Thư viện

Sự vĩ đại chỉ trường tồn khi lòng dạ trong sáng

Thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX có thể coi là mùa đông bǎng giá, đầy mây mù của Tổ quốc ta. Người dân oằn lưng vì sưu cao, thuế nặng, roi vọt. Cả dân tộc, nòi giống, giang sơn, miếu mạo, đền chùa, bàn thờ tiên tổ, mồ mả ông cha đều như bị chế nhạo, khinh thị bởi lũ độc ác vô nhân tính – lũ thực dân và bè lũ tay sai. Nhưng trời đất, xã hội vẫn vần vũ theo quy luật, từ mạch nguồn của dòng chảy vǎn hoá dân tộc mấy ngàn nǎm tích tụ bừng nở một sinh lực mới, một sức mạnh tự thân. Vận nước đã bắt đầu từ ngày Nguyễn Tất Thành – người con ưu tú, dũng cảm của dân tộc rời bến cảng Nhà Rồng đi tìm đường cứu nước.

Theo điện tín số 1258 của Chánh mật thám Sài Gòn gửi Chánh mật thám Huế, phát đi từ Sài Gòn ngày 13-11-1923 thì mùa đông nǎm 1912 Nguyễn Tất Thành đã tới Niu-oóc. Bà J.Stenson, nhà sử học Mỹ, người “quyết tâm đi tìm cho được lai lịch vǎn hoá Hồ Chí Minh” cho biết: Nhiều chính khách đến Niu-oóc chiêm ngưỡng thần Tự do, đều viết cảm tưởng ca ngợi ngôi sao toả sáng trên vòng nguyệt quế là ánh sáng tự do… Duy chỉ có Nguyễn Tất Thành đến xem và ghi: “Ánh sáng trên đầu thần Tự do toả rộng khắp trời xanh, còn dưới chân tượng thần tự do thì người da đen đang bị chà đạp. Bao giờ người da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ có sự bình đẳng giữa các dân tộc? Và bao giờ người phụ nữ được bình đẳng với nam giới?”

Mùa xuân 1919 đánh dấu bước quyết định chính trị đầu tiên khi Nguyễn Tất Thành dưới tên Nguyễn Ái Quốc gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Điểm xuất phát và động lực duy nhất đưa tới việc Người vào Đảng này “chỉ vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực nước tôi, là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng Pháp: Tự do – Bình đẳng – Bác ái”.

Giải phóng Tổ quốc, thực hiện tự do, bình đẳng, bác ái cho nhân dân, cho nhân loại, đó là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Nguyễn Ái Quốc về mục đích của một đảng cách mạng chân chính.

Lần đầu tiên ở giữa Thủ đô của “mẫu quốc”, một người Việt Nam, trên diễn đàn của Đại hội Đảng Xã hội Pháp đã kịch liệt lên án chủ nghĩa thực dân Pháp xâm lược và đã “nhân danh toàn thể loài người, nhân danh tất cả các đảng viên xã hội, cả phái tả lẫn phái hữu, chúng tôi kêu gọi: Các đồng chí, hãy cứu chúng tôi”. 22 giờ ngày 29-12-1920 Nguyễn Ái Quốc đã tiến đến một quyết định lịch sử, bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế thứ ba bởi Quốc tế đó ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc, bởi nó có Luận cương của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Và chính hành động này đã đưa Nguyễn Ái Quốc vào hàng ngũ những yếu nhân của lịch sử hiện đại ở châu Âu: Tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

Với Việt Nam thì hành động lịch sử đó của Nguyễn Ái Quốc chính là một ánh chớp giữa đêm đông, là tiếng chuông báo hiệu “Hỡi đồng bào bị đoạ đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”.

Trải qua 10 mùa xuân sống, làm việc trong gian khó, hiểm nguy ở các nước tư bản phát triển nhất để học hỏi và tìm con đường sống cho giống nòi (1911-1920). Phải qua 10 mùa xuân bôn ba nữa, từ quê hương của V.I.Lênin đến quê hương của C.Mác và P.Ăngghen, qua nhiều nước, đến mùa xuân 1930, Người “đi tìm hình của nước” mới đủ điều kiện từ trời tây trở về Hương Cảng – Trung Hoa, thay mặt Quốc tế Cộng sản sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chấm dứt một thời gian dài phong trào cách mạng trong nước khủng hoảng lãnh đạo vì bị chia rẽ. Tiếp 10 năm nữa, mùa xuân 1940, Người mới trở về Tổ quốc lãnh đạo Đảng và dân tộc làm cuộc Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, khai sinh thể chế dân chủ cộng hòa Việt Nam. Từ bấy đến nay đã bao nhiêu mùa xuân và thế kỷ XX cũng đã đi vào lịch sử. Cuộc đời đã cho chúng ta những điều kiện để nghĩ suy và hiểu thấu, đã cho ta ngày một thêm “giàu đôi mắt” để thêm sáng mãi một tấm lòng, một niềm tin, rằng: Với những quyết sách chiến lược tài tình, những việc làm thông minh, những hành động dũng cảm, ngoan cường, những gương hy sinh lẫm liệt… Đảng Cộng sản Việt Nam đã là một “hình thức tổ chức cao nhất của quần chúng lao động, hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc”. Đảng đã chinh phục được trái tim, khối óc của hàng chục triệu người. Nhân dân tin theo Đảng. Sự nghiệp, cơ đồ, giang sơn, Tổ quốc ta, danh dự và phẩm giá của người Việt Nam ta được như ngày nay thì, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Đảng ta thật là vĩ đại”.

Đồng thời Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, người thông minh, vĩ đại không phải là người không phạm sai lầm. Không có và không thể có những người không sai lầm. Người nào phạm sai lầm, biết nhanh chóng nhận ra sai lầm, tìm nguyên nhân đúng và đề ra được chủ trương, biện pháp và có quyết tâm hành động để khắc phục sai lầm, người đó mới đích thực là người thông minh.

Đảng Cộng sản Việt Nam, trong suốt 82 nǎm qua tuy đã đạt tới sự vĩ đại cũng chính bằng sự thông minh, chân chính. Đảng đã từng phạm không ít sai lầm trong những chặng đường cách mạng đầy khó khǎn, phức tạp. Nhưng từ sức mạnh tự thân, Đảng đã thông minh, dũng cảm “tự chỉ trích” nhận ra sai lầm, kiên quyết sửa chữa và vượt lên, đi tiếp tới thắng lợi.

Lịch sử cho thấy:

Khi nào có sự trong sáng về tư tưởng và vững chắc về tổ chức thì Đảng sẽ chống được mọi biểu hiện của tệ bè phái, cá nhân, cục bộ, giáo điều, cơ hội;

Nếu Đảng ta quang minh chính đại, thì nơi nào sai lầm, ai sai lầm sẽ lập tức được sửa chữa, và ngược lại;

Nếu những người lãnh đạo của tổ chức đảng biết tự mình nêu gương và kiên quyết duy trì nguyên tắc sống và giữ gìn phẩm giá của mỗi người cộng sản Việt Nam chân chính là trong sạch, gương mẫu, kiên quyết chống thói nể nang và che giấu;

Nếu trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, tự phê bình và phê bình nghiêm túc, không hình thức, biết lắng nghe lời chỉ dẫn của nhân dân, biết sống thật thà, trung thực và chung thuỷ, sống có tình, có nghĩa, lý lẽ phân minh, nghĩa tình đầy đủ, có tình đồng chí thương yêu, cùng nhau hướng về cái tốt, cái đẹp, một lòng một dạ phục vụ nhân dân… thì Đảng trở nên vĩ đại.

Sự vĩ đại của Đảng được quyết định ở việc làm, ở hành động cách mạng của mỗi đảng viên, ở sự hy sinh, chiến đấu dũng cảm, ngoan cường của họ vì lợi ích của xã hội, của nhân dân và dân tộc. Để có những đảng viên như thế Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên trì dũng cảm đấu tranh với chính bản thân mình và hiện nay còn phải có quyết tâm tiếp tục tiến hành chỉnh đốn và đổi mới Đảng, lãnh đạo cải cách tư pháp và cải cách hành chính, trong đó việc cần phải làm ngay là sửa đổi Hiến pháp và cải cách thể chế kinh tế thị trường theo định hướng XHCN và chống tham nhũng – một căn bệnh đang trở thành quốc nạn. Phải đặc biệt chống bệnh xuống cấp về văn hóa, đạo đức trong Đảng để chấn hưng nền văn hóa, đạo đức của nước nhà.

Nhìn lại thái độ đối với sai lầm, khuyết điểm, ta thấy được sức mạnh của Đảng chân chính cách mạng. Xây dựng, đổi mới, chỉnh đốn làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, kết nạp những người ưu tú trong nhân dân vào Đảng, trọng dụng nhân tài; dũng cảm bãi miễn, cách chức, đưa ra khỏi Đảng những kẻ thoái hoá, những tên cơ hội, những bọn quan liêu, lợi dụng chức quyền để mưu vinh thân phì gia… là thể hiện ý chí, đạo đức, lương tâm, danh dự, lẽ sống của Đảng, là bí quyết để giữ vững uy tín, tiếp tục làm nên sự nghiệp vĩ đại.

