Sản xuất kịp thời đạn tên lửa phục vụ chiến dịch

Bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam

QĐND – “Qua hai trận chiến đấu chống máy bay B-52 vào đêm 18 và 19-12-1972, các đơn vị tên lửa bảo vệ Thủ đô Hà Nội gặp khó khăn là thiếu đạn tên lửa nghiêm trọng”. Cựu chiến binh Vương Toàn Tước, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn kỹ thuật 80 (Trung đoàn 257, Sư đoàn phòng không 361) kể lại như vậy tại buổi gặp mặt các nhân chứng cuốn sách “Đối mặt với B-52”, do Nhà xuất bản Trẻ vừa ấn hành nhân kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”.

Lắp ráp đạn tên lửa phục vụ chiến dịch. Ảnh tư liệu.

Cựu chiến binh Vương Toàn Tước cho biết: Tiểu đoàn kỹ thuật 80 bước vào chiến dịch phòng không tháng 12-1972 ở cách xa Hà Nội và các trận địa tên lửa, nhằm chống sự oanh kích của máy bay địch. Trong 12 ngày đêm, cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn liên tục cơ động tại các địa bàn quanh Hà Nội như Văn Điển, Thường Tín, Thị xã Sơn Tây… Ngoài tiểu đoàn 80, Sư đoàn 361 còn có tiểu đoàn 95, song những ngày đầu sản xuất đạn vẫn không đủ cho các tiểu đoàn hỏa lực. Những hôm thấy xe TZM xếp hàng để chờ “ăn đạn”, chúng tôi lại động viên nhau phải nỗ lực, nâng cao năng suất lắp ráp, sản xuất đạn tên lửa cho đơn vị. Để khắc phục việc thiếu đạn, Cục Kỹ thuật Quân chủng Phòng không-Không quân điều động lực lượng từ Xưởng A31, từ các kho và cán bộ kỹ thuật cơ quan sư đoàn, quân chủng về tăng cường. Từ đó, mỗi tiểu đoàn đều sản xuất 3 ca, làm việc liên tục ngày đêm, nên năng suất lắp ráp, kiểm tra đạn tên lửa mỗi ngày của tiểu đoàn lên 24 quả, thậm chí 36 quả, so với trước đó mỗi ngày chỉ lắp ráp, sản xuất được 8 đến 12 quả.

Theo ông Tước, trong chiến dịch 12 ngày đêm tháng 12-1972, chúng ta thiếu đạn tên lửa cục bộ, là do lắp ráp, sản xuất không kịp, chứ không thiếu toàn diện. Ngày đó, chúng ta có kế hoạch chi viện tên lửa vào chiến trường miền Nam, nhưng sau đó trên đã kịp thời chỉ đạo các đơn vị khác ở miền Bắc chi viện tên lửa cho Hà Nội. Có những hôm trời mưa rét, trận địa bị bom đạn Mỹ cày xới, một chiếc xe đẩy bình thường chỉ cần 7 người đẩy, nhưng khi đó đơn vị phải huy động hơn 10 người. Quả đạn tên lửa nặng gần một tấn, khi lắp ráp phải dùng hai cần cẩu phối hợp. Đầu đạn cũng nặng tới 100kg, phải có tời để kéo lên lắp ráp, rồi khoang thùng, cánh đạn… Mỗi quả tên lửa phải qua 43 khâu lắp ráp, nhưng cán bộ, chiến sĩ phối hợp hiệp đồng nhịp nhàng, nên tiểu đoàn lắp vượt công suất, kịp thời bảo đảm đạn cho các tiểu đoàn hỏa lực.

Việc đưa đạn về lắp ráp, sản xuất cũng gặp nhiều khó khăn. Đơn vị lấy đạn từ kho ở Lạng Sơn về lắp ráp hoặc tiếp nhận đạn vận chuyển từ Quân khu 4 ra. Đạn lấy từ Lạng Sơn về là đạn mới, còn trong hòm hộp, nên phải qua các công đoạn kiểm tra kỹ càng. Những đêm đầu, anh em phải thức trắng để lắp ráp, sản xuất đạn. Vị trí lắp ráp phải liên tục cơ động từ vị trí này đến vị trí khác, để bảo đảm bí mật, tránh máy bay chiến thuật của địch đánh phá. Ai cũng hốc hác, mắt trũng sâu do thức đêm và làm việc căng thẳng, nhưng quyết tâm đánh thắng Mỹ, bắn rơi máy bay B-52 khiến cán bộ, chiến sĩ không quản mệt nhọc, khó khăn, bảo đảm đạn kịp thời, chất lượng tốt, góp phần vào chiến thắng chung.

ĐÌNH XUÂN (lược ghi)
qdnd.vn

Hậu phương vững chắc

Có thể bạn chưa biết

QĐND – Sát cánh cùng với nhân dân Thủ đô trong năm 1972, ngày 26-6-1972, Tỉnh ủy Hà Tây (trước đây) ra nghị quyết về “Chuyển hướng mọi mặt công tác theo thời chiến, quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Các huyện, thị xã đã tổ chức sơ tán nhân dân ở các khu vực trọng điểm của tỉnh tới nơi an toàn. Các huyện Ứng Hòa, Mỹ Đức, Thường Tín, Quốc Oai, Thạch Thất đón nhận và thu xếp nơi ăn, ở cho gần 50 vạn cán bộ, đồng bào, 1.200 cơ quan, trường học, nhà máy… của Trung ương, Hà Nội về sơ tán.

Để hạn chế mức thấp nhất thiệt hại về người và tài sản, tính đến tháng 4-1972, quân dân trong tỉnh đã sửa và đào đắp 965.000 hố cá nhân, 1.058.000m giao thông hào và 1.358.000 hầm các loại, xây dựng 267 đơn vị trực chiến phòng không, trong đó có 58 tiểu đội du kích trực chiến bảo vệ đê kè. Các địa phương trong tỉnh còn lập hàng nghìn tổ, đội làm nhiệm vụ tải thương, cứu sập hầm, rà phá bom, mìn.

NAM TRỰCTheo tài liệu của Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội
qdnd.vn

Công an nhân dân góp phần xứng đáng vào Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

QĐND – Đúng vào những ngày này cách đây 40 năm, từ ngày 18 đến 29-12-1972, đế quốc Mỹ đã cho máy bay chiến lược B-52 và các loại máy bay chiến thuật trút hơn 100 nghìn tấn bom xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số mục tiêu trọng yếu khác trên miền Bắc nước ta, hòng đè bẹp ý chí chiến đấu của quân và dân ta, gây sức ép buộc ta phải chấp nhận những điều kiện của họ tại Hội nghị Pa-ri về “Chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”. Với tinh thần chiến đấu kiên cường, quả cảm, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích đường không chiến lược chủ yếu bằng B-52 của đế quốc Mỹ, làm nên chiến thắng lừng lẫy “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, buộc đế quốc Mỹ phải ngồi lại vào bàn đàm phán, ký kết Hiệp định Pa-ri chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, tạo ra bước ngoặt lịch sử, góp phần rất quan trọng đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Trong chiến dịch 12 ngày đêm lịch sử ấy, có sự đóng góp quan trọng của lực lượng Công an nhân dân trên lĩnh vực bảo vệ an ninh, trật tự, bảo vệ tài sản của Nhà nước, tính mạng và tài sản của nhân dân.

Công an Hà Nội canh gác bảo đảm an ninh, trật tự trên địa bàn Thủ đô trong 12 ngày đêm chống cuộc tập kích chiến lược của không quân Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương miền Bắc cuối tháng 12-1972. Ảnh tư liệu

Ngay từ năm 1971, tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 26, Đảng đoàn và lãnh đạo Bộ Công an đã xác định rõ phương hướng, nhiệm vụ cho toàn lực lượng Công an năm 1972 là: “Tiếp tục giữ vững an ninh chính trị và bảo đảm trật tự xã hội với yêu cầu cao hơn và khẩn trương hơn; xác định các địa bàn trọng điểm phải tập trung chỉ đạo là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh. Các cấp công an từ đồn, huyện đến ty, sở đều phải chuyển sang thực hiện nếp sống quân sự hóa, mọi sinh hoạt, công tác, học tập đều phải chuyển hướng theo tình hình thời chiến để có thể sẵn sàng đối phó có hiệu quả trước mọi âm mưu phiêu lưu quân sự mới của địch”. Đồng thời, quán triệt Nghị quyết số 220-NQ/TW, ngày 1-6-1972 của Bộ Chính trị “Về chuyển hướng và đẩy mạnh mọi mặt công tác ở miền Bắc để tiếp tục đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, Bộ Công an đã kịp thời có kế hoạch chuyển hướng hoạt động nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự trong tình hình mới.

Khi đế quốc Mỹ gây chiến tranh phá hoại trở lại miền Bắc, thả mìn, phong tỏa cảng và đánh phá TP Hải Phòng, Bộ Công an đã chỉ đạo Sở Công an Hà Nội cử đoàn cán bộ xuống Hải Phòng nghiên cứu quy luật đánh phá của địch, rút kinh nghiệm công tác phòng không sơ tán, khắc phục hậu quả, giữ gìn trật tự, an ninh của TP Hải Phòng để bổ sung kịp thời vào kế hoạch và các phương án chiến đấu của Công an Thủ đô.

Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Bộ Công an, Công an Hà Nội, Công an TP Hải Phòng và một số địa phương khác đã tổ chức thực tập phương án phối hợp, hiệp đồng chiến đấu giữa lực lượng công an với lực lượng quân đội, giao thông, y tế… trong công tác đảm bảo giữ gìn an ninh, trật tự khi có tình huống xảy ra. Lực lượng Công an đã tham mưu với cấp ủy, chính quyền tổ chức sơ tán ra khỏi các TP Hà Nội, Hải Phòng hơn 500.000 người già, trẻ em và những người không trực tiếp sản xuất, chiến đấu; tổ chức lực lượng tuần tra, canh gác bảo vệ những địa bàn trọng điểm, các tuyến đường giao thông vận tải và tổ chức các đội cứu hỏa, cứu sập; phối hợp với các ban, ngành trong việc nạo vét, củng cố hầm trú ẩn đã có, tích cực làm hầm mới và lập hồ sơ hầm trú ẩn trong thành phố; thành lập các đội tải thương, cứu thương, sửa chữa điện, nước, thu dọn đường sá, hướng dẫn giao thông, chôn cất người bị hy sinh và cứu giúp người bị nạn; phối hợp với quân đội thành lập bộ chỉ huy chung để thống nhất chỉ đạo, xây dựng và triển khai thực hiện các phương án tuần tra cảnh giới, bảo vệ mục tiêu. Công tác tuần tra, bảo vệ an toàn tài sản của những người dân đi sơ tán đã được lực lượng cảnh sát khu vực, cảnh sát bảo vệ phối hợp với lực lượng DQTV đảm bảo tốt.

Công an các địa phương đã mở đợt tấn công trấn áp những phần tử có thể gây nguy hại đến an ninh, trật tự, bắt tập trung giáo dục cải tạo hàng nghìn đối tượng lưu manh, trộm cắp. Do công tác chuẩn bị khẩn trương, tích cực, nên khi bước vào cuộc chiến đấu ác liệt với địch, lực lượng công an đã đối phó với tình hình một cách chủ động, linh hoạt, bảo vệ an ninh, trật tự, phục vụ tốt nhiệm vụ chiến đấu, góp phần làm giảm thiệt hại về tài sản của Nhà nước, tính mạng và tài sản của nhân dân.

Trong chiến dịch 12 ngày đêm chiến đấu, giữa mưa bom, bão đạn, cán bộ, chiến sĩ công an Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương đã luôn bám sát vị trí chiến đấu, tiếp tục làm tốt công tác vận động nhân dân phòng không sơ tán, dũng cảm cứu dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước và tài sản của nhân dân. Lực lượng cảnh sát bảo vệ đã dũng cảm chiến đấu, bảo vệ các mục tiêu chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học-kỹ thuật của Trung ương và địa phương, như Đài phát thanh Mễ Trì (Từ Liêm), kho xăng Đức Giang (Gia Lâm), Đài Điện Ly (Đông Anh), Đài phát tín Sơn Đồng (Hoài Đức), cầu Long Biên, Nhà máy Điện Yên Phụ ở Hà Nội, Cảng Hải Phòng và các mục tiêu khác thường xuyên bị máy bay Mỹ bắn phá. Lực lượng công an đã ngày, đêm bám trụ, tổ chức việc cứu người, dập lửa, tổ chức canh gác, chăm lo bảo vệ tài sản cho nhân dân; thăm hỏi động viên những gia đình bị nạn, tích cực góp phần cùng với chính quyền địa phương và các đoàn thể nhanh chóng ổn định mọi sinh hoạt thường ngày cho nhân dân. Đặc biệt, lực lượng Công an Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh… đã không quản tính mạng, tập trung đào bới cứu hàng nghìn người bị sập hầm.

Hình ảnh người chiến sĩ công an với sắc phục truyền thống, có mặt ở các trận địa nóng bỏng nhất, trên từng con đường, ngõ, phố của Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh… trong 12 ngày đêm chiến đấu đã trở nên quen thuộc, gần gũi với người dân. Xuất hiện nhiều tấm gương cán bộ, chiến sĩ công an xông pha trong nơi lửa đạn cõng em bé, cụ già ra hầm trú ẩn; hướng dẫn và cùng đội viên dân phòng, bảo vệ dân phố chữa cháy, cứu thương, cứu sập; tiêu biểu cho tinh thần “Vì nước quên thân vì dân phục vụ” là tấm gương của anh hùng Nguyễn Văn Uân, Cảnh sát khu vực Mai Hương, khu phố Hai Bà Trưng đã dũng cảm hy sinh thân mình cứu dân dưới làn bom, đạn xối xả của kẻ thù.

Lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy của Bộ và các địa phương đã tổ chức sẵn sàng chiến đấu về lực lượng và phương tiện; bố trí thường trực cao nhất để tiếp nhận, xử lý thông tin, kịp thời có mặt tại hiện trường, bất chấp bom rơi, dập tắt các đám cháy, cứu thương, cứu sập, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước. Khi máy bay Mỹ tập trung đánh phá các trận địa tên lửa phòng không, kho xăng dầu, cảng, khu dân cư, nhà máy điện… lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy đã không quản hy sinh, kiên cường bám trụ, ngày đêm chữa cháy; đặc biệt khi trận địa tên lửa phòng không Chèm bị trúng bom, một quả tên lửa đang nằm trên bệ phóng bị mảnh bom xuyên thủng, nhiên liệu chảy ra ngoài gây cháy, cán bộ, chiến sĩ phòng cháy, chữa cháy đã kịp thời có mặt, khống chế nhiên liệu chảy ra từ quả tên lửa, tập trung dập gọn từng cụm lửa, cứu được cả trận địa tên lửa trước sự khâm phục của bộ đội và nhân dân. Đêm 19 rạng ngày 20-12-1972, khi máy bay địch ném bom Cảng Hải Phòng, làm cháy tàu JOZEP KORNAD của Ba Lan và một số kho hàng trong cảng, lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy đã phối hợp với Bảo vệ cảng chữa cháy kịp thời, dập tắt đám cháy trên tàu, cứu được 11 thủy thủ bạn bị thương.

Trên mặt trận đảm bảo an toàn giao thông, với quyết tâm “Sống bám cầu đường, chết kiên cường dũng cảm”, cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát giao thông đã phối hợp với lực lượng giao thông ngày đêm bám tuyến đường, thường trực chiến đấu, phân tuyến, phân luồng, dũng cảm chỉ huy trật tự giao thông trên đường phố; giải tỏa kịp thời tắc nghẽn, đảm bảo giao thông thông suốt, nhân dân đi sơ tán được thuận lợi, an toàn. Nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm của lực lượng Cảnh sát giao thông bảo vệ cầu, phà, đường bộ, đường sắt, đường thủy đã được nhân dân ca ngợi, tiêu biểu là đồng chí Cảnh sát giao thông Phan Điện Biên đã dũng cảm nhảy lên toa xe lửa đang cháy, giật chốt cho toa xe lửa tách toa hàng để bảo vệ tài sản Nhà nước.

Cùng với việc tập trung lực lượng vào công tác phòng không và khắc phục hậu quả do bom đạn Mỹ gây ra, Công an Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác vẫn đẩy mạnh các mặt công tác trấn áp các loại tội phạm lợi dụng tình hình địch đánh phá để trộm cắp tài sản, gây rối trật tự, an ninh; việc phối hợp với lực lượng dân quân, tự vệ, thanh niên tuần tra trong khối phố được tăng cường, nên tội phạm và các tệ nạn xã hội đã giảm nhiều so với trước.

Sau chiến dịch 12 ngày đêm, lực lượng Công an nhân dân tiếp tục phối hợp cùng với các ban, ngành, các lực lượng nhanh chóng tổ chức ổn định đời sống sinh hoạt của nhân dân và giải quyết hậu quả chiến tranh, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.

Trong đợt chiến đấu ác liệt này, 18 cán bộ, chiến sĩ công an đã anh dũng hy sinh, hàng trăm đồng chí khác bị thương; 2 tập thể và 1 cá nhân được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; 15 đơn vị được tặng thưởng Huân chương Chiến công các loại. Cùng với Công an Hà Nội, Công an Hải Phòng, Ty Công an Quảng Ninh cũng được Chủ tịch Tôn Đức Thắng ký lệnh khen thưởng Huân chương Kháng chiến và Huân chương Chiến công vì thành tích xuất sắc trong chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ, đặc biệt là trong chiến dịch 12 ngày đêm đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược của đế quốc Mỹ.

Kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, lực lượng Công an nhân dân tự hào về những chiến công, những đóng góp to lớn trên lĩnh vực đảm bảo an ninh, trật tự, góp phần xứng đáng cùng với quân và dân cả nước đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược tàn bạo của đế quốc Mỹ. Thực tiễn bảo vệ an ninh, trật tự, bảo vệ tài sản của Nhà nước, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân trong cuộc chiến đấu ác liệt 12 ngày đêm chống pháo đài bay B-52 của đế quốc Mỹ trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác đã để lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ công an.

