Thư viện

Những kỷ niệm không quên của đoàn làm phim “Hà Nội 12 ngày đêm”

QĐND – Chiều12-12, tại Sư đoàn Không quân 371, các nghệ sĩ, diễn viên điện ảnh đoàn làm phim “Hà Nội 12 ngày đêm”, phim tài liệu “Ký ức một thời” đã có buổi giao lưu với cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn. Đây là hoạt động mở màn trong chuỗi các hoạt động văn hóa, nghệ thuật kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” được Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch, Cục Điện ảnh phối hợp với các đơn vị quân đội tổ chức.

Đoàn làm phim “Hà Nội 12 ngày đêm” giao lưu với cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 371

Trong không khí ấm áp, các nghệ sĩ, diễn viên đã chia sẻ những kỷ niệm, cảm xúc của đoàn làm phim, đặc biệt là chọn bối cảnh phim và diễn xuất để dàn dựng những bộ phim miêu tả lại cuộc chiến 12 ngày đêm của cán bộ, chiến sĩ Quân chủng PK-KQ và Sư đoàn 371 một cách chính xác và sinh động, xây dựng nên một bộ phim mang biểu tượng của ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc, của bản lĩnh, trí tuệ và nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Tin, ảnh: VƯƠNG HÀ
qdnd.vn

Bệ phóng tên lửa diệt B-52

Hiện vật biết nói

QĐND – Tham quan khu lưu niệm của Trung đoàn 261 (Sư đoàn 367, Quân chủng Phòng không-Không quân), chúng tôi đặc biệt quan tâm tới một bệ phóng tên lửa được trưng bày ở vị trí trang trọng. Thượng tá Lê Thành Đức, Chính ủy Trung đoàn 261 giới thiệu: “Đây là bệ phóng tên lửa của Tiểu đoàn 57 đã lập nên kỳ tích phóng 2 quả tên lửa tiêu diệt 2 pháo đài bay B-52 trong thời gian 10 phút”.

Bệ phóng tên lửa của Tiểu đoàn 57 năm xưa.

Đêm thứ 4 trong chiến dịch oanh tạc Hà Nội, sau 2 đợt ném bom một số khu vực trên địa bàn Thủ đô, rạng sáng 21-12-1972, một tốp máy bay B-52 của đế quốc Mỹ tiếp tục xuất kích “rải thảm” khu vực Yên Viên. Tiểu đoàn 57 thuộc Trung đoàn 261 được lệnh tiếp tục bám sát mục tiêu nhưng số lượng đạn quá ít, chỉ còn lại 3 quả. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt trực tiếp chỉ huy kíp chiến đấu gồm một sĩ quan điều khiển và 3 trắc thủ xác định quyết tâm không để đạn phóng đi uổng phí. Tốp B-52 đầu tiên vào đến cự ly 35km trong tầm sát thương, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt hạ lệnh phóng quả đạn thứ nhất nhưng đèn tín hiệu báo trục trặc kỹ thuật bật sáng, đạn không thể rời bệ phóng. Lập tức anh hạ lệnh nhấn nút hoàn lại quả thứ nhất rồi hạ lệnh tiếp tục phóng quả thứ 2. Kíp trắc thủ gấp rút thao tác, căng mắt bám sát dải nhiễu, khéo léo điều chỉnh tên lửa chính xác mục tiêu. Một cột khói bốc cao, ánh lửa bùng lên dữ dội. Chiến sĩ quan sát báo cáo, chiếc B-52 cháy ở cự ly 25km, vào lúc 5 giờ 9 phút.

Thừa thắng xông lên, kíp trắc thủ tiếp tục nhận lệnh tiêu diệt chiếc B-52 trong tốp thứ 2. Chỉ còn quả đạn duy nhất, không thể phóng trượt, cả kíp trắc thủ hết sức thận trọng, mọi thao tác diễn ra nhanh chóng, chuẩn xác; công tác hiệp đồng ăn khớp, bám đúng dải nhiễu B-52. Đợi cho chúng bay vào cự ly sát thương hiệu quả, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt hạ lệnh phóng nốt quả đạn còn lại. Mặc dù trên màn hiện sóng, các dải nhiễu liên tục biến đổi nhưng kíp trắc thủ vẫn bình tĩnh vận dụng mọi kiến thức, kinh nghiệm, phân tích dải nhiễu, bám tín hiệu mục tiêu máy bay B-52, điều khiển đạn đi trúng đích. Đạn nổ ở cự ly 24km làm tan xác thêm một chiếc B-52, rơi xuống địa phận núi Đôi (Sóc Sơn ngày nay). Thời gian lúc đó là 5 giờ 19 phút.

Như vậy, chỉ trong vòng 10 phút, bằng 2 quả đạn, kíp trắc thủ của Tiểu đoàn 57 đã bắn rơi tại chỗ 2 pháo đài bay B-52 của đế quốc Mỹ, đạt hiệu suất chiến đấu 300%, lập kỷ lục cho bộ đội tên lửa.

Bài và ảnh: HOÀNG THÀNH
qdnd.vn

S-300 chuyển cấp “đánh địch” đột nhập đường không

QĐND Online – Về Sư đoàn 361 (Quân chủng PK-KQ), đơn vị chủ công đánh B-52 trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” vào những ngày tháng 11, chúng tôi được chứng kiến khí thế luyện tập sôi nổi của các chiến sĩ tên lửa hôm nay. Tại Đoàn Tên lửa phòng không 64, ngay sau khi Sở chỉ huy Đoàn chuyển đơn vị vào cấp 1, tiếng chân người chạy rầm rập, tiếng máy các loại xe tác chiến gầm vang, báo hiệu “trận đánh” của tên lửa S-300 sắp bắt đầu…

“Khắc tinh” của “giặc trời”

Ngay sau khi nhận lệnh từ Sở chỉ huy cấp trên, Sở chỉ huy Đoàn Tên lửa phòng không (TLPK) 64 (Sư đoàn 361, Quân chủng PK-KQ) nhanh chóng chuyển toàn đoàn vào cấp 1. Các xe tác chiến nhanh chóng cơ động triển khai chiếm lĩnh các công sự chiến đấu. Công tác triển khai hoàn thành trước chỉ tiêu thời gian cho phép. Các kíp chiến đấu nhanh chóng vận hành triển khai vũ khí trang bị về trạng thái chiến đấu.

Tại vị trí xe điều khiển, theo lệnh của chỉ huy bắn, Thiếu tá Nguyễn Trần Luyện, Phó đoàn trưởng Tham mưu trưởng Đoàn TLPK 64, các thành phần khẩn trương kiểm tra chức năng, đánh giá khả năng sẵn sàng chiến đấu của khí tài. Sau khoảng một phút 30 giây, tham số trên các màn hiện sóng và tín hiệu đèn báo khí tài tốt, sẵn sàng chiến đấu. Giải quạt chiến đấu quay về hướng X; đài ra-đa phát hiện mục tiêu mọi độ cao tiến hành sục sạo phát hiện mục tiêu trong 360 độ; kíp đài điều khiển sục sạo ở hướng được chỉ định.

Xe điều khiển cơ động chiếm lĩnh trận địa. Ảnh: Hoàng Hà

Trên màn hiện sóng, mục tiêu được xác định là máy bay ném bom chiến lược, đang bay ở cự ly 200km, độ cao 10km, tốc độ 250m/s. Trung úy Nguyễn Văn Đạt, Sĩ quan bắt bám sát, cùng các trắc thủ căng mắt quản lý chặt mục tiêu.

Khi mục tiêu vào đến cự ly 160km, Thiếu tá Nguyễn Trần Luyện hạ lệnh phóng! “Quả đạn” bay vút vào không trung. Tại cự ly 148km, đạn gặp mục tiêu. Tín hiệu mục tiêu ngay lập tức bị xóa trên màn hình, khẳng định mục tiêu đã bị tiêu diệt gọn.

Lúc này, gương mặt đẫm mồ hôi của các sĩ quan trên xe điều khiển mới giãn ra.

Đây là một trong nhiều tình huống đánh địch tiến công đường không, bảo vệ mục tiêu của Đoàn TLPK 64. Theo Trung tá Nguyễn Quốc Văn, Đoàn trưởng Đoàn TLPK 64, các tình huống luyện tập được đưa ra đều sát thực tế chiến đấu, sát đặc thù nhiệm vụ của đơn vị nên trình độ cá nhân, khả năng hiệp đồng của các thành phần kíp chiến đấu được nâng lên qua từng bài tập…

“Với vũ khí trang bị hiện có và với trình độ của các kíp chiến đấu, chúng tôi khẳng định có thể đánh thắng vũ khí công nghệ cao của địch trong tác chiến đường không, khi có tình huống xảy ra”, Trung tá Văn khẳng định chắc nịch.

Coi trọng tự đào tạo chuyển loại

Được sự quan tâm của trên, Đoàn TLPK 64 là một trong những đơn vị của Quân chủng PK-KQ được đầu tư các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, đơn cử như tổ hợp tên lửa phòng không S-300. Đây là loại vũ khí có hỏa lực mạnh, độ chính xác và tính chống nhiễu cao, có thể đối chọi có hiệu quả với các loại tên lửa và máy bay hiện đại của đối phương trong chiến tranh công nghệ cao.

Để có thể tiếp thu và làm chủ số khí tài nói trên, các cán bộ của Đoàn có nền tảng kiến thức về khoa học kỹ thuật, có kinh nghiệm thực tiễn phong phú đã được tuyển chọn và đưa đi đào tạo chuyển loại vũ khí, khí tài mới ở nước bạn và được bắn đạn thật nghiệm thu khí tài. Khi về đơn vị, số cán bộ này đã tiến hành tự đào tạo chuyển loại cho sĩ quan, nhân viên chuyên môn kỹ thuật của đơn vị.

Thượng tá Bùi Văn Khỏa, Chính trị viên Đoàn TLPK 64 khẳng định: “Bằng nhiều chủ trương, biện pháp tích cực, nên công tác tự đào tạo chuyển loại khí tài mới là nhiệm vụ đạt kết quả nổi bật của Đoàn trong những năm qua. Đối với sĩ quan mới về đơn vị, sau 3 tháng huấn luyện, đơn vị sẽ tiến hành đánh giá bước đầu; sau 6 tháng phải đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ và sau một năm phải đạt khá trở lên trên cương vị được giao”.

Nhân viên tiêu đồ quản lý chắc các mục tiêu trên không. Ảnh: Hoàng Hà

Bám sát phương châm huấn luyện “Cơ bản, thiết thực, vững chắc”, các kíp chiến đấu của Đoàn TLPK 64 đã được huấn luyện từ đơn giản đến phức tạp, từ cá nhân đến hiệp đồng, từ lý thuyết đến thực hành; huấn luyện “khan” kết hợp nhuần nhuyễn với huấn luyện điện; tập trung huấn luyện các bài bắn cơ bản, đánh mục tiêu trên không, đặc biệt mục tiêu là các loại vũ khí công nghệ cao. Trong huấn luyện thực hiện tốt quan điểm cấp trên dạy cấp dưới, người đã được chuyển loại truyền đạt cho người chưa được chuyển loại.

