Thư viện

Nhận thức rõ để hành động tốt hơn theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Tổng kết 4 năm Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” không chỉ là dịp để chúng ta thống nhất đánh giá kết quả bước đầu sau gần 4 năm thực hiện Cuộc vận động, mà còn khẳng định thành tích, ưu điểm, chỉ rõ các hạn chế, thiếu sót và rút ra nhiều kinh nghiệm thiết thực cho những năm tiếp theo.

Bacho-GD-v11-1_53634074467037146059.jpgBác Hồ người Việt Nam đẹp nhất. Ảnh: Tuấn Anh

Triển khai Cuộc vận động là một quyết định đúng đắn, cần thiết; là sự tương hợp hài hòa giữa ý Đảng và lòng dân

Cách đây hơn 4 năm, tại Lễ kỷ niệm trọng thể 77 năm Ngày thành lập Đảng, Đảng ta đã phát động toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiến hành Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Hôm nay, nhìn lại, chúng ta đã có thể khẳng định: đó là một quyết định đúng đắn, cần thiết; là sự tương hợp hài hòa giữa ý Đảng và lòng dân; thể hiện tình cảm kính trọng, biết ơn sâu sắc của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đối với Bác Hồ muôn vàn kính yêu; nguyện kế thừa, phát huy di sản tư tưởng và tấm gương đạo đức vô giá mà Người để lại.

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mà chúng ta tiến hành trong 4 năm qua đã trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong các tổ chức đảng, các cấp chính quyền, các ban, bộ, ngành, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể từ Trung ương đến các địa phương và toàn xã hội. Qua mỗi năm, Cuộc vận động có một chủ đề thiết thực, nội dung phong phú, bổ ích. Chúng ta đã thành lập và từng bước kiện toàn Ban chỉ đạo Cuộc vận động ở các cấp; xây dựng quy chế, chương trình, kế hoạch thực hiện cho toàn khóa và từng năm; hướng dẫn và cụ thể hóa các chuẩn mực hành động theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với 5 nội dung chủ yếu.

Ban chỉ đạo các cấp ngay từ đầu đã coi trọng công tác tuyên truyền, vận động việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh qua các hội thi kể chuyện về tấm gương đạo đức của Người, qua các tác phẩm, các lời dạy, đặc biệt là qua rất nhiều việc làm bình dị mà cao đẹp của Người, làm nổi bật tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”; “sửa đổi lối làm việc”; “nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”; xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh”. Chúng ta đã tiến hành kiểm điểm 40 năm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người, đẩy mạnh phong trào thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái đạo đức và tiêu cực xã hội. Trong chỉ đạo, chúng ta đã gắn nội dung Cuộc vận động với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đất nước, của mỗi ban, bộ, ngành, đoàn thể, địa phương, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh, tăng cường hoạt động đối ngoại phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

BacHo.jpgTư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh muôn đời tỏa sáng. Ảnh: Tuấn Anh

Cuộc vận động sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về chủ đề “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mà Ban Chỉ đạo Trung ương và các tỉnh, thành phố phát động đã nhận được sự hưởng ứng tự giác và sâu rộng của hàng vạn nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ và những cây bút không chuyên. Chúng ta đã chú ý đúng mức tính đặc thù của các vùng, miền, các tôn giáo, dân tộc, các lứa tuổi; quan tâm đến nội dung “làm theo”; coi trọng việc phát hiện, biểu dương, cổ vũ, nhân rộng các tập thể, cá nhân gương mẫu, có thành tích xuất sắc trong thực hiện Cuộc vận động; tổ chức tốt các cuộc gặp mặt, giao lưu, tọa đàm, khen thưởng các điển hình tiên tiến; đưa nội dung “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” vào chương trình giáo dục trong các nhà trường; đưa Cuộc vận động lan tỏa trong cán bộ, đảng viên, đoàn viên đang công tác, học tập ở nước ngoài và trong cộng đồng người Việt Nam sống xa Tổ quốc.

Qua 4 năm thực hiện Cuộc vận động, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nhận thức sâu sắc hơn về tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; về vị trí, vai trò của đạo đức đối với sự phát triển của mỗi cá nhân, gia đình và xã hội; nhận rõ đạo đức là “gốc” mỗi con người, nhất là người cách mạng, từ đó nâng cao ý thức thường xuyên trau dồi, rèn luyện bản thân để cái gốc đó ngày một tươi tốt, vững bền. Cuộc vận động đã góp phần vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nâng cao phẩm chất, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng; ý thức và thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Nội dung “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, chống lãng phí, tham ô, chống thói quan liêu, vô trách nhiệm được nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương thực hiện có hiệu quả. Qua thực hiện Cuộc vận động, công tác kiểm tra đảng, thanh tra nhà nước, bảo vệ pháp luật được đẩy mạnh, chúng ta đã phát hiện và xử lý kiên quyết, nghiêm minh các tập thể, cá nhân sai phạm.

Cuộc vận động lớn này đã gắn kết chặt chẽ với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; phong trào chăm sóc, giúp đỡ gia đình liệt sĩ, thương binh, gia đình chính sách; xây dựng nhà tình nghĩa, Quỹ “Vì người nghèo”; các đợt quyên góp, giúp đỡ đồng bào bị lũ lụt, cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; ủng hộ nạn nhân chất độc da cam; xây dựng Quỹ “Trái tim cho em”, Quỹ “Tấm lòng vàng”, Quỹ “Tấm lòng Việt”; hỗ trợ những người mắc bệnh hiểm nghèo… và nhiều phong trào, việc làm bổ ích khác.

Trong 4 năm qua, từ tác động tích cực của Cuộc vận động, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân được đẩy mạnh. Cải cách thủ tục hành chính có tiến bộ. Tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có một số chuyển biến. Điều lệ, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Quy chế Dân chủ ở cơ sở được thực hiện nghiêm túc hơn.

Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế thế giới tác động không thuận đến nước ta; ở trong nước, thiên tai, dịch bệnh xảy ra trên diện rộng, gây hậu quả nặng nề…, việc triển khai nghiêm túc chủ đề, nội dung của Cuộc vận động đã giúp các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị có thêm động lực để thực hiện chủ trương, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, của Quốc hội và Chính phủ về triển khai các nhóm giải pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý, phòng ngừa lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội.

Những thành tựu đạt được của đất nước, của mỗi ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị trong 4 năm qua, có sự đóng góp quan trọng của Cuộc vận động. Đây là một thực tế, một điều cần được khẳng định. Tuy không thể thống kê, lượng hóa đầy đủ kết quả của Cuộc vận động, song xét trên tổng thể, những chuyển biến tiến bộ từ mỗi người, mỗi cơ quan, đơn vị đến sự phát triển chung của các ngành, các lĩnh vực và cả nước đã nói lên giá trị to lớn và hiệu quả thiết thực của Cuộc vận động trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta.

Cần có sự vào cuộc hơn nữa của cả hệ thống chính trị và toàn dân, toàn xã hội

Bên cạnh nỗ lực và thành tích quan trọng ban đầu, quá trình thực hiện Cuộc vận động trong 4 năm qua cũng bộc lộ một số hạn chế, thiếu sót cần khắc phục. Một số nơi chưa quan tâm đúng mức đến việc quán triệt mục đích, yêu cầu, ý nghĩa, nội dung và tầm quan trọng của Cuộc vận động, chưa tạo được sự thống nhất cao trong nhận thức, hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Việc xây dựng chương trình, kế hoạch và hướng dẫn thực hiện Cuộc vận động của ban chỉ đạo các cấp có lúc, có nơi, có việc còn lúng túng, bị động. Sự phối hợp giữa một số ban, ngành, đoàn thể, địa phương, đơn vị chưa nhịp nhàng, hiệu quả chưa cao. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo trên một số việc chưa sát hợp và kịp thời. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức kể cả cán bộ chủ chốt, còn thiếu tự giác, chưa gương mẫu trong việc thực hiện Cuộc vận động. Sự gắn kết, lồng ghép nội dung Cuộc vận động với thực hiện nhiệm vụ chính trị của ngành, địa phương, đơn vị ở một số nơi chưa tốt, chưa huy động được sức mạnh cả hệ thống chính trị hăng hái tham gia. Sự phối hợp giữa công tác tuyên giáo, công tác tổ chức – cán bộ, công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, thi đua, khen thưởng… chưa chặt chẽ, liên tục. Công tác tuyên truyền về Cuộc vận động còn có những hạn chế; nội dung, hình thức chưa thật phong phú, lôi cuốn.

Qua 4 năm thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, chúng ta có thể rút ra một số kinh nghiệm thiết thực:

Trước hết, phải tạo được sự thống nhất cao về nhận thức tư tưởng và hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về ý nghĩa, tầm quan trọng, tác dụng to lớn, nhiều mặt của Cuộc vận động. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, đặc biệt là vai trò, trách nhiệm, tính gương mẫu của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị là yếu tố vô cùng quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong việc huy động toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tham gia.

Sự vào cuộc tích cực, chủ động của cả hệ thống chính trị, nhất là các cơ quan đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị có ý nghĩa, tác dụng to lớn đối với quá trình thực hiện Cuộc vận động. Đội ngũ cốt cán, trước hết là người đứng đầu cơ quan đảng, nhà nước, thủ trưởng mỗi cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp cần nêu cao trách nhiệm, tâm huyết với sự nghiệp chung, gương mẫu đi đầu trong công tác tuyên truyền, chỉ đạo và thực hiện Cuộc vận động.

Phải làm cho Cuộc vận động lan tỏa, thấm dần, bám rễ vững chắc trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, mỗi gia đình, mỗi người dân, trở thành lối sống đẹp, nếp sống đẹp, lẽ sống cao quý.

Thứ hai, phải xây dựng chương trình, kế hoạch, nội dung và hướng dẫn thực hiện Cuộc vận động một cách khoa học, thiết thực, sát hợp với tình hình, với nhiệm vụ của ngành, địa phương, đơn vị trong từng giai đoạn và suốt cả nhiệm kỳ; quá trình thực hiện, cần tìm tòi và bổ sung các giải pháp, bước đi phù hợp. Gắn kết một cách khéo léo, nhuần nhuyễn việc thực hiện Cuộc vận động với các phong trào thi đua yêu nước, với nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị của các ngành, địa phương, đơn vị, doanh nghiệp. Sự lồng ghép này vừa nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc, vừa tiết kiệm thời gian, công sức, chi phí.

