Thư viện

Sáng mãi bản hùng ca “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

QĐND Online – Ngày 28-11, tại Hà Nội, nơi cách đây 40 năm đã diễn ra trận quyết chiến lịch sử trên không của quân, dân miền Bắc với không quân Mỹ, nơi ghi dấu kỳ tích vô song “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, đã diễn ra Hội thảo khoa học cấp Nhà nước “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không – Tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam”. Thượng tướng Nguyễn Thành Cung, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng chỉ đạo và chủ trì Hội thảo…

Dụng công chuẩn bị, không để bất ngờ

Sáng 28-11, tại Hội trường Quân chủng PK-KQ, các đại biểu có mặt từ rất sớm. Các tướng lĩnh, sĩ quan từng tham gia Chiến dịch 12 ngày đêm tháng Chạp năm 1972 như các Anh hùng LLVT nhân dân: Phạm Thanh Ngân, Trần Hanh, Phạm Tuân, Nguyễn Văn Phiệt, Nguyễn Đình Kiên… được sống lại khí thế hừng hực của Chiến dịch của 40 năm về trước.

Dự hội thảo còn có thủ trưởng các Tổng cục trực thuộc Bộ Quốc phòng; các ban, bộ, ngành Trung ương; đại biểu Quân chủng PK-KQ, TP Hà Nội; các nhân chứng từng trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu trong Chiến dịch.

Nhiều ý kiến tham luận tại Hội thảo đã khẳng định: Để quân, dân miền Bắc, mà nòng cốt là quân, dân Hà Nội có thể “hạ bệ” siêu pháo đài bay B-52 của Mỹ, lập lên kỳ tích trên bầu trời Thủ đô, trước hết vì chúng ta đã có bước chuẩn bị đánh B-52 từ rất sớm; chủ động bố trí lực lượng tham gia chiến dịch; chủ động sơ tán nhân dân để tránh tổn thất…Để có bước chuẩn bị sớm như vậy là nhờ sự nhận định sáng suốt và tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc Mỹ sẽ đưa B-52 ra ném bom Hà Nội, và “Mỹ chỉ thua, sau khi thua đau trên bầu trời Hà Nội”.

Đoàn chủ tịch duy trì Hội thảo

Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, nguyên Phó tư lệnh Chính trị Quân chủng PK-KQ (người trực tiếp đánh B-52, tháng 12-1972) khẳng định, để chuẩn bị đánh B-52 trên bầu trời Hà Nội, ngay từ năm 1966, Quân chủng PK-KQ đã đưa ra-đa, không quân, tên lửa vào các tỉnh Quảng Bình, Vĩnh Linh- nơi B52 gây tội ác- để nghiên cứu cách đánh B-52. Cuối tháng 10-1972, Quân chủng tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm cách đánh B-52 của bộ đội tên lửa, với thành phần được mở rộng từ kíp trắc thủ, sĩ quan điều khiển tiểu đoàn trưởng đến Trung đoàn trưởng. Hội nghị đã thảo luận, tranh luận, bàn cách đánh rất sôi nổi, qua đó đề ra cách đánh đúng, đánh trúng B-52, như chọn, bám sát, đánh đúng dải nhiễu B52. Cuốn “Cẩm nang bìa đỏ” 30 trang, dạy cách đánh B-52 được ra đời từ đó. Sau hội nghị, phong trào học tập rèn luyện cách đánh B-52 của bộ đội tên lửa diễn ra sôi nổi ở tất cả các trận địa; công tác bảo đảm kỹ thuật hướng tới bảo đảm tham số tốt nhất, không dừng ở tham số cho phép; các phân đội kỹ thuật, các dây chuyền lắp ráp đạn đều thi đua lập công với các đơn vị hỏa lực.

Nói về công tác chuẩn bị cho Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” của bộ đội Không quân, Trung tướng, phi công Phương Minh Hòa, Tư lệnh Quân chủng PK-KQ khẳng định, Không quân nhân dân Việt Nam đã có sự chuẩn bị chu đáo về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật; tiếp đó là tập trung xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cao cho mọi đối tượng, đặc biệt là đội ngũ phi công; tập trung xây dựng lực lượng, huấn luyện giỏi về kỹ thuật, nhuần nhuyễn về chiến thuật, cách đánh; thường xuyên nghiên cứu, tìm cách đánh và rút kinh nghiệm để thay đổi cách đánh kịp thời khi địch thay đổi thủ đoạn.

Trung tướng Phương Minh Hòa phát biểu tham luận tại Hội thảo

Cụ Nguyễn Văn Trân, năm nay đã ngoài 90 tuổi, nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội năm 1972, nhớ lại công tác chuẩn bị cho Chiến dịch của chính quyền và nhân dân Thủ đô: “Thời điểm đó, Hà Nội đã sơ tán 55 vạn người về các địa phương. Đối với những người ở lại Hà Nội, đều thực hiện tốt yêu cầu “mỗi người có 3 nơi trú ẩn” – đó là hầm trú ẩn tại gia đình; hầm trú ẩn tại cơ quan, xí nghiệp; hố trú ẩn trên các đường phố. Hà Nội còn tổ chức tốt 3 lực lượng: cứu thương, cứu hỏa, cứu người; đồng thời xây dựng lực lượng tự vệ của các nhà máy, sát cánh với bộ đội chủ lực chiến đấu…

Với sự chuẩn bị sớm và chu đáo nên quân, dân Hà Nội hoàn toàn chủ động đối phó với cuộc tập kích chiến lược bằng B-52 của không quân Mỹ và bộ đội tên lửa đã “thiêu cháy” B-52 ngay trong đêm đầu tiên chúng xâm phạm vùng trời Thủ đô…

Chiến thắng của trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam

Báo cáo đề dẫn tại Hội thảo do Trung tướng Mai Quang Phấn, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam một lần nữa nói lên tính chất, mức độ ác liệt của cuộc tập kích đường không mà đế quốc Mỹ tiến hành tại Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh, thành phố lớn trên hậu phương miền Bắc. Tại Hà Nội, trong 12 ngày đêm của Chiến dịch, không quân Mỹ đã tập trung hơn 1.000 lần chiếc máy bay đánh phá, trong đó có khoảng 500 lần chiếc B-52, trút 40.000 tấn bom xuống nhiều khu dân cư, làm gần 2.400 người chết và 1.355 người bị thương. Vượt lên đau thương, mất mát, quân và dân Thủ đô Hà Nội chủ động thiết lập thế trận phòng không ba thứ quân hoàn chỉnh, vững chắc, nhiều tầng, nhiều lớp, chủ động vào trận.

Tinh thần dám đánh, quyết đánh của quân, dân Thủ đô, đặc biệt là bộ đội PK-KQ đã được thể hiện sinh động qua chia sẻ của các cựu chiến binh trực tiếp tham gia chiến đấu. Anh hùng LLVT nhân dân, phi công, Trung tướng Phạm Tuân cho biết: Trước Chiến dịch 12 ngày đêm, các phi công đã được chuẩn bị sẵn sàng về tinh thần, được huấn luyện đánh B-52 ở Khu 4, được củng cố về lực lượng. Tuy nhiên, khi bước vào Chiến dịch, không quân xuất kích ngay từ đêm đầu, nhưng chưa tiêu diệt được B-52. Những đêm tiếp theo, khó khăn đặt ra do máy bay địch gây nhiễu, do dẫn đường, do các sân bay bị địch phá hủy…khiến Phạm Tuân và đồng đội vẫn chưa diệt được B-52. Sau đó, qua tổ chức rút kinh nghiệm, không quân ta đã tìm ra cách đánh mới và đêm 27-12-1972, phi công Phạm Tuân đã xuất kích từ sân bay Yên Bái, bắn cháy một máy bay B-52 trên bầu trời Sơn La.

