Điện Biên Phủ trên không: Tiết lộ cách đánh bại B52

(VOV) -Hội nghị 10 người của Bộ tổng tham mưu trước chiến dịch đã đưa ra phương án bắn hạ B52.

Trước khi bước vào chiến dịch phòng không tháng 12/1972, đập tan cuộc tập kích đường không chiến lược mà chủ yếu bằng máy bay B52 của Mỹ vào thủ đô Hà Nội, TP Hải Phòng và một số địa phương khác trên miền Bắc, dưới sự tài trí của Trung ương Đảng và quân uỷ Trung ương, quân và dân ta đã hoàn toàn chủ động nắm bắt được toàn bộ kế hoạch ngay từ cấp cao nhất của đối phương.

Đây là một yếu tố đặc biệt quan trọng để chúng ta giành toàn thắng trong trận quyết chiến chiến lược trên bầu trời Hà Nội.

Phải đánh trúng B52

Ra đời từ năm 1952, B52 được mệnh danh là “siêu pháo đài bay” – trụ cột của không quân Mỹ.

Ngày 6/4/1972, Mỹ huy động không quân, hải quân mở chiến dịch đánh phá trở lại miền Bắc. Ngày 10/4/1972, chúng cho B52 đánh phá TP Vinh (Nghệ An). Ngày 6/4/1972, đánh phá TP Hải Phòng; ngày 9/5/1972, thả thuỷ lôi, phong toả các cảng ven biển và các cửa sông.

B52 bay cao trên 10km, đánh đêm là chính, sử dụng rất nhiều loại nhiễu điện từ phức tạp (Ảnh tư liệu)

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đứng trước thử thách cực kỳ gay go và quyết liệt.

Trước tình hình đó, Bộ Tổng tham mưu tổ chức hội nghị bàn phương pháp tác chiến.

Theo Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh – nguyên Phó Cục trưởng Cục tác chiến kể lại, thì hội nghị chỉ có 10 người, song ý kiến thảo luận rất sôi nổi. Những câu hỏi nêu ra là: Mỹ có đưa B52 ném bom Hà Nội và vùng lân cận không, nếu đưa thì thời điểm nào? Ta có bắn rơi được B52 không, cách đánh ra sao? công tác chuẩn bị cho đánh thắng…

Đồng chí Mạc Lâm, cán bộ Cục 2 sau khi thông báo hoạt động của B52 trên chiến trường Đông Dương đã nhấn mạnh, B52 bay cao trên 10km, đánh đêm là chính, sử dụng rất nhiều loại nhiễu điện từ phức tạp, nhưng giặc lái rất lo sợ khi bay vào vùng trời phía Bắc Việt Nam và nhất là chúng ngại đánh ban ngày.

“Phải đánh trúng B52”, lời nói chắc chắn như đinh đóng cột của Tư lệnh quân chủng phòng không không quân Lê Văn Chi tạo thêm cú hích mới cho hội nghị. Phải giải quyết cả kỹ thuật và chiến thuật, cơ động hợp lý, phòng tránh kịp thời, tên lửa cố gắng đánh trước lúc B52 cắt bom, phát hiện đánh cả máy bay chỉ huy của chúng.

Chủ nhiệm Uỷ ban khoa học kỹ thuật Nhà nước Trần Đại Nghĩa nêu ý kiến, muốn khắc phục các loại nhiễu điện từ, các biện pháp kỹ thuật cần nhất là có các trắc thủ giỏi. Nếu địch đánh ban đêm, ta có thể thả pháo sáng để quan sát B52.

Một nhà khoa học tự nhiên có tiếng tưởng ông đưa ra những biện pháp xử lý kỹ thuật thì thật bất ngờ và chí lý khi ông lại nêu vấn đề con người là quyết định.

Phó Tổng tham mưu trưởng Phùng Thế Tài kết luận và chỉ thị cần phải đẩy mạnh nghiên cứu cách đánh B52 bằng lực lượng và vũ khí hiện có của quân chủng phòng không không quân, đánh trúng bắn rơi được máy bay B52 là nhiệm vụ cấp bách, là yêu cầu cao về quân sự, chính trị ngoại giao.

Quân chủng phòng không không quân phải được chuẩn bị chi tiết cả con người và vũ khí cho chiến thắng B52.

Ngay sau hội nghị, Bộ tổng tham mưu chỉ thị cho quân chủng phòng không không quân thực hiện gấp việc nghiên cứu tiếp và triển khai kế hoạch đánh B52, biên soạn tài liệu huấn luyện và tập huấn B52 trong các tình huống phức tạp.

Tiếp đó Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Uỷ viên Bộ Chính trị – Bí thư Quân uỷ Trung ương – Bộ trưởng Bộ Quốc phòng – Tổng tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam trực tiếp làm việc phòng không không quân, tư lệnh các binh chủng radar tên lửa, không quân, và sư đoàn trưởng sư đoàn phòng không Hà Nội xác định phương hướng tác chiến chiến chiến dịch phòng không đánh B52 bảo vệ Hà Nội.

Tháng 9/1972, Bộ Tổng tham mưu và Bộ Tư lệnh quân chủng phòng không không quân bổ sung và hoàn thiện phương án mới đánh B52 được gọi là: Phương án tháng 9.

Phương án xác định những vấn đề cơ bản về nghệ thuật chiến dịch phòng không, như phán đoán phương án, âm mưu thủ đoạn, hướng vào mục tiêu tiến công của địch, quyết định sử dụng lực lượng và cách đánh của ta.

Cùng với việc chỉ đạo hoàn thành phương án đánh B52, Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo quân chủng phòng không không quân khẩn trương xây dựng thế trận, điều chỉnh lực lượng, nhanh chóng hoàn thành mạng lưới phòng không 3 thứ quân nhiều tầng, nhiều hướng, có trọng điểm, vào hai khu vực, Hà Nội và Hải Phòng.

Ngày 24/11/1972, Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng, cùng các phó Tổng tham mưu trưởng Trần Quý Hai, Vương Thừa Vũ, Cao Văn Khánh, Phùng Thế Tài, trực tiếp nghe Tư lệnh Lê Văn Chi, Chính uỷ Hoàng Phương, Phó Tư lệnh Nguyễn Quang Bích, Phó Chính uỷ quân chủng phòng không không quân Nguyễn Xuân Mậu báo cáo lần cuối kế hoạch phòng không đánh trả cuộc tập kích chiến lược bằng B52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng.

Tổng tham mưu trưởng phê chuẩn kế hoạch và lệnh cho quân chủng tiếp tục hoàn thiện công tác chuẩn bị kế hoạch chiến đấu trước ngày 3/12/1972.

Hạ 3 máy bay B52 trong đêm đầu

Đúng như nhận định của ta, sau khi trúng cử Tổng thống, Nixon ráo riết chuẩn bị hành động phiêu lưu mới về quân sự, Mỹ đặc biệt gia tăng số phi vụ B52 đánh phá các tuyến giao thông ở khu 4, tăng cường trinh sát chuẩn bị đánh phá bằng B52 vào Hà Nội, Hải Phòng.

Ngày 14/12/1972, Nixon chính thức thông qua kế hoạch tập kích chiến lược bằng B52 vào Hà Nội và Hải Phòng.