Hiếm thấy một lãnh tụ vừa nhân từ, vừa khoan dung đối với mọi người, lại vừa nghiêm khắc phục tùng kỷ luật của Đảng và tôn trọng phép nước như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhớ lại, trước đây, dù đau xót, Người vẫn dằn lòng ký lệnh tử hình cán bộ cấp cao đã phạm tội tha hoá, tham nhũng. Nhân dân, qua đó, càng tǎng thêm sự tin tưởng vào hành động quang minh chính đại của Đảng, vào sự công minh, công bằng của pháp luật. Cán bộ, đảng viên, công chức đã lấy đó mà rǎn mình để ngày càng xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Từ bấy đến nay những việc làm ấy của Người vẫn đang là bài học mà nhân dân mong mỏi các nhà chính trị hậu thế phải làm theo.

Chúng ta nghĩ về quá khứ, tự hào và suy ngẫm để hiểu thấu hiện tại, vững bước đi tới tương lai, một tương lai đàng hoàng tốt đẹp “hơn mười ngày nay”.

Mùa xuân mới đã về! Thắp nén nhang thơm, lòng thành kính trước bàn thờ tổ tiên, cầu mong được mọi sự an khang, thịnh vượng, ta bỗng như vǎng vẳng lời Bác Hồ:

“Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân…

Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân, và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”

Bác Hồ Chí Minh, chúng con nghe lời Bác như nghe lời Non Nước, như nghe tiếng của lịch sử hào hùng và của một tương lai đang rộng mở. “Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh”!

Theo Trần Đình Huỳnh

Tạp chí Xây dựng Đảng
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Đảng, Bác Hồ và mùa xuân dân tộc !

(THO) – Mùa xuân năm 1930, ngày 5 Tết Canh Ngọ, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời!

82 năm đã qua, Đảng vĩ đại, anh hùng đã gắn bó với nhân dân làm nên mùa xuân đất nước.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng. Ảnh: Tư liệu

Biết bao mùa xuân đã trôi qua, nhưng một mùa xuân thực sự, một mùa xuân khởi đầu, đặt nền móng cho hạnh phúc của chúng ta hôm nay lại chính là mùa xuân thành lập Đảng.

Nhớ lại thời dựng Đảng, chúng ta càng thấy Đảng ta thật là vĩ đại.

Cuối năm 1929, nhận được liên lạc của Đảng, Bác Hồ đã từ một vùng quê ở Thái Lan, đáp xe lửa đi Băng Cốc, rồi từ đó đi tàu thủy đến Xinh-ga-po. Tại đây người chuyển sang một con tàu khác đi Hồng Công. Các đồng chí Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn đã ra tận cảng biển đón Bác. Và Bác đã quyết định họp hội nghị thành lập Đảng vào đúng dịp Tết Nguyên đán. Ở Trung Quốc cũng như Việt Nam, Tết Nguyên đán là ngày Tết lớn nhất trong năm và thường kéo dài nhiều ngày liền. Đó chính là dịp để những đại biểu tham gia hội nghị có thể đi khỏi đất nước mà không ai để ý. Còn ở Cửu Long thì một cuộc họp mặt như vậy cũng sẽ có nhiều thuận lợi.

Và thế là ngày 3-2-1930, đúng ngày mùng 5 Tết Canh Ngọ, hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã họp tại Cửu Long (Trung Quốc) dưới sự chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Đảng ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Ngày 7-2-1930 ngày cuối cùng của hội nghị, một hội nghị có tầm vóc lịch sử như một Đại hội thành lập Đảng, Bác Hồ tổ chức một bữa liên hoan nhỏ ngay tại phòng ở của mình. Khi các đại biểu đã ngồi xung quanh bàn, Người xúc động nói:

“Các đồng chí, hôm nay là ngày lịch sử của chúng ta. Lê-nin vĩ đại đã nói, chỉ có Đảng nào có được một lý luận tiền phong mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong. Bây giờ, chúng ta đã có một Đảng như thế rồi – Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam. Nhân dân ta từ xưa có truyền thống đấu tranh anh dũng, nhưng suốt những năm ấy, nhân dân ta thiếu người cầm lái sáng suốt. Giờ đây Đảng của chúng ta phải gánh lấy vai trò này và tôi tin rằng Đảng ta sẽ dẫn dắt nhân dân ta đến thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc thân yêu”.

Như vậy là ngay trong những ngày đầu tiên thành lập Đảng, trong lời phát biểu ngắn gọn ấy, Bác đã ba lần nhắc đến nhân dân ta.

Năm 1960, kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:

“Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Đảng ta thật là vĩ đại… Đảng ta vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác”.

Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đảng là trí tuệ, là phẩm chất của cả dân tộc, kế thừa tinh hoa của hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của ông cha ta. Sức mạnh của Đảng chính là sự gắn bó máu thịt với nhân dân, là sức mạnh đại đoàn kết toàn dân. Và Bác Hồ đã nói: “Nhiệm vụ của Đảng ta có thể nói gọn trong 8 chữ: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Và chính Người là đỉnh cao của đạo đức và văn minh đó. Người là hình ảnh tuyệt đẹp về mối liên hệ thân thiết, gắn bó giữa lãnh tụ với nhân dân và Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên ta phải thường xuyên liên hệ chặt chẽ với nhân dân.

Bác nhấn mạnh: “Đảng phải liên hệ với quần chúng như chân tay ruột thịt… Đảng viên thì phải dựa vào nhân dân mà xây dựng Đảng. Tức là hết lòng ra sức phụng sự nhân dân, tin tưởng vào lực lượng của nhân dân, học hỏi nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân và không một phút nào xa rời nhân dân, cùng nhân dân kết thành một khối” (1).

Chưa ở đâu mà tình cảm giữa lãnh tụ với quần chúng lại thân thiết, gần gũi và được kính trọng, tin tưởng như Hồ Chủ tịch với nhân dân ta. Một nhà văn nước ngoài đã viết: “Bác Hồ – cách xưng hô quen thuộc của Việt Nam, chứa đựng cả sự kính trọng sâu sắc và sự ngưỡng mộ của cả một dân tộc đối với một người cha. Không có một từ nào có thể diễn tả được một cách trong sáng và đẹp đẽ như hai tiếng đó!”.

Hồ Chủ tịch nói: Dân là gốc của nước, dân là gốc của cách mạng, do đó dân cũng là người tham gia xây dựng Đảng.

“Gốc có vững cây mới bền

Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.

Người nói thế và suốt đời Người luôn luôn gương mẫu làm đúng, làm hơn cả những điều mình nói. Người luôn luôn đặt đời sống của mình trong đời sống của nhân dân. Trong Di chúc của mình, Người dặn dò:”Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”

Trong bản Di chúc ấy, Bác đã 17 lần nhắc đến chữ “Nhân dân”. Và trong Di chúc của Người những chữ “Nhân dân” Bác đều gạch dưới.

Đồng chí Nguyễn Thọ Chân kể lại, hồi còn làm Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội, một lần vào làm việc với Bác, đồng chí đã đề nghị Bác cho xây dựng trụ sở của Trung ương Đảng tại Hà Nội cho có bề thế.

Bác im lặng, rồi trả lời: – Trụ sở bề thế của Đảng ta, phải xây dựng ở trong lòng dân ấy, chú ạ ! (2).

Lại nhớ một lần, Bác đến nói chuyện với cán bộ, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo. Trong câu chuyện, Bác hỏi: – Bác đố các chú, ai to nhất nước ta?

Tất cả trả lời:

– Thưa Bác, là Bác ạ! Bác cười: – Các chú nhầm rồi, các chú còn phong kiến quá. Bác đọc cho các chú nghe nhé: “Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Bác nhấn mạnh hai chữ dân chủ, rồi hỏi lại:

– Ai là chủ ở đây các chú?

– Thưa Bác, dân là chủ ạ. Và Bác kết luận: – Các chú phải luôn nhớ. Dân là người to nhất, nhân dân là lực lượng to lớn nhất! “Gốc có vững, cây mới bền. Xây lầu hạnh phúc trên nền nhân dân”.

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sự nghiệp đổi mới của nước ta đã được đẩy mạnh trên mọi lĩnh vực. Việt Nam đã hội nhập với thế giới, trong nước thì chính trị xã hội ổn định, kinh tế phát triển, an sinh xã hội được chăm lo, quốc phòng và an ninh được tăng cường, chủ quyền và lãnh thổ được giữ vững. Mùa xuân này, mỗi người Việt Nam trong cuộc sống mới của mình, ai cũng có thể trực tiếp cảm nhận thấy những gì mà Đảng đã đem lại cho gia đình mình, cho đất nước mình và cho mỗi người chúng ta./.