Ngoài ra, còn những tham luận tại Hội thảo đã nêu bật được trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam trong cuộc đối đầu lịch sử, như: “Nghệ thuật tác chiến của Bộ đội Tên lửa trong 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không””, của Đại tá Nguyễn Đình Kiên, Anh hùng LLVT nhân dân, nguyên Phó cục trưởng Cục Tác chiến, Bộ Tổng tham mưu (trong Chiến dịch là sĩ quan điều khiển của Tiểu đoàn 57, Trung đoàn tên lửa 261, Sư đoàn 361); “Vạch nhiễu tìm thù-một trong những nhân tố góp phần làm nên thắng lợi của trận Điện Biên Phủ trên không tháng 12-1972”, của Đại tá Nghiêm Đình Tích, nguyên là Đài trưởng Đài ra-đa P-35, thuộc Đại đội 45 (Trung đoàn 291), đơn vị đầu tiên phát hiện, thông báo sớm B-52 bay vào Hà Nội, đêm đầu của Chiến dịch (18-12-1972)…

Thượng tướng Nguyễn Thành Cung (thứ hai từ trái qua) và các đại biểu trao đổi tại Hội thảo

Với tầm cao và bản lĩnh của trí tuệ Việt Nam, được thể hiện qua Chiến dịch 12 ngày đêm tháng 12-1972, quân, dân miền Bắc đã đập tan cuộc tập kích đường không của Mỹ, lập nên kỳ tích “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”. Kết thúc Chiến dịch, 81 máy bay của không quân Mỹ đã bị tiêu diệt, trong đó có 34 máy bay B-52 (16 chiếc rơi tại chỗ).

Với chiến thắng “Điện Biên Phủ trên bầu trời Hà Nội” của quân, dân miền Bắc, đế quốc Mỹ đã phải ký hiệp định Pa-ri, chấp nhận rút quân Mỹ và quân đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam, chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới ở Việt Nam. Như vậy, chúng ta đã đánh cho “Mỹ cút”, mở ra thời cơ lớn cho quân và dân ta hoàn thành sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Tại Hội thảo, nhiều tham luận cũng nêu bật những bài học kinh nghiệm quý báu được đúc rút từ Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, như: “Đánh thắng B-52 trên bầu trời Hà Nội cuối tháng 12-1972, những giá trị lý luận và thực tiễn”; “Những bài học kinh nghiệm về tác chiến chiến dịch phòng không được rút ra từ 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không” ở Hà Nội cuối năm 1972”; “Những bài học về công tác giáo dục chính trị-tư tưởng trong chiến dịch phòng không cuối tháng 12-1972”…

Phát biểu bế mạc Hội thảo, Thượng tướng Nguyễn Thành Cung khẳng định, sau một ngày làm việc đầy tâm huyết của các đại biểu, Hội thảo đã thành công tốt đẹp. Đồng chí Thứ trưởng Bộ Quốc phòng nhấn mạnh: Kết quả đạt được của Hội thảo rất quan trọng, góp phần giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ LLVT và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng của dân tộc. Những bài học rút ra từ Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, cần được các cơ quan, đơn vị, nhà trường quân đội tích cực nghiên cứu, vận dụng có hiệu quả trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, qua đó góp phần xây dựng quân đội ngày càng vững mạnh, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Hội thảo khoa học cấp Nhà nước “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không – Tầm cao bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam” là một trong những hoạt động lớn trong dịp kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, do Bộ Quốc phòng, Ban Tuyên giáo Trung ương, Thành ủy, UBND TP Hà Nội phối hợp tổ chức. Có 66 tham luận được gửi về Hội thảo, 15 tham luận được trình bày tại Hội thảo. Đại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có tham luận “Chiến thắng Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không- tầm cao bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh”; các thủ trưởng Bộ Quốc phòng: Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ, Thượng tướng Nguyễn Thành Cung, Thượng tướng Lê Hữu Đức, có tham luận gửi Hội thảo.

Bài, ảnh: PHẠM HOÀNG HÀ
qdnd.vn

Kỳ tích của chiến tranh nhân dân

QĐND – Một vấn đề được đặt ra sau chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” năm 1972 là vai trò của thế trận chiến tranh nhân dân được khẳng định như thế nào?

Trong 12 ngày đêm đánh phá Hà Nội, Hải Phòng, Chính phủ Hoa Kỳ đã huy động đến mức cao nhất sức mạnh ưu việt của nền công nghiệp quân sự, với những phương tiện chiến tranh điện tử tối tân nhất. Về phía Việt Nam, Đảng, Nhà nước cũng đầu tư mua sắm và thông qua sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa cũng có ra -đa cảnh giới và dẫn đường ?35; có máy bay tiêm kích MIG -21, tên lửa SAM2, pháo cao xạ 100mm… Một cuộc chiến trên bầu trời như thế, vai trò của chiến tranh nhân dân có thể phát huy được không?

Bảo quản tên lửa, phục vụ SSCĐ ở Sư đoàn Phòng không 365. Ảnh: Hồng Nguyễn

Thực tở, trong chiến dịch 12 ngày đêm năm 1972, ở Hà Nội và Hải Phòng đã diễn ra hình ảnh rõ nét nhất của một cuộc chiến tranh nhân dân đất đối không cực kỳ sôi động.

Mỗi lần máy bay địch kéo đến từ xa, lệnh báo động B -52, sẵn sàng chiến đấu được ban ra. Các LLVT về vị trí chiến đấu, mọi người dân chạy về nơi ẩn nấp. Khi những chùm bom hủy diệt của kẻ thù sắp rơi xuống thì cũng là lúc những chiếc MIG rời đường băng, những quả đạn tên lửa rời bệ phóng, những chùm đạn cao xạ các cỡ vút lên chặn đánh máy bay của kẻ xâm lược.

Không chỉ có máy bay, tên lửa có thể vươn tới độ cao trên 10km, quân dân ta còn có rất nhiều những khẩu pháo, khẩu súng tầm thấp của bộ đội, của tự vệ, của dân quân, bố trí khắp nơi, trên các ngọn đồi, mỏm núi, ven sông, trên những nóc nhà cao tầng, trong đồng, ngoài bãi, hình thành một mạng lưới dày đặc, rộng khắp, nhiều tầng đón đánh kẻ thù bay vào từ mọi hướng, từ xa đến gần. Nhiều chiếc máy bay hiện đại F111A, A6A, bay thật thấp để tránh bị ra -đa phát hiện, cuối cùng cũng phải đền tội bởi lưới lửa tầm thấp của quân và dân ta.

Mỗi người dân Hà Nội đều trở thành chiến sĩ. Từng tốp thanh niên lao nhanh về các trận địa, giúp bộ đội tiếp đạn, tải thương, thay lá ngụy trang. Các bà mẹ mang những rổ trái cây, những ấm nước chè xanh đến từng khẩu đội thăm hỏi, động viên các pháo thủ. Tất cả mọi người đều tham gia cứu nạn khi có bom rơi.

Khi phát hiện một máy bay rơi, lập tức hàng trăm người dân từ các hầm trú ẩn vọt ra, có cả những thiếu niên, cụ già kéo nhau đi lùng bắt giặc lái. Bên cạnh khung cảnh khí thế ấy, còn có biết bao cán bộ, công nhân viên thầm lặng bám máy, bám đài, bám bệnh viện, cửa hàng… để giữ vững thông tin liên lạc và bảo đảm cho các nhu cầu thiết yếu về điện, nước, y tế, lương thực, thực phẩm phục vụ cuộc chiến đấu của quân, dân Thủ đô.

Một mặt trận khác cũng không kém phần quan trọng, đó là hình ảnh toàn dân làm công tác giao thông vận chuyển chi viện cho chiến trường, ngay cả trong những ngày Hà Nội – Hải Phòng liên tục bị Mỹ ném bom thì công tác chi viện cho miền Nam vẫn không hề dừng lại.

Đánh thắng B -52 Mỹ không chỉ có nhân dân Hà Nội, Hải Phòng và nhân dân miền Bắc, mà còn có cả sức mạnh chung tay tiếp sức của đồng bào ruột thịt miền Nam, của thế trận cả nước cùng đánh giặc. Những nam nữ nghệ sĩ, chia nhau tỏa xuống các trận địa, mang lời ca tiếng hát phục vụ các chiến sĩ bên bệ phóng. Những phóng viên, nhà quay phim, nhiếp ảnh can trường, xông xáo, đưa những dòng tin, những trang báo nóng hổi tính thời sự về chiến thắng B -52.

Hà Nội còn có thành tích đáng tự hào về công tác phòng tránh, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Trước khi xảy ra trận không kích của Mỹ, chính quyền thành phố đã tổ chức tốt việc sơ tán nhân dân. Sau đêm 18-12, lệnh sơ tán khẩn cấp và triệt để được loan đi, những dòng người đông nghịt hối hả rời thành phố. Họ tỏa về các vùng nông thôn, tìm đến vòng tay đùm bọc, che chở, cưu mang của bà con các làng quê giàu lòng nhân nghĩa. Hàng chục vạn người đã ra đi trong trật tự và an toàn. Chính nhờ sơ tán và phòng tránh tốt mà chính quyền thành phố Hà Nội đã làm giảm thiểu sự tổn thất về người do địch gây ra trong 12 ngày đêm đến mức thấp nhất. Đó cũng là một khía cạnh thành công của cuộc chiến tranh nhân dân.