Ngày 15 và 16/12/1972, qua theo dõi hoạt động trinh sát của máy bay Mỹ ở khu vực Hà Nội, Hải Phòng tăng lên đột ngột, cùng lúc qua trung tâm trinh sát kỹ thuật Cục 2, Bộ Tổng tham mưu nắm được địch phát lệnh báo động đối với phi công lái máy bay B52 ở Guam, và đề nghị cơ quan khí tượng báo cáo tình hình thời tiết ở miền Bắc Việt Nam trong những ngày tới. Một số tàu cứu hộ của Mỹ, được lệnh di chuyển lên vĩ tuyến 21.

8h ngày 17/12/1972, Bộ Tổng Tư lệnh ra lệnh cho bộ đội phòng không không quân chuyển vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao nhất, đề phòng máy bay B52 đánh đêm từ vĩ tuyến 20 trở ra.

16h ngày 18/12/1972, Bộ Tổng tham mưu thông báo cho quân chủng phòng không không quân biết có 33 máy bay B52 xuất kích từ sân bay đảo Guam, nhiều khả năng đánh phá miền Bắc.

Quân chủng phòng không không quân nhận định chắc chắn B52 sẽ đánh vào Hà Nội và ra lệnh cho các đơn vị hoàn thành công tác chuẩn bị đánh B52 trước 17 giờ.

Tới 19h10’ ngày 18/12/1972, Trung đoàn radar 291 ở Nghệ An phát hiện được nhiễu cùng nhiều tốp B52 đang bay trên không phận Lào lên phía Bắc Việt Nam.

Nhận được báo cáo từ sở chỉ huy quân chủng phòng không không quân, B52 đang bay vào Hà Nội, Cục Tác chiến báo cáo ngay Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương xin ý kiến và được Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng đồng ý phát lệnh báo động cho Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Bộ Giao thông vận tải và một số tỉnh miền Bắc.

Lúc đó là 19h15’, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu phó Phùng Thế Tài, Cục trưởng Cục tác chiến Vũ Lăng có mặt tại sở chỉ huy, tổng hành dinh cùng tập thể cán bộ chiến sĩ trong kíp trực bước vào trận đánh lớn với không quân Mỹ.

Và từ 19h40’ ngày 18/12/1972, Mỹ đã huy động 93 lần chiếc B52, và 135 lần  chiếc máy bay chiến thuật đánh liên tiếp 3 đợt vào các mục tiêu ở Hà Nội, và các vùng phụ cận. Đường bay của máy bay B52 Mỹ vào đánh phá Hà Nội đúng như dự kiến của ta.

Trong đêm 18/12/1972, đêm mở đầu chiến dịch phòng không Hà Nội, quân và dân đã bắn rơi 3 máy bay B52 của Mỹ.

Trong 12 ngày đêm của chiến dịch, Mỹ đã huy động 740 lần chiếc B52, hơn 1000 lần chiếc máy bay chiến thuật có F111, sử dụng các khí tài điện từ, gây nhiễu hiện đại, đánh tập trung ồ ạt gần 20.000 tấn bom xuống các mục tiêu kinh tế, quân sự ở Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, và một số nơi khác.

Để đánh bại chiến dịch của không quân Mỹ, ta đã huy động 6 trung đoàn tên lửa phòng không, 4 trung đoàn không quân tiêm kích, 16 trung đoàn và 22 tiểu đoàn pháo phòng không, 4 trung đoàn radar, 346 đơn vị, pháo và súng máy phòng không của bộ đội địa phương và dân quân tự vệ.

Bằng chiến dịch phòng không Hà Nội, Hải Phòng quân và dân ta đã đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược của Mỹ, bắn rơi 81 máy bay, có 34 chiếc máy bay B52, 5 chiếc F111, diệt và bắt nhiều giặc lái.

Bị tổn thất lớn và không đạt mục đích, Mỹ buộc phải tuyên bố ngừng ném bom đánh phá từ Bắc vĩ tuyến từ 20 trở ra, đàm phán hội nghị Paris, và kết thúc chiến tranh phá hoại thứ hai đối với miền Bắc Việt Nam.

Cùng với cuộc tiến công chiến lược mùa hè của quân và dân miền Nam, chiến dịch phòng không Hà Nội, Hải Phòng là đòn chiến lược có ý nghĩa quyết định buộc Mỹ phải ký hiệp định Paris năm 1973 về Việt Nam rút hết quân Mỹ về nước.

Diễn biến của chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, 12 ngày đêm cuối năm 1972 gần giống như những gì mà hội nghị trước đó mà chúng ta đã dự báo. Chúng ta đánh B52 hoàn toàn trong thế chủ động./.

Hoàng Hữu Phương
Ban Phát thanh Quân đội
vov.vn

Sống lại ký ức “Hà Nội 12 ngày đêm” trên phim

(VOV) – “Hà Nội 12 ngày đêm” – bộ phim chân thật, sống động, ngợi ca chiến thắng của quân và dân Thủ đô.

Trong các ngày từ 12 đến 18/12, khán giả trong cả nước được thưởng thức những bộ phim xuất sắc của Điện ảnh Việt Nam, trong khuôn khổ tuần phim kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Đây là một hoạt động ý nghĩa, góp phần tuyên truyền, giáo dục sâu rộng về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” – một chiến thắng lịch sử mang tầm vóc lớn lao của quân đội và nhân dân Việt Nam, đặc biệt là của Quân chủng Phòng không – Không quân và bộ đội tên lửa.

19h tối nay (13/12), tại Hà Nội, Tuần phim kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” khai mạc tại Trung tâm Chiếu phim Quốc gia. Bộ phim truyện nhựa Hà Nội 12 ngày đêm của Nghệ sỹ Nhân dân – đạo diễn Bùi Đình Hạc được chọn chiếu khai mạc. Đây là một bộ phim chân thật, sống động, ngợi ca tinh thần quyết chiến và quyết thắng của quân và dân Thủ đô.

Một cảnh trong phim “Hà Nội 12 ngày đêm”

Bộ phim truyện nhựa Hà Nội 12 ngày đêm do NSND Bùi Đình Hạc làm đạo diễn được đánh giá là một bộ phim đầy ắp chân dung những con người bình dị nhưng hết sức kiên cường, quyết tâm sống chết với thủ đô thân yêu trong những thời khắc lịch sử hào hùng. Bộ phim được thể hiện rất công phu với mục đích tái hiện một phần trận Điện Biên Phủ trên không – một cuộc chiến đấu ác liệt của nhân dân Hà Nội chống lại cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B-52 của đế quốc Mỹ vào cuối tháng 12 năm 1972, buộc Chính phủ Hoa Kỳ phải ký Hiệp định Paris, đưa lại hòa bình ở miền Bắc Việt Nam.

Trong Tuần phim kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, khán giả sẽ được xem các bộ phim: Hà Nội 12 ngày đêm, Ký ức một thời, Chuyện ở một vùng non cao, Hà Nội tháng Chạp năm ấy, Tầm nhìn trên cao, Hà Nội bản hùng ca, Năm 1972 lịch sử…

Về bộ phim này, NSND Bùi Đình Hạc cho rằng, khi thực hiện bộ phim này, những người làm phim muốn khán giả nước ngoài biết được con người, dân tộc Việt Nam trong chiến tranh.

