn Bá Địch hạ gọn một chiếc F-4. Đôi MiG-17 Nguyễn Văn Bảy và Nguyễn Thế Hôn lúc này đang quần nhau với 4 chiếc F-4 ở tầm thấp hơn. Thế trận xen kẽ, Nguyễn Văn Bảy đang bám hai chiếc F-4 phía trước. Sau anh lại có hai chiếc F-4 bám đuôi. Nguyễn Văn Bảy tiếp cận máy bay địch, dùng khẩu ca-nông 37mm bắn trúng chiếc F-8C của phi đội 24 do tên thiếu tá hải quân E.J.Tucker lái. Hắn nhảy dù và bị bắt. Những chiếc F-4B của Phi đội 114 hộ tống tìm cách gỡ bàn thua, lao vào công kích Bảy. Ьược đồng đội Nguyễn Thế Hôn thông báo, Bảy tài tình ngoặt gấp, tránh đ¬ược tất cả những quả tên lửa của địch phóng tới, thoát khỏi tình thế nguy hiểm…

Những trận đánh trên bầu trời không có chiến tuyến, không có công sự ẩn nấp. Lập công tiêu diệt địch và bị hy sinh diễn ra trong tích tắc. Trong bối cảnh địch đông, ta ít; đứa cơ động không chiến vòng trong với ta, thằng lảng vảng bên ngoài nhằm lúc MiG sơ hở, mải mê công kích để phóng tên lửa tiêu diệt. Những trận không chiến nh¬ư vậy, ta điêu luyện tả xung hữu đột vừa tiêu diệt địch vừa thoát được vòng vây. Nhưng lừa cho địch bắn vào nhau nh¬ư Nguyễn Văn Bảy là trường hợp hiếm có. Đó là trận đánh xảy ra vào giữa năm 1967 trên vùng trời Sơn Động-Hà Bắc. Lúc này, Nguyễn Văn Bảy chỉ huy Biên đội 4 chiếc MiG-17 quần nhau với 6 chiếc F-4 ở tầm thấp. Nguyễn Văn Bảy đuổi một chiếc F-4 vòng gấp, chỉ cách mặt đất 100m. Một chiếc F-4 bám theo anh và phóng tên lửa. Anh né tránh được trong chớp mắt, quả tên lửa lao vào thằng F-4 đang bị Bảy bám đuổi. Đó là kết quả của trí tuệ và tài nghệ điều khiển máy bay lật cánh tránh viên đạn bắn dọc lên, khiến vệt lửa xanh nối liền sang máy bay địch. Nguyễn Văn Bảy không tốn viên đạn nào mà vẫn tiêu diệt gọn một chiếc F-4…

Mỗi người anh hùng phi công thời chống Mỹ, cứu nước đều có những nét đặc sắc đáng nể. Riêng đối với Nguyễn Văn Bảy, cái tên “cúng cơm” của anh ứng với “7 nét đặc sắc”, đó là:

1- Anh đã bắn rơi 7 máy bay Mỹ bằng MiG-17, loại máy bay chỉ có hỏa lực là ca-nông bắn gần để đương đầu với tên lửa không đối không được phóng ra từ xa. Tốc độ máy bay của anh chỉ bằng 70% tốc độ các loại máy bay của Mỹ mà anh bắn rơi.

2- Anh là phi công duy nhất của MiG-17 đã thắng Mỹ đậm với tỷ số “7-0”, nghĩa là anh diệt 7 máy bay Mỹ và không để chúng bắn rơi, bắn bị thương người và máy bay mình lần nào.

3- Anh là một biên đội trưởng đã tạo được nhiều thời cơ để các chiến sĩ trong biên đội có cơ hội lập công, đồng thời anh cũng giành phần hiểm nguy về mình nhiều lần nhất.

4- Anh là một trong ba phi công được tuyên dương Anh hùng LLVT nhân dân đầu tiên, trong đợt tuyên dương anh hùng thời chống Mỹ, cứu nước đầu tiên ở miền Bắc, vào ngày đầu tiên của năm 1967.

…và trên ruộng lúa. Ảnh: Thanh Xuân

5- Anh là chiến sĩ không quân đầu tiên được bầu vào Quốc hội, là Anh hùng Không quân được mời tham gia Đoàn Chủ tịch các đại hội, các cuộc mít tinh của quân đội và Nhà nước nhiều lần nhất.

6- Anh là người chiến sĩ được gặp Bác Hồ nhiều lần nhất lúc Người còn khỏe mạnh, được thưởng 7 chiếc huy hiệu của Người. Ngày Bác mất, anh được đứng túc trực sau linh cữu của Người. Trong buổi lễ truy điệu Bác Hồ, anh dẫn đầu biên đội 12 chiếc MiG-17 bay qua quảng trường Ba Đình chào vĩnh biệt Người…

7- Năm 1990, Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Văn Bảy, nguyên Phó tham mưu trưởng Quân chủng Không quân, được nghỉ hưu. Ông đã rời thành phố trở về quê nhà, cần mẫn lao động làm kinh tế VAC, tích cực tham gia công tác địa phương, vận động bà con đoàn kết xây dựng nông thôn mới và đời sống văn hóa mới. Xin giới thiệu mấy hình ảnh của ông “Hai Lúa” Nguyễn Văn Bảy hiện nay ở quê nhà: xã Hòa Thanh, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp…

ĐINH MẠNH CƯỜNG
qdnd.vn

Hát dưới “mưa bom”

QĐND – Khác với hình dung của chúng tôi, cách Hà Nội ngót 40km, ngôi nhà của ông Lê Nguyên Bá giống như một khu du lịch sinh thái thu nhỏ ngự ở xã Hòa Nam, huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội. Càng ngạc nhiên hơn về chủ nhân của nó: Đã ngoài 70 mà phong thái của ông Bá vẫn trẻ trung, như thuở nào trong đội văn nghệ xung kích của Sư đoàn Phòng không Hà Nội hăng hái đi biểu diễn phục vụ bộ đội và nhân dân Thủ đô dưới làn bom đạn kẻ thù trong 12 ngày đêm rực lửa…

Ông Lê Nguyên Bá.

Ông kể, đội văn nghệ xung kích của ông lúc đầu là đội nghệ thuật quần chúng, được thành lập tháng 11-1972. Cả 27 thành viên của đội đều là các hạt nhân văn hóa văn nghệ từ các đơn vị được triệu tập về Phòng Chính trị sư đoàn, xây dựng chương trình và luyện tập chờ hội diễn quân chủng.

Tối 18-12-1972, máy bay Mỹ bất ngờ ném bom Hà Nội. Báo động toàn thành phố. Điện bị cắt, Hà Nội chìm trong màn đêm. Lúc này, đội đang ở Hòa Mục, nơi đóng quân của Phòng Chính trị. Tất cả xuống hầm.

Đợt bom thứ 3, Sở chỉ huy Sư đoàn Phòng không Hà Nội, trong đó có đội văn nghệ đang trú ẩn cũng bị trúng bom…

Ngay trong ngày đầu của chiến dịch 12 ngày đêm, cơ quan Sư đoàn Phòng không Hà Nội đã có 13 người hy sinh, trong đó 9 chiến sĩ trong đội văn nghệ của ông… Các chiến sĩ văn nghệ còn sống, ai cũng bị thương. Người được đưa về Viện Quân y 103, người về Bệnh viện Quân chủng điều trị.

Ngay hôm sau, đội văn nghệ nhận được lệnh giải tán. Tuy nhiên, Chính ủy Trần Văn Giang đồng ý cho đội ở lại phục vụ bộ đội. Lê Nguyên Bá lúc ấy là Trợ lý của Cơ quan Chính trị sư đoàn, được giao làm đội trưởng.

Đội có 27 người, hy sinh mất 9, số còn lại đều bị thương. Hồng Bến gãy bả vai, Hồng Việt bị thương ở ngực… nhưng tất cả đều quyết tâm luyện tập, chuẩn bị cho đợt diễn đặc biệt. Là đội trưởng, điều đầu tiên ông trăn trở là làm sao phải có thêm tiết mục về đánh B-52. Có chút ít năng khiếu sáng tác, Nguyên Bá, Xuân Điềm, Ngọc Khôi cùng tìm tứ…

Ngay hôm sau, 6 ca khúc về đánh B-52 được ra đời. Tiếp đó là vài ba tác phẩm nữa. Lời lẽ giản dị, mộc mạc. Phần nhạc cũng đơn giản, dễ nghe, đại loại như: “Bê, bê, bê, bê là B-52. Bê, bê, bê, bê là bê lăn quay…”. Có bài hát rồi, các diễn viên miệt mài luyện tập. Nhà của Cơ quan Chính trị bị đánh sập, các chiến sĩ văn nghệ sang những ngôi nhà dãy bên, lợp tranh tre, nứa lá, tập dưới ánh đèn dầu tù mù và trong tiếng bom, đạn nổ rền.

Ngày 23-12, đội bắt đầu lên đường đi biểu diễn phục vụ bộ đội. Biểu diễn ngay bên thành công sự pháo, bên bệ phóng tên lửa. Trận địa, chỗ nào còn rộng thì được lấy làm sân khấu. Trang phục là quân phục. Mấy chiến sĩ nữ được phát vài hộp phấn trắng, thi thoảng bôi chút son màu lên môi, lên má. Trang âm đơn giản chỉ là hai chiếc đài li đô được gắn trên cây cọc gỗ cắm trên bãi đất, hai chiếc loa nén được bố trí hai bên “cánh gà”; nhạc cụ chỉ là mấy chiếc ghi-ta gỗ… Đội hát toàn thương binh, người quấn băng ở đầu, người ở chân nhưng ai cũng hát say sưa lắm. Hồng Bến hút hồn người nghe bằng giọng ca đằm chất quan họ khi song ca cùng Bích Luật… Tiết mục ngâm thơ “Tình yêu với bầu trời Hà Nội” của Hồng Việt đã làm không ít chiến sĩ rơi lệ. Các cây ghi-ta Xuân Điềm, Văn Bình; cây đàn tam của Cao Sinh góp phần làm các chương trình thêm sinh động. Còn như Xuân Điềm là người đa tài vừa sáng tác, vừa là nhạc công, vừa là ca sĩ.

