Thư viện

40 năm – Bản hùng ca vang mãi

QĐND – Nhân dịp kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” và hướng tới Năm Du lịch quốc gia Đồng bằng sông Hồng – Hải Phòng 2013, Xưởng phim truyền hình Hải Phòng và Công ty Truyền thông Việt Nam Tinh Hoa đã hoàn thành phần 1 (20 tập) bộ phim “Con mắt bão” (Đạo diễn: Văn Lượng; kịch bản: Nguyễn Khắc Phục). 20 tập phim được dàn dựng công phu đã thể hiện được những điểm sáng nhất trong giai đoạn lịch sử những năm cuối thập kỷ 60 đến chiến thắng mùa xuân năm 1975 của đất và người Hải Phòng là: Cùng Hà Nội đập tan chiến dịch tấn công của đế quốc Mỹ bằng B-52; cuộc chiến đấu chống phong tỏa; điểm xuất phát của đoàn tàu không số; những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống địa phương… Phần 2 gồm 30 tập nói về lịch sử Hải Phòng giai đoạn 1976 – 2000. Bộ phim “Con mắt bão” sẽ được phát sóng vào trung tuần tháng 5-2013. (Hoàng Hoàng)

* Nhân kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã tổ chức buổi gặp mặt giao lưu với các cựu chiến binh đã và đang công tác tại nhà trường từng tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Buổi gặp mặt diễn ra trong không khí đầm ấm, các cựu chiến binh Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã cùng nhau ôn lại kỷ niệm của một thời gian khổ mà hào hùng. Đặc biệt, dù đã 40 năm trôi qua, nhưng thời khắc huy hoàng của Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 dường như vẫn còn đó, khắc ghi tinh thần yêu nước và truyền thống đấu tranh bảo vệ Tổ quốc ngoan cường của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. (Mộc Lan)

* Học viện Biên phòng và Học viện Phòng không-Không quân vừa phối hợp tổ chức đêm giao lưu văn nghệ tuyên truyền về Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” với sự tham gia của gần 3000 cán bộ, học viên. Thông qua các tiết mục múa, hát và lời tuyên truyền, đêm giao lưu đã giúp cho cán bộ, học viên của hai học viện hiểu sâu sắc thêm về chiến thắng lịch sử “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, truyền thống của quân đội ta và nhất là của bộ đội Phòng không-Không quân, từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm trong công tác học tập, rèn luyện, phấn đấu trở thành những sĩ quan, cán bộ quân đội ưu tú. (ĐỨC THÀNH)

qdnd.vn

Đêm 23-12-1972: Thua đau, B-52 giãn xa Hà Nội, Hải Phòng

QĐND Online – Ngày 23-12-1972, từ 13 giờ 35 phút đến 14 giờ 20 phút, không quân Mỹ sử dụng 54 lần chiếc máy bay chiến thuật vào đánh sân bay Hòa Lạc, Phùng, Cầu Giấy, Cầu Diễn và ga Đông Anh. Không quân ta đã bắn rơi 1 máy bay F-4.

Trải qua mấy đêm bị tổn thất nặng nề về máy bay và người lái, đêm 23-12, hoạt động của B-52 bắt đầu giãn ra xa Hà Nội, Hải Phòng.

Pháo cao xạ “góp lửa” bảo vệ bầu trời miền Bắc trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”. Ảnh tư liệu

Từ 19 giờ 15 phút, địch dùng 33 lần chiếc B-52 và 30 lần chiếc máy bay F-4 và F-105, 11 lần chiếc máy bay F-111 đánh phá Đồng Mỏ (Thái Nguyên), Bắc Giang, Yên Bái.

Hướng biển, có 7 máy bay chiến thuật của Hải quân Mỹ vào đánh Uông Bí, Phà Rừng, Sở Dầu và sân bay Kiến An (Hải Phòng). Pháo phòng không bắn rơi 2 chiếc F-4.

Trong đêm 23 rạng sáng 24-12, thời tiết xấu, không quân ta không cất cánh. Trong khi đó, B-52 cũng hoạt động ngoài tầm hỏa lực nên tên lửa cũng không đánh.

HOÀNG HÀ (tổng hợp)
qdnd.vn

Đêm 22-12-1972: Bộ đội Tên lửa Hải Phòng diệt 2 siêu pháo đài bay

Nhật ký Chiến thắng B-52

QĐND Online – Sáng 22-12, Bộ tư lệnh Quân chủng PK-KQ nhận định: Sau 4 đêm đánh phá Hà Nội nhưng chịu tổn thất nặng, địch có thể chuyển hướng đánh Hải Phòng và các mục tiêu vòng ngoài Hà Nội. Tư lệnh Quân chủng PK-KQ yêu cầu Sư đoàn 363 chuẩn bị sẵn sàng đánh thắng B-52.

9 giờ sáng 22-12, Bộ Tổng tham mưu tiếp tục nhận định và thông báo cho Quân chủng PK-KQ: Đêm 22, địch sẽ sử dụng B-52 đánh Hải Phòng.

B-52 Mỹ chuyển hướng đánh về khu vực Hải Phòng trong đêm 22-12-1972, song 2 chiếc siêu pháo đài bay vẫn bị “rồng lửa” Sam-2 tiêu diệt. Ảnh tư liệu

Đêm 22 rạng sáng 23-12, từ 4 giờ 30 phút đến 5 giờ 23 phút, địch sử dụng 24 lần chiếc B-52 và 27 lần chiếc máy bay chiến thuật đánh vào các nhà máy xi măng, cầu quay An Dương (Hải Phòng); dùng máy bay chiến thuật giả B-52 đột nhập vào phía Tây Hà Nội, đến Hòa Bình thì vòng ra; dùng máy bay F-111 đánh phá các mục tiêu trọng điểm ở Hà Nội.

Lúc 3 giờ 18 phút, Quân chủng PK-KQ lệnh cho một Mig-21 cất cánh từ Miếu Môn đi Nho Quan (Ninh Bình) tìm đánh B-52, nhưng phi công ta không phát hiện được B-52 nên đã quay về hạ cánh.

Trong đêm 22 rạng sáng 23-12, Bộ đội Tên lửa Hải Phòng (Sư đoàn 363) đã bắn rơi 2 máy bay B-52; pháo cao xạ, súng máy phòng không Hà Nội và Quảng Ninh cũng bắn rơi 2 máy bay cường kích của địch.

HOÀNG HÀ (tổng hợp)
qdnd.vn

Bài học chiến lược không để Tổ quốc bị bất ngờ trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”

QĐND – 40 năm đã trôi qua, cuối tháng 12-1972, trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác đã diễn ra cuộc đọ sức quyết liệt giữa quân và dân ta với không quân chiến lược Mỹ. Với tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, thông minh, sáng tạo, quân dân ta cùng lực lượng Phòng không-Không quân (PK-KQ) và các địa phương đã làm nên trận “Điện Biên Phủ trên không”, đập tan uy thế của không lực Hoa Kỳ. Thắng lợi vẻ vang đó như một mốc son chói lọi làm rạng rỡ trang sử đấu tranh cách mạng bất khuất của Thủ đô và của dân tộc Việt Nam anh hùng.

Trước nguy cơ chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” sắp hoàn toàn thất bại, đế quốc Mỹ “dốc túi” vào “canh bạc” cuối cùng, Tổng thống Mỹ Ních-xơn quyết định mở cuộc tập kích đường không (TKĐK) chiến lược mang tên Lai-nơ-bếch-cơ II, chủ yếu bằng các “siêu pháo đài bay B-52” đánh phá dã man Hà Nội, Hải Phòng từ 18 đến 30 tháng 12-1972. Để chuẩn bị cho cuộc TKĐK chiến lược này, ngay từ đầu Bộ chỉ huy không quân chiến lược Mỹ (SAC) đã nhận định, muốn xâm nhập và vượt qua hệ thống PK-KQ của Bắc Việt Nam phải sử dụng một loạt các biện pháp kỹ thuật hiện đại nhất. Ngoài việc đ­ưa vào sử dụng nhiều loại vũ khí chống bức xạ điện từ như tên lửa sơ-rai, bom điều khiển bằng tia la-de, bom điều khiển bằng vô tuyến truyền hình… giới khoa học quân sự Mỹ còn nghiên cứu cải tiến và đưa vào sử dụng các thiết bị gây nhiễu mới nhất có công suất lớn, dải tần rộng lắp trên các máy bay B-52 và các loại máy bay cường kích chiến thuật, tiến hành một cuộc chiến tranh điện tử (CTĐT) rộng khắp. CTĐT được coi là “lá bùa hộ mệnh” phục vụ cho không quân chiến lược B-52 vào đánh phá. Với cả guồng máy đồng bộ và tính năng vũ khí như thế, Tổng thống Mỹ Ních-xơn cho rằng, B-52 bay vào Hà Nội sẽ như một cuộc dạo chơi.

Khẩu đội súng máy dân quân tự vệ bắn máy bay chiến thuật của Mỹ trong Chiến dịch phòng không tháng 12-1972. Ảnh tư liệu.

Chiến thắng lịch sử của trận quyết chiến chiến lược “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 vẫn còn vang vọng mãi. Hàng trăm cuốn sách, hàng ngàn bài viết, nhiều hội nghị nghiên cứu, nhiều công trình khoa học-nghệ thuật quân sự ở Việt Nam và ở các nước trên thế giới, bên cạnh việc ca ngợi, phân tích lý giải về bài học lịch sử, ý nghĩa chiến thắng, đã dành nhiều công sức bàn luận về nguyên nhân gì, sức mạnh nào mà quân và dân Việt Nam đã đập tan cuộc TKĐK chiến lược bằng máy bay B-52 của không lực Hoa Kỳ? Nhân tố thắng lợi có tính tổng hợp cao, trong đó phải kể đến những dự báo thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo, chỉ đạo chiến lược sắc bén của Đảng và tài thao lược của Bộ Thống soái chỉ huy chiến lược, chiến dịch; trí thông minh, sáng tạo trong vận dụng kỹ, chiến thuật và nghệ thuật tác chiến hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng phòng không ba thứ quân, lấy Bộ đội PK-KQ làm nòng cốt… tạo thành sức mạnh tổng hợp của thế trận phòng không nhân dân để giành thắng lợi quyết định trong chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Có được thắng lợi này, một trong những nguyên nhân, đồng thời cũng là bài học chiến lược bắt nguồn từ những dự báo sớm, sự lãnh đạo, chỉ đạo chiến lược sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình chuẩn bị chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972.

Đây chính là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến việc giành thế chủ động để đánh bại cuộc TKĐK chiến lược bằng máy bay B-52 của Mỹ. Để đi đến chiến thắng, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có một quá trình phân tích, đánh giá kỹ lưỡng tình hình chiến trường miền Nam cũng như đã đánh giá đúng tình hình, quyết định và chỉ đạo chiến lược cho Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh ở miền Bắc cùng lực lượng phòng không ba thứ quân chuẩn bị, sẵn sàng chiến đấu, huy động được sức mạnh to lớn của cả nước cho cuộc đụng đầu lịch sử.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” trên bầu trời Hà Nội tháng 12-1972 là một mốc son lịch sử, đỉnh cao thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Thắng lợi đó, càng thấy rõ Chủ tịch Hồ Chí Minh-Người có những dự đoán thiên tài về chiến lược. Sinh thời, Người khẳng định: “Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do! Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”[1].

Ngay từ năm 1962, khi giao nhiệm vụ cho Tư lệnh Quân chủng PK-KQ Phùng Thế Tài, Bác đã hỏi: “Các chú đã biết gì về B-52 chưa?”. Sau đó Bác nói: Nếu chú có biết, bây giờ cũng chưa làm gì được nó, vì nó bay cao, bay nhanh. Bác căn dặn: … ngay từ nay là Tư lệnh bộ đội PK-KQ, chú phải theo dõi chặt chẽ và thường xuyên quan tâm đến loại máy bay B-52. Nhớ lời dạy của Bác, lãnh đạo và chỉ huy Bộ t­ư lệnh PK-KQ đã chuẩn bị kế hoạch, đầu tư nghiên cứu về B-52. Những ngày mới thành lập, bộ đội PK-KQ phải tập trung vào nhiệm vụ xây dựng phát triển lực lượng, bố trí thế trận bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc, do vậy việc nghiên cứu B-52 mới chỉ là bước khởi đầu.