Những con người đã sống và chiến đấu cho độc lập tự do của đất nước mình như thế nào… Hy vọng lớn nhất của những người làm phim là giúp cho người nước ngoài sẽ hiểu và đồng cảm với nhân dân VN.Đạo diễn Bùi Đình Hạc cũng cho rằng, cuộc chiến đấu của quân và dân Hà Nội trong 12 ngày đêm năm 1972 đã làm cả thế giới kinh ngạc và thán phục. Với riêng đạo diễn Bùi Đình Hạc, 12 ngày đêm ấy đã để lại trong ông những ấn tượng không thể nào quên. Không dừng lại ở miêu tả chiến công, những người làm phim cố gắng để bộ phim đạt được những giá trị nghệ thuật mang đậm tính nhân văn. Từ một chiến công, cố gắng khắc họa phần nào tính cách một dân tộc anh hùng. Tên bộ phim là Hà Nội – 12 ngày đêm gợi tình cảm, sự gần gũi, giản dị thân thương mà vẫn quyết liệt…

Đạo diễn NSND Bùi Đình Hạc

Trong phim, mỗi trường đoạn đều có sắc thái riêng. Đặc biệt trong phim có một đêm “hoà bình” giữa cuộc chiến ác liệt. Đó là đêm Noel, tháng 12/1972. Một đêm Noel đầy ý nghĩa. Tại Nhà thờ Lớn Hà Nội, mọi người để tang cho những người đã mất. Không khí buồn thương, chỉ có tiếng nhạc và những gương mặt đẫm nước mắt…

Và đêm Giáng sinh không bom đạn đó, với tình yêu mãnh liệt, cô giáo Hiền đi tìm chồng là Tiểu đoàn trưởng tên lửa Đặng Nhân bằng một chiếc xe đạp. Họ có một kỉ niệm đẹp với nhau, đứa con chính là niềm an ủi cho người vợ sau này. Giữa một cuộc chiến huỷ diệt như vậy – lại có những giây phút hoà bình thì quý giá với con người, với người lính trẻ và người vợ hiền của mình biết bao nhiêu…

Phim Hà Nội – 12 ngày đêm đã giành giải Bông sen bạc tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 14. Bộ phim cũng đã tham dự 10 Liên hoan phim quốc tế: Năm 2003, phim tham dự liên hoan phim Cairô (Ai Cập), Liên hoan phim Fukuoka (Nhật Bản), liên hoan phim New Delli (Ấn Độ); Năm 2004, phim tham dự LHP Loocarnô (Thụy Sĩ), LHP Vesoul (Pháp), LHP Bình Nhưỡng (Triều Tiên); Năm 2005 phim tham dự LHP Fair (Teheran- Iran) và LHP Laguna Tenerife (Tây Ba Nha).

Tại LHP Fukuoka (Nhật Bản) năm 2003, ông Tadao Sato – Chủ tịch LHP và Viện trưởng Viện hàn lâm Điện ảnh Nhật Bản nhận xét rằng: Phim Hà Nội- 12 ngày đêm là một bộ phim hay, giàu trí tuệ. Trong từng trường đoạn, chiến tranh diễn ra rất ác liệt, nhưng vượt lên trên hết là tình yêu hòa bình, tình nhân ái của con người Việt Nam./.

Mai Hồng/VOV1
vov.vn

Những hình ảnh 12 ngày đêm lịch sử năm 1972

(VOV) – Những ngày này 40 năm về trước, Hà Nội, Hải Phòng và nhiều thành phố, trung tâm khác của miền Bắc mịt mù, tan hoang bởi bom đạn.

Ngày 14/12/1972, Tổng thống Mỹ Nixon phê chuẩn kế hoạch tập kích bằng không quân chiến lược vào Hà Nội và Hải Phòng.

Không quân Mỹ sử dụng “Pháo đài bay” B52 rải thảm vào thủ đô và các thành phố lân cận. Trong ảnh, bệnh viện Bạch Mai bị bom Mỹ đánh phá tan hoang.

Đêm 18/12/1972, Đài phát sóng Mễ Trì bị đánh phá. Tuy tổn thất nặng nề nhưng Tiếng nói Việt Nam chỉ ngừng trong 9 phút.

Đêm 26/12/1972, phố Khâm Thiên tan hoang bởi bom Mỹ. Tổng cộng 278 người đã thiệt mạng, chủ yếu là phụ nữ, cụ già, em nhỏ.

Phụ nữ và em nhỏ trên đường đi sơ tán.

Những chiếc hầm cá nhân ngay trên vỉa hè.

Tuy nhiên, mưu đồ đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá của Nixon đã bị đập tan bởi sự anh dũng và quật cường của quân và dân ta. Trong ảnh, các chiến sỹ tên lửa bên “Rồng lửa” SAM 2.

Đoàn không quân “Sao Đỏ”, đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang góp phần xứng đáng trong thắng lợi của chiến dịch.

Anh hùng Phạm Tuân, người điều khiển chiếc Mic – 21 bắn rơi B52.

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng tới hiện trường xác chiếc B52 bị bắn rơi tại phố Hoàng Hoa Thám, Hà Nội. Tổng cộng trong 12 ngày đêm, đã có 34 chiếc bị bắn hạ trong đó 16 chiếc rơi tại chỗ.

Bắt giặc lái Mỹ ở Hồ Trúc Bạch.

Bữa ăn của tù binh phi công, tại Trại giam Hỏa Lò. Tuy trong điều kiện khó khăn nhưng họ vẫn được đối xử rất tốt.

Thất bại nặng nề trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không buộc Mỹ và tay sai phải ngồi vào bàn đàm phán để ký kết hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh Việt Nam vào năm 1973. Trong ảnh, Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình đặt bút kí ngày 27/1/1973.

Những tù binh Mỹ được trao trả trong năm 1973 tại sân bay Gia Lâm.

Quang Trung/VOV online
Tổng hợp
vov.vn

Viết tiếp bản hùng ca “Điện Biên Phủ trên không”

(VOV) – Chương trình nhằm kết nối lớp trẻ 40 năm trước và lớp trẻ hiện nay.

Với tinh thần kết nối tuổi trẻ và cựu chiến binh, những nhân chứng của chiến thắng Điện Biên Phủ trên không năm 1972, chương trình giao lưu nghệ thuật “Viết tiếp bản hùng ca” sẽ diễn ra lúc 20h ngày 15/12 tại Hà Nội. Chương trình do báo Quân đội nhân dân, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình kỹ thuật số VTC phối hợp tổ chức.

Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” sau 40 năm sẽ được nhìn lại qua lời kể của những người đã từng góp phần làm nên bản lĩnh, trí tuệ người Việt Nam khi chiến thắng vũ khí tối tân nhất của quân đội Mỹ là pháo đài bay B52.

Tinh thần ấy còn được những gương mặt trẻ, đại diện cho thế hệ thanh niên Việt Nam gìn giữ và vận dụng trong công cuộc xây dựng tổ quốc hôm nay.

Buổi giao lưu của hai thế hệ sẽ mở đầu với việc nhìn lại “Cuộc đụng đầu lịch sử” qua lời kể của nhân chứng là Trung tướng Phạm Tuân – người đầu tiên bắn hạ được máy bay B52 từ trên không và trở về an toàn vào đêm 27/12/1972…

Phần hai của chương trình “Hà Nội ơi một trái tim hồng” sẽ kể câu chuyện phối hợp chiến đấu, xây dựng thế trận phòng không nhân dân; ca ngợi khí phách, tinh thần người Hà Nội luôn vững vàng đối mặt với B52. Những câu chuyện từ thực tế lao động, công tác qua lời kể của những gương mặt trẻ sẽ khép lại với phần “Vang mãi bản hùng ca”.