Trong chiến dịch 12 ngày đêm năm 1972, cuộc chiến tranh nhân dân đất đối không được phát triển lên đến đỉnh cao, với cả một cao trào toàn dân đánh máy bay Mỹ, toàn dân làm công tác phòng tránh, toàn dân làm công tác giao thông vận chuyển, toàn dân hợp tác và giúp đỡ bộ đội chiến đấu, cộng với trí thông minh và lòng dũng cảm vô song, chính là điểm tựa, là chiếc chìa khóa vạn năng và cũng là cái gốc của mọi bí ẩn giúp cho quân dân ta lập nên chiến tích thần kỳ “Hà Nội -Điện Biên Phủ trên không” oanh liệt.

HỒNG HẢI
qdnd.vn

(Lược thuật từ sách “Điện Biên Phủ trên không – Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam”)

Hành trình Mig-21 hạ gục B-52 (kỳ 2)

Kỳ 2: Cất cánh vòng ngoài, chiếm lợi thế độ cao

QĐND Online – Sau đêm đầu tiên của Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” (18-12-1972), các đêm tiếp theo, các phi công Mig-21 tiếp tục cất cánh tìm diệt B-52, song “con ngáo ộp” vẫn chưa bị bắn hạ. Lo lắng đè nặng lên suy nghĩ của các phi công chiến đấu…

Kinh nghiệm từ những lần “vồ hụt” B-52

Mặc dù đã được chuẩn bị rất kỹ thông qua những lần tập đánh B-52 trước khi vào Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, song các tình huống khó khăn đặt ra đều “khan”, mang tính giả định. Bởi thế, khi thực tế chiến đấu, các tình huống bất lợi như cất hạ cánh trên sân bay bị địch đánh phá; địch gây nhiễu; tiêm kích địch chặn đánh trên đường; hiệp đồng giữa phòng không và không quân trong đánh máy bay địch khó khăn…nên các phi công Mig-21 rất khó khăn trong phát hiện, đánh chặn B-52.

Trung tướng Phạm Tuân nhớ lại: Kể từ đêm đầu tiên của Chiến dịch, nhiều phi công của ta phát hiện được B-52, song do dẫn dắt Mig-21 vào vị trí không thuận lợi, nên không thể bám sát, tiếp cận và công kích. Ví dụ như có những trường hợp Mig-21 được dẫn dắt bay cắt ngang đường bay của B-52; có trường hợp phi công bay thấp, khi phát hiện B-52, máy bay ta ở độ cao thấp, khó đuổi kịp B-52, nhất là khi máy bay địch phát hiện và tắt đèn, rút chạy.

“Chúng tôi rất lo lắng, không phải sợ hy sinh, mà bởi vì đã qua 8 đêm rồi, phi công của chúng ta vẫn không diệt được B-52, trong khi đó tất cả đang mong mỏi, chờ đợi không quân tiêu diệt B-52”, Trung tướng Phạm Tuân bộc bạch.

Phi công Phạm Tuân trò chuyện cùng các đại biểu tại Hội thảo khoa học cấp Nhà nước “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không-tầm cao bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam”

Không quân tổ chức rút kinh nghiệm sâu sắc các trận đánh trước đó và quyết định thay đổi cách đánh. Sở chỉ huy được đưa ra vòng ngoài, tại Thanh Hóa, Mộc Châu, Yên Bái; chuyển máy bay ra vòng ngoài; dẫn đường từ vòng ngoài; phi công được chủ động xử lý tình huống trên không.

Những trận đánh trước đó, sau khi cất cánh, phi công Mig-21 thường bay thấp để tránh bị địch phát hiện, sau đó lấy độ cao. Phương thức bay này là hợp lý, nếu không có nhiễu. Tuy nhiên, do bị địch gây nhiễu nên khi kéo cao, Mig-21 không thể bắt và bám sát được mục tiêu B-52. Vậy nên, qua rút kinh nghiệm, cách đánh được vạch ra là sau khi cất cánh, chủ động giành lợi thế độ cao.

Phi công Phạm Tuân lý giải: “Trong điều kiện máy bay F-4 của địch rất nhiều, thế nên chưa chắc địch đã phát hiện ra ta nếu ta bay cao. Và khi bay cao, ta có độ cao, có tốc độ, sẽ có điều kiện tiếp cận mục tiêu nhanh nhất”.

Đêm 26-12-1972, Phạm Tuân được lệnh cất cánh từ sân bay Nội Bài lên sân bay Yên Bái, song do đáy mây quá thấp, không thể hạ cánh tại Yên Bái nên phải quay về hạ cánh tại Nội Bài…

“Én bạc” hạ gục “pháo đài bay”

Đêm hôm sau, 27-12-1972, Phi công Phạm Tuân tiếp tục được lệnh cất cánh cơ động từ sân bay Nội Bài lên sân bay Yên Bái, để hiện thực hiện chiến thuật đánh từ vòng ngoài. Bay ở độ cao cách đỉnh núi khoảng 50 mét, nên trên toàn bộ hành trình bay, Phạm Tuân không gặp máy bay địch. Ông hạ cánh trực tiếp xuống sân bay Yên Bái.

21 giờ, Phạm Tuân được lệnh xuất kích. Sau khi cất cánh, xuyên mây, ông đã thấy F-4 của địch. Lệnh từ sở chỉ huy “Tránh F-4 của địch”, Phạm Tuân tăng tốc độ sớm, vượt tránh vài tốp F-4.

Ở cự ly cách B-52 khoảng 200km, Phạm Tuân đã được thông báo có B-52 cách 200km. Các cự ly 150km, 100km lần lượt được sở chỉ huy thông báo. Đến cự ly 60km, sở chỉ huy ra lệnh cho Phạm Tuân bật tăng lực, lấy độ cao. Sau khi kéo cao, đến cự ly 40km, Phạm Tuân đã phát hiện được B-52.

“Ngay sau khi phát hiện B-52, tôi báo cáo sở chỉ huy: “Phát hiện tốp B-52, 2 chiếc”! Nhưng kỳ thực có 3 chiếc B-52 trong đội hình, vì chiếc thứ 3 không bật đèn”, Phi công Phạm Tuân nhớ lại.

Chiếc Mig-21 đã cùng phi công Phạm Tuân tiêu diệt B-52 trên bầu trời Sơn La.

Tại thời điểm đó, 5 sở chỉ huy đều dẫn dắt rất tốt Phạm Tuân, bởi máy bay ta hoạt động ở vòng ngoài nên hạn chế được nhiễu của đối phương. Đến cự ly 10km, chiếc Mig-21 ép vào phía sau chiếc B-52. Các sở chỉ huy đều nhắc “Chú ý bật công tắc tên lửa! Bắn 2 quả!”. Ngay sau đó, sở chỉ huy Quân chủng yêu cầu các sở chỉ huy khác không liên lạc, để sở chỉ huy Quân chủng dẫn dắt.

Khi đến cự ly 3km, Phạm Tuân ( mang số hiệu 361) được lệnh: “361 bắn, thoát ly ngay bên trái”. Khẩu lệnh thứ hai tiếp tục được phát lên: “361 bắn, thoát ly ngay bên trái”.

“Nghe tốt! Tôi bắn”, Phạm Tuân trả lời và lập tức bắn 2 quả tên lửa. Lúc đó, Mig-21 đang giữ tốc độ 1.500km/giờ và tốc độ B-52 khoảng 900km/giờ. Ngay sau khi bắn, Phạm Tuân làm động tác cơ động thoát ly. Quan sát, ông thấy một quầng lửa ngay phía dưới máy bay mình và nhanh chóng điều khiển máy bay về hạ cánh an toàn tại sân bay Yên Bái.

Đêm 28-12-1972, từ sân bay Cẩm Thủy, phi công Vũ Xuân Thiều cũng xuất kích, phát hiện, công kích B-52 bằng 2 quả tên lửa. B-52 trúng đạn bốc cháy trên bầu trời Sơn La nhưng anh đã anh dũng hy sinh.

Với việc rút kinh nghiệm qua từng trận đánh để thay đổi cách đánh kịp thời, Không quân nhân dân Việt Nam đã tiêu diệt 2 máy bay B-52 trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, góp phần làm nên kỳ tích vô song trên bầu trời miền Bắc.