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, trang 231-235.
2) Báo Nhân dân ngày 23-9-1996.

Theo baothanhhoa.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

72 tác phẩm đoạt giải cuộc vận động theo gương Hồ Chí Minh

Trong số tác giả đoạt giải, nhà văn lão thành Tô Hoài gây xúc động mạnh mẽ khi nhiệt tình tham gia với tập bút ký “Lăng Bác Hồ”.

Đại biểu từ hơn 20 quốc gia dự hội thảo Hồ Chí MinhGiới thiệu 14 ấn phẩm mới về Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bước sang tuổi 90 song nhà văn của “Dế mèn phiêu lưu ký” vẫn nhiệt tình tham gia cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Tập bút ký Lăng Bác Hồ của ông là một trong số 72 tác phẩm có chất lượng tiêu biểu được ban tổ chức trao giải trong lễ sơ kết tối 14/5.

Nhà văn Tô Hoài nhận bằng khen và lời chúc mừng của nhiều văn, nghệ sĩ tối 14/5. Ảnh: Nguyễn Hưng.

Cũng trong lễ sơ kết cho năm 2009, nhiều tác giả trẻ được trao giải như nhóm kiến trúc sư ĐH Kiến trúc Hà Nội với đồ án “Nhà nổi”, họa sĩ người dân tộc Chăm Chế Thị Kim Trung (Ninh Thuận) với tác phẩm tranh sơn dầu Làng Chăm ơn Bác…

Ngoài ra, theo Ban chỉ đạo trung ương, 14 đơn vị báo chí, nghệ thuật có nhiều thành tích trong công tác tổ chức, triển khai cuộc vận động cũng được tặng thưởng.

Phát biểu tại buổi lễ, ông Trương Tấn Sang Thường trực Bí thư cho rằng, cuộc vận động đã trở thành một đề tài lớn, quan trọng trên báo chí, văn hóa, văn nghệ, trên các phương tiện truyền thông khác.

“Những tác phẩm được sáng tạo, quảng bá bằng tài năng, tấm lòng của anh chị em văn nghệ sĩ, báo chí hai năm qua đã góp phần đưa cuộc vận động ngày càng đi vào chiều sâu, có sức lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống xã hội”, ông Trương Tấn Sang nói.

Ông Trương Tấn Sang chia vui với các tác giải đoạt giải. Ảnh: Nguyễn Hưng.

Theo ông Phùng Hữu Phú, Phó trưởng ban Tuyên giáo trung ương, so với năm 2008, số lượng tác phẩm hưởng ứng cuộc vận động tăng đáng kể. Trong đó, Ủy ban toàn quốc các Hội liên hiệp văn học nghệ thuật VN có hơn 600 tác phẩm; 10 Hội chuyên ngành trung ương có hơn 300 tác phẩm. Riêng hội Nhà báo VN có tới hàng nghìn tin, bài của hội viên.

“Bác Hồ luôn là một đề tài lớn, tươi mới, có sức rung động mãnh liệt, là nguồn cảm hứng sáng tạo vô tận đối với các văn nghệ sĩ, nhà báo”, ông Phú nói.

Nguyễn Hưng

vnexpress.net

Đại biểu từ hơn 20 quốc gia dự hội thảo Hồ Chí Minh

Hội thảo quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” đã nhận được hơn 170 bài viết đề cập đến nhiều nội dung phong phú về tư tưởng, cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Giới thiệu 14 ấn phẩm mới về Chủ tịch Hồ Chí MinhBiến tư gia thành bảo tàng Hồ Chí Minh

Khai mạc sáng 12/5 tại Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia (Hà Nội), Hội thảo Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay được tổ chức trong hai ngày. Trên 400 đại biểu tới dự, trong đó có hơn 50 đại biểu đến từ 22 quốc gia. Trong số này có những người đã gắn bó với Việt Nam hàng chục năm như học giả người Mỹ Lady Borton hay ông Raymond Aubrac, người bạn thân thiết của chủ tịch Hồ Chí Minh và người dân Việt Nam…

Phát biểu tại hội thảo, bà Katherine Muller-Marin, Trưởng đại diện văn phòng UNESCO Hà Nội nhấn mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng nổi bật về tinh thần quả cảm của dân tộc bởi Người đã cống hiến cả đời mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước và dân tộc Việt Nam. Qua đó góp phần vào cuộc đấu tranh chung của toàn nhân loại vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội.

“Lý tưởng của Người tiêu biểu cho khát vọng của các dân tộc khác trên thế giới bởi họ đấu tranh nhằm khẳng định bản sắc văn hóa của mình và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”, đại diện UNESCO nói.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng vui mừng khi được gặp lại ông Raymond Aubrac, một người bạn lớn của Việt Nam. Ảnh: Nguyễn Hưng.

Theo bà Katherine Muller-Marin, Chủ tịch Hồ Chí Minh, “giống như một biểu tượng giúp chúng ta có một tầm nhìn, chỉ cho đất nước một bến đỗ an toàn”. Phát biểu của đại diện UNESCO nhận được sự hưởng ứng nhiệt liệt của hàng trăm đại biểu tại Hội thảo.

Tái khẳng định tư tưởng và tầm vóc Hồ Chí Minh, Giáo sư Lê Hữu Nghĩa, Giám đốc Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ngày càng được biết đến rộng rãi trên thế giới, bằng chứng là nhiều nhiều nước Mỹ – Latinh đang có ý tưởng đi tìm mô hình về “chủ nghĩa xã hội cho thế kỷ 21”, phù hợp với đặc thù của Mỹ – Latinh.

“Sau nhiều công trình tưởng niệm đã có về Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Nicaragua, Venezuela… vừa qua, Argentina đã khởi công xây dựng công trình tượng đài Hồ Chí Minh ở thủ đô Buenos Aires – thêm một biểu hiện mới về ảnh hưởng và sức sống của tư tưởng Hồ Chí Minh đang lan tỏa tại khu vực Mỹ – Latinh”, Giáo sư Nghĩa nói.

Trò chuyện với đại biểu 5 châu, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng ôn lại tư tưởng và tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Theo Chủ tịch Quốc hội, thời đại Hồ Chí Minh là thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

Hội thảo đã nhận được hơn 170 bài viết của các tác giả Việt Nam và quốc tế đề cập đến nhiều nội dung phong phú về tư tưởng, tấm gương, cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Các bài viết tập trung vào 3 chủ đề lớn: Di sản Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Di sản Hồ Chí Minh về hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc; Văn hóa, đạo đức và nhân cách trong di sản Hồ Chí Minh.

Nguyễn Hưng

vnexpress.net

Giới thiệu 14 ấn phẩm mới về Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bên cạnh sách “Hồ Chí Minh – Vĩ đại một con người”, “Hồ Chí Minh – Tiểu sử” là DVD “Hành trình theo chân Bác” dài 89 tập… giúp tái hiện chân thực và sinh động về quá trình hoạt động cách mạng của Người.

Sáng 11/5 NXB Chính trị Quốc gia phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh giới thiệu 14 trong số 45 ấn phẩm mới xuất bản về Bác, nhân kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Người.

Bằng lối viết sắc sảo, khúc chiết, GS Trần Văn Giàu đã trình bày một cách hệ thống về cuộc đời huyền thoại của Bác, qua tác phẩm “Hồ Chí Minh – Vĩ đại một con người“. Cuốn “Hồ Chí Minh – Tiểu sử” là kết quả công trình nghiên cứu khoa học công phu của GS Song Thành về cuộc đời “oanh liệt, đầy gian khổ, vô cùng cao thượng, trong sáng và đẹp đẽ của Người”.

Với cách tiếp cận vấn đề khá mới, cuốn “Hồ Chí Minh ngày này năm xưa” do nhà sử học Dương Trung Quốc biên soạn đã tập trung phản ánh các sự kiện, công việc thường ngày của bác để mỗi ngày trong năm, chúng ta đều nhớ đến Người.

Ảnh: Tiến Dũng.Những tác phẩm về Chủ tịch Hồ Chí Minh được ra mắt ngày 12/5. Ảnh: Tiến Dũng.

Đáng chú ý là DVD “Hành trình theo chân Bác” dài 89 tập do NXB Chính trị Quốc gia phối hợp với Đài truyền hình TP HCM thực hiện đã giúp tái hiện chân thực và sinh động về quá trình hoạt động cách mạng của Người từ buổi đầu ra đi tìm đường cứu nước đến khi giữ cương vị là lãnh đạo đất nước.

TS Nguyễn Duy Hùng – Giám đốc, Tổng biên tập NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật cho hay, những tài liệu tham khảo này sẽ giúp bạn đọc nhận thức sâu sắc hơn về di sản tinh thần vô giá mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại.