Cùng với phần giao lưu với các nhân chứng lịch sử, các phóng sự, bài ca đi cùng năm tháng xen lẫn chương trình sẽ góp phần tái hiện chiến công oanh liệt trong 12 ngày đêm “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không”.

Thiếu tướng Lê Phúc Nguyên- Tổng Biên tập báo Quân đội Nhân dân cho biết: Qua chương trình, chúng tôi muốn thiết lập một sợi dây liên kết có ý nghĩa giữa lớp trẻ 40 năm trước và lớp trẻ hiện nay. Có thể nói sứ mệnh lớn đặt ra cho thế hệ nay là làm chủ vũ khí, khoa học kĩ thuật để phát huy được tinh thần “không để Tổ quốc bị bất ngờ”.

Chương trình giao lưu nghệ thuật “Viết tiếp bản hùng ca” sẽ được tường thuật trực tiếp trên kênh truyền hình VOVTV và phát thanh trực tiếp trên Hệ Thời sự Chính trị tổng hợp (VOV1)- Đài Tiếng nói Việt Nam, phát sóng trực tiếp trên kênh truyền hình VTC1- Đài truyền hình kĩ thuật số VTC; Truyền hình Công an Nhân dân (ANTV)./.

Phương Thúy/VOV-Trung tâm tin
vov.vn

Điện Biên Phủ trên không: Ký ức đau thương

(VOV) -Nghệ sỹ nhiếp ảnh Mai Nam đến giờ không thể quên được hình ảnh một nữ bác sỹ bị trúng bom chết ngay trước ngày cưới.

Nghệ sĩ nhiếp ảnh Mai Nam – khi đó là phóng viên của báo Tiền phong đã xúc động nhớ lại những năm tháng người Hà Nội ngoan cường chiến đấu với B52.

Là phóng viên nhiếp ảnh của báo Tiền phong, nhà báo Mai Nam đi rất nhiều vùng miền của đất nước để chụp ảnh về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân dân Việt Nam.

Khi Mỹ ném bom trở lại miền Bắc, ông đã ghi lại được nhiều hình ảnh quân dân ta chiến đấu kiên cường dưới sự tàn phá khốc liệt của không quân Mỹ để bảo vệ bầu trời Hà Nội.

Nghệ sỹ nhiếp ảnh Mai Nam nhớ lại: Khi Mỹ chuẩn bị mở màn chiến dịch Linebacker II, sử dụng “pháo đài bay” B52 tấn công miền Bắc, người dân Hà Nội sơ tán âm thầm trong đêm.

Nghệ sỹ nhiếp ảnh Mai Nam (Ảnh: CAND)

Những chiếc xe đạp thồ đủ thứ từ người già, trẻ em, đồ đạc…. Đường phố Hà Nội lặng ngắt. Trên từng cánh cửa, mọi người đều biển dán thông báo, gia đình đang sơ tán ở nơi đâu. Ngoài đường phố Hà Nội chỉ còn thanh niên cờ đỏ. Họ giúp mọi người tránh bom khi máy bay đến.

Thời điểm đó, Mỹ ném bom rất ác liệt. Những trận bom Mỹ dội xuống làm mặt đất rung chuyển dữ dội. “Đến cái đèn Hoa Kỳ ở trong hầm cũng vụt tắt”, ông Nam nói.

“Sau những trận đánh bom dữ dội vào ngày 22 – 23/12, đặc biệt là đêm 24/12, hôm sau ra ngoài đường, ông thấy rất nhiều quan tài mà người ta dùng để khâm liệm những người thiệt mạng trong các cuộc ném bom.

Cái ký ức đau thương nhất trong cuộc chiến đó đến bây giờ ông vẫn không quên được khi chứng kiến cảnh một nữ bác sỹ ở bệnh viện Bạch Mai sắp sửa đến ngày cưới. “Thế mà cô ấy chết. Người ta mặc quần áo cô dâu cho cô ấy để khâm liệm”, giọng ông Nam như nghẹn lại.

Mọi người sơ tán để tránh cuộc tấn công bằng không quân của Mỹ, còn ông vẫn ở lại Hà Nội. Ban đêm ông thường lên các mái nhà như: Ngân hàng Hà Nội, Bách hóa Tổng hợp để ghi lại những hình ảnh máy bay Mỹ ném bom.“Lúc đó trên nền không gian đen kịt chỉ còn thấy những ánh chớp giật lên giật xuống xé ngang bầu trời của những đợt ném bom khủng khiếp của máy bay Mỹ”, ông Nam nhớ lại.

Ông Nam cho biết, trong cuộc chiến đó, hình ảnh ông ghi lại được nhiều nhất là cuộc tấn công của Mỹ vào trạm xăng Đức Giang, một số cảnh tàn phá ở phố Huế và Khâm Thiên, hay những trận địa pháo 100 của ta ở khu Cao Xà Lá./.

VOV2
vov.vn

Ký ức về tình người trong bom đạn

(VOV) – Trong cuộc chiến đấu bảo vệ Hà Nội 40 năm trước, vẫn còn in đậm những câu chuyện đầy cảm xúc, thấm đẫm tình người.

40 năm đã qua, bầu trời thủ đô “xanh xanh thắm”, bình yên. Nhưng trong tâm khảm của những người được sống, được chứng kiến, được hoà mình vào cuộc chiến đấu 12 ngày đêm cuối năm 1972 bảo vệ Hà Nội vẫn còn in đậm những câu chuyện đầy cảm xúc, thấm đẫm tình người.

Tình người nơi sơ tán

Điều đó là điểm tựa tinh thần mạnh mẽ để quân và dân Hà Nội và cả miền Bắc tạo thành một khối đoàn kết vững chắc, vừa chiến đấu, vừa sản xuất, góp phần đưa chiến dịch Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không đi đến thắng lợi vẻ vang.

Biết được ý đồ của Mỹ sẽ tập kích đường không chiến lược vào thủ đô và miền Bắc, nên ngay sau những đợt đầu tiên máy bay B52 ném bom, Hà Nội tổ chức sơ tán hơn 500.000 dân trong tổng số 600.000 dân nội thành. Trong số đó phần lớn là người già, phụ nữ và trẻ em. Chỉ có một số người ở lại Hà Nội trông coi tài sản và tham gia đội tự vệ Hà Nội bảo vệ thủ đô.

Từng đoàn các em học sinh Hà Nội trên đầu đội mũ rơm lần lượt được đưa ra ngoại thành và các tỉnh lân cận sơ tán, nhiều em đi mà không có người thân đi cùng. Ông Vũ Hải Sơn (Ngọc Hà, Hà Nội) lúc bấy giờ mới 12 tuổi cũng đi sơ tán cùng các bạn nhớ lại lúc đó còn rất ngây ngô, nhưng ký ức về những con người đã từng cưu mang hai anh em anh trong những ngày đạn bom ác liệt ấy thì vẫn còn như mới hôm qua.