Thứ ba, phải xây dựng chuẩn mực đạo đức, lối sống phù hợp với từng loại hình công việc, từng loại đối tượng; các chuẩn mực này dễ nhớ, dễ thực hiện; tránh ôm đồm, chung chung, kiên quyết loại bỏ bệnh hình thức, phô trương. Phải coi việc thực hiện Cuộc vận động trước hết là vì nhu cầu, quyền lợi tự thân của mỗi người, mỗi gia đình, cộng đồng, đoàn thể; không chỉ thuần túy về đạo đức, lối sống mà cao hơn, là phục vụ trực tiếp cho sản xuất, công tác học tập, rèn luyện, cho việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi người, mỗi đơn vị.

Cần phát huy dân chủ thực sự, cải tiến nội dung, hình thức, phương pháp lấy ý kiến của quần chúng góp ý cho cán bộ, đảng viên, tạo điều kiện để quần chúng góp ý nhiều hơn, thẳng thắn, trách nhiệm hơn cho tổ chức, cho cán bộ và đảng viên.

Thứ tư, trong chỉ đạo và thực hiện, cần xác định quan điểm: đây là cuộc vận động lâu dài, tiến hành trong nhiều năm, cho nhiều thế hệ. Do đó, tránh tâm lý nôn nóng, chủ quan, kỳ vọng quá nhiều, quá sớm vào kết quả cuộc vận động trong khi cần phải có một thời gian và nỗ lực cần thiết. Mặt khác, khắc phục tư tưởng cầm chừng, hoài nghi, bàng quan, chưa thực sự quan tâm tới Cuộc vận động; cần điều chỉnh, bổ sung một số nội dung, giải pháp của công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện.

Hệ thống các văn bản hướng dẫn, đánh giá của Ban Chỉ đạo Trung ương và của ban chỉ đạo các cấp cần ngắn gọn, thống nhất, kịp thời, sát đúng với tình hình. Tiếp tục huy động các ban, ngành của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị chủ động, tích cực tham gia Cuộc vận động. Tổ chức đảng các cấp cần đưa việc thực hiện Cuộc vận động vào nội dung sinh hoạt đảng hằng tháng, vào kiểm điểm cuối năm của tổ chức đảng và đảng viên. Các cơ quan nhà nước, đoàn thể chính trị – xã hội cũng cần quy định việc thực hiện Cuộc vận động là một tiêu chí bắt buộc với công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên; coi đó là một trong những tiêu chuẩn bình xét thi đua, khen thưởng hằng tháng, hằng năm.

Thứ năm, về công tác chỉ đạo điểm: Trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện Cuộc vận động, cần chọn đúng, trúng điểm chỉ đạo; tập trung xây dựng, phát huy vai trò, tác dụng của các đơn vị làm điểm; tăng cường kiểm tra, đôn đốc; đúc rút kinh nghiệm sâu sắc để nhân ra diện rộng. Quan tâm xây dựng các điển hình là cán bộ lãnh đạo, quản lý, những người thường xuyên tiếp xúc, phục vụ nhân dân, quản lý về tài chính, đất đai, công sản…

Qua việc tổng kết 4 năm triển khai thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, chúng ta có đủ cơ sở thực tiễn, lý luận để báo cáo với Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, xin ý kiến và quyết tâm chính trị của Đại hội XI của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân về tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận động, đưa hoạt động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh thành công việc thường xuyên của cán bộ, đảng viên, của các chi bộ, tổ chức đảng. Mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thực sự là một tấm gương về phẩm chất, đạo đức, lối sống, cấp trên phải gương mẫu trước cấp dưới, đảng viên và nhân dân, từ đó mà lan tỏa, tác động đến toàn dân, toàn xã hội.

Nông Đức Mạnh
Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Theo Tạp chí Cộng sản

hochiminhhoc.com

Tác phẩm về đạo đức cách mạng quan trọng nhất cuối đời của Bác Hồ

Hữu Thọ

40 năm trước, đúng Ngày kỷ niệm thành lập Đảng lần thứ 39 (3/2/1969), Báo Nhân Dân, cơ quan Trung ương của Đảng công bố bài viết “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh với bút danh T.L. Sau tác phẩm đó, cho đến lúc từ biệt thế gian này sau đó 7 tháng, Hồ Chủ tịch còn viết một số thư, một số bài nhưng tôi nghĩ rằng đây là tác phẩm về đạo đức cách mạng quan trọng nhất cuối đời của Người.

Một tác giả đã đánh giá có phần hợp lý rằng, có thể coi tác phẩm này như một di chúc về giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng với cán bộ, đảng viên. Trong Di chúc lịch sử, Người dặn: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư”. Nhưng trong tác phẩm nói trên, Người nói kỹ, nói sâu sắc về đạo đức cách mạng.

Trong không khí tiếp tục cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, nhắc lại và cùng nhau phân tích tác phẩm quan trọng này của Người có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất lớn, để ôn lại lời dạy của Người góp phần thúc đẩy cuộc vận động trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta làm cho Đảng ta thêm vững mạnh, xã hội thêm lành mạnh, tiếp tục công cuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Xã hội nào cũng có cách phân định thiện – ác, tốt – xấu, vinh – nhục… Những phạm trù đó có những tiêu chí giống nhau nhưng có những khác nhau của mỗi hình thái kinh tế – xã hội, của mỗi dân tộc trong từng giai đoạn phát triển, hình thành hệ giá trị cốt lõi của văn hóa mỗi dân tộc, chủ yếu để định hướng phát triển của xã hội và là tiêu chí để bình xét, đánh giá các hiện tượng và con người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm HTX Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên trong mùa thu hoạch lúa (năm 1954).

Cùng với hệ giá trị của mỗi dân tộc, lại có chuẩn mực đạo đức có ý nghĩa ràng buộc với những ai ở trong cộng đồng đó. Đạo đức cách mạng là chuẩn mực đạo đức của những người cách mạng, có những tiêu chí chung và nhất quán như sự hy sinh vì lý tưởng, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần hết lòng phụng sự Tổ quốc, nhân dân… đồng thời lại có những yêu cầu riêng của từng thời kỳ cách mạng.

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Ngay trong tác phẩm “Đường Cách mệnh” tập hợp những bài giảng cho lớp thanh niên tiến bộ chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Người đã đề cập các nội dung về đạo đức của người chiến sĩ cách mạng.

Khi cách mạng thành công, Đảng lãnh đạo chính quyền, đảng viên có nhiều cơ hội có địa vị, quyền hành, Hồ Chủ tịch lại đặc biệt quan tâm việc giáo dục cán bộ, đảng viên mà có tác giả nước ngoài đã đánh giá là vị lãnh tụ quan tâm nhất tới việc giáo dục đạo đức của cán bộ cầm quyền. Ngay từ rất sớm, những nhà nghiên cứu thường nhắc tới hai bức thư Người gửi cho các đồng chí Bắc Bộ, Trung Bộ khi mới trải qua hơn một năm Cách mạng Tháng Tám thành công và tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” mà chúng ta vừa kỷ niệm 50 năm ngày công bố.

Ngay từ lúc đó Người đã nhìn ra bệnh “quan cách mạng” có thể phát triển, nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải tránh các bệnh địa phương chủ nghĩa, óc bè phái, hẹp hòi, quân phiệt quan liêu, ham chuộng hình thức, làm việc bàn giấy xa rời nhân dân, bệnh kiêu ngạo tự mãn vô kỷ luật, ích kỷ, hủ hóa, “óc địa vị, cố tranh cho được ủy viên này, chủ tịch kia”, chỉ “lo ăn ngon mặc đẹp, lo chiếm của công làm của tư”, “giữ thói một người làm quan cả họ được nhờ, đem bà con bằng hữu đặt vào chức này, việc kia”, rồi “không phê bình giúp nhau sửa đổi, mà lại che đậy cho nhau”, làm hỏng việc của đất nước, làm mất niềm tin của nhân dân.

Theo Người, cán bộ, đảng viên phải là người vừa có đức vừa có tài nhưng đức là gốc vì “Trước mặt quần chúng, không phải ta viết lên trán hai chữ “cộng sản” mà ta được họ mến. Quần chúng chỉ yêu quý những người có tư cách, đạo đức”; “Muốn hướng dẫn quần chúng phải làm mực thước cho người ta bắt chước, hô hào nhân dân tiết kiệm thì mình phải tiết kiệm trước đã”…

Rèn luyện đạo đức cách mạng là để làm cách mạng, làm tròn nhiệm vụ nhân dân giao, để xứng đáng là công bộc của dân.

Trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng”, sau khi nêu rõ “thói quen và lạc hậu cũng là do kẻ địch to, nó ngấm ngầm cản trở cách mạng tiến bộ” cho nên phải đổi mới, Hồ Chủ tịch đề cập kẻ địch thứ hai là chủ nghĩa cá nhân. Tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” tập trung đề cập “kẻ thù thứ hai” mà Người cho là mẹ đẻ ra các thói hư tật xấu của cán bộ, đảng viên khi Đảng cầm quyền.

Người cho rằng, người mắc chủ nghĩa cá nhân thì “việc gì cũng nghĩ tới lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo mình vì mọi người mà chỉ muốn mọi người vì mình”. Tuy nhiên, khi chỉ ra phải đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân thì Hồ Chủ tịch lại nói: “Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là giày xéo lên lợi ích cá nhân”, “mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và gia đình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với tập thể thì không phải là xấu”.

Khi nói về tác hại của chủ nghĩa cá nhân, Người nhấn mạnh: “Do chủ nghĩa cá nhân mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh, trục lợi, tham địa vị, quyền hành. Họ tự cao, tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập tiến bộ… Do chủ nghĩa cá nhân mà sinh mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân”.

Đọc lại những dòng viết này vào những ngày này khi liên hệ với thực tiễn, tôi có cảm giác như thấy Người đang nhìn chúng ta vừa âu yếm với tình thương bao la vừa nghiêm khắc với cháu con khi chưa làm được những điều Người dặn lại, vì Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 3, khóa X (tháng 7/2006 đã đánh giá: “Một bộ phận không nhỏ đảng viên, cán bộ, công chức suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống. Không ít cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành, kể cả lãnh đạo cao cấp còn thiếu gương mẫu trong việc giữ gìn phẩm chất, đạo đức”, và chỉ rõ “Cuộc đấu tranh còn nhiều hạn chế, khuyết điểm, hiệu quả thấp. Tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây hậu quả xấu nhiều mặt, làm giảm lòng tin của nhân dân, là một nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”.