Theo ông Hùng, cuốn “Hồ Chí Minh toàn tập” (tái bản lần 3) gồm 15 tập, với nhiều tư liệu, bài viết chưa từng công bố sẽ được ra mắt vào dịp Đại hội Đảng lần thứ XI.

Tiến Dũng

vnexpress.net

‘Khơi gợi tinh thần dân tộc là bài học bảo vệ đất nước’

“Tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị, là bài học cơ bản khơi gợi ý thức bảo vệ chủ quyền đất nước”, Giáo sư Đinh Xuân Lâm, nhà sử học hàng đầu Việt Nam trò chuyện với VnExpress.net dịp 2/9.

‘Di chúc của Bác Hồ là kết tinh những giá trị lịch sử’

– Trong Di chúc, Bác Hồ viết: “Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng 2 đế quốc to – là Pháp và Mỹ”. Dưới góc nhìn sử học, theo ông đâu là bí quyết bảo toàn lãnh thổ trong tư tưởng Hồ Chí Minh?

Toàn văn Di chúc của Hồ Chủ Tịch

– Việt Nam có vị trí địa lý quan trọng, nằm trên con đường thông thương Đông – Tây, Bắc – Nam nên trong lịch sử chịu nhiều nạn ngoại xâm từ phương Bắc, phương Tây. Về đối ngoại, Bác chủ trương tăng cường quan hệ giao lưu. Trong thời gian Người lãnh đạo đất nước, chúng ta đã tổ chức hội nghị Liên Á, Liên hiệp các nước… Đây là biện pháp để phân hóa lực lượng đối lập với mình.

Thời nhà Hồ, binh trăm vạn, nhưng không có lòng dân nên tan nhanh. Trong ngày đầu kháng chiến chống Pháp, quân ta ít ỏi nhưng lại được người dân ủng hộ. Tôi cho rằng sự ủng hộ của người dân có vai trò quyết định trong việc bảo vệ chủ quyền đất nước. Bác Hồ đã khơi gợi được tinh thần dân tộc yêu nước, đoàn kết của mọi tầng lớp nhân dân.

Ông LâmGiáo sư Đinh Xuân Lâm, một trong tứ đại thụ của sử học Việt Nam. Ảnh: V.A.

Trong kháng chiến chống Pháp, nhiều người chưa đủ điều kiện vẫn trốn gia đình để đi bộ đội, có những gia đình anh đi bộ đội rồi, em cũng theo cách mạng… Người ta thấy niềm vui và trách nhiệm được tham gia, góp sức vào cuộc kháng chiến, bảo vệ chủ quyền đất nước.

Bác từng nói, chủ nghĩa yêu nước là sự kết hợp biện chứng giữa truyền thống và thời đại: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết hợp thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn lướt qua mọi nguy hiểm, khó khăn; nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước. Lịch sử ta đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân ta”.

Nhận định của Hồ Chủ tịch đã tổng kết được toàn bộ lịch sử Việt Nam trong quá trình dựng nước, giữ nước.

– Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, đất nước gặp muôn vàn khó khăn khi phải đối mặt với Pháp, Nhật và quân Tưởng Giới Thạch. Việc khơi gợi tinh thần dân tộc của mọi tầng lớp nhân dân đã được Bác thực hiện thế nào, thưa ông?

– Lúc chúng ta giành được chính quyền, ngân hàng hầu như rỗng không. Đồng thời, ta phải đối mặt với hàng loạt nguy cơ: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Trong tình hình đó phải hoàn toàn dựa vào dân, bao nhiêu chính sách đều vì dân, để dân ngày càng gắn bó với chính quyền mới này

Chính quyền cách mạng đầu tiên có nhiều trí thức nổi tiếng như: Tạ Quang Bửu, Hoàng Minh Giám, Nguyễn Văn Huyên, Tôn Thất Tùng, Hồ Đắc Di, Ngụy Như Kon Tum, Nghiêm Xuân Yêm… Họ thành cán bộ cốt cán của chính quyền cách mạng, toàn tâm toàn ý theo cách mạng.

Ảnh Bác Hồ“Hồ Chí Minh trước sau luôn có ý thức và đấu tranh cho toàn vẹn lãnh thổ” – Giáo sư Đinh Xuân Lâm nói.. Ảnh tư liệu

Những người này được Bác khẳng định là những người yêu nước. Lòng tin của Bác khi giao nhiệm vụ khiến họ toàn tâm toàn ý phục vụ cách mạng. Ở đây có yếu tố sức cảm hóa của con người Hồ Chí Minh, sức cảm hóa đối với cả những người bên kia chiến tuyến hay bất đồng quan điểm.

Sức cảm hóa ở Bác rất mạnh, không phải sự cảm hóa thông thường mà là vì lòng yêu nước chân chính. Nhờ điều này mà những trí thức chân chính bắt gặp nhau. Ví dụ như ông Huỳnh Thúc Kháng, một người tiêu biểu ở miền Trung, Bác muốn mời làm Phó chủ tịch nước. Nhưng trước khi ra Hà Nội, ông Kháng nói với người nhà chỉ ra để gặp Nguyễn Ái Quốc, sau đó sẽ về, không ở lại. Nhưng chỉ sau một đêm đàm đạo, cụ Huỳnh đã ở lại làm Phó chủ tịch nước, góp sức cho cách mạng…

 Trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ, Bác luôn khẳng định “Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, thịt của thịt Việt Nam”. Ông đánh giá gì về ý thức toàn vẹn lãnh thổ trong tư tưởng Hồ Chí Minh?

– Hồ Chí Minh trước sau luôn có ý thức và đấu tranh cho toàn vẹn lãnh thổ, đấu tranh cho một nước Việt Nam thống nhất. Khi bác ký Hiệp ước 6/3/1946, có nhiều người phản đối. Thực ra, Bác đã cân nhắc đầy đủ, cho Pháp vào nhưng đẩy được quân Tưởng ra, mình chỉ còn tập trung đánh Pháp. Nếu để các lực lượng đó liên kết với nhau thì rất khó.

Nhìn lại cả quá trình chiến đấu của Người dễ thấy Bác lúc nào cũng vì mục tiêu cao cả là độc lập thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Chính vì vậy, Bác có thể bỏ qua những cái khác biệt, bỏ qua cho kẻ thù, thậm chí khi họ đã hối cải thì mình còn tiếp nhận. Giúp việc cho Bác nhiều người trước kia đứng bên kia chiến tuyến.

Khi Cách mạng Tháng Tám vừa thành công, Pháp gây hấn ở Nam Bộ, Bác từng nói: “Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, thịt của thịt Việt Nam”. Trong Di chúc Bác cũng viết: “Tôi có ý định đến ngày đó (thắng lợi), tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ, và chiến sĩ anh hùng; thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta”.

Tinh thần dân tộc luôn luôn gắn bó với bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Đối với Hồ Chí Minh, không bao giờ có chuyện xa rời quyền lợi dân tộc, cho nên Người luôn nói tới việc xây dựng một xã hội công bằng dân chủ văn minh theo định hướng XHCN – tức là phải giải quyết mọi việc bình đẳng chứ không thể xâm phạm quyền lợi của nhau được.

– Trong thời đại ngày nay, tư tưởng Hồ Chí Minh và Di chúc của Người có giá trị thế nào trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước?

– Trong thời đại ngày nay, giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh và Di chúc của Người vẫn giữ nguyên giá trị. Trong đó, Bác chú trọng tinh thần đoàn kết, “Dân là nước, có thể nâng thuyền, lật thuyền” – đây là bài học cho người lãnh đạo. Chính sách đúng thì người ta theo, vì ai cũng có lòng yêu nước.

Ảnh: Netdepviet.orgCác em thiếu nhi bên Người. Ảnh tư liệu.

Tinh thần chủ đạo của Bác vẫn là hòa bình, hữu nghị nhưng luôn đề cao cảnh giác. Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền đất nước thì luôn luôn cảnh giác, chuẩn bị lực lượng vũ trang. Bác rất chú trọng việc bồi dưỡng thế hệ trẻ, Bác cho đấy là trách nhiệm lớn của Đảng và cũng là tâm niệm của Người. Đảng phải làm sao bồi dưỡng thế hệ trẻ tiếp nối cha anh, nâng sự nghiệp cách mạng lên.

Thời kinh tế thị trường, con người dễ chạy theo nhiều mục tiêu phù phiếm, cá nhân khiến lòng tự hào dân tộc có phần phai nhạt. Đợt học tập Di chúc, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và làm theo lời Bác, một trong những yêu cầu lớn là để nung nấu lại, khơi dậy lòng tự hào dân tộc, đề ra trách nhiệm lớn trước mắt cho thanh niên và các tầng lớp nhân dân.

Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Đinh Xuân Lâm là một trong trong 4 đại thụ của ngành sử học Việt Nam “Lâm, Lê, Tấn Vượng” (Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng). Ông là chuyên gia nghiên cứu lịch sử cận, hiện đại, Phó chủ tịch Hội khoa học lịch sử Việt Nam. Các công trình khoa học gồm: Lịch sử Việt Nam đại cương (chủ biên), Lịch sử cận đại Việt Nam (viết chung với giáo sư Trần Văn Giàu)…

Việt Anh – Nguyễn Hưng

vnexpress.net

‘Hồ Chí Minh – Nhà chiến lược thiên tài’

Ngày 27/8, tại Hà Nội, Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp với Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam đã tổ chức Hội thảo khoa học Hồ Chí Minh – Nhà chiến lược thiên tài.

>> ‘Theo Bác lòng ta trong sáng hơn’
>> Công lao của Người như non cao, biển rộng

Tham dự Hội thảo có nhiều nhà lão thành cách mạng, nhiều vị nguyên là lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội; nhiều tướng lĩnh, sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, các nhà khoa học trong và ngoài Quân đội.

Hồ Chí Minh – Nhà chiến lược thiên tài.

Hơn 50 tham luận được trình bày và gửi đến hội thảo đã tập trung làm rõ nổi bật thêm về sự nghiệp cách mạng và hệ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Các tham luận đều thống nhất với nhận định: Sự nghiệp cách mạng của dân tộc trong hơn 80 năm qua gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc; nhà văn hoá kiệt xuất, nhà chiến lược thiên tài của cách mạng Việt Nam. Thắng lợi của cách mạng Việt Nạm trong hơn 80 năm qua là sự hội tụ, kết tinh của nhiều nhân tố nhưng trước hết và trên hết, đó là do Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam.

Không chỉ dừng lại ở việc tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là người truyền bá chủ nghĩa Mác- Lê Nin vào Việt Nam; trực tiếp thành lập, tổ chức, lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam. Là nhà chiến lược thiên tài của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là nhà quân sự lỗi lạc, người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Quân đội.

Tuyết Trịnh

baodatviet.vn

Cả cuộc đời Người sống vì dân

“Năm 1956, khi thi đỗ vào Khoa Ngôn ngữ phương Đông (Đại học Bắc Kinh), tôi đã không do dự chọn tiếng Việt để theo học. Lúc đó và sau này, có người hỏi tôi tại sao, tôi trả lời đơn giản rằng, vì Việt Nam có một vị lãnh tụ vĩ đại: Chủ tịch Hồ Chí Minh”…

>> Triển lãm về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Thái Lan

Đất Việt xin giới thiệu bài viết của Giáo sư Cốc Nguyên Dương, gửi từ Trung Quốc.

Nhận lời mời của Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, tôi đến Hà Nội dự Hội thảo Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay. Đây là một vinh dự và cũng là dịp để hoài niệm trong cuộc đời tôi vốn từ lâu đã gắn bó với Việt Nam.

Ký ức đẹp còn nguyên vẹn

Tôi luôn ước mơ một ngày nào đó có thể gặp được Bác Hồ. Ước mơ đó cuối cùng đã trở thành hiện thực. Năm 1963, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Lưu Thiếu Kỳ thăm VN, khi đó tôi đang học nâng cao tiếng Việt tại ĐH Tổng hợp Hà Nội. Đại diện cho lưu học sinh TQ, tôi được tham dự buổi chiêu đãi trọng thể do Đại sứ quán TQ tổ chức để chào đón Chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ. Thật hạnh phúc cho tôi, Bác Hồ đã tham dự buổi chiêu đãi hôm đó. Lần đầu tiên, tôi được nhìn thấy Bác Hồ rất gần. Cảm giác đó vẫn vẹn nguyên trong tôi, như đang hiện ra trước mắt tôi ở cuộc sống hiện tại.

Nghiên cứu về VN là khởi điểm trên con đường nghiên cứu khoa học của tôi. Những sự kiện xảy ra khiến tôi không thể nào quên. Hồi thập niên 1960 của thế kỷ trước, tại Đại lễ đường Nhân dân, đông đảo tầng lớp nhân dân dự hội nghị kêu gọi viện trợ cho VN trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tôi vinh dự được dịch car- bin cho hội nghị đó. Các vị lãnh đạo Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam VN và Đoàn thanh niên Lao động VN đã có các cuộc gặp thân mật với lãnh đạo TQ như Chu Ân Lai, Trần Nghị, Đặng Tiểu Bình, Hồ Diệu Bang.

Bác Hồ đi thăm Trung Quốc lúc sinh thời. Ảnh: photobucket.com

Năm 1990, tôi là đại biểu duy nhất của TQ tham dự Hội thảo khoa học quốc tế tại Hà Nội nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Bác Hồ. Thật bất ngờ, sau khi tôi trình bày bài phát biểu tại hội nghị ở hội trường Ba Đình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trên hàng ghế chủ tịch đã đến ôm chặt tôi. Năm sau, trong thời gian diễn ra Hội thảo quốc tế về Tư tưởng Hồ Chí Minh ở Calcutta (Ấn Độ), Đại tướng Võ Nguyên Giáp và phu nhân gặp tôi tại khách sạn, và nói rằng “giữa VN và TQ từng xảy ra những sự kiện không vui. Nhưng sự việc đó giống như đám mây đen trên trời, gió thổi đi thì trời xanh lại hiện ra”.

Năm 1992, sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao, đoàn đại biểu Viện KHXH VN do đồng chí Nguyễn Duy Quý dẫn đầu sang thăm TQ. Cục trưởng Cục Ngoại sự, Viện KHXH TQ và tôi đến km số 0 tại cửa khẩu Hữu Nghị Quan đón đoàn VN. Từ đó, lãnh đạo hai viện thường xuyên thăm viếng lẫn nhau, học giả hai nước tổ chức giao lưu học thuật trên nhiều lĩnh vực, nhiều ngành khoa học và có những đóng góp không thể thay thế cho sự phát triển mối quan hệ hữu nghị Trung-Việt.

Tư tưởng Hồ Chí Minh sáng mãi

Biến là vĩnh hằng, cái bất biến duy nhất của thế giới là biến. Nhưng trong tâm khảm của nhân dân thế giới, hình tượng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng của Người, di sản mà Người để lại cho nhân loại là điều không bao giờ thay đổi, rất đáng để kế thừa và phát huy mãi mãi. Theo tôi, cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh nên tập trung vào một số nội dung dưới đây:

Thứ nhất, học tập tinh thần phấn đấu không ngừng của Người cho sự nghiệp chính nghĩa. Suốt đời, Người đã đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Vì mục tiêu này, Người đi khắp bốn phương để tìm chân lý, tìm con đường cứu nước. Vì mục tiêu này, Người không quản bất kỳ khó khăn nào, dũng cảm tiến lên, biểu hiện khí tiết anh hùng cách mạng cao độ.

Thứ hai, học tập phẩm chất cao quý yêu mến nhân dân của Người. Bác Hồ có tình cảm vô cùng nồng hậu đối với nhân dân VN và với nhân dân lao động thế giới. Người luôn luôn quan tâm đến lợi ích của nhân dân, nghĩ những điều dân nghĩ, lo những điều dân lo, hiến dâng cả cuộc đời mình cho nhân dân. Người cư xử khiêm tốn, gần gũi, giữ mối liên hệ thân mật với quần chúng. Uy tín to lớn của Người cũng bắt nguồn từ sự giúp đỡ và ủng hộ của nhân dân.

Thứ ba, học tập tinh thần “cần, kiệm, liêm, chính” và “chí công vô tư” của Người. Suốt đời Người luôn luôn giữ gìn đạo đức cao đẹp “cần, kiệm, liêm, chính” và “chí công vô tư”, dùng tám chữ đó để giáo dục cán bộ và nhân dân.

Thứ tư, học tập tác phong sinh hoạt giản dị và đức tính cần cù của Người. Trong suốt cuộc đời, Người làm việc cần cù, học tập không mệt mỏi. Chiếc máy chữ nhỏ chính là “trợ thủ” đắc lực của Người. Những việc có thể tự làm được, Người không để người khác giúp. Vì thế, số nhân viên công tác bên Người có thể đếm trên đầu ngón tay.

Năm 2010, Đảng Cộng sản VN kỷ niệm 80 năm ngày thành lập. Từ năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sản VN luôn coi độc lập dân tộc và CNXH là mục tiêu và lý tưởng phấn đấu. Điểm nổi bật nhất trong Tư tưởng Hồ Chí Minhchính là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Tôi tin rằng, nhân dân VN nhất định tiếp tục kết hợp chặt chẽ giữa Chủ nghĩa Mác- Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn xây dựng CNXH để vững bước tiến lên trên con đường mà Đảng, nhân dân VN đã lựa chọn.