Cùng với huấn luyện tại chỗ, Đoàn TLPK 64 còn tích cực tham gia huấn luyện diễn tập vòng tổng hợp, huấn luyện đêm…nhằm nâng cao khả năng SSCĐ trong mọi điều kiện thời gian. Tính đến nay, 100% kíp chiến đấu của Đoàn TLPK 64 đều đảm nhiệm tốt nhiệm vụ trực ban SSCĐ.

“Kể từ ngày thành lập đến nay, Đảng bộ Đoàn TLPK 64 luôn đạt TSVM, đơn vị VMTD và là đơn vị huấn luyện giỏi nhiều năm liên tục. Đặc biệt, năm 2012, tham gia diễn tập vòng tổng hợp của Sư đoàn 361, đơn vị được Tư lệnh Quân chủng PK-KQ tặng bằng khen; các lần trực SSCĐ tăng cường đều hoàn thành tốt nhiệm vụ”, Đoàn trưởng Nguyễn Quốc Văn cho biết.

Giữa những ngày cả nước đang hướng tới kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, được hòa mình vào không khí luyện tập của các chiến sĩ tên lửa S-300, chúng tôi thêm tin, thế hệ các chiến sĩ PK-KQ hôm nay, trong đó có bộ đội tên lửa S-300 sẽ tiếp nối xứng đáng truyền thống của lớp cha anh đi trước, luôn cảnh giác cao độ, sẵn sàng chiến đấu thắng lợi, vì sự bình yên của bầu trời Tổ quốc…

HOÀNG HÀ-VIỆT CƯỜNG-VĂN HIẾU
qdnd.vn

Huấn luyện đồng bộ, làm chủ khí tài mới và hiện đại

Sư đoàn 361 (Quân chủng PK-KQ):

QĐND Online – Phát huy thành tích bắn rơi 25 máy bay B-52 trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, những năm qua, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 361 (Quân chủng PK-KQ) tiếp tục đẩy mạnh huấn luyện, làm chủ vũ khí, khí tài mới, quản lý vững chắc vùng trời được phân công. Phóng viên Báo QĐND Online đã có cuộc trao đổi với Đại tá Phan Anh Dũng, Phó Sư đoàn trưởng Sư đoàn 361 về nội dung này…

Phóng viên (PV): Thưa Đại tá Phan Anh Dũng, để đảm bảo huấn luyện đạt kết quả tốt, trước hết đơn vị chú trọng nội dung nào?

Đại tá Phan Anh Dũng

Đại tá Phan Anh Dũng: Phải khẳng định, được bảo vệ bầu trời Thủ đô Hà Nội là niềm vinh dự, tự hào của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 361. Chính vì thế, trong những năm qua, Sư đoàn luôn hoàn thành nhiệm vụ SSCĐ, tham gia quản lý vùng trời. Để có được kết quả đó, công tác huấn luyện luôn giữ vai trò quan trọng.

Đảng ủy, chỉ huy các cấp trong toàn sư đoàn đã tổ chức quán triệt nghiêm túc nghị quyết của cấp trên về công tác huấn luyện, chỉ thị công tác quân sự của Tư lệnh Quân chủng PK-KQ. Ngay từ đầu năm, các cấp có nghị quyết chuyên đề lãnh đạo công tác huấn luyện chiến đấu. Từ đó, chỉ huy các cấp chủ động soạn thảo các kế hoạch huấn luyện chiến đấu sát với nhiệm vụ, biên chế tổ chức của từng đơn vị. Chính vì vậy, kế hoạch huấn luyện chiến đấu luôn có tính khả thi cao và sát với yêu cầu thực tế trong SSCĐ, quản lý vùng trời của sư đoàn.

Để huấn luyện đạt kết quả tốt, Sư đoàn 361 xác định phải làm tốt công tác chuẩn bị. Chính vì vậy, ngay từ đầu năm, các đơn vị tập trung rà soát, đánh giá chất lượng công tác huấn luyện của năm trước, từ đó đặt ra yêu cầu, biện pháp trong công tác chuẩn bị huấn luyện. Trong giai đoạn này, chúng tôi tập trung tập huấn cho đội ngũ cán bộ các nội dung về tham mưu, hậu cần, kỹ thuật và hoạt động Công tác Đảng, Công tác chính trị trong huấn luyện; chuẩn bị tốt bãi tập, đồ dùng, sơ đồ, tranh vẽ; tổ chức các lớp hội thi, hội thao…từ đó rút kinh nghiệm, chỉ ra những mặt đã làm được, những nội dung còn tồn tại trong giai đoạn chuẩn bị huấn luyện, để đề ra biện pháp khắc phục để khi bước vào huấn luyện đạt kết quả cao.

PV: Trong huấn luyện, đâu là nội dung then chốt, thưa đồng chí?

Đại tá Phan Anh Dũng: Trong quá trình huấn luyện, yêu cầu trước hết là phải đảm bảo chặt chẽ, nghiêm túc, đúng theo kế hoạch đã được phê duyệt. Muốn vậy, các cấp phải thực hiện đúng quy trình huấn luyện, từ soạn, thục luyện, thông qua giáo án đến giảng dạy.

Nội dung trọng tâm đơn vị xác định là huấn luyện cán bộ, đảm bảo cán bộ vừa là người tổ chức, điều hành công tác huấn luyện của đơn vị mình, vừa là người giảng dạy, huấn luyện cấp dưới thuộc quyền. Vì vậy, cần phải huấn luyện cho cán bộ nắm được chỉ tiêu công tác huấn luyện của đơn vị mình và của bản thân mình; nắm chắc âm mưu thủ đoạn của địch và phương thức tác chiến của đối phương, nhất là thực tế những cuộc chiến tranh gần đây cho thấy, địch luôn áp dụng vũ khí công nghệ cao; nắm chắc tính năng kỹ, chiến thuật của vũ khí, khí tài đơn vị được trang bị…Với kiến thức đó, cán bộ sẽ xây dựng được nội dung huấn luyện sát với yêu cầu nhiệm vụ, từ bố trí đội hình, sử dụng lực lượng, sử dụng hỏa lực đánh trả và xử lý các tình huống khác.

PV: Để nâng cao chất lượng và đánh giá đúng kết quả huấn luyện, đơn vị đã có những biện pháp gì?

Đại tá Phan Anh Dũng: Chúng tôi luôn chú trọng công tác kiểm tra huấn luyện, với quan điểm cụ thể, thực chất, thông qua hình thức kiểm tra thường xuyên hoặc đột xuất. Qua kiểm tra sẽ phát hiện những điểm mạnh, những nhân tố điển hình để nhân rộng, cũng như tìm ra những tồn tại để kịp thời chấn chỉnh, khắc phục.

Cùng với đó, sư đoàn đã tổ chức tốt các đợt diễn tập, tham gia hội thi, hội thao, qua đó đánh giá công tác tổ chức điều hành của đội ngũ cán bộ; nhìn nhận thực chất kết quả huấn luyện; đồng thời còn nâng cao bản lĩnh cho cán bộ, chiến sĩ…Qua diễn tập, hội thi, hội thao, kịp thời bổ sung kế hoạch huấn luyện, để bộ đội nắm, thao tác, sử dụng thành thạo vũ khí, khí tài.

Với những biện pháp đồng bộ, quyết liệt, năm 2012, Sư đoàn 361 đã hoàn thành kế hoạch huấn luyện, đạt Đơn vị huấn luyện giỏi.

Xe điều khiển của Đoàn tên lửa phòng không 64 huấn luyện bắt, bám sát mục tiêu bằng khí tài tên lửa S-300

PV: Được trang bị các loại vũ khí mới, hiện đại, đơn cử như tổ hợp tên lửa phòng không S-300, Sư đoàn 361 làm gì để quản lý và khai thác hiệu quả, thưa đồng chí?

Đại tá Phan Anh Dũng: Nhằm góp phần xây dựng Quân đội, Quân chủng PK-KQ chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, Sư đoàn 361 đã được trang bị nhiều loại vũ khí, khí tài cải tiến; vũ khí khí tài mới, hiện đại. Làm chủ được các loại vũ khí, khí tài nói trên là nhiệm vụ quan trọng, bởi chỉ có như vậy mới nâng cao được khả năng SSCĐ. Thực hiện nhiệm vụ này, sư đoàn đã tập trung thực hiện quyết liệt, đồng bộ nhiều giải pháp như: Lựa chọn những cán bộ được đào tạo cơ bản ở các nhà trường, có kinh nghiệm thực tiễn, có nền tảng kiến thức về khoa học kỹ thuật, đưa đi đào tạo chuyển loại vũ khí, khí tài mới. Sau khi huấn luyện chuyển loại, đơn vị đã tổ chức huấn luyện bắn đạn thật nghiệm thu khí tài, để bộ đội tin tưởng vào vũ khí trang bị. Cùng với đó, để huấn luyện trên khí tài mới đạt kết quả tốt, đơn vị xác định phải đảm bảo tốt hệ số kỹ thuật của vũ khí, khí tài. Do đó, các đơn vị duy trì tốt nền nếp, chế độ công tác kỹ thuật; trang bị cho đội ngũ chỉ huy, kỹ sư, nhân viên kỹ thuật có đủ trình độ khai thác, bảo quản, bảo dưỡng; duy trì nghiêm công tác bảo quản ngày, tuần.

Trong huấn luyện, sư đoàn tập trung đào tạo cho cán bộ chỉ huy và cơ quan có đủ khả năng giúp đỡ, huấn luyện trực tiếp các kíp chiến đấu, các phân đội có khí tài mới.

Kíp chiến đấu được huấn luyện từ đơn giản đến phức tạp, từ cá nhân đến hiệp đồng, từ lý thuyết đến thực hành, nên bộ đội nắm được chức trách, từ đó thao tác, kiểm tra, hiệp đồng chặt chẽ, đúng quy trình, bảo đảm an toàn. Trong huấn luyện kíp chiến đấu, tập trung huấn luyện các bài bắn cơ bản, đánh mục tiêu trên không, đặc biệt mục tiêu là các loại vũ khí công nghệ cao.

Ngoài ra, để nâng cao khả năng khai thác, làm chủ khí tài mới, đơn vị đã tổ chức huấn luyện diễn tập chiến thuật cho các phân đội, huấn luyện cơ động nhanh, huấn luyện đêm. Kết quả huấn luyện thời gian qua đã khẳng định: Các đơn vị đã làm chủ được vũ khí, tài mới, tổ chức trực ban SSCĐ tốt, sẵn sàng đối phó có hiệu quả với các tình huống xảy ra, bảo vệ vững chắc vùng trời được phân công quản lý, không để Tổ quốc bị bất ngờ vì các tình huống trên không.