Năm 1964, Mỹ lấy cớ “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, đã liều lĩnh cho không quân và hải quân leo thang ra đánh phá một số mục tiêu ven biển của ta từ Quảng Bình đến Quảng Ninh. Quân và dân miền Bắc đã đánh trận phủ đầu giành thắng lợi lớn. Sau khi tuyên dương công trạng đánh thắng trận đầu ngày 5-8-1964, Bác lại hỏi: “Các chú đã chuẩn bị đánh B-52 như thế nào rồi?”. Tuy Bác nhắc nhở, nhưng lúc này B-52 chưa xuất hiện trên chiến trường, mặt khác chúng ta chưa có tư liệu về B-52 nên chưa thể chuẩn bị gì cho việc đánh B-52.

Việc nghiên cứu để đánh B-52 đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đặt ra cho Quân chủng PK-KQ ngay từ khi đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam tiến hành “chiến tranh cục bộ” và bắt đầu sử dụng máy bay ném bom chiến lược B-52 trên chiến trường. Lần đầu tiên ở Việt Nam (cũng là lần đầu tiên trên thế giới) Mỹ cho máy bay B-52 từ đảo Gu-am vào ném bom rải thảm khu vực Bến Cát-Tây Bắc Sài Gòn.

Ngày 19-7-1965 đến thăm Bộ đội phòng không Hà Nội tr­ước giờ tên lửa ra quân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định quyết tâm sắt đá của quân và dân ta đánh thắng kẻ thù xâm lược, Bác căn dặn: “Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền. Dù chúng có B-57, B-52 hay “bê” gì đi chăng nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng!”[2]. Lời Bác đã truyền thêm sức mạnh cho bộ đội tên lửa phòng không. Ngày 12-4-1966, Mỹ đưa B-52 ra đánh đèo Mụ Giạ ở Tây Quảng Bình rồi đánh phá Vĩnh Linh. Lãnh đạo và chỉ huy Quân chủng PK-KQ đã nung nấu việc đưa tên lửa vào chiến trường Quân khu 4 để tìm cách đánh B-52. Một buổi, Bác gọi Tư lệnh Bộ đội PK-KQ lên báo cáo với Bác về việc đánh B-52. Sau khi giao nhiệm vụ xong Bác căn dặn: “… muốn bắt cọp thì phải vào tận hang. Chú về suy nghĩ thêm đi và tranh thủ trao đổi với các đồng chí xung quanh”. Vâng lời Bác, Th­ường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng PK-KQ đã thống nhất kế hoạch đưa Trung đoàn tên lửa H38 vào tuyến lửa Vĩnh Linh để đón đánh B-52, và được Bộ Tổng tham mưu phê chuẩn.

Ngay sau khi Tổng thống Mỹ Giôn-xơn quyết định cho B-52 leo thang ra đánh phá hành lang cửa khẩu Quảng Bình, Vĩnh Linh cuối năm 1967, trong một lần làm việc với Tư lệnh và Chính ủy bộ đội PK-KQ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở: “Sớm muộn đế quốc Mỹ sẽ đưa B-52 ra đánh phá Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước mọi tình huống càng sớm, càng tốt để có thời gian mà suy nghĩ chuẩn bị”[3]. Theo lời dạy của Bác và Chỉ thị của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh đã vạch ra kế hoạch chuẩn bị đánh B-52, đẩy mạnh công cuộc xây dựng lực lượng PK-KQ, đồng thời đưa lực lượng PK-KQ vào chiến trường phía Nam để nghiên cứu phát hiện B-52 và thực tập đánh B-52. Do hiểu biết sâu sắc quy luật chiến tranh xâm lược của Mỹ, nên Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thường xuyên quan tâm, chỉ đạo quân và dân các địa phương, trong đó đặc biệt là bộ đội PK-KQ chuẩn bị tốt mọi mặt sẵn sàng đánh bại nỗ lực cao nhất của địch.

Để đập tan cuộc TKĐK chiến lược của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng tháng 12-1972, ta đã có sự chuẩn bị chu đáo kỹ lưỡng, điều động, tổ chức, sử dụng và bố trí lực lượng PK-KQ hợp lý, tạo thành thế trận PK-KQ: Liên hoàn, hiểm hóc, vững chắc có chiều sâu, bảo đảm tập trung lực lượng đánh địch ở các độ cao, trên các hướng. Tạo ưu thế về lực lượng; giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ, chọn đúng đối tượng đánh địch, giành thế chủ động; bảo đảm đánh thắng địch trong suốt quá trình chiến dịch.

Ngày 25-11-1972, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị tăng cường sẵn sàng chiến đấu[5]. Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị cho lực lượng vũ trang, tăng cường các mặt chuẩn bị chiến đấu, đồng thời nhận định có nhiều khả năng địch đánh phá trở lại toàn miền Bắc với mức độ ác liệt hơn, kể cả việc dùng B-52 đánh ồ ạt vào Hà Nội, Hải Phòng. Do đó: “Nhiệm vụ trung tâm đột xuất trước mắt của Quân chủng PK-KQ là tập trung mọi khả năng nhằm đối tượng chính là B-52 mà tiêu diệt”[6]. Nhờ có sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đã phán đoán đúng thời cơ và địa điểm đón đánh địch chính xác, bởi vậy lực lượng phòng không ba thứ quân của ta, nòng cốt là bộ đội PK-KQ đã giành thế chủ động ngay từ ngày đầu, trận đầu. Trong chiến tranh, vấn đề dự báo chiến lược, đúng thời cơ, chọn đúng đối tượng đánh địch, giữ được bí mật, bất ngờ luôn là những yếu tố quyết định thành bại của mỗi trận đánh. Chiến dịch phòng không tháng 12-1972 đã thực hiện được những vấn đề cốt yếu ấy. Đó là bài học có ý nghĩa chiến lược quyết định đến thắng lợi của chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972.

Trong giai đoạn cách mạng mới, để thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược, đòi hỏi chúng ta phải có nỗ lực rất lớn. Phải giữ vững ổn định về chính trị, tăng cường xây dựng chỉnh đốn Đảng, để Đảng ta thực sự trong sạch vững mạnh; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, nền quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân vững chắc; kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với an ninh và đối ngoại, tập trung nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân… Đồng thời, thực hiện tốt mục tiêu chiến lược mà Đại hội Đảng lần thứ XI đã chỉ ra là: “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển, đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng đối phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống”[7].

Nhận thức sâu sắc và đầy đủ những bài học về sự chuẩn bị, dự báo sớm, lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt mang tầm chiến lược của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác chiến chiến dịch để có nhiều biện pháp tích cực, thiết thực xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, trong đó nòng cốt là khối liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức. Điều đặc biệt chú ý củng cố và xây dựng “thế trận lòng dân”, mà nội dung cơ bản là: Củng cố sự nhất trí về chính trị-tinh thần trong nhân dân, sự gắn bó giữa nhân dân với Đảng, giữa nhân dân với chế độ chính trị do Đảng lãnh đạo. Phát huy những thành quả cách mạng đã đạt được, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; tiếp tục phấn đấu thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới toàn diện, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, quán triệt và thực hiện tốt mọi chỉ thị, nghị quyết mà Đại hội Đảng lần thứ XI đã đề ra.

Thượng tướng Viện sĩ, TS KHQS NGUYỄN HUY HIỆU – Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
qdnd.vn

——————–

[1] Hồ Chí Minh, Tuyển tập, tập2, Nxb Sự thật, Hà Nội 1980, tr.430.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb CTQG, Hà Nội, 1989, tr. 467.

[3] Hồ Chí Minh, Biên niên những sự kiện và tư liệu về quân sự, Nxb QĐND, Hà Nội 1990, tr. 203.

[5] Chỉ thị nêu rõ: sắp tới chúng ta cần đề phòng địch có thể có những hành động phiêu lưu mới… Chúng có thể liều lĩnh dùng máy bay B-52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng, các chân hàng, các đầu mối giao thông, nơi đông dân cư; dùng hải quân tăng cường bắn phá bờ biển. Các đơn vị phải hết sức đề cao cảnh giác, kiểm tra và hoàn chỉnh thêm công tác sẵn sàng chiến đấu, kế hoạch tác chiến và phòng tránh, sơ tán.

[6] Công điện số 420A ngày 24-12-1972 của Bộ Tổng tham mưu gửi Quân chủng PK-KQ.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB CTQG, Hà Nội 2011, tr.233.

Sống lại ký ức một thời chung chiến hào

QĐND – Trong khi Hà Nội đang trải qua cái lạnh đầu đông thì Hội trường Bảo tàng Phòng không-Không quân chiều 3-12 lại được sưởi ấm bởi không khí ấm áp của buổi giao lưu giữa những cựu chiến binh Xô-viết từng giúp đỡ Việt Nam trong chiến tranh với các cựu chiến binh của Quân chủng Phòng không-Không quân (PK-KQ). Ký ức một thời “chung chiến hào” như những thước phim đưa các cựu chiến binh Xô-viết – Việt Nam trở lại những năm 60-70 của thế kỷ trước…

Các cựu chiến binh Xô-viết và Việt Nam trao đổi thông tin cho nhau. Ảnh: Tuấn Sơn

Trở lại “chiến trường xưa” sau nhiều năm xa cách, các cựu chiến binh Xô-viết (gồm Nga, U-crai-na và Bê-la-rút) không thể tin rằng, sau gần 40 năm chấm dứt chiến tranh, Việt Nam đã phát triển nhanh đến như vậy. Mặc dù vậy, phần lớn các cựu chiến binh đều nhận ra từng con phố ở Hà Nội, nơi máy bay Mỹ từng rải bom mà đỉnh điểm là vào những ngày tháng Chạp năm 1972.

Trong chiến tranh, có rất nhiều chuyên gia quân sự Xô-viết đến Việt Nam ở các thời điểm khác nhau, nhưng họ đều có chung một nhiệm vụ: Giúp đỡ nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Mỹ. Họ đã giúp bộ đội PK-KQ Việt Nam sửa chữa khí tài, huấn luyện tên lửa… Sự giúp đỡ của các bạn Xô-viết đã góp phần mang lại nhiều chiến công, mà trước hết là chiến thắng trận đầu của Binh chủng Tên lửa phòng không thuộc Quân chủng PK-KQ (ngày 24-7-1965).

Trong niềm xúc động khi gặp lại người thầy cũng là đồng đội cũ là ông Bôn-đa-ren-cô A-na-tô-li (Bondarenko Anatoly), nguyên Trắc thủ buồng chỉ huy S-75 Cụm Phòng không Hà Nội, ông Nguyễn Quang Hùng, Trắc thủ cự ly, Tiểu đoàn 62, Trung đoàn 236 cho biết, năm 1965 đồng chí Bôn-đa-ren-cô là người hướng dẫn kíp trắc thủ gồm 4 học viên, trong đó có ông. “Bình thường, một khóa học về tên lửa phải mất một năm. Nhưng do yêu cầu chiến đấu, khóa học của chúng tôi rút xuống còn 6 tháng. Nhưng trên thực tế, chúng tôi kết thúc khóa học trong vòng 59 ngày”, ông Hùng cho biết.

Bức ảnh của nữ sinh, phiên dịch viên Nguyễn Thị Hiền tặng ông Vin-xép-xki. Ảnh: Phương Linh

Ông Hùng cho hay, chính đồng chí Bôn-đa-ren-cô là người góp phần trực tiếp bắn rơi chiếc máy bay thứ 45 của Mỹ và là chiếc máy bay đầu tiên do bộ đội tên lửa phòng không bắn rơi. “Tiểu đoàn 63, nơi đồng chí Bôn-đa-ren-cô công tác, đã bắn rơi hai máy bay của Mỹ. Tiểu đoàn 64 bắn rơi một chiếc. Như vậy, trận đầu ra quân, bộ đội tên lửa phòng không bắn rơi ba chiếc máy bay địch. Sau đó, Tiểu đoàn 61, 62 cũng ra quân với sự trợ giúp của bạn”.