Bài, ảnh: PHẠM HOÀNG HÀ
qdnd.vn

Hành trình Mig-21 hạ gục B-52 (kỳ 1)

Hành trình Mig-21 hạ gục B-52 (kỳ 1)

QĐND Online – Trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972, các phi công của ta đã tiêu diệt 2 máy bay B-52 của Mỹ. “Để có được kết quả đó, không quân nhân dân Việt Nam đã có bước chuẩn bị từ khá sớm; điều quan trọng không kém là ta đã điều chỉnh cách đánh kịp thời sau mỗi lần xuất kích”- đó là chia sẻ của các phi công: Trần Hanh, Phạm Tuân…

Kỳ 1: Trận đầu đối mặt trên bầu trời Thủ đô

“Muốn diệt B-52, phải bắn 2 tên lửa”

Từ nhận định của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sớm muộn Mỹ sẽ dùng B-52 đánh ra Hà Nội, Quân chủng PK-KQ đã có bước chuẩn bị đánh B-52 từ rất sớm. Theo đó, Bộ đội Không quân đã triển khai sở chỉ huy dã chiến để nghiên cứu hoạt động của B52 và chỉ huy không quân cất cánh đánh B-52 từ các sân bay này.

Để chuẩn bị đánh B-52, các phi công Mig-21 đã dày công luyện tập, sẵn sàng cho cuộc đọ đầu lịch sử trên bầu trời Thủ đô.

Trung tướng Phạm Tuân nhớ lại: Cùng với chuẩn bị về mặt tinh thần sẵn sàng đối mặt với B-52, các phi công của ta còn cơ động về Quảng Bình, Vĩnh Linh, lên tận đỉnh đèo Mụ Giạ để quan sát, tìm hiểu đội hình và quy luật hoạt động của B-52. Nhiều lần, các phi công của ta đã truy kích máy bay địch đến tận biên giới.

Ngày 20-11-1971, phi công Vũ Đình Rạng nhận nhiệm vụ tiêu diệt tốp B52 đang bay từ Thái Lan qua Lào vào đánh phá khu vực Nghệ An. Tiếp cận được B-52, theo lệnh của sở chỉ huy mặt đất, anh phóng một quả tên lửa vào chiếc B-52. Trúng đạn, chiếc máy bay này phải về hạ cánh bắt buộc và hỏng hoàn toàn.

Trung tướng Trần Hanh cho biết: Vũ Đình Rạng đã chấp hành nghiêm quy định là chỉ dùng một quả tên lửa để tiêu diệt B-52, quả còn lại để sẵn sàng không chiến với tiêm kích địch trên đường về hạ cánh. Từ trận đánh của phi công Vũ Đình Rạng, một bài học được rút ra là khi công kích B-52, phi công phải bắn cả 2 tên lửa.

Nhờ luyện tập đánh B-52 trước khi không quân Mỹ đưa “con bài chiến lược” này vào Hà Nội, nên khi vào trận, các phi công của ta đã vững tin xuất kích…

Trận đầu đối mặt trên vùng trời Hà Nội

Ngay đêm 18-12-1972, khi B-52 xâm phạm vùng trời Thủ đô, mở đầu chiến dịch tập kích đường đường không của không quân Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh, thành phố lớn trên hậu phương miền Bắc, từ sân bay Nội Bài, phi công Phạm Tuân xuất kích, ráo riết săn tìm “con ngáo ộp” trên không.

Lúc Phạm Tuân được lệnh cất cánh, đường băng sân bay Nội Bài đã bị không quân Mỹ ném bom phá hủy, khói bụi mù mịt. Ông chia sẻ: “Diễn biến trận đánh bom diễn ra rất nhanh, và yêu cầu chiến đấu rất khẩn trương, nên mặc dù chưa biết tình trạng đường băng sau trận bom ra sao, song chúng tôi vẫn quyết tâm xuất kích”.

Anh hùng LLVT nhân dân, Trung tướng, phi công Phạm Tuân

Sau khi cất cánh, Phạm Tuân điều khiển máy bay hướng về phía Ba Vì. Từ mặt đất, tên lửa và đạn các loại của ta bắn lên dày đặc. Ông phát hiện ra rất nhiều máy bay F-4 của địch. Đây là điều nằm ngoài hình dung của ông trước khi vào trận. Sau vài phút, những chiếc F-4 lại bắn một quả tên lửa nhiễu để “làm mù” ra-đa của ta. Chấp hành nghiêm kỷ luật chiến trường là “chỉ dùng tên lửa bắn B-52; nếu không bắn được B-52, mang tên lửa về”, Phạm Tuân quyết tâm “giữ” tên lửa và tìm diệt B-52. Ngay sau đó, ông phát hiện B-52 và báo cáo về sở chỉ huy. Tiếp cận B-52, Phạm Tuân bật ra-đa, toàn bộ màn hình trắng xóa vì nhiễu; tiếp tục bật tăng lực để tăng tốc độ, nhằm thu hẹp cự ly thì ngay lập tức chiếc Mig-21 của ta bị F-4 phát hiện và “quây lại”. Phạm Tuân buộc phải cơ động thoát ly và quay về sân bay Nội Bài hạ cánh. Vì hạ cánh xuống đường băng lỗ chỗ hố bom, nên ngay sau khi tiếp đất, chiếc Mig-21 của Phạm Tuân đã rúc xuống hố bom, máy bay lật ngửa, xoay 180 độ. Chui ra khỏi máy bay, ông thấy quanh mình bom đạn, đất đá ngổn ngang.

Ngay sau khi hạ cánh, Phạm Tuân được biết Bộ đội Tên lửa đã bắn rơi tại chỗ chiếc B-52 đầu tiên trên bầu trời Thủ đô. Chiến công của đồng đội khiến ông vô cùng mừng rỡ, bởi “niềm kiêu hãnh của không lực Hoa Kỳ” đã bị quân, dân miền Bắc hạ bệ; và chiến công ấy cũng khiến ông nung nấu quyết tâm “Phải diệt bằng được B-52”…

Bài, ảnh: PHẠM HOÀNG HÀ
qdnd.vn

Kỳ 2: Cất cánh vòng ngoài, chiếm lợi thế độ cao

Chủ động mọi mặt cho chiến dịch phòng không

Hướng tới kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” (12-1972 / 12-2012)

QĐND – Những tháng cuối năm 1972, đặc biệt là sau khi trúng cử Tổng thống nhiệm kỳ 2, Ních-xơn và tập đoàn cầm quyền Mỹ vừa gấp rút tăng viện trợ cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đốc thúc quân đội Sài Gòn tăng cường phản kích lấn chiếm vùng giải phóng ở miền Nam, vừa tập trung toàn bộ lực lượng không quân chiến lược (hơn 100 máy bay B-52), không quân chiến thuật (khoảng 1000 máy bay các loại) ở khu vực Đông Nam Á, Thái Bình Dương mở cuộc tập kích không quân chiến lược (chủ yếu bằng máy bay B-52) mang mật danh Lai-nơ-bếch-cơ II vào Hà Nội, Hải Phòng, dọc phía Bắc đường số 1, nhằm đánh phá hủy diệt tiềm lực kinh tế, quốc phòng miền Bắc, buộc Chính phủ ta phải trở lại Hội nghị Pa-ri, chấp nhận ký kết những điều khoản có lợi cho Mỹ.

Trước tình hình nghiêm trọng đó, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương một mặt tăng cường chỉ đạo quân và dân trên các chiến trường Trị-Thiên, Đông Nam Bộ, Tây Nguyên tích cực tiến công đánh bại các đợt phản kích lấn chiếm vùng giải phóng của quân đội Sài Gòn; mặt khác, quyết định tập trung lực lượng phòng không nhân dân trên miền Bắc (chủ yếu là Bộ đội Phòng không – Không quân) mở chiến dịch phòng không quyết tâm đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng không quân vào Hà Nội, Hải Phòng của đế quốc Mỹ.

Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo Bộ Tổng tham mưu và Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân khẩn trương hoàn thiện nội dung kế hoạch chiến dịch phòng không (đã được chuẩn bị từ trước), trong đó đặc biệt chú trọng những vấn đề cơ bản của nghệ thuật chiến dịch phòng không như nắm vững và phán đoán chính xác âm mưu, thủ đoạn về chiến lược, chiến dịch, chiến thuật, kỹ thuật, hướng và mục tiêu tiến công của chúng; nghệ thuật bố trí đội hình, sử dụng lực lượng, cách đánh và công tác bảo đảm của bộ đội phòng không để sớm triển khai mọi mặt cho chiến đấu và SSCĐ, luôn giành chủ động đánh thắng địch trong bất cứ tình huống nào. Trên cơ sở đó (cùng với kinh nghiệm tác chiến phòng không chống chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất), các cơ quan tác chiến, huấn luyện của Bộ và Quân chủng Phòng không – Không quân thống nhất phương pháp huấn luyện bổ sung nâng cao kỹ năng kỹ thuật, chiến thuật sử dụng vũ khí, khí tài quyết tâm đánh bại các thủ đoạn mới của địch trong tập kích đường không bằng máy bay B-52, nhất là thủ đoạn gây nhiễu phức tạp và dày đặc nhằm vô hiệu hóa ra-đa, tên lửa và hệ thống chỉ huy hỏa lực của ta. Quá trình tác chiến phải phát huy được sức mạnh hiệp đồng chiến đấu của lực lượng phòng không ba thứ quân, tạo thành lưới lửa nhiều tầng, nhiều tuyến, có thể đánh địch đột nhập từ mọi hướng, trên mọi độ cao, tìm mọi cách đánh diệt máy bay B-52 của địch.

Kíp chiến đấu tên lửa Tiểu đoàn 77 trao đổi kinh nghiệm đánh máy bay B-52 của không quân Mỹ. Ảnh tư liệu.

Với phương án tác chiến, huấn luyện được soạn thảo bổ sung, hoàn chỉnh nâng cao và tập luyện kỹ lưỡng, chúng ta quyết tâm đối đầu với chiến dịch tập kích bằng không quân chiến lược của Mỹ. Trong chiến dịch này, ta bố trí lực lượng ra-đa thành mạng lưới liên hoàn, có thể hỗ trợ cho nhau phát hiện các loại máy bay ở các tầng, các hướng; lấy tên lửa là lực lượng chính tiêu diệt máy bay B-52; lực lượng không quân tiêm kích là lực lượng tiến công phá vỡ và gây rối loạn đội hình không quân địch và công kích máy bay B-52 ngoài tầm tên lửa phòng không; lực lượng pháo cao xạ là lực lượng chính đánh diệt máy bay cường kích chiến thuật, tầm thấp. Với lực lượng, thế trận được chuẩn bị kỹ càng, toàn bộ lực lượng trực tiếp tham gia chiến dịch phòng không bao gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ, được bố trí trên ba cụm phòng không (Hà Nội, Hải Phòng và phía Bắc đường 1) cùng các hướng hỗ trợ khác, đã đánh trả mạnh mẽ, quyết liệt và hiệu quả cuộc tập kích chiến lược của không quân Mỹ. Đây là cuộc đấu trí, đấu lực hết sức căng thẳng giữa Bộ chỉ huy ta với Bộ chỉ huy địch, giữa lực lượng phòng không ta với lực lượng không quân Mỹ. Trải qua 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972 chiến đấu, lực lượng phòng không ba thứ quân mà nòng cốt là bộ đội tên lửa, pháo cao xạ, không quân, bằng ba trận then chốt (đêm 18 rạng ngày 19-12, đêm 20-12, đêm 26-12) đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B-52 của đế quốc Mỹ vào thủ đô Hà Nội và thành phố cảng Hải Phòng. Số máy bay B-52 bị bắn hạ (34 chiếc) vượt quá sức chịu đựng của đế quốc Mỹ.

Thắng lợi to lớn, toàn diện của chiến dịch phòng không nhân dân nửa cuối tháng 12-1972 đã giáng đòn quyết định vào nỗ lực cuối cùng về quân sự trong năm 1972 của đế quốc Mỹ. Cùng với chiến thắng của cuộc tiến công chiến lược trên chiến trường miền Nam năm 1972, chiến công vang dội kể trên đã buộc Mỹ phải trở lại và ký vào bản Hiệp định của Hội nghị Pa-ri, thừa nhận độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, cam kết chấm dứt dính líu quân sự, rút hết quân Mỹ và đồng minh ra khỏi miền Nam Việt Nam. Đồng thời, chiến thắng đó đã để lại cho quân và dân ta nói chung, bộ đội phòng không – không quân nói riêng nhiều bài học quý báu về nghệ thuật chủ động xây dựng phương án, tổ chức lực lượng, thế trận chiến tranh nhân dân đất đối không; về nghệ thuật tác chiến và xử lý tình hình trong quá trình diễn biến chiến dịch… Những bài học quý báu ấy vừa làm giàu thêm kho tàng lý luận khoa học quân sự Việt Nam, vừa có giá trị thực tiễn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong điều kiện mới.

Đại táTRẦN TIẾN HOẠT
qdnd.vn

Xúc động trước kỷ vật của thai phụ và các trẻ em bị B-52 rải bom giết hại

QĐND Online – Những ngày cuối thu năm nay, Khu di tích Khâm Thiên (Hà Nội) bị máy bay B-52 ném bom rải thảm trong những ngày cuối tháng Chạp năm 1972, được nhiều người tìm đến. Giữa gió thu se lạnh, nhìn bức tượng người phụ nữ ôm đứa con nhỏ mềm oặt trên tay, lòng người không khỏi xót xa cho những người dân vô tội đã chết oan uổng bởi bom đạn trút xuống từ những “con ngáo ộp” B-52, trong Chiến dịch tập kích chiến lược bằng không quân của đế quốc Mỹ vào Hà Nội và các tỉnh, thành phố lớn của miền Bắc nước ta tháng 12-1972.

Phía sau bức tượng người mẹ ôm con con là dòng chữ “Khâm Thiên khắc sâu căm thù giặc Mỹ 26-12-1972”. Lời căm thù ấy gợi lại cái ngày tang tóc của bao gia đình ở khu phố này. 40 năm đã trôi qua, song nỗi đau ngày nào vẫn được người dân nơi đây kể nhau nghe…

Khu di tích Khâm Thiên (Hà Nội)

Khoảng 22 giờ 47 phút ngày 26-12-1972, một vệt bom B-52 đã trùm gần hết chiều dài khu phố Khâm Thiên, nơi có hơn 5.900 hộ với hơn 29.500 người sinh sống. Sau trận bom kinh hoàng ấy, 287 người bị chết và 290 người bị thương. Cùng với đó, gần 2.000 ngôi nhà, đền chùa, trường học, trạm xá bị đánh sập.

12 ngày đêm dội bom đạn xuống Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh, thành phố lân cận, không quân Mỹ còn gieo rắc sự đau thương, mất mát ở nhiều địa điểm khác.

Những thông tin ấy đã đủ nói lên sự tàn bạo của quân xâm lược và sự phi nghĩa của cuộc chiến tranh mà chúng tiến hành ở Việt Nam. Vậy nhưng, đặt chân đến Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam, tham quan những hiện vật được sưu tầm liên quan đến 12 ngày đêm tháng 12 của 40 năm trước, khách tham quan càng cảm nhận sâu sắc sự bạo tàn của giặc Mỹ. Trong một chiếc tủ kính, có 4 hiện vật đã làm không ít người phải ngậm ngùi, bởi đó là vật dụng của thai phụ và những em bé bị bom B-52 giết hại.

Trong chiếc tủ kính ấy có chiếc áo sơ mi của chị Nguyễn Thị Thơm, ở số nhà 45 phố Khâm Thiên, có thai 8 tháng, bị bom B-52 giết hại cùng cả gia đình đêm 26-12-1972. Tại khu phố Khâm Thiên đêm đó, cháu Nguyễn Quang Kiên mới 4 tháng tuổi, ở số nhà 2 ngõ Hồ Cây Sữa và bà nội cũng bị bom B-52 giết chết. Chiếc mũ và giấy khai sinh của Kiên đang được trưng bày trong tủ kính.

Vật dụng của thai phụ và các em bé bị B-52 rải bom giết hại, tháng 12-1972

Hiện vật tiếp theo là một con vịt đồ chơi bằng nhựa của cháu Trần Văn Lý, 2 tuổi, ở Xóm 4, thôn Phú Đô, xã Mễ Trì, Từ Liêm (Hà Nội). Cháu và cả gia đình bị B-52 ném bom giết hại chiều 19-12-1972. Trong buổi chiều ấy, cháu Đỗ Quang Huy, 3 tuổi, cũng ở xã Mễ Trì, cùng cả gia đình bị bom Mỹ sát hại. Chiếc áo của cháu Huy được xếp ngay ngắn bên những hiện vật của các nạn nhân khác.