PV: Xin cảm ơn đồng chí

PHẠM HOÀNG HÀ (thực hiện)
qdnd.vn

Đường đến “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

QĐND – Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” thể hiện truyền thống càng đánh càng mạnh của quân đội ta trong quá trình vừa xây dựng, vừa chiến đấu, đánh bại chiến tranh công nghệ, chiến tranh điện tử quy mô lớn của Mỹ. Trước hết, đó là kỳ tích về chiến đấu và lao động của từng chiến sĩ phòng không-không quân (PK-KQ) trực tiếp đối đầu với địch ở cấp chiến thuật, nhất là các kíp chiến đấu của các tiểu đoàn hỏa lực và các cán bộ kỹ thuật đã dũng cảm, sáng tạo từng bước đánh bại tất cả các thủ đoạn tinh vi của không quân Mỹ…

“Bửu bối” B-52?

Đầu năm 1972, để hỗ trợ cho quân ngụy đang thua ở Quảng Trị và để gây sức ép với ta trong bế tắc ở Hòa đàm Pa-ri, Mỹ đã mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân lần thứ 2 đánh phá miền Bắc Việt Nam.

Lần đầu tiên Mỹ đã dùng B-52 leo thang đánh rộng ra từ Quảng Bình, Vinh, Thanh Hóa đến Hải Phòng và uy hiếp thủ đô Hà Nội. Bộ đội Tên lửa Hải Phòng bắn nhiều đạn, nhưng B-52 không rơi.

Lầu Năm góc vội chủ quan, tuyên bố: “Bằng kỹ thuật điện tử hiện đại, không lực Hoa Kỳ đã bịt mắt được toàn bộ hệ thống phòng không Bắc Việt. Giờ đây B-52 có thể ném bom vào bất cứ mục tiêu nào trên lãnh thổ miền Bắc, B-52 là bất khả xâm phạm”.

Bộ đội Phòng không băn khoăn lo lắng về thủ đoạn mới của địch và khả năng đánh trả của ta, trăn trở với nhận định của Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng: “Khả năng sớm muộn gì Mỹ sẽ sử dụng B-52 đánh lớn vào Hà Nội để gây sức ép với ta, đang trở thành hiện thực”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp thông qua cách đánh B-52. Ảnh tư liệu.

Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng PK-KQ quán triệt quyết tâm của Bác Hồ năm xưa: “Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền. Dù chúng có B-57, B-52, hay “bê” gì đi chăng nữa, ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng”, phát động cuộc thi mới: “Quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, đi sâu nghiên cứu địch, thực hiện lời Bác dạy”.

Tư lệnh Phòng không Lê Văn Tri giao cho Bộ Tham mưu, trực tiếp là tôi, bấy giờ là Tham mưu phó phụ trách nghiên cứu và huấn luyện chuyên về tên lửa: “Đồng chí hãy tập hợp anh em có trình độ chuyên môn và có quyết tâm cao, để nghiên cứu xây dựng tài liệu về cách đánh B-52 của tên lửa, càng sớm càng tốt”.

Tôi rất lo lắng, vì nhiệm vụ này không dễ dàng gì. Là một trong ba con át chủ bài về phương tiện tấn công chiến lược của Mỹ, B-52 là loại máy bay ném bom hiện đại nhất, thường bay ở độ cao trên 10.000m, mỗi chiếc có thể mang đến 30 tấn bom, được trang bị đến 15 máy gây nhiễu các loại và được bảo vệ chặt chẽ.

Đường đến “Điện Biên Phủ trên không”

Tôi còn nhớ ngay từ năm 1962, Bác Hồ đã chỉ thị cho đồng chí Phùng Thế Tài, lúc đó là Tư lệnh Quân chủng Phòng không, cần quan tâm đầu tư nghiên cứu loại máy bay này để không bị bất ngờ.

Vào đầu năm 1966, khi Mỹ lần đầu tiên dùng B-52 đánh ra đèo Mụ Giạ (Quảng Bình), Bác đã giao nhiệm vụ cho đồng chí Đặng Tính, Chính ủy Bộ đội PK-KQ: Đã đến lúc phòng không phải tìm cách đánh B-52. Chấp hành chỉ thị của Bác, Trung đoàn 238 – trung đoàn tên lửa thứ 2 mới ra quân đã được đưa vào khu vực Vĩnh Linh để nghiên cứu quyết đánh B-52. Bộ Tham mưu quân chủng đã cử một số cán bộ tác chiến, quân báo, đội trinh sát nhiễu, dưới sự lãnh đạo của Phó tư lệnh Hoàng Văn Khánh, vào Vĩnh Linh để cùng Trung đoàn 238 nghiên cứu nhiễu của địch và tìm cách đánh B-52.

Kết quả, ngày 17-9-1967, Trung đoàn 238 đã bắn rơi chiếc B-52 đầu tiên trên miền Bắc nước ta.

Vào năm 1969, từ những kinh nghiệm, Trung đoàn 238 đã hình thành tài liệu đánh B-52 đầu tiên của tên lửa nhưng do điều kiện lúc đó nên tài liệu còn sơ khai, cần phải bổ sung nhiều.

Theo chỉ đạo của Bộ tư lệnh, Bộ Tham mưu chúng tôi đã bắt đầu thành lập ra Ban nghiên cứu biên soạn tài liệu đánh B-52 của tên lửa. Ban biên soạn gồm các cán bộ đầu ngành và cán bộ chủ chốt của Bộ Tham mưu và Trường Sĩ quan Phòng không. Tùy theo chủ đề, chúng tôi tranh thủ sự giúp đỡ của chuyên gia Liên Xô; huy động sự đóng góp của một số cán bộ của Sư đoàn Phòng không Hà Nội, của Viện Khoa học kỹ thuật quân sự Bộ Quốc phòng; tranh thủ ý kiến cả của các cơ quan có liên quan của Bộ Tổng tham mưu; dựa vào tư liệu của Bộ và của chuyên gia Liên Xô, các tài liệu thu được của địch, kể cả khai thác các lời cung của tù binh phi công Mỹ. Nhưng thiết thực hơn, đã nghiên cứu các bản sơ kết, tổng kết kinh nghiệm của cả các trận đánh thành công lẫn thất bại của tên lửa từ khi ra quân đánh máy bay cường kích, ném bom các loại, nhất là B-52… Xuất phát từ những trận đánh B-52 của Trung đoàn 238 tại Vĩnh Linh năm 1966-1967 đến các trận đánh B-52 ở các cửa khẩu 559, Đường 9 – Nam Lào, Chiến dịch Trị Thiên năm 1972… Khảo sát kinh nghiệm đánh tập trung, hiệp đồng binh chủng, chống nhiễu của các trận chống tập kích quy mô lớn của địch vào Hà Nội năm 1966-1967, nhưng sốt dẻo nhất là các trận đánh B-52 của tên lửa những ngày tháng 4-1972.

Bộ Tham mưu Quân chủng đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo chuyên đề khá sôi nổi.

Về nghiên cứu địch, đã đi sâu phân tích các thủ đoạn mới về kỹ, chiến thuật của địch, nhất là về các nhiễu điện tử, nhiễu ngoài đội hình, nhiễu tiêu cực, nhiễu tích cực trong đội hình, thủ đoạn phóng tên lửa Shrike chống ra-đa của ta.

Tập trung nghiên cứu điểm yếu của nhiễu điện tử. Nhận thấy không phải chỗ nào, lúc nào nhiễu cũng giống nhau, nên cần khai thác những điểm có lợi cho ta. Cần chú ý nhiễu tổng hợp của địch trong đội hình mật tập, sử dụng lực lượng quy mô lớn.

Về cách đánh của ta, sử dụng tập trung từ 2 đến 3 tiểu đoàn tên lửa hiệp đồng binh chủng đánh vào một tốp máy bay địch, trong điều kiện địch gây nhiễu tổng hợp và sử dụng rộng rãi tên lửa Shrike chống ra-đa. Bố trí đội hình phù hợp, tập trung vào hướng đường bay chủ yếu có trận địa chốt có thể cơ động hỏa lực, có trận địa cơ động vòng ngoài, đánh địch từ xa, sẵn sàng chuyển hóa thế trận, kết hợp với đánh chính diện, đánh đòn, đánh bên sườn, đánh đuổi, tạo thế trận bao vây địch, hạn chế tác hại của nhiễu.

Về xạ kích, nâng cao khả năng đánh địch trong nhiễu tạp bằng phương pháp ba điểm (T/T), nhưng cần tích cực phát sóng, tránh tư tưởng ngại Shrike địch; tạo khả năng bắt rõ mục tiêu để đánh bằng phương pháp hiệu quả nhất – phương pháp vượt nửa góc (пC).

Hết sức tận dụng những thành quả cải tiến khí tài của chuyên gia Liên Xô cùng các cán bộ kỹ thuật của ta để góp phần khắc phục nhiễu của địch. Sử dụng bộ khí tài quang học đặt trên nóc xe thu phát (cabin пA-00), giúp phát hiện máy bay địch trên nền nhiễu, đồng thời tránh được tên lửa Shrike của địch.

Những nội dung trên được nhóm chúng tôi tổng hợp thành tài liệu, đánh máy in Roneo, mang bìa đỏ, để phân biệt với các tài liệu khác nên anh em thường gọi là Quyển sách đỏ.

Nội dung Tài liệu đánh B-52 được tiếp tục bổ sung hoàn chỉnh dần qua các Hội nghị quân chính của quân chủng, thông qua các phương án tác chiến đánh B-52 vào tháng 7 và 9 năm 1972.

Tại Hội nghị quân chính mở rộng vào tháng 10-1972, thành phần gồm các cán bộ từ cơ sở trở lên thuộc Quân chủng PK-KQ, Tài liệu đánh B-52 chính thức được thông qua. Sau đó được in và gửi xuống các tiểu đoàn tên lửa để nghiên cứu học tập, vận dụng.

Tháng 11-1972, địch dùng B-52 đánh vào Tây Nghệ An. Ngày 23-11-1972 quân chủng cử một kíp chiến đấu và một số cán bộ tham mưu xuống Tiểu đoàn 43, Tiểu đoàn 44 thuộc Trung đoàn 263 bố trí ở Tây Nghệ An để theo dõi, hỗ trợ đánh B-52 theo tài liệu mới. May mắn thay, đêm đó, tên lửa của ta đã bắn B-52 rơi tại chỗ ở biên giới Việt – Lào – Thái Lan. Phía Mỹ lần đầu tiên đã phải công nhận B-52 bị SAM 2 bắn rơi.