Trước hết, đó là bài học kết hợp chặt chẽ giữa phòng không nhân dân với thế trận an ninh nhân dân, chủ động nắm tình hình kịp thời, chính xác; nhanh chóng chuyển hướng về tổ chức và chỉ đạo toàn lực lượng thích ứng với tình hình thời chiến; tích cực làm tốt công tác chuẩn bị trước khi bước vào trận chiến đấu; đoàn kết, phối hợp, hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ với lực lượng quân đội, dân quân tự vệ, bảo vệ dân phố và các ban, ngành có liên quan và quan trọng nhất là bài học nêu cao tinh thần trách nhiệm vì nước, vì dân, quên thân phục vụ, giữ vững hình ảnh cao đẹp của người cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân trong lòng nhân dân. Những bài học đó vẫn còn nguyên giá trị đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và xây dựng lực lượng Công an nhân dân Việt Nam trong tình hình hiện nay.

Phát huy truyền thống quật cường, anh dũng của Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không”, lực lượng Công an nhân dân nguyện trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và hết lòng phụng sự nhân dân, tiếp tục nỗ lực phấn đấu, vươn lên, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội trong tình hình mới, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước.

Thượng tướng TRẦN ĐẠI QUANG

Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an
qdnd.vn

Ngày 23-12-1972: Máy bay B-52 không vào đánh Hà Nội, Hải Phòng

Ngày này 40 năm trước

QĐND – Ngày 23-12-1972, Không quân Mỹ thay đổi chiến thuật, sử dụng B-52 hoạt động ra xa Hà Nội, Hải Phòng; dùng máy bay chiến thuật giả đội hình B-52 để phân tán sự chỉ huy của ta.

Chuẩn bị tên lửa cho các trận đánh tiếp theo của chiến dịch. Ảnh tư liệu.

Ban ngày, Không quân Mỹ huy động 54 lần chiếc máy bay chiến thuật đánh phá vào các sân bay Hòa Lạc, ga Đông Anh, một số trận địa tên lửa ở Hà Nội. Máy bay chiến thuật Mỹ còn oanh kích các mục tiêu dân sự, trường học, bệnh viện ở Hà Tây, Hải Phòng và một số địa phương miền Bắc. Đánh trả các cuộc không kích của máy bay chiến thuật địch, không quân ta sử dụng một biên đội của Trung đoàn 927 cất cánh, bắn rơi tại chỗ một máy bay F-4, phi công lái máy bay này bị các lực lượng của ta bắt sống. Pháo cao xạ ở Hải Phòng bắn rơi 1 chiếc máy bay F-4.

Ban đêm, Mỹ sử dụng 32 chiếc B-52 và 30 lần chiếc máy bay chiến thuật vào ném bom khu vực Đồng Mỏ (Lạng Sơn) và khu vực thị xã Bắc Giang; ném bom vào sân bay Nội Bài, Yên Bái và các khu vực Yên Viên, Đông Anh, Giáp Bát… Ở hướng biển, Mỹ sử dụng 7 lần chiếc máy bay chiến thuật của Hải quân vào đánh Uông Bí, Phà Rừng, Sở Dầu và sân bay Kiến An (Hải Phòng).

Trong đêm, thời tiết xấu, không quân ta không xuất kích. Máy bay B-52 hoạt động ở xa không vào đánh Hà Nội, Hải Phòng.

XUÂN GIANG (tổng hợp)
qdnd.vn

40 năm – Bản hùng ca vang mãi

QĐND – Nhân dịp kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” và hướng tới Năm Du lịch quốc gia Đồng bằng sông Hồng – Hải Phòng 2013, Xưởng phim truyền hình Hải Phòng và Công ty Truyền thông Việt Nam Tinh Hoa đã hoàn thành phần 1 (20 tập) bộ phim “Con mắt bão” (Đạo diễn: Văn Lượng; kịch bản: Nguyễn Khắc Phục). 20 tập phim được dàn dựng công phu đã thể hiện được những điểm sáng nhất trong giai đoạn lịch sử những năm cuối thập kỷ 60 đến chiến thắng mùa xuân năm 1975 của đất và người Hải Phòng là: Cùng Hà Nội đập tan chiến dịch tấn công của đế quốc Mỹ bằng B-52; cuộc chiến đấu chống phong tỏa; điểm xuất phát của đoàn tàu không số; những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống địa phương… Phần 2 gồm 30 tập nói về lịch sử Hải Phòng giai đoạn 1976 – 2000. Bộ phim “Con mắt bão” sẽ được phát sóng vào trung tuần tháng 5-2013. (Hoàng Hoàng)

* Nhân kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã tổ chức buổi gặp mặt giao lưu với các cựu chiến binh đã và đang công tác tại nhà trường từng tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Buổi gặp mặt diễn ra trong không khí đầm ấm, các cựu chiến binh Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã cùng nhau ôn lại kỷ niệm của một thời gian khổ mà hào hùng. Đặc biệt, dù đã 40 năm trôi qua, nhưng thời khắc huy hoàng của Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 dường như vẫn còn đó, khắc ghi tinh thần yêu nước và truyền thống đấu tranh bảo vệ Tổ quốc ngoan cường của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. (Mộc Lan)

* Học viện Biên phòng và Học viện Phòng không-Không quân vừa phối hợp tổ chức đêm giao lưu văn nghệ tuyên truyền về Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” với sự tham gia của gần 3000 cán bộ, học viên. Thông qua các tiết mục múa, hát và lời tuyên truyền, đêm giao lưu đã giúp cho cán bộ, học viên của hai học viện hiểu sâu sắc thêm về chiến thắng lịch sử “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, truyền thống của quân đội ta và nhất là của bộ đội Phòng không-Không quân, từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm trong công tác học tập, rèn luyện, phấn đấu trở thành những sĩ quan, cán bộ quân đội ưu tú. (ĐỨC THÀNH)

qdnd.vn

Đêm 23-12-1972: Thua đau, B-52 giãn xa Hà Nội, Hải Phòng

QĐND Online – Ngày 23-12-1972, từ 13 giờ 35 phút đến 14 giờ 20 phút, không quân Mỹ sử dụng 54 lần chiếc máy bay chiến thuật vào đánh sân bay Hòa Lạc, Phùng, Cầu Giấy, Cầu Diễn và ga Đông Anh. Không quân ta đã bắn rơi 1 máy bay F-4.

Trải qua mấy đêm bị tổn thất nặng nề về máy bay và người lái, đêm 23-12, hoạt động của B-52 bắt đầu giãn ra xa Hà Nội, Hải Phòng.

Pháo cao xạ “góp lửa” bảo vệ bầu trời miền Bắc trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”. Ảnh tư liệu

Từ 19 giờ 15 phút, địch dùng 33 lần chiếc B-52 và 30 lần chiếc máy bay F-4 và F-105, 11 lần chiếc máy bay F-111 đánh phá Đồng Mỏ (Thái Nguyên), Bắc Giang, Yên Bái.

Hướng biển, có 7 máy bay chiến thuật của Hải quân Mỹ vào đánh Uông Bí, Phà Rừng, Sở Dầu và sân bay Kiến An (Hải Phòng). Pháo phòng không bắn rơi 2 chiếc F-4.

Trong đêm 23 rạng sáng 24-12, thời tiết xấu, không quân ta không cất cánh. Trong khi đó, B-52 cũng hoạt động ngoài tầm hỏa lực nên tên lửa cũng không đánh.

HOÀNG HÀ (tổng hợp)
qdnd.vn

Đêm 22-12-1972: Bộ đội Tên lửa Hải Phòng diệt 2 siêu pháo đài bay

Nhật ký Chiến thắng B-52

QĐND Online – Sáng 22-12, Bộ tư lệnh Quân chủng PK-KQ nhận định: Sau 4 đêm đánh phá Hà Nội nhưng chịu tổn thất nặng, địch có thể chuyển hướng đánh Hải Phòng và các mục tiêu vòng ngoài Hà Nội. Tư lệnh Quân chủng PK-KQ yêu cầu Sư đoàn 363 chuẩn bị sẵn sàng đánh thắng B-52.

9 giờ sáng 22-12, Bộ Tổng tham mưu tiếp tục nhận định và thông báo cho Quân chủng PK-KQ: Đêm 22, địch sẽ sử dụng B-52 đánh Hải Phòng.

B-52 Mỹ chuyển hướng đánh về khu vực Hải Phòng trong đêm 22-12-1972, song 2 chiếc siêu pháo đài bay vẫn bị “rồng lửa” Sam-2 tiêu diệt. Ảnh tư liệu

Đêm 22 rạng sáng 23-12, từ 4 giờ 30 phút đến 5 giờ 23 phút, địch sử dụng 24 lần chiếc B-52 và 27 lần chiếc máy bay chiến thuật đánh vào các nhà máy xi măng, cầu quay An Dương (Hải Phòng); dùng máy bay chiến thuật giả B-52 đột nhập vào phía Tây Hà Nội, đến Hòa Bình thì vòng ra; dùng máy bay F-111 đánh phá các mục tiêu trọng điểm ở Hà Nội.