Khu di tích Khâm Thiên, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam và nhiều điểm di tích khác liên quan đến Chiến thắng B-52 chắc chắn sẽ đón nhận nhiều lượt du khách đến tham quan, nghiên cứu, tìm hiểu trong dịp kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”. Với những gì được chứng kiến từ những điểm di tích ấy, đồng bào cả nước, đặc biệt là thế hệ trẻ và bạn bè quốc tế sẽ hiểu hơn về quyết tâm của quân, dân miền Bắc khi vượt lên đau thương, mất mát, quyết đánh, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, làm nên kỳ tích “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”…

Bài, ảnh: Phạm Hoàng Hà
cpv.org.vn

Không để bị bất ngờ

QĐND – Thắng lợi của chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” bắt nguồn từ một trong những yếu tố là ta không bị bất ngờ về chiến lược và chiến dịch. Bác Hồ đã nhận định, Mỹ chỉ chấp nhận thua khi chúng thua trên bầu trời Hà Nội, sau khi đã sử dụng loại vũ khí không quân hiện đại nhất: Máy bay B-52.

Thực hiện sự chỉ đạo của Bác Hồ, Quân chủng Phòng không-Không quân tích cực, chủ động nghiên cứu cách đánh máy bay B-52; nêu cao tinh thần cảnh giác, mưu trí, sáng tạo, thường xuyên theo dõi, nắm tình hình chiến trường; tổ chức canh trực chặt chẽ, không để sót lọt mục tiêu trên không. Tinh thần cảnh giác được quán triệt đến mọi cán bộ, chiến sĩ phòng không, nhất là lực lượng ra-đa cảnh giới, canh trực bầu trời.

Sau khi nắm được thông tin tình báo vào ngày 14-12-1972, Tổng thống Mỹ Ních-xơn đã phê chuẩn Kế hoạch tập kích bằng không quân chiến lược vào Hà Nội và Hải Phòng, Quân chủng Phòng không-Không quân đã xây dựng và được Bộ phê duyệt kế hoạch tác chiến phòng không, đặc biệt là chống máy bay ném bom chiến lược B-52. Ngày 18-12-1972, Sư đoàn Phòng không 361 nhận được điện chỉ đạo của Sở chỉ huy Quân chủng nhận định, máy bay B-52 của không quân Mỹ đánh vào Hà Nội.

Tôi làm nhiệm vụ trực ban tác chiến hôm đó báo cáo với Sở chỉ huy Sư đoàn. Ngay sau đó, chỉ huy sư đoàn lệnh cho các đơn vị vào cấp 1, đến 19 giờ ngày 18-12-1972, toàn sư đoàn đã vào cấp 1 với trạng thái chiến đấu cao nhất. Liên tục từ đó, Bộ Quốc phòng, Quân chủng và Chỉ huy sư đoàn có điện gửi tới các đơn vị thông báo tình hình, quán triệt theo dõi và bám sát mục tiêu trên không, đặc biệt là phát hiện máy bay B-52 sớm nhất. Lúc 19 giờ 15 phút ngày 18-12-1972, Đại đội 45, Trung đoàn Ra-đa 291 phát hiện và thông báo: “Máy bay B-52 tiến ra miền Bắc”. Như vậy, ta đã phát hiện máy bay B-52 oanh tạc Hà Nội sớm hàng chục phút.

Khi nhận được thông tin lúc 20 giờ 13 phút ngày 18-12-1972, Tiểu đoàn 59 của Trung đoàn Tên lửa 261 do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thăng chỉ huy phóng 2 quả đạn bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay B-52 đầu tiên trên bầu trời Hà Nội, rơi tại cánh đồng Chuôm thuộc xã Phủ Lỗ, huyện Đông Anh, cách trận địa gần 10km. Cả Sở chỉ huy chúng tôi reo lên vui sướng khiến Sư đoàn trưởng phải nhắc mọi người vào vị trí chiến đấu.

Như vậy, chúng ta đánh thắng chiến dịch tập kích bằng không quân chiến lược của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng là nhờ sự chủ động chuẩn bị, không để bị bất ngờ, bố trí lực lượng phù hợp, cách đánh sáng tạo và bảo đảm vũ khí trang bị kỹ thuật tốt, phát huy được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng phòng không và của toàn dân.

NHẬT QUANG (Ghi theo lời kể của đồng chí Trần Minh Lương, nguyên trợ lý tác chiến Sư đoàn Phòng không 361).
qdnd.vn

Thi tìm hiểu: “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

QĐND – Vừa qua, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã phát động cuộc thi tìm hiểu “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Theo đó, đối tượng dự thi là cán bộ, đoàn viên, thanh thiếu niên trên cả nước. Đặc biệt, ban tổ chức khuyến khích các tầng lớp nhân dân và những người Việt Nam đang sinh sống tại nước ngoài; người nước ngoài đang sinh sống, làm việc tại Việt Nam tham gia dự thi. Bài dự thi được viết bằng tiếng Việt ghi rõ họ tên, địa chỉ, nghề nghiệp gửi về Văn phòng Đoàn các tỉnh và Thành đoàn trực thuộc. Riêng bài dự thi của người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài và người nước ngoài làm việc tại Việt Nam gửi bài trực tiếp về Ban Tuyên giáo Trung ương Đoàn (62 Bà Triệu, Hoàn Kiếm, Hà Nội). Ban tổ chức sẽ nhận bài dự thi từ 1-11 đến hết ngày 25-11-2012.

DUY VĂN

Mảnh xác chiếc B-52 bị quân, dân miền Bắc bắn hạ đêm 18-12-1972 (đêm đầu của Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”), hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Ảnh: Hoàng Hà

Câu hỏi Cuộc thi tìm hiểu “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

Câu 1: Bạn hãy cho biết bối cảnh tình hình diễn ra cuộc tập kích đường không chiến lược chủ yếu bằng B -52 của đế quốc Mỹ vào miền Bắc nước ta cuối tháng 12 năm 1972?

Câu 2: Câu nói: “Dù đế quốc Mỹ có lắm súng nhiều tiền, dù chúng có B -57, B-52 hay “Bê” gì đi chăng nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng” được Bác Hồ nói ở đâu? Trong hoàn cảnh nào? Bạn cho biết ý nghĩa của câu nói đó?

Câu 3: Bạn cho biết diễn biến, kết quả, nguyên nhân dẫn đến chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” của quân và dân ta cuối tháng 12 năm 1972?

Câu 4: Bạn hãy cho biết ý nghĩa của chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12 năm 1972?

Câu 5: Thế hệ trẻ hôm nay phải làm gì để giữ vững và phát huy tinh thần chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa?

qdnd.vn

Người Hà Nội “đối mặt” với B52

QĐND Online-Tại cuộc tọa đàm “Năm 1972-Tư liệu và ký ức của người Hà Nội và chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ” tổ chức chiều 8-11, tại Trung tâm văn hóa Pháp, Hà Nội, những hình ảnh về cuộc sống của người dân Hà Nội trong 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không đã được tái hiện lại qua lời kể của các nhân chứng lịch sử.

Nhà báo Pháp ngữ Huyền Mermet trao đổi với ông Phùng Tửu Bôi (nhân chứng lịch sử) về những sự kiện diễn ra trong 12 ngày đêm Mỹ ném bom.

Theo ông Phùng Tửu Bôi, một nhân chứng lịch sử đã sống và làm việc trong 12 ngày đêm Hà Nội bị B52 rải thảm thì tình đoàn kết, gắn bó của người dân Hà Nội là điều đáng quý trọng trong những khoảnh khắc khắc nghiệt này. Ông Bôi cũng cho biết thêm, trong những ngày chiến tranh, đặc biệt là trong chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, hầm trú ẩn là thứ không thể thiếu được trong mỗi gia đình ở Hà Nội.

Tháng 12-1972, khi đế quốc Mỹ cho hàng loạt B52 ném bom rải thảm xuống Hà Nội, hàng chục vạn dân đã phải đi sơ tán. Những người còn ở lại Hà Nội đã sống và chiến đấu anh dũng trước sự tàn phá tàn bạo của quân địch. Mặc dù có những mất mát, hy sinh nhưng theo nhiều nhân chứng lịch sử có mặt tại buổi tọa đàm, người dân Hà Nội vẫn không hề nao núng.