Các em nhỏ Hà Nội trước căn hầm chữ A tại nơi sơ tán (Ảnh: KT)

“Khi chúng tôi đi sơ tán, vì người lớn rất bận công việc nên hai anh em tôi cứ đi theo dòng người như vậy. Có một người không biết là nông dân hay bộ đội, đến giờ tôi cũng không nhớ được tên, hỏi hai cháu đi với ai? Tôi nói, “chúng cháu cứ đi rồi gia đình hẹn đón phía sau”. Đến tận tối vẫn không có người đón, thực ra là gia đình tôi không đến kịp hoặc cũng có thể không tìm thấy. Người đàn ông ấy đã dẫn anh em tôi về nhà, nấu cơm cho ăn rồi sáng hôm sau dẫn ra đường đón người nhà chúng tôi” – ông Sơn nhớ lại.

Những việc làm giản dị nhưng thẫm đẫm tình người như ông Sơn gặp xuất hiện ở mọi chỗ, mọi nơi ấy đã giúp không chỉ ông Sơn mà biết bao em bé Hà Nội trên đường đi sơ tán cảm thấy được yên ổn giữa lúc từng đàn máy bay địch quần thảo trên bầu trời.

Ở những nơi sơ tán, bà con địa phương và người dân Hà Nội ai nấy đều cố gắng khắc phục khó khăn, chia ngọt sẻ bùi như anh em một nhà. Bà Đoàn Kim Dung (ở phố Lê Duẩn, Hà Nội) nhớ lại: “Về các nơi sơ tán, ở nhờ nhà người dân. Người ta làm gì thì mình làm theo. Họ ra đồng mình cũng ra đồng. Đến mùa màng thì mình hỗ trợ, giúp đỡ nhà chủ. Đi đến đâu mà nói là người Hà Nội về sơ tán là họ đón tiếp, mừng lắm”.

Ông Nguyễn Đức Khánh (Phố Huế, Hà Nội) vẫn còn xúc động khi nhớ về những tình cảm đôn hậu, thắm tình đồng bào của người dân nơi ông về sơ tán: “Trong chiến tranh, tình cảm con người quý mến nhau lắm. Tất cả đều dồn cho chiến tranh, tình cảm bà con hàng xóm như một nhà. Mình ở Hà Nội về sơ tán gia đình nhà người ta, người ta sẵn sàng nhường hết cả nhà cho mình để ở. Chỗ nào nằm tốt nhất người ta nhường hết”.

Tất cả hướng về Hà Nội qua đài phát thanh

Một Hà Nội hiên ngang, mang trong mình khí phách ngàn năm vừa chiến đấu, vừa lao động sản xuất. Các hoạt động bình thường trong nội thành vẫn diễn ra sau các trận không kích của đế quốc Mỹ. Cứ mỗi lần thủ đô bị đánh phá là lòng người đi sơ tán lại lo lắng. Mỗi lần Đài TNVN đưa tin về các khu phố bị dội bom là lòng người đi sơ tán cứ quặn lại lo cho người thân của mình ở lại nội thành làm việc, lo cho các chiến sĩ bộ đội và lực lượng tự vệ đang bảo vệ thủ đô.

Bà Đoàn Kim Dung bùi ngùi kể: “Nhìn thấy bom dội xuống từng tràng một, nhìn về phía Hà Nội mà nước mắt chúng tôi cứ trào ra. Lo sợ, không biết là ai sống ai chết, về còn gặp nhau nữa không đây? Những ngày về gặp nhau hỏi thăm ai còn ai mất, thương nhau lắm”.

Tình người với người không chỉ thể hiện bởi những người ruột rà, bà con hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau, mà ngay cả với những chiến sĩ đang chiến đấu ngoài mặt trận trên khắp mọi miền Tổ quốc cũng luôn hướng về Hà Nội, theo sát diễn biến của Hà Nội từng ngày từng giờ qua làn sóng phát thanh.

Các chiến sĩ  ngoài mặt trận cũng dõi theo từng phút, từng giây về trận chiến đấu bảo vệ Hà Nội; về những câu chuyện đậm chất nhân văn; về sự quên mình dũng cảm hy sinh của quân dân thủ đô. Điều đó càng làm tăng thêm niềm tin cho họ trong cuộc chiến đấu giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc.

Họa sĩ – nhà thơ Nguyễn Trần Thái đang chiến đấu ở mặt trận Tây Nguyên thời điểm ấy rưng rưng xúc động nhớ lại: “Qua chiếc radio, chúng tôi nghe được B52 rải thảm ở Hà Nội ra sao cũng như tinh thần chiến đấu của người Hà Nội. Tôi được nghe trong chiến dịch Khâm Thiên, hình ảnh những anh bộ đội bế những đứa trẻ xuống hầm trú ẩn, rồi có những con người sẵn sàng hy sinh hết thảy để cứu vớt những người khác và quên cả thân mình. Trong lúc ác liệt của bom đạn như thế, tính nhân văn của người Hà Nội thời bấy giờ đẹp lắm, rất tuyệt vời”.

Đối với những người làm ở Đài TNVN, không bao giờ có thể quên được tình cảm của người dân Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Nghe tin dữ Đài phát sóng Mễ Trì bị huỷ diệt, khu tập thể của cán bộ, nhân viên Đài tại 128C  Đại La bị tàn phá, bà con Gia Lộc đã dựng ngay 20 ngôi nhà tranh tre nứa lá để những người mất nhà cửa ở tạm thời.

Những câu chuyện cảm động về tình người trong chiến tranh chắc hẳn không chỉ có vậy. Mà ở đâu đó, với một ai đó vẫn còn những câu chuyện chưa từng được chia sẻ.

Tất cả giờ đã trở thành những kí ức đẹp đẽ và đáng trân trọng của những con người từng đi qua chiến tranh, đã từng chứng kiến chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” cách đây 40 năm. Tình đồng bào, tình ruột thịt, tình yêu nước, lòng căm thù giặc và ý chí chiến đấu quật cường đã góp phần làm nên những chiến thắng oanh liệt của quân và dân ta./.

Mỹ Ngọc/VOV-Trung tâm tin
vov.vn

Tuần phim kỷ niệm 40 năm Hà Nội chiến thắng B52

(VOV) -Từ ngày 12-18/12, các bộ phim truyện và phim tài liệu về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” sẽ diễn ra trong cả nước.

Các phim được chọn chiếu trong tuần phim gồm: Hà Nội 12 ngày đêm (Phim truyện nhựa) do Công ty TNHH Một thành viên Hãng phim Truyện Việt Nam sản xuất; “Ký ức một thời” (Phim tài liệu nhựa) do Công ty TNHH Một thành viên Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương sản xuất; “Chuyện ở một vùng non cao” (Phim tài liệu) đo Công ty TNHH Một thành viên Hãng phim Tài liệu Khoa học Trung ương sản xuất; “Hà Nội tháng chạp năm ấy”, “Tầm nhìn trên cao”,  “Hà Nội bản hung ca”. “Năm 1972 lịch sử” (Phim tài liệu) do Điện ảnh Quân đội nhân dân sản xuất.

Một cảnh trong phim “Hà Nội 12 ngày đêm”

Tuần phim do Cục Điện ảnh (Bộ VHTTDL) chủ trì, phối hợp với Công ty TNHH Một thành viên FAFIM Việt Nam, Công ty TNHH Một thành viên Hãng phim Truyện Việt Nam, Công ty TNHH Một thành viên Hãng phim Tài liệu Khoa học Trung ương, Cục Tuyên huấn – Tổng cục Chính trị, Điện ảnh Quân đội nhân dân tổ chức.