Câu chuyện của ông Hùng khiến người thầy Bôn-đa-ren-cô nghẹn ngào. Ông cứ lặng yên, lắng nghe câu chuyện của người học trò. Có lẽ, trong thâm tâm ông chưa bao giờ nghĩ rằng, học trò của ông lại nhớ những kỷ niệm của hơn 40 năm về trước đến từng chi tiết như vậy. Ông bày tỏ: “Tôi chưa từng gặp một dân tộc nào có lòng yêu đất nước, có lòng dũng cảm như dân tộc Việt Nam. Dù khí tài có hiện đại đến đâu cũng không chiến thắng được lòng dũng cảm của nhân dân Việt Nam”. Ông Bôn-đa-ren-cô rất tự hào khi có những người học trò xuất sắc như ông Hùng. Lời ông vừa dứt, tiếng vỗ tay vang lên giòn giã, như một lời tri ân tới những người thầy như ông Bôn-đa-ren-cô.

Đại tá Chi-xlốp Gen-na-đi (Chislov Gennady), chuyên gia quân sự thuộc Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 275 Tên lửa phòng không, cũng may mắn gặp lại học trò của mình. “Không biết số phận thế nào mà một nửa cuộc đời của tôi liên quan đến việc đào tạo sĩ quan Việt Nam”, ông Gen-na-đi cất lời. “Tất cả bắt đầu vào đầu năm 1966. Lúc đó, chúng tôi thực hiện nhiệm vụ đào tạo cho sĩ quan Việt Nam thuộc Trung đoàn tên lửa 275 tại Liên Xô trong vòng 6 tháng. Năm 1966, tôi sang Việt Nam công tác. Đầu tiên tôi là chuyên gia về bệ phóng đạn tên lửa, sau đó là sĩ quan cố vấn cho đồng chí Tiểu đoàn trưởng. Kết thúc chiến tranh, tôi đã sang thăm Việt Nam ba lần. Lần nào sang tôi đều cố gắng tìm cựu chiến binh của trung đoàn này. Lần này, tôi gặp được hai học trò và cũng là đồng đội của tôi. Tôi rất vui vì điều đó”, ông Gen-na-đi kể. Ông Gen-na-đi bày tỏ cảm ơn trước sự quan tâm của lãnh đạo Nhà nước và Bộ Quốc phòng Việt Nam đối với các cựu chiến binh Xô-viết.

Trong đoàn đại biểu cựu chiến binh Xô-viết thăm Việt Nam lần này, có một cựu chiến binh người U-crai-na khá đặc biệt. Trên tay ông lúc nào cũng có một tập ảnh đen trắng đã ngả màu, cùng một tập ảnh (bản phô-tô) khác. Gặp ai, dù là cựu chiến binh của Quân chủng PK-KQ hay phóng viên, ông cũng chìa tập ảnh ra, chỉ vào tấm ảnh một cô gái còn rất trẻ. Hóa ra, ông đang đi tìm nữ phiên dịch của mình trước đây. Ông là Vin-xép-xki Vơ-la-đi-mia (Vinsesky Volodimir), Chuyên gia S-75, thuộc Tiểu đoàn 278, Cụm Phòng không Hà Nội. Ông kể, trước đây ông là chuyên gia đào tạo sĩ quan Việt Nam sửa chữa các khí tài bị hỏng. Ngày đó, giúp việc cho ông là một nhóm sinh viên năm thứ ba của Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội. Ngoài làm phiên dịch, các sinh viên này còn cùng với bộ đội học luôn cả cách sửa chữa khí tài. Trước khi ông rời Việt Nam về nước, một trong số sinh viên này gửi tặng ông một tấm hình, phía sau có ghi Nguyễn Thị Hiền, 68 Phố Huế.

Thầy Bôn-đa-ren-cô và học trò Nguyễn Quang Hùng trong buổi giao lưu. Ảnh: Phương Linh

Trân trọng tình cảm của cô nữ sinh mang cái tên rất đẹp ấy, ông đã giữ gìn cẩn thận bức ảnh này trong suốt 40 năm qua. Giờ đây, chiến tranh qua đi đã lâu, nhưng ông không biết cô gái ấy còn sống hay đã chết. “Nếu còn sống, chắc cô ấy cũng đã 60 tuổi rồi”, ông Vin-xép-xki rưng rưng nói. Trao tấm hình của nữ sinh Hiền (phô-tô) cùng nhiều bức ảnh khác cho phóng viên Báo Quân đội nhân dân, ông Vin-xép-xki bày tỏ niềm hy vọng thông qua Báo Quân đội nhân dân, biết đâu ông lại có cơ hội gặp người nữ phiên dịch của mình.

Đã không thiếu những cặp mắt rưng rưng, những nỗi xúc động nghẹn ngào của ngày gặp lại sau hơn 40 năm xa cách, nay là giờ phút trùng phùng. Những người bạn Xô-viết đã tới giúp nhân dân Việt Nam theo mệnh lệnh của trái tim, cùng đồng cam cộng khổ, chia sẻ nỗi hiểm nguy trong lửa đạn từ hơn 40 năm trước. Giờ đây, họ lại được đón tiếp bằng tình cảm ấm áp của những trái tim Việt Nam. Buổi giao lưu giữa cựu chiến binh Xô-viết với cựu chiến binh của Quân chủng PK-KQ còn nối dài những câu chuyện cảm động về tình đoàn kết quốc tế giữa nhân dân Xô-viết với nhân dân Việt Nam trước đây và giữa nhân dân LB Nga, U-crai-na, Bê-la-rút với nhân dân Việt Nam ngày nay.

Đúng như Trung tướng Phương Minh Hòa, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân chủng PK-KQ đã nói trong không khí thân tình của buổi tiếp trước đó, sự hy sinh, cống hiến, giúp đỡ chí tình của các chuyên gia quân sự Xô-viết trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam thật đáng trân trọng. Trung tướng Phương Minh Hòa bày tỏ mong muốn có thêm nhiều đoàn cựu chiến binh Xô-viết tới thăm Việt Nam trong thời gian tới.

Thay mặt đoàn cựu chiến binh Xô-viết, Trưởng đoàn, Trung tướng Ni-cô-lai Txim-ban (Nikolay Tsymbal) mong các thế hệ sau này của Việt Nam sẽ không bao giờ phải chứng kiến cảnh bom rơi, máu đổ như trước đây. “Tôi đã có một buổi tối thật tuyệt vời khi đi dạo bên Hồ Gươm. Ở đó, tôi phát hiện ra sự trẻ trung của Hà Nội và một cái nhìn hướng về tương lai tươi đẹp của giới trẻ Việt Nam. Tôi tin Việt Nam sẽ phát triển vững mạnh”, Trung tướng Ni-cô-lai tin tưởng.

LINH OANH
qdnd.vn

Tìm người trong ảnh

QĐND Online – Trong 12 ngày đêm năm 1972, những trận ném bom B52 của đế quốc Mỹ đánh phá Hà Nội khiếm phố Khâm Thiên bị tàn phá rất nặng nề, gây tổn thất lớn về người và của. Hai em bé trong ảnh là cặp sinh đôi mất cả cha lẫn mẹ, hai cháu được bà con cô bác và chính quyền quận Đống Đa cưu mang chăm sóc.

Cô giáo và hai cháu trong ảnh hiện vẫn chưa xác định được danh tính.

Người chụp tấm ảnh này là nhà báo Trần Hồng, nguyên phóng viên Báo Quân đội nhân dân vì bị thất lạc sổ ghi chép nên không nhớ rõ họ tên 2 cháu và cô giáo trong ảnh. Ai biết thông tin về các nhân vật trong ảnh xin liên hệ với tác giả theo số ĐT: 0903293015 hoặc nhà riêng phòng 202 tầng 2 khu tập thể số 3 phố Đường Thành, phường Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Tin, ảnh: TRẦN HỒNG
qdnd.vn

Đường đến phương pháp “Vượt nửa góc”

Bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam

QĐND – Tiểu đoàn 77, Trung đoàn 257, Sư đoàn Phòng không 361 đã mưu trí, dũng cảm bắn rơi tại chỗ chiếc B-52 thứ 2 và cũng là chiếc đầu tiên bắn bằng phương pháp “vượt nửa góc” Phóng viên Báo Quân đội nhân dân vừa phỏng vấn ông Đinh Thế Văn, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 77 – người trực tiếp chỉ huy trận đánh. Dưới đây là nội dung cuộc phỏng vấn.

Kíp chiến đấu bắn rơi B-52 đầu tiên bằng phương pháp “vượt nửa góc”‘, từ phải sang: Đỗ Đình Tân (Trắc thủ phương vị); Đinh Thế Văn (Tiểu đoàn trưởng); Nguyễn Văn Đức (Sĩ quan điều khiển); Lưu Văn Mộc (Trắc thủ góc tà); Phạm Hồng Hà (trắc thủ cự ly). Ảnh do đồng chí Đinh Thế Văn cung cấp

Phóng viên (PV): Tiểu đoàn ông chủ động hay tình cờ bắn rơi chiếc máy bay B-52 thứ hai, nhưng là chiếc đầu tiên theo phương pháp “vượt nửa góc”?

Ông Đinh Thế Văn: Chủ động chứ. Chiếc máy bay đó rơi tại chỗ ở xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây vào lúc 4 giờ 39 phút ngày 19-12. Để bắn được B-52 bằng phương pháp “vượt nửa góc” tiểu đoàn chúng tôi không những phải vượt qua những ngày học tập, nghiên cứu, huấn luyện ứng dụng cực kỳ gian khổ, mà còn có cả xương máu của đồng đội trong gần 7 năm Quân chủng PK-KQ tìm cách đánh để đối đầu với B-52.

PV: Ông giải thích tính ưu việt của phương pháp“vượt nửa góc” với phương pháp “3 điểm” mà Tiểu đoàn 59, Trung đoàn 261, Sư đoàn Phòng không 361 đã ứng dụng bắn rơi chiếc B-52 đầu tiên trong Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” vào đêm hôm trước?

Ông Đinh Thế Văn: Khi còn bám mục tiêu (B-52) thì giữa quả tên lửa của ta và mục tiêu là một góc. Đến điểm góc bằng không là tên lửa đã bắn được B-52. “Vượt nửa góc” nghĩa là quả tên lửa của ta điều khiển lên sao cho phải luôn luôn đón trước nửa góc với mục tiêu. Khi đến điểm bằng không là tên lửa tự động bắn mục tiêu. Như vậy cách đánh này xác suất đạt cao, vừa tiết kiệm đạn, vừa bắn rơi được B-52 tại chỗ.

PV: Còn phương pháp bắn “3 điểm”?

Ông Đinh Thế Văn: Ba điểm là ấn nút bắn mục tiêu, khi đài ra-đa, tên lửa và mục tiêu (nhiễu máy bay B-52) trên một đường thẳng. Cách đánh này không phát sóng “vạch nhiễu tìm B-52” tránh được tên lửa (sơ-rai) của địch bắn trở lại trận địa, nhưng không phát huy được tên lửa bắn tự động và thường phải bắn một lúc nhiều tên lửa.

PV: Cái khó của phương pháp “vượt nửa góc” là gì?

Ông Đinh Thế Văn: Để bắn B-52 bằng phương pháp “vượt nửa góc” đòi hỏi lòng dũng cảm, trí thông minh và bản lĩnh của cả kíp chiến đấu rất cao. Trước hết là không sợ địch, dũng cảm mở máy ra-đa liên tục để lùng sục, vạch trong dải nhiễu tìm đúng vị trí B-52. Nếu xử trí không nhanh, cắt sóng không kịp sẽ bị sơ-rai của địch bắn phóng vào trận địa. Nghĩa là toàn kíp chiến đấu gồm tiểu đoàn trưởng, sĩ quan điều khiển, 3 trắc thủ phải hiệp đồng chặt chẽ, phải nhuần nhuyễn trong thao tác để sao cho trong vòng 60 giây đã hoàn thành một trận đánh.