Lúc 3 giờ 18 phút, Quân chủng PK-KQ lệnh cho một Mig-21 cất cánh từ Miếu Môn đi Nho Quan (Ninh Bình) tìm đánh B-52, nhưng phi công ta không phát hiện được B-52 nên đã quay về hạ cánh.

Trong đêm 22 rạng sáng 23-12, Bộ đội Tên lửa Hải Phòng (Sư đoàn 363) đã bắn rơi 2 máy bay B-52; pháo cao xạ, súng máy phòng không Hà Nội và Quảng Ninh cũng bắn rơi 2 máy bay cường kích của địch.

HOÀNG HÀ (tổng hợp)
qdnd.vn

Bài học chiến lược không để Tổ quốc bị bất ngờ trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”

QĐND – 40 năm đã trôi qua, cuối tháng 12-1972, trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác đã diễn ra cuộc đọ sức quyết liệt giữa quân và dân ta với không quân chiến lược Mỹ. Với tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, thông minh, sáng tạo, quân dân ta cùng lực lượng Phòng không-Không quân (PK-KQ) và các địa phương đã làm nên trận “Điện Biên Phủ trên không”, đập tan uy thế của không lực Hoa Kỳ. Thắng lợi vẻ vang đó như một mốc son chói lọi làm rạng rỡ trang sử đấu tranh cách mạng bất khuất của Thủ đô và của dân tộc Việt Nam anh hùng.

Trước nguy cơ chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” sắp hoàn toàn thất bại, đế quốc Mỹ “dốc túi” vào “canh bạc” cuối cùng, Tổng thống Mỹ Ních-xơn quyết định mở cuộc tập kích đường không (TKĐK) chiến lược mang tên Lai-nơ-bếch-cơ II, chủ yếu bằng các “siêu pháo đài bay B-52” đánh phá dã man Hà Nội, Hải Phòng từ 18 đến 30 tháng 12-1972. Để chuẩn bị cho cuộc TKĐK chiến lược này, ngay từ đầu Bộ chỉ huy không quân chiến lược Mỹ (SAC) đã nhận định, muốn xâm nhập và vượt qua hệ thống PK-KQ của Bắc Việt Nam phải sử dụng một loạt các biện pháp kỹ thuật hiện đại nhất. Ngoài việc đ­ưa vào sử dụng nhiều loại vũ khí chống bức xạ điện từ như tên lửa sơ-rai, bom điều khiển bằng tia la-de, bom điều khiển bằng vô tuyến truyền hình… giới khoa học quân sự Mỹ còn nghiên cứu cải tiến và đưa vào sử dụng các thiết bị gây nhiễu mới nhất có công suất lớn, dải tần rộng lắp trên các máy bay B-52 và các loại máy bay cường kích chiến thuật, tiến hành một cuộc chiến tranh điện tử (CTĐT) rộng khắp. CTĐT được coi là “lá bùa hộ mệnh” phục vụ cho không quân chiến lược B-52 vào đánh phá. Với cả guồng máy đồng bộ và tính năng vũ khí như thế, Tổng thống Mỹ Ních-xơn cho rằng, B-52 bay vào Hà Nội sẽ như một cuộc dạo chơi.

Khẩu đội súng máy dân quân tự vệ bắn máy bay chiến thuật của Mỹ trong Chiến dịch phòng không tháng 12-1972. Ảnh tư liệu.

Chiến thắng lịch sử của trận quyết chiến chiến lược “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 vẫn còn vang vọng mãi. Hàng trăm cuốn sách, hàng ngàn bài viết, nhiều hội nghị nghiên cứu, nhiều công trình khoa học-nghệ thuật quân sự ở Việt Nam và ở các nước trên thế giới, bên cạnh việc ca ngợi, phân tích lý giải về bài học lịch sử, ý nghĩa chiến thắng, đã dành nhiều công sức bàn luận về nguyên nhân gì, sức mạnh nào mà quân và dân Việt Nam đã đập tan cuộc TKĐK chiến lược bằng máy bay B-52 của không lực Hoa Kỳ? Nhân tố thắng lợi có tính tổng hợp cao, trong đó phải kể đến những dự báo thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo, chỉ đạo chiến lược sắc bén của Đảng và tài thao lược của Bộ Thống soái chỉ huy chiến lược, chiến dịch; trí thông minh, sáng tạo trong vận dụng kỹ, chiến thuật và nghệ thuật tác chiến hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng phòng không ba thứ quân, lấy Bộ đội PK-KQ làm nòng cốt… tạo thành sức mạnh tổng hợp của thế trận phòng không nhân dân để giành thắng lợi quyết định trong chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Có được thắng lợi này, một trong những nguyên nhân, đồng thời cũng là bài học chiến lược bắt nguồn từ những dự báo sớm, sự lãnh đạo, chỉ đạo chiến lược sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình chuẩn bị chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972.

Đây chính là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến việc giành thế chủ động để đánh bại cuộc TKĐK chiến lược bằng máy bay B-52 của Mỹ. Để đi đến chiến thắng, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có một quá trình phân tích, đánh giá kỹ lưỡng tình hình chiến trường miền Nam cũng như đã đánh giá đúng tình hình, quyết định và chỉ đạo chiến lược cho Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh ở miền Bắc cùng lực lượng phòng không ba thứ quân chuẩn bị, sẵn sàng chiến đấu, huy động được sức mạnh to lớn của cả nước cho cuộc đụng đầu lịch sử.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” trên bầu trời Hà Nội tháng 12-1972 là một mốc son lịch sử, đỉnh cao thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Thắng lợi đó, càng thấy rõ Chủ tịch Hồ Chí Minh-Người có những dự đoán thiên tài về chiến lược. Sinh thời, Người khẳng định: “Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do! Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”[1].

Ngay từ năm 1962, khi giao nhiệm vụ cho Tư lệnh Quân chủng PK-KQ Phùng Thế Tài, Bác đã hỏi: “Các chú đã biết gì về B-52 chưa?”. Sau đó Bác nói: Nếu chú có biết, bây giờ cũng chưa làm gì được nó, vì nó bay cao, bay nhanh. Bác căn dặn: … ngay từ nay là Tư lệnh bộ đội PK-KQ, chú phải theo dõi chặt chẽ và thường xuyên quan tâm đến loại máy bay B-52. Nhớ lời dạy của Bác, lãnh đạo và chỉ huy Bộ t­ư lệnh PK-KQ đã chuẩn bị kế hoạch, đầu tư nghiên cứu về B-52. Những ngày mới thành lập, bộ đội PK-KQ phải tập trung vào nhiệm vụ xây dựng phát triển lực lượng, bố trí thế trận bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc, do vậy việc nghiên cứu B-52 mới chỉ là bước khởi đầu.

Năm 1964, Mỹ lấy cớ “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, đã liều lĩnh cho không quân và hải quân leo thang ra đánh phá một số mục tiêu ven biển của ta từ Quảng Bình đến Quảng Ninh. Quân và dân miền Bắc đã đánh trận phủ đầu giành thắng lợi lớn. Sau khi tuyên dương công trạng đánh thắng trận đầu ngày 5-8-1964, Bác lại hỏi: “Các chú đã chuẩn bị đánh B-52 như thế nào rồi?”. Tuy Bác nhắc nhở, nhưng lúc này B-52 chưa xuất hiện trên chiến trường, mặt khác chúng ta chưa có tư liệu về B-52 nên chưa thể chuẩn bị gì cho việc đánh B-52.

Việc nghiên cứu để đánh B-52 đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đặt ra cho Quân chủng PK-KQ ngay từ khi đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam tiến hành “chiến tranh cục bộ” và bắt đầu sử dụng máy bay ném bom chiến lược B-52 trên chiến trường. Lần đầu tiên ở Việt Nam (cũng là lần đầu tiên trên thế giới) Mỹ cho máy bay B-52 từ đảo Gu-am vào ném bom rải thảm khu vực Bến Cát-Tây Bắc Sài Gòn.

Ngày 19-7-1965 đến thăm Bộ đội phòng không Hà Nội tr­ước giờ tên lửa ra quân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định quyết tâm sắt đá của quân và dân ta đánh thắng kẻ thù xâm lược, Bác căn dặn: “Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền. Dù chúng có B-57, B-52 hay “bê” gì đi chăng nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng!”[2]. Lời Bác đã truyền thêm sức mạnh cho bộ đội tên lửa phòng không. Ngày 12-4-1966, Mỹ đưa B-52 ra đánh đèo Mụ Giạ ở Tây Quảng Bình rồi đánh phá Vĩnh Linh. Lãnh đạo và chỉ huy Quân chủng PK-KQ đã nung nấu việc đưa tên lửa vào chiến trường Quân khu 4 để tìm cách đánh B-52. Một buổi, Bác gọi Tư lệnh Bộ đội PK-KQ lên báo cáo với Bác về việc đánh B-52. Sau khi giao nhiệm vụ xong Bác căn dặn: “… muốn bắt cọp thì phải vào tận hang. Chú về suy nghĩ thêm đi và tranh thủ trao đổi với các đồng chí xung quanh”. Vâng lời Bác, Th­ường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân chủng PK-KQ đã thống nhất kế hoạch đưa Trung đoàn tên lửa H38 vào tuyến lửa Vĩnh Linh để đón đánh B-52, và được Bộ Tổng tham mưu phê chuẩn.