Lễ khai mạc Tuần phim kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” (12/1972-12/2012) sẽ diễn ra vào 19h ngày 12/12 tại Trung tâm Chiếu phim quốc gia (87 Láng Hạ – Ba Đình – Hà Nội)./.

PV/VOV online
vov.vn

Tưởng niệm liệt sĩ, đồng bào trong đợt thảm sát bom B52 năm 1972

Hà Nội:

Trong Chúc văn tưởng niệm, đại diện Thành hội Phật giáo Hà Nội khẳng định công lao của các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì nước và cầu nguyện cho hương linh của họ và đồng bào không may tử nạn được siêu sinh

Chiều nay (25/12), tại chùa Bà Đá (quận Hoàn Kiếm), Ủy ban Hòa bình và Thành hội Phật giáo Hà Nội phối hợp tổ chức lễ cầu siêu, tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ hy sinh bảo vệ Tổ quốc trong các cuộc kháng chiến và đồng bào thiệt mạng trong đợt thảm sát bom B52 của không quân Mỹ tháng 12/1972, nhân kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Quân đội (22/12) và Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không 12 ngày đêm bảo vệ bầu trời Hà Nội (tháng 12/1972).

Trong Chúc văn tưởng niệm, đại diện Thành hội Phật giáo Hà Nội đã khẳng định công lao của các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì nước và cầu nguyện cho hương linh của họ và đồng bào tử nạn vì bom B52 chóng được siêu sinh; cầu cho mưa hòa gió thuận, nước thịnh dân an, thế giới hòa bình, nhân dân lạc nghiệp, Thủ đô ngàn năm văn hiến, Thăng Long – Hà Nội muôn thuở vững bền. Sau lễ cầu siêu, các đại biểu và tăng ni Phật tử Hà Nội tham dự lễ dâng hương tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ và nạn nhân bom B52 tại Hà Nội.

Trong đêm 26/12/1972, phố Khâm Thiên, Hà Nội bị máy bay B52 của Mỹ hủy diệt, gần 2.000 ngôi nhà bị sập, hàng trăm gia đình phải chịu cảnh chia lìa…/.

TTXVN
vov.vn

Ai là người đầu tiên bắn rơi máy bay B52?

(VOV) -Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” là chiến tích không thể nào quên của chiến sĩ phi công Quân đội nhân dân Việt Nam.

Trong 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”, quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay B52, 5 máy bay F 111 và 42 máy bay chiến thuật khác, đập tan âm mưu chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải chấp nhận thất bại hoàn toàn trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Thắng lợi của quân dân ta trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, là cuộc đọ sức quyết liệt nhất từ trước tới nay. Nghệ thuật tác chiến phòng không hiệp đồng chiến đấu đã chứng tỏ sức mạnh tổng hợp của lực lượng phòng không, trong đó không quân nhân dân Việt Nam…

Ngày 27/12, sau 10 ngày phá hoại miền Bắc, chiếc B52 đầu tiên của Mỹ đã bị không quân ta bắn rơi. Người bắn rơi chiếc máy bay này là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Phạm Tuân – huyền thoại của không quân Việt Nam.

MIG – 21 số hiệu 5121, chiếc máy bay này do anh hùng Phạm Tuân lái (Ảnh: giaoduc)

Ngay trong đêm 27/12, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đã điện khen bộ đội không quân lập công xuất sắc, bắn rơi máy bay chiến lược B52 của Mỹ.

Ngày 28/12, Thượng uý phi công Vũ Xuân Thiều lại “hạ” được một chiếc B52 nữa. Tuy nhiên, anh đã anh dũng hy sinh khi lao thẳng chiếc MIG của mình vào B52.

Vũ Xuân Thiều nói trước khi xuất kích: “Bắn mà B52 địch không rơi tại chỗ, tôi sẽ xin lao thẳng vào nó”.  Anh đã được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Một đường phố ở Hà Nội cũng đã được đặt theo tên anh: Phố Vũ Xuân Thiều.

Đó là những chiến tích không thể nào quên trong rất nhiều chiến công của các chiến sĩ phi công Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tính đến ngày chiếc B52 cuối cùng của Đế quốc Mỹ bị bắn hạ trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, quân chủng không quân của ta mới chỉ thành lập được vỏn vẹn 8 năm.

Nhưng với sự dũng cảm phi thường, sự mưu trí và quyết tâm bảo vệ bầu trời Tổ quốc, những chiến sĩ phi công của chúng ta đã lập nên những chiến công vang danh sử sách, là nỗi khiếp sợ của không quân Hoa Kỳ – lực lượng không quân hiện đại bậc nhất thế giới.

Ngày 3/2/1964 là ngày Trung đoàn không quân 921 – sau này được gọi với tên “Trung đoàn không quân Sao Đỏ” được thành lập.

Thiếu tướng Phạm Ngọc Lan – một trong những phi công thế hệ đầu tiên của quân đội nhân dân Việt Nam vẫn nhớ như in những hình ảnh ngày đầu thành lập phi đội. Nhìn bức ảnh kỷ niệm những ngày đầu thành lập phi đội, Thiếu tướng Phạm Ngọc Lan bồi hồi nhớ lại: “Bức ảnh kia là phi đội của tôi, là phi đội đầu tiên bắn rơi máy bay Mỹ trên miền Bắc. Tôi là người đầu tiên hạ gục máy bay Mỹ”.

Cùng với trận đánh oanh liệt ném bom sân bay Tân Sơn Nhất, ngày 28/4/1975, với Thiếu tướng Phạm Ngọc Lan, chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” là hai kỷ niệm hào hùng không thể nào quên của ông và đồng đội.

Tuy chỉ là một thợ máy, nhưng với ông Hoàng Văn Thảo, những kỷ niệm thời trai trẻ với Trung đoàn Sao Đỏ, với từng chiếc máy bay, với từng người phi công trong thời điểm giặc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc vẫn in đậm trong tâm trí.

Khi đó ông và các đồng đội căng hết sức mình để đảm bảo bất kỳ chiếc máy bay nào cũng sẵn sàng chiến đấu. Ông vẫn luôn tin tưởng rằng nhân dân Việt Nam, quân đội nhân dân Việt Nam, không quân Việt Nam sẽ chiến thắng bằng sức mạnh ý chí, sự đoàn kết dân tộc.

Ngày nay, tiếp nối truyền thống của những phi công thế hệ đầu tiên, những phi công “Quyết thắng” vẫn tiếp tục viết lên những trang sử mới trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.

Thượng tá Nguyễn Văn Lượng – Trung đoàn trưởng Trung đoàn không quân 921 (cũng là tên gọi của Trung đoàn không quân Sao Đỏ) nói: “Tiếp nối truyền thống của các lớp cha anh đi trước, Trung đoàn quyết tâm cố gắng vượt qua khó khăn luôn luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Nhiều năm liền trung đoàn đạt đơn vị quyết thắng, đảng bộ trong sạch vững mạnh. Là lớp cán bộ phi công thế hệ sau, chúng tôi luôn trân trọng và quyết tâm tiếp bước cha anh đi trước khắc phục mọi khó khăn và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao”./.