Lần đội biểu diễn ở Đại đội 71, Trung đoàn 212- đơn vị chốt bảo vệ phía bắc cầu Đuống, đang hát thì máy bay địch đến, còi báo động rú vang. Đội ngừng hát. Ai có chuyên môn gì, về bộ phận ấy của đơn vị tham gia cùng chiến đấu. Chiến sĩ thông tin thì về Sở chỉ huy, người đến từ đơn vị pháo thì ra bê đạn cho pháo thủ… Máy bay Mỹ đi rồi, các chiến sĩ văn nghệ lại tiếp tục hát. Trong một giờ đồng hồ, máy bay Mỹ đến rải bom 4 lần, 4 lần anh em ngừng biểu diễn, rồi các giọng ca lại tiếp tục vang lên ngay khi tiếng máy bay xa dần…

Ông Bá nhớ như in lần biểu diễn cho Bộ đội Tên lửa trên đồi Kim Tiền, Kim Anh, Vĩnh Phúc. Khi đội văn nghệ vừa đến, cán bộ, chiến sĩ đã thức suốt đêm đánh giặc, vẫn hăng hái lao động chuẩn bị “sân khấu”. Mỗi người một việc, tay cuốc, tay xẻng chuẩn bị mặt bằng và khiêng những tấm phản kê ghép lại thành một sân khấu gỗ. Đội biểu diễn xong, mỗi chiến sĩ văn nghệ nhận được một bó hoa chúc mừng. Lê Nguyên Bá tâm sự, có lẽ những bó hoa dại anh em hái quanh trận địa năm ấy là những bó hoa đáng nhớ nhất mà ông đã nhận được trong cuộc đời nghệ sĩ.

Không chỉ hát cho bộ đội nghe, các chiến sĩ văn nghệ còn biểu diễn phục vụ cả nhân dân các địa phương: Gia Lâm, Đông Anh, Thanh Trì, Hà Nội. Ở đâu, đoàn cũng nhận được sự yêu mến đặc biệt của khán giả. Một lần diễn ở Giang Biên, Gia Lâm, tốp ca nam 7 người quấn băng cả 7, các cụ già lên tận sân khấu ôm lấy các con mà khóc.

Sau chiến dịch, Đội văn nghệ xung kích còn được giữ lại đến tháng 4-1973, qua nhiều nơi phục vụ bộ đội và nhân dân.

Đã 40 năm trôi qua, đội văn nghệ ngày ấy nay vẫn thường xuyên gặp nhau, cùng nhau ôn lại kỷ niệm một thời oanh liệt. Lê Nguyên Bá đã ở tuổi 72 nhưng cái chất văn nghệ vẫn cháy ở trong ông như thời trai trẻ. Ông vẫn làm thơ, sáng tác nhạc, dàn dựng chương trình văn nghệ cho địa phương, tham gia các cuộc thi. Ông đã từng nhận nhiều giải thưởng cho các sáng tác thơ, các chương trình biểu diễn nghệ thuật. Song có một niềm vui, niềm tự hào bất tận luôn dâng ngập lòng ông, khó có gì sánh nổi đó là: Đội văn nghệ của ông năm ấy và những ngày tiếng hát át tiếng bom đã góp phần cùng quân và dân Hà Nội làm nên chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”.

Bài và ảnh: HỒNG LINH
qdnd.vn

Người phi công “tám phút diệt hai máy bay”

QĐND – Đó là Trung úy Hoàng Tam Hùng -Phi công tiêm kích thuộc Trung đoàn 927 (Sư đoàn 371). Bằng hai quả tên lửa, anh đã bắn rơi tại chỗ hai chiếc máy bay địch.

Trong ký ức người thân

Trung úy Hoàng Tam Hùng là con cả trong gia đình có 8 anh chị em. Ba anh là ông Hoàng Anh, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Phó thủ tướng Chính phủ. Ba mẹ anh đều là người sinh ra và lớn lên ở Bình Trị Thiên và sớm đi theo cách mạng. Năm 1958, khi ông Hoàng Anh làm Bộ trưởng Bộ Tài chính thì cả gia đình chuyển về Hà Nội sinh sống. Nói về anh trai mình, chị Hoàng Thị Lương Hòa -em gái liệt sĩ Hoàng Tam Hùng kể lại: “Tháng 10-1965, khi đang là học sinh lớp 10, anh Hùng tham gia tuyển chọn và trúng tuyển phi công. Năm 1966, anh được cử sang Liên Xô học lái máy bay quân sự. Năm 1969, anh về nước, tham gia đội hình chiến đấu của Trung đoàn Không quân tiêm kích 927 (Sư đoàn 371). Ban đầu anh là phi công MiG-17, nhưng sau đó do yêu cầu nhiệm vụ anh tiếp tục được chuyển loại sang lái máy bay MiG-21. Tháng 12-1972, anh được biên chế vào đội phi công bay ngày của Trung đoàn không quân tiêm kích 927. Ngày 28-12-1972, trong trận không chiến với không quân địch, sau khi hạ được hai chiếc máy bay Mỹ, anh đã anh dũng hy sinh”.

Liệt sĩ, phi công Hoàng Tam Hùng. Ảnh: Thành Trung

Tiến sĩ Nguyễn Sỹ Hưng, nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị Vietnam Airlines, là bạn thân của Hoàng Tam Hùng xúc động nói: “Trong trái tim tôi, Hoàng Tam Hùng không chỉ là người bạn chí tình chí nghĩa mà còn là một anh hùng”!

Hiện gia đình anh còn lưu giữ được bài báo “Giây phút thần kỳ trên cao” của tác giả Hà Bình Nhưỡng đăng trên trang 2 Báo Quân đội nhân dân số ra ngày 13-1-1973 và bài “Thông tin về trận đánh ngày 28-12-1972” của tác giả Nam Liên dịch từ cuốn hồi ký của các cựu phi công Mỹ từng tham gia chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ 2, đều có nhắc đến thông tin về anh.

8 phút thần kỳ

Ngày 28-12-1972, địch tiếp tục kéo vào đánh phá Hà Nội. Theo lệnh của trên, Trung đoàn 927 xuất kích một biên đội chặn đánh địch từ phía tây sang. Vào lúc 11 giờ 20 phút, biên đội Lê Văn Kiền -Hoàng Tam Hùng đang trực ở sân bay Nội Bài thì nhận được lệnh cất cánh vòng chờ tại đỉnh sân bay. Phát hiện địch vào hướng đông nam, chỉ huy Trung đoàn 927 đề nghị biên đội bay theo hướng 150 độ xuống phía nam chặn đánh những tốp địch từ biển vào. Hơn một phút sau, biên đội phát hiện địch ở bên trái 45 độ, cự ly 10km, chúng bay thành hai tốp ở hai độ cao khác nhau. Tiếp đó, biên đội lại phát hiện tiếp một tốp 4 chiếc phía trước ở cự ly 8km. Biên đội xin phép đánh tốp phía trước. Sở chỉ huy cho dùng tốc độ lớn vào công kích và nhắc công kích xong thoát li bên phải.

Ngay lúc đó, số 1 Lê Văn Kiền và số 2 Hoàng Tam Hùng tăng lực đuổi theo tốp máy bay địch phía trước. Khoảng cách thu lại rất nhanh. Số 1 bám chiếc máy bay phía trái đội hình địch, nhắc số 2 cảnh giới rồi lao về phía địch. Chưa kịp phóng tên lửa thì chiếc máy bay địch đã đột ngột chúi xuống, khiến cho máy bay của Lê Văn Kiền vọt qua trên lưng nó. Không kịp bám chiếc khác, số 1 lệnh cho số 2 vào công kích rồi vòng lại phía sau làm nhiệm vụ cảnh giới cho số 2. Rất nhanh, Hoàng Tam Hùng vượt lên bám được một chiếc và đưa nó vào vòng ngắm. Quả tên lửa từ máy bay Hùng phóng ra nổ trúng mục tiêu. Chiếc máy bay địch bốc cháy rơi xuống, đó là loại máy bay trinh sát RA-5C. Theo thông tin trong cuốn hồi ký của các cựu phi công Mỹ thì đây là máy bay RA-5C thuộc phi đội trinh sát 13 do Thượng úy A.H.Agnel và Trung úy MF.Halfey điều khiển. Thượng úy Agnel nhảy dù sống sót, còn Trung úy Halfey bị chết ngay tại trận.

Thấy đồng bọn bị tấn công, những tốp F-4 bay phía trái vòng quay lại. Lúc này địch đông hơn nhiều và biên đội cũng không còn bám được nhau. Cả hai lao vào quần nhau với những chiếc F-4 trên bầu trời Phủ Lý. Hoàng Tam Hùng đã bám được một chiếc F-4. Lúc này, trong cáp nghe vang lên tiếng từ sở chỉ huy cho thoát li về sân bay Nội Bài hạ cánh, nhưng Hùng đang mải bám theo chiếc F-4 và cố đưa nó vào vòng ngắm nên anh không trả lời. Chiếc F-4 trước mặt đã nằm gọn trong vòng ngắm, anh ấn nút phóng quả tên lửa còn lại. Chiếc F-4 chững lại, rơi xuống kéo theo một quầng lửa. Hùng hô rất to: “Cháy rồi”! Chính vào thời điểm đó, một quả tên lửa địch từ chiếc F-4 bay phía sau đã bắn trúng máy bay Hùng. Anh không kịp nhảy dù nên đã anh dũng hy sinh. Lúc đó là 11 giờ 28 phút.

Như vậy, sau 8 phút từ lúc cất cánh, với hai quả tên lửa, phi công Hoàng Tam Hùng đã bắn rơi hai máy bay địch trong trận đánh cuối cùng của anh. Cũng từ thông tin trong cuốn hồi ký của phi công Mỹ tham gia chiến dịch 12 ngày đêm tháng 12-1972, thì chiếc máy bay F -4 bắn Hoàng Tam Hùng do hai Trung úy Scott H.Davis và Geofrey điều khiển sau đó bị tai nạn rơi xuống biển ngày 3-5-1973.

NGUYỄN THÀNH TRUNG
qdnd.vn

Lực lượng “cưỡi mây giết giặc”

QĐND – Đó là một lực lượng đặc biệt của quân đội ta, ra đời những năm chống Mỹ và tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi nên ít người biết đến. Dẫu vậy, lực lượng này cũng kịp lập nên những chiến công rạng rỡ mà bây giờ, cho dù 58 năm đã trôi qua, những người trong cuộc vẫn rất đỗi tự hào về một thời “đu trời giết giặc”…

Không bong gân không phải… lính dù

Mùa thu này tròn 58 năm kỷ niệm ngày thành lập Sư đoàn 305, tiền thân của Bộ tư lệnh Dù năm xưa (30-8-1954 – 30-8-2012). Đại tá Nguyễn Hữu Đạc, Giám đốc Bảo tàng Phòng không -Không quân “bật mí” rằng sẽ có cuộc hội ngộ của những người lính đặc biệt thuộc Bộ tư lệnh Dù ra đời thời chống Mỹ. Chỉ tay về phía hai người lính già đầu bạc trắng, anh Đạc giới thiệu: “Kia là Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh -nguyên Chính ủy Bộ tư lệnh Dù và Thượng tá Đặng Văn Nhơn -Chủ nhiệm Dù ngày đó”.Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh cho hay, việc ra đời “bộ đội dù” xuất phát từ sức nóng của chiến trường.Đầu năm 1961, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh quyết định thành lập Lữ đoàn Dù 305, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc, chi viện miền Nam. ông đã may mắn trở thành chính ủy đầu tiên của lữ đoàn và còn lập nên một kỷ lục quân sự: Là chiến sĩ đầu tiên của quân đội ta thực hiện nhảy dù.

Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, Chính ủy đầu tiên của Bộ tư lệnh Dù.

Vạn sự khởi đầu nan, “cánh lính dù chúng tôi lúc ấy, anh nào cũng có một điểm chung là cái chân lúc nào cũng tập tễnh. Không bong gân không phải lình dù”, Đại tá Đàm Trọng -nguyên Đại đội phó công binh dù nhớ lại.

Huấn luyện tinh nhuệ mà vẫn an toàn

“Bộ đội dù” thuộc loại binh chủng có trang thiết bị kỹ thuật cao để bảo đảm tính cơ động và đột kích nhanh nhất, nên chi phí rất tốn kém và được gọi là binh chủng của “quân đội nhà giàu” với hệ thống sân bay, máy bay các loại, hàng vạn chiếc dù cùng các trang thiết bị khí tài khác rất đắt tiền. Bốn chiếc dù ngày đó trị giá bằng một chiếc xe Mô -kô-vích và mỗi chiếc dù chỉ sử dụng được cho 25 lần nhảy. Tuy nhiên, bộ đội ta phải huấn luyện kiểu… nhà nghèo, tiết kiệm dù. Trước khi nhảy dù, họ phải tập luyện nhảy các “bậc tam cấp” ở dưới đất rất vất vả.

Thượng tá Đặng Văn Nhơn kể: Đào tạo một anh phi công bao nhiêu cân thì mất bấy nhiêu vàng. Đào tạo một anh lính dù thì bằng nửa số vàng ấy. Lúc đó, nhân dân Bắc Giang đã bảo đảm hậu cần cho chúng tôi, đội quân “nhà giàu” lớn lên từ rau cháo của những người dân nghèo mà giàu tình nghĩa”.

Theo ông Nhơn, muốn làm “bộ đội dù”, cần nhất phải có lòng dũng cảm. Mỗi ngày nhảy dù một lần, anh em thường đùa nhau: Mỗi lần nhảy là một lần… sống lại. Đó là thử thách đầy khắc nghiệt và cũng là cảm giác mà không phải binh chủng nào cũng có được.

Người cán bộ chỉ huy cũng phải luôn luôn theo sát bộ đội, nếu ai còn băn khoăn, do dự thì kiên quyết không cho nhảy. Điều đó lý giải vì sao bộ đội dù của Việt Nam không bị tổn thất về người trong khi các nước trên thế giới hầu như đều có tổn thất. Các chuyên gia bạn đã đánh giá: “Hầu hết các nước trên thế giới huấn luyện nhảy dù đều có tử vong. Riêng Việt Nam thì không, đó là thắng lợi đặc biệt”.

Giữa lưng trời giết giặc

Chuyện hiếm trên thế giới, “bộ đội dù” vẫn diệt được máy bay địch. Đó là một sáng tạo độc đáo ở Việt Nam. Bộ đội ta đã sử dụng kinh khí cầu gắn mìn định hướng để tiêu diệt kẻ thù. Kinh khí cầu được thả lơ lửng tạo thành các chướng ngại vật trên không, giống như bãi chông mìn trên trời nhằm chống lại chiến thuật bay thấp, luồn lách theo các cửa sông, dải núi rừng vào đánh lén các mục tiêu quân sự, chính trị, kinh tế, cầu giao thông quan trọng ở miền Bắc nước ta.

Bằng cách này, chúng ta đã tiêu diệt được 3 máy bay địch, một máy bay AD6 của Mỹ ở Ninh Bình (1967), một ở dọc sông Hồng (1966) và một ở Quảng Trị (1966). “Hôm ấy sương mù dày đặc trời Ninh Bình, một tiếng nổ váng trời”Đại tá Đàm Trọng, nguyên là Đại đội phó Đại đội 15 công binh dù đã tham gia bẫy máy bay địch bằng kinh khí cầu làm nổ tung chiếc AD6 của Mỹ trên bầu trời Ninh Bình, nhớ lại.

Trên chiến trường Lào, “bộ đội dù” Việt Nam đã thả hàng ngàn tấn vũ khí, khí tài, lương thực an toàn đến tay các đơn vị chiến đấu ở Lào. Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, “bộ đội dù” đã góp phần quan trọng trang bị vũ khí cho Mặt trận Trị -Thiên.

Nhưng họ cũng phải chịu không ít mất mát, hy sinh. Có những chiến sĩ đã ngã xuống trên bầu trời Tổ quốc, có người tìm được hài cốt, có người chưa. Không cầm được những giọt nước mắt nghẹn ngào, Thượng tá Đặng Văn Nhơn tâm sự: “Lần ấy, tôi trực tiếp chỉ huy chuyến bay dù tiếp tế cho chiến trường Trị -Thiên. Bảy người đồng đội tôi mãi mãi ra đi trong chuyến bay ấy. Họ đã hoàn thành nhiệm vụ và khi quay trở về thì trúng đạn của

Bài và ảnh: Nguyễn Hương Bưởi
qdnd.vn

Nước Mỹ 2012: Hoa hồng, súng đạn và chiếc bánh xe bị khô dầu

*Nói về  nước Mỹ năm 2012, nhiều nhà phân tích đã thốt lên: Súng đạn và hoa hồng 

QĐND – Chiến thắng giòn giã của đương kim Tổng thống Ô-ba-ma (Obama) trong cuộc bầu cử đầy kịch tính hồi tháng 11 đã cho thấy, cử tri Mỹ một lần nữa lại hy vọng đất nước sẽ tốt đẹp hơn trong 4 năm tới với người đã hứa tạo ra “thay đổi”. Nhưng vụ thảm sát tại Trường Tiểu học Sandy Hook nơi thị trấn nhỏ Newtown  khi chỉ còn chưa đầy tháng là khép lại năm 2012 đã như một vết cắt trực tiếp vào sự lạc quan đó, có lẽ đến hàng chục năm sau cũng chưa thể lành da.

Còn nhớ, chia tay năm cũ 2011 đầy âu lo, nước Mỹ bước vào năm tổng tuyển cử 2012 với nhiều kỳ vọng. Kỳ vọng vào một nền kinh tế phục hồi đà tăng trưởng. Kỳ vọng về một xã hội yên bình. Quan trọng hơn cả là kỳ vọng vào những khuôn mặt xứng đáng sẽ đưa chính trường Mỹ vào một nhiệm kỳ hoạt động hiệu quả hơn.

Thông điệp Liên bang ông Ô-ba-ma đọc trên cương vị Tổng thống Mỹ hồi tháng 1-2012 từng nhấn mạnh rằng, sẽ làm mọi cách để đưa những điều tốt đẹp nhất đến với nước Mỹ.  11 tháng sau, nhìn lại, về mặt nào đó, người ta thấy một nước Mỹ đang trên đà “bình phục”.  Những tổn thương về kinh tế, xã hội hay chính trị đã dần được chữa trị: Nước Mỹ đã và đang thoát dần khỏi những cuộc chiến ở I-rắc và Áp-ga-ni-xtan; cuộc khủng hoảng tài chính – ngân hàng dần được khắc phục; nền kinh tế tiếp tục đà hồi phục dù chưa chắc chắn; vị thế và uy tín của Mỹ trên thế giới cũng đang dần được cải thiện.

Nhưng nếu chỉ có thế thì năm 2012 đối với nước Mỹ cũng không hẳn đáng nhớ.

Ngày 6-11 vừa qua, đa số người dân Mỹ đều vui mừng đón tin đương kim Tổng thống Ô-ba-ma tái đắc cử, tiếp tục lãnh đạo nước Mỹ thêm bốn năm nữa. Với khẩu hiệu “Tiếp tục thay đổi để tiến về phía trước”, ông Ô-ba-ma đã giành chiến thắng không quá vất vả trước đối thủ giàu tiềm năng Mít Rôm-ni (Mit Romney). Dù cách giải quyết vấn đề đôi chỗ vẫn còn phải bàn,  nhưng ông Ô-ba-ma đã đánh trúng tâm lý của những người Mỹ vốn đã quá sợ hãi và chán chường với di sản 8 năm cầm quyền trước đó của Tổng thống Bu-sơ. Đó là vũng lầy hao người tốn của ở I-rắc và Áp-ga-ni-xtan, là sự tan tác của phố Uôn, là sự suy giảm về kinh tế cũng như uy tín và vị thế của nước Mỹ. Có lẽ là vì thế, lần thứ hai trong lịch sử bầu cử Mỹ, “con bài an ninh” của đảng Cộng hòa đã không còn đủ sức nặng buộc những người dân Mỹ phải phân tâm trước phòng bầu cử. Hình ảnh cơn lốc tài chính cuốn phăng cả những “người khổng lồ” trên phố Uôn năm nào đã làm thay đổi mối quan tâm của người Mỹ, buộc người ta phải bận tâm trước hết đến câu chuyện về “bát cơm manh áo”.  Nhiều cử tri lựa chọn tiếp tục ủng hộ ông Ô-ba-ma với niềm tin là ông có khả năng vực dậy nền kinh tế và đưa nước Mỹ “tiến lên”.

Nhìn lại nhiệm kỳ trước của ông Ô-ba-ma, sau 4 năm cầm quyền, nền kinh tế Mỹ đã từng bước thoát ra khỏi cuộc suy thoái tồi tệ nhất trong vòng 70 năm qua, tỷ lệ thất nghiệp đã giảm dần mặc dù đà phục hồi vẫn chưa thực sự vững chắc. Trên lĩnh vực đối ngoại, thành công trong chiến dịch tiêu diệt trùm khủng bố Bin La-đen (bin Laden), quyết định kết thúc hai cuộc chiến tại Áp-ga-ni-xtan và I-rắc, duy trì sự hiện diện của Mỹ ở khắp các khu vực thông qua mạng lưới đồng minh quân sự rộng khắp – đã ghi nhận những điểm cộng cho chính quyền Ô-ba-ma.

Cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ tháng 11 vừa rồi là bằng chứng rõ ràng nhất cho thấy sự tin tưởng và kỳ vọng của người dân Mỹ vào tổng thống của mình. Trên hết, nó cho thấy nước Mỹ đang thúc giục việc hiện thực hóa những cam kết đã hứa, cả về đối nội và đối ngoại.

Nhưng nước Mỹ không chỉ có “hoa hồng chiến thắng”.

Những ngày đầu tháng 12, khi chỉ còn non tháng nữa là khép lại năm 2012 đầy sôi động, cả nước Mỹ đã bàng hoàng và phẫn nộ khi một kẻ cuồng sát xả súng giết chết 28 người, trong đó có 20 trẻ em, tại một trường tiểu học ở thị trấn nhỏ Newtown. Vụ việc khiến những ngày cuối năm đáng trông đợi nhất của nước Mỹ trở nên buồn thảm và khiến chính giới nước này phải giật mình nhìn lại: Tại sao thảm kịch kiểu này lại tái diễn quá nhiều lần trên đất Mỹ?

Không tính những năm trước, chỉ tính riêng năm 2012, tại Mỹ đã có ít nhất 7 vụ sát hại hàng loạt, tước đi mạng sống của 65 người. Thậm chí chỉ vài ngày sau vụ thảm sát ở Trường Tiểu học Sandy Hook, nước Mỹ còn chứng kiến thêm vài vụ xả súng nữa. Một nguyên nhân được nêu ra là trên thế giới không nước nào người dân sở hữu súng nhiều như nước Mỹ. Theo thống kê, với dân số hiện tại khoảng 315 triệu người, ở Mỹ hiện có tới hơn 270 triệu khẩu súng các loại cùng cơ số đạn đủ để phục vụ cho một cuộc chiến có quy mô tương đương Thế chiến 2.

Nhưng tại sao người Mỹ lại dễ dàng sở hữu súng đạn đến vậy? Điều 2 của Hiến pháp Mỹ quy định người dân nước này có quyền sở hữu súng để phòng thân và bảo vệ quốc gia. Nguy hiểm là thế, nhưng không một chính khách hay Tổng thống nào đủ can đảm để ban hành những điều luật kiểm soát chặt chẽ súng đạn đi kèm với nó. Không khó hiểu khi trong nhiều năm trở lại đây, luật sở hữu súng tư nhân vẫn được xem là một “chủ đề nhạy cảm” đối với nước Mỹ và thậm chí còn được xem là “một tử địa” đối với nhiều nhà chính trị Mỹ. Trong quá khứ, bản thân đảng Dân chủ của Tổng thống Ô-ba-ma đã phải trả một cái giá đắt khi theo đuổi những nỗ lực nhằm kiểm soát súng tại Mỹ. Và quan trọng hơn, không ai có thể làm ngơ với doanh thu khổng lồ từ việc mua bán súng đạn, nhất là khi những tấm chi phiếu đó lại được “quyên góp” cho những chiến dịch tranh cử công phu của các chính khách.

Nhiều nhà phân tích đã nói rằng “hãy mơ đi” khi Tổng thống Ô-ba-ma rơi lệ cam kết về một quyết tâm đẩy mạnh việc kiểm soát súng đạn sau vụ thảm sát ở thị trấn Newtown. Những tranh cãi dai dẳng về việc cấm hay cho phép sử dụng súng tại Mỹ vốn đã diễn ra từ năm 1981 sau vụ ám sát hụt cố Tổng thống R. Ri-gân (R. Reagan). Để thay đổi điều 2 Hiến pháp Mỹ cần phải có sự chấp thuận của 2/3 nghị sĩ Quốc hội và phải tiến hành trưng cầu dân ý cho Hiến pháp mới. Đó thật sự không phải là việc dễ dàng khi nước Mỹ bị chia rẽ với một Quốc hội mà quyền lực vẫn chia đều cho hai đảng còn nghị sĩ thì đã và đang tiếp tục chịu áp lực nặng nề từ lá phiếu của các thành viên Hiệp hội súng đạn Mỹ (NRA).

Nước Mỹ năm 2012 có quá nhiều thứ  để nhắc người ta nhớ.  Vụ tấn công tòa nhà lãnh sự Mỹ ở Tri-pô-li khiến Đại sứ Mỹ tại Li-bi thiệt mạng được ví như “vụ 11-9 năm 2012” một lần nữa cho thấy, mối đe dọa của bóng ma khủng bố chưa bao giờ rời xa nước Mỹ. Tổn thất về người và của ở mức kỷ lục khi “cái đuôi” của cơn bão Sandy quét qua nước Mỹ cũng khiến người ta nhận ra sự chênh lệch giàu nghèo nơi xứ cờ hoa vẫn đang ở mức báo động. Và mối đe dọa “vách đá tài chính”, với hàng tỷ USD tăng thuế và cắt giảm chi tiêu chính phủ sẽ được thực hiện vào đầu năm tới, dẫn tới nguy cơ đẩy nền kinh tế lớn nhất thế giới tái rơi vào suy thoái, vẫn đang hiện hữu khi kim đồng hồ đếm ngược sắp chạm đến thời khắc quyết định.

Ngần ấy thứ ở nước Mỹ đã khiến cho nhiều nhà kinh tế học đưa ra một hình ảnh đầy mỉa mai: “Nước Mỹ vẫn kẹt trên chiếc bánh xe bị khô dầu”.

Nhưng trên hết, nước Mỹ vẫn cần phải thay đổi để tiến lên phía trước. Nước Mỹ phải khắc phục tối đa những tổn thương từ hai cuộc chiến tranh. Nền kinh tế Mỹ phải lấy lại sức sống với tốc độ nhanh nhất để hầu bao mỗi người dân không bị vơi đi. Món nợ ngân sách 16 nghìn tỷ USD phải được giải quyết sao cho không ảnh hưởng đến “bát cơm manh áo” của từng người. Đó đang là mối quan tâm lớn nhất của người dân Mỹ hiện nay. Tương lai nằm trong tay của chính quyền Tổng thống tái đắc cử B.Ô-ba-ma.

THU TRANG
qdnd.vn

Tình trạng “phe nhóm” trong Quân đội Sài Gòn

QĐND-Theo một tài liệu lưu trữ của Cục Địch vận (Tổng cục Chính trị), vào thời điểm các năm 1972-1973, đội ngũ cán bộ địch vận các đơn vị đã thu thập, nghiên cứu khá chi tiết về tình hình đảng phái trong sĩ quan Quân đội Sài Gòn. Tài liệu cũng nêu rõ xu hướng, thế lực của từng đảng phái, nội tình phe nhóm trong các sĩ quan cao cấp và việc xuất hiện những “ông bầu” Mỹ đứng sau từng phe nhóm…

Mục đích tổ chức và hoạt động của các đảng phái trong Quân đội Sài Gòn là để bảo vệ quyền lợi, địa vị của các đảng phái, song nhìn chung đội ngũ sĩ quan đều dựa vào đảng phái của mình để thăng tiến và “làm giàu” chứ không hẳn là từ những lời rêu rao “vì quyền lợi tối thượng của quốc gia, dân tộc”. Thực tế trong Quân đội Sài Gòn, sĩ quan cầm đầu đơn vị là đảng viên thuộc đảng phái nào thì phần lớn sĩ quan thuộc quyền sẽ là đảng viên của đảng phái ấy.

Nguyễn Văn Thiệu trong lần tiếp Đại sứ Hoa Kỳ Hen-ri Ca-bốt Lốt (Henry Cabot Lodge) tại Sài Gòn. Ảnh tư liệu.

Trong số các đảng phái lớn thời Nguyễn Văn Thiệu, tổ chức đảng của “Cần lao nhân vị” có phần chặt chẽ hơn vì được chính quyền Thiệu ủng hộ và có nhiều tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp cầm đầu trong quân đội và chính quyền. “Cần lao nhân vị” từng là đảng của Ngô Đình Diệm, sau khi Diệm đổ, đảng này tan rã, nhưng trong các năm 1967-1971, lại được Thiệu tích cực ủng hộ và phát triển ở nhiều nơi. Khá đông đảng viên “Cần lao nhân vị” đã nắm các vị trí chủ chốt như: Tổng Tham mưu trưởng; Tổng cục trưởng Tổng cục Chiến tranh chính trị; đa số các tư lệnh quân đoàn, sư đoàn, tỉnh trưởng, trung đoàn trưởng, quận trưởng, cảnh sát các cấp… “Đại Việt” cũng là một đảng phái phát triển khá mạnh, nhất là khu vực Vùng 1 Chiến thuật. Tháng 5-1972, sau khi bị Quân giải phóng đánh chiếm Quảng Trị, phái “Đại Việt” miền Trung do Hà Thúc Ký cầm đầu đã đứng ra lập Sư đoàn Thuận Hóa gồm cả lực lượng bảo an, công chức lẫn thương-phế binh nhằm “phòng tránh nguy cơ Cộng sản chiếm Huế”. Ngoài 6 đảng phái chính, chính trường Sài Gòn còn xuất hiện các tổ chức: “Mặt trận cứu nguy dân tộc”, “Phong trào quốc gia cấp tiến”, “Phong trào Tân dân”… cùng các giáo phái khác, tất cả đều chung mục tiêu chính là “chống Cộng”.