Ngay sau khi Tổng thống Mỹ Giôn-xơn quyết định cho B-52 leo thang ra đánh phá hành lang cửa khẩu Quảng Bình, Vĩnh Linh cuối năm 1967, trong một lần làm việc với Tư lệnh và Chính ủy bộ đội PK-KQ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở: “Sớm muộn đế quốc Mỹ sẽ đưa B-52 ra đánh phá Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước mọi tình huống càng sớm, càng tốt để có thời gian mà suy nghĩ chuẩn bị”[3]. Theo lời dạy của Bác và Chỉ thị của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh đã vạch ra kế hoạch chuẩn bị đánh B-52, đẩy mạnh công cuộc xây dựng lực lượng PK-KQ, đồng thời đưa lực lượng PK-KQ vào chiến trường phía Nam để nghiên cứu phát hiện B-52 và thực tập đánh B-52. Do hiểu biết sâu sắc quy luật chiến tranh xâm lược của Mỹ, nên Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thường xuyên quan tâm, chỉ đạo quân và dân các địa phương, trong đó đặc biệt là bộ đội PK-KQ chuẩn bị tốt mọi mặt sẵn sàng đánh bại nỗ lực cao nhất của địch.

Để đập tan cuộc TKĐK chiến lược của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng tháng 12-1972, ta đã có sự chuẩn bị chu đáo kỹ lưỡng, điều động, tổ chức, sử dụng và bố trí lực lượng PK-KQ hợp lý, tạo thành thế trận PK-KQ: Liên hoàn, hiểm hóc, vững chắc có chiều sâu, bảo đảm tập trung lực lượng đánh địch ở các độ cao, trên các hướng. Tạo ưu thế về lực lượng; giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ, chọn đúng đối tượng đánh địch, giành thế chủ động; bảo đảm đánh thắng địch trong suốt quá trình chiến dịch.

Ngày 25-11-1972, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị tăng cường sẵn sàng chiến đấu[5]. Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị cho lực lượng vũ trang, tăng cường các mặt chuẩn bị chiến đấu, đồng thời nhận định có nhiều khả năng địch đánh phá trở lại toàn miền Bắc với mức độ ác liệt hơn, kể cả việc dùng B-52 đánh ồ ạt vào Hà Nội, Hải Phòng. Do đó: “Nhiệm vụ trung tâm đột xuất trước mắt của Quân chủng PK-KQ là tập trung mọi khả năng nhằm đối tượng chính là B-52 mà tiêu diệt”[6]. Nhờ có sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đã phán đoán đúng thời cơ và địa điểm đón đánh địch chính xác, bởi vậy lực lượng phòng không ba thứ quân của ta, nòng cốt là bộ đội PK-KQ đã giành thế chủ động ngay từ ngày đầu, trận đầu. Trong chiến tranh, vấn đề dự báo chiến lược, đúng thời cơ, chọn đúng đối tượng đánh địch, giữ được bí mật, bất ngờ luôn là những yếu tố quyết định thành bại của mỗi trận đánh. Chiến dịch phòng không tháng 12-1972 đã thực hiện được những vấn đề cốt yếu ấy. Đó là bài học có ý nghĩa chiến lược quyết định đến thắng lợi của chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972.

Trong giai đoạn cách mạng mới, để thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược, đòi hỏi chúng ta phải có nỗ lực rất lớn. Phải giữ vững ổn định về chính trị, tăng cường xây dựng chỉnh đốn Đảng, để Đảng ta thực sự trong sạch vững mạnh; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, nền quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân vững chắc; kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với an ninh và đối ngoại, tập trung nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân… Đồng thời, thực hiện tốt mục tiêu chiến lược mà Đại hội Đảng lần thứ XI đã chỉ ra là: “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển, đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng đối phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống”[7].

Nhận thức sâu sắc và đầy đủ những bài học về sự chuẩn bị, dự báo sớm, lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt mang tầm chiến lược của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác chiến chiến dịch để có nhiều biện pháp tích cực, thiết thực xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, trong đó nòng cốt là khối liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức. Điều đặc biệt chú ý củng cố và xây dựng “thế trận lòng dân”, mà nội dung cơ bản là: Củng cố sự nhất trí về chính trị-tinh thần trong nhân dân, sự gắn bó giữa nhân dân với Đảng, giữa nhân dân với chế độ chính trị do Đảng lãnh đạo. Phát huy những thành quả cách mạng đã đạt được, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; tiếp tục phấn đấu thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới toàn diện, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, quán triệt và thực hiện tốt mọi chỉ thị, nghị quyết mà Đại hội Đảng lần thứ XI đã đề ra.

Thượng tướng Viện sĩ, TS KHQS NGUYỄN HUY HIỆU – Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
qdnd.vn

——————–

[1] Hồ Chí Minh, Tuyển tập, tập2, Nxb Sự thật, Hà Nội 1980, tr.430.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb CTQG, Hà Nội, 1989, tr. 467.

[3] Hồ Chí Minh, Biên niên những sự kiện và tư liệu về quân sự, Nxb QĐND, Hà Nội 1990, tr. 203.

[5] Chỉ thị nêu rõ: sắp tới chúng ta cần đề phòng địch có thể có những hành động phiêu lưu mới… Chúng có thể liều lĩnh dùng máy bay B-52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng, các chân hàng, các đầu mối giao thông, nơi đông dân cư; dùng hải quân tăng cường bắn phá bờ biển. Các đơn vị phải hết sức đề cao cảnh giác, kiểm tra và hoàn chỉnh thêm công tác sẵn sàng chiến đấu, kế hoạch tác chiến và phòng tránh, sơ tán.

[6] Công điện số 420A ngày 24-12-1972 của Bộ Tổng tham mưu gửi Quân chủng PK-KQ.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB CTQG, Hà Nội 2011, tr.233.

Sống lại ký ức một thời chung chiến hào

QĐND – Trong khi Hà Nội đang trải qua cái lạnh đầu đông thì Hội trường Bảo tàng Phòng không-Không quân chiều 3-12 lại được sưởi ấm bởi không khí ấm áp của buổi giao lưu giữa những cựu chiến binh Xô-viết từng giúp đỡ Việt Nam trong chiến tranh với các cựu chiến binh của Quân chủng Phòng không-Không quân (PK-KQ). Ký ức một thời “chung chiến hào” như những thước phim đưa các cựu chiến binh Xô-viết – Việt Nam trở lại những năm 60-70 của thế kỷ trước…

Các cựu chiến binh Xô-viết và Việt Nam trao đổi thông tin cho nhau. Ảnh: Tuấn Sơn

Trở lại “chiến trường xưa” sau nhiều năm xa cách, các cựu chiến binh Xô-viết (gồm Nga, U-crai-na và Bê-la-rút) không thể tin rằng, sau gần 40 năm chấm dứt chiến tranh, Việt Nam đã phát triển nhanh đến như vậy. Mặc dù vậy, phần lớn các cựu chiến binh đều nhận ra từng con phố ở Hà Nội, nơi máy bay Mỹ từng rải bom mà đỉnh điểm là vào những ngày tháng Chạp năm 1972.

Trong chiến tranh, có rất nhiều chuyên gia quân sự Xô-viết đến Việt Nam ở các thời điểm khác nhau, nhưng họ đều có chung một nhiệm vụ: Giúp đỡ nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Mỹ. Họ đã giúp bộ đội PK-KQ Việt Nam sửa chữa khí tài, huấn luyện tên lửa… Sự giúp đỡ của các bạn Xô-viết đã góp phần mang lại nhiều chiến công, mà trước hết là chiến thắng trận đầu của Binh chủng Tên lửa phòng không thuộc Quân chủng PK-KQ (ngày 24-7-1965).

Trong niềm xúc động khi gặp lại người thầy cũng là đồng đội cũ là ông Bôn-đa-ren-cô A-na-tô-li (Bondarenko Anatoly), nguyên Trắc thủ buồng chỉ huy S-75 Cụm Phòng không Hà Nội, ông Nguyễn Quang Hùng, Trắc thủ cự ly, Tiểu đoàn 62, Trung đoàn 236 cho biết, năm 1965 đồng chí Bôn-đa-ren-cô là người hướng dẫn kíp trắc thủ gồm 4 học viên, trong đó có ông. “Bình thường, một khóa học về tên lửa phải mất một năm. Nhưng do yêu cầu chiến đấu, khóa học của chúng tôi rút xuống còn 6 tháng. Nhưng trên thực tế, chúng tôi kết thúc khóa học trong vòng 59 ngày”, ông Hùng cho biết.