Quang Hùng/VOV-Trung tâm tin
vov.vn

Trung tướng Phạm Tuân kể chuyện bắn B52

(VOV) -Trung tướng Phạm Tuân cho biết, lúc nhìn thấy B52 ông không khỏi hồi hộp, lo lắng.

Ngày 10/12, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tổ chức tọa đàm trực tuyến kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không” (12/1972 – 12/2012). Những cựu chiến binh từng tham chiến trong đã có buổi giao lưu trao đổi ôn lại trận đánh huy hoàng, tại nên dấu mốc quan trọng trong lịch sử dân tộc.

Theo Trung tướng Phạm Tuân: Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ đã hứng chịu nhiều thất bại, 3 đời tổng thống Mỹ bị đổ, những chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, Chiến tranh cục bộ và Chiến tranh đặc biệt đều đã bị phá sản.

Theo Trung tướng Phạm Tuân tại buổi tọa đàm (Ảnh: Chinhphu.vn)

Trước nguy cơ thất bại thảm hại, Mỹ chỉ còn con át chủ bài là B52. Chúng dùng B52 để đánh Hà Nội hòng ngăn chặn sự chi viện của ta cho miền Nam và uy hiếp nhân dân ta cũng như giành lợi thế trên bàn đàm phán ở Paris

B52 là máy bay ném bom chiến lược tầm xa, cự ly bay hàng chục ngàn km, mang tới 30 tấn bom, xen kẽ bom tấn, bom tạ, bom bi, một tốp 3 chiếc B52 có thể san bằng diện tích 2km2. Vì vậy, B52 được dùng để ném bom chiến lược các mục tiêu diện rộng sân bay, thành phố, trung tâm chính trị, bến cảng.

Bom tấn phá hầm ngầm, bom tạ phá hầm trú ẩm, bom bi sát thương người khi không còn chỗ trú ẩn. Ngoài ra, B52 còn sử dụng cả tên lửa, đồng thời, B52 lại được bảo vệ bởi các máy bay tiêm kích đánh vào trận địa tên lửa, ném bom các sân bay không cho tiêm kích của ta cất cánh.

Nhớ lại thời khắc chiến đấu trên bầu trời Hà Nội với “Pháo đài bay B52” Trung tướng Phạm Tuân cho biết, lúc đó ông không khỏi hồi hộp, lo lắng.

Trung tướng Phạm Tuân cho biết, ông đã gặp B52, xung quanh hàng chục chiếc F4. “Đến khi phóng được quả tên lửa đi mới thở phào nhẹ nhõm và lúc ấy thì mặc kệ F4 xung quanh, không còn lo lắng gì nữa”, Trung tướng Phạm Tuân nhớ lại.

Trong 12 ngày đêm, Mỹ sử dụng 193 B52 và hơn 1.000 máy bay chiến thuật. Trung bình mỗi đêm, Mỹ đánh vào Hà Nội 50-70 lượt B52, cao điểm lên đến 100 lượt. Ngoài ra, mỗi đêm trung bình 300 lượt, cao điểm 450 máy bay chiến thuật đánh phá để yểm trợ.

Với tầng tầng lớp lớp B52 cùng với hàng loạt máy bay yểm trợ, nhưng quân đội Việt Nam cũng đã bắn hạ được “Pháo đài bay” bất khả xâm phạm này. Theo Trung tướng Phạm Tuân, chiến thắng đấy là nhờ sự sáng tạo của bộ đội ta.

Nga sản xuất máy bay và dạy chúng ta cách bay nhưng đối diện với thực tế bị nhiễu bởi sóng và mây nên việc xác đinh vị trí của B52 rất khó khăn. Bởi vậy khi lên trời, phi công phải nhanh chóng đi vào điều kiện thuận lợi. Chúng ta phải phán đoán F4 thường chặn ở đâu, tầm cao nào để tránh.

“Trận đánh B52 của tôi rất nhanh, tiếp cận B52 chưa đầy 1 phút. Khi tiếp cận đằng sau B52 với tốc độ rất cao, 1.500 km/h so với tốc độ của B52 là 900 km/h. Lúc đó, mệnh lệnh là không đánh F4, chúng ta vượt qua nó, dành tên lửa để đánh B52. Khi tên lửa bắn F4, chúng tôi tranh thủ để vượt qua, rồi lựa chọn hướng vào tiếp cận B52. Tất cả tạo nên điều kiện thuận lợi nhất đánh B52. Tôi bắn B52 xong rồi mà F4 vẫn ở đằng sau nhưng không làm gì được”, Trung tướng Phạm Tuân nhớ lại.

Bên cạnh đó, Trung tướng Phạm Tuân cho biết, để thực hiện việc đối không với “pháo đài bay” chúng ta cất cánh ở sân bay địch không ngờ tới để không bị chặn ở đầu đường băng. “Tôi cất cánh đêm 17/12, anh Thiều đêm 18/12, mang máy bay về sân bay Cẩm Thủy, không cất cánh ở Hà Nội. Đấy là cách để chúng ta tránh địch chặn đánh ở ngay sân bay”, Trung tướng Phạm Tuân cho biết.

Theo Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu: Mỹ có nhiều trang bị vũ khí hiện đại, kể cả B52, trong khi nền kinh tế chúng ta còn thấp kém, song chúng ta đã đánh thắng không quân Mỹ, kể cả súng trường còn bắn rơi máy bay các loại.

Vì sao chúng ta ta chiến thắng? Vì dưới sự lãnh đạo của Đảng, với quyết tâm sắt đá đánh Mỹ cho đến thắng lợi hoàn toàn. Bác Hồ nói cuộc kháng chiến có thể kéo dài 5 năm, 10 năm hoặc lâu hơn nữa, nhưng chúng ta sẽ chiến thắng và khi thắng lợi sẽ xây dựng đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn./.

Việt Đức/VOV online
vov.vn

Tọa đàm trực tuyến “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

(VOV) – Buổi tọa đàm với sự tham dự của những người lính từng trực tiếp tham gia chiến dịch 12 ngày đêm.

Vào lúc 9 giờ sáng nay (10/12), Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tổ chức tọa đàm trực tuyến kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không” (12/1972 – 12/2012).

Buổi tọa đàm góp phần ôn lại truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc, khơi dậy niềm tự hào để thế hệ trẻ tiếp tục phát huy truyền thống dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong thời gian qua, nhiều hội thảo, triển lãm, sự kiện kỷ niệm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã được tổ chức. Buổi tọa đàm với sự tham dự của những người lính từng trực tiếp tham gia chiến dịch 12 ngày đêm.

Các vị khách mời của chương trình: Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu, nguyên Phó Chính ủy Quân chủng Phòng Không – Không quân, Trung tướng Phạm Tuân – Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên phi công Đoàn Không quân Sao Đỏ; Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt – Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn tên lửa 57 – Sư đoàn Phòng không Hà Nội; Đại tá Nghiêm Đình Tích,  nguyên Đài trưởng đài Radaz P.35, Trung đoàn 291, Binh chủng Radaz.

Quý bạn đọc quan tâm theo dõi cuộc Tọa đàm gửi câu hỏi về địa chỉ: doithoai@chinhphu.vn./.

Theo Chinhphu.vn
vov.vn

Máy bay B52 bị khuất phục trên bầu trời Hà Nội

“Hà Nội -Điện Biên Phủ trên không”:

(VOV) – Bắn rơi B52 của Mỹ là một thành công của việc chủ động nắm tình hình, lên kế hoạch chính xác, kịp thời để chiến đấu.