* * *

Trong cuộc đấu tranh về tư tưởng, đạo đức, lối sống, bao giờ cũng phải giải quyết mối quan hệ xây và chống, phòng ngừa và đấu tranh; về cơ bản và lâu dài thì bao giờ cũng lấy xây và phòng ngừa là chính, khuyến khích và phát huy những cái tốt đẹp để át đi cái xấu. Đó là tư tưởng xuyên suốt của Nguyễn Ái Quốc khi từ năm 1924, Người đã cho rằng một tấm gương sáng có thể có hiệu quả hơn nhiều bài diễn thuyết. Và vào cuối đời, Người trực tiếp chỉ đạo viết sách “Người tốt việc tốt” để nêu gương sáng cho mọi người cùng làm theo. Do đó, sau khi nêu lên những tác hại của chủ nghĩa cá nhân, trong tác phẩm quan trọng này Người đã nêu lên 5 giải pháp để khắc phục chủ nghĩa cá nhân. Đó là:

– Phải thực hiện phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh;

– Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên;

– Phải nghiêm túc thực hiện chế độ sinh hoạt;

– Phải nghiêm minh thực hiện kỷ luật của Đảng;

– Tiến hành chặt chẽ công tác kiểm tra của Đảng.

Có lẽ, trong lúc này, đã qua 40 năm, đã có nhiều Nghị quyết, hướng dẫn của Đảng và Nhà nước, riêng tôi nghĩ không thấy có biện pháp nào mới hơn, chỉ có điều các biện pháp đó đều làm chưa tốt, có biện pháp làm rất ít hiệu quả, do đó các tiêu cực do chủ nghĩa cá nhân sinh ra vẫn cứ phát triển ngày một nghiêm trọng. Từ “một số ít” đến “một số”, “một số không nhỏ” mắc tiêu cực, từ chỗ chỉ là cán bộ sơ cấp, trung cấp, cán bộ thừa hành tới chỗ “không ít cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành, kể cả cán bộ cao cấp còn thiếu gương mẫu trong giữ gìn phẩm chất, đạo đức” như Nghị quyết Trung ương 3 đã khẳng định.

Nghe các đồng chí giúp việc Bác kể lại, đầu đề của bản thảo tác phẩm lúc đầu là “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng” nhưng khi đưa cho một số đồng chí góp ý kiến thì Bác sửa lại như đã công bố; tuy sửa lại theo ý kiến đóng góp nhưng Bác vẫn nói rằng: lúc này phải nhổ cho sạch cỏ thì cây cối mới mọc lên được.

Nghe kể lại như thế tôi lại chợt nhớ tới buổi bế mạc Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 3 (khóa X), trong bài phát biểu, đồng chí Tổng Bí thư đã phân tích: “Nhìn xuyên suốt cả nhiệm vụ đấu tranh thì phòng ngừa là chính. Nhưng trước tình hình bức xúc hiện nay, phải hết sức coi trọng việc kiên quyết đấu tranh, phát hiện, xử lý kịp thời, cũng là để răn đe, là một biện pháp phòng ngừa”.

Cuộc đấu tranh khắc phục chủ nghĩa cá nhân vị kỷ là một nhiệm vụ lâu dài nhưng trong tình hình hiện nay lại có ý nghĩa cấp bách, do đó tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” có ý nghĩa thực tiễn mang tính thời sự nóng hổi

Ngày 1/1/2009
cand.com.vn

Những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức đối với Phụ lão

1. … Xưa nay, những người yêu nước không vì tên tuổi già mà chịu ngồi không. Nước ta có những người như Lý Thường Kiệt, càng già càng quắc thước, càng già càng anh hùng.

Thư gửi các vị phụ lão, ngày 21- 9-1945, sđd, t.4, tr. 24.

2. Tuổi tác càng cao, lòng yêu nước càng lớn.

Càng già, càng dẻo lại càng dai,
Tinh thần gương mẫu chẳng nhường ai.
Đôn đốc con em làm nhiệm vụ,
Vuốt râu mừng xã hội tương lai.

Tuổi càng cao, lòng yêu nước càng lớn ngày 1-10-1960, sđd, t.10, tr. 213-214.

3. … Các đồng chí già là rất quý, là gương bền bỉ đấu tranh, dìu dắt, bồi dưỡng, đào tạo thêm đồng chí trẻ Đồng chí già phải giúp đỡ cho đồng chí trẻ tiến bộ. Như thế đòi hỏi ở Đồng chí già phải có thái độ độ lượng, dìu dắt đồng chí trẻ. Đó cũng là một tiêu chuẩn đạo đức cộng sản chủ nghĩa.

Nói chuyện với cán bộ đảng viên hoạt động lâu năm, ngày 9-12-1961, sđd, t.10, tr. 463.

quangbinh.gov.vn

Những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức đối với Phụ nữ

1 … Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người.

Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa.

… Về phần mình, chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình, mà tự mình phải tự cường, phải đấu tranh.

Bài nói tại Hội nghị cán bộ thảo luận Luật hôn nhân và gia đình
ngày 10-10-1959, sđd, t.9, tr 523, 524.

2. … Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã nêu rõ chính sách nam nữ bình đẳng, Hiến pháp ta đã xác định chính sách đó. Trong mọi việc, Đảng và Chính phủ ta luôn luôn quan tâm giúp đỡ phụ nữ. Vậy chị em phụ nữ ta phải nhận rõ địa vị làm người chủ và nhiệm vụ người làm chủ nước nhà; phải có quyết tâm mới, đạo đức mới, tác phong mới để làm trọn nghĩa vụ mới của mình là góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội…

Bài nói chuyện tại Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ III
ngày 9-3-1961, sđd, t.10, tr. 296.

3. Phụ nữ cũng là người chủ nước nhà. Để xứng đáng là người chủ thì chị em phải ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm…

4. Phụ nữ cần phải xung phong trong việc xây dựng đời sống mới. Ở miền núi đang còn những phong tục không tốt do bọn phong kiến để lại, như: ma chay, cúng bái rất tốn kém. Cưới vợ, gả chồng quá sớm. Vệ sinh phòng bệnh, v.v… còn kém. Đó là những mê tín và hủ tục nên xóa bỏ, để xây dựng mỹ tục thuần phong.

5. Đoàn kết là sức mạnh. Đồng bào miền núi, trước hết là chị em phụ nữ, cần phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Đoàn kết giữa dân tộc mình, đoàn kết giữa các dân tộc. Đoàn kết với đồng bào miền xuôi lên phát triển kinh tế miền núi…

6. Để làm tốt những việc nói trên, chị em phải cố gắng học tập. Học văn hóa, học chính trị, học nghề nghiệp. Nếu không học thì không tiến bộ. Có quyết tâm thì nhất định học được…

Nói chuyện Hội nghị cán bộ phụ nữ miền núi,
ngày 19-3-1964, sđd, t.11, tr. 215.

quangbinh.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, từ bài giảng đầu tiên trong tác phẩm Đường Kách Mệnh[1] đến bản Di chúc cuối cùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và việc tu dưỡng đạo đức, coi đạo đức là “cái gốc” của người cách mạng.

Vấn đề đạo đức cách mạng trong tư tưởng của Hồ Chí Minh luôn có sự nhất quán và tính lôgic cao về tinh thần cách mạng cũng như phương pháp tư duy, nhất là phương pháp tư duy khoa học, tư duy biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin, trên cơ sở truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, chắt lọc tinh hoa đạo đức của nhân loại, Người còn phát triển và sáng tạo những giá trị tư tưởng đạo đức mới phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Tầm quan trọng của đạo đức bao giờ cũng được Người đặt ở vị trí hàng đầu. Ngay từ khi Đảng ta chưa ra đời, không phải ngẫu nhiên những bài giảng đầu tiên của Người cho thế hệ thanh niên yêu nước đầu tiên ở nước ta theo con đường cách mạng vô sản là những bài giảng về tư cách của người cách mạng. Trong trang đầu cuốn Đường Kách Mệnh – Người đã ghi 23 nét tư cách của một người cách mạng trong ứng xử với mình, với người, với đời, với việc. Đó là những chuẩn mực: “Tự mình phải:

Cần kiệm.

Hòa mà không tư.

Cả quyết sửa lỗi mình.

Cận thận mà không nhút nhát.

Hay hỏi.

Nhẫn nại (chịu khó).

Hay nghiên cứu, xem xét.

Vị công vong tư.

Không hiếu danh, không kiêu ngạo.

Nói thì phải làm.

Giữ chủ nghĩa cho vững.

Hy sinh.

Ít lòng ham muốn về vật chất.

Bí mật.

Đối với người phải:

Với từng người thì khoan thứ.

Với đoàn thể thì nghiêm.

Có lòng bày vẽ cho người.

Trực mà không táo bạo.

Hay xem xét người.

Làm việc phải:

Xem xét hoàn cảnh kỹ càng.

Quyết đoán.

Dũng cảm.

Phục tùng đoàn thể”[2].

Trên cơ sở nhận thức về nền tảng của việc hình thành đạo đức mới, vấn đề đạo đức cách mạng được Người nhắc lại nội dung tương tự khi nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa, năm 1947, nhưng cụ thể hơn[3], gồm 5 điểm: một, Mình đối với mình; hai, Đối với đồng chí mình phải thế nào?; ba, Đối với công việc phải thế nào?; bốn, Đối với nhân dân; và năm, Đối với đoàn thể. Với những lời căn dặn này cho thấy, Người đã đặt vấn đề đạo đức cách mạng một cách rất lôgic và có cơ sở khoa học về các quan hệ lợi ích. Hầu như các nguyên tắc đạo đức Người đề ra trước hết cho mình thực hiện, sau đó mới để giáo dục người khác, có thể nêu ra một số chuẩn mực cơ bản về đạo đức cách mạng theo tư tưởng của Người, như sau:

1/ Nếu bài học về đạo đức cách mạng đầu tiên trong cuốn Đường Kách Mệnh, Người chỉ đề ra những nguyên lý chung thể hiện mối quan hệ giữa ba khía cạnh, phản ánh mối quan hệ đạo đức mới, đạo đức cách mạng mà người cách mạng cần quán triệt trước tiên, đồng thời nêu cao việc tu dưỡng đạo đức cách mạng; thì ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Người đã đề ra những nguyên tắc về hành vi đạo đức cách mạng đối với người có chức, có quyền trong Chính phủ từ toàn quốc đến các làng, Người đề nghị: “Mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: Cần, kiệm, liêm, chính” để “làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động”.