Bức ảnh của nữ sinh, phiên dịch viên Nguyễn Thị Hiền tặng ông Vin-xép-xki. Ảnh: Phương Linh

Ông Hùng cho hay, chính đồng chí Bôn-đa-ren-cô là người góp phần trực tiếp bắn rơi chiếc máy bay thứ 45 của Mỹ và là chiếc máy bay đầu tiên do bộ đội tên lửa phòng không bắn rơi. “Tiểu đoàn 63, nơi đồng chí Bôn-đa-ren-cô công tác, đã bắn rơi hai máy bay của Mỹ. Tiểu đoàn 64 bắn rơi một chiếc. Như vậy, trận đầu ra quân, bộ đội tên lửa phòng không bắn rơi ba chiếc máy bay địch. Sau đó, Tiểu đoàn 61, 62 cũng ra quân với sự trợ giúp của bạn”.

Câu chuyện của ông Hùng khiến người thầy Bôn-đa-ren-cô nghẹn ngào. Ông cứ lặng yên, lắng nghe câu chuyện của người học trò. Có lẽ, trong thâm tâm ông chưa bao giờ nghĩ rằng, học trò của ông lại nhớ những kỷ niệm của hơn 40 năm về trước đến từng chi tiết như vậy. Ông bày tỏ: “Tôi chưa từng gặp một dân tộc nào có lòng yêu đất nước, có lòng dũng cảm như dân tộc Việt Nam. Dù khí tài có hiện đại đến đâu cũng không chiến thắng được lòng dũng cảm của nhân dân Việt Nam”. Ông Bôn-đa-ren-cô rất tự hào khi có những người học trò xuất sắc như ông Hùng. Lời ông vừa dứt, tiếng vỗ tay vang lên giòn giã, như một lời tri ân tới những người thầy như ông Bôn-đa-ren-cô.

Đại tá Chi-xlốp Gen-na-đi (Chislov Gennady), chuyên gia quân sự thuộc Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 275 Tên lửa phòng không, cũng may mắn gặp lại học trò của mình. “Không biết số phận thế nào mà một nửa cuộc đời của tôi liên quan đến việc đào tạo sĩ quan Việt Nam”, ông Gen-na-đi cất lời. “Tất cả bắt đầu vào đầu năm 1966. Lúc đó, chúng tôi thực hiện nhiệm vụ đào tạo cho sĩ quan Việt Nam thuộc Trung đoàn tên lửa 275 tại Liên Xô trong vòng 6 tháng. Năm 1966, tôi sang Việt Nam công tác. Đầu tiên tôi là chuyên gia về bệ phóng đạn tên lửa, sau đó là sĩ quan cố vấn cho đồng chí Tiểu đoàn trưởng. Kết thúc chiến tranh, tôi đã sang thăm Việt Nam ba lần. Lần nào sang tôi đều cố gắng tìm cựu chiến binh của trung đoàn này. Lần này, tôi gặp được hai học trò và cũng là đồng đội của tôi. Tôi rất vui vì điều đó”, ông Gen-na-đi kể. Ông Gen-na-đi bày tỏ cảm ơn trước sự quan tâm của lãnh đạo Nhà nước và Bộ Quốc phòng Việt Nam đối với các cựu chiến binh Xô-viết.

Trong đoàn đại biểu cựu chiến binh Xô-viết thăm Việt Nam lần này, có một cựu chiến binh người U-crai-na khá đặc biệt. Trên tay ông lúc nào cũng có một tập ảnh đen trắng đã ngả màu, cùng một tập ảnh (bản phô-tô) khác. Gặp ai, dù là cựu chiến binh của Quân chủng PK-KQ hay phóng viên, ông cũng chìa tập ảnh ra, chỉ vào tấm ảnh một cô gái còn rất trẻ. Hóa ra, ông đang đi tìm nữ phiên dịch của mình trước đây. Ông là Vin-xép-xki Vơ-la-đi-mia (Vinsesky Volodimir), Chuyên gia S-75, thuộc Tiểu đoàn 278, Cụm Phòng không Hà Nội. Ông kể, trước đây ông là chuyên gia đào tạo sĩ quan Việt Nam sửa chữa các khí tài bị hỏng. Ngày đó, giúp việc cho ông là một nhóm sinh viên năm thứ ba của Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội. Ngoài làm phiên dịch, các sinh viên này còn cùng với bộ đội học luôn cả cách sửa chữa khí tài. Trước khi ông rời Việt Nam về nước, một trong số sinh viên này gửi tặng ông một tấm hình, phía sau có ghi Nguyễn Thị Hiền, 68 Phố Huế.

Thầy Bôn-đa-ren-cô và học trò Nguyễn Quang Hùng trong buổi giao lưu. Ảnh: Phương Linh

Trân trọng tình cảm của cô nữ sinh mang cái tên rất đẹp ấy, ông đã giữ gìn cẩn thận bức ảnh này trong suốt 40 năm qua. Giờ đây, chiến tranh qua đi đã lâu, nhưng ông không biết cô gái ấy còn sống hay đã chết. “Nếu còn sống, chắc cô ấy cũng đã 60 tuổi rồi”, ông Vin-xép-xki rưng rưng nói. Trao tấm hình của nữ sinh Hiền (phô-tô) cùng nhiều bức ảnh khác cho phóng viên Báo Quân đội nhân dân, ông Vin-xép-xki bày tỏ niềm hy vọng thông qua Báo Quân đội nhân dân, biết đâu ông lại có cơ hội gặp người nữ phiên dịch của mình.

Đã không thiếu những cặp mắt rưng rưng, những nỗi xúc động nghẹn ngào của ngày gặp lại sau hơn 40 năm xa cách, nay là giờ phút trùng phùng. Những người bạn Xô-viết đã tới giúp nhân dân Việt Nam theo mệnh lệnh của trái tim, cùng đồng cam cộng khổ, chia sẻ nỗi hiểm nguy trong lửa đạn từ hơn 40 năm trước. Giờ đây, họ lại được đón tiếp bằng tình cảm ấm áp của những trái tim Việt Nam. Buổi giao lưu giữa cựu chiến binh Xô-viết với cựu chiến binh của Quân chủng PK-KQ còn nối dài những câu chuyện cảm động về tình đoàn kết quốc tế giữa nhân dân Xô-viết với nhân dân Việt Nam trước đây và giữa nhân dân LB Nga, U-crai-na, Bê-la-rút với nhân dân Việt Nam ngày nay.

Đúng như Trung tướng Phương Minh Hòa, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân chủng PK-KQ đã nói trong không khí thân tình của buổi tiếp trước đó, sự hy sinh, cống hiến, giúp đỡ chí tình của các chuyên gia quân sự Xô-viết trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam thật đáng trân trọng. Trung tướng Phương Minh Hòa bày tỏ mong muốn có thêm nhiều đoàn cựu chiến binh Xô-viết tới thăm Việt Nam trong thời gian tới.

Thay mặt đoàn cựu chiến binh Xô-viết, Trưởng đoàn, Trung tướng Ni-cô-lai Txim-ban (Nikolay Tsymbal) mong các thế hệ sau này của Việt Nam sẽ không bao giờ phải chứng kiến cảnh bom rơi, máu đổ như trước đây. “Tôi đã có một buổi tối thật tuyệt vời khi đi dạo bên Hồ Gươm. Ở đó, tôi phát hiện ra sự trẻ trung của Hà Nội và một cái nhìn hướng về tương lai tươi đẹp của giới trẻ Việt Nam. Tôi tin Việt Nam sẽ phát triển vững mạnh”, Trung tướng Ni-cô-lai tin tưởng.

LINH OANH
qdnd.vn

Tìm người trong ảnh

QĐND Online – Trong 12 ngày đêm năm 1972, những trận ném bom B52 của đế quốc Mỹ đánh phá Hà Nội khiếm phố Khâm Thiên bị tàn phá rất nặng nề, gây tổn thất lớn về người và của. Hai em bé trong ảnh là cặp sinh đôi mất cả cha lẫn mẹ, hai cháu được bà con cô bác và chính quyền quận Đống Đa cưu mang chăm sóc.

Cô giáo và hai cháu trong ảnh hiện vẫn chưa xác định được danh tính.

Người chụp tấm ảnh này là nhà báo Trần Hồng, nguyên phóng viên Báo Quân đội nhân dân vì bị thất lạc sổ ghi chép nên không nhớ rõ họ tên 2 cháu và cô giáo trong ảnh. Ai biết thông tin về các nhân vật trong ảnh xin liên hệ với tác giả theo số ĐT: 0903293015 hoặc nhà riêng phòng 202 tầng 2 khu tập thể số 3 phố Đường Thành, phường Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Tin, ảnh: TRẦN HỒNG
qdnd.vn

Đường đến phương pháp “Vượt nửa góc”

Bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam

QĐND – Tiểu đoàn 77, Trung đoàn 257, Sư đoàn Phòng không 361 đã mưu trí, dũng cảm bắn rơi tại chỗ chiếc B-52 thứ 2 và cũng là chiếc đầu tiên bắn bằng phương pháp “vượt nửa góc” Phóng viên Báo Quân đội nhân dân vừa phỏng vấn ông Đinh Thế Văn, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 77 – người trực tiếp chỉ huy trận đánh. Dưới đây là nội dung cuộc phỏng vấn.

