Thư viện

Hòa đàm Paris 1968: Trò chơi hai cấp độ?

 Nhìn lại Hòa đàm Paris, cựu Bộ trưởng Quốc phòng McNamara cho rằng, “mức độ các cơ hội bị bỏ lỡ thực sự là không thể tin được.”

LTS: 40 năm đã trôi qua kể từ ngày chúng ta kết thúc đàm phán tại Hội nghị Paris, với việc Mỹ rút quân khỏi Việt Nam. Nhìn lại chặng đường đàm phán kéo dài và căng thẳng ấy, nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam từng nêu câu hỏi, liệu đã bao giờ chúng ta bỏ lỡ cơ hội đàm phàn, kết thúc chiến tranh. Đến nay, nhiều tài liệu mật vẫn chưa được giải mã để có câu trả lời.

Từ phía Mỹ, đã có nhiều nỗ lực đi tìm lời giải cho chuyện, có hay không việc bỏ lỡ cơ hội này.  Nhân kỉ niệm 40 năm hòa đàm Paris, Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu một trong những nghiên cứu như vậy, như một góc nhìn tham khảo.

Phần 1:

Một khía cạnh quan trọng của sự chuyển đổi Robert S. McNamara quá cố từ một Hàn Chiến Binh (Cold Warrior) tự tin sang một người chỉ trích chính sách ngoại giao bành trướng của Mỹ là trong những năm 1990 ông mong muốn tìm hiểu thời đại Chiến tranh Việt Nam về “các cơ hội bị bỏ lỡ” vốn đã có thể đã ngăn Mỹ và Việt Nam khỏi cuộc xung đột tàn khốc.

Trong Tranh cãi không hồi kết (Argument Without End), vị cựu Bộ trưởng Quốc phòng cho rằng “Có [. . .] những cơ hội hoặc là đã tránh được chiến tranh trước khi nó bắt đầu, hoặc là đã dập tắt nó từ rất lâu trước khi nó diễn ra”.

Theo đánh giá của McNamara, việc Mỹ và Bắc Việt không đạt được một thỏa thuận hòa bình có thể chấp nhận được nhau là một trong những thất bại lớn của các mối quan hệ quốc tế thời hậu chiến. Với một nhóm các nhà ngoại giao kỳ cựu, và các viện sĩ ở Mỹ, McNamara đã bàn đến một số sáng kiến hòa bình bên thứ ba với những người đồng nhiệm của Bắc Việt, trong đó có những vật có uy tín lớn như Tướng Võ Nguyên Giáp và Thứ trưởng Ngoại giao thứ nhất Trần Quang Cơ.

Trong 6 cuộc họp được tổ chức tại Hà Nội từ tháng 11/1995 đến tháng 2/1998, các bên tham dự đã thảo luận những gì trở nên sai lầm và tìm cách xác định liệu một nền hòa bình đáng tin cậy là có thể trong những năm Johnson. Ngạc nhiên trước mức tiếp thu mà Bắc Việt Nam khẳng định đối với các cuộc đàm phán, McNamara kết luận rằng “mức độ các cơ hội bị bỏ lỡ thực sự là không thể tin được [. . .] , có rất nhiều cơ hội tiến tới một thỏa thuận thông qua đàm phán về cuộc chiến tại Việt Nam trong khoảng thời gian từ tháng 5/1965 đến tháng 10/1967 đã bị bỏ lỡ.’

Vì nhiệm kỳ của McNamara tại Lầu năm Góc kết thúc vào ngày 1/2/1968, Tranh cãi Không Hồi kết không phân tích các cuộc đàm phán trực tiếp giữa Mỹ và Bắc Việt tại Paris từ tháng 5/1968. Đây là một sự bỏ sót đáng tiếc về các sáng kiến bên thứ ba – còn được biết đến bởi các mật danh MAYFLOWER (Tháng 4-5/1965), XYZ (5-9/1965), PINTA (Tháng 12/1965-tháng 1/1966), MARIGOLD (6-12/1966), SUNFLOWER (1-2/1967) và PENNSYLVANIA (6-10/1967) – căn cứ vào những hoạt động phía sau sân khấu và tất cả có rất ít cơ hội thành công.

Mỹ kí vào bản hòa ước tại HN Paris. Ảnh tư liệu.

Trái lại, các cuộc đàm phán song phương ở Paris từ tháng 5/1968 tới tháng 1/1969 mang lại cho Tổng thống Johnson một cơ hội chắc chắn để kết thúc cuộc chiến: Johnson đã tự loại mình khỏi cuộc chạy đua tổng thống, việc đảm bảo một nền hòa bình thỏa hiệp sẽ thúc đẩy các triển vọng bầu cử của đảng Dân chủ, và rất ít cố vấn cho chính quyền (cả bên trong và bên ngoài) vào thời điểm đó coi “chiến thắng” ở Việt Nam là một khả năng có ý nghĩa.

Nhiều sử gia quốc tế – chẳng hạn như George Herring, Lloyd Gardner và Robert Schulzinger – đã nghiên cứu quãng thời gian quan trọng này như một phần của các dự án sách rộng hơn. Nhưng chỉ có một bài báo hoặc một chương sách phân tích các cuộc đàm phán hòa bình Paris một cách trọn vẹn: Tiểu luận của Herbert Schandler mang tựa đề “Lầu Năm Góc và Các cuộc đàm phán Hòa bình sau ngày 31/3/1968”.

Tuy nhiên, tác giả không tham khảo hai nguồn quan trọng đầu tiên: Tài liệu của Cố vấn an ninh quốc gia Walt Rostow tại Thư viện Lyndon Baines Johnson ở Austin, Texas và tài liệu của nhà Đàm phán trưởng W. Averell Harriman tại thư viện Quốc hội ở Washington DC. Hai nhân vật có ảnh hưởng này bất hòa với nhau trong giai đoạn đó, và sự sụp đổ của các nỗ lực của Harriman ở Paris có thể bị quy cho bầu không khí bất thuận lợi ở Washington mà các nhân vật diều hâu như Rostow đã cố hết sức để tạo ra.

Nhưng có nhiều hơn thế trong câu chuyện này, chứ không chỉ sự đấu đá nội bộ đã được phân tích bởi nhiều học giả, chẳng hạn như Graham Allison. Trong một cuộc hội thoại kín hồi tháng 9/1968, Harriman hỏi Bộ Trưởng Quốc phòng Clark Cliford “một cách thẳng thắn, liệu ông có cảm thấy Tổng thống ước được chứng kiến [Phó Tổng thống] Humphrey bị hạ gục [trong cuộc bầu cử Tổng thống] hay không”. Sau khi ngừng một lát để dự liệu phản ứng của mình, Cliford trả lời rằng “Nếu ông nhất trí là chuyện này chỉ giữa ông và tôi thì tôi tin rằng ông đã đúng: Tổng thống muốn chứng kiến ông ấy bị đánh bại”.

Bực bội bởi sự thiếu quan tâm của Tổng thống Johnson đối với các cuộc đàm phán ở Paris, cả hai người dự đoán rằng, trước tiên, Tổng thống muốn để lại việc kiến tạo hòa bình cho người kế nhiệm của mình, và thứ hai, Johnson tin rằng Richard Nixon sẽ bảo vệ sự độc lập của Nam Việt chắc chắn hơn so với vị Phó Tổng thống của ông, Hubert Humphrey.

Bài báo này phân tích tính logic của tuyên bố đó và kết luận rằng cáo buộc này mang trọng lượng đáng kể. Ngoại trưởng Dean Rusk, Walt Rostow và LBJ đều đành cam chịu trước một chiến thắng của phe Cộng hòa ngày 5/11/1968. Lựa chọn ưa thích của Johnson, trên thực tế, là muốn Nelson Rockefeller, một thành viên Cộng hòa ôn hòa dòng dõi, người ông rất cảm phục, đánh bại Richard Nixon giành sự đề cử ứng viên của Phe Cộng hòa và sau đó giành chiến thắng trong cuộc bầu cử trước đối thủ hoặc Humphrey hoặc Kennedy.

Tuy nhiên, những hy vọng này đã tan thành mây khói vào ngày 8/8 khi Nixon giành được sự ủng hộ của đảng mình. Tổng thống sau đó phải đối đầu với một lựa chọn phiền phức là ông sẽ ủng hộ ai về mặt cá nhân. Hubert Humprey chủ trương rút quân Mỹ khỏi cuộc chiến Việt Nam và tư tưởng chủ bại này là không thể chấp nhận đối với Tổng thống và các cố vấn diều hâu, những người đầu tư quá nhiều sức lực và tín nhiệm cá nhân vào cuộc chiến chống lại chủ nghĩa cộng sản Việt Nam. Trong khi các chính sách bảo thủ trong nước của Nixon là lời nguyền cho những người cấp tiến như Rusk, Rostow, và Johnson, nền tảng địa chính trị của ông không bao giờ bị ngờ vực. Và vì vậy, triển vọng một chiến thắng của Nixon được Tổng thống ngầm chấp nhận – do bị kích động theo hướng này bởi các cố vấn diều hâu của ông – như một lựa chọn ít tồi tệ hơn cả cho vị thế thế giới của Mỹ.

Bốn nhân vật chính trong câu chuyện này được chia làm 2 phe: Một phe gồm Averell Harriman và Bộ trưởng Quốc phòng Clark Clifford – tập trung vào đạt được một thỏa thuận thông qua đàm phán ở Paris mà ràng buộc nghiêm túc với cả Bắc Việt và Nam Việt, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (NLF). Một phe gồm Ngoại trưởng Dean Rusk và Walt Rostow – những người quả quyết rằng bất cứ một nền hòa bình thỏa hiệp nào trực tiếp bao gồm NLF trong một chính phủ liên hiệp Nam Việt Nam sẽ không thể có vào thời của họ. Lyndon Baines Johnson là trọng tài quyết định và ông chọn cách ủng hộ Rusk – Rostow. Cuối cùng, Richard Nixon là người hưởng lợi chính của việc Lyndon Johnson không quan tâm đặt một dấu chấm hết qua đàm phán cho Chiến tranh Việt Nam trong thời kỳ ông làm Tổng thống.

Như Harriman hồi tưởng một cách cay đắng vào tháng 12/1968: “Gần như chắc chắn rằng tính chất mà vấn đề Việt Nam được giải quyết, với lời khuyên của Rusk and Rostow, đã mang lại chiến thắng cho Nixon”. Hậu quả u ám nhất của cơ hội hòa bình bị bỏ lỡ ở Paris là thực tế rằng các điều khoản hòa bình cuối cùng được Henry Kissinger và trưởng đoàn đàm phán của Bắc Việt, Lê Đức Thọ, nhất trí vào tháng 1/1973 về căn bản không khác biệt lắm so với những gì Harriman và ông Thọ đã nhất trí ở Paris vào tháng 11/1968. Đã cống hiến quá nhiều thời gian và sức lực như vậy cho cuộc chiến Việt Nam nhưng Johnson không có mong muốn tách rời Nam Việt Nam và ngăn cảnh máu đổ trong những gì, vào lúc đó, là một chính nghĩa quân sự tuyệt vọng.

Chào mừng kí kết HN Paris. Ảnh tư liệu.

Lập luận này có những hàm ý quan trọng đối với “Giả thuyết Trò chơi Hai cấp độ” của Robert Putman. Trong bài viết có tựa đề “Ngoại giao và Chính trị trong nước: Logic của Trò chơi Hai Cấp độ”, được International Organization xuất bản năm 1988, Putman cho rằng, các cuộc đàm phán quốc tế giữa các nước diễn ra ở cấp độ trong nước và ở cấp độ quốc tế.Khi thúc đẩy đàm phán, các nhà lãnh đạo buộc phải đáp ứng các nhu cầu và mối quan tâm của các khu vực bầu cử trong nước bằng việc đưa ra các nhượng bộ và tạo dựng liên minh, trong khi đàm phán quốc tế được theo đuổi với sự suy tính chủ yếu trong đầu: bất cứ thỏa thuận nào cũng sẽ không gây thiệt hại nghiêm trọng cho các khu vực bầu cử trong nước. “Win-sets” xảy ra khi các quyền ưu tiên của các chủ thể ở cả hai cấp độ chồng lấn nhau và vì thế thỏa thuận quốc tế trở thành có thể.