Người coi cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là phẩm chất đạo đức cơ bản nhất của con người mới, đồng thời là chuẩn mực cơ bản của nền đạo đức mới của dân tộc ta. Đây là phẩm chất được Người đề cập đến nhiều nhất, thường xuyên nhất với một nội dung đạo đức mới rất cách mạng mà vẫn giữ được nền tảng của các khái niệm đạo đức cũ rất quen thuộc với mọi người. Phẩm chất này gắn liền với họat động hàng ngày của mỗi con người và có quan hệ mật thiết với tư tưởng trung với nước, hiếu với dân. Chí công vô tư về thực chất là nối tiếp cần, kiệm, liêm, chính. Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công vô tư và ngược lại. Người có tinh thần chí công vô tư là người ham làm những việc ích nước, lợi dân, không ham địa vị, công danh, phú quý, không nghĩ đến quyền lợi cá nhân. Người cho rằng những cán bộ, đảng viên có đầy đủ đức tính nêu trên sẽ đứng vững trước mọi thử thách, hơn nữa yêu cầu họ phải thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đối với người, với việc và với chính mình.

Người từng nói: “Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công, vô tư. Mình đã chí công, vô tư thì khuyết điểm sẽ càng ít, mà những tính tốt như sau, ngày càng thêm. Nói tóm tắt, tính tốt ấy gồm có 5 điều: Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm” [4]. Có thể thấy rằng từ các khái niệm đạo đức cũ như: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm, Người đã đưa vào đây nội dung đạo đức mới bằng cách giải thích nó theo quan niệm mới, với một nội dung hoàn toàn khác, rất cách mạng, phản ánh các mối quan hệ một cách rõ ràng, cụ thể và dễ hiểu.

2/ Từ nội dung hẹp của các phạm trù đạo đức cũ, Người mở rộng, đưa vào đây một nội dung rất mới, tiến bộ, cách mạng, vượt qua những hạn chế của tư tưởng đạo đức truyền thống và nâng lên thành tư tưởng đạo đức mới, mà tiêu biểu nhất là các khái niệm: trung, hiếu, nhân, nghĩa… “Từ trung với vua thành trung với nước; từ hiếu với cha mẹ mình thành hiếu với dân; từ nhân chỉ là nhân ái thành nhân dân, từ cần cho riêng mình thành cần cho cả xã hội; từ kiệm cho riêng mình thành tiết kiệm chung phục vụ cho đất nước; từ liêm nghĩa là liêm khiết, không tham nhũng, nghĩa là chỉ giữ cho bản thân mình trong sạch, Người mở rộng thành vấn đề liêm khiết mang tính xã hội; từ chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đúng đắn, Người chuyển sang vấn đề thiện, ác; làm việc chính, là người thiện; làm việc tà là người ác”[5]. Người nhấn mạnh: “Người cán bộ phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải trái, giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”[6]. Trung vơí nước, hiếu với dân được coi là nội dung cơ bản nhất, bao trùm nhất trong tư tưởng đạo đức cách mạng của Người, thể hiện mối quan hệ giữa con người với Tổ quốc và nhân dân. “Trung với nước” là trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc, nước ở đây là nước của dân, dân là chủ nhân của đất nước. Người cho rằng bao nhiêu quyền hạn đều là của dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Xuất phát từ quan niệm như vậy, nên “hiếu” trong tư tưởng của Người chính là “Hiếu với dân”. Hiếu với dân không chỉ là xem người dân như đối tượng dạy dỗ, ban ơn mà là đối tượng phải phục vụ hết lòng. Ở người, lý luận luôn gắn chặt với thực tiễn, lời nói luôn đi đôi với việc làm. Cuộc đời của Người là minh chứng sinh động về tư tưởng tận trung với nước, tận hiếu với dân.

3/ Nếu như trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất của mỗi con người – công dân đối với Tổ quốc, đối với nhân dân, thì yêu thương con người là trách nhiệm của mỗi con người đối với con người. Người cho đây là phẩm chất cao đẹp nhất của con người. Yêu thương con người trước hết là tình cảm dành cho những người bị áp bức, bóc lột, những người cùng khổ. Yêu thương con người còn được thể hiện trong mối quan hệ hàng ngày với những người đồng chí xung quanh, trong cuộc sống bình thường. Phải luôn nghiêm khắc với bản thân, nhưng rộng rãi độ lượng với ngươì khác. Điều đặc biệt là ở Người, yêu thương con người luôn luôn gắn với niềm tin vào con người, tin vào lương tri, tin vào lòng dũng cảm, tin vào sức sáng tạo của họ trong hành trình con người tự giải phóng lấy mình, để con người làm chủ xã hội, làm chủ bản thân mình.

4/ Người đã có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cá nhân và giai cấp, giữa dân tộc và quốc tế, giữa truyền thống và hiện đại tạo ra trong quan niệm về đạo đức cách mạng sự hài hòa về các mối quan hệ lợi ích. Theo Người, tinh thần quốc tế trong sáng thực chất là chủ nghĩa yêu nước gắn liền với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Người cho rằng nếu tinh thần yêu nước không chân chính, tinh thần quốc tế không trong sáng thì có thể dẫn tới tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, hẹp hòi, sô vanh, biệt lập, kỳ thị chủng tộc. Từ rất sớm, Người đã chủ trương quan hệ với các quốc gia dân tộc và các tổ chức trên thế giới để thêm bạn, bớt thù. Quan điểm dân tộc đã được thổi vào thời đại, đã vượt qua biên giới quốc gia, hướng tới mục tiêu độc lập, dân chủ, hòa bình, hữu nghị và hợp tác.

Cần nhấn mạnh là tuy có những cách định nghĩa khác nhau về nội hàm các khái niệm đạo đức cách mạng, nhưng nhìn chung ở Người đều có sự nhất quán về tinh thần cách mạng và phương pháp tư duy. Từ các khái niệm, phạm trù của các tư tưởng đạo đức đã có từ trước như: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm, đến cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; từ trung, hiếu, đến thiện, ác… bao giờ Người cũng có cách giải thích riêng về những chuẩn mực đạo đức phù hợp dễ hiểu, dễ chấp nhận với từng đối tượng, với mọi tầng lớp nhân dân: trí thức, quân đội, công an, công nhân, nông dân, phụ nữ, phụ lão, các cháu thiếu niên và nhi đồng… Đề cao đạo đức mới, Người đã thể hiện một tầm nhìn xa trông rộng về nhân cách con người. Những phẩm chất mà Người nêu ra là nhằm hướng con người tới cái thiện, cái tốt, cái cao cả, đồng thời ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện thoái hóa, biến chất có thể xảy ra, đặc biệt là chống khuynh hướng lạm dụng quyền lực để tham nhũng, lãng phí. Ngay cả trước khi qua đời, việc đầu tiên được đề cập đến trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân là nói về Đảng, việc đầu tiên khi đề cập đến Đảng là đạo đức, Người viết: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”[7].

Tóm lại, từ bài viết đầu tiên trong tác phẩm Đường Kách Mệnh đến bản Di chúc cuối cùng, dù ở những thời điểm lịch sử khác nhau nhưng tư tưởng của Người về đạo đức cách mạng đều có sức thuyết phục rất cao, có sức sống mạnh mẽ và có giá trị lâu bền. Bởi đó là sự thống nhất giữa lời nói, tư tưởng và hành động. Người đặt vấn đề đạo đức cách mạng từ lĩnh vực lý luận sang lĩnh vực thực tiễn, đưa đạo đức cách mạng vào chính sự nghiệp cách mạng, coi đó là một trong những nguyên tắc hoạt động cách mạng, phản ảnh các quan hệ mới về lợi ích tạo ra nền tảng vững chắc của chính quyền cách mạng nói chung và người cách mạng nói riêng.

——————————————–

[1] Đường Kách Mệnh, xuất bản năm 1927 – đây là một tác phẩm lý luận và chính trị vô cùng quan trọng, gồm những đề cương bài giảng của Nguyễn Ái Quốc, tức Chủ tịch Hồ Chí Minh giảng cho các lớp huấn luyện chính trị được tổ chức bí mật ở Quảng Châu, Trung Quốc từ đầu năm 1925 nhằm đào tạo cán bộ cách mạng nước ta, chuẩn bị về tư tưởng, đường lối và tổ chức cho việc thành lập một chính đảng mác xít của giai cấp công nhân Việt Nam.
[2] Nguyễn Ái Quốc. Đường Cách Mệnh. Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1982, tr..22-23.
[3] Xem thêm: Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 5. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 54-55.
[4] Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 5. Sđd, tr. 251.
[5] Thành Duy, Văn hóa đạo đức: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2004, tr. 35.
[6] Hồ Chí Minh. Toàn tập, Tập 7, Sđd, tr. 480.
[7] Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 12, Sđd, tr. 510.

cpv.org.vn

Di sản Hồ Chí Minh về Đạo đức, Văn hóa

(GD&TĐ) – “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người Anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”. Chân lý đó đã làm rung động con tim mỗi người dân Việt Nam khi nhắc đến tên Người, Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta!

bìa sách

Bìa sách

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm tới tất cả các lĩnh vực của đời sống từ kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, giáo dục, tôn giáo, tín ngưỡng…, song lĩnh vực mà Người đề cập nhiều nhất chính là tư tưởng, đạo đức, lối sống. Hiếm có một lãnh tụ nào mà cả cuộc đời lại là tấm gương sáng về tư tưởng, đạo đức và lối sống như Bác của chúng ta. Đó chính là một di sản tinh thần vô giá của dân tộc trong hành trình đấu tranh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ở Hồ Chí Minh, văn hóa và đạo đức có sự gắn quyện, hài hòa, đã đạt tới sự thống nhất cao độ giữa công và tư, giữa đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường. Chính vì thế, Người đã trở thành “tinh hoa và khí phách, lương tâm và vinh dự”, thành biểu tượng của đạo đức, văn minh, không chỉ của Đảng ta, dân tộc ta, mà còn là biểu tượng của đạo đức, văn minh nhân loại. Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một tấm gương đạo đức của một vĩ nhân, một lãnh tụ cách mạng vĩ đại, một người cộng sản chân chính và cũng là tấm gương đạo đức bình dị cho mọi người, để ai cũng có thể học tập và làm theo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiến dâng cả cuộc đời và sự nghiệp để cứu nước, cứu dân, cho ước vọng cao cả là đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, mọi người sống chan hòa, nhân ái và hạnh phúc. Nặng lòng vì dân, tin ở dân, lo hạnh phúc cho muôn dân, đó là tư tưởng nhân văn cao cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó, giai cấp, dân tộc và nhân loại, cá nhân và xã hội, xã hội và tự nhiên luôn thống nhất trên lập trường của Chủ nghĩa Mác – Lênin. Đến khi trái tim lớn ngừng đập, tư tưởng cao đẹp đó vẫn tỏa sáng cho muôn thế hệ mai sau.