Những kinh nghiệm mới được bổ sung vào tài liệu. Quân chủng phát động tiếp một đợt huấn luyện đột kích về đánh B-52 cho tên lửa. Tư lệnh Quân chủng lại giao nhiệm vụ cho tôi phụ trách một số cán bộ và trắc thủ cốt cán, lần lượt đi xuống một số tiểu đoàn để huấn luyện và kiểm tra sẵn sàng chiến đấu theo phương án, phối hợp với cán bộ của các sư đoàn phòng không. Đoàn cán bộ này được anh em gọi vui là “gánh hát rong”.

Cuối tháng 11-1972, phương án cuối cùng đánh B-52 đã được Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng và tập thể lãnh đạo Bộ Tổng tham mưu trực tiếp thông qua, sau đó được Đại tướng Võ Nguyên Giáp phê chuẩn.

Hiệp đấu quyết định và những bài học

Trong cuộc không kích chiến lược chủ yếu bằng B-52 cuối năm 1972, Mỹ đã huy động 4.547 lần chiếc máy bay các loại, trong đó có 663 lần chiếc B-52, tức là 1/2 số máy bay B-52 và 1/3 máy bay chiến thuật của Mỹ, ném xuống miền Bắc nước ta hàng vạn tấn bom. Nhưng kết quả Mỹ đã mất 81 máy bay hiện đại, trong đó có 34 chiếc B-52, có 16 chiếc rơi tại chỗ, mất hàng trăm phi công sừng sỏ, tỷ lệ tổn thất lớn xấp xỉ 15% – một tỷ lệ khiến Mỹ không chịu nổi, phải kết thúc chiến dịch sớm, ngoài ý muốn của Nhà Trắng và Lầu Năm góc… Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã biểu dương “lực lượng phòng không-không quân cùng quân và dân miền Bắc đã làm nên một trận Điện Biên Phủ trên không vẻ vang nhất”.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân đất đối không của Việt Nam, dựa trên tác chiến của 3 thứ quân. Lực lượng PK-KQ làm nòng cốt, đánh có trọng điểm và rộng khắp với mọi đối tượng địch ở mọi độ cao, ngày cũng như đêm. Tất cả các thành phần đều lập công: Bộ đội ra-đa thông báo kịp thời, chính xác; Tên lửa đánh giỏi, bắn rơi nhiều chiếc B-52; Không quân và pháo 100mm cũng bắn rơi B-52; Cao xạ bắn rơi hàng chục máy bay cường kích các loại; Tự vệ Cơ khí Mai Động bắn rơi 1 chiếc F111A bay thấp, dân quân Hòa Bình bắn rơi 1 trực thăng cứu người lái…

Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” thể hiện nghệ thuật tác chiến phòng không Việt Nam, đỉnh cao là chiến dịch chống tập kích đường không của Mỹ: Từ trận mở đầu thắng giòn giã (18-12-1972), tới trận thắng quan trọng (20-12-1972), kết cục là trận then chốt quyết định (26-12-1972).

Trung tướng VŨ XUÂN VINH – Nguyên Tham mưu phó Quân chủng PK-KQ, nguyên Cục trưởng Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng.
qdnd.vn

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” Bài học lịch sử giá trị cho thế hệ trẻ hôm nay

Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam tuy nhỏ bé nhưng anh hùng đã chiến thắng nhiều kẻ thù xâm lược có sức mạnh và tầm vóc về quân sự, kinh tế mạnh hơn rất nhiều lần để giành lại độc lập, tự do, thống nhất cho Tổ quốc. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, là một trong những chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta, là chiến công oanh liệt trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc, mãi mãi là biểu tượng của ý chí, trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam, là bài học lịch sử giá trị cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Chien thang DBP 1

Cách đây tròn 40 năm, vào cuối tháng 12 năm 1972, quân, dân Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng, các tỉnh lân cận và bộ đội Phòng không – Không quân đã làm nên một chiến tích kỳ diệu: Đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược quy mô chưa từng có trong lịch sử, chủ yếu bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ, làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Đây thực sự là một chiến công mang tầm vóc thời đại của dân tộc ta trong thế kỷ XX, một trận “Điện Biên Phủ trên bầu trời Hà Nội” lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, rút quân về nước; tạo bước ngoặt quyết định để quân và dân ta “đánh cho Mỹ cút”, tiến đến “đánh cho Nguỵ nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước bước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Đã 40 năm trôi qua nhưng Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” được đánh giá là một trong 10 chiến thắng vĩ đại nhất lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, là sự tiếp nối truyền thống anh hùng, bất khuất của dân tộc, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ. Nghiên cứu các tư liệu lịch sử, những hiện vật giá trị được lưu giữ trong các Bảo tàng, qua hồi ức chiến tranh của những nhân chứng sống…Có thể nói, sự tàn khốc của cuộc chiến năm ấy đã qua đi nhưng tầm vóc và ý nghĩa chiến thắng vang dội của 12 ngày đêm rực lửa vẫn còn vẹn nguyên, âm vang mãi trong ký ức. Đối với mỗi người dân Việt Nam và đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay, chiến thắng đó là một sự kiện lịch sử, chứa chan niềm tự hào, tạo động lực và thúc giục họ lập tiếp chiến công, viết nên trang sử mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân đế quốc, giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, tinh thần của thanh niên Việt Nam là “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Các thế hệ thanh niên nước ta đã không ngại gian khổ, hy sinh, không sợ mưa bom bão đạn, góp sức cùng cả nước lập nên những chiến công hiển hách, giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân… Bước vào công cuộc tái thiết đất nước sau chiến tranh và sau hơn 20 năm trên con đường đổi mới, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam đã đạt được nhiều thành công trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội; sự hợp tác, hòa bình, ngoại giao song phương, đa phương đã được duy trì, phát triển trở thành xu thế chính nhưng trước những diễn biến và bối cảnh phức tạp, nhiều biến động của khu vực và trên thế giới vẫn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định rất khó lường đòi hỏi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phải kế thừa bài học của lịch sử, bài học của Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”  vận dụng trong điều kiện, hoàn cảnh mới, cần tiếp tục chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng tinh thần yêu nước, xây dựng lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, với chế độ xã hội chủ nghĩa cho thế hệ trẻ ngày nay.

Chien thang DBP 2

Liệt sỹ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Vũ Xuân Thiều

Ngày 21-12-1972, trong bức thư gửi bố mẹ của Liệt sỹ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Vũ Xuân Thiều, có đoạn viết: “Bố mẹ thân yêu! Qua hai đêm nặng nề, cái nặng nề vì phải đứng nhìn lửa đạn hết đợt này đến đợt khác rải xuống Hà Nội. Con thấy uất ức lắm vì chưa làm được gì. Con nghĩ bây giờ không phải là lúc lo lắng cho ngôi nhà của mình, cũng không có quyền nghĩ đến bản thân..”. Và đến đêm ngày 28-12-1972, người phi công dũng cảm này đã thực hiện được mơ ước của mình khi cùng chiếc MIG-21 thân yêu biến thành quả tên lửa thứ 3 lao vào thiêu cháy B-52 Mỹ. Nhắc gợi chiến thắng vang dội cách đây 40 năm, sự hi sinh anh dũng, quả cảm của những người trực tiếp lập công trong chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đều ở lứa tuổi 20, còn rất trẻ như phi công Vũ Xuân Thiều nhưng đã rất bản lĩnh, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, khao khát tiêu diệt được B-52 của Mỹ là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ Việt Nam noi theo, là cơ hội để các thế hệ nhắc nhở nhau luôn học tập và rèn luyện, làm chủ khí tài, sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ bầu trời Tổ quốc, khơi dậy truyền thống anh hùng, lòng tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ. Trước những bài học đó, bản thân mỗi thế hệ thanh niên Việt Nam hiện cần tập trung xây dựng và giữ vững toàn diện về lập truờng tư tưởng, bản lĩnh chính trị, thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, sẵn sàng chiến đấu hy sinh, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao, đoàn kết, thống nhất và tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. Tích cực siêng học, năng rèn nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, chủ động, nhạy bén, sáng tạo nghiên cứu, tiếp cận khoa học công nghệ tiên tiến, đi tắt đón đầu; phát huy truyền thống vinh quang của tuổi trẻ, xung kích đi đến những vùng miền của đất nước còn khó khăn, hăng hái lao động sản xuất, giữ gìn trật tự an ninh và an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa như Bác Hồ kính yêu đã dạy “Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”.

Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lương xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thanh niên được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người. Chăm lo phát triển thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định và phát triển vững bền của đất nước, có thể khẳng định, trong sự nghiệp đổi mới hôm nay, thế hệ trẻ Việt Nam có một vị trí trung tâm, chiến lược đặc biệt quan trọng và xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, việc đẩy mạnh công tác giáo dục, nâng cao lòng tự hào về truyền thống của dân tộc, của Quân đội nhân dân Việt Nam – Quân chủng Phòng không – Không quân, nhất là truyền thống đánh thắng B-52; xây dựng  ý chí quyết đánh, quyết thắng, tinh thần dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, tự lực, tự cường; ý chí vươn lên làm chủ khoa học kỹ thuật; ý thức tổ chức kỷ luật; tinh thần đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân… khắc phục những biểu hiện hoang mang, dao động, thiếu tự tin trong thế hệ trẻ hôm nay là việc làm rất quan trọng và cần thiết.

Là lớp thanh niên được sinh ra và lớn lên trong thời kỳ thống nhất, sống, học tập, làm việc trong hòa bình, hưởng thành quả cách mạng mà Đảng, Bác Hồ, nhân dân ta đã dũng cảm chiến đấu, hy sinh gian khổ giành được, tuy không được chứng kiến thời khắc hào hùng của dân tộc, nhưng qua những trang sách, qua những lời kể của nhân chứng lịch sử, thế hệ trẻ chúng tôi cảm nhận sâu sắc Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” mãi mãi là niềm tự hào, là biểu tượng sáng ngời của ý chí quyết tâm và sức mạnh Việt Nam. Những tấm gương chiến đấu dũng cảm của thế hệ thanh niên trong cuộc chiến 12 ngày đêm sẽ mãi là phần quan trọng trong hành trang của mỗi bạn trẻ trên con đường đi tới, đồng thời đặt cho thế hệ trẻ trách nhiệm nặng nề nhưng rất vinh quang, tự hào đối với Tổ quốc và nhân dân, đó là dựng xây, phát triển và bảo vệ vững bền nước Việt Nam dân chủ, công bằng, văn minh sánh vai với các nước trên thế giới.