Như Putham kết luận: “Diễn biến gở nhất trong lĩnh vực chính trị so sánh và các mối quan hệ quốc tế trong những năm gần đây là sự công nhận giữa các chủ thể trong  phạm vi của nhu cầu phải tính đến những rắc rối giữa hai [. . .] Nghiên cứu có ảnh hưởng sâu rộng này giờ đây được cần đến để phân tích và đào sâu hơn sự hiểu biết của chúng ta về cách thức những trò chơi như vậy được thực hiện. Thông qua triển khai phương pháp luận lịch sử thế giới, dựa chủ yếu vào các dữ liệu văn khố chưa được tận dụng, bài báo này hưởng ứng tuyên bố của Putnam. Bằng cách làm như vậy, tôi hy vọng sẽ thiết lập được một sự kết nối giữa lịch sử quốc tế và giả thuyết các mối quan hệ quốc tế; hai lĩnh vực mà không tương tác với nhau nhiều như lẽ ra nên thế.

Cuối cùng, thuyết trò chơi hai cấp độ của Putnam rất hữu ích trong việc giải thích lý do tại sao các cuộc đàm phán năm 1968 đã tiến triển như thế, mặc dù không hoàn toàn theo cách ông hình dung lúc đầu.

Do từ bỏ việc đảm bảo một thỏa thuận hòa bình năm 1968, Lyndon Johnson đã cố tình phớt lờ các nền tảng của Đảng Dân chủ – bỏ qua một khối cử tri then chốt – để nhường lại một lợi thế quan trọng cho phe Cộng hòa. Ông từ chối xây dựng một liên minh nội địa thân thiết trong đảng – như giả thuyết của Putnam – thay vào đó, lại chọn cách tặng cho Nixon một cú huých bầu cử quyết định: từ chối một nền hòa bình mà Johnson cho là không có giá trị, mà chính nó vốn gần như chắc chắn giúp cho Humphrey trở thành Tổng thống.

Trong các cuộc đàm phán trực tiếp với Hà Nội, Johnson đề cập đầu tiên và tối quan trọng đến việc đảm bảo cho khả năng Nam Việt Nam tiếp tục tồn tại như một nhà nước – một mục tiêu cơ bản, trong rất nhiều khía cạnh. Tuy nhiên, tự nhường bước cho một chiến thắng của Nixon – thực vậy, rất tích cực hỗ trợ cho chiến thắng đó bằng sự chây ì của bản thân – trước vị Phó Tổng thống của chính ông là cách có thể chắc chắn nhất để đạt được mục tiêu này.

Các cuộc đàm phán hòa bình Paris, vì thế, cấu thành một trò chơi hai cấp độ theo kiểu đặc biệt nhất. Mục tiêu lấn át của Tổng thống Johnson là bảo vệ sự độc lập của Nam Việt Nam đã đòi hỏi ông phải vứt bỏ logic chính trị của đảng, giao phó cho Humphrey và đảng Dân chủ một số phận u ám, và phớt lờ chiến thuật lá mặt lá trái (nói một cách chính xác là phản nghịch) của chiến dịch tranh cử Nixon là khuyến khích Tổng thống Thiệu của Nam Việt Nam đẩy lùi các nỗ lực về một nền hòa bình thỏa hiệp cho đến sau cuộc bầu cử Tổng thống và một khả năng chiến thắng của Nixon. Tính liên kết của ngoại giao và chính trị trong nước chưa từng rõ ràng hơn thế trong năm cuối cầm quyền của Lyndon Johnson.

Còn nữa

  • David Milne là một giảng viên cao cấp về Lịch sử Chính trị Mỹ tại Đại học Đông Anglia. Ông là một thành viên Fox International tại Đại học Yale năm 2003, một thành viên cấp cao của Viện Gilder-Lehrman về Lịch sử Mỹ, New York City, năm 2005, và ông có tư cách hội viên tại Hiệp hội Triết học Mỹ, Philadelphia, năm 2008. Chuyên khảo đầu tiên của ông, “Rusputin của Mỹ: Walt Rostow và Cuộc chiến Việt Nam” đã được Hill and Wang xuất bản năm 2008. Hiện nay ông đang viết cuốn sách thứ 2, tựa đề tạm thời là Thuyết duy lý trí trong Ngoại giao Mỹ (Intellectualism in American Diplomacy), cho Farrar Straus and Giroux. Tác phẩm của ông đã xuất hiện trên Tạp chí Lịch sử Quân sự, International Affair, The Nation, và the Los Angeles Time

vietnamnet.vn

Nhân tố quyết định thành công

Nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc đàm phán và việc ký kết Hiệp định Paris là đường lối ngoại giao tài tình từ chủ trương đường lối đến lựa chọn cán bộ do Bác Hồ và Bộ Chính trị, Ban Chấp hành trung ương Đảng đề ra. Xung quanh vấn đề này, ông Trịnh Ngọc Thái, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Pháp, nguyên Phó Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng, nguyên thư ký của Bộ trưởng Xuân Thủy – Trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đàm phán tại Hội nghị Paris về Việt Nam đã có cuộc trao đổi với phóng viên báo Đại đoàn kết.

Để chuẩn bị cho cục diện này, Đảng và Bác Hồ đã đề nghị cử ông Lê Đức Thọ làm Cố vấn đặc biệt và ký sắc lệnh cử Bộ trưởng Xuân Thủy làm Trưởng đoàn đàm phán của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông có thể nói rõ thêm về lý do tại sao lại có sự lựa chọn này?

Ông Trịnh Ngọc Thái: Quyết định như vậy bởi Bác biết rất rõ ông Lê Đức Thọ là người hết sức thẳng thắn và không khoan nhượng. Ông là Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam. Hồi ấy, ông là người am hiểu tình hình chiến sự ở miền Nam hơn ai hết. Điều này có tác dụng rất quan trọng trong quá trình đàm phán theo tinh thần “vừa đánh vừa đàm”. Ông Xuân Thủy là người làm ngoại giao rất lâu năm, ngoài ra còn có khả năng thuyết phục mọi người rất tốt từ hồi làm công tác dân vận ở Mặt trận Tổ quốc. Những ngày bị Pháp bắt giam trong Nhà tù Sơn La, ông Xuân Thủy làm Chủ bút tờ báo Suối reo, sau làm Chủ nhiệm báo Cứu Quốc (tiền thân của báo Đại Đoàn Kết), là nhà thơ. Đến nay kiều bào ta bên đó vẫn còn rất nhớ đến ông. Còn nhớ trong suốt gần 6 tháng đầu đàm phán, ta chỉ duy nhất có một nội dung yêu cầu Mỹ ngừng ném bom miền Bắc, rồi sau mới bàn đến các vấn đề khác. Vậy mà cứ mỗi phiên họp ông lại có một bài phát biểu mới, không bài nào trùng lặp bài nào, có dẫn chứng đầy đủ và rất thuyết phục vạch trần thủ đoạn xảo trá của đế quốc Mỹ đối với nhân dân ta. Từ đó, ta tranh thủ được bạn bè tiến bộ trên thế giới ủng hộ cuộc chiến tranh chính nghĩa của mình.

Vậy còn sự lựa chọn bà Nguyễn Thị Bình làm Trưởng đoàn thì sao, thưa ông?

– Bà Nguyễn Thị Bình là đảng viên lâu năm, nắm rất chắc tình hình chiến sự miền Nam và đường lối lãnh đạo của Đảng. Bà đã từng hoạt động rất sâu và rộng trong quần chúng nhân dân, để lại ấn tượng rất mạnh, đầy sức thuyết phục đối với khách quốc tế và dư luận, công luận trên thế giới. Bà còn là một phụ nữ hết sức sắc sảo mà mềm mỏng, được báo chí mệnh danh là “Nữ hoàng cộng sản”.

Lựa chọn ba người như vậy, Bác Hồ có ý để họ bổ sung cho nhau. Trước khi đi, Bác đã dặn dò cặn kẽ từng người một. Bác dặn phải có cố vấn quân sự để nắm chắc tình hình chiến sự để phối hợp đấu tranh trên bàn Hội nghị Paris, phải thận trọng, kiên trì, vững vàng nhưng khôn khéo khi đàm phán với Mỹ…

Sự chỉ đạo của Bác từ trong nước, theo ông có tác động thế nào đối với quá trình đàm phán của ta ở Paris?

Ở trong nước, Bác thường xuyên họp với Bộ Chính trị để nghe báo cáo tình hình chiến sự ở miền Nam và diễn biến của cuộc đấu tranh ngoại giao. Bác nhắc phải vạch trần luận điệu bịp bợm của Johnson, đập mạnh tuyên bố của chính quyền Sài Gòn. Bác tiếp khách quốc tế, trả lời phỏng vấn, viết thư, viết báo, ra lời kêu gọi đồng bào trong nước và nhân dân thế giới.. “Đế quốc Mỹ chán rồi, nhưng rút ra thế nào? Thua mà danh dự, đó là điều Mỹ muốn.” – Bác nói. Để chứng minh cho sự thất bại của Mỹ như nói trên, Bác viết trên báo Nhân dân ngày 10-6-1968: “Bốn trụ cột chiến tranh xâm lược thì bốn tướng Mỹ Harkin, Taylor, MacNamara và Westmolen đều đã thất bại mà sụp đổ”. Bác nói phải cảnh giác Mỹ vẫn có thể ném bom trở lại miền Bắc, nên ta phải chuẩn bị sẵn sàng và phải đẩy mạnh tuyên truyền ở Hội nghị Paris…

Hồ Chủ tịch đã qua đời, nhưng tư tưởng ngoại giao của Người vẫn tiếp tục tỏa sáng, soi đường cho chúng ta trong suốt quá trình đàm phán, ký kết Hiệp định Paris để đi đến thắng lợi cuối cùng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Xin cảm ơn ông!

Ông Hà Đăng- Nguyên Uỷ viên TƯ Đảng, nguyên Trưởng Ban Tư tưởng -Văn hoá TƯ, thành viên đoàn đàm phán Paris về Việt Nam:

Nam – Bắc một nhà trên bàn đàm phán

Việt Nam vốn là một nước thống nhất. Sau thắng lợi trong chiến tranh chống Pháp, theo Hiệp định Geneve (1954), nước ta bị chia làm hai miền Nam, Bắc. Cho nên, tuy vẫn cùng một Đảng lãnh đạo nhưng ta lại phải chia ra làm hai: Đảng Lao động Việt Nam ở miền Bắc còn Đảng Nhân dân Cách mạng ở miền Nam. Tương tự như vậy, cùng là một chính phủ, một mặt trận, một quân đội, một đường lối ngoại giao… nhưng ta vẫn phải chia ra làm hai cho hai miền. Tuy hai nhưng vẫn là một. Lẽ ra nếu cuộc tổng tuyển cử được diễn ra đúng theo Hiệp định Geneve thì nước ta đã được thống nhất trở lại sau hai năm kể từ ngày Hiệp định được ký kết, nhưng điều này đã không diễn ra do Mỹ can thiệp quân sự vào miền Nam Việt Nam, phá hoại Hiệp định này, dựng nên chính quyền Sài Gòn, thành lập quốc gia riêng ở miền Nam Việt Nam. Cũng từ đó, khi tiến hành đàm phán ở Paris những năm sau đó, đã hình thành hai đoàn của Việt Nam từ hai miền Nam, Bắc cùng tham gia hội nghị 4 bên với Mỹ và ngụy Sài Gòn. Tuy là hai đoàn nhưng cũng vẫn chỉ là một.