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã được toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta tham gia và hưởng ứng rộng rãi. Việc cùng nhau học lại những giá trị tư tưởng và đạo đức của Người có ý nghĩa vô cùng to lớn, sâu sắc trong việc tự hoàn thiện của mỗi chúng ta.

Hà Châu (St)
gdtd.vn

Sáng mãi đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh

Nhân dịp kỷ niệm 77 năm Ngày thành lập Đảng (3-2-2007), Bộ Chính trị đã quyết định tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn Đảng, toàn dân. Học tập đạo đức Hồ Chí Minh là một chủ trương lớn, vừa mang tính cấp bách trong bối cảnh tình hình hiện nay, vừa có ý nghĩa lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Người kiến trúc nên Nhà nước Cách mạng Việt Nam. Nói đến Bác, là chúng ta nhớ ngay đến tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời của Người. Một nhà lãnh đạo đã nói: Để hiểu sự nghiệp Hồ Chí Minh, chúng ta hãy đến với con người Hồ Chí Minh. Hồ Chủ tịch là một thiên tài kiệt xuất. Cái cốt tử trong thiên tài của Bác là đạo đức cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh vui Xuân Mậu Thân cùng với các cháu nhi đồng.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người học trò xuất sắc và người cộng sự gần gũi nhất của Bác Hồ đã nói: “Ở gần Bác, tôi thấy một nét nổi bật của Bác là rất coi trọng phẩm chất con người, suốt đời chăm lo bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ và nhân dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập ra thời đại mới của dân tộc Việt Nam, hình thành con người Việt Nam mới với những giá trị tư tưởng và tinh thần cao quý. Xã hội Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh là xã hội đề cao các giá trị tinh thần, những quan hệ tốt đẹp giữa người với người. Trong xã hội ấy, tiêu biểu là những chiến sĩ dũng cảm bảo vệ Tổ quốc, những con người lao động nhiệt tình xây dựng đất nước, những con người quên mình chăm lo cho lợi ích chung của nhân dân.

Những lần gặp gỡ, nói chuyện với cán bộ và nhân dân, Bác đã nói: “Cũng như sông, có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo… Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.

Ngày 19-5-1946, một đoàn cán bộ của Ban vận động Đời sống mới vào chúc thọ Bác. Nhân lúc trò chuyện, một nhà văn lão thành thưa với Bác:

– Thưa cụ, hôm nay đến chúc thọ cụ Chủ tịch, xin cụ cho Ban đời sống mới chúng tôi một khẩu hiệu, để Ban chúng tôi vận động nhân dân thực hiện.
Bác Hồ vui vẻ, Người nói:

– Khẩu hiệu ư ? Thế thì khẩu hiệu đó là: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”

Sau một phút suy nghĩ, nhà văn lão thành nói:

– Thưa cụ Chủ tịch, khẩu hiệu đó rất hay, nhưng nghe nó cổ cổ thế nào ấy ạ!

Bác Hồ cười:

– Ơ hay, sao lại cổ ? Các cụ ta xưa nay ăn cơm, bây giờ chúng ta ăn vẫn ngon. Cái hay của tổ tiên thì chúng ta phải học.

Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư là những phẩm chất đạo đức gắn liền với hoạt động hàng ngày của con người. Vì vậy, Bác Hồ đã đề cập đến phẩm chất này nhiều nhất, từ tác phẩm Đường Kách Mệnh đến Bản Di chúc cuối cùng của Người.

Trong bài báo “Cần kiệm liêm chính” in trên 4 số Báo Cứu Quốc tháng 5 và tháng 6 năm 1949, Bác Hồ viết: “Chữ Liêm phải đi đôi với chữ Kiệm. Cũng như chữ Kiệm phải đi đôi với chữ Cần. Có Kiệm mới Liêm được”. Bác dẫn lời: “Cụ Khổng Tử nói: Người mà không liêm, không bằng súc vật. Cụ Mạnh Tử nói: Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy ! Vì thế cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”.

*

Một điểm nổi bật trong đạo đức cách mạng của Bác Hồ, đấy là lòng thương yêu, quý trọng đối với nhân dân. Có thể nói, mọi suy nghĩ, mọi hành động của Bác đều vì lợi ích của nhân dân. Người luôn đặt đời sống của mình trong đời sống của nhân dân và suốt đời gắn bó với nhân dân. Theo số liệu của Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh thì trong 10 năm (1955 – 1965) Bác Hồ đã đi xuống cơ sở hơn 700 lần.

Một nhà văn đã viết: “Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam và có lẽ cả thế giới, có một vị Chủ tịch nước lấy chiếc nhà sàn nhỏ bằng gỗ, bên cạnh cái ao nuôi cá làm “cung điện” của mình. Lại nhớ khi ngôi nhà sàn làm xong, Bác tổ chức liên hoan, mời anh em công nhân ăn kẹo, uống nước. Bác nói:

– Cái nhà Toàn quyền kia hàng trăm người phải làm trong 6 năm mới xong, còn nhà của Bác các chú chỉ làm trong 1 tháng là xong. Thế là nhanh và tốt. Nhưng còn một khuyết điểm, các chú có biết là khuyết điểm gì không?
Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh thưa với Bác:

– Thưa Bác, so với ý Bác dặn thì ngôi nhà có to hơn ạ.

Bác bảo:

– Chú nói đúng. Nước ta chưa giàu, dân ta còn nghèo, chưa đủ nhà ở. Bác ở thế này là tốt lắm rồi. Các chú không phải lo cho Bác. Rồi Bác nói nhỏ với kiến trúc sư:

– Chủ tịch nước ở cái nhà bé thế này, để Chủ tịch tỉnh ở cái nhà to hơn một chút là vừa!

Mùa rét, Bác Hồ có một cái áo bông của đồng bào biếu. Bác mặc đã nhiều năm, bông đã xẹp không ấm nữa, cái vỏ bọc ngoài đã phai màu, lại rách ở vai. Bác bảo vá lại cho Bác. Nhân dịp này, anh em không dám nói thay áo khác, chỉ xin Bác cho thay cái vỏ bọc ngoài cho mới. Bác bảo:

– Này chú ạ, Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mặc áo vá thế này là cái phúc của dân đấy. Sao chú lại dám bỏ cái phúc ấy đi?

Bác còn nói thêm: “Bây giờ nhiều cụ già ở nông thôn có được cái áo bông này là quý lắm đấy chú ạ”. Hiện nay cái áo bông vá vai ấy vẫn còn trong bảo tàng Hồ Chí Minh.

Bác cũng thường nói với anh em cấp dưỡng:

– Các chú làm thức ăn cho Bác ít thôi. Bác ăn không hết, để người khác ăn thì không nỡ, mà đổ đi thì phí.

Hồi Bác còn ở ngôi nhà cũ của người thợ điện, thấy nóng bức, anh em ngoại giao ở nước ngoài mua gửi về biếu Bác một chiếc điều hòa nhiệt độ. Bác gọi đồng chí Vũ Kỳ lên bảo:

– Chiếc máy này tốt đấy chú ạ, các chú nên đem đến cho quân y viện hoặc trại điều dưỡng thương binh. Hôm trước, Bác đến thăm thấy các chú ấy ở nóng lắm. Còn Bác thì chưa cần, Bác ở thế này là tốt rồi.

Điều làm chúng ta cảm động là khi nói đến nhà ở, đến áo mặc, Bác đều nghĩ đến nhân dân. Một lần, một nhà văn nữ nước ngoài vào thăm khu nhà Bác ở. Lúc ấy Bác đã mất, thấy ngôi nhà giản dị quá, nhà văn xin phép được mở cái tủ áo của Bác. Và khi nhìn thấy trong chiếc tủ gỗ đơn sơ chỉ treo vẻn vẹn có vài ba bộ quần áo ka ki đã bạc màu, bên dưới là một đôi dép cao su đen… Thế là bà ta lấy khăn lau nước mắt.

Trong bài thơ “Người chẳng có gì riêng” nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:

“Giấu mình đi, Người không làm phiền ai tất cả
Dép một đôi, áo quần vài bộ
Chỉ có trái tim bao la là tất cả gia tài
Người không một mảnh vườn riêng
Một đứa con riêng – Người chẳng có
Chỉ có vầng trăng chia đều cho cháu nhỏ
Và hát chung cùng nhân dân bài hát
Kết Đoàn!”

***

Đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh còn được thể hiện bằng tấm lòng nhân ái, yêu thương con người. Nhận được quà biếu của đồng bào, dù là chiếc áo len hay chai mật ong… Bác đều gửi biếu lại các cán bộ ở gần Bác, hoặc gửi biếu các chú thương binh. Nhận được điện thoại gọi đến, biết người quen Bác đều hỏi thăm sức khỏe rồi mới bàn công việc. Bác không bao giờ dùng chữ cho, chỉ nói tôi biếu các cụ hoặc tặng các cháu nhỏ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các cháu thiếu nhi Hà Bắc khi Người về thăm và chúc tết đồng bào, bộ đội. Tết Đinh Mùi. Tháng 2-1967.

Trong Di chúc của Người, ngoài việc dặn dò mọi người phải đoàn kết chặt chẽ, đoàn kết nhất trí, đoàn kết và thống nhất, Bác căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Song điều làm ta phải suy nghĩ và xúc động là Bác đã dặn dò cả việc đối với những nạn nhân của xã hội cũ như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu… thì Nhà nước ta vừa phải giáo dục, vừa phải dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên người lương thiện. Có thể nói trong muôn vàn tình thương yêu của Người, Bác Hồ không để sót một ai, không quên một ai, có quên chăng là chỉ quên mình!