Trong trận chiến 12 ngày đêm “Hà Nội -Điện Biên Phủ trên không” năm 1972, quân ta đã hạ gục 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay B52. Dám đánh, biết cách đánh và đánh thắng vũ khí tối tân B52 của Mỹ trong cuộc tập kích chiến lược trên bầu trời Hà Nội đã để lại mốc son chói lọi – một kỳ tích đáng tự hào, thể hiện tầm cao chiến thuật của quân đội Việt Nam.

Dù tóc đã bạc, bước đi đã không còn vững, nhưng khi nhắc tới chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, đôi mắt người lính già ấy lại sáng lên, sôi nổi kể lại chiến công bắn rơi B52 của kíp trực đêm ngày 18/12/1972 mà ông trực tiếp tham gia. Ông là Thiếu tướng Nguyễn Văn Linh, nguyên Cục phó Cục tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu, là Phó trưởng ban trong kíp trực đêm mở màn trong trận quyết đấu với máy bay B52 của Mỹ.

Ông kể: lúc 20 giờ 18 phút ngày 18/12/1972, khi kíp trực bắn rơi chiếc máy bay B52 đầu tiên, mở màn cho những chiến thắng tiếp theo, tất cả cán bộ, chiến sĩ ôm chầm lấy nhau, sung sướng vô cùng, bởi chúng ta đã biết cách để bắn rơi máy bay B52, bộ đội ta rút kinh nghiệm thì nhất định sẽ chiến thắng. Cả đêm hôm ấy, quân ta đã bắn rơi 3 chiếc B52 tại chỗ, 1 ở Phủ Lỗ – Đông Anh, 1 chiếc ở Thanh Oai, 1 chiếc ở biên giới Lào – Thái, bắt được 7 tên giặc lái.

Theo Thiếu tướng Nguyễn Văn Linh, bắn rơi B52 của Mỹ là một thành công của việc chủ động nắm tình hình, lên kế hoạch chính xác, kịp thời để chiến đấu: “Ta có cái tài là có nghệ thuật giành thế chủ động, không để bị bất ngờ, thể hiện là trong sở chỉ huy của bộ tổng tham mưu tôi nhớ rất rõ là ngày 17/12/72 thì chúng tôi chuyển lệnh cho các lực lượng vũ trang miền bắc là vào sẵn sang chiến đấu cao nhất. Trưa ngày 18 là đã có dấu hiệu biết B52 đến đánh Hà Nội, Hải Phòng, ta biết trước được 4 tiếng đồng hồ, tin này của Cục Quân báo, cục 2 của Bộ Tổng tham mưu, anh em giải mã được điện của không quân chiến lược, không quân chiến thuật, hải quân.. báo về sở chỉ huy.”

Xác máy bay B52 bị bắn rơi tại làng Ngọc Hà, Hà Nội

Chiến đấu và chiến thắng máy bay B52 có sự đóng góp công sức, tài năng, trí tuệ của nhiều lực lượng, trong đó lực lượng không quân làm nòng cốt. Trung tướng Nguyễn Đức Soát, Nguyên Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân, nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam kể lại: Trong dịp 12 ngày đêm ấy, ông là đại đội trưởng đại đội không quân, đại đội 3 của trung đoàn không quân 957 lái máy bay mic 21.

Bên cạnh việc xuất kích trong 2 trận đánh ngày 19 và 22, ông và đồng đội còn có nhiệm vụ bằng mọi giá bảo vệ tên lửa là vũ khí quân ta dùng để bắn rơi B52. Trung tướng Nguyễn Đức Soát tâm niệm: “Bài toán liệu mình có bắn rơi được B52 hay không vẫn là một dấu hỏi lớn, với điều kiện như vậy mà chúng ta cũng không sợ địch. Bài học lớn nhất là từ cấp lãnh đạo cao nhất là Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, bộ Tư lệnh phòng không không quân đã truyền đến cán bộ chiến sỹ là dám đánh quyết thắng. Thứ 2 là sau mỗi trận đánh thì rút ra được kinh nghiệm, tìm ra được âm mưu của địch, tìm ra biện pháp đánh tốt nhất của mình, phát huy trí tuệ tập thể từ người chiến sỹ trực tiếp ở trận địa tên lửa, sỹ quan lái máy bay, sỹ quan dẫn đường, chỉ huy. Thứ 3 là không có sức mạnh của nhân dân thì không làm được”.

Theo Đại tá Nghiêm Đình Tích, nguyên trưởng ban Lịch sử – Kỹ thuật, Quân chủng Phòng không Không quân, “vạch nhiễu tìm thù” là một trong những nhân tố góp phần làm nên thắng lợi của trận “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12/1972. Lúc đó, địch tập trung các nguồn nhiễu với mục đích là che giấu đội hình vào đánh Hà Nội, đặc biệt là các loại máy bay chiến thuật và máy bay B52 đã làm chúng ta rất khó khăn trong việc xác định mục tiêu. Từ Nghệ An, ông và đồng đội đã phát hiện và đo dải nhiễu rộng hàng trăm km2. Với kinh nghiệm chống nhiễu, đánh máy bay địch từ năm 1967 và nghiên cứu chống nhiễu từ năm 1969, quân ta đã xây dựng các phương án, phát hiện và hiệp đồng trong chiến dịch, sẵn sàng đánh B52.

Đại tá Nghiêm Đình Tích nhấn mạnh: “Chiến thắng 12 ngày đêm năm 1972 của quân ta đã khiến cho 40 năm sau, các nhà lịch sử, nhà quân sự trên thế giới phải dày công nghiên cứu để xem là vì sao B52 bị bắn rơi từ độ cao hơn 10.000 m như những chiếc máy bay chiến thuật bổ nhào: Người ta vẫn chưa hiểu nổi là tại sao bộ đội phòng không, đặc biệt là bộ đội tên lửa phòng không Việt Nam lại giỏi như vậy. Chúng ta biết rằng sau cuộc chiến tranh Việt Nam thì còn có các cuộc chiến tranh ở Iraq, Nam Tư… Các nước ấycó số lượng vũ khí nhiều và hiện đại hơn ta rất nhiều lần nhưng không một nước nào bắn rơi được chiếc B52 nào. Điều đó càng chứng tỏ tố chất đặc biệt của người Việt Nam, nghệ thuật quân sự sáng tạo độc đáo của người Việt Nam có một không hai trên thế giới. Từ đó, vị thế quân sự của Việt Nam trên trường quốc tế được mở rộng và nâng cao”.

Máy bay B52 là 1 trong 3 vũ khí tiến công chiến lược lợi hại nhất của Mỹ. 40 năm đã trôi qua, những hình ảnh về máy bay B52 của Mỹ bốc cháy trên bầu trời Hà Nội, những mảnh vỡ của B52 vẫn còn đó với thời gian. Chứng tích của lịch sử ấy cho thấy sự khốc liệt của cuộc chiến tranh, nhưng cũng vô cùng oanh liệt, hào hùng của quân và dân Việt Nam trong cuộc đối đầu với thứ vũ khí quân sự tối tân của Mỹ. Chúng ta tự hào rằng, không phải ở quốc gia nào, dân tộc nào cũng có được những chiến công hiển hách như vậy./.

Lưu Huyền- Minh Châm/VOV- Trung tâm tin
vov.vn