PV: Phương pháp “vượt nửa góc” sau trận đánh thành công của Tiểu đoàn có được ứng dụng rộng rãi trong chiến dịch không?

Ông Đinh Thế Văn: Ngay sau thắng lợi của Tiểu đoàn 77, các tiểu đoàn khác đã ứng dụng phương pháp “vượt nửa góc” bắn rơi nhiều B-52.

PV: Xin cảm ơn ông!

HUY THIÊM (thực hiện)
qdnd.vn

“Kỳ tích” dẫn đường

QĐND – Đại tá Nguyễn Văn Chuyên, nguyên Phó tham mưu trưởng Quân chủng Không quân, quê ở Bình Định. Ông nhập ngũ năm 1949, được đào tạo về kỹ thuật hàng không tại Trung Quốc và Liên Xô (trước đây). Về nước, từ năm 1965 đến 1972, ông đã dẫn đường cho máy bay tiêm kích chiến đấu 110 trận, góp phần bắn rơi hàng chục máy bay của Mỹ. Nay ông nghỉ hưu tại phường Khương Trung, Thanh Xuân, Hà Nội. Nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, Đại tá Nguyễn Văn Chuyên đã tâm sự với chúng tôi về những kỷ niệm xưa.

Bí mật, bất ngờ

“Tôi dẫn đường hiện sóng ra-đa được 4 tháng thì Bộ tư lệnh Quân chủng điều về làm Trợ lý Dẫn đường tại Sở chỉ huy ở Sân bay Bạch Mai (K18). Trận dẫn đường đầu tiên của tôi vào ngày 20-9-1965. Tin tình báo cho biết, máy bay địch đánh phá sân bay Kép (huyện Lạng Giang, Bắc Giang). Ban đầu có ý kiến là biên đội 4 máy bay MiG-17 gồm: Phạm Ngọc Lan, Nguyễn Nhật Chiêu, Nguyễn Ngọc Độ và đồng chí Trì cất cánh từ Sân bay Nội Bài, qua Hiệp Hòa và Yên Thế rồi tiến công máy bay địch ở Lạng Giang. Tôi đề nghị đường bay trực diện ấy đúng hướng địch cảnh giới, nên để tạo yếu tố bất ngờ thì bay từ Nội Bài lên Bắc Kạn, vòng về Thái Nguyên, sang phía nam Lạng Sơn rồi đánh xuống Lạng Giang. Sở chỉ huy đồng ý, địch có 4 chiếc F-4, ta có 4 MiG-17, địch vượt trội ta về tốc độ. Nhưng nhờ có yếu tố bất ngờ, anh Nguyễn Nhật Chiêu đã bắn rơi tại chỗ 1 chiếc F-4, 3 chiếc F-4 còn lại bỏ chạy ra biển liền bị 3 chiếc MiG-17 của ta đuổi theo bắn bị thương 2 chiếc nữa. Đây là trận đầu tiên MiG-17 (không quân Mỹ coi là cổ lỗ sĩ) đã bắn rơi F-4 của Mỹ.

Đại tá Nguyễn Văn Chuyên.

Đón đầu bán cầu trước

Năm 1966, Mỹ cho máy bay F-105 mang bom ra đánh phá miền Bắc và thường xuyên có máy bay tiêm kích yểm hộ. Khi ta phát hiện thì MiG-17 không đuổi kịp vì tốc độ lớn nhất của F-105 đạt 1.800km/giờ (gấp 1,5 lần MiG-17). Trước khó khăn đó, tôi đề xuất phương pháp dẫn đường mới là dẫn MiG-17 tiếp cận F-105 ở bán cầu trước với góc vào 120 độ. Phương pháp này khi học ở nước ngoài bạn không cho phép, mà chỉ được tiếp cận máy bay địch ở bán cầu sau. Lúc ấy có đồng nghiệp của tôi cũng không đồng ý vì tiếp cận bán cầu trước dễ bị ra-đa của địch phát hiện. Tôi đã chứng minh ra-đa trên máy bay F-105 có góc độ phát hiện mục tiêu 60 độ và cự ly 60km về phía trước, phương pháp dẫn đường của tôi nằm ngoài cánh sóng ra-đa. Ngày 12-8-1967, tại Sở chỉ huy Trung đoàn 923 (Gia Lâm) tôi dẫn đường cho biên đội MiG-17 gồm các đồng chí: Tào, Hùng, Xuân và Vân bay lên gặp một tốp 16 chiếc F-105 mang bom. Với góc tiếp cận 120 độ, đón đầu ở bán cầu trước, biên đội đã bắn rơi 1 chiếc F-105, rồi trở về sân bay an toàn, 15 chiếc F-105 còn lại vội vứt bom bừa bãi quay ra, không vào được mục tiêu. Sau trận này phương pháp dẫn đường của tôi được quân chủng cho phổ biến rộng rãi.

Chọn đoạn bay bằng, tiếp cận khi bay vòng

Năm 1966, không quân ta có 3 lần cất cánh đánh máy bay gây nhiễu điện tử RB-66, nhưng không thành công và lần thứ ba một chiếc MiG-21 của ta bị F-4 đi yểm trợ bắn rơi. Do đó Tư lệnh Quân chủng quyết định không dùng không quân đánh máy bay RB-66.

Sang năm 1967, đế quốc Mỹ cho RB-66 vào gần Hà Nội hơn để gây nhiễu. Đặc biệt trong tháng 10 và 11-1967, máy bay RB-66 gây nhiễu rất nặng, ảnh hưởng không nhỏ đến sức chiến đấu của bộ đội tên lửa và pháo phòng không của ta. Trước tình hình đó, Tư lệnh Quân chủng Nguyễn Văn Tiên giao cho tôi nghiên cứu phương án dẫn đường cho MiG-21 đánh máy bay gây nhiễu RB-66, trong điều kiện có F-4 yểm hộ trực tiếp và yểm hộ khu vực. Sau một tuần chuẩn bị, phương án đề xuất của tôi có 3 điểm đổi mới:

Thứ nhất: Giữ bí mật giai đoạn đầu để địch không kịp đối phó. Muốn vậy phải bay thấp tránh ra-đa đối phương ở ngoài biển phát hiện và không bay gần khu vực có tiêm kích địch làm nhiệm vụ yểm trợ.

Thứ hai: Kéo F-4 ra xa RB-66 khi ta tiếp cận. Thời điểm này chỉ xảy ra khi RB-66 bay vòng.

Thứ ba: Tính toán thật chính xác thời cơ cất cánh của ta chỉ được sai số dưới 30 giây.

Cái khó của phương pháp này là phải tìm ra đoạn bay bằng để gây nhiễu của RB-66. Quân báo cho biết, đoạn bay bằng của RB-66 từ 80 đến 85km (lệch 10km). Tôi xem và đo đạc hơn 100 sơ đồ bay của RB-66 hoạt động thì thấy đoạn bay bằng của RB-66 là 82km. Từ đó tôi tính ra thời cơ cất cánh của MiG-21. Tiếp cận máy bay địch khi đang bay vòng cũng rất khó, không quân thế giới chưa nước nào làm. Mỹ cũng xác định như vậy nên chỉ cho F-4 yểm trợ ngăn chặn máy bay ta khi RB-66 bay thẳng, bay bằng.

Bằng phương pháp chọn đoạn địch bay bằng để ta cất cánh, lợi dụng địch bay vòng để ta tiếp cận, sáng ngày 19-11-1967, tổ dẫn đường có tôi cùng hai đồng chí Hưng và Hùng ở Trung đoàn Không quân 921 dẫn biên đội MiG-21 do hai đồng chí Đĩnh và Kính lái đã bắn rơi 1 chiếc RB-66 đầu tiên ở khu vực Vụ Bản. Ngay chiều hôm ấy, máy bay địch đã phải lùi ra xa, cách Hà Nội từ 200 đến 250km. Cường độ nhiễu giảm, tên lửa và pháo phòng không ta hoạt động bình thường như trước.

Dẫn đường với góc tiếp cận lớn

Năm 1969, sau khi tuyên bố ngừng ném bom vô điều kiện miền Bắc Việt Nam, Mỹ tăng cường trinh sát bằng máy bay không người lái vào Hà Nội, Hải Phòng. Máy bay không người lái bay ở độ cao 300m bị ta bắn rơi một chiếc. Mỹ liền thay đổi thủ đoạn là dùng C-130 phóng máy bay không người lái từ biển vào cửa Ba Lạt (Thái Bình) tới Hà Nội, Hải Phòng ở độ cao 200m, có khi chỉ 150m. Sự thay đổi này khiến các trạm ra-đa cảnh giới của ta rất khó phát hiện, không quân, tên lửa và pháo cao xạ cũng gặp khó khăn khi đón đánh. Đang làm nhiệm vụ tìm cách dẫn đường đánh B-52 tại Sở chỉ huy B3 (Nghệ An) thì tôi được gọi ra Hà Nội để nghiên cứu cách đánh máy bay không người lái bay cực thấp (bay ở độ cao dưới 200m). Sau hội nghị quân sự dân chủ của quân chủng, tôi suy nghĩ rất nhiều về các ý kiến tham gia rồi đề nghị: Phải sử dụng ra-đa dẫn đường phát hiện thấp thì mới đánh được và đề nghị đưa Đại đội ra-đa dẫn đường 47 ra gần cửa Ba Lạt để đón bắt không người lái từ ngoài biển. Đối với MiG-21 thì phải dẫn đường góc tiếp cận lớn như MiG-17. Vì dẫn đường có góc tiếp cận lớn sẽ dễ phát hiện mục tiêu nhỏ và bay thấp, hơn là dẫn đường bám đuôi phóng tên lửa như dẫn đánh máy bay cường kích. Phương án của tôi được Tư lệnh Quân chủng thông qua và Trưởng ban Dẫn đường cử tôi xuống Thái Bình để cùng Đại đội ra-đa 47 nghiên cứu, xây dựng trận địa. Chúng tôi nhất trí đặt Trạm ra-đa gần cửa Ba Lạt. Từ đây có thể phát hiện mục tiêu bay thấp từ biển vào rồi bám theo chúng bay về Hà Nội hay Hải Phòng. Triển khai xong trận địa, tôi về Sở chỉ huy trực ban dẫn đường theo phương án. Chiều ngày 24-6-1969, ra-đa phát hiện mục tiêu, tôi dẫn biên đội MiG-21 của hai phi công Thái và Cương bắn rơi chiếc máy bay không người lái đầu tiên tại Thái Bình. Hai ngày sau (26-6) chúng tôi lại dẫn biên đội MiG-17, với hai phi công Lộc và Cống cất cánh từ Sân bay Kiến An bắn rơi 1 máy bay không người lái ở khu vực Hải Phòng. Ngày 1-7-1969, biên đội MiG-21 của hai phi công Minh và Cung bắn rơi 1 máy bay không người lái ở Thường Tín (Hà Tây)… Gần 2 tháng (từ 24-6 đến 23-8-1969, không quân ta đã bắn rơi 5 chiếc máy bay không người lái bay cực thấp. Chúng ta đã làm phá sản hoàn toàn âm mưu dùng máy bay không người lái cực thấp để quấy rối Hà Nội và Hải Phòng.