Trong giai đoạn hội nhập ngày nay, Thủ đô Hà Nội rạng ngời sức sống hơn bao giờ hết. Hà Nội nói riêng và đất nước Việt Nam nay đã chuyển mình, trỗi dậy mạnh mẽ và ngày càng khẳng định vị trí quan trọng của mình trên trường quốc tế. Hà Nội nghìn năm văn hiến anh hùng đã trải qua cả một chặng đường dài lịch sử đấu tranh kiên cường giành độc lập, tự do, biết bao xương máu của nhân dân Việt Nam và đặc biệt là nhân dân Thủ đô Hà Nội đã đổ xuống để ngày hôm nay cùng hát vang bài ca khải hoàn. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” – 12 ngày đêm cuối tháng 12 năm 1972 đã đi vào lịch sử dân tộc, mãi là một trong những mốc son chói lọi in sâu vào tâm trí của mỗi người dân Thủ đô cũng như những người Việt Nam chúng ta, nhắc nhở cho lớp lớp thế hệ thanh niên ngày nay thành kính, biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, các anh hùng, liệt sỹ, đồng bào, đồng chí đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc – đó sẽ mãi là niềm tự hào về truyền thống lịch sử của dân tộc Việt Nam nói chung và nhân dân Thủ đô nói riêng, tiếp tục phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Huyền Trang (tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Sóng nhà Đài – Mũi “tâm công” trong chiến dịch 12 ngày đêm

Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không:

(VOV) -Tác động của tiếng nói Việt Nam khiến cho binh lính Mỹ suy sụp rã rời

Ký ức một phóng viên nhà Đài trực tiếp chứng kiến, tham gia phản ánh những ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” ùa về qua xúc cảm, qua từng lời nói của nhà báo – nguyên Phó Tổng giám đốc Đài TNVN Mai Thúc Long. Ông bộc bạch những suy tư, cảm xúc của mình trong buổi tọa đàm với Hệ Phát thanh Đối ngoại VOV5 ngày 27/12.

Nhà báo Mai Thúc Long nói rằng, Đài TNVN là một trong những “binh chủng đặc biệt”. Những ngày máu lửa đó, Đài TNVN luôn cố gắng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, phản ánh cuộc chiến đấu oanh liệt của quân, dân ta bảo vệ thủ đô Hà Nội trong 12 ngày đêm.

Nhà báo Mai Thúc Long – Nguyên Phó Tổng giám đốc Đài TNVN

Hồi đó, đại bản doanh của Đài TNVN đóng tại 58 Quán Sứ do đồng chí Trần Lâm phụ trách. Khi Mỹ bắt đầu thực hiện Chiến dịch LinebackerII, cán bộ phóng viên đa số đi sơ tán, những ai có sức khỏe thì tiếp tục ở lại để chiến đấu.

Ở lại Hà Nội trong 12 ngày đêm, công việc của nhà báo Mai Thúc Long là phản ánh trực tiếp những nơi quân dân ta trực chiến đánh B52. Khi máy bay B52 rơi, lập tức ông cùng đồng nghiệp có mặt, viết tin, bài phản ánh để thông tin kịp thời cho nhân dân cả nước, nhân dân thế giới chiến công của ta.

Đài TNVN lúc đó cũng phản ánh trung thực những tội ác mà Mỹ gây ra cho Hà Nội, đặc biệt khi Mỹ ném bom tàn phá Khâm Thiên và đánh vào Đài Phát thanh ở Mễ Trì.

Ông còn nhớ mãi thời khắc đó. Khi Đài TNVN phải ngừng sóng 9 phút. Sau 9 phút lịch sử trôi qua, tiếng của phát thanh viên cất lên dõng dạc đĩnh đạc, đường hoàng mang tư thế của người chiến thắng. Tiếng nói Việt Nam tác động sâu sắc, mang lại niềm tin cho nhân dân, quân đội, cho bạn bè thế giới.

Ở Đài TNVN, ngoài các phóng viên chính, Đài còn có sự hỗ trợ của đông đảo cộng tác viên, trong đó có nhiều tên tuổi nổi tiếng: Nhà báo Lưu Quý Kỳ, nhà thơ Chế Lan Viên, nhà thơ Tố Hữu…

Sau sự kiện Đài TNVN bị ném bom, nhà báo Lưu Quý Kỳ đã có bài viết “9 phút làm nên lịch sử”. Tác động của bài báo hết sức mạnh mẽ. Ở Nhật Bản, khi nghe thông tin này, các bạn Nhật đã quyên góp ủng hộ Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống Mỹ. Còn nhà thơ Chế Lan Viên thường xuyên đến đài ngâm thơ, cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân và dân ta, tố cáo tội ác của Mỹ.

“Hồi đó, nhà thơ Tố Hữu đã phải thốt lên – Đài TNVN xứng danh là Đài anh hùng”, nhà báo Mai Thúc Long nhớ lại.

Theo nhà báo Mai Thúc Long, sóng của Đài TNVN thời đó có tác động to lớn không chỉ đối với nhân dân trong nước mà còn đối với nhân dân thế giới.

Đài TNVN hồi đó không chỉ phản ánh một cách trung thực phong trào phản chiến, phong trào đấu tranh chính trị của đồng bào miền Nam, đặc biệt là của học sinh sinh viên đòi quân Mỹ rút đi khỏi Sài Gòn và các thành phố lớn ở miền Nam, đồng thời phản ánh chiến thắng của quân và dân miền Nam phối hợp với bộ đội ở Hà Nội, hình thành nên “gọng kìm” trên làn sóng.

Lúc này Đài TNVN có chương trình Bình địch vận do Cục Tuyên huấn chủ trì hàng ngày phát sóng vào khu vực doanh trại của lính Mỹ và lính Sài Gòn, đồng thời một đài phát sóng ở thủ đô Cuba cũng thường xuyên thông tin về cuộc chiến của quân dân ta.

Đại tá Vũ Tang Bồng – Nguyên Chủ nhiệm bộ môn Lịch sử kỹ thuật – Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam

Chúng ta khai thác những phi công Mỹ bị bắt, đưa lên làn sóng. Đấy là lời nói phát ra từ tâm can của những người lính Mỹ. Họ yêu cầu Chính phủ Mỹ phải ngừng ngay cuộc chiến tranh bẩn thỉu này. Họ nói rằng: “Họ là những người bị đánh lừa”.

“Nhưng cái quan trọng hơn chúng tôi muốn nói là tác động của tiếng nói Việt Nam đến binh sĩ Mỹ và binh sỹ Sài Gòn – Đấy là cuộc tấn công bằng lực lượng tâm công – đánh vào lòng người. Sức mạnh này vô cùng to lớn, nó đánh vào lòng người làm cho binh lính Mỹ suy sụp rã rời”, nhà báo Mai Thúc Long nhấn mạnh.

Có mặt tại buổi tọa đàm, Đại tá Vũ Tang Bồng – Nguyên Chủ nhiệm bộ môn Lịch sử kỹ thuật – Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam nhấn mạnh rằng, trong cuộc chiến 12 ngày đêm ở Hà Nội, Đài TNVN đã trực tiếp góp phần vào chiến thắng B52. “Khi biên soạn cuốn sách Những sự kiện lịch sử Việt Nam trong cuộc kháng chiến cứu nước, chúng tôi có nói đến sự kiện này”, Đại tá Bồng nói.

Trong “Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không”, các cán bộ lãnh đạo, nhân viên kỹ thuật của Đài TNVN rất tận tình giúp đỡ Bộ đội Phòng không – Không quân trong việc bảo đảm thông tin liên lạc phục vụ cho công tác chiến đấu. Thông tin liên lạc là nhân tố không thể thiếu trong các cuộc chiến, góp phần làm nên chiến thắng.

Với sự giúp đỡ của Đài, Quân chủng Phòng không – Không quân đã được sử dụng làn sóng FM phát riêng trong nội bộ quân chủng với công suất phát là 5KW và 50W. Nhờ đó có thể liên lạc trực tiếp từ sở chỉ huy quân chủng đến các sư đoàn, từ sư đoàn xuống trung đoàn và sư đoàn chỉ huy vượt cấp xuống các tiểu đoàn, trong khi truyền tải thông tin bằng mật mã có thể bị địch phát hiện. Đấy là công lao lớn của Đài TNVN góp phần xứng đáng trong chiến thắng B52./.

Việt Đức- Lan Nga/VOV online (ghi)
vov.vn

Chiếc xe đạp thời chiến của người Hà Nội

(VOV) -Lúc bấy giờ xe đạp không chỉ đơn giản là một tài sản có giá trị, một phương tiện đi lại mà còn là…

Trong ký ức của người Hà Nội về Thủ đô 40 năm về trước, đặc biệt trong 12 ngày đêm B52 Mỹ ném bom trải thảm, không chỉ là những kỷ niệm về tình người trong nguy nan, ý chí muôn người như một góp phần đánh Mỹ mà còn có kỷ niệm về một vật dụng thân quen – chiếc xe đạp. Lúc bấy giờ xe đạp không chỉ đơn giản là một tài sản có giá trị, một phương tiện đi lại mà còn là một công cụ phục vụ kháng chiến.

Chiếc xe đạp thời chiến là phương tiện, tài sản lớn.

Ngay sau những đợt đầu tiên B52 ném bom Hà Nội đêm ngày 18/12/1972, Hà Nội thực hiện tổ chức sơ tán nhân nhân. Từng đoàn xe đạp nối đuôi nhau sơ tán khỏi Hà Nội. Thời đó, chiếc xe đạp không đơn giản chỉ là phương tiện đi lại mà còn là tài sản quý giá nhất của mỗi gia đình.  Thực phẩm và các nhu yếu phẩm khác thì đều đã có phiếu. Để mua được một chiếc xe đạp thì cả nhà phải tiết kiệm chi tiêu, tích góp mấy tháng trời mới mua nổi. Bởi thế mà chiếc xe đạp khi ấy được trân trọng, giữ gìn cẩn thận như “đứa con cưng” của gia đình. Họa sĩ Trần Khánh Chương nhớ lại: Trong thời kỳ chiến tranh, để có được chiếc xe đạp là một tài sản. Có những người có xe đạp thì buổi tối họ lau chùi và treo lên  có thể thấy cái xe đạp quý thế nào. Hồi ấy lương trung cấp ra trường là 45 đồng, sau đó là 50 đồng, đại học ra là 64 đồng, một chỉ vàng là 70 đồng mà một cái xe đạp Phượng Hoàng là 350 đồng, có nghĩa là nó bằng 5 chỉ vàng.