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” thực hiện từ ngày Kỷ niệm 77 năm thành lập Đảng (3-2-2007) cho tới hết nhiệm kỳ Đại hội X của Đảng. Cuộc vận động lớn này, sẽ tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và các tệ nạn xã hội… Đây chính là những hành động thiết thực nhất để kỷ niệm ngày thành lập Đảng ta.

(Nguồn: Báo điện tử Cần Thơ)

dalat.gov.vn

Một nguyên tắc cơ bản của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh “nói đi đôi với làm”, phải nêu gương về đạo đức

Hồ Chí Minh trở thành một nhà đạo đức chân chính, một tấm gương đạo đức tuyệt vời, là vì suốt đời Người không ngừng tự hoàn thiện mình theo lý tưởng Chân, Thiện, Mỹ; nêu gương từ việc lớn đến việc nhỏ, nên đã thực sự nhất quán giữa đời công và đời tư, giữa đạo đức cách mạng với đạo đức hàng ngày.

Theo Hồ Chí Minh, đạo đức không phải là đạo đức tu thân mà là đạo đức dấn thân, có nghĩa là đạo đức gắn liền với hành động. Nói về đạo đức phải gắn liền với thực hành đạo đức, đặc biệt phải có hiệu quả. Một người làm việc gì cũng không có hiệu quả, thì không thể coi là một người có đạo đức, Người chỉ ra rằng “Phải lấy kết quả thiết thực đã góp sức bao nhiêu cho sản xuất và lãnh đạo sản xuất mà đo ý chí cách mạng của mình. Hãy kiên quyết chống bệnh nói suông, thói phô trương hình thức, lối làm việc không nhằm mục đích nâng cao sản xuất”.

Hồ Chí Minh nói nhiều đến vai trò, tác dụng của đạo đức, nêu ra những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức cho cán bộ, nhân dân từ đời công đến đời tư. Song, Hồ Chí Minh thực hành đạo đức nhiều hơn những điều Người nói và làm rất lặng lẽ. Theo Người, muốn giáo dục mọi người phải nêu gương trước của mình đã, sau đó mới giáo dục bằng lời nói.

Ở Hồ Chí Minh luôn luôn có sự nhất quán giữa nói và làm, giữa giáo dục đạo đức với thực hành đạo đức. Người nói “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo – là vì mục đích đó”. Cho đến khi qua đời, Người còn viết trong Di chúc “Suốt đời tôi hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc rằng không được phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Cả cuộc đời Người đã là minh chứng cảm động cho sự nhất quán giữa nói và làm đạo đức. Nhờ kiên trì thực hành đạo đức, Người đã để lại cho dân tộc ta một tấm gương sáng ngời về đạo đức của một vị lãnh tụ thực sự của nhân dân.

Sở dĩ Hồ Chí Minh trở thành một nhà đạo đức chân chính đã để lại cho chúng ta một tấm gương đạo đức tuyệt vời, là vì suốt đời Người không ngừng tự hoàn thiện mình theo lý tưởng Chân, Thiện, Mỹ; nêu gương từ việc lớn đến việc nhỏ, nên đã thực sự nhất quán giữa đời công và đời tư, giữa đạo đức cách mạng với đạo đức hàng ngày.

Trong xã hội, tấm gương của các thế hệ trước đối với các thế hệ sau rất quan trọng. Mỗi thế hệ đều có trách nhiệm của mình, nhưng thế hệ trước bao giờ cũng có trách nhiệm rất nặng nề với thế hệ sau trong việc giáo dưỡng, nhất là bồi dưỡng về đạo đức. Chính vì vậy, ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhân dân ta giành được chính quyền, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt lên hàng đầu việc giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên. Người kiên quyết đấu tranh chống lại nguy cơ xa rời quần chúng, rơi vào thoái hóa biến chất của một đảng cầm quyền. Người nhắc nhở: “Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. “Muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người… mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”. Người đã từng cảnh báo: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Theo Người, sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội không phải ở lý tưởng cao xa nào mà trước hết, cụ thể và trực tiếp là ở những người cộng sản ưu tú bằng tấm gương sống và hành động của mình, chiến đấu cho lý tưởng đó thành hiện thực. Củng cố hay làm suy giảm niềm tin của quần chúng vào tương lai của chủ nghĩa xã hội không phải ở những sai lầm và thất bại tạm thời khó tránh khỏi trên con đường mới khai phá mà chủ yếu ở sự sa sút, thoái hóa của những người được mệnh danh là “những chiến sĩ tiên phong” trước thắng lợi hay khó khăn của cách mạng.

Sự lành mạnh của đời sống đạo đức xã hội phụ thuộc một phần rất quan trọng vào sự nêu gương của người lãnh đạo, nhất là những người đứng đầu các ngành, các địa phương, các đơn vị. Điều này được Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở: Muốn thực sự làm người lãnh đạo, người chỉ huy, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải hết sức giữ gìn và nêu gương về mặt đạo đức.

Để thực hiện theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Đảng ta vừa qua đã ra nhiều nghị quyết, chỉ thị học tập và làm theo Người. Đặc biệt Đảng ta yêu cầu những người lãnh đạo cao cấp phải nêu tấm gương về đạo đức, lối sống lành mạnh, phải là những chiến sĩ đi đầu trong việc đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, sa hoa, lãng phí, không chỉ trong xã hội mà cả trong gia đình riêng của mình.

Ngày nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chưa lúc nào từ bỏ âm mưu và thủ đoạn thâm độc để chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nước ta. Chúng luôn thực hiện “diễn biến” về tư tưởng, đạo đức lối sống qua con đường giao lưu, hội nhập kinh tế, qua các mạng thông tin để lôi kéo dân ta đi chệch khỏi các định hướng giá trị của dân tộc, đánh phá từ bên trong. Chính vì vậy, để Đảng ta mãi mãi “là đạo đức, là văn minh” mỗi cán bộ đảng viên không ngừng nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân như lời Bác Hồ đã dạy.

Th.S Nguyễn Thị Giang – Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

dalat.gov.vn

Hồ Chí Minh và đạo đức thời đại mới

Trong di sản tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, bao giờ Người cũng phân định rõ ràng tính phải và trái, đúng và sai, thiện và ác, xây và chống… Điều đó khiến mỗi người Việt Nam chúng ta đều nhận thấy và tìm thấy những vấn đề đạo đức rất gần gũi với mình, để hướng tới cái chân, thiện, mỹ trong cuộc sống. Và di sản của Người cho đến ngày hôm nay đã trở thành những chuẩn mực chung của đạo đức thời đại mới.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã trở thành chuẩn mực chung cho đạo đức thời đại mới:

Trung với nước, Hiếu với dân

Tháng 5/1945, Bác từ Pác Bó về Tân trào (Tuyên Quang) để cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền.
Ở Tân Trào, các đồng chí địa phương đã làm cho Bác một căn nhà lá khá xinh xắn. Đó vừa là nhà nghỉ, vừa là nơi để Bác làm việc. Đồng chí Võ Nguyên Giáp lúc ấy được sống và làm việc gần bên Bác. Lần nào đồng chí đến cũng thấy Bác đang cặm cụi với công việc. Mọi giấy tờ, chỉ thị Bác đều ghi chép và đánh máy rõ ràng.

Cao trào kháng Nhật cứu nước lúc bấy giờ đang sôi sục từ Bắc chí Nam. Toàn thể nhân dân hướng về Việt Minh, khí thế Cách mạng hừng hực khắp nơi. Trung ương đã quyết định tích cực chuẩn bị cho cuộc họp toàn quốc của Đảng và quốc dân đại hội đại biểu ở Tân Trào. Nắm vững thời cơ Cách mạng, Bác quyết định thời gian họp vào tháng 7/1945. Đúng thời gian đó, Bác bị mệt và sốt mấy hôm liền, thậm chí còn sốt cao và mê sảng. Nhưng khi vừa tỉnh, Bác đã vội vã bàn bạc công việc và lắng nghe tình hình. Bác nhắc cán bộ phải khẩn trương chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Bác nói: “Lúc này, thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy của dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.

Ý chí và quyết tâm của bác đã trở thành ý chí và quyết tâm của toàn đảng, toàn dân ta, trở thành nguồn sức mạnh to lớn, có ý nghĩa quyết định đưa đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 lịch sử.

Yêu thương con người

Với Bác, tình yêu thương con người là một trong những phẩm chất cao đẹp nhất. Trong di chúc, Người căn dặn Đảng phải có tình đồng chí yêu thương lẫn nhau. Đây là tình thương yêu dựa trên nguyên tắc tự phê bình và phê bình một cách nghiêm túc, chân thành giữa những con người có cùng ý tưởng. Với người lao động, Bác luôn động viên tinh thần họ với những việc làm cụ thể; với thiếu niên nhi đồng, Bác giành trọn niềm tin yêu đúng như câu nói “Trẻ em hôm nay là thế giới của ngày mai”.

Một câu chuyện cảm động về tình thương yêu Bác giành cho người lao động đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị và là điều đáng để tất cả chúng ta phải suy ngẫm. Đó là câu chuyện về cây xanh muôn đời trong khu di tích Hồ Chủ tịch.

Vào một đêm mùa Đông, Bác thức giấc khi nghe tiếng chổi tre quét lá bên đường của người lao công. Bác biết mùa này lá rụng nhiều, người lao công sẽ rất vất vả. Vậy nên một lần sang Trung Quốc công tác, Bác thấy một loại cây xanh tốt cả mùa đông mà lá không rụng. Bác nghĩ phải nhân giống loại cây này ở Việt Nam, như vậy các cô chú lao công mới đỡ vất vả quét lá rụng hàng ngày. Bác đã mang về 1 cây và trồng ngay trong khu nhà sàn và tự tay chăm sóc. Bác đặt tên cây đó là cây xanh muôn đời. Đến hôm nay cây xanh muôn đời đó vẫn xanh tốt quanh năm như tình yêu của Bác với những người lao công quét rác. Một việc làm tuy nhỏ nhưng mang ý nghĩa lớn lao về tình thương yêu người lao động của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu.

Cần, kiệm, liêm, chính

Từ “Đường Kách mệnh”, cuốn sách đầu tiên đào tạo, bồi dưỡng những người cách mạng trẻ tuổi, đến “Di chúc”, văn bản cuối cùng trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều nhắc đến cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.