Bí mật, bay thấp, kéo cao

Nhiệm vụ đánh B-52 được không quân ta âm thầm nghiên cứu, chuẩn bị từ năm 1968. Ngày 4-10-1971, phi công Đinh Tôn đã bí mật đưa máy bay vào Sân bay Đồng Hới (Quảng Bình). Khi bay lên chiến đấu, Đinh Tôn tiếp cận được B-52 thì đã quá gần, không thể đánh đối đầu. Ngày 20-11-1971, từ Sân bay Nội Bài, 2 chiếc MiG-21 do phi công Vũ Đình Rạng và Hoàng Biểu lái, tắt toàn bộ thông tin liên lạc để giữ bí mật, bay thấp để tránh ra-đa địch phát hiện rồi hạ cánh xuống Sân bay Vinh và Sân bay Anh Sơn (Nghệ An) đợi sẵn. Lúc 19 giờ 30 phút, một tốp B-52 từ căn cứ quân sự ở Thái Lan bay vào, Hoàng Biểu cất cánh từ Sân bay Vinh lên đánh nhưng bị lộ, B-52 vòng trở lại Thái Lan, chúng tôi được lệnh dẫn đường cho Hoàng Biểu giữ nguyên độ cao 6000m bay thẳng ra Sân bay Nội Bài (Hà Nội). Hành động nghi binh này khiến địch tưởng ta không có MiG lên chiến đấu nữa, nên chúng liền cho B-52 quay lại đánh phá mục tiêu theo kế hoạch. Chúng tôi đã dẫn đường cho Vũ Đình Rạng cất cánh từ Sân bay Anh Sơn, bay thấp theo sườn Tây núi Đại Huệ rồi dọc theo đỉnh Trường Sơn theo hướng Đông Nam 160 độ, vượt qua đèo Keo Nưa, khi tốp B-52 đang bay về phía Tây Hà Tĩnh. Khi thời cơ chuyển hướng đến, tôi báo cho Vũ Đình Rạng sửa đường bay hướng 250 độ, sang Lào, ngược chiều với tốp B-52 đang vượt qua sông Mê Công. Khi 3 chiếc B-52 vượt qua nửa nước Lào thì Rạng được thả thùng dầu phụ, kéo lên lấy độ cao. Lát sau, Rạng mới mở ra-đa trên máy bay, bật công tắc ống nói: “Phát hiện B-52, cự ly 11km. Xin phép công kích”. Trên ra-đa MiG-21 vùng phóng đã xuất hiện, Rạng nhẩm đếm 1, 2, 3, 4, 5 nghĩa là cự ly chỉ cách gần 1,5km, anh bóp cò. Quả tên lửa lao lên phía trước, chớp lửa lóe lên, một chiếc B-52 bị thương, lết về tới Thái Lan thì hạ cánh bắt buộc, hư hỏng hoàn toàn.

Còn nhiều kỳ tích khác về dẫn đường, nhưng qua trận này không quân ta có một kinh nghiệm quý để vận dụng đánh bại pháo đài bay B-52 Mỹ trong Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972. Trong 12 ngày đêm lịch sử này, tôi trực tiếp dẫn đường cho không quân ta bắn rơi 1 máy bay F-4, gián tiếp dẫn đường cho phi công Phạm Tuân và Vũ Xuân Thiều bắn rơi 2 chiếc máy bay B-52 của Mỹ.

TÔ KIỀU THẨM (ghi)
qdnd.vn

“Sao vuông” lập công trên mọi mặt trận

QĐND – Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là chiến thắng của cuộc chiến tranh nhân dân chống lại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân đối với miền Bắc. Trong chiến thắng đó, những đóng góp của lực lượng dân quân tự vệ (DQTV) có ý nghĩa rất quan trọng. Trên mọi mặt trận, từ chiến đấu, phục vụ chiến đấu, lao động sản xuất, bảo đảm giao thông, làm nhiệm vụ hậu bị… vị trí, vai trò chiến lược và khả năng to lớn của lực lượng DQTV được thể hiện rõ nét.

Chỉ bằng súng bộ binh nhưng với tinh thần chiến đấu dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, lực lượng DQTV đã bắn rơi nhiều máy bay Mỹ, bắt sống giặc lái. Trong Chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, lực lượng bắn máy bay của DQTV miền Bắc đã triển khai 356 trận địa. Đặc biệt, biết trước mưu đồ của địch từ tháng 6-1972, thành phố Hà Nội đã thành lập 8 đại đội tự vệ tập trung. Mỗi khu phố trong nội thành tổ chức một đại đội DQTV pháo phòng không 100mm (hoàn toàn thoát ly sản xuất) để tăng cường hỏa lực bắn máy bay địch. Mỗi huyện ở ngoại thành tổ chức một đại đội bộ binh tập trung, trang bị đủ súng đạn, làm nhiệm vụ cơ động chiến đấu trên địa bàn huyện… Hệ thống trận địa bắn máy bay bay thấp của DQTV trên địa bàn Hà Nội được tổ chức thành 62 trận địa trực chiến, bố trí sát mục tiêu bảo vệ. Những cơ quan, xí nghiệp, trong nội thành còn có từ 70 tự vệ trở lên tổ chức các đơn vị chiến đấu trang bị súng máy cao xạ cơ động đánh địch nhưng không hoàn toàn thoát ly sản xuất. Các cơ quan xí nghiệp có dưới 70 tự vệ được trang bị súng bộ binh làm nhiệm vụ chiến đấu tại chỗ và là lực lượng xung kích trong khắc phục hậu quả bom, đạn địch. ở ngoại thành, dân quân, du kích mỗi thôn xã đều chia thành ba bộ phận gồm: Chiến đấu cơ động được trang bị súng máy cao xạ; chiến đấu tại chỗ được trang bị súng bộ binh và phục vụ chiến đấu… Không chỉ sử dụng súng bộ binh, các đơn vị DQTV đã sử dụng pháo cao xạ từ 14,5mm, 12, 7mm đến 37mm…

Lực lượng tự vệ và công nhân đường sắt (Hà Nội) sửa chữa, khôi phục đường tàu bị bom Mỹ phá hủy. Ảnh tư liệu

Tuy vũ khí trang bị thô sơ, lực lượng không nhiều nhưng do được tổ chức chặt chẽ, bố trí hợp lý, đồng thời làm tốt công tác phòng không nhân dân nên lực lượng DQTV đã cùng với quân và dân miền Bắc hình thành một thế trận phòng không rộng khắp nhiều tầng, nhiều lớp, tạo lưới lửa dày đặc, có thể đánh địch từ nhiều hướng, nhiều tầm cao khác nhau, làm hạn chế ưu thế tính năng, tác dụng của các loại vũ khí trang bị, phương tiện chiến tranh hiện đại của không quân Mỹ, vô hiệu hóa nhiều thủ đoạn thâm độc, tinh vi, xảo quyệt của chúng. Nhiều trận đánh xuất sắc đã được các đơn vị DQTV thực hiện, điển hình là cụm súng máy 14, 5mm của tự vệ Nhà máy Cơ khí Mai Động (Hà Nội) phối hợp với các lực lượng bắn rơi tại chỗ một máy bay F -111A bằng 21 viên đạn; Trung đội dân quân xã Hợp Hòa (Hòa Bình) đã bắt sống 2 tên giặc lái Mỹ là tên thiếu tá William Winson và đại úy Robert David Raybanger, bắn cháy một máy bay trực thăng; Dân quân xã Xuân Sơn, huyện An Thụy (Hải Phòng) phối hợp với bộ đội pháo cao xạ bắn rơi tại chỗ một máy bay A -6… Sau 12 ngày đêm của chiến dịch, quân và dân ta đã chiến đấu dũng cảm, bắn rơi 81 máy bay địch, trong đó có 34 B -52 và 5 F -111. Số máy bay địch bị lực lượng phòng không nhân dân mà nòng cốt là DQTV bắn rơi là 22 chiếc, trong đó có một chiếc B -52 và 4 chiếc F -111… Có thể nói đây là chiến công hết sức oanh liệt của DQTV Việt Nam, góp phần đánh bại mưu đồ đen tối, thủ đoạn thâm độc, hành động tàn bạo của kẻ thù.

Do trước đó chưa có chiếc B -52 nào bị bắn rơi tại chỗ nên khi bước vào cuộc không kích tháng 12-1972, bọn giặc lái Mỹ còn chủ quan, huyênh hoang rằng: “Bay vào Hà Nội chỉ như cuộc dạo chơi trong đêm phương Đông, ở độ cao 10.000m, đối phương không thể với tới, các bạn chỉ cần ấn nút rồi trở về căn cứ an toàn, sạch sẽ”. Nhưng rồi sau này chính những giặc lái Mỹ đã thú nhận rằng họ rất lo lắng, hoảng sợ khi phải thực hiện các chuyến bay leo thang đánh phá miền Bắc Việt Nam. Đặc biệt để đánh phá trúng mục tiêu, máy bay Mỹ phải bay thấp. Nhưng khi bay thấp lại vấp phải lưới lửa phòng không của lực lượng DQTV Việt Nam, vì thế chúng rất lo sợ. Cũng chính các phi công Mỹ phải than vãng rằng: Mỗi viên đạn súng trường, cũng có tác dụng như một nhát búa tạ” giáng vào máy bay của chúng… Như vậy, có thể thấy lưới lửa phòng không tầng thấp mà lực lượng DQTV tạo ra đã góp phần quan trọng hạn chế đáng kể sự phá hoại của không quân Mỹ đối với miền Bắc Việt Nam. Cùng với chiến đấu dũng cảm, bắn rơi nhiều máy bay Mỹ, lực lượng dân quân tự vệ đã bắt sống hầu hết số phi công nhảy dù xuống miền Bắc.

DQTV các địa phương miền Bắc còn tích cực làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, chủ động tiếp đạn, cứu thương, cấp dưỡng, đóng góp hàng triệu ngày công xây dựng, củng cố trận địa, sân bay bị địch ném bom và làm đường cơ động chi viện kịp thời cho các đơn vị bộ đội chủ lực, nhất là các đơn vị phòng không. Tự vệ các công ty cầu đường bám trụ trên các trục tuyến giao thông, phối hợp với các lực lượng giải tỏa các chướng ngại, tháo gỡ, xử lý hàng chục nghìn quả bom các loại để giải phóng mặt đường, bảo đảm giao thông thông suốt trong mọi tình huống….

Lực lượng DQTV đã có những đóng góp to lớn trong công tác phòng không nhân dân. Đặc biệt để hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do bom đạn địch gây ra cho nhân dân, lực lượng DQTV đã vận động và tổ chức cho hàng chục vạn người sơ tán khỏi các thành phố, thị xã, đào hàng chục vạn hố cá nhân, hàng nghìn hầm tập thể… Tuy đã trở thành chiến trường nóng bỏng, song cùng với quân và dân miền Bắc, lực lượng DQTV vẫn hoàn thành nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam, sức người, sức của chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn được vận chuyển theo kế hoạch.

Công tác giữ gìn trật tự trị an trong điều kiện đất nước có chiến tranh cũng là một nhiệm vụ rất quan trọng. Nhận thức rõ điều đó, lực lượng DQTV đã tích cực phối hợp cùng lực lượng công an triển khai nhiều biện pháp hữu hiệu giữ vững an ninh trật tự tại cơ sở. Có DQTV phối hợp, giúp đỡ, lực lượng công an đã phát hiện kịp thời, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm, nhất là bọn phản động, biệt kích, thám báo, gián điệp…

Những chiến công mà các chiến sĩ “sao vuông” lập được trên các mặt trận đã góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của quân và dân cả nước trong Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” năm 1972 – một trang sử hào hùng, mốc son chói lọi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà.

PHÙNG KIM LÂN
qdnd.vn

Những người chia lửa

Hướng tới kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

QĐND – Hải Phòng ban ngày đã vắng, đêm lại càng vắng vì lạnh. Tháng 12, sắp đến ngày Noel, nội thành vàng vàng ánh điện. Gió đông lay lắt chao đèn đường, nhiều lúc điện tắt phụt, tối om. Từ đầu năm 1972, Cửa Cấm bị thủy lôi Mỹ phong tỏa, thi thoảng mới có tàu nhỏ được hoa tiêu dẫn vào, dò dẫm từ đảo Long Châu tới đèn Nam Triệu cũng mất cả ngày. Còi báo động chốc chốc lại rú lên trên nóc Nhà hát Thành phố. Con phố đổ xuống Phà Bính ngày thường đông là thế, những ngày này vắng hẳn. Có ai đó muốn sang bên Thủy Nguyên, phải chờ khi có xe của bộ đội xuống phà, mới tất tả dắt xe đạp băng theo xuống bến. Bộ đội ai cũng có mũ sắt, còn dân thì có mũ rơm. Những công nhân bến phà còn mặc cả áo rơm, đan kiểu gi-lê, trông mới đầu ngồ ngộ, rồi cũng thấy quen.