Giá trị như thế, được nâng niu như thế, nhưng khi chiến tranh thì chiếc xe đạp lại được trưng dụng hết công suất, phục vụ cho không chỉ gia đình mình mà còn giúp cả bà con láng giềng. Bà Đoàn Kim Dung – Lê Duẩn – Hà Nội chia sẻ: Chúng tôi có một cái xe đạp để sử dụng lúc bấy giờ là quý lắm và rất là giá trị. Nó là một cái phương tiện đi lại, chở gạo, thóc cho các con ở chỗ sơ tán. Lúc bấy giờ cái xe đạp quý vô cùng. Xe đạp Thống nhất cũ, hai cái lốp là chính thôi, chả có phanh cũng được mà cũng không có cái gác-đờ-bu. Có phương tiện đi lại như thế là giá trị lắm. Chúng tôi sơ tán ở chỗ cách xa chợ thì mượn nhau là chuyện bình thường.

Trong kí ức của bà Dung những ngày đi sơ tán, nhờ có chiếc xe đạp mà mọi người có thể cơ động khắp mọi nơi, mọi lúc. Cứ nghe thấy báo động ném bom là chạy đi sơ tán, không kể đêm hay ngày, xa hay gần.

Cách xa Hà Nội 30 cây số là chúng tôi thường xuyên phải đi xe đạp về Hà Nội, xe buýt lúc có lúc không mà không được an toàn, xe đạp thì sớm đi cũng được mà tối cũng được. 12 ngày đêm bắn phá chúng tôi có cái xe đạp để động chỗ này lại chạy chỗ kia. Sơ tán ở vùng này mà thấy động chúng nó ném bom thì lại chạy sang vùng khác, cũng bằng cái xe đạp để đi lại, chở thức ăn quần áo, trẻ con ngồi đằng trước, ngồi đằng sau, bố mẹ dắt.

Trong chiến tranh, dường như khoảng cách không còn là vấn đề và người dân Hà Nội cũng tỏ ra không hề sợ hãi trước bom đạn của kẻ thù. Dù xa mấy nhưng khi nghe Hà Nội bị đánh bom người ta vẫn quyết tâm về thủ đô tìm gặp người thân và phương tiện duy nhất lúc ấy cũng chỉ là chiếc xe đạp. Anh Nguyễn Mạnh Hà bồi hồi kể lại: Khi B52 đánh Hà Nội, tôi sốt ruột quá tôi đạp xe từ Yên Phong (Hà Bắc) về đây 40 cây, nhà tôi khóa cửa không có ai trong nhà cả. Tôi trèo vào nhà tôi xem trong nhà có cái gì không, ăn xong tôi lại đạp xe từ Hà Nội xuống Thường Tín xem mẹ và anh chị em tôi ở dưới đó có vấn đề gì không. Xong xuôi, tôi lại đạp xe từ đấy ra Khâm Thiên xem nó ném bom thế nào rồi tôi lại quay lại trường.

Ông Phùng Tửu Bôi từng chứng kiến sự ác liệt nhất khi B52 Mỹ ném bom Hà Nội cho biết: Khi đó, xe đạp không chỉ đơn thuần là phương tiện giúp người ta di chuyển cơ động mà còn được cải tiến thành những “chiếc cáng” để vận chuyển người bị thương: Đi công tác, đi làm, đi tiếp tế thực phẩm cho mọi người  bằng xe đạp, đi giúp mọi người, bạn bè cũng bằng xe đạp. Hai cái xe đạp nối lại với nhau có thể cáng được một người bị thương. Cái xe không chỉ chở 1 người mà chở đến 3-4 người. Đằng trước buộc cái ghế cho trẻ con ngồi, đằng sau chở thêm vài thứ nữa.

Đối với Cựu chiến binh Bùi Văn Cơ, Trung đoàn 927 (Quân chủng PK-KQ) thì chiếc xe đạp còn gắn với ông suốt chặng đường của đời lính. Nhất là trong chiến dịch 12 ngày đêm, ngày đó mà thiếu chiếc xe đạp thì có lẽ ông không thể kịp thời hoàn thành nhiệm vụ của mình: Trong 12 ngày đêm, tôi là đại đội trưởng, có rất nhiều công việc phải làm, đó có thể là lo tổ chức sơ tán hay sửa chữa máy bay. Máy bay lúc ấy trải khắp hai huyện Kim Anh và Đa Phúc. Hàng ngày, phải đi xe đạp hoặc xe hỏng thì đi bộ đến hàng chục cây số để đến từng vị trí xem anh em sửa chữa như thế nào.

Hình ảnh cô dân quân tự vệ vai đeo súng, tay dắt xe đạp trên ghi-đông treo túi, bình tông, cặp lồng rồi trẻ em được mẹ đặt ngồi trước, ngồi sau xe đạp đi sơ  tán…Những chiếc xe đạp từng chở đầy tình yêu trên những con đường Hồ Tây chiều cuối tuần và cũng chính những chiếc xe đạp ấy lại là phương tiện thồ hàng qua cầu phao cót két vượt sông Hồng, kịp thời cung cấp cho tiền tuyến…Tất cả những hình ảnh đó giờ đã là quá khứ nhưng rất đỗi tự hào của người Hà Nội./.

Mỹ Trà, Mỹ Ngọc/VOV –Trung tâm tin
vov.vn

NSƯT Kim Cúc kể chuyện đọc tin chiến thắng B52

(VOV) – Trong căn hầm hẹp, dưới tiếng gầm rít của máy bay, NSƯT Kim Cúc vẫn dõng dạc đọc tin chiến thắng để truyền đến thính giả.

Cách đây đúng 40 năm trước, đế quốc Mỹ mở đầu cuộc tập kích đường không chiến lược bằng B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh, thành phố lớn trên hậu phương miền Bắc. Trong những ngày ấy Đài Tiếng Nói Việt Nam chia làm hai nửa. Những chị em có con nhỏ lên địa điểm sơ tán cách Hà Nội 40 km lo biên tập, sản xuất chương trình. Bộ phận xung kích bám giữ Hà Nội, phản ứng nhanh kịp đưa tin, phóng sự, bình luận lên sóng ngay.

Trong số những người ở lại Hà Nội có NSƯT Kim Cúc (Phát thanh viên Đài TNVN). Trong căn hầm hẹp, dưới tiếng gầm rít của máy bay, bom dội, NSƯT Kim Cúc cùng những phát thanh viên của Đài Tiếng Nói Việt Nam vẫn dõng dạc đọc tin chiến thắng để truyền đến mọi người dân.

Phóng viên VOV trò chuyện với NSƯT Kim Cúc về hồi ức những ngày tháng đó.

P.V: Thưa NSƯT Kim Cúc! Trong 12 ngày đêm lịch sử tháng 12/1972, Đài Tiếng Nói Việt Nam là nguồn thông tin để người dân luôn lắng nghe và theo dõi. Khi ấy công việc của nhóm phát thanh viên của Đài như thế nào?

NSƯT Kim Cúc: Phòng PTV lúc bấy giờ chỉ còn lại bác Nguyễn Thơ, Việt Khoa, chị Kim Ngôn, Phương Chi, Kim Cúc và Hoàng Yến. Nhiệm vụ của PTV là phát bản tin từ 8h – 21h, sau đó phải trực tin từ hội nghị Paris đọc vào bản tin 0h cho Đối ngoại (đồng bào Việt Nam ở nước ngoài) nghe.

NSƯT Kim Cúc thời trẻ (ảnh tư liệu)

Chỉ có 1 nhóm làm việc như vậy mà phải thu tất cả các chương trình phát thanh. Các chương trình phát thanh lúc bấy giờ là không phát lại, mà luôn luôn mới. Chỉ với 6 người mà làm công việc của hơn 20 người nên đòi hỏi không chỉ là thời gian, sức lực mà còn phải bảo toàn giọng đọc cho tốt.

Không chỉ trực ở bên khu vực 39-41 phố Bà Triệu mà còn trực cả ở bên 58, phố Quán Sứ. Phòng PTV phải xé lẻ ra và chia ra theo ca kíp. Ca sáng làm từ sau bản tin trưa rồi nghỉ, từ bản trưa đến bản tin chiều, ca tối thì từ chiều cho đến hết đêm. Tức là 6 người chia làm 3 cặp, nhưng mà 3 cặp ấy còn các buổi phát thanh khác chứ không chỉ có bản tin. Nghĩa là cứ chồng chéo nhau, đang đọc bên này thì bên kia gọi đọc, lúc đó các PTV cứ như con thoi. Chúng tôi phải trực 24/24h, trừ những ai có con nhỏ hoặc bố mẹ cao tuổi.

P.V: Trong trận chiến ấy, người dân Hà Nội đi sơ tán hết, Đài TNVN cũng đi sơ tán chỉ còn lại 1 bộ phận. Vậy tâm trạng những người ở lại khi đó như thế nào?

NSƯT Kim Cúc: Lúc đó Hà Nội vắng lắm. Khi chia phòng PTV, PV ra để lên Quốc Oai sơ tán để nếu như ở Hà Nội bị bom thì trên Quốc Oai sẽ làm nhiệm vụ của mình. Đồng chí Nguyễn Thơ là Trưởng phòng và Bí thư chi bộ giao mọi người ở lại sẽ phải làm việc không phải 8 tiếng mà kể cả là 24h.

NSƯT Kim Cúc (phải) cũng là người đọc bản tin chiến thắng vào trưa 30/4/1975. Sau khi bà đọc lần 1, PTV Kim Tuyến (giọng Sài Gòn) đọc lại lần 2 (ảnh tư liệu)

Lúc đó vắng cũng buồn lắm nhưng chúng tôi luôn đặt nhiệm vụ chính trị lên hàng đầu. Đọc trực tiếp không được vấp, dù nhìn thấy những đau thương, đổ vỡ cũng không được rơi nước mắt. Đọc bằng giọng dõng dạc truyền cảm của mình. Những đêm như thế, anh Lê Quý lúc bấy giờ là Phó Tổng Giám đốc Đài cũng phổ biến là có tin Mỹ sẽ đánh vào 39 phố Bà Triệu, cho nên anh em trực đêm phải làm việc hết sức mình nếu có trúng bom cũng phải cố gắng giữ vững tinh thần và làm tròn nhiệm vụ cuả mình.

Lúc bấy giờ chúng tôi là thanh niên và đã đi bộ đội nên tinh thần không có gì náo núng, cảm giác đó đã trở thành bản năng của con người trước nguy hiểm nhưng mình vẫn phải làm nhiệm vụ cho tốt. Những ngày đó chúng tôi đã làm hết sức mình, tất cả tin chiến thắng đến đều được chúng tôi đưa trọn vẹn, không ai vấp váp trên sóng…

P.V: Những ngày Mỹ trực tiếp ném bom ở Hà Nội thì công việc của phóng viên và phát thanh viên khác với những ngày trước như thế nào? Lúc đó, mọi người phải khắc phục khó khăn như thế nào, thưa bà?