Những bức ảnh về Hà Nội những ngày Mỹ ném bom được trưng bày tại Trung tâm văn hóa Pháp.

Cũng tại buổi tọa đàm, hai nhà báo Pháp ngữ Huyền Mermet và Đặng Đức Tuệ đã giới thiệu cuốn sách “Điện Biên Phủ nhìn từ phía đối diện” sắp được xuất bản. Đây là công trình nghiên cứu hơn 2 năm với những tìm hiểu xung quanh cuộc sống của người dân Hà Nội và miền Bắc thông qua khoảng 100 nhân chứng trong chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, đặc biệt trong 12 ngày đêm Mỹ ném bom.

Tọa đàm “Năm 1972-Tư liệu và ký ức của người Hà Nội và chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ” đã đem lại một cái nhìn đa chiều về cuộc sống của người dân Hà Nội trong 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không (18-12-1972/29-12-1972).

Tin, ảnh: THỦY PHONG
qdnd.vn

“Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” và những con số (phần cuối)

QĐND Online – Vượt lên những mất mát, đau thương, quân và dân Hà Nội, nòng cốt là Bộ đội Phòng không-Không quân đã đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của đế quốc Mỹ, làm nên một trận “Điện Biên Phủ trên không” sáng chói…

Phần cuối: Con số của ý chí quyết chiến, quyết thắng

34 “siêu pháo đài bay” B-52 bị tiêu diệt

Với sức mạnh tổng hợp của thế trận phòng không nhân dân, sau 12 ngày đêm (từ 18 đến 29-12-1972) chiến đấu ngoan cường, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay của Mỹ, trong đó có 34 máy bay B-52 (16 chiếc rơi tại chỗ), 5 chiếc F-111 (2 chiếc rơi tại chỗ) và 42 máy bay chiến thuật các loại.

81 máy bay Mỹ, trong đó có 34 máy bay B-52 đã bị tiêu diệt trong Chiến dịch 12 ngày đêm tháng 12-1972. Ảnh: Hoàng Hà

Trong số 34 máy bay B-52 bị tiêu diệt, Bộ đội Tên lửa bắn rơi 29 chiếc; Bộ đội Không quân bắn rơi 2 chiếc; Bộ đội pháo phòng không 100mm bắn rơi 3 chiếc.

8 chiếc B-52 bị “hạ gục” trong một đêm

Thành tích xuất sắc đó được ghi dấu trong đêm 26-12-1972, đêm thứ 9 của Chiến dịch.

Chiều 26-12, Quân chủng PK-KQ nhận được thông báo của Bộ Tổng tham mưu: “Từ 18 giờ đến 23 giờ có hoạt động của B-52”. Trực ban trưởng tại Sở chỉ huy Quân chủng phát lệnh cho toàn Quân chủng vào cấp 1 lúc 17 giờ 35 phút.

Vào lúc 21 giờ 35 phút, Tiểu đoàn 78 (Trung đoàn 257, Sư đoàn 361) đã phóng những quả đạn đầu tiên vào các tốp B-52 của địch. Đạn được điều khiển tốt, nổ đúng thời cơ, thiêu cháy một B-52, rơi xuống xã Định Công, Hoàng Mai, Hà Nội.

Bộ đội Tên lửa chuẩn bị chiến đấu trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”. Ảnh tư liệu.

Tiếp đó, vào 22 giờ 27 phút, Tiểu đoàn 86 (Trung đoàn 274, Sư đoàn 361) bắn cháy một B-52 (rơi xa); 22 giờ 30 phút, Tiểu đoàn 76 (Trung đoàn 257, Sư đoàn 361) bắn một B-52 rơi tại chỗ xuống Tương Mai, Hai Bà Trưng, Hà Nội; 22 giờ 33 phút, Tiểu đoàn 93 (Trung đoàn 261, Sư đoàn 361) bắn một B-52 rơi tiếp xuống Đèo Khế, Tuyên Quang; 22 giờ 47 phút, Tiểu đoàn 79 (Trung đoàn 257, Sư đoàn 361) bằng một quả đạn đã diệt gọn một B-52, rơi xuống địa phận Sơn La.

Trong đêm 26-12, Trung đoàn pháo 100mm của Quân khu Việt Bắc cũng bắn rơi một B-52 (lần thứ hai trong Chiến dịch bắn rơi B-52).

Tại Hải Phòng, mặc dù bị máy bay chiến thuật của hải quân Mỹ gây nhiễu, phóng sơ-rai liên tục nhưng Tiểu đoàn tên lửa 81 (Trung đoàn…., Sư đoàn 363) đã vận dụng tốt phương pháp điều khiển và chế độ bám sát, tiêu diệt một máy bay B-51. Đại đội 174 pháo 100mm của Trung đoàn pháo phòng không 252 cũng đã bắn rơi một B-52 lúc 22 giờ 24 phút.

“Quán quân” diệt B-52

Ngôi vị “quán quân” diệt B-52 thuộc về Trung đoàn 261, với thành tích hạ gục 12 chiếc (7 chiếc rơi tại chỗ). Tuy nhiên, nếu tính thành tích “bắn rơi tại chỗ”, thì ngôi vị “quán quân” lại thuộc về Trung đoàn 257, với 11 lần hạ gục B-52, trong đó 8 chiếc rơi tại chỗ.

Đại diện các kíp chiến đấu của Sư đoàn 361 đã tiêu diệt 25 máy bay B-52 trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”. Ảnh: Hoàng Hà

“Quán quân” bắn rơi B-52 ở cấp tiểu đoàn thuộc về Tiểu đoàn 57 (Trung đoàn 261) và Tiểu đoàn 77 (Trung đoàn 257), cùng bắn rơi 4 chiếc.

Trong khi đó, xét thành thích “bắn rơi tại chỗ” B-52, Tiểu đoàn 77 (Trung đoàn 257) tiếp tục ở vị trí “quán quân” cùng với Tiểu đoàn 93 (Trung đoàn 261), khi cùng bắn rơi tại chỗ 3 máy bay B-52.

PHẠM HOÀNG HÀ
qdnd.vn

—————————-

“Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” và những con số (phần 1)

Hỏa lực tập trung một hướng

QĐND – Tháng 7-1972, Trung đoàn Pháo phòng không 244 (Sư đoàn 361, Quân chủng Phòng không – Không quân) được thành lập. Đến giữa tháng 12-1972, trung đoàn chuẩn bị hành quân vào miền Nam làm nhiệm vụ thì được lệnh ở lại bảo vệ thủ đô Hà Nội.

Là đơn vị mới thành lập, nên cán bộ, chiến sĩ toàn trung đoàn xác định quyết tâm rất cao, tích cực huấn luyện để lập công. Bước vào chiến dịch phòng không tháng 12-1972, ngay từ trận đánh đầu tiên, hướng chính của trung đoàn xuất hiện đối tượng máy bay mới F-111. Loại máy bay này có tính năng bay thấp đánh đêm, nên trận đầu trung đoàn không phát hiện được mục tiêu, để máy bay F-111 vượt qua đầu vào đánh phá trận địa tên lửa và các mục tiêu khác làm phân tán hỏa lực của ta, tạo cơ hội cho máy bay B-52 đánh phá. Lãnh đạo, chỉ huy trung đoàn vừa làm công tác tư tưởng cho bộ đội, vừa tổ chức phát huy dân chủ quân sự tìm ra cách đánh để tiêu diệt máy bay F-111. Sau khi thu thập ý kiến, trung đoàn thống nhất phương án tập trung hỏa lực vào một hướng. Máy bay F-111 bay đêm, bay thấp với tốc độ lớn ắt phải bám sát vào cái gì làm vật chuẩn. Cụ thể hướng chính của trung đoàn là trục đường 6, để phát hiện sớm, trung đoàn cần bố trí một tổ trinh sát xa trên trục đường 6, có đem theo điện đài. Khi nghe tiếng động cơ, tổ trinh sát phán đoán đường bay của địch mà báo về bằng tín hiệu nhanh nhất. Vì vậy, trung đoàn phải tổ chức canh trực điện đài ở sở chỉ huy các cấp để nhận thông báo, đồng thời tính toán, xác định khu vực thực hành dựng màn đạn tập trung hỏa lực. Bên cạnh đó, trung đoàn tận dụng thông báo ngược của các đại đội ra-đa, sử dụng các khí tài để bổ trợ và dùng phương pháp bắn khác trong điều kiện cho phép.