Nhiều trận bom Mỹ giội vào Khu An Dương từ giữa năm, hay những trái bom bi nổ chậm bất thần nổ ở trong phố, khiến dân chúng phải đi sơ tán về mãi vùng quê tận An Lão, Kiến Thụy…

Trên đường ra Quán Toan hay về An Hải chỉ thấy xe bộ đội, những chiếc xe dài ngoẵng chở đạn tên lửa giắt đầy lá, cuốn bụi lầm từ Ruồn về.

Tới ngày 18-12 thì Hải Phòng vắng hẳn, lệnh sơ tán triệt để đã được ban hành, thành phố bây giờ là chiến địa. Trên các tầng nhà cao hay tháp nước, thấp thoáng những khẩu đội cao xạ trực chiến. Hải Phòng phập phồng, căng thẳng chờ máy bay Mỹ tới.

Lắp ráp đạn tên lửa chuẩn bị chiến đấu với B.52. Ảnh tư liệu.

Những chiến sĩ tên lửa của đoàn Nam Triệu hay đoàn Hạ Long biết rõ những đường bay của không quân Mỹ vào thành phố này. Chúng vào ăn cướp rất nhanh và cũng bay ra rất nhanh.

Cấp chỉ huy bộ đội phòng không Hải Phòng đã quán triệt cho chiến sĩ của mình đặc điểm tác chiến ở vùng cửa biển, rằng thời gian địch xuất hiện rất ngắn, nếu không cảnh giác sẽ lỡ thời cơ chiến đấu. Đã có những bài học, khi phát hiện địch, báo động vào cấp 1 không kịp, thì bọn A6, F8U đã kịp ném bom, bay ra.

Bảng tiêu đồ 9×9 trên xe P-12 của Tiểu đoàn hỏa lực 72 còn lưu dấu chì xanh về đường bay của không quân Mỹ. Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Chắt luôn nhắc nhở anh em trắc thủ, địch thường bay vào, lấy cửa Nam Triệu làm điểm kiểm tra và đột nhập Hải Phòng từ phía chính Đông. Hướng thứ hai, lấy cửa sông Văn Úc làm điểm kiểm tra tập hợp đội hình vào đánh Hải Phòng từ phía Tây Nam. Các tốp B-52 vào Hải Phòng từ trước đến nay đều sử dụng cả hai đường bay này.

Buổi trưa, chiến sĩ nuôi quân ở bếp tiểu đoàn vào phố về phàn nàn, thịt bán tem phiếu ở cửa hàng đã ít, nhưng rau cũng khó mua, chợ không có người bán. Chiến tranh tác động đến từng chi tiết của đời sống. Hậu cần tiểu đoàn sốt ruột, làm sao cho bộ đội có đủ rau, đủ thịt duy trì bữa ăn bình thường. Quản lý bếp ăn nhanh nhẹn chạy lên xin tiểu đoàn cho xe tải về huyện mua bí và su hào dự phòng chiến đấu dài ngày… Nhưng một lúc sau, anh chạy về bếp tiu nghỉu, không nói không rằng, vơ hết giấy tờ, sổ sách, quần áo cơm vào ba lô rồi thì thào như buôn bạc giả “Cơ động! Cơ động!”.

Tin tiểu đoàn phải cơ động trận địa lan nhanh. Bếp trưởng bảo: Xin người hỗ trợ hậu cần chứ? Hôm trước cũng thế, chắc lại rút ra quanh quẩn ngoại thành chứ gì? Cái gì cần thì mang, không chết mệt, bỏ lại ít đồ không dùng, về lấy sau. Chính trị viên phó xuống phổ biến: Mang đi tất cả, cơ động xa, chuẩn bị nấu ăn trên đường vài ngày. Cử một tổ đi trước chuẩn bị… cơm nước theo kiểu dã ngoại!

Rồi mọi người cũng biết, cùng với tiểu đoàn 71, Tiểu đoàn 72 lên chi viện “chia lửa” cho Hà Nội. Xe bánh lốp chạy trước, xe bánh xích bao giờ cũng chậm nên đành chạy sau. Dân quân và bà con tiễn bộ đội ra tận đường cái lớn. Ngồi trong ca-bin, sĩ quan điều khiển Dựng ngoái lại nhìn những ngọn dừa, khóm tre mờ dần, lòng anh thắt lại. Sê và con ở lại, không biết thế nào. Cu Dưỡng thì mới hơn một tuổi. Từ ngày 22-12, bọn B-52 đã đánh vào Hải Phòng, nhà lại gần trận địa, bọn A6, F-111 nó “xăm xoi” trận địa tên lửa dữ lắm, may mà có bà ngoại…

Kíp trắc thủ của Tiểu đoàn 72 bắn rơi máy bay tại Hà Nội đêm 27-12. Ảnh tư liệu.

Ngồi ở thùng xe, các trắc thủ Chiêu, Tuyền và Khoa thì có vẻ háo hức. Họ chưa có gia đình, lên trên ấy, cứ địa bàn lạ là vui rồi. Mới có mấy ngày, hơn chục “thằng” B-52 rơi quanh Hà Nội, trên ấy các tiểu đoàn đang đánh tốt, thời cơ cho 72 lại càng nhiều. Khoa làm động tác “vê tay quay” rõ dẻo, biết đâu cơ hội cho kíp 2 lại là Hà Nội.

Nói thì nhanh, nhưng cũng gần hai ngày đêm, Tiểu đoàn 72 mới vào tới Yên Phong (Hà Bắc). Trận địa Đại Chu, nghe thì quen, không ngờ nó ở sâu thế. Ven đường cấp huyện, rẽ qua làng, vào cánh đồng gần cây số nữa.

Những chiếc xe đại xa đỏ quạch bụi đường lùi vào công sự, cắt moóc, chạy ra làng sơ tán. Đạn nạp vào bệ phóng nghe rõ tiếng xích cuộn rào rào. Tiếng búa đóng cọc mát chí chát. Dân quân Yên Phong vào đông, hỗ trợ căng cáp, kéo dây điện thoại cho đài 1, cho xe thông tin tiếp sức nằm ở rìa làng. Trắc thủ kháo nhau, nhiều “em” xinh lắm, con gái Quan họ đấy nhá! Làm sao có những ngày thong thả nữa nhỉ?\

Tuyền nghĩ thầm, tưởng lên Hà Nội thì hay hơn, giữa đồng không mông quạnh thế này, ở Minh Kha còn thích hơn. Nhưng rồi các trắc thủ kíp 2 cũng chẳng còn thời gian mà so bì. Sáng nay chỉnh tham số, chỉnh phương vị chuẩn, huấn luyện cách đánh B-52 gấp gáp. Trưởng xe UNK giao máy sớm, suốt đêm qua các kỹ thuật viên hì hục kiểm tra cáp, “làm tham số”, may sao cơ động hai ngày đường, máy vẫn ngon, đồng bộ các đài, bệ, không có gì phải lo. Điều bất ngờ nhất họ vừa được biết: Kíp 2 vào trực.

Đã suốt mấy tháng qua, kíp 1 bao giờ cũng là “át chủ bài” của Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Chắt. Thực ra tiểu đoàn trưởng nào cũng muốn cho mình có cả kíp 1 và kíp 2 đều tay trong xạ kích. Nhưng khi đối mặt với bọn B-52, người chỉ huy ai cũng muốn “đánh phải chắc thắng”, nên coi trọng kíp đánh tốt, cũng là lẽ thường. Dư luận trong tiểu đoàn xì xào, mấy cậu kíp 2 “đen-ta run” sai số lớn. Chiêu, Tuyền, Khoa biết họ nói về mình. Thực ra trong huấn luyện và chiến đấu với “bọn F”, “bọn A” (máy bay F111 và A6 của Mỹ) vào Hải Phòng, trắc thủ của đoàn Nam Triệu đều rất khá. Không những chuyển trạng thái nhanh mà còn bám bắt mục tiêu trên hiện sóng khá tốt. Phải thừa nhận kíp 1 của 72 cũng giỏi. Trong thành tích bắn rơi tới 35 máy bay của Tiểu đoàn 72, từ ngày nhận khí tài lần đầu đến nay, phần lớn chiến công thuộc về kíp 1. Nhưng đánh bọn B-52 thì… hãy chờ xem!

Buổi đoàn cán bộ Sư đoàn Phòng không Hà Nội đến “nhận quân” và động viên Tiểu đoàn 72 cũng diễn ra chóng vánh. Các chỉ huy nhìn anh em từ xa về, trận địa còn ngổn ngang nên cũng thông cảm.

Bữa ăn trưa hôm ấy ở Tiểu đoàn 72 không thể nói là ngon miệng, dẫu khá nhiều rau và thịt, vì ai cũng hồi hộp với những suy nghĩ mông lung không biết quả đạn mình phóng ra có hạ được B-52 không. Thành thử ai cũng ăn quáng quàng rồi tranh thủ “làm một giấc”. Giấc ngủ giữa trận địa Đại Chu, với các chiến sĩ tên lửa thật quý giá vì đã vạ vật trên xe mất hai ngày trời. Nhưng chỉ được một lúc họ đã phải bật dậy vì tiếng còi báo động hú lên xé tan bầu không khí tĩnh lặng buổi trưa. Lúc đó khoảng hơn 13 giờ.

Trên xe điều khiển, tiêu đồ 5×5 cặp bút chì vào kẽ tay theo hút tốp mục tiêu vào hướng X, cự ly ngắn dần. Lệnh “phát sóng” “sục sạo”, rồi “đồng bộ”… phóng!.. Xe rung lên nhè nhẹ cùng tiếng nổ xé từ ngoài bệ đạn. Cháy rồi! Chỉ trong khoảnh khắc mục tiêu mất dạng trên màn hình trước mặt các trắc thủ. Tiếng hô reo mừng từ bên ngoài lọt cả vào xe. Cả xe chiến đấu hừng hực khí thế chuyển hướng ăng-ten, nhưng lệnh về cấp 2 nhanh chóng truyền về. Nhanh quá! Kíp trắc thủ ai nấy đều hể hả xuống xe. Ngoài kia, trời tháng Chạp vẫn hun hút gió lạnh. Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Chắt mừng lắm, nhìn đồng hồ 13 giờ 36 phút, như thế là vừa triển khai, nhưng khí tài kỹ thuật tốt. Chuẩn, chuẩn! Anh nói ra mồm với Nguyễn Văn Dựng. Thoáng 1 chút chau mày, anh nghĩ gì? Dựng nhìn anh bối rối, không dám hỏi. Ừ! Có thể anh lo mấy xe đạn chưa về, chở từ Ruồn lên đây phải hai ngày, mà chưa có tin gì. Ngoài kia trận địa chỉ còn 2 trái đạn. Đúng ra lúc này đã phải nạp đạn bổ sung rồi.

* * *

Đúng là tuổi trẻ vô tư, niềm phấn khích bắn rơi máy bay F4 khiến các trắc thủ, pháo thủ của Tiểu đoàn 72 xôn xao khắp từ bếp ăn đến cả khi về nhà bạt. Họ đã chia lửa cho Hà Nội từ ngày đầu tiên lên đây. Nhưng niềm khát khao hạ gục B-52 vẫn đau đáu trong lòng các anh. Dựng về, kéo mấy trắc thủ ra nói nhỏ: Trên phê bình tiểu đoàn ta. Sao? Mọi người thắc mắc, gương mặt ai nấy ỉu xìu. Dựng nói giọng nghiêm trọng, bắn rơi bọn F4, trên không khuyến khích, dành đạn đánh B-52. Các đơn vị ở Hà Nội đang khan đạn. Này anh em nhớ nhé, bây giờ không có kiểu bắn bồi, bắn nhồi hai ba đạn nữa đâu nhá!