Mỗi chữ cần, kiệm, liêm, chính, chí, công, vô, tư đều được Bác Hồ giải thích rất rõ, rất cụ thể, rất dễ hiểu. Riêng về chí công vô tư, Người nói: “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với việc. Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”… Theo Bác, chí công vô tư về thực chất là nối tiếp và có quan hệ mật thiết với cần, kiệm, liêm, chính. Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công vô tư, ngược lại, đã chí công, vô tư, một lòng vì nước, vì dân, vì Đảng thì nhất định sẽ thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính “và có được nhiều tính tốt khác”. Tính tốt ấy gồm có năm điều: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm.

Có được phẩm chất cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, con người sẽ thực sự vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách. Nhưng nói dễ, làm khó. Để có được phẩm chất này, trước hết mỗi người phải tự vượt qua chủ nghĩa cá nhân, nhất là những lợi ích do chức, quyền, danh, lợi đem lại vốn rất hấp dẫn và diễn ra hằng ngày.

Câu chuyện về một lá thư đặc biệt của Bác gửi cho đồng chí trợ lý Cục lãnh sự Liên Bang Xô Viết là bài học Người dạy mỗi chúng ta về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Người viết: “Khi tôi đi công tác, các đồng chí có đưa cho tôi 100 Rúp để tiêu vặt và đưa cho đồng chí thư kí Vũ Kỳ của tôi 60 Rúp. Tổng cộng là 160 Rúp. Nhưng do không có dịp sử dụng đến nên hôm nay, tôi nhờ đại diện Đại sứ quán của chúng tôi gửi lại các đồng chí số tiền trên. Mong các đồng chí nhận lại. Số tiền đó tuy không nhiều nhưng còn có nhiều người khác cần sử dụng hơn tôi…”.

Ở Hồ Chí Minh, đạo đức đã đạt tới một sự thống nhất chặt chẽ giữa nói và làm, giữa đời công và đời tư, giữa đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường. Do đó, Người đã trở thành “tinh hoa và khí phách, lương tâm và vinh dự”, thành biểu tượng của đạo đức và văn minh, không phải chỉ của Đảng ta, dân tộc ta, mà còn là biểu tượng của đạo đức, văn minh nhân loại. Đúng như bạn bè quốc tế đã đánh giá: “Giữa lúc vàng thau lẫn lộn, đồng chí Hồ Chí Minh trở thành trung tâm và tượng trưng cho cuộc xung đột lớn lao đang diễn ra giữa cái cũ và cái mới, giữa chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa xã hội. Sở dĩ bản anh hùng ca Việt Nam thu hút được lòng yêu mến của hàng trăm triệu người trên thế giới, chính là vì nó được tiêu biểu bởi nhân vật phi thường đó”. Bấy nhiêu đức tính cao cả chung đúc lại trong một con người đã làm cho tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở nên siêu việt, vô song, “khó ai có thể vượt hơn. Nhưng với sự kết hợp những đức tính đó, Người còn là tấm gương mà nhiều người khác có thể noi theo”.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã làm trong sáng thêm lương tâm của dân tộc và của loài người.

Ngô Ngọc Huy

dalat.gov.vn

Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng đạo đức mới

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên những nguyên tắc xây dựng nền đạo đức mới trong xã hội và chính Người đã suốt đời không mệt mỏi tự rèn mình, cũng như giáo dục cán bộ, đảng viên, nhân dân cùng thực hiện.

Theo Người, nói phải đi đôi với làm, trước hết là sự nêu gương tốt. Sự làm gương của thế hệ đi trước với thế hệ đi sau, của lãnh đạo với nhân viên… là rất quan trọng. Người yêu cầu ông bà làm gương cho con cháu, cha mẹ làm gương cho các con, anh chị làm gương cho em, lãnh đạo làm gương cho cán bộ, nhân viên, đảng viên phải làm gương cho quần chúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức, muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”.

Người cho rằng, muốn xây dựng đạo đức mới thì xây phải đi đôi với chống. Cùng với việc xây dựng đạo đức mới, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, nhất thiết phải chống những biểu hiện phi đạo đức, sai trái, xấu xa, trái với những yêu cầu của đạo đức mới, đó là “chủ nghĩa cá nhân”. Xây đi đôi với chống, nghĩa là muốn xây thì phải chống, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải chống chủ nghĩa cá nhân. Xây dựng đạo đức mới trước hết phải được tiến hành từ giáo dục, từ gia đình đến nhà trường, tập thể và toàn xã hội. Những phẩm chất chung nhất phải được cụ thể hóa sát hợp với các tầng lớp, đối tượng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã cụ thể hóa các phẩm chất đạo đức cơ bản đối với từng giai cấp, tầng lớp, lứa tuổi và nhóm xã hội.

Trong giáo dục, vấn đề quan trọng là phải khơi dậy ý thức đạo đức lành mạnh của mọi người, để mọi người nhận thức được và tự giác thực hiện. Người nhấn mạnh, trong đấu tranh chống lại tiêu cực, lạc hậu, trước hết phải chống chủ nghĩa cá nhân, phải phát hiện sớm, phải chú ý phòng ngừa, ngăn chặn. Để xây và chống cần phát huy vai trò của dư luận xã hội, tạo ra phong trào quần chúng rộng rãi, biểu dương cái tốt, phê phán cái xấu. Người đã phát động cuộc thi đua “Ba xây, ba chống”, viết sách “Người tốt, việc tốt” để tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, đạo đức cách mạng phải qua đấu tranh, rèn luyện bền bỉ mới thành. Người viết: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Phải rèn luyện, tu dưỡng đạo đức suốt đời, Người dạy: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tự rèn luyện có vai trò rất quan trọng, Người khẳng định, đã là người thì ai cũng có chỗ hay, chỗ dở, chỗ xấu, chỗ tốt, ai cũng có thiện, có ác ở trong mình. Vấn đề là dám nhìn thẳng vào con người mình, không tự lừa dối, huyễn hoặc; thấy rõ cái hay, cái tốt, cái thiện để phát huy và thấy rõ cái dở, cái xấu, cái ác để khắc phục. Tu dưỡng đạo đức phải được thực hiện trong mọi hoạt động thực tiễn, trong đời tư cũng như trong sinh hoạt cộng đồng, trong mối quan hệ của mình.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, theo những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức mà Người đã chỉ ra chính là biện pháp quan trọng để mọi cán bộ, đảng viên và tổ chức Đảng sửa chữa, khắc phục tình trạng suy thoái “có tính nghiêm trọng” về đạo đức, lối sống, giữ vững niềm tin của nhân dân về sự lãnh đạo của Đảng.

A.T

dalat.gov.vn

Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sách sạch chủ nghĩa cá nhân

Nhân kỷ niệm Ngày thành lập Đảng 3-2-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn chúng ta những lời tâm huyết, thể hiện mối quan tâm sâu sắc và sự lo lắng của Người đối với đất nước trong bài báo: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”.

Đồng chí Vũ Kỳ kể lại, viết xong bài báo này, Bác mời đồng chí Tố Hữu lúc đó phụ trách công tác tuyên huấn và đồng chí Vũ Kỳ lại để Bác đọc cho nghe và góp ý. Nhan đề bài báo của Bác lúc đầu là “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”. Nghe đọc xong, các đồng chí đều thấy đây là một một bài báo có nội dung quan trọng đối với công tác tư tưởng, giữ gìn đạo đức cách mạng – cái gốc của mỗi cán bộ, đảng viên. Bác muốn mỗi người phải ra sức tu dưỡng để trở thành những người tốt, cán bộ tốt, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nghe xong, đồng chí Tố Hữu đề nghị Bác nên đưa ý nâng cao đạo đức cách mạng lên trên, quét sạch chủ nghĩa cá nhân xuống dưới. Bác quay sang hỏi đồng chí Vũ Kỳ, đồng chí cũng đồng ý như thế. Bác nói:

– Có ba người, các chú là hai, đa số, nên Bác đồng ý đổi lại.

Tuy vậy, sau này Bác hỏi lại đồng chí Vũ Kỳ: Bác thí dụ nhà chú mua được một cái tủ mới, chú có quét nhà trước rồi mới kê tủ vào, hay là cứ kê tủ vào rồi mới quét nhà? ý Bác sâu sắc như thế đấy! Nhưng ở đây ta cũng thấy Bác rất tôn trọng đa số, vả lại sự thay đổi này cũng không ảnh hưởng gì đến nội dung bài báo.

Bác đã gửi tới tất cả các đồng chí trong Bộ Chính trị để góp ý kiến, sau đó đã in trên báo Nhân Dân đúng vào Ngày thành lập Đảng. Có lẽ Bác muốn lưu ý tất cả các đồng chí lãnh đạo của Đảng về vấn đề chống chủ nghĩa cá nhân và nâng cao đạo đức cách mạng.

Đã rất nhiều lần, Bác nói đến vấn đề nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân. Lần này, Bác đặc biệt nhấn mạnh: “Đảng ta lãnh đạo rất sáng suốt, đã đưa dân tộc ta tiến lên không ngừng từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong lịch sử đấu tranh của Đảng và trong mọi hoạt động hằng ngày, nhất là trên mặt trận chiến đấu và sản xuất, rất nhiều cán bộ, đảng viên ta tỏ ra anh dũng, gương mẫu, gian khổ đi trước, hưởng thụ đi sau và đã làm nên những thành tích rất vẻ vang… Song bên cạnh những đồng chí tốt ấy, còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém.

Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình…”(1).

Bác đặc biệt vạch rõ những nguy hại lớn do cá nhân chủ nghĩa gây ra:

“Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ.

Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân.

Tóm lại, do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm”(2).

Chúng ta đều biết, ngay từ năm 1927, mở đầu cuốn “Đường Cách mệnh”, một cuốn sách “vỡ lòng cách mạng”, Bác Hồ đã nói ngay đến “Tư cách một người cách mạng”. Tư cách đạo đức của người cách mạng là điều mà Bác đặt lên đầu tiên. Trong mục “Tự mình phải” gồm có 14 điều, Bác nhấn mạnh phải cần, kiệm, nói thì phải làm, phải biết hy sinh, ít lòng tham muốn về vật chất và phải biết cả quyết sửa lỗi mình.

Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 17-9-1945, trong “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà” Bác viết: “Cán bộ ta nhiều người “cúc cung tận tuỵ”, hết sức trung thành với nhiệm vụ, với Chính phủ, với quốc dân. Nhưng cũng có người hủ hoá, lên mặt làm quan cách mạng, hoặc là độc hành, độc đoán, hoặc là dĩ công dinh tư…”(3) (lấy của chung làm của riêng). Và Bác chỉ rõ, những điều đó làm cho dân oán đến Chính phủ và đoàn thể, làm ảnh hưởng đến khối đoàn kết. “Chúng ta phải lập tức sửa đổi ngay. Chúng ta không sợ có khuyết điểm. Chúng ta chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi”(4).

Tại buổi lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng, Bác nói: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Theo Bác, Đảng phải là đạo đức, là văn minh thì mới hoàn thành được sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình.

Trong bản Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân, Bác viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(5). Chỉ trong một đoạn ngắn nói về Đảng, có 57 chữ, Bác đã bốn lần nhấn mạnh chữ “thật” và “thật sự”. ý Bác là vấn đề đạo đức cách mạng phải được quan tâm, phải được coi trọng. Lời căn dặn cuối cùng và tâm huyết ấy của Bác, khiến mỗi người chúng ta càng phải suy nghĩ để tu dưỡng và rèn luyện mình, xứng đáng với niềm tin yêu của Bác, của nhân dân.

Những năm vừa qua, bên cạnh thành tích to lớn có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước, đã diễn ra “những tệ nạn tiêu cực trong một bộ phận không ít cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý bao gồm: Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tha hoá, sa đọa về đạo đức, lối sống, chạy theo địa vị, danh lợi, tranh giành, kèn cựa, mất đoàn kết nội bộ, dối trá, báo cáo không trung thực, lười biếng, suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng cách mạng. Những tệ nạn ấy đã trở thành nguy cơ “tự diễn biến” từ trong, không thể coi thường”(6). Là một nhà tư tưởng lớn, một nhà chiến lược và tổ chức thiên tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ lâu đã nhìn thấy nguy cơ ấy đối với một đảng cầm quyền, nếu không coi trọng sự rèn luyện, tu dưỡng và thường xuyên làm tốt công tác chỉnh đốn Đảng.

Tháng 6-1968, khi nêu ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách “Người tốt việc tốt”, Bác đã nói: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(7).

Rất, rất nhiều lần, Bác đã nói với chúng ta về nguy hại của chủ nghĩa cá nhân: “Chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù nguy hiểm mà mỗi người chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo đề phòng và kiên quyết tiêu diệt”(8), “Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích của riêng mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. “Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”. Nó là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư nết xấu… Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng”(9).

Để làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục đảng viên về lý tưởng cách mạng và đạo đức của người đảng viên. Bác nêu cách làm: “Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”(10).

Rèn luyện đạo đức cách mạng là một phần quan trọng của Tư tưởng Hồ Chí Minh, của văn hoá Hồ Chí Minh. Cuộc đời của Người là một biểu tượng đẹp đẽ nhất, một tấm gương cao quý nhất của đạo đức cách mạng.

Nhớ Bác, chúng ta hãy làm đúng những lời căn dặn của Người: “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân – Nâng cao đạo đức cách mạng”.

_____

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 12, tr.438. (2) Sđd, tr.438-439. (3,4) Sđd, tập 4, tr.21. (5) Sđd, tập 12, tr.510. (6) Trích tài liệu Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, dùng cho cán bộ chủ chốt và báo cáo viên, NXBCTQG, H.2003, tr.200. (7) Sđd, tập 12, tr.557. (8) Sđd, tập 11, tr.374. (9) Sđd, tập 10, tr.306. (10) Sđd, tập 12, tr.439.

Bùi Công Bính

xaydungdang.org.vn

Vận dụng tư tưởng, tấm gương Đạo đức Hồ Chí Minh

Tự học và học suốt đời là một luận điểm quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và chính Người là tấm gương sáng ngời về tinh thần suốt đời bền bỉ và khiêm tốn học hỏi. Người căn dặn: “Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học, phải học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học hỏi ở nhân dân”, “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời.

Học tập phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”

Truyền thống gia đình, quê hương đã hun đúc nên tinh thần hiếu học của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành. Trong những năm tháng ra đi tìm đường cứu nước, Người chứng kiến và thấu hiểu được cảnh lầm than, thất học của nhân dân các dân tộc thuộc địa. Năm 1919, thay mặt những người Việt Nam yêu nước sống ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Versailles bản yêu sách gồm tám điểm, trong đó điểm thứ sáu là: “Tự do học tập và mở các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp cho người bản xứ ở khắp các tỉnh”. Chính quá trình tự nghiên cứu, học tập và khảo sát mà Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc: Đó là sự kết hợp và giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác coi việc diệt giặc dốt quan trọng và cấp bách như diệt giặc đói, giặc ngoại xâm: “Giặc đói, giặc dốt là bạn đồng hành của giặc ngoại xâm” vì “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Bác động viên khích lệ đồng bào: “Đi học là yêu nước”. Tại phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ do Hồ Chí Minh chủ trì đã nêu xóa nạn mù chữ và nâng cao trình độ văn hóa cho nhân dân lao động là một trong những nhiệm vụ cấp bách. Ngày 8/9/1945, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh thành lập cơ quan Bình dân học vụ và kêu gọi toàn dân tham gia xóa nạn mù chữ. Mỗi người biết chữ đều phải tham gia dạy cho người mù chữ: “Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo…”. Trong bài “Chống nạn thất học”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “ Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”.

Năm 1946, trong “ham muốn tột bậc” của vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu của chúng ta, bên cạnh ham muốn “nước nhà được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc”, là ham muốn “ai cũng được học hành”. Cũng nhờ sự ham muốn đó mà Bác Hồ không ngừng học tập, rèn luyện trong mọi hoàn cảnh để có một  kiến thức uyên bác,  tài năng lỗi lạc, trở thành “Danh nhân văn hoá thế giới, anh hùng giải phóng dân tộc”, vững tay chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt muôn trùng sóng gió để tới bến bờ vinh quang.

Với sự nghiệp trồng người, Bác căn dặn “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Bác khẳng định: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”.

Theo Bác, trong cách học thì “lấy tự học làm cốt”, phải coi trọng trách nhiệm tự học của mỗi người, tự học thêm để làm chủ được tri thức. Những điều được học, được nghiên cứu tại trường chỉ có thể ví như một “hạt nhân bé nhỏ” mà người học “sẽ tiếp tục săn sóc, vun xới, làm cho mọc thành cây và dần dần nở hoa, kết quả”. Mục đích của việc học là để làm cán bộ phục vụ cho Tổ quốc “phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, “Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”. Người cảnh báo trước cho cán bộ thấy là “không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau”. Để thực hiện được mục đích giáo dục thì nội dung giáo dục phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn. Bác nhấn mạnh: “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn là thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không có liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”. Bác nêu ra nguyên lý giáo dục “Học đi đôi với hành”, “kết hợp lý luận với thực hành, ra sức học tập lý luận và khoa học tiên tiến của các nước bạn kết hợp với thực tiễn nước nhà…”.

Học tập suốt đời là khâu then chốt để cải cách giáo dục và là nội dung cốt lõi của xã hội học tập. Tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bắt gặp xu thế của thời đại khi mô hình xã hội học tập là một trong những đặc điểm và yêu cầu tất yếu của mỗi quốc gia trong nền kinh tế tri thức và hội nhập toàn cầu. UNESCO nhận định: chính việc học tập suốt đời sẽ thúc đẩy tạo ra sự bình đẳng cho mọi người, làm cho mọi người đều có cơ hội học tập trong mọi điều kiện khác nhau vì mục đích của việc học tập là “học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khảng định mình”. Học vấn ở trong nhà trường trang bị không thể thâu tóm được mọi tri thức mong muốn và không thể giải quyết được tất cả mọi vấn đề của thực tiễn. Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã mang lại cho nhân loại một lượng tri thức và thông tin theo hàm số mũ, sự đổi mới công nghệ làm cho kiến thức và tay nghề trước đây mà người học tiếp thu được trong giáo dục ban đầu trở nên lỗi thời, tụt hậu đòi hỏi phải liên tục được đào tạo và tự đào tạo để có khả năng thich ứng với những thực tiễn mới đòi hỏi

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại mới, Đảng ta đề ra khái niệm giáo dục suốt đời, Văn kiện Đại hội IX của Đảng xác định  mục tiêu  xây dựng “Cả nước trở thành một xã hội học tập nhằm“Tạo điều kiện cho mọi người ở mọi lứa tuổi được học tập thường xuyên, suốt đời”, Văn kiện Đại hội X nêu rõ thêm “Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở – mô hình xã hội học tập với hệ thống giáo dục suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người với những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục”. Điều này phù hợp với hoàn cảnh thực tế của đất nước, giải quyết được mâu thuẫn giữa nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân với điều kiện cơ sở vật chất còn  hạn chế.

Từ các Nghị quyết của Đảng, Bộ Chính trị đã có Chỉ thị 50 – CT/TW ngày 24/8/1999 và Chỉ thị 11/CT/TW ngày 13/4/2007 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, xác định: “Xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, là mục tiêu cơ bản trong chiến lược chấn hưng và phát triển giáo dục của nước ta” và Chỉ thị 02/2008/CT-TTg ngày 08/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ thể chế hoá về mặt nhà nước, nhằm đưa chủ trương lớn của Đảng vào cuộc sống.

Để xây dựng một xã hội học tập, chúng ta phải tiến hành đổi mới giáo dục cả về mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy lẫn  cách kiểm tra, đánh giá. Việc đề cao phương thức học tập suốt đời đi đôi với đề cao năng lực tự học của mỗi người mà chủ yếu là học cách học, đưa người học từ vị trí thụ động trở thành người chủ động, sáng tạo trong quá trình lĩnh hội kiến thức. Các hình thức giáo dục phải đa dạng và linh hoạt với những phương pháp khoa học, phương tiện hiện đại nhằm biến cả nước trở thành một trường học lớn, tạo điều kiện cho mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi ngành nghề, mọi trình độ đều được học tập, cập nhật kiến thức, công nghệ để tự nâng cao năng lực trí tuệ và khả năng thực hành, đáp ứng tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người, chúng ta phải học thường xuyên, học suốt đời, góp phần xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập./.

Tác giả bài viết: Bùi Viết Trung
Nguồn tin: Nội san 2010 – Trường Chính trị

truongchinhtri.edu.vn