Bộ đội pháo cao xạ chuẩn bị đạn cho trận đánh mới. Ảnh tư liệu.

Bắt tay thực hiện kế hoạch, dưới ánh đèn dầu trong đêm, các cơ quan cặm cụi chuẩn bị tính toán thời gian tổ trinh sát thông báo về, thời gian đơn vị chuẩn bị tiến hành xạ kích, thời gian máy bay bay vào và thời gian đạn bay. Trên cơ sở tính toán, trung đoàn xác định vị trí tổ trinh sát cho phù hợp với vị trí đón bắn, phần tử bắn cho các trận địa ở từng đường bay, quy định tổ chức trực ban ở các cấp và trận địa, chọn người cho tổ trinh sát xa, máy móc thông tin. Mọi công tác chuẩn bị xong, đơn vị bước vào tư thế sẵn sàng chiến đấu. Đêm 20-12-1972, Trung đoàn 244 và các trận địa nhận được thông báo máy bay đã bay tới điểm trên đầu tổ trinh sát, theo phương án đã xác định, toàn đơn vị nổ súng vào một hướng và đã tiêu diệt chiếc máy bay F-111 của không quân Mỹ. Đây là chiến công đầu tiên của Trung đoàn 244 sau 5 tháng thành lập. Những trận đánh sau đó, trung đoàn tiếp tục lập công nhờ áp dụng phương án hỏa lực tập trung một hướng như trên.

NGUYỄN CHÍ HÒA
qdnd.vn

“Pháo đài bay” B-52 và SAM-2 “nối tầng” (phần II)

Nối tầng SAM-2 có cần thiết và khả thi?

QĐND Online – Theo các thông số được cung cấp chính thức, tổ hợp tên lửa SAM-2 có tầm vươn cao tới 27km và tầm bắn tới 35km. Với thông số này, SAM-2 thừa sức bắn được B-52 mà không cần cải tiến gì thêm. Tuy nhiên, bắn B-52 không hề đơn giản bởi….nhiễu chủ động và thụ động do bản thân máy bay ném bom chiến lược này và phi đội hộ tống phát ra. Ngoài ra, Bộ đội Tên lửa Việt Nam còn phải đối phó với tên lửa chống ra-đa Sơ-rai do không quân chiến thuật Mỹ phóng để áp chế hệ thống phòng không.

SAM-2 là một trong những khí tài quân sự hiện đại mà Bộ đội Tên lửa đã làm chủ trong thực tiễn chiến đấu ác liệt.

Thực tế, ngày 1-5-1960, tổ hợp SAM-2 thế hệ đầu tiên sử dụng đạn tên lửa 1D đã bắn hạ một máy bay trinh sát tầm cao U-2 của không quân Mỹ ở tỉnh Sverdlovsk khi nó đang bay ở độ cao 20km. Viên phi công điều khiển chiếc U-2 nói trên là Francis Gary Powers đã buộc phải nhảy dù và bị bắt giữ.

Tiếp đó, đạn tên lửa trong tổ hợp SAM-2 là tổng thành của nhiều yếu tố như: Cơ khí chính xác, khí động học, điều khiển điện tử… Toàn bộ các thành phần của đạn đều đã được tính toán và thử nghiệm đảm bảo cho khả năng hoạt động tối ưu và chính xác. Việc can thiệp vào phần cứng của đạn sẽ làm thay đổi trọng tâm, hình dáng khí động và thuật điều khiển của đạn. Ngoài ra, để đạn tên lửa “cải tiến” hoạt động được cần thay đổi cả giá phóng, thiết bị điện tử điều khiển và thậm chí là cả thuật phóng. Từ những thông tin trên có thể thấy, việc nối tầng tên lửa SAM-2 thực hiện ở Việt Nam giai đoạn những năm 1960, 1970 là không khả thi (toàn bộ các tổ hợp tên lửa phòng không đều là hàng viện trợ hoặc nhập từ nước ngoài).

Sức mạnh của PK-KQ Việt Nam là dám đương đầu, dù có phải hy sinh. Đó là một trong những điểm sáng về tinh thân yêu nước, anh hùng cách mạng.

Có thể đây chỉ là phương thức nghi binh của ta làm địch không phát hiện được những sáng tạo trong cách đánh, chiến thuật vốn là thế mạnh của người Việt Nam.

Những thay đổi được ghi nhận trên tổ hợp SAM-2 là việc các nhà khoa học Việt Nam phối hợp với chuyên gia Xô viết thay đổi tần số điều khiển rãnh đạn giúp đạn tên lửa khó bị gây nhiễu bởi các thiết bị đối kháng điện tử chủ động và thụ động (trong giai đoạn 1965-1972, chuyên gia ta phối hợp với kỹ sư Liên Xô đã 5 lần thay đổi tần số rãnh đạn).

Phương pháp bắn ba điểm – sáng tạo sử dụng vượt tính năng khí tài của người Việt Nam

Thông qua thực tế chiến đấu, Bộ đội Tên lửa Việt Nam đã đúc kết được nhiều bài học kinh nghiệm để đối phó với màn nhiễu của không quân quân Mỹ và phương pháp vạch nhiễu tìm thù, lấy điểm yếu của địch làm lợi thế của ta.

Hình ảnh mô phỏng về phương thức Bắn ba điểm.

Về căn bản, phương pháp bắn 3 điểm là hình thức cải tiến của phương thức bắn Vượt nửa góc với việc bỏ chế độ dẫn tự động sang dẫn đạn tên lửa bằng tay bám theo nguồn nhiễu do trắc thủ trực tiếp thực hiện. Khi tới cự ly tiêu chuẩn, đạn tên lửa sẽ đươc kích hoạt đầu do tự thân để tìm kiếm, khóa và tiêu diệt mục tiêu. Điểm khó của phương thức này là việc vạch nhiễu, xác định đúng đâu là nguồn nhiễu của máy bay B-52 và đâu là nhiễu do máy bay chiến thuật tạo ra.

Trong 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”, Bộ đội Tên lửa đã lợi dụng đài ra-đa K8-60 của pháo phòng không 57mm quét tập trung để xác định chính xác các tốp B-52 (không quân Mỹ không để ý tới tần số phát của đài ra-đa dạng này với chủ quan rằng chúng không có khả năng gây hại tới B-52) cung cấp thông tin cho đài ra-đa dẫn bắn Fan Song (một thành phần của tổ hợp SAM-2) để dẫn bắn trúng vào các tốp B-52 của địch khi tần số ra-đa của tổ hợp tên lửa SAM-2 bị gây nhiễu nặng. Ngoài ra, đài ra-đa Fan Song được trang bị hệ thống kính tiềm vọng TZK- tổ hợp PA-00 (chuồng cu – cách gọi nôm na của Bộ đội Tên lửa) cung cấp thông tin đồng bộ với hệ thống quan sát bằng ra-đa (phương thức so kim) cho phép SAM-2 khai hỏa vào mục tiêu trong điều kiện nhiễu nặng, không thể xác định được mục tiêu. Theo lời nhiều trắc thủ đã trực tiếp chiến đấu đánh B-52 trong chiến dịch 12 ngày đêm, tổ hợp PA-00 với tầm quan sát chỉ 12km, nhưng do không thể bị gây nhiễu (quan sát trực tiếp bằng mắt) đã đóng góp rất lớn vào việc “vắt cổ” những “Pháo đài bay bất khả xâm phạm” của Mỹ.

Nhiều phi công Mỹ ngạc nhiên không hiểu vì sao SAM-2 “lạc hậu” trong tay Bộ đội Tên lửa Việt Nam lại làm lên điều thần kỳ là vặt cổ Pháo đài bay bất khả xâm phạm B-52.

Cùng với sự sáng tạo, tài tình trong chiến thuật và cách đánh của Bộ đội Tên lửa ta trong 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”, cũng không thể không kể tới những sai lầm tính hệ thống của không quân Mỹ như: Các tốp B-52 sử dụng đường bay ổn định ở độ cao 10km để ném bom; áp dụng cứng nhắc biện pháp B-52 ngoặt gấp sau khi ném bom (phương thức áp dụng với các vụ ném bom hạt nhân, máy bay cần nhanh chóng thoát ly tránh ảnh hưởng của vụ nổ) làm máy bay bị bộc lộ vị trí trên màn hình ra-đa của ta.

TUẤN SƠN
qdnd.vn

Phần I