GS Cốc Nguyên Dương sinh năm 1935 tại TP Đại Liên, tỉnh Liêu Ninh (TQ). Ông từng kinh qua nhiều chức vụ ở Bộ Ngoại giao, Viện KHXH TQ… Từ tháng 12/1993-10/1998, ông là Viện trưởng Viện nghiên cứu kinh tế và chính trị thế giới. Từ năm 2005-2008, ông giữ chức Trưởng phòng nghiên cứu phát triển Á-Phi thuộc Trung tâm nghiên cứu phát triển Quốc vụ viện TQ.

GS Cốc Nguyên Dương (Trung Quốc)

baodatviet.vn

‘Chiêu ngụy trang’ làm ‘bẽ mặt’ tình báo Pháp của Bác Hồ

(ĐV) Trên đất Thái Lan những năm cuối thập niên 1920, để tránh sự truy lùng gắt gao của mật thám Pháp, Bác Hồ đã hóa thân vào nhiều “vai” khác nhau, có khi là người gánh gạch, đào giếng, có khi lại khoác lên mình tấm áo cà sa, vào chùa đi tu…

>> Theo dấu chân Người 100 năm trước (kỳ 1)
>> Theo dấu chân Người 100 năm trước (kỳ 2)

Hòa mình vào cuộc sống và được bà con kiều bào chở che, đó là bí quyết thành công của Người trong nghệ thuật hoạt động cách mạng bí mật. Điều này các thế hệ người Việt ở Thái Lan vẫn luôn ghi nhớ bằng những kỷ vật thiêng liêng, những câu chuyện cảm động, đủ sức vượt không gian và thời gian.

Ông Ngô Vĩnh Bao bên chiếc phản gỗ và cái ghế Bác Hồ sử dụng lúc ở hiệu thuốc của ông Đặng Văn Cáp.

Cũng đi chân đất, cũng áo nâu sồng…

Thời điểm năm 1927, phong trào chống cộng ở Thái Lan diễn ra khốc liệt. Cảnh sát Thái bắt tất cả những người hoạt động cộng sản của Đông Dương trao lại cho Pháp. Trong bối cảnh đó, tất cả các tổ chức cộng sản đều phải hoạt động bí mật. Tháng 7.1928, trên chiếc tàu thủy Nhật Bản, Bác Hồ đặt chân tới Băng-cốc, trong vai người buôn Hoa kiều với giấy nhập cảnh mang tên Nguyễn Lai. Theo ông Ngô Vĩnh Bao, kiều bào Thái Lan, người đã có hơn 30 năm nghiên cứu về giai đoạn Bác Hồ ở Thái Lan, “thời gian đó, Việt kiều bị cảnh sát Thái khủng bố rất mạnh, còn Hoa kiều ít bị để ý hơn, nên Bác mới đóng vai nhà buôn Hoa kiều”.

Tới Băng-cốc, Bác đã mua vé tàu hỏa đi thẳng tới thị xã Phi-chịt. Bác vào ở một khách sạn, sau đó Bác tìm đến địa điểm liên lạc với Việt kiều ở Thái Lan là hiệu buôn của một Hoa kiều. Tại đây, khi gặp mọi người, Bác giới thiệu tên mình là Thọ, biệt hiệu là Nam Sơn, nhưng bà con kiều bào gọi Bác là Thầu Chín (ông Hoa kiều) vì gọi như vậy sẽ đánh lạc hướng, ít bị cảnh sát Thái và mật thám Pháp chú ý.

Sau cuộc họp ra mắt, Thầu Chín nhanh chóng hòa mình với kiều bào, cũng đi chân đất, cũng quần áo nâu sồng. Người làm đủ các thứ việc như mọi người, từ làm vườn, trồng cây, đào giếng, gánh gạch, lấy củi, đi cày. Nhận thấy có khả nghi, Bác chỉ ở lại Phi-chịt 10 ngày, rồi đi bộ 15 ngày vượt đường rừng tới U-đon. Đây là địa bàn có nhiều Việt kiều sinh sống, lại tiện đường liên lạc với các tỉnh giáp sông Mê-công. Tại đây, có lúc Bác đóng vai người thợ xây, có khi là người gánh gạch, thợ mộc.

Những nơi Bác Hồ từng đặt chân đến trên đất Thái Lan. (chụp lại từ kho tư liệu của ông Ngô Vĩnh Bao)

“Một lần, khi Bác trong vai người gách gạch để xây chùa Vắt-phô-thi-xổm-phon, bọn mật thám đánh hơi thấy và cho quân đến bao vây ngôi chùa này. Nhưng vị sư cả của chùa không cho vào, vì ông cho rằng ở đây không có người xấu, chỉ có người theo Đức Phật. Không ai có quyền vào đây khám xét. Nên bọn chúng không vào được chùa và không bắt được Bác”, ông Bao kể.

“Hầu như gia đình nào trong cộng đồng người Việt tại Thái Lan cũng thờ ảnh Bác ở nơi trang trọng nhất. Hình ảnh Bác luôn sống mãi trong lòng các thế hệ bà con kiều bào Thái Lan”, ông Ngô Vĩnh Bao khẳng định.

Cuốn “Cuộc hành trình của Bác Hồ trên đất Thái Lan” của tác giả Trần Đương còn kể, trong chuyến công tác của Bác Hồ và ông Thuyến tới Bản Mẹt. Chưa đến nơi thì trời tối, đường vắng vẻ, vùng này lại nổi tiếng là lắm cướp; nên khi một người to lớn, trông dữ tợn xuất hiện, hỏi lơ lớ giọng Hoa kiều, Bác đã nhanh trí trả lời bằng tiếng Hoa: “Chúng tôi đi kiếm việc làm ăn”. Người đàn ông Hoa kiều không nghi ngờ gì, bèn mời Bác và ông Thuyến vào nhà.

Và 4 tháng khoác áo cà sa

Ở U-đon một thời gian, cuối năm 1928, Người đi Sa-con Na-khon. Tại đây, Bác ở nhà ông Đặng Văn Cáp, đó là một hiệu thuốc bắc. Chính thời kỳ này, Bác được học một số bài thuốc chữa bệnh. Nên ngoài việc tuyên truyền hoạt động cách mạng, xây dựng tổ chức Việt kiều lớn mạnh, để che mắt mật thám, Người đóng vai thầy lang, cũng khám bệnh và bốc thuốc. Thời gian ở Sa-con, Bác làm mọi việc; từ gánh nước, gặt hái, xẻ gỗ làm nhà, huấn luyện giảng dạy, đến khăn gói tay nải đi buôn, tập đi xe đạp, tập cưỡi ngựa, Bác hòa nhập vào cuộc sống như một người dân bản địa.

Ông Ngô Vĩnh Bao và tấm ảnh Bác Hồ trong vai nhà sư.

Trước việc các tổ chức Việt kiều lớn mạnh rõ rệt, bọn mật thám bắt đầu nghi ngờ Nguyễn Ái Quốc có mặt trên đất Xiêm. Chúng cho bọn tay sai bám riết Người, song Bác vẫn an toàn vì nhờ có quần chúng bảo vệ, làm tai mắt, khi có động là báo cho Bác kịp thời lẩn tránh. Hơn nữa, Người luôn đề cao cảnh giác, giữ bí mật nghiêm ngặt, hóa trang mau lẹ.

Suốt thời gian hoạt động cách mạng trên đất Thái Lan, Na-chok (Bản Mạy) là nơi Bác ở lâu hơn cả. Khi mới về Bản Mạy, Bác ở nhà cụ Nguyên Bằng Cát (tức Hoe Lợi), một người hoạt động tích của Hội thanh niên cách mạng ở tỉnh Na-khon Pha-nôm. Lúc đó, gia đình cụ Hoe lợi cũng không biết Bác là ai, chỉ biết đó là người hoạt động cách mạng. Để hợp pháp hóa, Bác được bố trí làm phụ việc trong cửa hàng thuốc bắc của gia đình cụ Hoe Lợi với tên “Chú lang Tín”.

Khoảng tháng 7.1929, Bác quay lại Băng-cốc. Người ẩn danh đi tu tại một ngôi chùa Việt có tên Thái là Lô-ca-nu-khó. 4 tháng xuống tóc, khoác áo cà sa, ăn chay niệm Phật. Cứ mỗi sớm Bác Hồ cùng các vị sư chính trong vùng đi khất thực. Chuyện kể rằng có lần dọc đường từ Na-khon Pha-nôm xuống Mục-đa-hán, một tốp cảnh sát Anh và cảnh sát Thái đang truy bắt Nguyễn Ái Quốc theo đề nghị của cảnh sát Pháp. Khi gặp các sư đi khất thực, tốp cảnh sát ấy không hề biết Nguyễn Ái Quốc cũng là một nhà sư, nên chắp tay cúi chào “sư phụ” theo luật tục người Thái. Bác đã thoát hiểm trong gang tấc. Hôm sau, Người cùng một số đồng chí băng núi vượt rừng trở lại Quảng Châu (Trung Quốc). Mặc dù thời gian hoạt động của Bác ở Thái không dài, nhưng Bác rất quan tâm đến đời sống không chỉ của bà con kiều bào mà cả người Thái, giúp đỡ họ chữa bệnh, phòng bệnh sốt rét… nên đi đâu Bác cũng được mọi người yêu mến, kính trọng.