Trong quá trình đàm phán, tuy nói là đoàn của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam nhưng cũng toàn là người của bên này thôi, gọi là người miền Nam nhưng phần lớn là cán bộ tập kết ra Bắc từ hồi năm 1954. Chỉ có ít người thuần túy ở miền Nam thì cũng là cán bộ của ta hoạt động ở trong đó rồi bị địch bắt, được giải thoát hồi tổng tiến công và nổi dậy năm 1968. Mỗi tuần Hội nghị Paris có một phiên họp vào ngày thứ năm. Sau mỗi phiên họp, hai đoàn ta lại họp với nhau tổng kết phiên họp vừa qua và rút kinh nghiệm và chuẩn bị cho những phiên họp tới. Bài phát biểu của hai đoàn cuối cùng đều được đưa qua anh Xuân Thủy và anh Lê Đức Thọ duyệt trước khi sử dụng.

Trần Ngọc Kha (ghi)

Trần Ngọc Kha (Thực hiện)
daidoanket.vn

Chương trình phát thanh đặc biệt 40 năm Hiệp định Paris

(VOV) -Chương trình được thực hiện từ 7h– 13h ngày 27/1 trên trên Hệ VOV1 và phát trực tuyến trên VOV.VN.

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris, Đài TNVN sẽ thực hiện Chương trình phát thanh đặc biệt “Đỉnh cao thắng lợi ngoại giao Việt Nam”. Chương trình được chia làm ba phần: Phần I, từ 7h-9h với chủ đề: “Con đường dẫn tới hòa đàm”. Phần II, từ 9h-11h là “Đấu trí trên bàn đàm phán” và Phần III, từ 11h-13h có chủ đề “Bài học đối thoại, hòa bình và hòa hợp”.

Nội dung xuyên suốt chương trình sẽ cung cấp cho khán thính giả hiểu rõ về ý nghĩa của sự kiện 40 năm ký kết Hiệp định Paris, mốc son trong hoạt động ngoại giao, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, thống nhất đất nước của dân tộc ta; bài học “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong đấu tranh ngoại giao của dân tộc Việt nam.

Ông Lê Đức Thọ và ông Henry Kissinger tại Hội nghị Paris. Ảnh tư liệu

Phần I của chương trình sẽ cung cấp tới khán thính giải nguyên nhân dẫn tới cuộc đàm phán hóa bình Paris; Nghệ thuật “Đánh và đàm”, và sự kết hợp giữa các mặt trận Quân sự, chính trị, ngoại giao.

Trong phần I, các khách mời là GS, NGND Vũ Dương Ninh, nguyên Trưởng khoa Quốc tế học, Đại học KHXH&NV, nhà nghiên cứu lịch sử quan hệ quốc tế và Đại tá, PGS, TS Nguyễn Mạnh Hà, Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, chuyên gia nghiên cứu về lịch sử quân sự Việt nam sẽ phân tích, nêu rõ ý nghĩa , hoàn cảnh lịch sử của Hiệp định Paris, tác động của Hiệp định Paris với đại thắng mùa xuân năm 1975, sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt nam.

Trong phần này, khán thính giả cũng sẽ được nghe những bài viết về những bài học đánh giặc ngoại xâm từ thời Vua Lê Lợi, Nguyễn Trãi; nghệ thuật binh vận, bước nối dài từ Hội nghị Fontainebleau; hội nghị Đà Lạt…cho tới Hiệp định Geneve, và tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh… để khẳng định: dân tộc ta biết cách tìm lối ra  hòa bình cho cuộc chiến tranh chống ngoại xâm.

Khán thính giả cũng có thể đặt câu hỏi cho khách mời đồng hành cùng chương trình. Cùng với đó là Ký sự truyền thanh: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 trên toàn miền Nam; Phóng sự Hình thành Mặt trận quốc tế ủng hộ cuộc chiến tranh chính nghĩa của Việt nam.

Trong phần này, cầu phát thanh trực tiếp cũng được nối với Cơ quan thường trú Đài TNVN tại Washington (Mỹ) sẽ cung cấp thêm thông tin về sự sửng sốt, hoang mang của dư luận Mỹ đối với sự kiện Tết Mậu Thân 1968.

Trong phần II của chương trình, nhà ngoại giao Phan Doãn Nam, nguyên Trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, nguyên chuyên viên vụ I, Chuyên viên Đoàn; Nhà ngoại giao Phạm Ngạc, nguyên Đại sứ, nguyên chuyên viên đoàn đàm phán cũng sẽ kể những câu chuyện trong thời gian diễn ra cuộc đấu trí trên bàn đàm phán; bối cảnh trước cuộc đàm phán lịch sử tại Paris.

Trong phần này, sự kiện Mỹ lật lọng tiến hành đánh bom rải thảm B52 tháng 12/1972 cũng sẽ được phản ánh đậm nét trong Ký sự Chiến thắng lịch sử 12 ngày đêm đánh thắng B52.

Ngoài ra, các khách mời cũng sẽ phân tích về tác động của sự kiện lịch sử ký Hiệp định Paris với việc buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán tại thủ đô Paris (Pháp), nhằm rút lui trong danh dự; Thế của ta khi bước vào đàm phán thực chất; Sự ủng hộ mạnh mẽ hơn của dư luận quốc tế đối với ta; Bối cảnh chính trị Mỹ khiến Tổng thống Nixon phải xuống thang.

Trong phần này, Cầu phát thanh trực tiếp với Cơ quan thường trú ĐTNVN tại Paris (Pháp) sẽ phản ánh đậm nét về giai đoạn đầu đàm phán, không khí của dư luận Pháp, dư luận quốc tế trước hội nghị Paris; những câu chuyện của các nhân chứng kiều bào kể lại về sự kiện lịch sử này.

Ngoài ra, cuộc phỏng vấn học giả Pháp về cuộc đấu trí trên bàn đàm phán cũng sẽ được cung cấp tới độc giả. Cùng với đó là phóng sự Kỷ niệm trên bàn đàm phán

Trong phần III “Bài học đối thoại“, các khách mời đồng hành cùng chương trình sẽ là ông Lưu Văn Lợi- nhà ngoại giao, nhân chứng lịch sử, cố vấn của ông Lê Đức Thọ tham gia đàm phán Hiệp định Paris; ông Vũ Dương Huân, nhà ngoại giao, nguyên Trưởng ban Nghiên cứu lịch sử ngoại giao. Các khách mời sẽ chia sẻ về ý nghĩa lịch sử Hiệp định Paris; Khán thính giả có thể đặt câu hỏi trực tiếp đối với các vị khách mời.

Cũng trong phần này, những bài bình luận, cuộc phỏng vấn học giả Nga về hiệp định Paris, cầu phát thanh trực tiếp với cơ quan thường trú Đài TNVN tại Mỹ về bác bỏ cái nhìn của phía Mỹ về kết quả Hiệp định Paris cũng sẽ góp phần làm rõ thêm nhiều góc độ xung quanh Hiệp định Paris.

Những khách mời cũng sẽ phân tích thất bại của Mỹ trong đàm phán Hiệp định Paris 1973. Chương trình đặc biệt cũng sẽ giới thiệu phóng sự Hồi ký Lê Đức Thọ-Kissinger về Hiệp định Paris, cuộc đàm phán 4 năm 9 tháng vượt qua không gian và thời gian.

Ngoài ra, học giả quốc tế cũng sẽ phân tích làm rõ tại sao Hiệp định Paris tạo tiền đề cho Đại thắng Mùa Xuân 1975.

Kết thúc chương trình là những bài viết về tư tưởng ngoại giao hòa bình Hồ Chí Minh, khẳng định: Một khi “Thế đặng chẳng đừng“, phải bước vào cuộc chiến tranh chống xâm lược, thì sẵn sàng chủ động đấu tranh ngoại giao… để hỗ trợ đấu tranh nỗ lực.

Mời quý khán thính giả đón nghe./.

Ngọc Thành/VOV online
vov.vn

Thắng lợi của chủ trương “vừa đánh vừa đàm”

Trong cuốn Hồi ký do Nxb Grosset and Dunlap, New York (Mỹ ) ấn hành năm 1978 tại trang 730, Nixon đã thú nhận về cuộc tập kích chiến lược bằng B52 vào Hà Nội: “Lệnh ném bom lại trước Noel là quyết định khó khăn nhất của tôi trong cuộc chiến tranh này nhưng cũng là một quyết định dứt khoát nhất và cần thiết nhất” (Noel 1972-NV). Và, quả đúng đây là một trong những sai lầm lớn nhất của Nixon trong cuộc đời làm Tổng thống của ông ta, dẫn đến thất bại trên bàn đàm phán Paris.

Những hố bom và sự tàn khốc của B52
không làm người dân Hà Nội run sợ

Ảnh: Internet

Ngày 18-12-1972, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ về đến Hà Nội cũng chính là thời điểm máy bay chiến lược B52 của Mỹ ném bom rải thảm Hà Nội, mở đầu cuộc tập kích mang tên Linebacker II tàn bạo nhất, quy mô nhất của không quân Mỹ vào Thủ đô của Việt Nam kể từ đầu cuộc chiến tranh.

Chúng ta không bất ngờ vì đã quá hiểu Mỹ. Trước ngày 18-12-1972, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, quân và dân ta đã chuẩn bị sẵn sàng mọi mặt đánh trả hành động phiêu lưu quân sự cao nhất của Mỹ. Đảng đã chỉ đạo Bộ Tổng tư lệnh, Bộ Tổng tham mưu tập trung tối đa lực lượng, vũ khí, phương tiện, khí tài của bộ đội phòng không, không quân và các lực lượng khác cho trận đánh quyết định này. Ngày 21-12-1972, vừa chỉ đạo quân và dân Hà Nội, Hải Phòng và các địa phương đánh trả cuộc ném bom, đánh phá tàn bạo do đế quốc Mỹ gây ra, Đảng, Chính phủ ta ra Tuyên bố lên án chính quyền Nixon leo thang chiến tranh, trì hoãn ký Hiệp định, đồng thời lệnh cho các đơn vị tập trung toàn lực chiến đấu, bắn rơi nhiều máy bay Mỹ hơn nữa, làm thất bại hoàn toàn cuộc tập kích chiến lược của kẻ thù.

Đây là điều Mỹ không ngờ tới, cũng trong cuốn Hồi ký kể trên của mình ở trang 733, Nixon thú nhận: “Nỗi lo nhất của tôi, trong cái tuần lễ đầu này, không phải là làn sóng phê phán nổi lên ở trong nước cũng như ngoài nước như đã dự kiến, mà là sự tổn thất lớn về máy bay B52”. Trong bối cảnh bị dư luận trong nước Mỹ và thế giới lên án, bị tổn thất nặng nề về máy bay và giặc lái, lại không khuất phục được ta, ngày 22-12, phía Mỹ lại gửi tiếp một công hàm đề nghị Kissinger và Lê Đức Thọ gặp nhau vào ngày 3-1-1973 và nếu Việt Nam chấp nhận, Mỹ sẽ ngừng ném bom từ phía Bắc Vĩ tuyến 20 trở lên từ ngày 30-12-1972. Tuy nhiên, không vồ vập trước đề nghị này mà đến ngày 26-12, Chính phủ Việt Nam mới trả lời Mỹ, đồng ý nối lại cuộc họp cấp chuyên viên bàn về các Nghị định thư và cuộc họp giữa Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, Trưởng đoàn Xuân Thủy với Kissinger sẽ tiến hành vào ngày 8-1-1973. Chủ trương của Đảng ta là đập tan hành động chiến tranh của Mỹ bằng các hoạt động quân sự, coi đó là đòn quyết định, đánh trước, đàm phán sau, buộc Mỹ phải chấp nhận thất bại hoàn toàn.