Trở về nhà bạt, nằm xuống, trắc thủ góc phương vị Tuyền trăn trở lắm. Hôm qua anh tranh luận với mấy người, biết rõ hơn, trận địa này cùng với “thằng” 71 cũng từ Hải Phòng lên, có nhiệm vụ đánh bên sườn các đường bay vào Hà Nội. Đánh theo phương pháp P hay phương pháp T thì cũng phải “vê” tay quay giữ cho thao tác ổn định. B-52 cơ động hướng không nhiều, nhưng sai một ly đi một dặm.

Còn Nguyễn Văn Chiêu, trắc thủ góc tà thì khẽ nhắm đôi mắt, tay múa nhẹ như “lên đồng”. Nhưng không phải múa, anh đang hình dung ra khi “thằng B” vào đến cự ly bị phát hiện thì dẻ sóng góc tà của anh phải hạ xuống ra sao, đều đều, chắc chắn thế nào. Rồi khi chuyển về bám tự động, bàn tay mở ra sao để ấn tay quay “ngọt” nhất…

Cũng là sinh viên vào bộ đội tên lửa như Chiêu và Tuyền, Khoa hình dung và nắm được các phương pháp bám sát, lái đạn. Bắn khi nhìn thấy mục tiêu và bắn khi không nhìn thấy mục tiêu, đều là phương pháp bắn có cơ sở khoa học. Có điều là nhiễu B-52 nặng quá, trắng đục màn hình… thời cơ quan trọng lắm. Khoa hiểu sĩ quan điều khiển Dựng, người chỉ huy của anh cũng trăn trở không kém. Trên Hà Nội, các tiểu đoàn bắn theo dải nhiễu khá tốt…

Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Chắt không giấu anh em lời nhắc nhở của cấp trên, về việc các anh đã “cao hứng” bắn rơi tốp F4. Nói xong anh thấy lòng nhẹ hơn. Cấp trên có lý, là cấp chỉ huy hướng đánh trả, chỉ huy chiến dịch tổng hợp, chỉ huy lực lượng chiến dịch, họ có nỗi lo lớn. Còn cấp tiểu đoàn như anh là cấp chỉ huy xạ kích, phải lo bắn cho trúng. Trên giao cho anh quản lý hướng chủ yếu là NN.

Bắn theo phương pháp nào là hợp lý? Chỉ câu hỏi vậy thôi mà anh phải nhiều đêm mất ngủ. Khi phát hiện chính xác dải nhiễu, đánh theo phương pháp 3Đ, liệu có chắc ăn. Còn bắn theo phương pháp T, các trắc thủ của anh có bám sát tốt? Dẫu là kíp 2 tham gia trực trận này, anh hiểu rõ từng người, họ vốn là các sinh viên kiến thức về hình học không gian. Dựng, sĩ quan điều khiển vốn là sinh viên, Dựng và anh đã nhiều lần “đồ giải”, đưa ra các tình huống B-52 vào. Theo các phương pháp mà cấp trên dày công tập huấn, các anh chú trọng phân tích tính chất mục tiêu, tốc độ và đường bay cụ thể.

Trên hướng NN các anh được phân công chặn địch, nó sẽ vào tới đâu? Đâu sẽ là cự ly “nó” chuyển góc bay? Nếu là cự ly A, nếu là cự ly B… các giả định được đưa ra. Nguyễn Văn Chắt tin ở anh em. Địch đánh vào Hải Phòng, thời gian xuất hiện ngắn mà anh em còn bình tĩnh bám sát. Ở trên này, thời gian B-52 xuất hiện chắc chắn dài hơn, các tốp hộ tống cũng vậy. Động thái của các tốp hộ tống, cự ly giãn cách… Phải làm chủ cự ly phóng. Chắt trao đổi cùng anh em khá kỹ. Cự ly, cự ly! Các trắc thủ của Chắt tuy chỉ là hạ sĩ quan, chưa qua trường bài bản, nhưng qua luận giải, Chắt biết cái đầu của họ đã mang cách nghĩ phân tích già dặn hơn chức trách. Cách nghĩ của cấp chỉ huy bắn.

Trong chiến đấu, có những “binh sĩ” hiểu ý định của chỉ huy, hành động ăn ý, thì đó là niềm vui, là phúc chứ không bao giờ là họa.

Trận đánh của Tiểu đoàn 72, đối mặt với B-52 trên bầu trời Hà Nội vào đêm hôm sau 27-12. Lúc 23 giờ 1 phút, sau khi tiểu đoàn vào cấp 1, lệnh trên giao cho Tiểu đoàn 71 và 72 tiêu diệt tốp B-52 lao vào đánh phá Hà Nội.

Nhìn lên bảng tiêu đồ, Chắt thấy phương vị 190 có 3 tốp B-52 đang vào gần. Tiểu đoàn 72 được lệnh diệt tốp 491. Anh suy tính rất lung. Lúc đầu anh xác định sẽ đánh theo phương pháp 3Đ, nhưng Chắt hiểu ý định của trên khi giao cho tiểu đoàn anh chặn hướng chính, nếu bắn ở xa theo phương pháp 3Đ không chắc, Lập tức Chắt quyết định để mục tiêu vào cự ly, theo anh là “đắc địa” nhất, lệnh phát sóng.

Lại nói Dựng, lúc này anh lập tức quay ăng-ten về giẻ quạt 180-21 độ. Quả nhiên tại phương vị 190, trên nền nhiễu đục, Dựng cảm nhận mỗi lúc một rõ có dấu hiệu mục tiêu ở cự ly X km. Không còn nghi ngờ.

Lệnh bắn theo phương pháp T. Lần lượt trắc thủ phương vị, góc tà bật về chế độ bám sát T. Sau đó một khắc, trắc thủ cự ly cũng quyết đoán bật về TĐ.

– Tiêu diệt tốp 491, cự ly B2!

– Phóng!

Một tiếng “cạch” rất lạnh, trái đạn lao lên lừng lững, kéo theo vệt lửa màu cam ngùn ngụt. Ngay sau đó, trái thứ hai cũng phụt lên bám theo, cả trận địa mù mịt khói cam và mùi thuốc đạn. Họ đã bắn bồi trái nữa.

Tất cả các cặp mắt trong xe điều khiển ngắm theo tín hiệu đạn “bắt cửa sóng” bay lên theo quỹ đạo, rất nhanh đạn lao vào mục tiêu gần dần, gần dần rồi nhòe sáng… Chiêu nhìn trên màn hình góc tà, mục tiêu hạ thấp độ cao gấp gáp.

Rơi rồi! Rơi rồi!

Máy bay rơi trên đường Hoàng Hoa Thám (Hà Nội) do Tiểu đoàn 72 bắn hạ. Ảnh tư liệu.

Sĩ quan điều khiển Dựng thở nhẹ một cái thật khoan khoái. Cửa xe UNK bật mở, tiếng hô từ bên ngoài vang động. B52 cháy rồi! Lúc đó là 23 giờ 03 phút đêm 27 tháng Chạp. Chiếc máy bay B52 do Tiểu đoàn 72 bắn rơi tại chỗ. Ta bắt được phi công ngay tại Hà Nội. Hai trái đạn phóng lên tại trận Đại Chu đêm ấy, có ai ngờ là hai trái đạn cuối cùng kết thúc đợt đánh chặn Không quân Mỹ lao vào suốt 12 ngày đêm khét lẹt.

* * *

Sau 40 năm, lời khen ngợi của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp với trận đánh của Tiểu đoàn 72 vẫn còn vang vọng: “Chiến công đặc biệt xuất sắc”. Xuất sắc vì bắn rơi tại chỗ. Các cơ quan chức năng đều xác nhận, chiếc máy bay vẫn còn nguyên hàng chục quả bom. Nếu tốp B-52 đó nó kịp ném ra, nếu… thì Hà Nội bị thêm một vệt bom đau thương biết ngần nào.

Cung lửa bên sườn Hà Nội đã phát huy uy lực của một trận địa lợi hại, chặn đứng các tốp B-52 đánh vào từ phía Đông Nam.

Chúng tôi đã về thăm quê của sĩ quan điều khiển Nguyễn Văn Dựng. Anh quê ở xã Việt Ngọc, Tân Yên, Bắc Giang, là sinh viên Trường Đại học Nông nghiệp, nhập ngũ năm 1966. Dựng về Tiểu đoàn 72 năm 1968, nơi có kinh nghiệm đánh máy bay trinh sát bay thấp nổi tiếng toàn quân chủng.

Bí thư chi đoàn xã Kiền Bái, Thủy Nguyên, Hải Phòng là cô Nguyễn Thị Sê, hoa khôi của vùng khi ấy. Trai tài, gái sắc gặp nhau, Dựng-Sê nên duyên vợ chồng. Đứa con đầu của họ sinh năm 1971. Họ có với nhau tới 4 mặt con.

Sau chiến tranh, Dựng được trên cử đi học chỉ huy phòng không ở Liên Xô. Trở về nước, dần dần Dựng được giao chức tiểu đoàn trưởng hỏa lực. Nhưng không may, năm 1986 căn bệnh trọng đã cướp đi cuộc sống của anh.

Gái Hải Phòng về làm dâu miền bán sơn địa Bắc Giang, Sê tần tảo nuôi 4 con thơ dại. Nhưng nghiệt ngã thay, chứng bệnh suy tim cấp chẳng bao lâu lại nhằm vào Sê. Năm 1992, Sê đã đi theo chồng.

Những đồng đội phòng không miền Kinh bắc suốt những năm tháng sau này, luôn quan tâm về tinh thần và chút ít vật chất cho những đứa con của người sĩ quan điều khiển tên lửa hào hoa, can trường ấy.

Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Chắt nay vẫn còn. Ba trắc thủ đã vào tuổi lục tuần. Nguyễn Văn Chiêu hiện là chủ một gia đình tương đối đông đúc và đầm ấm tại ngõ 43, phố Trung Kính (Hà Nội). Sau khi rời quân ngũ, Nguyễn Văn Chiêu học tiếp đại học và về công tác tại Tổng cục Kỹ thuật vào năm 1979. Năm 1986, anh chuyển ngành về Bộ Công nghiệp nhẹ và làm việc tại Nhà máy Cơ khí Quang Trung.

Nguyễn Văn Tuyền thì sau khi xuất ngũ tiếp tục học và trở thành giáo viên. Anh tham gia giảng dạy tại Đại học Thương mại, đến năm 2002 thì chuyển về Đại học Bách khoa, nơi anh đã từ biệt giảng đường đi chiến đấu. Nguyễn Văn Tuyền từng giữ cương vị Trưởng khoa Mác – Lê-nin của đại học có tiếng này.

Trắc thủ phương vị Trương Đăng Khoa hiện công tác tại Tỉnh ủy Thái Bình. Mỗi người đều có một cuộc sống riêng với những bận rộn về gia đình và xã hội. Họ có chung niềm tự hào bình dị, được chia lửa cùng Hà Nội những ngày gian lao ấy.

TRẦN DANH BẢNG
qdnd.vn

Khống chế sân bay quyết liệt, vẫn bị “đo ván”

QĐND Online – Khi lập kế hoạch chiến dịch tập kích đường không vào Hà Nội, Bộ chỉ huy không quân chiến lược Hoa Kỳ (SAC) biết rõ không quân nhân dân Việt Nam có Mig 21, mang theo 2 tên lửa. Đây là loại máy bay chiến đấu có ưu thế về khả năng lấy độ cao trong thời gian rất ngắn 225 m/s. Thực tế qua những lần đối mặt với biên đội Mig 21, Mỹ thấy rõ cách đánh rất táo bạo, nguy hiểm của những chiếc phi cơ này.

Từ nhận định đó, không quân Mỹ quyết tâm khống chế không quân Việt Nam ngay tại các sân bay, nhằm vô hiệu hóa Mig 21. Trước hết các đòn không kích sẽ được tập kích xuống các sân bay của Hà Nội và khu vực phụ cận, nhằm tước đi khả năng đưa lực lượng không quân Việt Nam vào chiến đấu.

Ngay ngày đầu tiên của chiến dịch, các sân bay chủ yếu như Nội Bài, Yên Bái, Hòa Lạc, Kiến An và sân bay Gia Lâm đã phải hứng chịu các trận không kích.