NSƯT Kim Cúc: Đối với PTV thì 1 ngày đọc sau đó có thể nghỉ ngơi, lúc đó lượng người có hạn mà số buổi phát thanh vẫn phải đảm bảo nên mọi người đều phải làm tăng ca lên, không còn giờ ăn chính thức nữa. Ai có cơm thì mang cơm theo, tôi còn nhớ lúc đó bác Việt Khoa mang theo 1 camen trong đó có cả rau, cả sữa trộn vào nhau… nghĩa là chỉ nghĩ tới công việc.

NSƯT Kim Cúc và gia đình hiện nay

Phóng viên thì chỉ có cái xe đạp, đạp xích còn kêu nhưng mà đi tới các trận địa pháo, những nơi bị ném bom cách xa hàng mấy chục cây số để viết bài. Về đến nơi đưa tin vào là chúng tôi đọc ngay. PTV và phóng viên cũng giống nhau, không kể giờ giấc bất kỳ lúc nào, ở đâu có chiến sự là họ đi. Không ai nghĩ đến mình và không ai dành thời gian riêng cho mình.

P.V: Lúc bấy giờ người dân luôn theo dõi những tin về chiến trận hay tin chiến thắng qua làn sóng Đài TNVN. Bà có cảm nhận được những người dân đón nghe tin tức trên Đài như thế nào không?

NSƯT Kim Cúc: Cảm nhận được rõ lắm. Bởi vì thực ra vẫn còn rất nhiều người còn ở lại Hà Nội trực chiến, họ nghe tin chiến thắng nhờ các loa đài công cộng. Đến giờ bản tin mọi người đứng ở dưới loa lắng nghe. Có những buổi trưa họ nấu cơm nhưng cứ ngó ngó sang cổng cơ quan ở phố Bà Triệu xem Đài phát tin đi như thế nào. Mỗi lần như thế họ nhảy lên reo hò, sung sướng. Đấy là sự động viên, khích lệ đối với mỗi PTV, PV và KTV chúng tôi lúc bấy giờ.

P.V: Phát thanh viên lúc đó hẳn là hiểu rõ từng lời, từng từ, từng chữ của mình có ý nghĩa như thế nào. Vậy, bà và các đồng nghiệp đã làm thế nào để đưa những thông tin một cách tốt nhất đến thính giả?

NSƯT Kim Cúc: Đúng như thế, lúc đó phải giữ giọng của mình thật trong, khỏe, hào sảng với những lời bình về những trận chiến, bài viết phóng sự cổ vũ những đơn vị đã bắn rơi máy may. Phải chuẩn bị giong thật tốt, thật hay. Tuổi của mình lúc đó còn đang trẻ, mọi ngườii nghe thấy giọng mình sảng khoái lắm.

Hơi thở, cảm xúc cuộc sống làm cho người PTV phải đọc hào sảng, sảng khoái và đầy sức mạnh như thế. Phải trải nghiệm cuộc sống, trải nghiệm những gì đang diễn ra mới đọc được những bài bình luận, tin chiến thắng, bài chính luận hay. Những tên tuổi thính giả không bao giờ quên: Vĩnh Thơ, Tuyết Mai, Việt Khoa… và những người trẻ như chúng tôi là: Trần Phương, Minh Đạo, Hoàng Yến, Kim Cúc…

P.V: Kỷ niệm sâu sắc nhất về những ngày Mỹ ném bom Hà Nội còn đọng lại đến bây giờ trong bà là gì?

NSƯT Kim Cúc: Có lẽ, kỷ niệm sâu sắc nhất đối với tôi là đấy là sau đêm B52 ném bom phố Khâm Thiên. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy mất mát, đau thương như thế. Tôi cùng với Tố Uyên (là vợ của bác Huỳnh Văn Tiểng – Phó Giám đốc Đài TNVN) đạp xe ra phố Khâm Thiên mới nhìn thấy cảnh tượng thật đau xót. Chính vì thế nó đi vào tâm khảm, làm cho mình có đầy đủ cảm xúc để hiểu rõ sự mất mát và chiến thắng.

Đó cũng là suy nghĩ, trăn trở của mình để làm sao mình rèn luyện được giọng đọc truyền tải sự đau thương, mất mát cùng với chiến thắng huy hoàng của dân tộc. Được chứng kiến chiến thắng B52 và đọc trực tiếp trên sóng tôi cảm thấy rất hạnh phúc nhưng khi trở về thì mâm cơm của mình có mảng vữa trần rơi xuống không ăn được nữa. Lúc đó, tôi cảm thấy cuộc sống của những người ở lại cũng vất vả, tuy nhiên, so với sự hy sinh của rất nhiều người thì mình cần phải làm như thế nào để xứng đáng hơn…

P.V: Xin cảm ơn NSƯT Kim Cúc./.

Lê Thu/VOV1 (thực hiện)
vov.vn

Tôn vinh cá nhân, tập thể trong chiến thắng 12 ngày đêm

Điện Biên Phủ trên không:

(VOV) -Những tập thể, cá nhân có đóng góp tích cực vào chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” được rà soát để truy tặng, khen thưởng.

Ngày 29/12, Lễ kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” sẽ được tổ chức trọng thể cấp Nhà nước, tại Hội trường Bộ Quốc phòng, Hà Nội.

Lễ kỷ niệm dự kiến sẽ phát trực tiếp trên Hệ Thời sự Chính trị Tổng hợp VOV1 và phát trực tuyến trên Báo điện tử VOV online (Đài TNVN); Truyền hình trực tiếp trên Đài Truyền hình Việt Nam (kênh VTV1), Đài Phát thanh Truyền hình Hà Nội, Đài Truyền hình TP HCM.

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân – Trưởng ban Tổ chức cấp Nhà nước khẳng định, việc tổ chức thành công sự kiện kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không là hết sức cần thiết nhằm tăng cường tuyên truyền, giáo dục truyền thống, tôn vinh những chiến công của trí tuệ, lòng dũng cảm và ý chí quật cường của dân tộc ta, quân đội nói chung và cán bộ chiến sĩ Quân chủng Phòng không – Không quân, quân dân Thủ đô và các tỉnh miền Bắc, nhất là trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ.

Đây cũng là dịp để tuyên truyền những bài học kinh nghiệm quý báu của Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”.

Trong dịp này, những tập thể, cá nhân có đóng góp tích cực vào Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” cũng được rà soát lại để truy tặng, khen thưởng xứng đáng.

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân giao Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phối hợp với Quân chủng Phòng không – Không quân và TP Hà Nội tổ chức giới thiệu cho thế hệ trẻ về các di tích lịch sử liên quan đến sự kiện vĩ đại này, trong đó có 16 điểm máy bay B52 bị bắn rơi trên địa bàn thủ đô Hà Nội trong chiến dịch 12 ngày đêm, từ đó gắn với việc tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị lịch sử của 16 điểm di tích này./.

PV/VOV online
vov.vn

“Cao hơn bầu trời” – phim xúc động về người lính không quân

(VOV) – Bộ phim kể câu chuyện về những người lính phòng không – không quân trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ gian khổ.

Nhân dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”, ngày 26/12, Công ty TNHH một thành viên phim Giải Phóng phối hợp với Quân chủng phòng không – Không quân tổ chức buổi ra mắt và giao lưu với đoàn làm  phim “Cao hơn bầu trời”.

“Cao hơn bầu trời”  thuộc thể loại phim truyền hình lịch sử cách mạng do nhà văn Nguyễn Minh Ngọc viết kịch bản và Nguyễn Xuân Cường làm đạo diễn.  Lấy bối cảnh những năm 1965-1975, bộ phim tái hiện lại những sự kiện lịch sử quan trọng của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của quân và dân miền Bắc, trong đó nổi bật là cuộc chiến trên không Hà Nội 12 ngày đêm.

Đặc biệt, phim khắc họa hình ảnh những cán bộ, chiến sĩ Phòng không – không quân mưu trí, sáng tạo và dũng cảm vô song trong chiến đấu, hào hoa trong cuộc sống đời thường, mãnh liệt và đằm thắm trong tình yêu. Những chiến công và sự hy sinh anh dũng của họ đã góp phần tạo dựng nên “dáng đứng Việt Nam” khiến bầu bạn khắp năm châu nể phục.

Cảnh quay trong phim “Cao hơn bầu trời”

Họ là những chiến sĩ của Đại đội bay Sao Đỏ: Trịnh Nhung, Vũ Sáng, Huỳnh Tấn, Văn Dương, Hà Vĩnh, Nguyễn Thứ, Duy Ngôn, Nghiêm Hà… Mỗi người một số phận, một mảnh đời riêng nhưng tất cả đã kết lại thành một khối đá tảng, giáng trả những đòn đích đáng khiến kẻ thù phải khiếp sợ.

Như Trịnh Nhung, trong một lần đi công tác đến một trường học, Trịnh Nhung gặp cô giáo Vân. Cả hai đem lòng mến nhau. Vân hẹn sẽ đến đại đội bay thăm Trịnh Nhung và ra mắt bạn bè anh. Nhưng trước khi cô có thể thực hiện lời hứa thì một trận ném bom đã lấy đi sinh mạng vân. Đến ngày hẹn, Trịnh Nhung chờ đợi Vân mãi nhưng không thấy cô. Một tuần sau, thư của bạn Vân gởi đến cho Trịnh Nhung, anh bàng hoàng, đau đớn khi biết tin Vân đã hy sinh.

Vũ Sáng là phi công người Hà Nội. Anh yêu Kiều Liên, nhân viên phòng kế hoạch nhà máy dệt. Tình yêu của Vũ Sáng – Kiều Liên kéo dài hơn Trịnh Nhung – cô giáo Vân, nhưng cũng gặp trắc trở nhiều hơn và đau khổ hơn. Kết thúc mối tình là sự hy sinh của Kiều Liên khi chỉ huy khẩu đội súng 12 ly 7 chiến đấu với F111 của Mỹ và Vũ Sáng đã lao cả máy bay vào B52, hy sinh anh dũng giữa bầu trời.

Bên cạnh đó là mối tình thầm lặng của Thủy Tiên, tình yêu dang dở của phó tiến sĩ tàn tật Ninh, cái kết hạnh phúc cho chàng điều khiển tên lửa Văn Dương và cô gái Hương… Ngày đất nước thống nhất, những người còn sống mang theo bó hoa tươi thắm và tình yêu đến nghĩa trang tưởng niệm những người đã hy sinh cho nền độc lập của đất nước. Bầu trời xanh lồng lộng trên đầu họ, yên tĩnh như chưa hề trải qua cuộc chiến tranh đẫm máu và nước mắt, hy sinh và mất mát…

Thông qua câu chuyện phim, tác giả muốn tái hiện lại những khoảnh khắc lịch sử hào hùng trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khi vận mệnh dân tộc đứng trước thử thách vô cùng nghiệt ngã: hoặc đứng thẳng làm người, sẵn sàng chấp nhận hy sinh; hoặc quỳ gối trước kẻ thù xâm lược, chấp nhận mọi yêu sách của chúng.