Thông báo của Ban Bí thư số 08/TB/TW ngày 30-12-1972, về tình hình trước mắt của cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước, đã nêu rõ: “Trong thời gian qua, từ ngày 18 đến ngày 29 tháng 12, đế quốc Mỹ đã điên cuồng leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta, đánh phá rất ác liệt và tập trung vào Thủ đô Hà Nội, thành phố Hải Phòng, nhiều khu công nghiệp và vùng đông dân khác. Chúng mong tạo “thế mạnh” để ép ta nhân nhượng trong cuộc thương lượng ở Paris, nhưng chúng đã bị thất bại nặng cả về quân sự và chính trị, không quân chiến lược Mỹ đã bị quân và dân ta đánh trả quyết liệt, chúng đã bị thiệt hại lớn nhất về máy bay và giặc lái trong chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta.

Trong thế thua và lúng túng, trước thất bại to lớn mới, phía Mỹ đã đề nghị nối lại cuộc thương lượng. ta đã lên án hành động chiến tranh mới của Mỹ, đòi chúng phải trở lại tình hình trước

Mốc son trong cuộc đàm phán tháng 1-1973.

Ngày 15-1-1973, Chính phủ Mỹ tuyên bố chấm dứt hoàn toàn mọi hành động chiến tranh bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc.

Ngày 23-1-1973, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Kissinger ký tắt vào văn bản Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris đã được các Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa ký chính thức tại Paris.

ngày 8-12, phải từ bỏ chính sách đàm phán trên thế mạnh…Lập trường đàm phán của ta vẫn là giữ những nguyên tắc của dự thảo Hiệp định ngày 20-10, chỉ mềm dẻo trên một số điểm không trái với các nguyên tắc cơ bản của ta mà ta có thể chấp nhận được.” Căn cứ chỉ đạo của Ban Bí thư và Bộ Chính trị, trong các cuộc gặp từ ngày 8-1 đến ngày 13-1-1973, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thủy cùng các thành viên của Đoàn đã tận dụng thắng lợi to lớn, oanh liệt vừa giành được trong 12 ngày đêm cuối 1972, buộc Kissinger và phía Mỹ phải chấp nhận cơ bản những nội dung đã thỏa thuận trong dự thảo Hiệp định ngày 20-10.

Chủ trương của Đảng phối hợp giữa hoạt động quân sự giành thắng lợi trên chiến trường, tạo cơ sở cho hoạt động ngoại giao giành thắng lợi trước, trong và sau sự kiện 12 ngày đêm cuối năm 1972 đã thành công. Bằng thắng lợi quân sự to lớn trên chiến trường hai miền Nam, Bắc, đặc biệt là đánh bại cuộc tập kích bằng không quân chiến lược của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng, quân và dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phối hợp với hoạt động ngoại giao và cuộc đấu tranh không kém phần quyết liệt trên bàn đàm phán, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris, rút hết quân Mỹ về nước, tạo điều kiện vô cùng thuận lợi tiến lên đánh đổ nhào chính quyền và quân đội Sài Gòn, giành lại độc lập, thu giang sơn về một mối.

Đoạn kết có hậu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được đánh dấu bằng sự phối hợp nhịp nhàng hiệu quả và tuyệt đẹp của hai mặt trận quân sự và ngoại giao, đưa tới thắng lợi cuối cùng. Đây là sự thành công mẫu mực về nghệ thuật chỉ đạo kết thúc chiến tranh của Đảng ta.

PGS.TS.Nguyễn Mạnh Hà
Viện Lịch sử Đảng
Học viện CT-HC Quốc gia Hồ Chí Minh

daidoanket.vn

Biệt thự lưu giữ kỷ niệm về đàm phán hòa bình Việt Nam

Chúng tôi tới thăm ngôi nhà số 49, nay là số nhà 17 phố Cambacérès, Verrières-le-Buisson, ngoại ô Thủ đô Paris, Pháp.

biet thu

Góc hồ nhìn vào biệt thự Verrières-le-Buisson. (Ảnh: Lê Hà/Vietnam+)

Nay đã trở thành một Di tích lịch sử gắn liền với thời gian gần 5 năm diễn ra các cuộc đàm phán 4 bên (Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa) tiến tới việc ký kết Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam, tại Paris ngày 27/1/1973.

Vì giá trị lịch sử của nó, ngày 13 tháng 10 năm 2012, Tòa thị chính thành phố Verrières-le-Buisson phối hợp với Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp và các bạn bè Pháp đã gắn biển di tích lịch sử cho ngôi nhà.

Tấm biển mang tên: “Nơi đây, từ năm 1968 đến 1973, Đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Miền nam Việt Nam đã lưu trú để tham gia các cuộc đàm phán và ký Hiệp định Paris về Hòa bình, ngày 27/1/1973”. Ngôi nhà này do các bạn Pháp là thành viên Đảng Cộng sản Pháp khi đó giới thiệu cho phía Việt Nam thuê.

Nơi đó, cách đây 40 năm, bà Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao lúc đó (sau này là Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), làm Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam, cùng một số thành viên trong đoàn tùy tùng, từng lưu trú từ năm 1968 đến năm 1973, để tham gia các cuộc đàm phán lịch sử tiến tới ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Với sự giúp đỡ của ông bà Pierre Gueguen, khi đó còn là thành viên lực lượng an ninh, kể cho chúng tôi nghe lịch sử của ngôi nhà và giúp chúng tôi có được một cuộc du ngoạn xung quanh ngôi nhà.

Dù dưới cái lạnh giá của mùa Đông, cây cối và hoa xung quanh nhà đã rụng hết lá và trơ lại những cành khẳng khiu, nhưng cảnh quan nơi đây vẫn tạo cho ngôi nhà vẻ đẹp nên thơ vốn có của nó.

Kiến trúc của ngôi nhà dường như không hề thay đổi, chỉ có phía trước của ngôi nhà được sửa lại một chút cho phù hợp với nhu cầu người chủ mới (ông bà Pierre Bertaud) và một lớp sơn mới được quét lên bên ngoài cũng không làm nó mất đi vẻ cổ kính của nó với sự đổi thay của thời gian.

Ngôi nhà nằm trên một khu đất cao, với một khu vườn rộng bao quanh được trồng rất nhiều hoa, cây cảnh, cây ăn quả, cây cổ thụ và được điểm thêm vài bức tượng của các nhà điêu khác nổi tiếng của Pháp.

Sau nhiều cuộc hẹn gặp và được sự đồng ý của chủ nhà, ông bà Pierre Bertaud, (đang làm việc tại Paris), chúng tôi mới vào thăm được bên trong ngôi nhà đó, cùng với sự hướng dẫn ông Trịnh Ngọc Thái, Phó Chủ tịch Quỹ Hòa bình và phát triển Việt Nam, Chủ tịch Câu lạc bộ giao lưu văn hóa, kinh tế quốc tế và Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt-Pháp, khi đó là trợ lý của ông Xuân Thủy, Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa (miền Bắc Việt Nam) và ông Lê Đức Thọ là cố vấn đặc biệt.

Ông nói trở lại đây bốn mươi năm sau xa cách, ngôi biệt thự này đã gợi nhớ lại trong ông lại những kỷ niệm không thể nào quên trong suốt gần 5 năm diễn ra các cuộc đàm phán, mà theo ông là cuộc đàm phán kéo dài nhất trong lịch sử Việt Nam cũng như trên thế giới.

Ông cho biết, khi đó ông là thành viên của đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa tham dự hội nghị 2 bên với đoàn đại biểu Mỹ do ông W. Averell Harriman, nhà ngoại giao kỳ cựu của Mỹ dẫn đầu. Hội nghị diễn ra ngày 13/5 đến ngày 1/11/1968 tại phố Kléber tại Paris, bàn việc chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam nói chung, trước hết đòi phía Mỹ phải chấm dứt hoàn toàn và vô điều kiện chiến tranh ở phía Bắc Việt Nam.

Sau đó đến ngày 25/1/1969, mới diễn ra cuộc đàm phán 4 bên với sự tham gia (thêm) của đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam do ông Trần Bửu Kiếm dẫn đầu.

Đến tháng 6/1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam mới thành lập. Bà Nguyễn Thị Bình được cử làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và là Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt nam tham dự hội nghị 4 bên này tại Paris. Ngôi biệt thự trở thành ngôi nhà mang dấu ấn lịch sử của cách mạng Việt Nam – nơi bà Bình đã lưu trú và làm việc.

Ông Phạm Ngọc Thái không khỏi xúc động trước cảnh quan hầu như không đổi thay của nơi đây và cho biết cổng ô tô vào tòa nhà vẫn ở bên tay phải, hai khu nhà chính và phụ cách nhau bằng một cái sân không lớn lắm với bãi cỏ xanh mướt bao quanh…

Đi qua cửa chính vào nhà là một hành lang ngắn dẫn đến phòng khách – chính nơi bà Nguyễn Thị Bình thường tiếp ông Nguyễn Đức Thọ, ông Xuân Thủy hay các đoàn khách quốc tế, bạn bè Pháp.

Trên gác là buồng ngủ của bà Nguyễn Thị Bình và phòng làm việc vẫn được bài trí như khi xưa, chỉ có bộ bàn ghế (salon) là mới và hiện đại một chút nhưng vẫn làm cho không gian của phòng khách giữ được sự sang trọng, lịch sự và ấm áp.

Tần ngần đứng trước dãy nhà cấp bốn phía sau khi đi qua cái sân nhỏ cách với với ngôi nhà chính, ông Thái cho biết thêm đây chính là nơi làm việc và chỗ nghỉ của anh em bảo vệ, lái xe.

Phòng điện đài nằm ngay bên tay trái vẫn còn như nguyên vẹn không gian và dáng vẻ của nó (nay đã trở thành nhà kho). Nơi trước đây đã từng phát đi những tin tức quan trọng góp phần không nhỏ tạo nên chiến thắng hôm nay.

Ông Trịnh Ngọc Thái nhấn mạnh đến vị trí của ngôi nhà nằm cạnh một hồ nước không lớn lắm, được thả cá, có thiên nga bơi lội và một hàng liễu trồng xung quanh thướt tha rủ xuống soi bóng trên mặt nước – mang tên Hồ Cambacérès.

Theo ông, chính những cảnh quan này đã mang đến cho ngôi nhà vẻ đẹp và sự hài hòa khó quên. Nhất là, nơi đây mãi mãi là nơi lưu giữ những kỷ niệm không thể nào quên đối với nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc nói chung và trong cuộc đàm phán để tiến tới ký kết Hiệp định Paris nói riêng.

Ông nhấn mạnh “không gian và khung cảnh nên thơ này đã giúp cho bà Nguyễn Thị Bình, có được giờ phút thư giãn và đưa ra được nhiều ý tưởng, sáng kiến mới và những suy nghĩ mang tính thuyết phục hơn”.

Cũng tại ngôi biệt thự này, nhiều phương án đã được đưa ra được nhằm cụ thể hóa đường lối chính trị của Bộ chính trị đã đề ra.

Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Pháp, ông không quên nhắc đến những thuận lợi và khó khăn trong suốt qua trình diễn ra các cuộc đàm phán công khai cũng như bí mật, nhiều khi gần như dẫn đến bế tắc, nhất là khi cuộc đàm phán diễn ra vào đầu tháng 12/1972, là lúc đế quốc Mỹ leo thang ném bom B52 xuống miền Bắc. Nhưng với chiến thắng vang dội của quân và dân Việt Nam trước những “pháo đài bay trên không” của Mỹ đã kéo Mỹ trở lại cuộc đàm phán với Việt Nam.