Kíp chiến đấu bắn rơi B-52 đầu tiên bằng phương pháp “vượt nửa góc”‘, từ phải sang: Đỗ Đình Tân (Trắc thủ phương vị); Đinh Thế Văn (Tiểu đoàn trưởng); Nguyễn Văn Đức (Sĩ quan điều khiển); Lưu Văn Mộc (Trắc thủ góc tà); Phạm Hồng Hà (trắc thủ cự ly). Ảnh do đồng chí Đinh Thế Văn cung cấp

Phóng viên (PV): Tiểu đoàn ông chủ động hay tình cờ bắn rơi chiếc máy bay B-52 thứ hai, nhưng là chiếc đầu tiên theo phương pháp “vượt nửa góc”?

Ông Đinh Thế Văn: Chủ động chứ. Chiếc máy bay đó rơi tại chỗ ở xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây vào lúc 4 giờ 39 phút ngày 19-12. Để bắn được B-52 bằng phương pháp “vượt nửa góc” tiểu đoàn chúng tôi không những phải vượt qua những ngày học tập, nghiên cứu, huấn luyện ứng dụng cực kỳ gian khổ, mà còn có cả xương máu của đồng đội trong gần 7 năm Quân chủng PK-KQ tìm cách đánh để đối đầu với B-52.

PV: Ông giải thích tính ưu việt của phương pháp“vượt nửa góc” với phương pháp “3 điểm” mà Tiểu đoàn 59, Trung đoàn 261, Sư đoàn Phòng không 361 đã ứng dụng bắn rơi chiếc B-52 đầu tiên trong Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” vào đêm hôm trước?

Ông Đinh Thế Văn: Khi còn bám mục tiêu (B-52) thì giữa quả tên lửa của ta và mục tiêu là một góc. Đến điểm góc bằng không là tên lửa đã bắn được B-52. “Vượt nửa góc” nghĩa là quả tên lửa của ta điều khiển lên sao cho phải luôn luôn đón trước nửa góc với mục tiêu. Khi đến điểm bằng không là tên lửa tự động bắn mục tiêu. Như vậy cách đánh này xác suất đạt cao, vừa tiết kiệm đạn, vừa bắn rơi được B-52 tại chỗ.

PV: Còn phương pháp bắn “3 điểm”?

Ông Đinh Thế Văn: Ba điểm là ấn nút bắn mục tiêu, khi đài ra-đa, tên lửa và mục tiêu (nhiễu máy bay B-52) trên một đường thẳng. Cách đánh này không phát sóng “vạch nhiễu tìm B-52” tránh được tên lửa (sơ-rai) của địch bắn trở lại trận địa, nhưng không phát huy được tên lửa bắn tự động và thường phải bắn một lúc nhiều tên lửa.

PV: Cái khó của phương pháp “vượt nửa góc” là gì?

Ông Đinh Thế Văn: Để bắn B-52 bằng phương pháp “vượt nửa góc” đòi hỏi lòng dũng cảm, trí thông minh và bản lĩnh của cả kíp chiến đấu rất cao. Trước hết là không sợ địch, dũng cảm mở máy ra-đa liên tục để lùng sục, vạch trong dải nhiễu tìm đúng vị trí B-52. Nếu xử trí không nhanh, cắt sóng không kịp sẽ bị sơ-rai của địch bắn phóng vào trận địa. Nghĩa là toàn kíp chiến đấu gồm tiểu đoàn trưởng, sĩ quan điều khiển, 3 trắc thủ phải hiệp đồng chặt chẽ, phải nhuần nhuyễn trong thao tác để sao cho trong vòng 60 giây đã hoàn thành một trận đánh.

PV: Phương pháp “vượt nửa góc” sau trận đánh thành công của Tiểu đoàn có được ứng dụng rộng rãi trong chiến dịch không?

Ông Đinh Thế Văn: Ngay sau thắng lợi của Tiểu đoàn 77, các tiểu đoàn khác đã ứng dụng phương pháp “vượt nửa góc” bắn rơi nhiều B-52.

PV: Xin cảm ơn ông!

HUY THIÊM (thực hiện)
qdnd.vn

“Kỳ tích” dẫn đường

QĐND – Đại tá Nguyễn Văn Chuyên, nguyên Phó tham mưu trưởng Quân chủng Không quân, quê ở Bình Định. Ông nhập ngũ năm 1949, được đào tạo về kỹ thuật hàng không tại Trung Quốc và Liên Xô (trước đây). Về nước, từ năm 1965 đến 1972, ông đã dẫn đường cho máy bay tiêm kích chiến đấu 110 trận, góp phần bắn rơi hàng chục máy bay của Mỹ. Nay ông nghỉ hưu tại phường Khương Trung, Thanh Xuân, Hà Nội. Nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, Đại tá Nguyễn Văn Chuyên đã tâm sự với chúng tôi về những kỷ niệm xưa.

Bí mật, bất ngờ

“Tôi dẫn đường hiện sóng ra-đa được 4 tháng thì Bộ tư lệnh Quân chủng điều về làm Trợ lý Dẫn đường tại Sở chỉ huy ở Sân bay Bạch Mai (K18). Trận dẫn đường đầu tiên của tôi vào ngày 20-9-1965. Tin tình báo cho biết, máy bay địch đánh phá sân bay Kép (huyện Lạng Giang, Bắc Giang). Ban đầu có ý kiến là biên đội 4 máy bay MiG-17 gồm: Phạm Ngọc Lan, Nguyễn Nhật Chiêu, Nguyễn Ngọc Độ và đồng chí Trì cất cánh từ Sân bay Nội Bài, qua Hiệp Hòa và Yên Thế rồi tiến công máy bay địch ở Lạng Giang. Tôi đề nghị đường bay trực diện ấy đúng hướng địch cảnh giới, nên để tạo yếu tố bất ngờ thì bay từ Nội Bài lên Bắc Kạn, vòng về Thái Nguyên, sang phía nam Lạng Sơn rồi đánh xuống Lạng Giang. Sở chỉ huy đồng ý, địch có 4 chiếc F-4, ta có 4 MiG-17, địch vượt trội ta về tốc độ. Nhưng nhờ có yếu tố bất ngờ, anh Nguyễn Nhật Chiêu đã bắn rơi tại chỗ 1 chiếc F-4, 3 chiếc F-4 còn lại bỏ chạy ra biển liền bị 3 chiếc MiG-17 của ta đuổi theo bắn bị thương 2 chiếc nữa. Đây là trận đầu tiên MiG-17 (không quân Mỹ coi là cổ lỗ sĩ) đã bắn rơi F-4 của Mỹ.

Đại tá Nguyễn Văn Chuyên.

Đón đầu bán cầu trước

Năm 1966, Mỹ cho máy bay F-105 mang bom ra đánh phá miền Bắc và thường xuyên có máy bay tiêm kích yểm hộ. Khi ta phát hiện thì MiG-17 không đuổi kịp vì tốc độ lớn nhất của F-105 đạt 1.800km/giờ (gấp 1,5 lần MiG-17). Trước khó khăn đó, tôi đề xuất phương pháp dẫn đường mới là dẫn MiG-17 tiếp cận F-105 ở bán cầu trước với góc vào 120 độ. Phương pháp này khi học ở nước ngoài bạn không cho phép, mà chỉ được tiếp cận máy bay địch ở bán cầu sau. Lúc ấy có đồng nghiệp của tôi cũng không đồng ý vì tiếp cận bán cầu trước dễ bị ra-đa của địch phát hiện. Tôi đã chứng minh ra-đa trên máy bay F-105 có góc độ phát hiện mục tiêu 60 độ và cự ly 60km về phía trước, phương pháp dẫn đường của tôi nằm ngoài cánh sóng ra-đa. Ngày 12-8-1967, tại Sở chỉ huy Trung đoàn 923 (Gia Lâm) tôi dẫn đường cho biên đội MiG-17 gồm các đồng chí: Tào, Hùng, Xuân và Vân bay lên gặp một tốp 16 chiếc F-105 mang bom. Với góc tiếp cận 120 độ, đón đầu ở bán cầu trước, biên đội đã bắn rơi 1 chiếc F-105, rồi trở về sân bay an toàn, 15 chiếc F-105 còn lại vội vứt bom bừa bãi quay ra, không vào được mục tiêu. Sau trận này phương pháp dẫn đường của tôi được quân chủng cho phổ biến rộng rãi.

Chọn đoạn bay bằng, tiếp cận khi bay vòng

Năm 1966, không quân ta có 3 lần cất cánh đánh máy bay gây nhiễu điện tử RB-66, nhưng không thành công và lần thứ ba một chiếc MiG-21 của ta bị F-4 đi yểm trợ bắn rơi. Do đó Tư lệnh Quân chủng quyết định không dùng không quân đánh máy bay RB-66.