Trailer phim “Cao hơn bầu trời”

Thông điệp tác giả muốn gởi gắm tuy không mới, song chưa bao giờ cũ. Con người ai cũng có thể phạm sai lầm, nhưng nếu biết đặt niềm tin vào con người, cho họ một cơ hội thì sức sáng tạo được khơi dậy có thể đạt đến mức không ngờ. Cao hơn bầu trời là sự hy sinh vô bờ bến của những người lính, là sức sáng tạo vô biên của toàn quân, toàn dân ta trong thời kỳ gian khổ chống Mỹ cứu nước.

Bộ phim “Cao hơn bầu trời” gồm 50 tập. Mỗi tập dài 45 phút, chính thức bấm máy ngày 7/11 và dự kiến sẽ phát sóng vào tháng 8 và 9 năm 2013./.

PV/VOV Online
vov.vn

“Bản hùng ca một thời kiêu hãnh”

(VOV) – Ca khúc như một lời tri ân của những người con được sinh ra và lớn lên tại Hà Nội đối với các thế hệ cha anh đi trước.

Đó là một ca khúc mới sáng tác của nhà báo, nhạc sĩ Trần Nhật Dương với phần lời của nhà báo Trần Nhật Minh dành tặng cho Thủ đô thân yêu của mình nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không.

Phóng viên VOV có cuộc trò chuyện với nhạc sĩ Trần Nhật Dương và nhà báo Trần Nhật Minh về bài hát mới này.

PV: Xin chào tới nhà báo – nhạc sĩ Trần Nhật Dương và nhà báo Trần Nhật Minh. Trước hết, nhà báo nhạc sĩ Trần Nhật Dương có thể cho biết hoàn cảnh ra đời của ca khúc “Bản hùng ca một thời kiêu hãnh”?

NS Trần Nhật Dương: Là một nhạc sĩ của Đài TNVN một trong những cơ quan truyền thông lớn của đất nước đã hai lần đón nhận danh hiệu anh hùng. Và chúng tôi là những thế hệ các nhạc sĩ ngày hôm nay của Đài TNVN luôn luôn kế thừa phát huy truyền thống của các thế hệ lớp nhạc sĩ đi trước. Rất là nhanh nhậy sâu sắc phản ánh kịp thời những bước đi thăng trầm của lịch sử cách mạng Việt Nam.

Cách đây 40 năm khi giặc Mỹ đem pháo đài bay B52 vào đánh phá Hà Nội và các tỉnh thành khác. Lúc đó cùng với cán bộ công nhân viên thì các nhạc sĩ các nghệ sĩ của Đài TNVN vẫn ở lại Hà Nội bám trụ bảo vệ Đài TNVN. Trong những căn hầm, những nét giai điệu những lời ca đã vang lên trở thành những bản hùng ca rất hoành tráng như Hà Nội những đêm không ngủ, Hà Nội điện biên phủ của nhạc sĩ Phạm TuyênHà Nội niềm tin và hy vọng của nhạc sĩ Phan Nhân, Trong vườn bách thảo một ca khúc thiếu nhi của nhạc sĩ Thanh Phúc…. và còn rất nhiều những bài hát được ra đời trong hoàn cảnh đất nước đang chiến tranh như vậy.Hơn nữa tôi cũng là một người con được sinh ra và lớn lên tại Thủ đô Hà Nội. Trong những năm tháng kháng chiến ác liệt lúc đó tôi mới 12, 13 tuổi nhưng cũng đã hiểu biết đã chứng kiến những cảnh khốc liệt của máy bay giặc Mỹ đánh phá Miền Bắc và Thủ đô Hà Nội.

Cũng trong dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không tôi được NSƯT Lê Thụy của Đài Truyền hình TP.HCM, tổng đạo diễn chương trình nghệ thuật “Huyền thoại Hà Nội Điện Biên Phủ trên không” mời tham dự và viết một tác phẩm. Từ những thôi thúc của một người con được sinh ra và lớn lên tại Hà Nội lại nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không tôi đã “thai nghén” và viết nên tác phẩm “Bản hùng ca một thời kiêu hãnh” với phần lời của nhà báo Trần Nhật Minh.

Nhà báo Trần Nhật Minh và nhà báo – nhạc sỹ Trần Nhật Dương

PV: Với nhà báo – nhạc sĩ Trần Nhật Dương thì cảm xúc để viết nên những giai điệu của “Bản hùng ca một thời kiêu hãnh” được bắt nguồn từ ký ức tuổi thơ, vậy còn nhà báo Trần Nhật Minh thì sao?

Nhà báo Trần Nhật Minh: Cảm xúc đối với sự kiện kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đối với các phóng viên như chúng ta ập đến từ rất nhiều hướng. Khi nhạc sĩ Trần Nhật Dương mời tôi tham gia cùng viết một tác phẩm âm nhạc nhân sự kiện này thì tôi thấy đây cũng là một cơ hội để được thể hiện cảm xúc của mình về Hà Nội. Bởi tôi cũng được sinh ra và lớn lên ở Hà Nội. Mặc dù những năm 1972 tôi còn nhỏ nhưng bố tôi đã từng là phóng viên ở chiến trường nên tôi cũng thường được nghe bố kể cho nghe những câu chuyện những kỷ niệm của những năm tháng ác liệt này. Đặc biệt là những hình ảnh thời đó như căn hầm trú ẩn ở trước cửa nhà tôi thì mãi sau này nó vẫn còn.

Nhìn ở góc độ nhân văn thì những căn hầm như thế chính là sức sống của Hà Nội. Mặc dù về mặt hình ảnh thì rất tương phản, trong căn hầm là bóng tối nhưng ánh sáng chính là sức mạnh của những lớp thế hệ người Hà Nội rất hào hoa, phong nhã nhưng cũng rất anh dũng, kiên cường. Và tất cả những điều đó tạo cho tôi xúc cảm khi tham gia viết phần lời cho ca khúc này.

PVVậy mất bao lâu để nhà báo Trần Nhật Minh viết xong phần lời của ca khúc?

Nhà báo Trần Nhật Minh: Thời gian chính xác tôi không nhớ nhưng từ khi mà nhạc sĩ Trần Nhật Dương nói ý tưởng đó thì chúng tôi cũng thường xuyên trao đổi, đưa ra chủ đề và hướng tiếp cận. Tôi muốn nhấn mạnh rằng: “Tại sao Hà Nội của chúng ta lại chiến thắng?”, ở một góc nhìn không phải quân sự, không phải sự kiện chính trị vì những vấn đề đó các nhà thơ, nhạc sĩ đi trước cũng đã viết nhiều rồi mà chúng tôi chỉ muốn nhìn ở một góc nhỏ thôi. Sở dĩ Hà Nội chiến thắng là vì Hà Nội có một truyền thống, có bề dày lịch sử văn hóa, sự lạc quan, bình dị nét hào hoa, thanh lịch nhưng rất kiên trun, bất khuất.

PV: Xin được hỏi nhạc sĩ Trần Nhật Dương, khi phổ nhạc cho phần lời của nhà báo Trần Nhật Minh hình ảnh nào khiến anh thấy xúc động nhất?

Nhạc sĩ Trần Nhật Dương: Trong phần lời của nhà báo Trần Nhật Minh có những hình ảnh rất ấn tượng tạo thành điểm nhấn trong ca khúc như: “lửa soi sáng những câu thơ viết vội…những câu thơ như hoa nở điệp trùng” hoặc là “Mẹ sinh con trong bóng tối căn hầm giữa bom thù hủy diệt quê mình ”…đã tạo nên những nét giai điệu, tạo nên phần âm nhạc trong tôi.

Bởi tôi còn nhớ, mỗi khi máy bay giặc Mỹ đánh phá vào ban đêm, thời đó tôi còn nhỏ không biết sợ nên không xuống hầm mà lại trèo lên gác 2 xem vì lửa đạn bắn sáng rực trời như pháo hoa. Rồi khi máy bay Mỹ đánh phá bệnh viện Bạch Mai có những bà mẹ phải sinh con trong hầm tối bất chấp sự hy sinh, bom đạn để che chở cho đứa con của mình…Từ những hình ảnh đó trong ký ức của tôi và hình ảnh lời thơ của nhà báo Trần Nhật Minh đã tạo nên mạch nguồn, cảm xúc âm nhạc cho ca khúc.

PV: Nhạc sĩ Trần Nhật Dương có thể chia sẻ kỹ hơn về âm nhạc của ca khúc?

Nhạc sĩ Trần Nhật Dương: Bài hát này với phần âm nhạc bên cạnh những nét giai điệu trữ tình, da diết phản ánh được ký ức của một thời chiến tranh, một thời anh dũng tiếp đó là những nét nhạc mạnh mẽ, hào sảng thể hiện lòng quyết tâm, tinh thần chiến đấu anh dũng ngoan cường của quân và dân Thủ đô những năm tháng chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ cũng như 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Nghe ca khúc “Bản hùng ca một thời kiêu hãnh” do ca sỹ Hoàng Tùng, Thu Lan và hợp xướng Nhà hát Đài TNVN trình bày

PV: Thưa nhà báo Trần Nhật Minh, là một nhà báo cũng là tác giả phần lời của ca khúc “Bản hùng ca một thời kiêu hãnh”, anh thấy ca khúc đã thể hiện được đầy đủ hình tượng nghệ thuật của “Bản hùng ca một thời kiêu hãnh” chưa?

Nhà báo Trần Nhật Minh: Ngay từ đầu chúng tôi cũng muốn nhìn từ một góc độ nhẹ nhàng, bình dị thôi nhưng phần nào đó mong muốn khái quát lại chân dung ký ức về Hà Nội một thời quả cảm anh dũng chiến thắng giặc Mỹ. Trong phần lời tôi có viết một câu là: “Nước mắt Sông Hồng, trầm tích phù sa”, đó là dòng chảy tự nhiên của cuộc sống còn lắng lại đến ngày hôm nay. Đấy là những giá trị trầm tích văn hóa mà tất cả chúng ta không được phép quên lãng, không được phép làm cho nó vẩn đục đi.

Nhạc sĩ Trần Nhật Dương: “Bản hùng ca một thời kiêu hãnh” được viết ra và đã được công diễn. Ca khúc cũng như một lời tri ân của những người con được sinh ra và lớn lên tại Hà Nội đối với các thế hệ cha anh đi trước đã chiến đấu bảo vệ Thủ đô, bảo vệ sự sống của chúng ta. Cho chúng ta một tương lai tươi sáng.

PV: Xin cảm ơn nhà báo – nhạc sĩ Trần Nhật Dương và nhà báo Trần Nhật Minh./.

Hương Loan/VOV3
vov.vn