Sơ đồ sân bay Nội Bài bị bom B-52 và F-111 bắn phá đêm 18-12-1972 (Ảnh: tài liệu Nga)

Tối 18-12-1972 , 22 trái bom rơi trúng đường băng sân bay Nội Bài và 5 trái rơi trúng đường lăn. Còn tại sân bay Yên Bái, 4 quả bom rơi trúng đường băng và 7 quả trúng đường lăn; sân bay Hòa Lạc có 8 trúng đường băng và 14 trúng đường lăn; Kiến An có 9 trúng đường băng và 15 trúng đường lăn…

Ngoài đường băng và đường lăn, một số hạng mục công trình của sân bay cũng bị thiệt hại nặng (nhà chứa máy bay, đài kiểm soát không lưu, các dãy nhà công vụ), nhiều đường dây thông tin liên lạc, hệ thống các đài ra-đa kiểm soát cất hạ cánh (РСП) và thiết bị chiếu sáng các sân bay bị đánh hỏng.

Chi tiết về trận đánh vào Nội Bài, sân bay chính của Mig 21 được tóm lược như sau: Hồi 18 giờ 50 phút, 19 giờ 10 phút và 19 giờ 20 phút đêm 18-12-1972, các máy bay tiêm kích bom F-111A hoạt động đơn lẻ ở độ cao cực thấp, tấn công bất ngờ xuống sân bay. Tuy nhiên, đòn tấn công không mấy hiệu quả. Về tổng thể, sân bay không bị mất mức sẵn sàng chiến đấu.

Hồi 19 giờ 54 phút, tốp đầu tiên các máy bay ném bom chiến lược (3 chiếc B-52) trong đội hình “so le hàng ngang” giãn cách từ 700 đến 800m, trên độ cao 10.600m, cắt góc 650 so với trục đường băng đã ném bom xuống đường băng và đường lăn. Dải trúng bom oanh tạc từ mỗi máy bay B-52 có kích thước 150x1000m.

Hồi 19 giờ 57 phút, tốp thứ hai (3 chiếc B-52) cũng với đội hình “so le hàng ngang” trên cùng độ cao 10.600m, dưới góc 500 so với trục đường băng đã tiến hành trận không kích thứ hai.

Kết quả các đợt ném bom là 22 trái bom rơi trúng đường băng và 5 trái rơi trúng đường lăn chính. Đường băng sân bay Nội Bài bị vô hiệu hóa gần như suốt thời gian chiến dịch.

Thực hiện nhiệm vụ này “hăng” nhất là các máy bay tiêm kích bom F-111A, chúng chỉ hoạt động vào ban đêm.

Các máy bay F-111A tiếp cận sân bay ở độ cao 60m đến 300m, hướng bay cắt ngang đường băng ở góc từ 30 đến 600. Tuy nhiên, trong suốt cả chiến dịch, không có một máy bay Mig 21 nào của Không quân nhân dân Việt Nam tại các sân bay bị phá hủy hoặc bị hư hỏng. Đó là nhờ công tác phân tán, sơ tán máy bay trên các sân bay rất tốt. Cùng với việc được cất dấu, ngụy trang bí mật, còn nhờ các công trình trú ẩn được bảo đảm kỹ thuật tốt.

Chủ động tiến công B-52, Không quân nhân dân Việt Nam đã bố trí ở các sân bay xa Hà Nội, xuất kích đêm, chiếm độ cao bất ngờ lao vào chặn đội hình B-52 Mỹ. Như chiến công của biên đội Phạm Tuân, đêm 27-12-1972 (ngày thứ 10 của Chiến dịch), xuất kích từ sân bay Yên Bái, đã bắn rơi một B-52.

Ngoài ra, còn phải kể đến hàng vạn ngày công của nhân dân các tỉnh Yên Bái, Vĩnh Phúc, góp phần kịp thời “vá đường băng” suốt các đêm cuối tháng 12, để không quân ta bất ngờ bay lên, đánh thắng, trở về.

Đường Văn (sưu tầm)
qdnd.vn

Trận đầu củng cố niềm tin

QĐND – Lớp trẻ chúng tôi may mắn được hòa mình vào cuộc gặp mặt thân mật mang nhiều ý nghĩa của các cựu chiến binh (CCB) Trung đoàn Tên lửa 263 – Trung đoàn đã vinh dự lập nên chiến công bắn hạ tại chỗ chiếc máy bay B-52 đầu tiên của đế quốc Mỹ trên chiến trường miền Bắc, tạo niềm tin và cơ sở kinh nghiệm cho quân, dân ta làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ” trên không năm 1972, được tổ chức vào sáng 22-11, tại Bảo tàng Phòng không – Không quân. Mặc dù 40 năm đã trôi qua, nhiều người đã ở vào tuổi xưa nay hiếm, nhưng khi gặp lại, các CCB vẫn vanh vách gọi tên nhau và những kỷ niệm về ngày chiến đấu gian khổ, oanh liệt cứ như những thước phim tài liệu hiện về.

Hồi tưởng lại những ngày tháng hào hùng ấy của đơn vị, ông Đào Đoàn Thế Hùng, Trưởng ban liên lạc truyền thống CCB Trung đoàn 263, nguyên cán bộ tác chiến Trung đoàn giai đoạn 1972 nhớ lại: Trung đoàn Tên lửa 263 được thành lập vào tháng 5-1966. Đây là giai đoạn vô cùng ác liệt của cuộc chiến đấu đánh trả sự phá hoại của không quân Mỹ ở miền Bắc. Thực hiện chủ trương tác chiến linh hoạt, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn đã cơ động khắp địa bàn Thủ đô Hà Nội. Năm 1967, biết trước ý đồ của giặc Mỹ sẽ dùng B-52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương miền Bắc, thực hiện lời dạy của Bác Hồ “muốn bắt cọp phải vào tận hang cọp”, Trung đoàn 263 được cấp trên điều vào tuyến lửa Nghệ An, Quảng Bình để phục kích, nghiên cứu phương pháp đánh B-52. Ngay từ tháng 9-1967, khi máy bay B-52 của Mỹ đánh phá ra miền Bắc và các tỉnh phía Nam Khu 4, các đơn vị phòng không của ta đã tham gia chiến đấu với B-52 nhưng phần lớn các trận đánh đều chưa đạt được hiệu quả, chưa bắn rơi tại chỗ máy bay B-52. Trong những ngày tháng 10 và nửa đầu tháng 11 năm 1972, máy bay B-52 tiếp tục đánh phá ngã ba Đồng Lộc, ngã ba Vọt và các khu căn cứ, làng mạc ở các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và gây ra nhiều tổn thất, đau thương cho quân và dân ta. Đáp trả lại những tội ác kinh hoàng của kẻ thù, các lực lượng phòng không của ta đã tổ chức nhiều trận chiến đấu với B-52 và được cấp trên đánh giá đạt hiệu suất tốt. Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa đạt được mục tiêu bắn hạ tại chỗ “Pháo đài bay” của Không quân Mỹ. Vì thế trận đánh thắng B-52 đêm 22-11-1972 đã trở thành trận chiến thắng vô cùng ý nghĩa không chỉ đối với cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 263 mà còn đối với quân và dân cả nước. Đây là trận chiến đấu đầu tiên chúng ta đã bắn rơi B-52 tại chỗ mà đế quốc Mỹ phải thừa nhận. Ngay sau sự kiện trên xảy ra, hãng thông tấn UPI của Mỹ đã viết: “Một chiếc B-52 đã bị tên lửa Bắc Việt bắn trúng và rơi xuống biên giới Lào-Thái Lan, cách sân bay U-ta-pao (Thái Lan) 64km”… Theo ông Hùng và các CCB, trước đó đã có tư tưởng bi quan cho rằng, với vũ khí trang bị hiện có chúng ta không thể bắn hạ B-52… Do đó trận chiến đấu đầu tiên bắn rơi tại chỗ B-52 đã góp phần hết sức quan trọng củng cố niềm tin vững chắc cho bộ đội ta.

Các CCB Trung đoàn Tên lửa 263 bên xác máy bay B-52 bị bắn rơi năm 1972, hiện trưng bày tại Bảo tàng Phòng không – Không quân

Chia sẻ về những kinh nghiệm rút ra từ chiến thắng của Trung đoàn Tên lửa 263, Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, nguyên Phó tư lệnh về Chính trị Quân chủng PK-KQ, Trưởng ban liên lạc Bộ đội Tên lửa cho biết: Sau chiến thắng oanh liệt ngày 22-11-1972 của Trung đoàn 263, các kinh nghiệm quý báu và bài học bắn rơi máy bay B-52 đã nhanh chóng được Quân chủng PK-KQ tổ chức rút kinh nghiệm và phổ biến cho các đơn vị cùng học tập. Đó là những kinh nghiệm về kỹ thuật, chiến thuật, như: Đánh tập trung, dùng lực lượng từ 2 tiểu đoàn tên lửa trở lên cùng đánh một lúc; tổ chức bố trí trận địa ôm sát mục tiêu ở cự ly xạ kích tốt; Nhất quyết phải phân biệt và loại trừ được các sóng nhiễu từ các máy bay B-52 giả, bắt chính xác các giải nhiễu của B-52; xác định tín hiệu B-52 trên nền nhiễu và tìm cách chống lại tên lửa của địch nhằm đối phó với các đài ra-đa điều khiển tên lửa của ta… Theo Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, chiến công và bài học kinh nghiệm của Trung đoàn 263 không chỉ giúp củng cố vững chắc niềm tin cho cán bộ, chiến sĩ PK-KQ mà còn với quân và dân cả nước trong nhiệm vụ bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng. Chiến thắng ấy đã góp phần bổ sung nghệ thuật tác chiến, phương án chiến đấu để làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” những ngày sau đó.

Mặc dù bị thua đau nhưng với bản chất hiếu chiến và tàn bạo, từ ngày 18 đến ngày 30 tháng 12-1972, đế quốc Mỹ tiếp tục tiến hành chiến dịch tập kích đường không chiến lược chủ yếu bằng máy bay B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng… nhưng chúng đã bị thất bại thảm hại. Do đó 7 giờ 30 phút ngày 30-12-1972, Tổng thống Mỹ buộc phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc từ Vĩ tuyến 20 trở ra và đề nghị gặp lại đoàn đàm phán của Chính phủ Việt Nam tại Pa-ri để bàn về hiệp định chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Trong khi chờ đợi đến ngày ký hiệp định, đế quốc Mỹ lại huy động máy bay B-52 đánh phá vô cùng ác liệt tại địa bàn Khu 4 nhằm mục đích cắt đứt sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc vào tiền tuyến lớn miền Nam và tàn phá các khu căn cứ của ta. Hồi 3 giờ ngày 14-1-1973, Trung đoàn 263 lại tổ chức cho 2 tiểu đoàn 43 và 56 đánh tập trung vào 1 tốp B-52 và bắn rơi tại chỗ 2 chiếc trên địa bàn các huyện Thanh Chương, Nam Đàn (Nghệ An). Đây cũng là hai chiếc máy bay B-52 bị bắn rơi cuối cùng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta.

Có thể nói trận đánh đầu tiên bắn rơi tại chỗ B-52 và trận chiến cuối cùng với B-52 bắn rơi tại chỗ 2 chiếc là những kỷ niệm chiến đấu không bao giờ quên của những chiến binh Trung đoàn Tên lửa 263. Chiến công bắn rơi chiếc máy bay B-52 đầu tiên của không quân Mỹ trên bầu trời miền Bắc đã để lại cho chúng ta nhiều bài học quý báu. Nhưng cũng theo các CCB Trung đoàn Tên lửa 263 Anh hùng, giá trị hơn cả là bài học về xây dựng, củng cố niềm tin chiến thắng cho bộ đội và nhân dân. Chính niềm tin vững chắc, tinh thần quyết thắng đã giúp cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 263 tiếp tục lập nên nhiều chiến công góp phần cùng quân và dân cả nước làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975. Và theo Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay bài học đó vẫn còn nguyên giá trị, đặc biệt trong điều kiện tác chiến công nghệ cao.

Bài và ảnh: MAI CHU ANH
qdnd.vn