Sang năm 1967, đế quốc Mỹ cho RB-66 vào gần Hà Nội hơn để gây nhiễu. Đặc biệt trong tháng 10 và 11-1967, máy bay RB-66 gây nhiễu rất nặng, ảnh hưởng không nhỏ đến sức chiến đấu của bộ đội tên lửa và pháo phòng không của ta. Trước tình hình đó, Tư lệnh Quân chủng Nguyễn Văn Tiên giao cho tôi nghiên cứu phương án dẫn đường cho MiG-21 đánh máy bay gây nhiễu RB-66, trong điều kiện có F-4 yểm hộ trực tiếp và yểm hộ khu vực. Sau một tuần chuẩn bị, phương án đề xuất của tôi có 3 điểm đổi mới:

Thứ nhất: Giữ bí mật giai đoạn đầu để địch không kịp đối phó. Muốn vậy phải bay thấp tránh ra-đa đối phương ở ngoài biển phát hiện và không bay gần khu vực có tiêm kích địch làm nhiệm vụ yểm trợ.

Thứ hai: Kéo F-4 ra xa RB-66 khi ta tiếp cận. Thời điểm này chỉ xảy ra khi RB-66 bay vòng.

Thứ ba: Tính toán thật chính xác thời cơ cất cánh của ta chỉ được sai số dưới 30 giây.

Cái khó của phương pháp này là phải tìm ra đoạn bay bằng để gây nhiễu của RB-66. Quân báo cho biết, đoạn bay bằng của RB-66 từ 80 đến 85km (lệch 10km). Tôi xem và đo đạc hơn 100 sơ đồ bay của RB-66 hoạt động thì thấy đoạn bay bằng của RB-66 là 82km. Từ đó tôi tính ra thời cơ cất cánh của MiG-21. Tiếp cận máy bay địch khi đang bay vòng cũng rất khó, không quân thế giới chưa nước nào làm. Mỹ cũng xác định như vậy nên chỉ cho F-4 yểm trợ ngăn chặn máy bay ta khi RB-66 bay thẳng, bay bằng.

Bằng phương pháp chọn đoạn địch bay bằng để ta cất cánh, lợi dụng địch bay vòng để ta tiếp cận, sáng ngày 19-11-1967, tổ dẫn đường có tôi cùng hai đồng chí Hưng và Hùng ở Trung đoàn Không quân 921 dẫn biên đội MiG-21 do hai đồng chí Đĩnh và Kính lái đã bắn rơi 1 chiếc RB-66 đầu tiên ở khu vực Vụ Bản. Ngay chiều hôm ấy, máy bay địch đã phải lùi ra xa, cách Hà Nội từ 200 đến 250km. Cường độ nhiễu giảm, tên lửa và pháo phòng không ta hoạt động bình thường như trước.

Dẫn đường với góc tiếp cận lớn

Năm 1969, sau khi tuyên bố ngừng ném bom vô điều kiện miền Bắc Việt Nam, Mỹ tăng cường trinh sát bằng máy bay không người lái vào Hà Nội, Hải Phòng. Máy bay không người lái bay ở độ cao 300m bị ta bắn rơi một chiếc. Mỹ liền thay đổi thủ đoạn là dùng C-130 phóng máy bay không người lái từ biển vào cửa Ba Lạt (Thái Bình) tới Hà Nội, Hải Phòng ở độ cao 200m, có khi chỉ 150m. Sự thay đổi này khiến các trạm ra-đa cảnh giới của ta rất khó phát hiện, không quân, tên lửa và pháo cao xạ cũng gặp khó khăn khi đón đánh. Đang làm nhiệm vụ tìm cách dẫn đường đánh B-52 tại Sở chỉ huy B3 (Nghệ An) thì tôi được gọi ra Hà Nội để nghiên cứu cách đánh máy bay không người lái bay cực thấp (bay ở độ cao dưới 200m). Sau hội nghị quân sự dân chủ của quân chủng, tôi suy nghĩ rất nhiều về các ý kiến tham gia rồi đề nghị: Phải sử dụng ra-đa dẫn đường phát hiện thấp thì mới đánh được và đề nghị đưa Đại đội ra-đa dẫn đường 47 ra gần cửa Ba Lạt để đón bắt không người lái từ ngoài biển. Đối với MiG-21 thì phải dẫn đường góc tiếp cận lớn như MiG-17. Vì dẫn đường có góc tiếp cận lớn sẽ dễ phát hiện mục tiêu nhỏ và bay thấp, hơn là dẫn đường bám đuôi phóng tên lửa như dẫn đánh máy bay cường kích. Phương án của tôi được Tư lệnh Quân chủng thông qua và Trưởng ban Dẫn đường cử tôi xuống Thái Bình để cùng Đại đội ra-đa 47 nghiên cứu, xây dựng trận địa. Chúng tôi nhất trí đặt Trạm ra-đa gần cửa Ba Lạt. Từ đây có thể phát hiện mục tiêu bay thấp từ biển vào rồi bám theo chúng bay về Hà Nội hay Hải Phòng. Triển khai xong trận địa, tôi về Sở chỉ huy trực ban dẫn đường theo phương án. Chiều ngày 24-6-1969, ra-đa phát hiện mục tiêu, tôi dẫn biên đội MiG-21 của hai phi công Thái và Cương bắn rơi chiếc máy bay không người lái đầu tiên tại Thái Bình. Hai ngày sau (26-6) chúng tôi lại dẫn biên đội MiG-17, với hai phi công Lộc và Cống cất cánh từ Sân bay Kiến An bắn rơi 1 máy bay không người lái ở khu vực Hải Phòng. Ngày 1-7-1969, biên đội MiG-21 của hai phi công Minh và Cung bắn rơi 1 máy bay không người lái ở Thường Tín (Hà Tây)… Gần 2 tháng (từ 24-6 đến 23-8-1969, không quân ta đã bắn rơi 5 chiếc máy bay không người lái bay cực thấp. Chúng ta đã làm phá sản hoàn toàn âm mưu dùng máy bay không người lái cực thấp để quấy rối Hà Nội và Hải Phòng.

Bí mật, bay thấp, kéo cao

Nhiệm vụ đánh B-52 được không quân ta âm thầm nghiên cứu, chuẩn bị từ năm 1968. Ngày 4-10-1971, phi công Đinh Tôn đã bí mật đưa máy bay vào Sân bay Đồng Hới (Quảng Bình). Khi bay lên chiến đấu, Đinh Tôn tiếp cận được B-52 thì đã quá gần, không thể đánh đối đầu. Ngày 20-11-1971, từ Sân bay Nội Bài, 2 chiếc MiG-21 do phi công Vũ Đình Rạng và Hoàng Biểu lái, tắt toàn bộ thông tin liên lạc để giữ bí mật, bay thấp để tránh ra-đa địch phát hiện rồi hạ cánh xuống Sân bay Vinh và Sân bay Anh Sơn (Nghệ An) đợi sẵn. Lúc 19 giờ 30 phút, một tốp B-52 từ căn cứ quân sự ở Thái Lan bay vào, Hoàng Biểu cất cánh từ Sân bay Vinh lên đánh nhưng bị lộ, B-52 vòng trở lại Thái Lan, chúng tôi được lệnh dẫn đường cho Hoàng Biểu giữ nguyên độ cao 6000m bay thẳng ra Sân bay Nội Bài (Hà Nội). Hành động nghi binh này khiến địch tưởng ta không có MiG lên chiến đấu nữa, nên chúng liền cho B-52 quay lại đánh phá mục tiêu theo kế hoạch. Chúng tôi đã dẫn đường cho Vũ Đình Rạng cất cánh từ Sân bay Anh Sơn, bay thấp theo sườn Tây núi Đại Huệ rồi dọc theo đỉnh Trường Sơn theo hướng Đông Nam 160 độ, vượt qua đèo Keo Nưa, khi tốp B-52 đang bay về phía Tây Hà Tĩnh. Khi thời cơ chuyển hướng đến, tôi báo cho Vũ Đình Rạng sửa đường bay hướng 250 độ, sang Lào, ngược chiều với tốp B-52 đang vượt qua sông Mê Công. Khi 3 chiếc B-52 vượt qua nửa nước Lào thì Rạng được thả thùng dầu phụ, kéo lên lấy độ cao. Lát sau, Rạng mới mở ra-đa trên máy bay, bật công tắc ống nói: “Phát hiện B-52, cự ly 11km. Xin phép công kích”. Trên ra-đa MiG-21 vùng phóng đã xuất hiện, Rạng nhẩm đếm 1, 2, 3, 4, 5 nghĩa là cự ly chỉ cách gần 1,5km, anh bóp cò. Quả tên lửa lao lên phía trước, chớp lửa lóe lên, một chiếc B-52 bị thương, lết về tới Thái Lan thì hạ cánh bắt buộc, hư hỏng hoàn toàn.

Còn nhiều kỳ tích khác về dẫn đường, nhưng qua trận này không quân ta có một kinh nghiệm quý để vận dụng đánh bại pháo đài bay B-52 Mỹ trong Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972. Trong 12 ngày đêm lịch sử này, tôi trực tiếp dẫn đường cho không quân ta bắn rơi 1 máy bay F-4, gián tiếp dẫn đường cho phi công Phạm Tuân và Vũ Xuân Thiều bắn rơi 2 chiếc máy bay B-52 của Mỹ.

TÔ KIỀU THẨM (ghi)
qdnd.vn