Kim Thoa

baodatviet.vn

Tài chiêu hiền đãi sĩ của Bác Hồ

Nhân cách và ứng xử của Bác Hồ không chỉ thu hút trí thức kiều bào về nước xây dựng quê hương mà còn động viên họ một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc.

>> Ba lần được gặp Bác Hồ
>> Chuyện pho tượng đồng Bác Hồ đầu tiên ở Thanh Hoá

Cách sử dụng nhân tài của Bác Hồ là một bài học sâu sắc đối với những người và cơ quan quản lý sử dụng cán bộ, công chức trong hiện tại và cả tương lai. Nhân kỷ niệm 119 năm ngày sinh nhật Bác, Đất Việt xin giới thiệu bài viết của giáo sư Nguyễn Hoa Thịnh về vấn đề này.

‘‘Dụng nhân như dụng mộc”

Những ngày đầu cách mạng, Bác đã mời về nước nhiều trí thức Việt Nam ở nước ngoài. Họ có chung ba đặc điểm: yêu nước kiên trung, có kiến thức uyên thâm và có cống hiến đích thực, đã được kiểm nghiệm qua thực tế.

Thế hệ trí thức Việt Nam đầu tiên sau Cách mạng Tháng tám được lịch sử ghi nhận như Vũ Đình Hoè, Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng… đều là nhân tài Việt Nam được đào tạo ở nước ngoài, trở về nước góp sức xây dựng đất nước.

Cách sử dụng nhân tài của Bác là một kinh nghiệm luôn mới đối với thực tế hiện nay. Có người Bác mời về nước làm việc ngay, nhưng cũng có người Bác chờ họ học tiếp rồi mới mời về.

Nhân cách của Hồ Chủ tịch luôn là tấm gương sáng để các thế hệ noi theo.

Bác cũng dành những công việc phù hợp cho từng “hiền sĩ”. Người giao cho giáo sư Tạ Quang Bửu nhiều trọng trách ở Bộ Quốc phòng và trong Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa, giáo sư Trần Đại Nghĩa phụ trách ngành quân giới Việt Nam và nhiều trọng trách khác, giáo sư Nguyễn Văn Huyên phụ trách ngành giáo dục, giáo sư Tôn Thất Tùng, Hồ Đắc Di… thì tiếp tục cống hiến và dìu dắt các thế hệ ngành y phục vụ kháng chiến, kiến quốc.Nếu nhân cách của Bác thu hút các học giả thời bấy giờ về đóng góp cho quê hương một cách tự nguyện thì cách hành xử và tri thức của Người khiến họ một dạ dốc tâm dốc sức cho Tổ quốc. Và thực tế, sự phát triển rất nhanh chóng về mọi mặt của đất nước những ngày đầu giành độc lập sau hàng thế kỷ bị nô lệ là một bằng chứng sống động về tài “chiêu hiền đãi sĩ” của Người.

Tôi nhớ một câu nói về Bác, đại ý, ở Nguyễn Ái Quốc toả ra ánh sáng của một nền văn hoá, không phải của châu Âu mà có lẽ là nền văn hoá của tương lai. “Con mắt tương lai” của Hồ Chủ tịch khiến chúng ta nể phục.

Dõi vào thực tế hiện nay, đâu đó vẫn còn tồn tại cách đánh giá người tài theohệ thống “chức quyền”. Trong khi đó, người trí thức muốn cống hiến phải dành toàn tâm, toàn sức và thời gian cho nghiên cứu, không thể phân tâm làm những công việc hành chính. Vì lẽ đó, vô hình trung, những người làm khoa học thường có vị trí không cao trong xã hội.

Bác Hồ đã nói: “Dụng nhân như dụng mộc”, dùng người như dùng gỗ, gỗ tốt phải làm đồ quý. Những người trí thức theo Bác về xây dựng đất nước trong những buổi đầu đã nổi danh về tài, trí, hơn thế là lòng yêu nước sắt son. Chính Bác và dân tộc khi đó đã thổi vào lòng họ những tình cảm và sự trân trọng vô song với đất nước, làm bùng lên khát khao cống hiến cho nước nhà. Đối với các nhà khoa học, vốn là những tinh hoa của khoa học thế giới chứ không riêng gì Việt Nam, “đồng lương” tinh thần ấy có giá trị gấp nhiều lần ưu đãi về vật chất.

Cơ hội cũng là thách thức với nhà khoa học trẻ

Giáo sư Nguyễn Hoa Thịnh.

Các nhà khoa học thời chúng tôi, có thể nói, có nhiều thuận lợi hơn bây giờ. Chúng tôi được bao cấp hoàn toàn khi đi học và không phải lo nghĩ về chuyện xin việc khi học xong, vì đã có Nhà nước phân công công tác. Tuy vậy, chúng tôi không bao giờ thoả mãn học đến đâu là đủ.Hiện, như chúng ta đã biết, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Nếu trước kia, từ lúc có phát minh khoa học đến lúc áp dụng vào thực tiễn phải mất nhiều năm, thậm chí mất hàng thế kỷ thì ngày nay, khoảng cách đó đã rút ngắn lại, đến mức gần như không còn ranh giới, nghĩa là nhất thể hóa khoa học và sản xuất. Đó là cơ hội lớn cho các nhà khoa học trẻ, nhưng cũng là thách thức cho họ. Nếu họ bằng lòng với những cái đã có thì họ rất nhanh sẽ trở nên lạc hậu. Vì thế, hơn bao giờ hết, các nhà khoa học trẻ cần ghi nhớ lời Bác dạy: luôn phải gắn chặt giữa lý luận và thực tiễn.

Những nhà khoa học trẻ hiện rất nhanh nhạy và khá thực tiễn. Họ chỉ cần được chỉ dẫn đúng hướng, Nhà nước quan tâm thì sẽ tiến rất xa. Sự quan tâm của Nhà nước thể hiện bằng hệ thống giáo dục, khoa học công nghệ và sản xuất cùng những chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài…

Giáo sư, Nhà giáo nhân dân, trung tướng Nguyễn Hoa Thịnh nguyên là giám đốc Học viện kỹ thuật quân sự, chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật Quân đội nhân dân Việt Nam, giám đốc Trung tâm (Viện) Khoa học và Công nghệ quân sự, hiện là chủ tịch Hội đồng quản lý Viện Phát triển công nghệ, truyền thông và hỗ trợ cộng đồng.

GS. Nguyễn Hoa Thịn

baodatviet.vn

Chủ nghĩa Lênin là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng.

(ĐCSVN) – Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Chúng ta kỷ niệm đồng chí Lênin, thương nhớ đồng chí Lênin thì càng phải học tập và thực hành chủ nghĩa Lênin.

Là người Việt Nam yêu nước đầu tiên – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã tìm thấy ở chủ nghĩa Lênin con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam khi đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin. Ánh sáng cách mạng của chủ nghĩa Lênin qua bản Luận cương đã chinh phục hoàn toàn Nguyễn Ái Quốc và từng bước Người đã đi đến kết luận: chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân toàn thế giới. Trong tác phẩm “Đường kách mệnh” Nguyễn Ái Quốc đã khăng định: Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin.

(22.4.1870/22.4.2009)

Lênin là người kế tục sự nghiệp của C.Mác-Ph.Ăng ghen và đã đưa chủ nghĩa xã hội khoa học phát triển từ lý luận trở thành hiện thực, mở ra thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Tên tuổi của Lênin gắn liền với cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, một cuộc cách mạng đã mở ra thời đại mới trong lịch sử loài người và con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: Lênin là người đầu tiên đã đặt cơ sở cho một thời đại mới thật sự cách mạng trong các thuộc địa và đối với tất cả các dân tộc bị áp bức và nô lệ.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi của mình, Lênin đã tập trung toàn bộ tâm lực, trí lực cho sự nghiệp giải phóng loài người khỏi ách áp bức bóc lột. Bằng những tác phẩm nổi tiếng như: “Làm gì”, “Một bước tiến, hai bước lùi”, “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa”, “Thà ít mà tốt”…Có những tác phẩm Lênin đọc cho thư ký ghi trong những ngày nằm trên giường bệnh. Đó là những cống hiến vô cùng to lớn về lý luận của Lênin.

Bên cạnh việc khẳng định Lênin là người đã thực hiện và phát triển chủ nghĩa Mác, là người cha của cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn khẳng định Lênin là người thầy đã đào tạo ra những chiến sĩ cách mạng khắp thế giới, chẳng những bằng lý luận cách mạng khoa học nhất, mà còn bằng đạo đức cách mạng cao cả nhất.