Lý giải về thắng lợi tiến đến ký kết Hiệp định Paris về hòa bình ở Việt Nam, ông Trịnh Ngọc Thái trở nên sôi nổi hắn lên cho biết Việt Nam đã thành công là vì biết kết hợp đấu tranh trên nhiều mặt trận vừa đánh vừa “đàm”, có nghĩa phải kết hợp nhiều mặt trận như trên bàn hội nghị, trên chiến trường, mặt trận ngoại giao, kết hợp với phong trào chính trị ở miền Nam và vận động, tranh thủ sự ủng hộ các bạn bè quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam.

Không chỉ nhớ lại những công việc, cùng những kỷ niệm đã gắn bó ông với nơi này, khi cùng làm việc với bà Nguyễn Thị Bình – “nhà thương lượng tài ba” của Việt Nam, ông luôn nhắc đến những tình cảm và sự ủng hộ cao đẹp của các bạn bè Pháp đã dành cho đoàn Việt Nam khi đó. Thường các bạn Pháp giữ vai trò bảo vệ an ninh vòng ngoài tại các nơi ở và làm việc của đoàn Việt nam.

Nói đến chiến thắng này, ông ngậm ngùi nhớ đến những anh em, đồng chí, bạn bè ở miền Nam, miền Bắc không còn nữa, họ ra đi để lại trong lòng ông những ấn tượng và tình cảm sâu nặng, như ông Đinh Bá Thi, bà Nguyễn Thị Trơn, cô Bình Thanh – Thư ký riêng của bà Bình, anh Lê Văn Tư, anh Lý Văn Sáu,… những người cốt cán trong đoàn đại biểu Chính phủ của Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam, và trong đoàn miền Bắc như Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, Nguyễn Minh Vỹ, Phan Hiền, Nguyên Cơ Thạch, Trần Công Tường,…

Tất cả họ là những người đã có nhiều đóng góp và hy sinh cho thành công của Hội nghị Paris về lập lại hòa bình ở Việt Nam. Họ là những người có nhiều gắn bó với bà Bình trong suốt thời gian tham gia phục vụ hội nghị.

Về nhần mình, ông Pierre Bertaud, chủ nhà cho biết ông rất vinh dự được sống tại ngôi nhà có giá trị lịch sử như vậy. Trước khi mua nó, ông đã biết nơi đây bà Nguyễn Thị Bình đã ở. Bà là nhà “thương lượng tuyệt vời của Việt Nam về hòa bình”.

Ông cho biết ông cũng là con người của hòa bình và ông luôn ủng hộ điều đó. Theo ông, sự “kiên trì” của Việt Nam đã trở thành một bài học đối với ông trong quá trình “thương thuyết”./.

Theo http://www.vietnamplus.vn/
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bước ngoặt 1972: Thành công của sự chỉ đạo chiến lược

Ngay từ đầu năm 1972, Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương đã đề ra chủ trương kiên quyết đánh bại địch bằng kết hợp ba đòn chiến lược: Đẩy mạnh tiến công của bộ đội chủ lực ở những hướng và chiến trường có lợi, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng; đẩy mạnh đòn tiến công và nổi dậy ở các vùng nông thôn đồng bằng quan trọng, kết hợp tiến công quân sự, chính trị và binh vận; đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân ở thành thị. Ba đòn chiến lược này cũng chính là ‘bàn đạp” giúp chúng ta khẳng định vị trí của mình tại bàn đám phán Paris.

Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình
trả lời phỏng vấn báo chí bên lề Hội nghị Paris

Đồng loạt tấn công

Thông tri của Ban Bí thư số 287, ngày 27-11-1972 về cuộc gặp giữa ta và Mỹ ở Paris

“Cuộc đấu tranh của ta trên ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao còn quyết liệt. Nhiệm vụ của ta là phải giữ vững và mở rộng thắng lợi trong đàm phán, phải giữ vững nội dung bản Hiệp định. Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta quyết chiến đấu đánh bại mọi âm mưu và thủ đoạn mới của địch để giành thắng lợi hoàn toàn, chứ nhất định không chịu khuất phục”

Sau hơn 2 tháng (kể từ tháng 3) mở cuộc tiến công chiến lược, quân và dân ta ở Trị Thiên, miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên đã vượt qua khó khăn gian khổ, hy sinh, chiến đấu ngoan cường, giành được những thắng lợi có ý nghĩa, đánh dấu sự phát triển mới cả về thế và lực của cách mạng miền Nam, tác động mạnh mẽ đến cục diện chiến trường, làm thất bại thêm một bước nghiêm trọng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ. Mặc dù sau đó, trong trận chiến khốc liệt, bi hùng để giữ Thành cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm (từ 25-6 đến 16-9-1972) không thành công và bộ đội ta bị tổn thất nặng phải lui vào thế phòng ngự, nhưng đánh giá một cách tổng thể, cuộc chiến đấu trên mặt trận Trị Thiên và Đông Nam Bộ, Tây Nguyên đã tạo ra bước chuyển biến căn bản tình hình chiến trường có lợi cho ta. Đây chính là lợi thế quân sự trên chiến trường, hỗ trợ hiệu quả và trực tiếp cho cuộc đấu tranh của ta trên bàn đàm phán ở Paris.

Trả lời nhận xét của Kissinger – Cố vấn của phái đoàn Mỹ sau khi kết thúc trận chiến ác liệt ở Quảng Trị, khi Kissinger cho rằng đứng về mặt quân sự mà nói, để giữ một cái Thành cổ, thì không ai lại đánh như thế cả – Cố vấn đặc biệt của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) tại Hội nghị Paris Lê Đức Thọ cho rằng “Đó là vấn đề chính trị, đánh để giành thế mạnh chính trị trong đàm phán thôi chứ còn đứng về quân sự thì không một ai vì một mảnh đất nhỏ đổ nát mà đánh như thế”.

Mặt khác, do quân và dân ta đánh mạnh ở các chiến trường miền Nam nên để hỗ trợ chính quyền và quân đội Sài Gòn, cứu vãn chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” đang có nguy cơ phá sản, Tổng thống Mỹ Nixon đã quyết định “Mỹ hóa” trở lại cuộc chiến tranh, huy động một lực lượng lớn không quân và hải quân ngăn chặn cuộc tiến công của ta đồng thời đánh phá trở lại miền Bắc. Trong bối cảnh ấy, phía Mỹ tiến hành chuyến thăm hai nước lớn trong phe XHCN là Trung Quốc (2-1972) và Liên Xô (5-1972) nhằm gây chia rẽ, cô lập, ngăn chặn, hạn chế sự chi viện to lớn của hai nước này đối với chúng ta.

Những chỉ đạo chiến lược

Năm 1972 là năm nhạy cảm trong nền chính trị Mỹ vì diễn ra cuộc bầu cử Tổng thống và Nixon có ý định tái tranh cử nhiệm kỳ hai. Việc giải quyết cuộc chiến tranh Việt Nam là liều thuốc thử, là thước đo sự tín nhiệm của người Mỹ đối với chiếc ghế của Nixon. Vì thế, đây là điều kiện thuận lợi để ta mở cuộc tiến công về ngoại giao, phối hợp với tiến công quân sự, nhằm đạt tới kết quả có lợi nhất. Trong tình hình ấy, đầu tháng 9, trong lúc chiến sự đang diễn ra ác liệt ở Quảng Trị, Đảng ta chủ trương trên bàn đàm phán: Đưa Mỹ đi dần vào thương lượng thật sự căn cứ vào bối cảnh tình hình quốc tế lúc đó, thế của ta và thế của địch, tình hình Mỹ trong năm bầu cử, cơ hội giải quyết hòa bình đã hé mở. Cần đẩy mạnh đấu tranh trên cả ba mặt trận: quân sự, chính trị, ngoại giao; tranh thủ giải quyết các nội dung đàm phán với Nixon trước ngày bầu cử ở Mỹ, đồng thời tích cực đề phòng khả năng tiếp tục chiến đấu sau kỳ bầu cử Tổng thống ở Mỹ.

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị, Bộ Ngoại giao đã soạn dự thảo Hiệp định và một số nghị định thư kèm theo. Ngày 4-10, Bộ Chính trị điện thông báo cho Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ VNDCCH Xuân Thủy chủ trương: Cần tranh thủ khả năng chấm dứt chiến tranh trước ngày bầu cử ở Mỹ, đánh bại âm mưu của Nixon kéo dài đàm phán để vượt qua tuyển cử… Ta cần ép Mỹ ký một hiệp định chính thức, có ngừng bắn tại chỗ, rút quân Mỹ và thả tù binh. Việc chấm dứt sự dính líu về quân sự của Mỹ ở miền Nam và ngừng bắn ở miền Nam đưa đến việc thừa nhận trên thực tế hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng ở miền Nam…là một thắng lợi có ý nghĩa quan trọng đối với cả hai miền trong điều kiện so sánh lực lượng hiện nay…ta cần gác lại một số yêu cầu khác của vấn đề nội bộ miền Nam.

Ngày 8-10, bản dự thảo Hiệp định được Đoàn đàm phán của ta đưa ra trong cuộc gặp riêng với phía Mỹ, với những nhân nhượng có tính đột phá. Sau khi nắm được các nội dung chủ yếu và hỏi rõ thêm những vấn đề sẽ tiếp tục thỏa thuận sau khi ký Hiệp định, Henri Kissinger đánh giá đây là “một văn kiện thật là quan trọng và rất cơ bản”. Hai bên đã thỏa thuận lịch làm việc chi tiết cho việc ký Hiệp định dự kiến vào 30 hoặc 31-10.

Sự lật lọng có chủ đích của Mỹ

Mặc dù Việt Nam đã có những nhân nhượng cơ bản, song phía Mỹ đã có mưu đồ mới, bắt đầu đưa ra những đòi hỏi, những yêu cầu mới, cụ thể có lợi cho Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Sở dĩ Mỹ có hành động như vậy vì qua thăm dò dư luận trước bầu cử, Nixon được cử tri Mỹ ủng hộ nhiều hơn ứng cử viên Tổng thống của Đảng Dân chủ Mark Gaven, chắc chắn sẽ vượt qua tuyển cử. Bên cạnh đó, sự phản ứng quyết liệt của chính quyền Sài Gòn về nội dung dự thảo Hiệp định đã làm Nixon lo ngại sẽ khó vượt qua cuộc bầu cử nếu không lưu tâm đến thái độ của Nguyễn Văn Thiệu và bỏ rơi chế độ Việt Nam Cộng hòa.

Sự tráo trở của Mỹ là điều ta hoàn toàn không bất ngờ. Ngày 23-10, Chính phủ ta gửi công hàm cho Mỹ: “Nếu phía Hoa Kỳ cứ viện cớ này, cớ khác để kéo dài đàm phán, trì hoãn việc ký kết thì nhất định chiến tranh Việt Nam sẽ tiếp tục và phía Hoa Kỳ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm”. Tiếp đó, ngày 26-10, Chính phủ ta ra tuyên bố về tình hình cuộc đàm phán về vấn đề Việt Nam hiện nay, yêu cầu Mỹ phải giữ đúng cam kết ký bản Hiệp định vào ngày 31-10 như đã thỏa thuận. Ngay sau khi Nixon đắc cử Tổng thống nhiệm kỳ 2. Mỹ đề nghị họp lại vào ngày 20-11 và đưa ra 69 điểm trong nội dung Hiệp định đề nghị sửa đổi theo yêu cầu của chính quyền Sài Gòn và 16 vấn đề về thực chất nội dung Hiệp định mà Kissinger yêu cầu xem xét lại, mâu thuẫn hoàn toàn với công hàm của Nixon gửi Chính phủ ta ngày 20-10: “Hiệp định bây giờ có thể coi là hoàn thành”.

Đáp lại thái độ lật lọng và đe dọa ném bom của Tổng thống Mỹ được thể hiện rõ trong cuộc gặp ngày 23-11, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đã đanh thép trình bày quan điểm của Việt Nam và quan điểm ấy sau đó cũng đã được thể hiện rõ trong Thông tri của Ban Bí thư số 287, ngày 27-11về cuộc gặp giữa ta và Mỹ ở Paris. Chính vì thái độ kẻ cả của Mỹ mà cuộc đàm phán đã trở nên bế tắc vào ngày 13-12 ngay trước cuộc tập kích B52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng.

Đàm phán Paris cuối 1972 – quan điểm từ hai phía”

Tôi thấy bực mình về giọng nói và thực chất trong phiên họp vừa qua. Trong hoàn cảnh như vậy, trừ phi phía bên kia tỏ ra sẵn sàng chú ý tới sự quan tâm hợp lý của chúng ta, tôi chỉ thị cho ông ngừng đàm phán và chúng ta sẽ phải tiếp tục lại các hoạt động quân sự cho đến khi phía bên kia sẵn sàng đàm phán theo điều kiện có danh dự. Phải làm cho phía bên kia từ bỏ những ý nghĩ của họ là chúng ta không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải giải quyết theo như điều kiện hiện nay. Ông phải trực tiếp báo cho họ là chúng ta có cách khác…chúng ta bây giờ sẽ tiến hành mọi hành động cần thiết để bảo vệ lợi ích của Hoa Kỳ”

(Trích thư của Nixon gửi Kissinger được Kissinger đọc công khai trong cuộc gặp của hai đoàn Lê Đức Thọ-Kissinger ngày 23-11-1972)

“Chúng tôi muốn hòa bình, nhưng thiện chí của chúng tôi cũng có mức độ. Nhân nhượng quá mức chỉ là đầu hàng trá hình. Nhân dân chúng tôi không bao giờ đầu hàng”

(Trả lời của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ ngay tại cuộc gặp ngày 23-11-1972)

PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà
Viện Lịch sử Đảng
Học viện CT – HC Quốc gia Hồ Chí Minh

daidoanket.vn

Kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris (27-1-1973 – 27-1-2013)

LTS: Ngày 27-1-2013, chúng ta kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris mở đường cho việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình trên toàn cõi Việt Nam. Trong cuộc kháng chiến trường kỳ ấy, có nhiều mốc son; một trong những mốc son đáng được ngợi ca chính là cuộc đối đầu giữa hai nền ngoại giao: Một của Mỹ với dầy dạn kinh nghiệm và một là của Việt Nam còn rất non trẻ. Thế nhưng, cuộc đàm phán kéo dài nhất trong lịch sử ngoại giao Mỹ và Việt Nam trong thế kỷ XX lại ghi danh người chiến thắng là Việt Nam. Từ số báo này, chúng tôi khởi đăng loạt bài viết nhân 40 năm Hiệp định Paris.

Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta ở miền Nam Xuân Mậu Thân 1968, Tổng thống Mỹ L. Johnson buộc phải xuống thang cuộc chiến tranh phá hoại bằng hải quân và không quân ở Miền Bắc và đề nghị tiến hành đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH). “Ngày mồng 2 Tết Mậu Thân sau một hôm nghỉ lễ, vừa tới cơ quan, mấy anh em chúng tôi được Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh triệu tập và cho biết: Các cậu phải chuẩn bị tính chuyện đàm phán đi!” – ông Nguyễn Khắc Huỳnh, thành viên của đoàn đàm phán VNDCCH nhớ lại.

Toàn cảnh Hội nghị Paris

Lập các tổ công tác, chuẩn bị đàm phán

Thực ra, trước đó, ngay từ cuối năm 1967, đón trước cục diện này, tại Bộ Ngoại giao ta có một tổ chức mới được thành lập gọi là Vụ II. Vụ này chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị Đảng ta lúc bấy giờ. Vụ II do Thứ trưởng Nguyễn Cơ Thạch chuyên trách, ông Phan Hiền làm Vụ trưởng. Đây là một đơn vị đặc biệt có nhiệm vụ nghiên cứu đưa ra lộ trình đấu tranh ngoại giao với Mỹ và chuẩn bị các giải pháp chính trị để kết thúc cuộc chiến tranh. Trong Vụ II có hai tổ công tác là tổ “Giải pháp” và tổ “Bước đi”. Tổ “Giải pháp” do ông Đinh Nho Liêm làm Tổ trưởng chuẩn bị các kịch bản từ cao đến thấp có thể sử dụng vào thời điểm ký kết Hiệp định tùy sự so sánh lực lượng lúc ấy. Còn tổ “Bước đi” do ông Võ Văn Sung làm Tổ trưởng. Tổ này chịu trách nhiệm nghiên cứu lộ trình kết hợp đàm phán ngoại giao với các bước đấu tranh quân sự trên chiến trường trong những năm 1968 – 1970. Tổ “Bước đi” là đầu mối tập trung nhiều điều cơ mật từ chiến lược đến cụ thể, cả về quân sự, chính trị và ngoại giao, vì vậy chúng tôi làm việc theo một quy chế giữ bí mật nghiêm ngặt nhất, nhằm đảm bảo tính chất bất ngờ và hiệu quả cao trong các đợt “Tấn công ngoại giao” của ta.” – ông Võ Văn Sung kể lại những ngày tháng ấy.

Lại nói về những ngày Tết Mậu Thân năm ấy, ông Huỳnh cho biết, ngay trong ngày 31-3-1968, sau khi Mỹ tuyên bố đơn phương ngừng ném bom, Bộ Chính trị Đảng ta họp để bàn, cân nhắc giữa 3 vấn đề. Nhận, không nhận, nhận thế nào? Sau đó, Bộ Chính trị quyết định không bác, không nhận nhưng nhận mức trung bình tức là nhận tiếp xúc. Cụ thể, nhân dịp Mỹ hạn chế ném bom miền Bắc ta nhận cử đại diện tiếp xúc với phía Mỹ để bàn chuyện xác nhận việc Mỹ hạn chế ném bom miền Bắc. Mấy ngày sau đó, nhóm công tác gồm các ông Phan Hiền, Trần Hoàn, Nguyễn Khắc Huỳnh đã thảo luận suốt 1 ngày 1 đêm để có bài trả lời hay nói cách khác là Tuyên bố của VNDCCH. Tuyên bố nói rõ, dù Mỹ chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của Việt Nam nhưng vì thiện chí hòa bình, Việt Nam sẵn sàng cử đại diện tiếp xúc với phía Mỹ. “Tiếp xúc để xác định việc Mỹ hoàn toàn chấm dứt ném bom miền Bắc trên cơ sở đó bàn các vấn đề liên quan. Chỉ riêng chữ “xác định” chúng tôi cũng mất đứt 3 tiếng để bàn cuối cùng thì tìm ra chữ này. Tức là anh phải chấm dứt ném bom miền Bắc tôi mới bàn chuyện khác lúc đó mới đi vào đàm phán thực sự.” – ông Huỳnh nói.

Bộ trưởng Xuân Thủy phát biểu tại một cuộc họp báo
ở Paris trong thời gian đàm phán

Hai giai đoạn của đàm phán

Đàm phán Paris diễn ra trong 4 năm 8 tháng 16 ngày; đã có tổng cộng 202 phiên họp công khai tại Trung tâm Hội nghị Kleber và 36 phiên họp riêng cấp cao tại nhiều địa điểm khác nhau ở Paris. Trong đó, giai đoạn thứ nhất (còn gọi là diễn đàn thứ nhất) là giữa h ai bên Việt Nam – Hoa Kỳ. Bộ trưởng Xuân Thủy dẫn đầu đoàn VNDCCH và Cố vấn đặc biệt là UV BCT Lê Đức Thọ. Đại sứ Harriman dẫn đầu đoàn Hoa Kỳ. Giai đoạn đầu kéo dài suốt năm 1968 (từ 13-5 đến tháng 10-1968) với 28 phiên họp công khai và 12 cuộc gặp riêng. Tại diễn đàn này, hai bên bàn việc Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc. Giai đoạn hai kéo dài hơn 3 năm (25-1-1969 đến 27-1-1973). Đây là giai đoạn giằng co với 174 phiên công khai và 24 phiên họp bí mật; là diễn đàn 4 bên gồm VNDCCH, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, sau là Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; còn bên kia là Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

Từ cuối năm 1970 đến năm 1973, ông Võ Văn Sung được điều động sang Paris. Cũng từ năm 1971, Vụ II đổi tên thành CP50. Công khai về mặt ngoại giao, ông Võ Văn Sung là Tổng Đại diện Chính phủ VNDCCH tại Pháp, nhưng nhiệm vụ chính là tham gia vào nhóm do Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ lãnh đạo đàm phán bí mật với đối tác phía Mỹ là ông Henri Kissinger. Ông Lê Đức Thọ là đại diện toàn quyền của lãnh đạo Việt Nam đối với tất cả các cơ quan và các phái đoàn chính thức, các tổ chức thuộc lực lượng kháng chiến hai miền Nam – Bắc Việt Nam tham gia đấu tranh ngoại giao tại Paris. Từ đầu năm 1971 đến cuối Hè năm 1972, nhóm “đàm phán bí mật” do ông Lê Đức Thọ lãnh đạo gồm có ông Xuân Thuỷ – Trưởng đoàn đàm phán VNDCCH tại Hội nghị bốn bên; các ông Phan Hiền và Võ Văn Sung được giao trách nhiệm theo sát nắm bắt tình hình trong quá trình thảo luận; ngoài ra có ông Nguyễn Đình Phương là phiên dịch cả tiếng Anh và tiếng Pháp. Cuối năm 1972 có thêm một số nhân sự của CP50 từ Hà Nội sang tham gia vào công việc dự thảo văn bản Hiệp định.

Ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris về Chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết. Có thể nói đây là một mốc son chói lọi nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam, đánh dấu bước ngoặt quan trọng của cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước; tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975. Về mặt ngoại giao, Hiệp định Paris đã kết thúc thắng lợi cuộc thương lượng kéo dài giữa Việt Nam và Hoa Kỳ sau gần 5 năm Hội nghị bốn bên công khai và sau hơn hai năm (1971 – 1973) tiến hành thảo luận thực chất trong cuộc “đàm phán bí mật” giữa đoàn Lê Đức Thọ và đoàn Henri Kissinger. Đây thực sự là việc chưa từng có trong lịch sử thế giới mà ta gọi là “vừa đánh, vừa đàm”. Kết quả cuộc thương lượng đã đáp ứng mong đợi của mọi người; nó làm cho toàn thế giới trút được gánh nặng tinh thần và tâm lý đè trĩu hàng chục năm.

P.V

(Ghi theo lời kể của các ông Võ Văn Sung
và Nguyễn Khắc Huỳnh -Thành viên đoàn
đàm phán VNDCCH)

daidoanket.vn

Gặp người lái xe cho Đoàn đàm phán Hiệp định Paris

(VOV) – 40 năm đã qua đi, nhưng câu chuyện như mới ngày hôm qua trong ký ức ông Michel Strachinescu.

“Tôi vẫn nhớ mãi những người đồng chí Việt Nam, nhớ mãi những chặng đường tôi đã cùng họ đi qua trong những năm tháng gắn bó với đoàn” – 40 năm đã qua đi, nhưng câu chuyện như mới ngày hôm qua trong ký ức ông Michel Strachinescu, người lái xe từng đưa đón đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trên những nẻo đường hoạt động và đấu tranh tại Pháp. Phóng viên VOV thường trú tại Pháp đã đến thăm và trò chuyện với ông Michel, một trong những người có vinh dự được Chính phủ Việt nam mời sang tham dự các hoạt động kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris.

“Chào đồng chí, đồng chí khỏe không? – hàng ngày chúng tôi đều nói với nhau như thế. Dù nhiều khi phải chờ đoàn và đưa đoàn về nhà vào 3h sáng, nhưng cảm giác vẫn thực sự tuyệt vời. Các nhân viên an ninh ở nhà vẫn ngóng đợi, rồi chúng tôi cùng nằm dài trên ghế trong phòng bếp, rủ nhau ăn gì đó vào lúc 3h sáng cho đỡ đói sau một ngày đi làm”.

Ông Michel Strachinescu

Không cần một câu hỏi nào, với giọng sang sảng và nụ cười luôn rạng rỡ, ông Michel Strachinescu bắt đầu luôn câu chuyện về đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, như thể chỉ mong có người để ông kể lại câu chuyện hơn 40 năm về trước.

Ông kể: Tôi đến với đoàn hoàn toàn tình cờ. Tôi lúc đó là thành viên Đảng Cộng sản, nhưng không phải làm nghề lái xe. Thế rồi Đảng Cộng sản Pháp cần có lái xe cho đoàn bà Nguyễn Thị Bình và đề nghị tôi làm. Tôi biết đó là một nhiệm vụ và trách nhiệm không nhỏ, nếu không nói là một vị trí quan trọng. Và tôi đã đồng ý và làm việc đó trong 4 năm. Ngoài ra, một nhiệm vụ khác của tôi là đem thư từ Verriere-le-Buisson đi gửi, vì thư từ lúc đó của đoàn lo ngại bị bưu điện kiểm duyệt nên chúng tôi trực tiếp mang đi, thường là mang vào bỏ vào thùng thư ở quận 16”.

Ông Michel Strachinescu là một trong 4 người từng đảm nhận nhiệm vụ lái xe cho đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt nam. Riêng ông thường xuyên lái xe cho bà Nguyễn Thị Bình, ông Lý Văn Sáu, ông Vương Đình Thảo và bà Nguyễn Thị Chơn.

Hành trình quen thuộc là từ căn nhà bà Nguyễn Thị Bình ở tại Verrière-le-Buisson đi tới khu chung cư mà các thành viên khác trong đoàn miền Nam sống ở Massy, rồi xuống Choisy-le-Roi họp với đoàn miền Bắc; hay ra Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber để đấu tranh trên bàn đàm phán chung 4 bên.

Hơn 4 năm ròng rã những chặng đường dẫu quen thuộc mà không phải lúc nào cũng bằng phẳng. Có những khi có cả hiểm nguy rình rập khi xe của đoàn gặp một nhóm người có tư tưởng chống đối Việt Nam. Hay có lúc tưởng đơn giản chỉ là chuyện xe đang chạy thì bị rơi mất lá cờ nhỏ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt nam treo ở đầu xe.

Ông Michel kể: “Hôm đó xe đang đi trên đường cao tốc, tôi nhớ tôi chở ông Lý Văn Sáu và một số thành viên trong đoàn, thì bất ngờ chiếc đế cắm cờ bằng nhôm bị gẫy, lá cờ nhỏ bay xuống đường. Một cách rất tự nhiên, tôi nghĩ rằng không thể nào để lại lá cờ mà phải nhặt lại bằng được. Tôi làm dấu hiệu khẩn cấp, dừng xe lại và bước xuống, len vào giữa dòng xe đang ầm ầm lao đến và nhặt vội lá cờ lúc đó bay ra xa khoảng 200m. Nhiều lái xe, có cả lái xe mô-tô đã hét lên tưởng tôi bị điên mà lao vào dòng xe khi ấy, về nhà kể lại cũng nhiều người bảo là nguy hiểm quá. Nhưng tôi vẫn nghĩ rằng nhất định không bao giờ tôi để lá cờ bị mất”.

Dù các thông tin về đàm phán được giữ kín, song những người bạn Pháp gắn bó với đoàn hàng ngày như ông Michel vẫn nhận được những chia sẻ tình cảm từ các thành viên trong đoàn đàm phán. Như ông nói “tôi đã trải qua vui, buồn cùng với các bạn, như một người Việt Nam thực sự”.

“Hai cuộc đấu tranh song hành, một trên chiến trường tại Việt Nam và một trên bàn đàm phán ở Pháp. Có những lúc buồn lắm, vì Mỹ ném bom giết hại bao nhiêu người Việt Nam. Tôi vẫn nhớ mãi một câu ông Lý Văn Sáu (tôi biết giờ ông đã mất rồi), ông Lý Văn Sau đã nói rằng: Bọn Mỹ có thể phá đất nước Việt Nam mười hay một trăm lần, nhưng rồi chúng tôi sẽ xây dựng lại gấp hai nghìn lần, tươi đẹp và phát triển hơn” – ông nói.

Riêng đối với bản thân và gia đình, ông Michel cũng từng phải vượt qua nhiều khó khăn, khó khăn những khi thời tiết giá lạnh, người lái xe phải ngồi ngoài trông xe chờ đoàn đàm phán, nhiều khi đến 2-3h sáng.

Tờ chứng nhận của chính quyền lâm thời miền Nam Việt Nam ông treo trân trọng giữa phòng khách

Đàm phán không tiến triển, mọi người trong đoàn cũng mệt và buồn bã. Hay khó khăn khi ông thường xuyên phải trở về nhà khuya, có khi lại đi ra khỏi nhà vào lúc sáng sớm hôm sau, vợ ông phải một tay quán xuyến việc nhà, chăm sóc 5 đứa con nhỏ.

Nhưng vượt trên tất cả, vợ chồng ông luôn cảm thấy vinh dự và tự hào khi số phận đã trao cho ông nhiệm vụ quan trọng, là một phần trong cuộc đấu tranh giành hòa bình cho Việt Nam.

Vợ ông, bà Jacquelines Strachinescu cho biết: “Lúc đó tôi không thấy quá khó khăn, có lẽ chính vì các con của chúng tôi còn rất nhỏ, chúng nó không để ý nhiều đến việc bố hay đi làm từ sáng sớm và trở về rất muộn. Tôi biết công việc của chồng tôi rất cần thiết và tôi không thấy có vấn đề gì quá lớn. Chồng tôi có nhiều kỷ niệm đẹp với đoàn và thường xuyên chia sẻ với tôi, tôi biết rằng chồng tôi thực sự hạnh phúc khi gắn bó với đoàn đàm phán của Việt Nam”.

Nhắc lại cảm xúc vào ngày Hiệp định Paris được ký kết, ông Michel xúc động nói: “Ngày 27/1 là một ngày chúng tôi tràn ngập cảm xúc như những người đồng chí Việt Nam. Việt Nam- một đất nước nhỏ bé đã buộc đế quốc lớn nhất là Mỹ phải quỳ gối khuất phục. Bác Hồ, đối với tôi, Người là ánh sáng cho nhân dân trên toàn thế giới. Tôi nhớ khoảng khắc 40 năm về trước, chúng tôi đã reo hò và cùng ăn mừng thắng lợi với các bạn. Nhưng cũng chính lúc đó, ai cũng biết rằng cuộc đấu tranh sẽ còn chưa chấm dứt. Và thực tế là sau đó còn một giai đoạn đấu tranh tiếp tục gian khổ”.

Chia tay người bạn Pháp từng gắn bó và đóng góp vào cuộc đấu tranh lịch sử của dân tộc Việt Nam, nhìn lại tờ chứng nhận của chính quyền lâm thời miền Nam Việt Nam mà ông treo trân trọng giữa phòng khách, tôi – một người Việt Nam cũng cảm thấy vô cùng tự hào.

Hơn 40 năm về trước và cho đến ngày nay, cuộc đấu tranh chính nghĩa của chúng ta đã có sự ủng hộ rộng rãi. Ngoài ông Michel, có hàng trăm con người, người còn, người mất trên khắp nước Pháp từng ủng hộ, giúp đỡ và thậm chí đánh cược tính mạng, để sát cánh bên các “đồng chí” Việt Nam./.

Thùy Vân- Đào Dũng/VOV-Paris
vov.vn

Đại biểu quốc tế dự kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris

Ngôi nhà diễn ra đàm phán ký Hiệp định Paris tại Pháp. Ảnh minh họa. (Ảnh: Lê Hà-Nguyễn Tuyên/Vietnam+)

Ngày 17/1, Tổng thư ký Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam Nguyễn Thị Hoàng Vân cho biết khoảng 50 đại biểu quốc tế sẽ tham dự các hoạt động kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973-27/1/2013).

Theo chương trình, bên cạnh hoạt động tham dự Lễ míttinh cấp Nhà nước, các đại biểu quốc tế sẽ trồng cây tại Công viên Hòa Bình (Hà Nội); tiếp kiến Lãnh đạo Đảng, Nhà nước; tham gia giao lưu “Hiệp định Paris và tấm lòng bè bạn”.

Tại thành phố Hồ Chí Minh, các đại biểu sẽ tham dự hội thảo bàn tròn “Gặp gỡ các nhân chứng lịch sử”; thăm Bảo tàng chứng tích chiến tranh và thăm nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam…

Trong số 50 đại biểu có khoảng 30 đại biểu đến từ 14 quốc gia và một số tổ chức quốc tế, là những người đã có sự đóng góp trực tiếp, gián tiếp vào thành công của Hiệp định Paris, tham gia tích cực các phong trào đoàn kết quốc tế ủng hộ Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất đất nước.

Đó là những đại biểu đã lên tiếng phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và có nhiều hoạt động đoàn kết ủng hộ Việt Nam; là thành viên Nhóm du kích tham gia vụ bắt giữ sĩ quan Mỹ Michael Smolen để đánh đổi chiến sĩ biệt động Nguyễn Văn Trỗi; hay là người đã từng tổ chức nhiều hoạt động trong phong trào thanh niên sinh viên Ấn Độ phản đối chiến tranh ở Việt Nam.

Đó còn là những kiều bào tại Pháp đã tham gia và đóng góp tích cực trong thời gian đàm phán và ký kết Hiệp định Paris; là nhà hoạt động xã hội đã từng tham gia các hoạt động chống chiến tranh ở Việt Nam, đang tích cực ủng hộ nạn nhân chất độc da cam Việt Nam./.

Hoàng Thị Hoa (TTXVN)
vietnamplus.vn

Những bức ảnh hiếm về Hà Nội 1973

Những bức ảnh đẹp về quá trình xây dựng lại miền Bắc Việt Nam sau khi hiệp định Paris được ký kết được nhiếp ảnh gia Werner Schulze ghi lại chân thực.

(ĐVO) Hầu hết các bức ảnh đều được nhiếp ảnh gia Werner Schulze chụp vào tháng 3/1973 tại thành phố Hà Nội sau khi hiệp định Paris được ký kết, chấm dứt trên danh nghĩa, sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Việt Nam.

Trong khoảng thời gian này, người dân Việt Nam bắt đầu bắt tay vào công cuộc xây dựng lại đất nước sau những đợt ném bom rải thảm của quân đội Mỹ bằng pháo đài bay B52.

Dưới đây là những hình ảnh lịch sử quý giá, được trang mạng Pro.Corbis sưu tầm:

Bức ảnh chụp hố bom trên phố Khâm Thiên tháng 3/1973. Cuối năm 1972, Mỹ thực hiện khoảng 2.000 vụ ném bom vào Hà Nội nhằm tạo áp lực cho Việt Nam trên bàn đám phán Paris.

Trẻ em chơi đùa ở những hố bom trên phố Khâm Thiêm.

Người đàn ông này đang đặt những viên gạch đầu tiên để xây dựng lại ngôi nhà của mình trên phố Khâm Thiêm sau khi con phố này bị bom Mỹ phá hủy nặng nề. Ảnh được chụp tháng 3/1973.

Trẻ em Việt Nam trước một căn nhà mới ở trên phố Khâm Thiêm.

Cờ đỏ sao vàng treo trên 1 căn nhà bị tàn phá vì chiến tranh ở Hà Nội tháng 3/1973.

Đường phố Hà Nội thời bấy giờ với phương tiện giao thông phần lớn là xe đạp. Chiếc xe máy hiếm hoi đến từ Cộng hòa Dân chủ Đức.Một người công nhân chỉ đạo công trình bằng còi và dùng tay ra dấu ở công trường xây dựng lại cầu Long Biên

Công trường xây dựng lại cầu Long Biên.

Hai nữ công nhân vận chuyển ngói lên xe tải ở 1 nhà máy sản xuất ngói.

Trẻ em chơi đùa tại một vườn trẻ gần Hà Nội. Ảnh được chụp tháng 3/1973.

Học sinh Việt Nam đeo khăn quàng đỏ.

Ảnh chụp người dân vận chuyển hoa tại làng hoa Nghi Tàm.

Người dân Việt Nam quây quần bên gia đình ở làng hoa Nghi Tàm.

Bộ đội Việt Nam trong lễ trao trả tù binh chiến tranh.

Có 116 tù binh Mỹ bao gồm phi công và binh sĩ các binh chủng khác nhau được Việt Nam trao trả cho phía Mỹ sau khi hiệp định Paris được ký kết. Ảnh chụp vào tháng 3/1973.

Thanh An
baodatviet.vn

Lại kể chuyện giặc lái B-52

QĐND – Đến thăm nhà báo Lê Kim vào một ngày cuối tháng 12, tôi được nghe câu chuyện về những giặc lái B-52 đã nổi tiếng từ 40 năm về trước của ông. Câu chuyện bắt đầu khi ông còn công tác tại tổ quốc tế, phòng Thời sự, Báo Quân đội nhân dân. Dù là một nhà báo công tác lâu năm trong nghề, lại cũng từng tham gia hầu hết các chiến dịch lớn và ác liệt, trải qua những thăng trầm lịch sử, nhưng đối với nhà báo Lê Kim, câu chuyện về những viên phi công B-52 Mỹ ở Nhà tù Hỏa Lò vẫn có một dấu ấn đặc biệt khó quên trong suốt cả cuộc đời ông. “Cho đến giờ mà tôi vẫn còn nhớ như in cái ngày đầu tiên tôi bước chân vào “thăm” những “vị khách” tại Hỏa Lò.

Nhà báo Lê Kim (ngoài cùng, bên phải) trong buổi gặp gỡ tại Báo Quân đội nhân dân ngày 23-12 vừa qua.

Sau khi nghe giới thiệu sơ qua về thành phần “khách” trong trại, ông được đưa cho danh sách ghi tên những lính Mỹ vừa bị đưa vào đây. Lướt qua cuốn sổ với những cột dài dằng dặc họ tên, số lính, chức vụ…, ông đã để ý đến một cái tên rất “đặc biệt”: Ri-sớt Giôn-xơn, bị bắn rơi và bắt sống đêm 18-12-1972. Và câu chuyện về giặc lái B-52 của nhà báo Lê Kim bắt đầu như thế đó.

Ri-sớt Giôn-xơn là một viên sĩ quan Mỹ cao gần 2m, mặt to, tai dài, mắt sắc, tóc thưa màu nâu đen điểm những sợi bạc, khoảng chừng 40 tuổi là thiếu tá thuộc Bộ chỉ huy không quân chiến lược Mỹ, số lính 561-54-4696. Hắn giữ chức vụ hoa tiêu ra-đa trên chiếc máy bay ném bom B-52 thuộc đơn vị ném bom số 72, liên đội máy bay ném bom chiến lược số 6 đóng tại căn cứ không quân chiến lược Andersen trên đảo Gu-am. Sau cái đêm 18-12-1972 bị bắt ở Vĩnh Phú cho đến ngày gặp nhà báo Lê Kim, Ri-sớt đã ngồi gần 1 tháng trong trại giam Hỏa Lò. Thời gian không dài nhưng đủ để Ri-sớt thấy được thái độ đối xử độ lượng của các đồng chí trong trại và từ đó bước đầu hiểu chính sách khoan hồng nhân đạo của Chính phủ ta. Có lẽ cũng vì vậy, sau vài phút đầu còn thiếu tự nhiên, dần dà hắn đã cởi mở, không e dè mà kể về những bước thăng trầm trong chuyến bay định mệnh đêm 17-12-1972 của hắn.

Đêm đầu tiên trong “chiến dịch tập kích dữ dội bằng không quân chiến lược” do đích thân Tổng thống Mỹ kiêm Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Mỹ Ri-sớt Ních-xơn ra lệnh, chiếc B-52G của Ri-sớt và đồng bọn bay vào vùng trời miền Bắc nước ta. Theo Ri-sớt thú nhận, chức vụ hoa tiêu ra-đa của hắn không khác gì hơn là cái nghề bấm nút, trút bom rải thảm xuống những mục tiêu đã được cấp trên ghi sẵn bằng những dấu hiệu hình tam giác trên tấm bản đồ bay, căn cứ vào tọa độ đã được biết trước và sau khi đã tính toán cho khớp với đường bay, tốc độ bay và vị trí của chiếc máy bay ném bom chiến lược đang bay tới mục tiêu. Nhưng khi chiếc “pháo đài bay” B-52G chở Ri-sớt và đồng bọn lặc lè vác gần 100 quả bom loại gần 230kg, ký hiệu 117 chưa bay tới mục tiêu và cũng chưa kịp trút bom thì nó đã bị bắn rơi vì lưới lửa phòng không hiệu nghiệm của miền Bắc Việt Nam.

Nói về cảm tưởng của mình trước khi xuất phát, Ri-sớt chốt một câu là: Sợ. Hắn giải thích, sợ là lẽ dĩ nhiên bởi hắn đã từng hoạt động khá lâu năm ở khu vực Đông Nam Á nên cũng đã từng nhiều lần được nghe những thằng bạn chết hụt trở về, lắc đầu, thè lưỡi bàn tán xôn xao về cái “lưới lửa phòng không dày đặc và hiện đại ở vùng châu thổ sông Hồng”. Do vậy, cái nỗi phấp phỏng lo sợ của hắn là hợp lý.

Đối với những lính Mỹ đang ngồi trong trại như Ri-sớt Giôn-xơn hay Uy-li-am Oan-tơ Con-li, gọi tắt là Bin, sĩ quan điện tử trên chiếc B-52 bị bắn rơi ngày 22-12-1972, thì việc tin vào sức bảo vệ của B-52 có lẽ chỉ là quá khứ. Uy-li-am cho biết, trước kia, hắn cũng tin là những thiết bị điện tử có thể bảo vệ được cho chiếc B-52 chống lại sự tiến công của đối phương. Nhưng khi có chiếc B-52 đầu tiên bị bắn rơi trên vùng trời Việt Nam thì hắn không thể nào tin B-52 thuộc loại bất khả xâm phạm được nữa.

Ngoài Ri-sớt Giôn-xơn, Uy-li-am Oan-tơ Con-li, nhà báo Lê Kim cũng đã tiếp xúc và thu thập tin tức từ rất nhiều “vị khách” khác nữa. Phần lớn trong số lính Mỹ “nằm” ở Hin-tơn Hà Nội đều không tin những thứ đồ “trang thiết bị hiện đại” mà quân đội Mỹ cấp có thể bảo vệ tính mạng. Thế nên, các trang bị lủng củng, lỉnh kỉnh, lắm thứ nhiều loại của các phi công Mỹ như lá cờ xin ăn và cuốn cẩm nang “Tự cứu mình” đều được coi như “của nợ”. Viên trung úy Pôn Lu-i Gren-giơ mỉa mai nhận xét: “Có khi chết lây vì những thứ của nợ này cũng nên”. Và anh ta chốt một câu rằng: “Cách tự cứu mình tốt nhất là… ra hàng đối phương”.

Đối với một nhà báo như Lê Kim, việc tiếp xúc và trò chuyện khai thác thông tin từ những lính Mỹ bị bắt tại Nhà tù Hỏa Lò thật sự là một trải nghiệm thú vị.

Bài và ảnh: NGỌC THƯ
qdnd.vn

Hoãn đám cưới để bảo vệ Hà Nội

QĐND – Cây đa đại thụ ở xã Hòa Hợp, huyện Lương Sơn (Hòa Bình) từ lâu vốn được coi là biểu tượng tinh thần cách mạng của người dân địa phương. Cây đa đại thụ gắn liền với mọi hoạt động của người dân Hòa Hợp cả trong thời chiến và thời bình. Với lão dân quân Hoàng Thị Bướm thì cây đa còn chứng kiến những giây phút hạnh phúc nhất trong đời mình.

Chuyện là, ngày ấy, đôi bạn trẻ Vũ Văn Chang và Hoàng Thị Bướm thuộc Trung đội dân quân xã Hòa Hợp đã ấn định ngày cưới vào 23-12-1972. Mọi người trong trung đội đã phân công mỗi người một việc lo toan ngày vui trăm năm hạnh phúc của đôi “trai tài, gái sắc”. Thế nhưng, khuya 22-12-1972, cấp trên thông báo, đế quốc Mỹ sử dụng máy bay B-52 đánh phá Hà Nội. Và 21 giờ 15 phút đêm đó, tại cao điểm 833 đồi Bù, nơi Trung đội dân quân Hòa Hợp trực chiến nghe tiếng nổ rất to, kèm theo ánh sáng chớp lóe kéo dài lao với tốc độ cao xuống khu vực. Mọi người nhận định, máy bay của địch bị trúng đạn. Và thế là Vũ Văn Chang và Hoàng Thị Bướm “quyết định” hoãn lại việc tổ chức đám cưới theo dự định.

Trung đội dân quân Hòa Hợp bắt tên giặc lái Mỹ ngày 22- 12-1972. Ảnh chụp lại

Trong đêm tối, Trung đội dân quân Hòa Hợp triển khai ngay đội hình bí mật tiếp cận về khu vực máy bay rơi. Sau một hồi tìm kiếm, trung đội dân quân phát hiện phần đầu của chiếc máy bay nên nhận định: Giặc lái chắc vẫn quanh quẩn đâu đây. Sau một ngày hai đêm truy lùng, trung đội dân quân đã tìm thấy hai tên giặc lái trong bộ dạng tiều tụy, đói khát. Nữ dân quân Hoàng Thị Bướm và Hoàng Thị Xô được giao nhiệm vụ dẫn giải hai tên phi công về trụ sở xã Hòa Hợp. Chú rể Vũ Văn Chang đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, còn cô dâu Hoàng Thị Bướm trở thành một trong những tấm gương dũng cảm, mưu trí, bám trận địa đánh địch. Sau Chiến dịch 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, dưới gốc cây đa đại thụ của xã, Trung đội dân quân Hòa Hợp tổ chức lễ đón mừng chiến thắng; đồng thời chứng kiến đôi bạn trẻ Vũ Văn Chang và Hoàng Thị Bướm kết duyên nghĩa vợ-chồng.

Sau này, Trung đội dân quân Hòa Hợp được biết: Chiếc máy bay F111 bị rơi tại đồi Bù là do các chiến sĩ tự vệ Công ty cơ khí Mai Động (Hà Nội) bắn trúng khi chúng ngông cuồng ném bom, bắn phá Hà Nội.

Bài và ảnh: THANH NGÂN
qdnd.vn