Thời kỳ đầu thập niên 1970, từ Tổng thống cho tới các Tư lệnh quân đoàn, sư đoàn, các tỉnh trưởng, trung đoàn trưởng, quận trưởng… đều có dính líu đến các phe nhóm, hoặc là của phe này, hoặc là của phe kia do các mối quan hệ: Cùng quê hương, họ hàng, cùng tín ngưỡng, đảng phái chính trị, hoặc ít ra cũng là quen biết, thân thích nhau. Quân đội Sài Gòn những năm 1972-1973 đã xuất hiện các phe cánh được điểm mặt, gồm: Phe Nguyễn Văn Thiệu, phe Trần Thiện Khiêm, phe Nguyễn Cao Kỳ, phe Nguyễn Văn Vỹ, phe Cao Văn Viên… Ở cấp Quân đoàn, Vùng chiến thuật lại chia thành các phe nhóm do các viên tướng đứng đầu gồm: Phe Hoàng Xuân Lãm, phe Ngô Quang Trưởng, phe Nguyễn Văn Minh, phe Vĩnh Lộc, phe Ngô Du, phe Lữ Lan… Mỗi phe lại có một “ông bầu” là cố vấn Mỹ đứng sau, như phe Nguyễn Văn Thiệu có Bân-cơ (Bunker), Nguyễn Cao Kỳ có Oét-mo-len (Westmoreland), Cao Văn Viên có A-bram (Abrams), Ngô Du có Giôn Pôn Van (John Paul Vann), Ngô Quang Trưởng có tướng Cháp-men (Chapman) – cựu Tư lệnh sư đoàn thủy quân lục chiến Mỹ, Trần Thiện Khiêm có một nhóm CIA và một số chính khách ở Đài Loan, … Những cố vấn Mỹ này thường nắm rất chắc các Tư lệnh quân đoàn, Tư lệnh sư đoàn và Tỉnh trưởng thông qua những cuộc vui chơi, nhậu nhẹt. Thậm chí thông qua những cuộc thăm hỏi, chuyện trò, các “ông bầu” Mỹ còn tranh thủ tìm hiểu ý định, quan điểm của sĩ quan bản địa rồi tìm cách can thiệp vào vị trí chỉ huy của đội ngũ này. Năm 1971, chính Rát-xơn (Russon) (Phó tư lệnh Bộ Chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ-MACV) đã từng đưa ra nhận xét về Dư Quốc Đống với Nguyễn Văn Thiệu: “Ông ta chỉ lo làm giàu, không lo hành quân” và bày tỏ ý định muốn loại Đống ra khỏi sư đoàn dù. Đống biết chuyện, muốn Thiệu thu xếp để ông ta chuyển sang nơi khác, nhưng Thiệu vẫn muốn Dư Quốc Đống nắm Sư dù, bởi viên Tổng thống “lo xa”, muốn Đống là chỗ dựa tin cậy để phòng đảo chính. Nguyễn Văn Thiệu cũng từng có ý định đưa vây cánh của mình là Tư lệnh phó Sư đoàn dù Hồ Trung Hậu sang làm Tư lệnh Sư đoàn 21, nhưng các cố vấn Mỹ không đồng tình, cho rằng năng lực của Hậu kém, không hợp vị trí, mãi tới tháng 4-1972, Thiệu mới có dịp cất nhắc, đưa Hậu lên làm Tư lệnh Sư đoàn 21…

Không chỉ số sĩ quan cấp cao mới có tình trạng phe nhóm, đội ngũ sĩ quan trẻ cũng có sự phân hóa rõ rệt trong xu hướng lựa chọn đường binh nghiệp. Các cán bộ địch vận của ta đã tiến hành khảo sát thái độ chính trị của hàng trăm sĩ quan Quân đội Sài Gòn và nhận thấy phần lớn trong số này đều “thích thú” và tự nguyện vào các đơn vị binh chủng hơn là các đơn vị bộ binh, bởi theo họ cầm quân ở các đơn vị binh chủng vừa đỡ vất vả, ít thương vong, lại có “cơ hội” kiếm tiền và dễ dàng tiến thân. Trong các đơn vị binh chủng, sĩ quan không quân và hải quân thường tự cho mình là những thành phần “trí thức” hơn các đơn vị binh chủng khác, số này thường tỏ ra kiêu căng, nặng đầu óc hưởng thụ. Sĩ quan hải quân do hoạt động đặc thù ở xa đất liền nên các đảng phái cũng ít có điều kiện câu móc, lôi kéo.

Với số sĩ quan mới tốt nghiệp được lựa chọn phục vụ ở hậu cứ, gần nhà và tránh xa “hòn tên mũi đạn” thì buộc phải có những điều kiện: Là con một, có cha mẹ già trên 60 tuổi và gia đình đã có 3-4 anh trai đang ở đơn vị chiến đấu. Tuy có những nguyên tắc trên, song thực tế vẫn có những trường hợp dựa vào quyền thế, tiền bạc nhằm lo lót, chạy chọt để được “toại nguyện”…

QUANG HUY
qdnd.vn

Tầm nhìn hướng biển của các vua đầu triều Nguyễn

Biên giới và hải đảo

(Tiếp theo và hết)

QĐND-Gia Long, vị vua khai sáng Triều Nguyễn và vua Minh Mệnh sau này đã nâng cấp tầm nhìn hướng biển, không chỉ hai quần đảo đó, mà còn thực thi nhiều chính sách, nhiều giải pháp để khẳng định chủ quyền của mình trên các đảo gần bờ như Phú Quốc, Côn Lôn.

Thời chúa Nguyễn Phúc Chu, tháng Tư năm Tân Mão (1711) đã điều động quân lính và những người có trách nhiệm mang các phương tiện đo vẽ đi thuyền ra “đo bãi cát vàng Trường Sa dài ngắn, rộng hẹp bao nhiêu” (Đại Nam Thực lục, tập 1, trang 126). Sự kiện nổi bật nhất thời Gia Long trong việc khẳng định chủ quyền của quốc gia trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lễ thượng cờ và cắm mốc chủ quyền trên hai quần đảo đó. Sự kiện trọng đại ấy được miêu tả hết sức vắn tắt trong Đại Nam Thực lục, tập 1, trang 922 bằng một câu: “Sai thủy quân và đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để thăm dò đường thủy”. Mười bảy năm sau, năm 1833, giám mục Giăng Lu-i Ta-be (Jean Louis Tarberd), người đã nhiều năm truyền giáo ở Đàng Trong (phần đất từ đèo Ngang trở vào) trong một công trình của mình đã viết khá rõ về sự kiện trọng đại đó: “Chúng tôi biết chắc là Hoàng đế Gia Long đã chú tâm thêm cái đóa hoa kỳ lạ đó vào vương miện của ngài, vì vậy mà ngài xét thấy đúng lúc phải thân chinh vượt biển để tiếp thâu quần đảo Hoàng Sa, và chính là vào năm 1816, ngài đã long trọng treo tại đó lá cờ của xứ Đàng Trong (thời này xứ Đàng Trong được hiểu là nước Việt Nam chúng ta)” (1).

Tiếp tục ý tưởng của vua cha, năm 1833, Minh Mệnh đã nói với Bộ Công rằng: “Trong hải phận Quảng Ngãi, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một màu không phân biệt được nông hay sâu. Gần đây thuyền buôn thường bị hại. Nay nên dự bị thuyền bè đến sang năm sẽ phái người tới, dựng miếu, lập bia, lại trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối to xanh tốt, người dễ nhận biết, ngõ hầu tránh được nạn mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời” (sđd, tr.743). Tháng Sáu năm Ất Mùi (1835), Bộ Công cho dựng đền thờ thần ở đảo Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi. Đại Nam Thực lục có ghi: “Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi có một chỗ nổi cồn cát trắng, cây cối xanh um, giữa cồn cát có giếng, phía tây nam có miếu cổ có tấm bài khắc 4 chữ “Vạn lý ba bình” (muôn dặm sóng êm), cồn Bạch Sa (cát trắng) chu vi 1070 trượng, tên cũ là núi Phật Tự, bờ đông, tây, nam đều đá san hô thoai thoải uốn quanh mặt nước. Phía bắc, giáp với một cồn toàn đá san hô, sừng sững nổi lên, chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 3 thước (1 trượng bằng 10 thước, 1 thước đo đất bằng 0,47m) ngang với cồn cát, gọi là Bàn Than Thạch). Năm ngoái, vua toan dựng miếu lập bia ở chỗ ấy, bỗng vì sóng gió không làm được. Đến đây mới sai Cai đội thủy quân là Phạm Văn Nguyên đem lính thợ Giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, chuyên chở vật liệu đến dựng miếu (cách tòa miếu cổ 4 trượng). Bên tả miếu dựng bia đá; phía trước miếu xây bình phong. Mười ngày làm xong rồi về” (2).

Vua Minh Mệnh đã có tầm nhìn vượt lên cả vua cha. Đó là việc ông ứng xử với đảo Phú Quốc và quần đảo Côn Lôn, những nơi có dân sinh sống, nhưng thường bị bọn hải tặc đến quấy nhiễu. Năm 1832, Minh Mệnh được tâu bọn hải tặc người Chà Và lên đảo Côn Lôn thuộc Phiên An (Gia Định) đón cướp thuyền buôn, lên bờ đốt nhà, cướp của dân ta. Vua suy nghĩ Côn Lôn và Hà Tiên đều là những nơi xung yếu, dân ở đông đúc, thế mà thường có giặc biển ẩn hiện, liền truyền dụ cho quan thành chọn đất hai chỗ ấy, xây đặt pháo đài, liệu cấp súng đạn, khí giới, thuyền bè, phái quân đóng giữ. Cư dân cũng được cấp cho khí giới để cùng phòng giữ. Lại chuyển sức cho 5 trấn trong thành hạt, ra lệnh cho các làng sở tại ven biển đều sẵn sàng thuyền bè khí giới, nếu thấy thuyền giặc đến gần bờ, tức thì cùng nhau tiếp ứng góp sức đánh bắt (3).

Đại Thanh đế quốc vị trí khu hoạch đồ (năm 1909), đã vẽ phần cực Nam Trung Quốc là đảo Hải Nam, không có Hoàng Sa, Trường Sa. Ảnh: Sách “Kỷ yếu Hoàng Sa”– Nxb Thông tin và Truyền thông.

Năm 1833, vâng lệnh vua, Tuần phủ Phạm Xuân Bách ra đảo tìm chọn một nơi vừa ý ở phía nam Phú Quốc tâu lên vua và vua xuống dụ cho khởi công xây đắp, cho đặt tên là đồn Phú Quốc. Đồn “được xây xung quanh bằng đá núi, trên dựng một căn phòng cho lính đương ban đóng. Trên đồn đặt 4 khẩu hồng y cương pháo, 8 khẩu quá sơn đồng pháo, phái 50 lính tỉnh đến đóng giữ. Lại lấy thêm dân sở tại phụ vào việc canh giữ, cấp cho khí giới và thuyền bè đủ dùng. Dùng viên phủ ngự đồn Phú Quốc là Nguyễn Văn Sương làm Phòng thủ úy đứng cai quản, cho mộ thêm lính đặt làm đội phòng thủ” (4).

Với vị trí địa – chính trị quan trọng của quần đảo Côn Lôn, vua Minh Mệnh cũng đã có những ứng xử tương tự như đảo Phú Quốc, tuy có muộn hơn. Tháng Hai năm Bính Thân (1836), Minh Mệnh cho xây dựng đồn Thanh Hải và pháo đài Thanh Hải trên đảo Côn Lôn thuộc Gia Định (sau đó thuộc Vĩnh Long). Bốn mặt đồn đều dài 12 trượng, cao 5 thước, chân rộng 6 thước 3 tấc. Đằng trước và đằng sau đều mở một cửa. Pháo đài xây ở phía nam đồn ngoài binh lính còn thuê dân tất cả 500 người để làm việc. Hoàn tất công việc Bộ Binh tâu: “Đảo ấy có nhiều núi lên từng dãy từng lớp, tàu thuyền có thể đỗ lại yên ổn. Lại có mối lợi là nhiều cá, tôm, ruộng đất màu mỡ, thủy thổ lành, thực là hình thế đẹp ở cương giới về phần biển. Chỉ phải cái là hẻo lánh, xa xôi, hằng năm khoảng xuân sang hạ, thường có thuyền giặc Chà Và thừa cơ, lén lút nổi dậy, làm ngăn trở thuyền buôn đi lại. Nhân dân sở tại thưa ít, chẳng làm thế nào được! Vậy xin phái một suất đội và 50 lính thuộc tỉnh, cấp cho thuyền và khí giới đến đóng giữ, mỗi năm thay phiên một lần… Nơi ấy lại có nhiều đất bỏ hoang, có thể cày cấy được… Quân lính những khi làm việc tuần phòng hải phận đã nhàn rỗi, sức cho khẩn hoang trồng cấy và chiêu mộ dân nghèo cùng ở, cho sống bằng sức mình, còn trâu cày, nông cụ thì do nhà nước cấp phát cho. Như thế, có lính để phòng thủ, có ruộng để cày cấy, giặc biển không dám lại đến, thuyền buôn ngày một đông nhiều, sau vài năm tất thành một nơi vui vẻ, mà việc phòng giữ mặt biển sẽ bền vững được”(5).

Lời tâu của Bộ Binh quá hay nên vua Minh Mệnh không chỉ chuẩn y mà còn gợi mở cho ông một ý tưởng thú vị: Lập làng nơi đây. Công việc đó khởi đầu từ Minh Mệnh với những chính sách rõ ràng, minh bạch như sử dụng những người dân di cư tự do ra đây từ trước, những người bị phát vãng, lính hết thời hạn phục vụ muốn ở lại đảo. Bằng chính sách có lợi cho dân, ông đã điều khiển một luồng dân từ trong đất liền di cư ra đảo lập nên làng mang tên An Hải năm 1840. Như vậy quá trình hình thành một làng trên đảo Côn Lôn diễn ra ròng rã trong 12 năm, khi Minh Mệnh không còn trên đời nữa. (6)

Đối với những tàu thuyền nước ngoài, phần lớn là thuyền đánh cá nhà Thanh (Trung Quốc) xâm phạm lãnh hải của ta, vua Minh Mệnh cho xử lý một cách kiên quyết, không khoan nhượng. Trấn Quảng Yên có trên 300 thuyền đánh cá của nhà Thanh đậu lâu ở phần biển Cát Bà. Quan Bắc Thành đã sai trấn thủ Nguyễn Văn Đoái đem hơn 20 chiếc binh thuyền thân đến nơi khuyên họ đi. Lại sai Phó thống thập cơ Tiền quân là Lương Văn Liễu đem 15 thuyền binh tiến theo để làm thanh ứng. Sự việc được tâu lên triều đình, vua xuống dụ: “Thuyền Thanh vài trăm chiếc mà thuyền của ta chỉ có hơn 30 chiếc, nếu hắn cự lại thì lấy gì mà địch. Phái thêm binh thuyền và chở nhiều súng đạn quân nhu đi ứng tiếp. Nếu chúng nghe lời thì thôi, bằng không thì góp sức vào cố đánh dẹp” (7).

Nhưng đối với những thuyền buôn, thuyền đánh cá các nước gặp nạn trôi dạt vào các đảo thuộc chủ quyền của ta, hoặc dạt vào cảng, bến cảng dọc bờ biển nước ta thì Minh Mệnh đối xử với cương vị là một đất nước có văn hiến. Chẳng hạn, Tháng Tám năm Kỷ Sửu (1829), thuyền của A Sinh, người Chà Và được quốc trưởng phái đến đảo Câu Mạch khai thác yến sào, không may gặp bão trôi dạt vào đảo Côn Lôn. Khi được tâu lên, vua Minh Mệnh sai cấp gạo rồi cho về (8). Hoặc tàu nước Phú Lãng Sa (nước Pháp) đến đậu ở hòn Mỏ Diều thuộc Quảng Nam. Tỉnh thần Quảng Nam cho người xuống tàu khám qua, thấy tàu dài hơn 8 trượng, rộng hơn 1 trượng 8 thước, cao hơn 1 trượng 5 thước, 3 tầng ván lát, 3 cột to, 24 cỗ đại bác, 10 cỗ súng Quá sơn và 6 chiếc xuồng. Cuối thuyền treo cờ tam tài vuông: Xanh, trắng, đỏ và hỏi họ thì họ nói: “Tàu của thành Tu Luân (Toulouse), quốc trưởng sai đi thao diễn ở đường biển, đã hơn 1 năm, nay từ Ma Cao đến đây, xin ở 1, 2 hôm để lấy củi và nước”. Tỉnh thần lấy làm ngờ, nghiêm sức cho binh thuyền tuần tiễu, chỉ thị cho tỉnh Quảng Ngãi phòng bị, rồi dâng sớ tâu lên Triều đình Huế. Vua Minh Mệnh phê: “Đó là việc thường. Họ đi thăm dò, đo đạc đường biển, hà tất phải hoang mang tư báo làm kinh hãi tai mắt người ta. Thực không hiểu việc!”. Qua hôm sau, quả nhiên họ bắn một phát đại bác rồi đi (9).

Rõ ràng, so với các chúa Nguyễn và Triều Nguyễn Tây Sơn, tầm nhìn hướng biển của hai vị vua đầu của Triều Nguyễn, đặc biệt dưới thời Minh Mệnh, có một bước tiến mang tính chiến lược quan trọng. Các vị vua này không chỉ xác lập chủ quyền bằng việc thượng cờ, xây miếu thờ, cắm mốc trên quần đảo Hoàng Sa, mà còn xây dựng đồn, pháo đài, lập làng trên những hòn đảo gần bờ như Phú Quốc và Côn Lôn. Tầm nhìn hướng biển đó thực sự mang tầm chiến lược để trên nền tảng đó ta làm chứng cớ lịch sử trong cuộc tranh chấp chủ quyền trên các quần đảo trên Biển Đông với các nước láng giềng.

——————-

1. Bức tranh thế giới – Lịch sử và mô tả các dân tộc, tôn giáo, phong tục, tập quán của họ. Nxb Firmin-Điot Freses et Cie, paris, 1833).

2. Đại Nam Thực lục. Nxb Giáo Dục. HN, 2004, tập 4, tr, 673.

3. Đại Nam Thực lục. Sđd, tập 3,

tr. 384.

4. Đại Nam Thực lục. Sđd. Tập 3,

tr. 492, 568.

5. Đại Nam Thực lục, Sđd, tập 4,

tr. 873.

6. Xem thêm bài của Phạm Xanh trên tạp chí NCLS, số 1, 1987, tr.105

7. Đại Nam Thực lục. Sđd, tập 3,

tr. 824.

8. Đại Nam Thực lục. Sđd, tập 2,

tr. 882.

9. Đại Nam Thực lục. Sđd, tập 4, tr.1076.

PGS, TS PHẠM XANH
qdnd.vn

—————————–

Bài đầu: Tầm nhìn hướng biển của các chúa Nguyễn

Tầm nhìn hướng biển của các chúa Nguyễn

Biên giới và hải đảo

QĐND-Năm 1558, Nguyễn Hoàng nghe theo lời khuyên của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, vào trấn thủ vùng Thuận Hóa. Cũng bắt đầu từ đó trên đất nước chúng ta diễn ra cục diện Trịnh – Nguyễn phân tranh kéo dài trên hai trăm năm ở 9 đời chúa. Nguyễn Hoàng băng hà năm 1614, ở ngôi 56 năm, hưởng thọ 89 tuổi. Trong những năm thống lĩnh vùng Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng vừa lo chống lại những cuộc chinh phạt của Lê-Trịnh từ Đàng ngoài, nhưng chủ yếu là lo củng cố quyền lực và mở nước về phương Nam. Vì thế tầm nhìn hướng biển của Nguyễn Hoàng, do những điều kiện khách quan quy định, còn rất hạn hẹp. Nhưng người kế vị ông, chúa Nguyễn Phúc Nguyên, không chỉ kế tục xuất sắc hai hướng hành động của Chúa cha, mà còn vượt lên bằng tầm nhìn hướng biển mang tính chiến lược.

Sở dĩ Nguyễn Phúc Nguyên cùng quân dân Đàng trong lập được những kỳ tích đó bởi lẽ ông đã thu phục được Đào Duy Từ, người mà vua Lê, chúa Trịnh ở Đàng ngoài không dung nạp, đã trốn vào Đàng trong, đang sống ẩn dật với nghề dạy học ở chốn thôn quê. Sách Đại Nam thực lục, tập I, phần Tiền biên, trang 43 có ghi lại cuộc gặp gỡ giữa hai con người vốn xa lạ này và rồi Đào Duy Từ trở thành người cố vấn chính trị-quân sự thân cận nhất của Chúa.

Dưới sự cố vấn của họ Đào, lũy Trường Dục chạy từ chân núi Trường Dục tới bãi cát Hạc Hải (Nhật Lệ) được xây dựng nhanh chóng, trở thành thành lũy kiên cố, vững chắc, ngăn chặn quân Trịnh từ phía Bắc. Cùng với công trình quân sự đó, cũng theo lời khuyên của họ Đào, chúa Nguyễn Phúc Nguyên mở nước về phương Nam cho đến tận vùng cực nam Trung Bộ hiện nay. Có lẽ, cũng trong thời kỳ này mà xuất hiện tầm nhìn hướng biển của Chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Đó là vươn ra biển xác lập chủ quyền của mình ở những hòn đảo ven bờ và quan trọng hơn là vươn xa làm chủ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngoài biển Đông. Sách Phủ biên tạp lục của nhà bác học Lê Quý Đôn đã xác nhận một sự thực:“Ngày trước, họ Nguyễn có thiết lập đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người xã Yên Vĩnh bổ sung. Mỗi năm họ luân phiên nhau đi biển, lấy tháng Giêng ra đi nhận lãnh chỉ thị làm sai dịch. Đội Hoàng Sa này được cấp phát mỗi người sáu tháng lương”(1). Ở một chỗ khác, Lê Quý Đôn viết: “Họ Nguyễn còn thiết lập thêm đội Bắc Hải. Đội này không định trước bao nhiêu suất. Hoặc chọn lấy người thôn Tứ Chính thuộc phủ Bình Thuận, hoặc chọn lấy người làng Cảnh Dương, lấy những người tình nguyện bổ sung vào đội Bắc Hải. Quan địa phương cấp phát phó từ và chỉ thị sai phái đội ấy đi làm công tác.

Nhà nước sai chức cai đội Hoàng Sa kiêm lãnh quản đốc đội Bắc Hải này, vì chẳng qua họ chỉ lấy được những hải vật kể trên mà thôi, còn như vàng bạc và các của cải quý báu thì ít khi họ tìm kiếm được”.(2)

Gần đây, chúng ta phát hiện nhiều thư tịch cổ liên quan đến đội Hoàng Sa trên đảo Lý Sơn cho biết thêm những chứng cớ vững chắc về chủ quyền của ta trên hai quần đảo lớn đó. Hằng năm, người đảo Lý Sơn được tuyển mộ vào đội này làm binh, phu đi khai thác, bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa. Mỗi cuộc đi ra đảo xa là muôn vàn khó khăn nên các Chúa Nguyễn đều cho mỗi người lính mang theo một đôi chiếu, 7 đòn tre, 7 sợi giây lạt và một tấm thẻ bài có khắc họ tên, quê quán để phòng nếu chẳng may hy sinh, đồng đội sẽ bó thi hài vào chiếu và thả xuống biển. Trước khi lên đường, thường vào tháng Hai Âm lịch, dân làng làm lễ gọi là “Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa”, tái hiện những hùng binh năm xưa trên những chiếc thuyền nan mỏng manh đã dong buồm vượt trùng dương gìn giữ bờ cõi, đồng thời làm những “ngôi mộ gió” – mộ chôn những hình nhân tượng trưng cho những người lính hy sinh vì Hoàng Sa.(3)

Đây là một trong những bản đồ trong “Phủ biên tạp lục” do Lê Quý Đôn (1726-1784) biên soạn năm 1776. Ông mô tả tỉ mỉ địa lý, tài nguyên ở Hoàng Sa và Trường Sa, công việc khai thác của chúa Nguyễn đối với 2 quần đảo này. (Theo sách Kỷ yếu Hoàng Sa của NXB Thông tin và Truyền thông).

Đến đời chúa Nguyễn Phúc Chu, năm 1698 với việc “sai Thống suất Nguyễn Hữu Kính (Cảnh) kinh lược đất Chân Lạp, chia đất Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phúc Long (nay phong làm phủ), dựng dinh Trấn Biên (tức Biên Hòa ngày nay), lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình (nay phong làm phủ), dựng dinh Phiên Trấn (tức Gia Định ngày nay), trên căn bản hình thể nước ta như ngày nay. Tháng Tám năm Mậu Ngọ, 1702, Chúa Nguyễn Phúc Chu được Trấn thủ dinh Trấn Biên là Trương Phúc Phan báo: “Giặc biển là người Man An Liệt (tức người Anh) có 8 chiếc thuyền đến đậu ở đảo Côn Lôn. Trưởng là bọn Tô Thích Già Thi 5 người tự xưng là nhất ban, nhị ban, tam ban, tứ ban, ngũ ban (các cấp bậc trong quân đội) cùng đồ đảng hơn 200 người, kết lập trại sách, của cải chứa đầy như núi, bốn mặt đều đặt đại bác” (4). Ngay lập tức “Chúa sai Phúc Phan tìm cách trừ bọn ấy”(5) để xác định chủ quyền của đất nước, mặc dù lúc đó Côn Đảo chưa có người ở. Trương Phúc Phan lập tức cho nghiên cứu phương án đánh đuổi quân Anh khỏi Côn Đảo. Tổng trấn Trương mộ 15 lính người Ma-lai-xi-a, dùng kế trá hàng lọt được vào lính Anh chiếm đóng trên đảo. Sau một thời gian chung sống với lính Anh, nghiên cứu cung cách phòng vệ của họ và cuối cùng tháng 10 năm Quý Mùi, 1703 họ thống nhất ra tay hành động, tiêu diệt được nhiều lính đánh thuê Anh và thu vô số chiến lợi phẩm. Trong Đại Nam Thực lục, tập I, phần Tiền biên, có ghi vắn tắt sự kiện quan trọng đó như sau: “Mùa đông, tháng 10, dẹp yên đảng An liệt. Trước là Trấn thủ Trấn Biên Trương Phúc Phan mộ 15 người Chà Và sai làm kế trá hàng đảng An Liệt để thừa chúng sơ hở thì giết. Bọn An Liệt không biết. Ở Côn Lôn hơn một năm không thấy Trấn Biên xét hỏi, tự lấy làm đắc chí. Người Chà Và đang đêm phóng lửa đốt trại, đâm chết nhất ban, nhị ban, bắt được ngũ ban trói lại, còn tam ban, tứ ban thì theo đường biển trốn đi. Phúc Phan nghe tin báo, tức thì sai binh thuyền ra Côn Lôn, thu hết của cải bắt được dâng nộp. Chúa trọng thưởng người Chà Và và tướng sĩ theo thứ bực. Tên ngũ ban thì đóng gông giải đi, chết ở dọc đường”.(6)

Thời đó, Côn Đảo thường là nơi lui tới của bọn hải tặc. Để khẳng định chủ quyền của mình trên đảo này, chúa Nguyễn Phúc Chu ra lệnh cho Trấn thủ Trấn Biên Trương Phúc Phan (người Quảng Bình) đánh đuổi quân Anh ra khỏi đảo. Từ đó trở về sau, thực dân Anh mặc dù ở gần đó (thống trị Ma-lai-xi-a), nhưng không dám bén mảng vì đất này đã có chủ.

Dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Chu còn diễn ra nhiều sự kiện quan trọng gắn liền với cương vực nước ta. Tháng Tám năm Mậu Tý, 1708, Mạc Cửu dâng nộp mảnh đất Hà Tiên mà ông đã có công khai phá cho chúa Nguyễn và ông được chúa Nguyễn trọng dụng, phong cho ông làm Tổng binh Trấn Hà Tiên. Mùa hạ, tháng 4 năm Tân Mão, 1711, Tổng binh Trấn Hà Tiên Mạc Cửu đến cửa Chúa tạ ơn và được Chúa Nguyễn Phúc Nguyên hậu thưởng. Cùng mùa hạ năm đó, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên sai cho lính ra đảo Trường Sa đo đạc, vẽ bản đồ.(7)

Rõ ràng, từ chúa Nguyễn Phúc Nguyên, đặc biệt dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu, tầm nhìn hướng biển mang tính chiến lược có sự phát triển liên tục, từ chiếm hữu đến khẳng định chủ quyền đất nước trên các đảo gần bờ và đặc biệt là hai quần đảo ngoài khơi xa Hoàng Sa và Trường Sa. Tầm nhìn hướng biển đó vẫn được tiếp tục dưới thời các chúa Nguyễn tiếp theo và đặc biệt được nâng cấp khi thành lập Vương triều Nguyễn năm 1802, bắt đầu từ Gia Long và tiếp nối mạnh mẽ hơn dưới thời vua Minh Mạng.

(Xem tiếp số sau)

—————

(1), (2). Lê Quý Đôn. Phủ biên tạp lục. Quyển hai. Bản dịch của Lê Xuân Giáo, tủ sách cổ văn, Ủy ban dịch thuật, Sài Gòn, 1972, tr.208-212.

(3). Biển và Đảo Việt Nam (Mấy lời hỏi-đáp). NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. 212, tr.108.

(4), (5). Đại Nam Thực lục, Tập 1. Nxb Giáo dục, HN, 2002, tr.115.

(6). Đại Nam Thực lục. Sdd, tr.117.

(7). Đại Nam thực lục. Sdd. Tr.122 và 126.

PGS.TS Phạm Xanh
qdnd.vn

Những kiểu “làm giàu” của sĩ quan Quân đội Sài Gòn

QĐNDTrong những năm đầu thập niên 1970, Quân đội Sài Gòn từng lan truyền câu nói: “Nhất Trí, nhì Quang, tam Lan, tứ Quảng” nhằm đồn thổi về mức độ giàu có của các viên tướng: Đỗ Cao Trí, Đặng Văn Quang, Lữ Lan và Đoàn Văn Quảng. Chưa rõ thực hư về số tài sản của các viên tướng trên, song qua lời kể của các sĩ quan chế độ cũ – từng học tập, cải tạo ở Trại cải huấn của ta – thì phần đông sĩ quan Quân đội Sài Gòn từ cấp đại đội trở lên đều có mức sống khá “sung túc” do biết “kiếm thêm” những khoản thu nhập từ các chức vụ của họ.

Gieo mộng “hưởng thụ” trong sĩ quan trẻ

Sĩ quan Quân đội Sài Gòn có hai loại ngạch là hiện dịch và trù bị. Sĩ quan hiện dịch là đối tượng lấy quân đội làm nghề nghiệp suốt đời, được thăng cấp nhanh và ưu tiên sắp xếp những vị trí quan trọng, đến tuổi giải ngũ được hưởng lương hưu. Còn sĩ quan trù bị là những đối tượng có lệnh Tổng động viên vào phục vụ quân đội trong thời hạn 4 năm. Sau 2 năm, sĩ quan ngạch trù bị được xét chuyển sang ngạch hiện dịch với điều kiện sức khỏe tốt và sau 6 tháng không vi phạm kỷ luật. Trên thực tế, sau 4 năm, chính quyền Sài Gòn không hề giải ngũ cho số sĩ quan trù bị mà chỉ xem xét trong những trường hợp đặc biệt.

Theo Luật “Tổng động viên” của chính quyền Sài Gòn, tuổi quân dịch của nam thanh niên là 18 và thành phần được xếp vào hàng ngũ sĩ quan là những thanh niên đã có bằng tú tài. Người có bằng tú tài nếu không tình nguyện vào học 4 năm tại Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt (ra trường được phong hàm Thiếu úy hiện dịch) thì sẽ bị gọi trình diện và vào học 8 tháng tại Trường bộ binh Thủ Đức (ra trường được phong hàm sĩ quan trù bị, cấp bậc Chuẩn úy). Đa số sĩ quan hiện dịch xuất thân từ gia đình các quân nhân, cựu quân nhân hoặc công chức phục vụ trong chính quyền Sài Gòn, ngoài ra còn có những sĩ quan trước đây từng phục vụ trong chế độ thực dân của Pháp; số khác thuộc nhóm hạ sĩ quan được thăng lên sĩ quan. Ngạch sĩ quan trù bị lại bao gồm đủ các thành phần xã hội, trong đó có nhiều người xuất thân từ các gia đình công nhân và nông dân.

Trong bản tường trình viết trong Trại cải huấn ở Yên Bái (tháng 11-1976), Tướng Nguyễn Xuân Trang, người từng giữ chức Phó tổng tham mưu trưởng Quân đội Sài Gòn, cho biết: “Trong các năm 1974-1975, sĩ quan Quân đội Sài Gòn có 40% là sĩ quan hiện dịch, còn lại thuộc ngạch trù bị. Sở dĩ tỷ lệ sĩ quan trù bị cao như vậy là vì số thanh niên thi hành Luật Tổng động viên và vào học tại Trường bộ binh Thủ Đức mỗi năm trung bình lên tới 5000 người, trong khi Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt hằng năm chỉ đào tạo khoảng 200 sĩ quan. Tỷ lệ sĩ quan hiện dịch trong hàng ngũ sĩ quan cấp tướng, tá cũng luôn cao hơn sĩ quan cấp úy”.

Với quan niệm: Trở thành sĩ quan hiện dịch sẽ được hưởng một chế độ lương bổng ưu đãi và nhất là sau này được ưu tiên đảm nhận những chức vụ quan trọng nên đa phần sĩ quan trù bị luôn cố gắng “thể hiện” mình để sớm trở thành sĩ quan hiện dịch. Nắm bắt được động cơ tiến thân của số sĩ quan trẻ, chính quyền Sài Gòn đã tung ra “miếng mồi” hưởng thụ nhằm mua chuộc, động viên họ “chiến đấu tốt” để “chức vụ càng cao, quyền lợi càng tăng”. Chẳng hạn, số sĩ quan là Chỉ huy các đơn vị hoặc giữ chức vụ từ Trưởng phòng trở lên đều có tiêu chuẩn xe riêng; một số người còn được cấp hoặc mua nhà trả góp. Sĩ quan nắm chức Đại đội trưởng sẽ được tiêu chuẩn một binh sĩ cận vệ và giúp việc; chức Tiểu đoàn trưởng có từ 2-3 binh sĩ giúp việc; lên tới cấp tướng thì có tiêu chuẩn một sĩ quan Chánh Văn phòng, một sĩ quan tùy viên và 3 binh sĩ giúp việc. Sĩ quan cấp tướng khi về hưu còn được hưởng tiêu chuẩn 1 sĩ quan và 3 binh sĩ phục vụ. Với chính sách kết hợp giữa quân sự và dân sự, sĩ quan cấp tá còn được chuyển sang giữ các chức vụ hành chính như: Quận trưởng, Tỉnh trưởng, Đô trưởng, Tổng giám đốc, Đổng lý văn phòng… hoặc ra ứng cử các ghế dân biểu, nghị sĩ.

Muôn kiểu “làm giàu” của các tướng, tá

Tướng Lê Minh Đảo, từng giữ chức Tư lệnh Sư đoàn bộ binh 18, đã viết trong bản tường trình trong thời gian học tập ở Trại cải huấn của ta: “Khi Ngô Đình Diệm nắm quyền, lương của quân nhân được trả tương đối cao so với vật giá bên ngoài, do đó gia đình quân nhân có được một cuộc sống ổn định. Thời ấy, Quân đội Sài Gòn đã cấm sĩ quan và gia đình kiếm việc làm thêm để mưu sinh. Nhưng đến thời Nguyễn Văn Thiệu và những năm sau đó, do lạm phát, vật giá leo thang nên đồng lương của sĩ quan không đủ sống, Quân đội lại cho phép quân nhân có thể kiếm việc làm ngoài giờ, đó cũng chính là nguyên nhân phát sinh những thủ đoạn kiếm tiền của sĩ quan và gia đình họ”. Viên tướng một sao này đã tự chia ra những kiểu kiếm tiền của đội ngũ sĩ quan cùng thời là những kiểu kiếm tiền “lương thiện” và “không lương thiện”. Theo đó, khá đông sĩ quan ở các đơn vị đồn trú trong đô thị thường tìm việc làm thêm vào ban đêm để kiếm sống như: Dạy học, lái taxi, chạy xe máy chở khách… còn một số bà vợ của các sĩ quan thì chọn cách buôn bán hoặc hùn vốn làm ăn tùy theo cơ hội. Ngoài ra, có không ít sĩ quan (thường từ cấp úy đến cấp thiếu tá) là những người không nắm chức vụ quan trọng, vợ con không kiếm được công ăn việc làm nên đời sống gia đình cũng không mấy dư giả. Tuy vậy, số này vẫn phải tỏ ra là những gia đình sĩ quan có cuộc sống sung túc và chính Lê Minh Đảo đã từng chua chát gọi họ là những thành phần “bần hàn mạ vàng”.

Tướng Đỗ Cao Trí – nhân vật được đồn thổi là giàu có nhất trong số các tướng lĩnh Quân đội Sài Gòn đầu thập niên 1970.

Với kiểu kiếm tiền mà Lê Minh Đảo cho là “bất lương”, số này thường rơi vào những sĩ quan đảm nhiệm các chức vụ hậu cần và phụ trách hành chính. Những chức vụ ấy đã tạo điều kiện để các sĩ quan – không hẳn ở cấp bậc và chức vụ cao – có thể cấu kết để tham nhũng. Đôi khi một sĩ quan cấp úy hoặc một hạ sĩ quan vẫn có cơ hội làm giàu bất chính, thậm chí giàu hơn hẳn một đại tá hoặc một viên tướng trong Quân đội Sài Gòn.

Trong tài liệu tham khảo “Về cơ sở kinh tế của sĩ quan Quân đội Sài Gòn” do Cục Địch vận (Tổng cục Chính trị) khảo sát năm 1973, các cán bộ địch vận đã tiến hành nghiên cứu đời sống kinh tế của 154 sĩ quan (trong đó có 10 sĩ quan cấp tướng, 135 sĩ quan từ đại úy đến đại tá, 9 sĩ quan từ chuẩn úy đến trung úy) thuộc các chức vụ từ trung đội trưởng đến các chức danh dân sự do sĩ quan đảm nhiệm như: Tỉnh trưởng, Quận trưởng, Nghị sĩ, cán bộ bình định… Tài liệu nghiên cứu cho thấy, tất cả trong số này đều dựa vào chức, quyền để kiếm tiền và có tới… 21 biện pháp để sĩ quan Quân đội Sài Gòn “làm giàu” thông qua những khoản thu nhập bất chính.

Để có được cuộc sống sung túc, các tướng, tá trong Quân đội Sài Gòn còn lợi dụng những mối quan hệ thông qua phe cánh hoặc người thân ở trong và ngoài nước. Có người lợi dụng mối quan hệ với giới tư sản trong nước và tư sản Hoa Kiều; có người dựa vào những phi vụ làm ăn với Mỹ và các nước đồng minh; số khác đứng sau để vợ dựa thế chồng đi buôn… “Kín đáo” hơn, một số sĩ quan chọn cách “bật đèn xanh” hoặc dựa vào đàn em để làm tiền. Đỗ Cao Trí và Lữ Lan – hai trong số bốn viên tướng từng bị đồn thổi trong dư luận: “Nhất Trí, nhì Quang, tam Lan, tứ Quảng” – đã chọn cách này. Lúc còn nắm chức Tư lệnh Quân đoàn 3, Đỗ Cao Trí đã từng đưa tướng Đào Duy Ân vào ghế Phó tư lệnh Quân đoàn và gạt Đỗ Kế Giai khỏi vị trí Tư lệnh Sư đoàn 18 của Quân đoàn 3 bởi Giai là người cạnh tranh trực tiếp với Trí trong việc buôn bán gỗ và da trên địa bàn Vùng 3 chiến thuật. Khi là Tư lệnh Quân đoàn 2, Lữ Lan lại dựa vào “đệ tử” của mình là Đại tá Nguyễn Mộng Hùng (Tỉnh trưởng Bình Định) đứng ra nhận tiền hối lộ từ chỉ huy các đơn vị trên địa bàn Vùng 2 Chiến thuật. Lữ Lan đã thu được hàng chục triệu đồng từ những vụ chia chác để dàn xếp, hình thành phe cánh hơn 10 sĩ quan thân tín. Ngoài ra, trong Quân đội Sài Gòn còn có những viên tướng mang biệt danh gắn với những phi vụ buôn bán như “vua gỗ” Võ Văn Cảnh, “vua quế” Nguyễn Văn Toàn. Khi đang là Tư lệnh Sư đoàn 23, Cảnh từng giàu lên bằng việc bắt lính khai thác gỗ về bán, còn Nguyễn Văn Toàn lại lợi dụng công sức của binh sĩ Sư đoàn 2 để khai thác, buôn bán quế khi viên tướng này đang nắm chức Tư lệnh Sư đoàn 2…

Bản ghi lời kể của các sĩ quan Quân đội Sài Gòn trong thời gian ở Trại cải huấn, năm 1975. Ảnh tư liệu.

Qua số liệu ngẫu nhiên thu thập từ 154 sĩ quan, phần lớn trong số này đều trở nên giàu có bằng cách vừa kết hợp kinh doanh tại gia đình, vừa dựa vào chiến tranh để tham nhũng quỹ viện trợ, phương tiện máy móc của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, đồng thời kết hợp tổ chức các vụ buôn bán, áp phe, cắt xén tiêu chuẩn và bắt binh sĩ lao động kiếm tiền. Tư liệu cũng thống kê, trong số 154 sĩ quan có tới 70% trong số này có xe hơi; 83% có biệt thự, nhà riêng và đại đa số đều có tiện nghi sinh hoạt sang trọng, trong đó các chức vụ thấp nhất từ Đại đội trưởng trở lên đều có một đời sống sung túc… Tuy vậy, theo bản tường trình của tướng Văn Thành Cao, từng giữ chức Tổng cục phó Tổng cục Chiến tranh chính trị, từ sau Hiệp định Pa-ri năm 1973, tư tưởng sĩ quan và binh lính Quân đội Sài Gòn đã bắt đầu rệu rã do các cấp chỉ huy bắt đầu chuẩn bị tiền bạc và thu xếp các phương án để rời khỏi miền Nam, phần lớn trong số này đã xác định “không sớm thì muộn, miền Nam sẽ nhanh chóng rơi vào tay cộng sản”.

Thực tế đã chứng minh sự “lo xa” của số đông tướng, tá Quân đội Sài Gòn là sự thật và những kiểu “làm giàu” của họ đã không có cơ hội được “phát huy” sau sự kiện 30-4-1975…

Bùi Quang Huy
qdnd.vn