Học tập và làm theo những lời dạy của Lênin, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải ra sức học tập nâng cao trình độ lý luận, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, chống quan liêu, tham ô, lãng phí, thực hành tiết kiệm. Dù vô tình hay cố ý, duy trì ba bệnh ấy tức là giúp cho kẻ địch và làm hại cho nhân dân, cho Chính phủ, cho Đảng. Lênin dạy chúng ta giản đơn và khiêm tốn, trong sạch và chính trực, phải thật thà tự phê bình và phê bình để đoàn kết chặt chẽ và tiến bộ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người sáng lập và rèn luyện Đảng ta đã khẳng định: Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ./.

Trung Hiếu

cpv.org.vn

Những con tem mang hình Bác kính yêu

Tem Bác Hồ năm 1946.

Ngay từ mùa thu năm 1946, một năm sau khi giành được độc lập, Nha Bưu điện Việt Nam được Chính phủ cho phép phát hành bộ tem mới thể hiện chân dung Hồ Chủ tịch. Người có vinh dự được vẽ mẫu tem này là họa sĩ Nguyễn Sáng, dựa vào bức ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh do nghệ sĩ Vũ Năng An chụp. Giống như ảnh, mẫu tem thể hiện được những nét đặc sắc của Bác Hồ: Thông minh, hiền hậu, kiên nghị được lồng trong khung những ngôi sao năm cánh. Tem có kích thước nhỏ xinh, in trên giấy tàu bạch mỏng mịn, gồm 5 mẫu, mỗi mẫu một màu (xanh lá mạ, đỏ, vàng, lam, tím), nhìn rất sinh động và trang trọng. Đã có những vần thơ mừng đón con tem:

“Tem mang hình Bác trên mình
Tem thêm sức mạnh, thêm tình trong tem”

Sau khi tem được phát hành, người ta chen nhau ở các bưu cục trong cả nước để mua tem Bác Hồ. Hồi này, đất nước ta đang ở thời kỳ bị “giặc đói” hoành hành. Mỗi con tem màu lam giá bốn hào, nhưng ai cũng mua với giá một đồng vì trên mặt tem in dòng chữ “+ phụ thu cứu quốc 6 hào”. Con tem nhỏ bé này đã đóng góp phần mình vào phong trào cứu đói và “Tuần lễ Vàng” lịch sử.

Tem Bác Hồ năm 1949.

Năm 1949, để đáp ứng yêu cầu kháng chiến, họa sĩ Nguyễn Sáng lại thiết kế bộ tem thứ hai về Bác Hồ, nhưng lần này Người ngồi ở tư thế hơi nghiêng, vẻ mặt trầm tư, sâu lắng, cũng dựa vào bức ảnh do Vũ Năng An chụp. Có thể nói, người chụp ảnh cũng như người thiết kế tem đã thực hiện tác phẩm của mình với tấm lòng kính yêu vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tem Liên Xô kỷ niệm 90 năm Ngày sinh Bác Hồ.

Tính đến nay, trong số trên 3.000 mẫu tem Việt Nam hiện có, có hàng trăm mẫu tem về Bác Hồ. Nếu cộng cả các mẫu tem về Bác Hồ mà nhiều nước trên thế giới phát hành, chúng ta có trên 500 con tem về Bác. Đó là con số mà một nhà sưu tầm tem có tiếng, ông Lê Đức Vân, đồng thời là một cán bộ cách mạng lâu năm, nghiên cứu, thống kê và công bố. Đã ngót 10 năm, ông Vân sưu tầm tem Bác Hồ, có ý định trưng bày một bộ sưu tập vô giá vào dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 120 của Người. Bộ sưu tập ấy in dấu chân của vị lãnh tụ trên từng chặng đường đấu tranh vì dân, vì nước, từ ngày Sài Gòn bôn ba ra nước ngoài tìm đường cứu nước cho đến lúc Người đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, từ khi Người chỉ đạo quân và dân ta tiến hành hai cuộc kháng chiến thần thánh chống ngoại xâm cho đến khi Người đi vào cõi vĩnh hằng.

Tem thể hiện bức ảnh “Bác Hồ bắt nhịp bài ca Kết đoàn”.

Có một điều rất đáng nói là phần lớn những con tem mang hình Bác đã được thiết kế trên cơ sở những bức ảnh cụ thể. Ngoài hai bức ảnh nói trên của Vũ Năng An, chúng ta được gặp những bức ảnh thể hiện trên tem như “Bác Hồ đọc báo tại chiến khu Việt Bắc” do nghệ sĩ Nguyễn Hồng Nghi chụp năm 1949 được dùng làm mẫu tem trong bộ tem “Kỷ niệm 35 năm truyền thống ngành Bưu điện” phát hành năm 1980 do họa sĩ Trần Huy Khánh thiết kế, hoặc từ bức ảnh nổi tiếng “Bác Hồ bắt nhịp bài ca Kết đoàn” do nghệ sĩ Lâm Hồng Long chụp năm 1960 cũng được các họa sĩ Trần Lương, Đặng Quý Quyền, Trần Thế Vinh và Nguyễn Thị Sâm thể hiện trên ba mẫu tem phát hành năm 1978, 1990 và 2000. Để thống nhất phương thức thiết kế tem theo dạng ảnh chụp, họa sĩ Trần Lương đã nghiên cứu 8 ảnh gốc của người chụp để đưa vào tem sao cho trung thực với lịch sử, thay cho phác thảo đơn nét bút sắt. Và để tính khái quát và ý nghĩa rộng lớn hơn, họa sĩ đưa nguyên hình Bác như trong ảnh, lược bỏ những chi tiết dàn hợp xướng và thay thế bằng hình mặt trống đồng Ngọc Lũ, tượng trưng cho 4.000 năm văn hiến Lạc Việt – Hùng Vương.

Tem thể hiện bức ảnh “Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội Tours (Pháp) năm 1920”.

Cũng cần đề cập những tác phẩm nhiếp ảnh tiêu biểu khác như bức ảnh “Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội Tours (Pháp) năm 1920” mà Đoàn thanh niên Cộng sản Pháp đã sưu tầm được và kính biếu Bác đã được dùng làm cơ sở thiết kế mẫu tem “Kỷ niệm 55 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam” phát hành năm 1985, hay như bức ảnh “Bác Hồ cùng Bộ Chính trị chỉ đạo chiến dịch Điện Biên Phủ” (do Đinh Đăng Định chụp) cũng được đưa vào một mẫu tem trong bộ tem “Kỷ niệm 30 năm chiến thắng Điện Biên Phủ” phát hành năm 1984.

Tem thể hiện bức ảnh “Bác Hồ với các anh hùng và dũng sĩ miền Nam”.

Tem bưu chính Việt Nam về thành phố mang tên Bác đã thể hiện tình cảm sâu lắng của đồng bào thành phố Hồ Chí Minh đối với vị lãnh tụ kính yêu, thông qua nhiều hình ảnh thân thương từ cuộc đời hoạt động phong phú của Bác như: Bác Hồ tưới cây vú sữa do đồng bào miền Nam gửi biếu, Bác Hồ với các anh hùng và dũng sĩ miền Nam… Mẫu tem 2 đồng trong bộ tem “Kỷ niệm 10 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam” phát hành năm 1985 ghi lại hình ảnh chiếc xe tăng cùng đoàn Quân Giải phóng tiến vào Dinh Độc lập, phía trên bên phải là hình ảnh Bác Hồ đang giơ tay vẫy chào thành phố thân yêu. Hình ảnh Bác Hồ giơ tay vẫy chào cũng có trong mẫu tem kỷ niệm 20 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước phát hành năm 1995, phía trên cánh cổng chợ Bến Thành rợp cờ đỏ sao vàng.

Tem thể hiện bức tượng “Bác Hồ với thiếu nhi”.

Bức tượng “Bác Hồ với thiếu nhi” của nhà điêu khắc Diệp Minh Châu tại vườn hoa phía trước Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh cũng đã được đưa lên tem hai lần vào năm 1995 và 1998.

Có dịp chiêm ngưỡng các bộ tem về Bác, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, chúng ta trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đối với các họa sĩ tài hoa, từ các cố họa sĩ lão thành như Nguyễn Sáng, Bùi Trang Chước, Nguyễn Văn Khanh… cho đến Nguyễn Thế Vinh, Trần Lương, Huy Toàn, Nguyễn Hiệp, Trịnh Quốc Thụ, Đỗ Việt Tuấn, Trần Ngọc Uyển, Đỗ Lệnh Tuấn, Nguyễn Thị Sâm, Trần Thế Vinh… Họ đã đem toàn bộ tâm huyết và tài năng nghệ thuật của mình để sáng tác những mẫu tem đẹp nhất, trang trọng nhất về Bác kính yêu./.

Theo Trần Đương
(vietstamp.net)
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn