“Sao vuông” lập công trên mọi mặt trận

QĐND – Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là chiến thắng của cuộc chiến tranh nhân dân chống lại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân đối với miền Bắc. Trong chiến thắng đó, những đóng góp của lực lượng dân quân tự vệ (DQTV) có ý nghĩa rất quan trọng. Trên mọi mặt trận, từ chiến đấu, phục vụ chiến đấu, lao động sản xuất, bảo đảm giao thông, làm nhiệm vụ hậu bị… vị trí, vai trò chiến lược và khả năng to lớn của lực lượng DQTV được thể hiện rõ nét.

Chỉ bằng súng bộ binh nhưng với tinh thần chiến đấu dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, lực lượng DQTV đã bắn rơi nhiều máy bay Mỹ, bắt sống giặc lái. Trong Chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, lực lượng bắn máy bay của DQTV miền Bắc đã triển khai 356 trận địa. Đặc biệt, biết trước mưu đồ của địch từ tháng 6-1972, thành phố Hà Nội đã thành lập 8 đại đội tự vệ tập trung. Mỗi khu phố trong nội thành tổ chức một đại đội DQTV pháo phòng không 100mm (hoàn toàn thoát ly sản xuất) để tăng cường hỏa lực bắn máy bay địch. Mỗi huyện ở ngoại thành tổ chức một đại đội bộ binh tập trung, trang bị đủ súng đạn, làm nhiệm vụ cơ động chiến đấu trên địa bàn huyện… Hệ thống trận địa bắn máy bay bay thấp của DQTV trên địa bàn Hà Nội được tổ chức thành 62 trận địa trực chiến, bố trí sát mục tiêu bảo vệ. Những cơ quan, xí nghiệp, trong nội thành còn có từ 70 tự vệ trở lên tổ chức các đơn vị chiến đấu trang bị súng máy cao xạ cơ động đánh địch nhưng không hoàn toàn thoát ly sản xuất. Các cơ quan xí nghiệp có dưới 70 tự vệ được trang bị súng bộ binh làm nhiệm vụ chiến đấu tại chỗ và là lực lượng xung kích trong khắc phục hậu quả bom, đạn địch. ở ngoại thành, dân quân, du kích mỗi thôn xã đều chia thành ba bộ phận gồm: Chiến đấu cơ động được trang bị súng máy cao xạ; chiến đấu tại chỗ được trang bị súng bộ binh và phục vụ chiến đấu… Không chỉ sử dụng súng bộ binh, các đơn vị DQTV đã sử dụng pháo cao xạ từ 14,5mm, 12, 7mm đến 37mm…

Lực lượng tự vệ và công nhân đường sắt (Hà Nội) sửa chữa, khôi phục đường tàu bị bom Mỹ phá hủy. Ảnh tư liệu

Tuy vũ khí trang bị thô sơ, lực lượng không nhiều nhưng do được tổ chức chặt chẽ, bố trí hợp lý, đồng thời làm tốt công tác phòng không nhân dân nên lực lượng DQTV đã cùng với quân và dân miền Bắc hình thành một thế trận phòng không rộng khắp nhiều tầng, nhiều lớp, tạo lưới lửa dày đặc, có thể đánh địch từ nhiều hướng, nhiều tầm cao khác nhau, làm hạn chế ưu thế tính năng, tác dụng của các loại vũ khí trang bị, phương tiện chiến tranh hiện đại của không quân Mỹ, vô hiệu hóa nhiều thủ đoạn thâm độc, tinh vi, xảo quyệt của chúng. Nhiều trận đánh xuất sắc đã được các đơn vị DQTV thực hiện, điển hình là cụm súng máy 14, 5mm của tự vệ Nhà máy Cơ khí Mai Động (Hà Nội) phối hợp với các lực lượng bắn rơi tại chỗ một máy bay F -111A bằng 21 viên đạn; Trung đội dân quân xã Hợp Hòa (Hòa Bình) đã bắt sống 2 tên giặc lái Mỹ là tên thiếu tá William Winson và đại úy Robert David Raybanger, bắn cháy một máy bay trực thăng; Dân quân xã Xuân Sơn, huyện An Thụy (Hải Phòng) phối hợp với bộ đội pháo cao xạ bắn rơi tại chỗ một máy bay A -6… Sau 12 ngày đêm của chiến dịch, quân và dân ta đã chiến đấu dũng cảm, bắn rơi 81 máy bay địch, trong đó có 34 B -52 và 5 F -111. Số máy bay địch bị lực lượng phòng không nhân dân mà nòng cốt là DQTV bắn rơi là 22 chiếc, trong đó có một chiếc B -52 và 4 chiếc F -111… Có thể nói đây là chiến công hết sức oanh liệt của DQTV Việt Nam, góp phần đánh bại mưu đồ đen tối, thủ đoạn thâm độc, hành động tàn bạo của kẻ thù.

Do trước đó chưa có chiếc B -52 nào bị bắn rơi tại chỗ nên khi bước vào cuộc không kích tháng 12-1972, bọn giặc lái Mỹ còn chủ quan, huyênh hoang rằng: “Bay vào Hà Nội chỉ như cuộc dạo chơi trong đêm phương Đông, ở độ cao 10.000m, đối phương không thể với tới, các bạn chỉ cần ấn nút rồi trở về căn cứ an toàn, sạch sẽ”. Nhưng rồi sau này chính những giặc lái Mỹ đã thú nhận rằng họ rất lo lắng, hoảng sợ khi phải thực hiện các chuyến bay leo thang đánh phá miền Bắc Việt Nam. Đặc biệt để đánh phá trúng mục tiêu, máy bay Mỹ phải bay thấp. Nhưng khi bay thấp lại vấp phải lưới lửa phòng không của lực lượng DQTV Việt Nam, vì thế chúng rất lo sợ. Cũng chính các phi công Mỹ phải than vãng rằng: Mỗi viên đạn súng trường, cũng có tác dụng như một nhát búa tạ” giáng vào máy bay của chúng… Như vậy, có thể thấy lưới lửa phòng không tầng thấp mà lực lượng DQTV tạo ra đã góp phần quan trọng hạn chế đáng kể sự phá hoại của không quân Mỹ đối với miền Bắc Việt Nam. Cùng với chiến đấu dũng cảm, bắn rơi nhiều máy bay Mỹ, lực lượng dân quân tự vệ đã bắt sống hầu hết số phi công nhảy dù xuống miền Bắc.

DQTV các địa phương miền Bắc còn tích cực làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, chủ động tiếp đạn, cứu thương, cấp dưỡng, đóng góp hàng triệu ngày công xây dựng, củng cố trận địa, sân bay bị địch ném bom và làm đường cơ động chi viện kịp thời cho các đơn vị bộ đội chủ lực, nhất là các đơn vị phòng không. Tự vệ các công ty cầu đường bám trụ trên các trục tuyến giao thông, phối hợp với các lực lượng giải tỏa các chướng ngại, tháo gỡ, xử lý hàng chục nghìn quả bom các loại để giải phóng mặt đường, bảo đảm giao thông thông suốt trong mọi tình huống….

Lực lượng DQTV đã có những đóng góp to lớn trong công tác phòng không nhân dân. Đặc biệt để hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do bom đạn địch gây ra cho nhân dân, lực lượng DQTV đã vận động và tổ chức cho hàng chục vạn người sơ tán khỏi các thành phố, thị xã, đào hàng chục vạn hố cá nhân, hàng nghìn hầm tập thể… Tuy đã trở thành chiến trường nóng bỏng, song cùng với quân và dân miền Bắc, lực lượng DQTV vẫn hoàn thành nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam, sức người, sức của chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn được vận chuyển theo kế hoạch.

Công tác giữ gìn trật tự trị an trong điều kiện đất nước có chiến tranh cũng là một nhiệm vụ rất quan trọng. Nhận thức rõ điều đó, lực lượng DQTV đã tích cực phối hợp cùng lực lượng công an triển khai nhiều biện pháp hữu hiệu giữ vững an ninh trật tự tại cơ sở. Có DQTV phối hợp, giúp đỡ, lực lượng công an đã phát hiện kịp thời, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm, nhất là bọn phản động, biệt kích, thám báo, gián điệp…

Những chiến công mà các chiến sĩ “sao vuông” lập được trên các mặt trận đã góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của quân và dân cả nước trong Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” năm 1972 – một trang sử hào hùng, mốc son chói lọi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà.

PHÙNG KIM LÂN
qdnd.vn

Những người chia lửa

Hướng tới kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

QĐND – Hải Phòng ban ngày đã vắng, đêm lại càng vắng vì lạnh. Tháng 12, sắp đến ngày Noel, nội thành vàng vàng ánh điện. Gió đông lay lắt chao đèn đường, nhiều lúc điện tắt phụt, tối om. Từ đầu năm 1972, Cửa Cấm bị thủy lôi Mỹ phong tỏa, thi thoảng mới có tàu nhỏ được hoa tiêu dẫn vào, dò dẫm từ đảo Long Châu tới đèn Nam Triệu cũng mất cả ngày. Còi báo động chốc chốc lại rú lên trên nóc Nhà hát Thành phố. Con phố đổ xuống Phà Bính ngày thường đông là thế, những ngày này vắng hẳn. Có ai đó muốn sang bên Thủy Nguyên, phải chờ khi có xe của bộ đội xuống phà, mới tất tả dắt xe đạp băng theo xuống bến. Bộ đội ai cũng có mũ sắt, còn dân thì có mũ rơm. Những công nhân bến phà còn mặc cả áo rơm, đan kiểu gi-lê, trông mới đầu ngồ ngộ, rồi cũng thấy quen.

Nhiều trận bom Mỹ giội vào Khu An Dương từ giữa năm, hay những trái bom bi nổ chậm bất thần nổ ở trong phố, khiến dân chúng phải đi sơ tán về mãi vùng quê tận An Lão, Kiến Thụy…

Trên đường ra Quán Toan hay về An Hải chỉ thấy xe bộ đội, những chiếc xe dài ngoẵng chở đạn tên lửa giắt đầy lá, cuốn bụi lầm từ Ruồn về.

Tới ngày 18-12 thì Hải Phòng vắng hẳn, lệnh sơ tán triệt để đã được ban hành, thành phố bây giờ là chiến địa. Trên các tầng nhà cao hay tháp nước, thấp thoáng những khẩu đội cao xạ trực chiến. Hải Phòng phập phồng, căng thẳng chờ máy bay Mỹ tới.

Lắp ráp đạn tên lửa chuẩn bị chiến đấu với B.52. Ảnh tư liệu.

Những chiến sĩ tên lửa của đoàn Nam Triệu hay đoàn Hạ Long biết rõ những đường bay của không quân Mỹ vào thành phố này. Chúng vào ăn cướp rất nhanh và cũng bay ra rất nhanh.

Cấp chỉ huy bộ đội phòng không Hải Phòng đã quán triệt cho chiến sĩ của mình đặc điểm tác chiến ở vùng cửa biển, rằng thời gian địch xuất hiện rất ngắn, nếu không cảnh giác sẽ lỡ thời cơ chiến đấu. Đã có những bài học, khi phát hiện địch, báo động vào cấp 1 không kịp, thì bọn A6, F8U đã kịp ném bom, bay ra.

Bảng tiêu đồ 9×9 trên xe P-12 của Tiểu đoàn hỏa lực 72 còn lưu dấu chì xanh về đường bay của không quân Mỹ. Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Chắt luôn nhắc nhở anh em trắc thủ, địch thường bay vào, lấy cửa Nam Triệu làm điểm kiểm tra và đột nhập Hải Phòng từ phía chính Đông. Hướng thứ hai, lấy cửa sông Văn Úc làm điểm kiểm tra tập hợp đội hình vào đánh Hải Phòng từ phía Tây Nam. Các tốp B-52 vào Hải Phòng từ trước đến nay đều sử dụng cả hai đường bay này.

Buổi trưa, chiến sĩ nuôi quân ở bếp tiểu đoàn vào phố về phàn nàn, thịt bán tem phiếu ở cửa hàng đã ít, nhưng rau cũng khó mua, chợ không có người bán. Chiến tranh tác động đến từng chi tiết của đời sống. Hậu cần tiểu đoàn sốt ruột, làm sao cho bộ đội có đủ rau, đủ thịt duy trì bữa ăn bình thường. Quản lý bếp ăn nhanh nhẹn chạy lên xin tiểu đoàn cho xe tải về huyện mua bí và su hào dự phòng chiến đấu dài ngày… Nhưng một lúc sau, anh chạy về bếp tiu nghỉu, không nói không rằng, vơ hết giấy tờ, sổ sách, quần áo cơm vào ba lô rồi thì thào như buôn bạc giả “Cơ động! Cơ động!”.

Tin tiểu đoàn phải cơ động trận địa lan nhanh. Bếp trưởng bảo: Xin người hỗ trợ hậu cần chứ? Hôm trước cũng thế, chắc lại rút ra quanh quẩn ngoại thành chứ gì? Cái gì cần thì mang, không chết mệt, bỏ lại ít đồ không dùng, về lấy sau. Chính trị viên phó xuống phổ biến: Mang đi tất cả, cơ động xa, chuẩn bị nấu ăn trên đường vài ngày. Cử một tổ đi trước chuẩn bị… cơm nước theo kiểu dã ngoại!

Rồi mọi người cũng biết, cùng với tiểu đoàn 71, Tiểu đoàn 72 lên chi viện “chia lửa” cho Hà Nội. Xe bánh lốp chạy trước, xe bánh xích bao giờ cũng chậm nên đành chạy sau. Dân quân và bà con tiễn bộ đội ra tận đường cái lớn. Ngồi trong ca-bin, sĩ quan điều khiển Dựng ngoái lại nhìn những ngọn dừa, khóm tre mờ dần, lòng anh thắt lại. Sê và con ở lại, không biết thế nào. Cu Dưỡng thì mới hơn một tuổi. Từ ngày 22-12, bọn B-52 đã đánh vào Hải Phòng, nhà lại gần trận địa, bọn A6, F-111 nó “xăm xoi” trận địa tên lửa dữ lắm, may mà có bà ngoại…

Kíp trắc thủ của Tiểu đoàn 72 bắn rơi máy bay tại Hà Nội đêm 27-12. Ảnh tư liệu.

Ngồi ở thùng xe, các trắc thủ Chiêu, Tuyền và Khoa thì có vẻ háo hức. Họ chưa có gia đình, lên trên ấy, cứ địa bàn lạ là vui rồi. Mới có mấy ngày, hơn chục “thằng” B-52 rơi quanh Hà Nội, trên ấy các tiểu đoàn đang đánh tốt, thời cơ cho 72 lại càng nhiều. Khoa làm động tác “vê tay quay” rõ dẻo, biết đâu cơ hội cho kíp 2 lại là Hà Nội.

Nói thì nhanh, nhưng cũng gần hai ngày đêm, Tiểu đoàn 72 mới vào tới Yên Phong (Hà Bắc). Trận địa Đại Chu, nghe thì quen, không ngờ nó ở sâu thế. Ven đường cấp huyện, rẽ qua làng, vào cánh đồng gần cây số nữa.

Những chiếc xe đại xa đỏ quạch bụi đường lùi vào công sự, cắt moóc, chạy ra làng sơ tán. Đạn nạp vào bệ phóng nghe rõ tiếng xích cuộn rào rào. Tiếng búa đóng cọc mát chí chát. Dân quân Yên Phong vào đông, hỗ trợ căng cáp, kéo dây điện thoại cho đài 1, cho xe thông tin tiếp sức nằm ở rìa làng. Trắc thủ kháo nhau, nhiều “em” xinh lắm, con gái Quan họ đấy nhá! Làm sao có những ngày thong thả nữa nhỉ?\

Tuyền nghĩ thầm, tưởng lên Hà Nội thì hay hơn, giữa đồng không mông quạnh thế này, ở Minh Kha còn thích hơn. Nhưng rồi các trắc thủ kíp 2 cũng chẳng còn thời gian mà so bì. Sáng nay chỉnh tham số, chỉnh phương vị chuẩn, huấn luyện cách đánh B-52 gấp gáp. Trưởng xe UNK giao máy sớm, suốt đêm qua các kỹ thuật viên hì hục kiểm tra cáp, “làm tham số”, may sao cơ động hai ngày đường, máy vẫn ngon, đồng bộ các đài, bệ, không có gì phải lo. Điều bất ngờ nhất họ vừa được biết: Kíp 2 vào trực.

Đã suốt mấy tháng qua, kíp 1 bao giờ cũng là “át chủ bài” của Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Chắt. Thực ra tiểu đoàn trưởng nào cũng muốn cho mình có cả kíp 1 và kíp 2 đều tay trong xạ kích. Nhưng khi đối mặt với bọn B-52, người chỉ huy ai cũng muốn “đánh phải chắc thắng”, nên coi trọng kíp đánh tốt, cũng là lẽ thường. Dư luận trong tiểu đoàn xì xào, mấy cậu kíp 2 “đen-ta run” sai số lớn. Chiêu, Tuyền, Khoa biết họ nói về mình. Thực ra trong huấn luyện và chiến đấu với “bọn F”, “bọn A” (máy bay F111 và A6 của Mỹ) vào Hải Phòng, trắc thủ của đoàn Nam Triệu đều rất khá. Không những chuyển trạng thái nhanh mà còn bám bắt mục tiêu trên hiện sóng khá tốt. Phải thừa nhận kíp 1 của 72 cũng giỏi. Trong thành tích bắn rơi tới 35 máy bay của Tiểu đoàn 72, từ ngày nhận khí tài lần đầu đến nay, phần lớn chiến công thuộc về kíp 1. Nhưng đánh bọn B-52 thì… hãy chờ xem!

Buổi đoàn cán bộ Sư đoàn Phòng không Hà Nội đến “nhận quân” và động viên Tiểu đoàn 72 cũng diễn ra chóng vánh. Các chỉ huy nhìn anh em từ xa về, trận địa còn ngổn ngang nên cũng thông cảm.

Bữa ăn trưa hôm ấy ở Tiểu đoàn 72 không thể nói là ngon miệng, dẫu khá nhiều rau và thịt, vì ai cũng hồi hộp với những suy nghĩ mông lung không biết quả đạn mình phóng ra có hạ được B-52 không. Thành thử ai cũng ăn quáng quàng rồi tranh thủ “làm một giấc”. Giấc ngủ giữa trận địa Đại Chu, với các chiến sĩ tên lửa thật quý giá vì đã vạ vật trên xe mất hai ngày trời. Nhưng chỉ được một lúc họ đã phải bật dậy vì tiếng còi báo động hú lên xé tan bầu không khí tĩnh lặng buổi trưa. Lúc đó khoảng hơn 13 giờ.

Trên xe điều khiển, tiêu đồ 5×5 cặp bút chì vào kẽ tay theo hút tốp mục tiêu vào hướng X, cự ly ngắn dần. Lệnh “phát sóng” “sục sạo”, rồi “đồng bộ”… phóng!.. Xe rung lên nhè nhẹ cùng tiếng nổ xé từ ngoài bệ đạn. Cháy rồi! Chỉ trong khoảnh khắc mục tiêu mất dạng trên màn hình trước mặt các trắc thủ. Tiếng hô reo mừng từ bên ngoài lọt cả vào xe. Cả xe chiến đấu hừng hực khí thế chuyển hướng ăng-ten, nhưng lệnh về cấp 2 nhanh chóng truyền về. Nhanh quá! Kíp trắc thủ ai nấy đều hể hả xuống xe. Ngoài kia, trời tháng Chạp vẫn hun hút gió lạnh. Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Chắt mừng lắm, nhìn đồng hồ 13 giờ 36 phút, như thế là vừa triển khai, nhưng khí tài kỹ thuật tốt. Chuẩn, chuẩn! Anh nói ra mồm với Nguyễn Văn Dựng. Thoáng 1 chút chau mày, anh nghĩ gì? Dựng nhìn anh bối rối, không dám hỏi. Ừ! Có thể anh lo mấy xe đạn chưa về, chở từ Ruồn lên đây phải hai ngày, mà chưa có tin gì. Ngoài kia trận địa chỉ còn 2 trái đạn. Đúng ra lúc này đã phải nạp đạn bổ sung rồi.

* * *

Đúng là tuổi trẻ vô tư, niềm phấn khích bắn rơi máy bay F4 khiến các trắc thủ, pháo thủ của Tiểu đoàn 72 xôn xao khắp từ bếp ăn đến cả khi về nhà bạt. Họ đã chia lửa cho Hà Nội từ ngày đầu tiên lên đây. Nhưng niềm khát khao hạ gục B-52 vẫn đau đáu trong lòng các anh. Dựng về, kéo mấy trắc thủ ra nói nhỏ: Trên phê bình tiểu đoàn ta. Sao? Mọi người thắc mắc, gương mặt ai nấy ỉu xìu. Dựng nói giọng nghiêm trọng, bắn rơi bọn F4, trên không khuyến khích, dành đạn đánh B-52. Các đơn vị ở Hà Nội đang khan đạn. Này anh em nhớ nhé, bây giờ không có kiểu bắn bồi, bắn nhồi hai ba đạn nữa đâu nhá!

Trở về nhà bạt, nằm xuống, trắc thủ góc phương vị Tuyền trăn trở lắm. Hôm qua anh tranh luận với mấy người, biết rõ hơn, trận địa này cùng với “thằng” 71 cũng từ Hải Phòng lên, có nhiệm vụ đánh bên sườn các đường bay vào Hà Nội. Đánh theo phương pháp P hay phương pháp T thì cũng phải “vê” tay quay giữ cho thao tác ổn định. B-52 cơ động hướng không nhiều, nhưng sai một ly đi một dặm.

Còn Nguyễn Văn Chiêu, trắc thủ góc tà thì khẽ nhắm đôi mắt, tay múa nhẹ như “lên đồng”. Nhưng không phải múa, anh đang hình dung ra khi “thằng B” vào đến cự ly bị phát hiện thì dẻ sóng góc tà của anh phải hạ xuống ra sao, đều đều, chắc chắn thế nào. Rồi khi chuyển về bám tự động, bàn tay mở ra sao để ấn tay quay “ngọt” nhất…

Cũng là sinh viên vào bộ đội tên lửa như Chiêu và Tuyền, Khoa hình dung và nắm được các phương pháp bám sát, lái đạn. Bắn khi nhìn thấy mục tiêu và bắn khi không nhìn thấy mục tiêu, đều là phương pháp bắn có cơ sở khoa học. Có điều là nhiễu B-52 nặng quá, trắng đục màn hình… thời cơ quan trọng lắm. Khoa hiểu sĩ quan điều khiển Dựng, người chỉ huy của anh cũng trăn trở không kém. Trên Hà Nội, các tiểu đoàn bắn theo dải nhiễu khá tốt…

Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Chắt không giấu anh em lời nhắc nhở của cấp trên, về việc các anh đã “cao hứng” bắn rơi tốp F4. Nói xong anh thấy lòng nhẹ hơn. Cấp trên có lý, là cấp chỉ huy hướng đánh trả, chỉ huy chiến dịch tổng hợp, chỉ huy lực lượng chiến dịch, họ có nỗi lo lớn. Còn cấp tiểu đoàn như anh là cấp chỉ huy xạ kích, phải lo bắn cho trúng. Trên giao cho anh quản lý hướng chủ yếu là NN.

Bắn theo phương pháp nào là hợp lý? Chỉ câu hỏi vậy thôi mà anh phải nhiều đêm mất ngủ. Khi phát hiện chính xác dải nhiễu, đánh theo phương pháp 3Đ, liệu có chắc ăn. Còn bắn theo phương pháp T, các trắc thủ của anh có bám sát tốt? Dẫu là kíp 2 tham gia trực trận này, anh hiểu rõ từng người, họ vốn là các sinh viên kiến thức về hình học không gian. Dựng, sĩ quan điều khiển vốn là sinh viên, Dựng và anh đã nhiều lần “đồ giải”, đưa ra các tình huống B-52 vào. Theo các phương pháp mà cấp trên dày công tập huấn, các anh chú trọng phân tích tính chất mục tiêu, tốc độ và đường bay cụ thể.

Trên hướng NN các anh được phân công chặn địch, nó sẽ vào tới đâu? Đâu sẽ là cự ly “nó” chuyển góc bay? Nếu là cự ly A, nếu là cự ly B… các giả định được đưa ra. Nguyễn Văn Chắt tin ở anh em. Địch đánh vào Hải Phòng, thời gian xuất hiện ngắn mà anh em còn bình tĩnh bám sát. Ở trên này, thời gian B-52 xuất hiện chắc chắn dài hơn, các tốp hộ tống cũng vậy. Động thái của các tốp hộ tống, cự ly giãn cách… Phải làm chủ cự ly phóng. Chắt trao đổi cùng anh em khá kỹ. Cự ly, cự ly! Các trắc thủ của Chắt tuy chỉ là hạ sĩ quan, chưa qua trường bài bản, nhưng qua luận giải, Chắt biết cái đầu của họ đã mang cách nghĩ phân tích già dặn hơn chức trách. Cách nghĩ của cấp chỉ huy bắn.

Trong chiến đấu, có những “binh sĩ” hiểu ý định của chỉ huy, hành động ăn ý, thì đó là niềm vui, là phúc chứ không bao giờ là họa.

Trận đánh của Tiểu đoàn 72, đối mặt với B-52 trên bầu trời Hà Nội vào đêm hôm sau 27-12. Lúc 23 giờ 1 phút, sau khi tiểu đoàn vào cấp 1, lệnh trên giao cho Tiểu đoàn 71 và 72 tiêu diệt tốp B-52 lao vào đánh phá Hà Nội.

Nhìn lên bảng tiêu đồ, Chắt thấy phương vị 190 có 3 tốp B-52 đang vào gần. Tiểu đoàn 72 được lệnh diệt tốp 491. Anh suy tính rất lung. Lúc đầu anh xác định sẽ đánh theo phương pháp 3Đ, nhưng Chắt hiểu ý định của trên khi giao cho tiểu đoàn anh chặn hướng chính, nếu bắn ở xa theo phương pháp 3Đ không chắc, Lập tức Chắt quyết định để mục tiêu vào cự ly, theo anh là “đắc địa” nhất, lệnh phát sóng.

Lại nói Dựng, lúc này anh lập tức quay ăng-ten về giẻ quạt 180-21 độ. Quả nhiên tại phương vị 190, trên nền nhiễu đục, Dựng cảm nhận mỗi lúc một rõ có dấu hiệu mục tiêu ở cự ly X km. Không còn nghi ngờ.

Lệnh bắn theo phương pháp T. Lần lượt trắc thủ phương vị, góc tà bật về chế độ bám sát T. Sau đó một khắc, trắc thủ cự ly cũng quyết đoán bật về TĐ.

– Tiêu diệt tốp 491, cự ly B2!

– Phóng!

Một tiếng “cạch” rất lạnh, trái đạn lao lên lừng lững, kéo theo vệt lửa màu cam ngùn ngụt. Ngay sau đó, trái thứ hai cũng phụt lên bám theo, cả trận địa mù mịt khói cam và mùi thuốc đạn. Họ đã bắn bồi trái nữa.

Tất cả các cặp mắt trong xe điều khiển ngắm theo tín hiệu đạn “bắt cửa sóng” bay lên theo quỹ đạo, rất nhanh đạn lao vào mục tiêu gần dần, gần dần rồi nhòe sáng… Chiêu nhìn trên màn hình góc tà, mục tiêu hạ thấp độ cao gấp gáp.

Rơi rồi! Rơi rồi!

Máy bay rơi trên đường Hoàng Hoa Thám (Hà Nội) do Tiểu đoàn 72 bắn hạ. Ảnh tư liệu.

Sĩ quan điều khiển Dựng thở nhẹ một cái thật khoan khoái. Cửa xe UNK bật mở, tiếng hô từ bên ngoài vang động. B52 cháy rồi! Lúc đó là 23 giờ 03 phút đêm 27 tháng Chạp. Chiếc máy bay B52 do Tiểu đoàn 72 bắn rơi tại chỗ. Ta bắt được phi công ngay tại Hà Nội. Hai trái đạn phóng lên tại trận Đại Chu đêm ấy, có ai ngờ là hai trái đạn cuối cùng kết thúc đợt đánh chặn Không quân Mỹ lao vào suốt 12 ngày đêm khét lẹt.

* * *

Sau 40 năm, lời khen ngợi của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp với trận đánh của Tiểu đoàn 72 vẫn còn vang vọng: “Chiến công đặc biệt xuất sắc”. Xuất sắc vì bắn rơi tại chỗ. Các cơ quan chức năng đều xác nhận, chiếc máy bay vẫn còn nguyên hàng chục quả bom. Nếu tốp B-52 đó nó kịp ném ra, nếu… thì Hà Nội bị thêm một vệt bom đau thương biết ngần nào.

Cung lửa bên sườn Hà Nội đã phát huy uy lực của một trận địa lợi hại, chặn đứng các tốp B-52 đánh vào từ phía Đông Nam.

Chúng tôi đã về thăm quê của sĩ quan điều khiển Nguyễn Văn Dựng. Anh quê ở xã Việt Ngọc, Tân Yên, Bắc Giang, là sinh viên Trường Đại học Nông nghiệp, nhập ngũ năm 1966. Dựng về Tiểu đoàn 72 năm 1968, nơi có kinh nghiệm đánh máy bay trinh sát bay thấp nổi tiếng toàn quân chủng.

Bí thư chi đoàn xã Kiền Bái, Thủy Nguyên, Hải Phòng là cô Nguyễn Thị Sê, hoa khôi của vùng khi ấy. Trai tài, gái sắc gặp nhau, Dựng-Sê nên duyên vợ chồng. Đứa con đầu của họ sinh năm 1971. Họ có với nhau tới 4 mặt con.

Sau chiến tranh, Dựng được trên cử đi học chỉ huy phòng không ở Liên Xô. Trở về nước, dần dần Dựng được giao chức tiểu đoàn trưởng hỏa lực. Nhưng không may, năm 1986 căn bệnh trọng đã cướp đi cuộc sống của anh.

Gái Hải Phòng về làm dâu miền bán sơn địa Bắc Giang, Sê tần tảo nuôi 4 con thơ dại. Nhưng nghiệt ngã thay, chứng bệnh suy tim cấp chẳng bao lâu lại nhằm vào Sê. Năm 1992, Sê đã đi theo chồng.

Những đồng đội phòng không miền Kinh bắc suốt những năm tháng sau này, luôn quan tâm về tinh thần và chút ít vật chất cho những đứa con của người sĩ quan điều khiển tên lửa hào hoa, can trường ấy.

Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Chắt nay vẫn còn. Ba trắc thủ đã vào tuổi lục tuần. Nguyễn Văn Chiêu hiện là chủ một gia đình tương đối đông đúc và đầm ấm tại ngõ 43, phố Trung Kính (Hà Nội). Sau khi rời quân ngũ, Nguyễn Văn Chiêu học tiếp đại học và về công tác tại Tổng cục Kỹ thuật vào năm 1979. Năm 1986, anh chuyển ngành về Bộ Công nghiệp nhẹ và làm việc tại Nhà máy Cơ khí Quang Trung.

Nguyễn Văn Tuyền thì sau khi xuất ngũ tiếp tục học và trở thành giáo viên. Anh tham gia giảng dạy tại Đại học Thương mại, đến năm 2002 thì chuyển về Đại học Bách khoa, nơi anh đã từ biệt giảng đường đi chiến đấu. Nguyễn Văn Tuyền từng giữ cương vị Trưởng khoa Mác – Lê-nin của đại học có tiếng này.

Trắc thủ phương vị Trương Đăng Khoa hiện công tác tại Tỉnh ủy Thái Bình. Mỗi người đều có một cuộc sống riêng với những bận rộn về gia đình và xã hội. Họ có chung niềm tự hào bình dị, được chia lửa cùng Hà Nội những ngày gian lao ấy.

TRẦN DANH BẢNG
qdnd.vn

Khống chế sân bay quyết liệt, vẫn bị “đo ván”

QĐND Online – Khi lập kế hoạch chiến dịch tập kích đường không vào Hà Nội, Bộ chỉ huy không quân chiến lược Hoa Kỳ (SAC) biết rõ không quân nhân dân Việt Nam có Mig 21, mang theo 2 tên lửa. Đây là loại máy bay chiến đấu có ưu thế về khả năng lấy độ cao trong thời gian rất ngắn 225 m/s. Thực tế qua những lần đối mặt với biên đội Mig 21, Mỹ thấy rõ cách đánh rất táo bạo, nguy hiểm của những chiếc phi cơ này.

Từ nhận định đó, không quân Mỹ quyết tâm khống chế không quân Việt Nam ngay tại các sân bay, nhằm vô hiệu hóa Mig 21. Trước hết các đòn không kích sẽ được tập kích xuống các sân bay của Hà Nội và khu vực phụ cận, nhằm tước đi khả năng đưa lực lượng không quân Việt Nam vào chiến đấu.

Ngay ngày đầu tiên của chiến dịch, các sân bay chủ yếu như Nội Bài, Yên Bái, Hòa Lạc, Kiến An và sân bay Gia Lâm đã phải hứng chịu các trận không kích.

Sơ đồ sân bay Nội Bài bị bom B-52 và F-111 bắn phá đêm 18-12-1972 (Ảnh: tài liệu Nga)

Tối 18-12-1972 , 22 trái bom rơi trúng đường băng sân bay Nội Bài và 5 trái rơi trúng đường lăn. Còn tại sân bay Yên Bái, 4 quả bom rơi trúng đường băng và 7 quả trúng đường lăn; sân bay Hòa Lạc có 8 trúng đường băng và 14 trúng đường lăn; Kiến An có 9 trúng đường băng và 15 trúng đường lăn…

Ngoài đường băng và đường lăn, một số hạng mục công trình của sân bay cũng bị thiệt hại nặng (nhà chứa máy bay, đài kiểm soát không lưu, các dãy nhà công vụ), nhiều đường dây thông tin liên lạc, hệ thống các đài ra-đa kiểm soát cất hạ cánh (РСП) và thiết bị chiếu sáng các sân bay bị đánh hỏng.

Chi tiết về trận đánh vào Nội Bài, sân bay chính của Mig 21 được tóm lược như sau: Hồi 18 giờ 50 phút, 19 giờ 10 phút và 19 giờ 20 phút đêm 18-12-1972, các máy bay tiêm kích bom F-111A hoạt động đơn lẻ ở độ cao cực thấp, tấn công bất ngờ xuống sân bay. Tuy nhiên, đòn tấn công không mấy hiệu quả. Về tổng thể, sân bay không bị mất mức sẵn sàng chiến đấu.

Hồi 19 giờ 54 phút, tốp đầu tiên các máy bay ném bom chiến lược (3 chiếc B-52) trong đội hình “so le hàng ngang” giãn cách từ 700 đến 800m, trên độ cao 10.600m, cắt góc 650 so với trục đường băng đã ném bom xuống đường băng và đường lăn. Dải trúng bom oanh tạc từ mỗi máy bay B-52 có kích thước 150x1000m.

Hồi 19 giờ 57 phút, tốp thứ hai (3 chiếc B-52) cũng với đội hình “so le hàng ngang” trên cùng độ cao 10.600m, dưới góc 500 so với trục đường băng đã tiến hành trận không kích thứ hai.

Kết quả các đợt ném bom là 22 trái bom rơi trúng đường băng và 5 trái rơi trúng đường lăn chính. Đường băng sân bay Nội Bài bị vô hiệu hóa gần như suốt thời gian chiến dịch.

Thực hiện nhiệm vụ này “hăng” nhất là các máy bay tiêm kích bom F-111A, chúng chỉ hoạt động vào ban đêm.

Các máy bay F-111A tiếp cận sân bay ở độ cao 60m đến 300m, hướng bay cắt ngang đường băng ở góc từ 30 đến 600. Tuy nhiên, trong suốt cả chiến dịch, không có một máy bay Mig 21 nào của Không quân nhân dân Việt Nam tại các sân bay bị phá hủy hoặc bị hư hỏng. Đó là nhờ công tác phân tán, sơ tán máy bay trên các sân bay rất tốt. Cùng với việc được cất dấu, ngụy trang bí mật, còn nhờ các công trình trú ẩn được bảo đảm kỹ thuật tốt.

Chủ động tiến công B-52, Không quân nhân dân Việt Nam đã bố trí ở các sân bay xa Hà Nội, xuất kích đêm, chiếm độ cao bất ngờ lao vào chặn đội hình B-52 Mỹ. Như chiến công của biên đội Phạm Tuân, đêm 27-12-1972 (ngày thứ 10 của Chiến dịch), xuất kích từ sân bay Yên Bái, đã bắn rơi một B-52.

Ngoài ra, còn phải kể đến hàng vạn ngày công của nhân dân các tỉnh Yên Bái, Vĩnh Phúc, góp phần kịp thời “vá đường băng” suốt các đêm cuối tháng 12, để không quân ta bất ngờ bay lên, đánh thắng, trở về.

Đường Văn (sưu tầm)
qdnd.vn

Trận đầu củng cố niềm tin

QĐND – Lớp trẻ chúng tôi may mắn được hòa mình vào cuộc gặp mặt thân mật mang nhiều ý nghĩa của các cựu chiến binh (CCB) Trung đoàn Tên lửa 263 – Trung đoàn đã vinh dự lập nên chiến công bắn hạ tại chỗ chiếc máy bay B-52 đầu tiên của đế quốc Mỹ trên chiến trường miền Bắc, tạo niềm tin và cơ sở kinh nghiệm cho quân, dân ta làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ” trên không năm 1972, được tổ chức vào sáng 22-11, tại Bảo tàng Phòng không – Không quân. Mặc dù 40 năm đã trôi qua, nhiều người đã ở vào tuổi xưa nay hiếm, nhưng khi gặp lại, các CCB vẫn vanh vách gọi tên nhau và những kỷ niệm về ngày chiến đấu gian khổ, oanh liệt cứ như những thước phim tài liệu hiện về.

Hồi tưởng lại những ngày tháng hào hùng ấy của đơn vị, ông Đào Đoàn Thế Hùng, Trưởng ban liên lạc truyền thống CCB Trung đoàn 263, nguyên cán bộ tác chiến Trung đoàn giai đoạn 1972 nhớ lại: Trung đoàn Tên lửa 263 được thành lập vào tháng 5-1966. Đây là giai đoạn vô cùng ác liệt của cuộc chiến đấu đánh trả sự phá hoại của không quân Mỹ ở miền Bắc. Thực hiện chủ trương tác chiến linh hoạt, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn đã cơ động khắp địa bàn Thủ đô Hà Nội. Năm 1967, biết trước ý đồ của giặc Mỹ sẽ dùng B-52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương miền Bắc, thực hiện lời dạy của Bác Hồ “muốn bắt cọp phải vào tận hang cọp”, Trung đoàn 263 được cấp trên điều vào tuyến lửa Nghệ An, Quảng Bình để phục kích, nghiên cứu phương pháp đánh B-52. Ngay từ tháng 9-1967, khi máy bay B-52 của Mỹ đánh phá ra miền Bắc và các tỉnh phía Nam Khu 4, các đơn vị phòng không của ta đã tham gia chiến đấu với B-52 nhưng phần lớn các trận đánh đều chưa đạt được hiệu quả, chưa bắn rơi tại chỗ máy bay B-52. Trong những ngày tháng 10 và nửa đầu tháng 11 năm 1972, máy bay B-52 tiếp tục đánh phá ngã ba Đồng Lộc, ngã ba Vọt và các khu căn cứ, làng mạc ở các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và gây ra nhiều tổn thất, đau thương cho quân và dân ta. Đáp trả lại những tội ác kinh hoàng của kẻ thù, các lực lượng phòng không của ta đã tổ chức nhiều trận chiến đấu với B-52 và được cấp trên đánh giá đạt hiệu suất tốt. Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa đạt được mục tiêu bắn hạ tại chỗ “Pháo đài bay” của Không quân Mỹ. Vì thế trận đánh thắng B-52 đêm 22-11-1972 đã trở thành trận chiến thắng vô cùng ý nghĩa không chỉ đối với cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 263 mà còn đối với quân và dân cả nước. Đây là trận chiến đấu đầu tiên chúng ta đã bắn rơi B-52 tại chỗ mà đế quốc Mỹ phải thừa nhận. Ngay sau sự kiện trên xảy ra, hãng thông tấn UPI của Mỹ đã viết: “Một chiếc B-52 đã bị tên lửa Bắc Việt bắn trúng và rơi xuống biên giới Lào-Thái Lan, cách sân bay U-ta-pao (Thái Lan) 64km”… Theo ông Hùng và các CCB, trước đó đã có tư tưởng bi quan cho rằng, với vũ khí trang bị hiện có chúng ta không thể bắn hạ B-52… Do đó trận chiến đấu đầu tiên bắn rơi tại chỗ B-52 đã góp phần hết sức quan trọng củng cố niềm tin vững chắc cho bộ đội ta.

Các CCB Trung đoàn Tên lửa 263 bên xác máy bay B-52 bị bắn rơi năm 1972, hiện trưng bày tại Bảo tàng Phòng không – Không quân

Chia sẻ về những kinh nghiệm rút ra từ chiến thắng của Trung đoàn Tên lửa 263, Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, nguyên Phó tư lệnh về Chính trị Quân chủng PK-KQ, Trưởng ban liên lạc Bộ đội Tên lửa cho biết: Sau chiến thắng oanh liệt ngày 22-11-1972 của Trung đoàn 263, các kinh nghiệm quý báu và bài học bắn rơi máy bay B-52 đã nhanh chóng được Quân chủng PK-KQ tổ chức rút kinh nghiệm và phổ biến cho các đơn vị cùng học tập. Đó là những kinh nghiệm về kỹ thuật, chiến thuật, như: Đánh tập trung, dùng lực lượng từ 2 tiểu đoàn tên lửa trở lên cùng đánh một lúc; tổ chức bố trí trận địa ôm sát mục tiêu ở cự ly xạ kích tốt; Nhất quyết phải phân biệt và loại trừ được các sóng nhiễu từ các máy bay B-52 giả, bắt chính xác các giải nhiễu của B-52; xác định tín hiệu B-52 trên nền nhiễu và tìm cách chống lại tên lửa của địch nhằm đối phó với các đài ra-đa điều khiển tên lửa của ta… Theo Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, chiến công và bài học kinh nghiệm của Trung đoàn 263 không chỉ giúp củng cố vững chắc niềm tin cho cán bộ, chiến sĩ PK-KQ mà còn với quân và dân cả nước trong nhiệm vụ bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng. Chiến thắng ấy đã góp phần bổ sung nghệ thuật tác chiến, phương án chiến đấu để làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” những ngày sau đó.

Mặc dù bị thua đau nhưng với bản chất hiếu chiến và tàn bạo, từ ngày 18 đến ngày 30 tháng 12-1972, đế quốc Mỹ tiếp tục tiến hành chiến dịch tập kích đường không chiến lược chủ yếu bằng máy bay B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng… nhưng chúng đã bị thất bại thảm hại. Do đó 7 giờ 30 phút ngày 30-12-1972, Tổng thống Mỹ buộc phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc từ Vĩ tuyến 20 trở ra và đề nghị gặp lại đoàn đàm phán của Chính phủ Việt Nam tại Pa-ri để bàn về hiệp định chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Trong khi chờ đợi đến ngày ký hiệp định, đế quốc Mỹ lại huy động máy bay B-52 đánh phá vô cùng ác liệt tại địa bàn Khu 4 nhằm mục đích cắt đứt sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc vào tiền tuyến lớn miền Nam và tàn phá các khu căn cứ của ta. Hồi 3 giờ ngày 14-1-1973, Trung đoàn 263 lại tổ chức cho 2 tiểu đoàn 43 và 56 đánh tập trung vào 1 tốp B-52 và bắn rơi tại chỗ 2 chiếc trên địa bàn các huyện Thanh Chương, Nam Đàn (Nghệ An). Đây cũng là hai chiếc máy bay B-52 bị bắn rơi cuối cùng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta.

Có thể nói trận đánh đầu tiên bắn rơi tại chỗ B-52 và trận chiến cuối cùng với B-52 bắn rơi tại chỗ 2 chiếc là những kỷ niệm chiến đấu không bao giờ quên của những chiến binh Trung đoàn Tên lửa 263. Chiến công bắn rơi chiếc máy bay B-52 đầu tiên của không quân Mỹ trên bầu trời miền Bắc đã để lại cho chúng ta nhiều bài học quý báu. Nhưng cũng theo các CCB Trung đoàn Tên lửa 263 Anh hùng, giá trị hơn cả là bài học về xây dựng, củng cố niềm tin chiến thắng cho bộ đội và nhân dân. Chính niềm tin vững chắc, tinh thần quyết thắng đã giúp cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 263 tiếp tục lập nên nhiều chiến công góp phần cùng quân và dân cả nước làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975. Và theo Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay bài học đó vẫn còn nguyên giá trị, đặc biệt trong điều kiện tác chiến công nghệ cao.

Bài và ảnh: MAI CHU ANH
qdnd.vn

Bài hát ra đời cạnh hầm trú ẩn

Cuộc sống – Trang viết

QĐND – Ở tầm tuổi 82, nhạc sĩ Phạm Tuyên vẫn rất nhanh nhẹn, giọng nói khoan thai lôi cuốn người nghe. Nhân dịp kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” và kỷ niệm 2 năm thành lập CLB Bồi dưỡng tài năng trẻ, Ban Giám hiệu Trường THCS Đoàn Thị Điểm (huyện Yên Mỹ, Hải Dương) đã trân trọng mời nhạc sĩ Phạm Tuyên về nói chuyện. Ông hào hứng kể cho lớp trẻ nghe chuyện sáng tác bài hát “Hà Nội-Điện Biên Phủ” vào tháng 12-1972 ở ngay cạnh hầm.

“Tôi vẫn nhớ mãi chiều tối hôm viết bài bài hát này. Hôm đó, tôi ngồi trực chiến cạnh hầm trú ẩn ở Đài Tiếng nói Việt Nam, phố Quán Sứ, Hà Nội. Sau đêm 26-12-1972, đêm máy bay B-52 Mỹ ném bom rải thảm khu phố Khâm Thiên, tàn sát dã man khu dân cư lao động. Thời điểm hôm ấy chỉ có mình tôi duy nhất là nhạc sĩ trực ở Đài. Những đêm hôm trước, tôi được tận mắt chứng kiến tên lửa của bộ đội ta bay lên lao trúng vào B-52 của địch; máy bay bốc cháy sáng rực bầu trời Thủ đô. Nhiều người dân trèo lên nóc hầm reo hò khi nhìn thấy B-52 bốc cháy, ai cũng phấn chấn, tự hào”.

Và rồi bài hát “Hà Nội-Điện Biên Phủ” được nhạc sĩ viết ngay cạnh cửa hầm. Trong cái ác liệt của chiến tranh, nhưng ông đã cảm nhận và hòa cảm xúc niềm tin chiến thắng của quân và dân Hà Nội vào âm nhạc để giai điệu bài hát tự xuất thần, vang lên lời ca hùng hồn, như những hồi kèn thúc giục đoàn quân tiếp tục ra trận. Lời ca nói lên niềm tự hào của quân, dân Thủ đô đã trừng trị đích đáng lũ máy bay B-52 của giặc.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã tìm được câu ý ẩn dụ so sánh, mang ý nghĩa tầm vóc lịch sử thời đại, trận Hà Nội đánh thắng máy bay B-52 năm 1972 với trận đánh quyết định chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954. Ông đã viết được ca từ tuyệt vời vào bài hát: “Bê năm hai tan xác cháy sáng bầu trời, hào khí Thăng Long ánh lên ngời ngời, rồng ta lao vút tới… Hà Nội ơi, đây Thăng Long, đây Đông Đô, đây Hà Nội, Hà Nội của chúng ta. Trong trận Điện Biên mới oai hùng, sáng rực hào quang chiến thắng… Một Điện Biên sáng chói, Hà Nội ơi”.

Sáng tác xong bài hát này, Phạm Tuyên mang hát cho ca sĩ Mạnh Hà và Trần Thụ nghe, người đệm đàn piano là nhạc công Hoàng Mãnh. Anh em nghe xong, rất thích giai điệu và lời ca bài hát. Sau đó, nhạc sĩ đưa ngay cho Đoàn ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam dàn dựng và thu thanh bài “Hà Nội-Điện Biên Phủ”. Bài hát được phát trên sóng liên tục trong suốt thời kỳ đó. Trước đó mấy hôm, tối 23-12-1972, cũng tại căn hầm trên phố Quán Sứ, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã thức thâu đêm, viết dưới làn bom đạn B-52 bài hát “Hà Nội những đêm không ngủ” với giai điệu hào hùng và sâu lắng: “Đêm nay trời Hà Nội vang rền tiếng súng, lửa rực cháy sáng khắp phố phường yêu dấu. Lửa trừng trị Bê năm hai, rực bầu trời đêm Thăng Long. Lửa hờn căm bao nung nấu…”.

NAM HOÀNG
qdnd.vn

Phi đội bay đánh đêm

QĐND – Nhà thơ, Đại tá phi công Nguyễn Công Huy sinh năm 1947, quê ở huyện Thường Tín, hiện ông ở Khu tập thể Quân đội, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ông nguyên là Phó sư đoàn trưởng, Tham mưu trưởng Sư đoàn Không quân 371, cựu phi công Đại đội bay đánh đêm (sau này là Phi đội 5) trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Ngày 26-6-1972, Công Huy đã lập công bắn rơi một chiếc F4 trên bầu trời tỉnh Hòa Bình.

Nhớ lại những kỷ niệm không quên về chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, trong đó, bộ đội không quân đã góp công bắn rơi 2 máy bay B-52, ông xúc động kể:

– Tháng 7-1968, cấp trên quyết định thành lập Đại đội bay đánh đêm. Đây là cái nôi nuôi dưỡng, trưởng thành của nhiều phi công xuất sắc như: Phạm Tuân, Vũ Đăng Kính, Vũ Xuân Thiều, Đinh Tôn, Hoàng Biểu, Đặng Xây…

Năm 1970, đội ngũ phi công của Đại đội bay đánh đêm đã nhận nhiệm vụ chính, cơ động vào Khu 4, ém quân ở sân bay dã chiến Thọ Xuân (Thanh Hóa) và Đồng Hới (Quảng Bình), tham gia chiến đấu bảo vệ tuyến đường vận tải chiến lược 559, tìm đánh B-52 trên vùng trời Bình Trị Thiên và Đường 9-Nam Lào. Tháng 8-1970, Đại đội trưởng Đinh Tôn, Đại đội phó Hoàng Biểu, phi công Đặng Xây và Vũ Đình Rạng đã tham gia vào đoàn nghiên cứu cách đánh B-52 trên vùng trời thuộc địa bàn Khu 4. Sau nhiều ngày nghiên cứu, bộ đội không quân ta tìm ra cách đánh máy bay B-52, rồi xây dựng phương án và tổ chức luyện tập. Theo phương án được xây dựng, đội ngũ phi công Đại đội bay đánh đêm say mê tập luyện từng giai đoạn: Từ việc phát hiện B-52 thế nào, có cần mở ra-đa hay không, mở ở cự ly bao nhiêu, bay tránh lực lượng tiêm kích yểm hộ ra làm sao, tiếp cận thế nào và phóng tên lửa ở cự ly nào thì hiệu quả nhất, phóng mấy quả? Máy bay mình thoát ly ra khỏi trận địa về hạ cánh thế nào?… Các tình huống huấn luyện rất chi tiết, tỉ mỉ và chính xác.

Nụ cười sau một chuyến xuất kích của Đại đội bay đánh đêm. Ảnh tư liệu

Đêm 20-11-1971, máy bay do Vũ Đình Rạng điều khiển cất cánh từ sân bay Anh Sơn đã bắn bị thương một chiếc B-52 của giặc. Trận đánh này là chiến công đầu tiên của không quân ta đánh B-52. Trận đánh khẳng định: Không quân ta có thể tiêu diệt được pháo đài bay B-52 của giặc Mỹ.

Sau đó, nhiều phi công thuộc Đại đội bay đánh đêm đã liên tục mai phục, xuất kích chiến đấu nhưng chưa lần nào gặp được B-52. Những phi công cơ động làm nhiệm vụ săn B-52 nhiều nhất gồm: Nguyễn Đăng Kính, Vũ Đình Rạng, Đặng Xây, Trần Thông Hào, Trần Cung và Vũ Xuân Thiều. Sau này có Phạm Tuân, Nguyễn Ngọc Thiên, Bùi Doãn Đô, Nguyễn Khánh Duy, Nguyễn Đức Chiến, Đặng Vân Đình… Các phi công bay đánh đêm của ta khi đó không nhiều, chỉ khoảng 10 đồng chí.

Từ những ngày đầu năm 1972, Đại đội bay đánh đêm cùng với Trung đoàn cơ động vào sân bay Thọ Xuân đóng quân, làm nhiệm vụ tác chiến ở vùng trời Khu 4, đồng thời sẵn sàng chi viện cho Trung đoàn Không quân 927 ở sân bay Đa Phúc. Phi công Vũ Xuân Thiều và Nguyễn Ngọc Thiện được chuyển biên chế về Trung đoàn 927. Các phi công bay đánh đêm đã trực chiến và nhiều lần xuất kích, nhưng chưa ai bắn rơi được chiếc máy bay nào của địch. Vì thế, nhiều người có tư tưởng muốn được chuyển sang bay ngày, để được đánh ban ngày, để lập chiến công. Nhưng lực lượng bay đêm vẫn phải giữ nhiệm vụ quan trọng là đánh máy bay B-52.

Tháng 12-1972, trực chiến báo động chuyển cấp xuất kích chiến đấu. Tranh thủ những lúc rảnh rỗi xen kẽ giữa các lần báo động, phi công ta vẫn ngồi ghi nhật ký, viết thư gửi về gia đình và người thân. Rất nhiều dòng nhật ký đã phải bỏ dở; nhiều bức thư phải ngắt quãng dừng lại giữa chừng vì có lệnh báo động, vì người viết phải bay xuất kích.

Vũ Xuân Thiều cũng có lần viết dở lá thư như vậy. Lá thư anh viết ngày 21-12-1972: “Bố mẹ thân yêu! Trải qua hai đêm nặng nề, cái nặng nề của mọi người vì phải đứng nhìn lửa đạn, hết đợt này đến đợt khác máy bay địch rải xuống Hà Nội. Con nghĩ bây giờ không phải là lúc lo lắng cho ngôi nhà mình…”. Đang viết dở lá thư thì Vũ Xuân Thiều nhận lệnh báo động vào cấp, cất cánh và bức thư ấy mãi mãi chỉ viết đến đấy rồi dừng lại…

Đêm 27-12-1972, từ sân bay Yên Bái, Phạm Tuân nhận lệnh cất cánh, bay về hướng Tây Nam. Khi đến độ cao 7000m, anh bay với tốc độ vượt tiếng động và phát hiện B-52 của địch. Đến cự ly phóng tên lửa, Phạm Tuân phóng liền hai quả vào mục tiêu, rồi kéo máy bay mình vọt lên thoát ly và trở về căn cứ hạ cánh.

Những ngày đó, phi công Hoàng Biểu và Thông Hào nhận nhiệm vụ cơ động vào trực chiến ở sân bay Cẩm Thủy. Trong cùng đội bay đêm, Xuân Thiều và Thông Hào thường để chung quần áo và đồ đạc vào chiếc thùng gỗ đựng đầu tên lửa, vì không có đủ thùng cho mỗi người một chiếc. Thỉnh thoảng Xuân Thiều lại soạn thư từ và ảnh của người yêu, đưa cho Thông Hào xem rồi lại cất vào hộp riêng, với nỗi nhớ thương ào đến xao xuyến và bâng khuâng.

Đêm 28-12-1972, Vũ Xuân Thiều trực chiến và xuất kích chiến đấu từ sân bay Cẩm Thủy. Máy bay anh được dẫn đường đến hướng Mộc Châu, Sơn La. Xuân Thiều báo về đã phát hiện được mục tiêu. Nghe anh báo về, mọi người ở nhà hồi hộp chờ đợi, nhưng rồi sau đó là cả một sự im lặng vĩnh viễn. Vũ Xuân Thiều đã bắn rơi B-52 ở cự ly rất gần, do tốc độ bay quá lớn nên không kịp thoát ly, máy bay anh lao thẳng vào đội hình B-52 và anh đã dũng cảm hy sinh. Công Huy nghẹn ngào kể lại hôm ông nhận tin đồng đội mình hy sinh:

– Sáng hôm sau, tôi bay từ sân bay cơ động chuyển về hạ cánh ở sân bay Đa Phúc, thì nhận được tin Vũ Xuân Thiều hy sinh. Đứng ở ngoài sân bay, tay giữ phong thư của Thiều mà nước mắt của mình cứ trào ra đầm đìa. Vậy là bức thư sẽ không bao giờ đến tay người nhận nữa. Mới đây thôi, hai anh em còn ở cùng trung đội bay đêm, rồi tôi chuyển sang đại đội đánh ngày, Thiều ở lại đại đội đánh đêm. Mới hôm rồi Thiều còn gửi trả lại chiếc áo len cho tôi. Thiều cũng mới viết thư cho tôi. Vậy mà…

Các phi công Đại đội bay đánh đêm đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đánh máy bay B-52, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ bầu trời Tổ quốc, trở thành một bộ phận huyền thoại trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”.

HOÀNG NAM
qdnd.vn

“Vùng mù” của máy gây nhiễu

QĐND – Trước thủ đoạn gây nhiễu mới của địch, đầu năm 1972, chấp hành chỉ thị của Bộ Quốc phòng, Viện Kỹ thuật quân sự (KTQS) phối hợp với Bộ Tổng tham mưu và Quân chủng Phòng không-Không quân tập trung nghiên cứu tìm biện pháp chống nhiễu.

Đoàn cán bộ Viện KTQS chia thành 2 nhóm: Nhóm tìm kiếm, thu thập các loại khí tài gây nhiễu và nhóm nghiên cứu. Không quản ngày đêm, cứ nghe tin máy bay địch bị bắn rơi là các cán bộ được giao nhiệm vụ tìm kiếm, thu thập chiến lợi phẩm lại tìm đến để thu thập các loại khí tài gây nhiễu. Đoàn nghiên cứu cũng đến tận các đài ra-đa, các đơn vị tên lửa để nghiên cứu các loại nhiễu của máy bay B52. Tại Quảng Trị, đoàn đã đến Trung đoàn tên lửa phòng không 274 để tìm hiểu các trận đánh B52, các loại nhiễu của máy bay EB-66 và gặp gỡ, tìm hiểu kinh nghiệm của các trắc thủ, các sĩ quan điều khiển tên lửa đã từng bắn rơi B52… Các nhà khoa học của viện cũng trực tiếp hỏi cung tù binh phi công để tìm hiểu thủ đoạn gây nhiễu mà địch sử dụng.

Thiếu tướng Trần Thức Vân.

Sau một thời gian tìm kiếm, ta thu được một máy gây nhiễu ALQ-87 của không quân Mỹ. Đây là loại máy lắp trên các máy bay tiêm kích và cường kích, có khả năng gây nhiễu chặn, nhiễu quét, nhiễu ngắm. Mặc dù bị rơi từ trên cao, các mạch bị hỏng hóc nhiều nhưng chúng tôi vẫn tìm cách cho máy phát nhiễu và đo được công suất, phổ tần, vẽ được sơ đồ phân bố nhiễu trong không gian mặt đất. Chúng tôi cũng khôi phục được đèn phát và nắm được công suất phát của máy, từ đó đã nghiên cứu hiểu rõ cấu tạo, tính năng chiến, kỹ thuật… của máy nhiễu.

Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích cơ chế và nguyên lý hoạt động của máy gây nhiễu, chúng tôi rút ra kết luận: Máy gây nhiễu tuy có cường độ rất lớn, kết hợp được nhiều loại nhiễu nhưng không thể gây nhiễu hoàn toàn, phải có chỗ nhiễu mạnh, chỗ nhiễu nhẹ. Nói cách khác, máy gây nhiễu luôn tồn tại “vùng mù”. Đây là điểm hạn chế “chết người” của máy. Cụ thể: Khi máy bay bay thẳng, phía trước sẽ nhiễu mạnh, phía sau nhiễu nhẹ. Dưới bụng máy bay, đặc biệt khi máy bay lượn vòng sẽ tạo ra “vùng mù” ít nhiễu. Những kết luận này rất quan trọng, giúp bộ đội ra-đa có thể phát hiện mục tiêu trên cơ sở cường độ nhiễu và dẫn đường cho tên lửa tiêu diệt máy bay. Sau khi nghiên cứu các thiết bị gây nhiễu của máy bay B52, chúng tôi thấy ăng-ten máy phát của máy bay B52 cũng tương tự như loại ALQ-87. Các kết luận khi nghiên cứu về máy gây nhiễu ALQ-87 cũng đúng với máy bay B52. Từ kết quả nghiên cứu, bộ đội phòng không đã tìm ra cách đánh máy bay B52 trên cơ sở lợi dụng nhược điểm của hệ thống máy gây nhiễu là tồn tại “vùng mù”, góp phần làm nên Chiến thắng lịch sử “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”.

Chỉ ra được “vùng mù” của máy gây nhiễu là thành công nổi bật của bộ đội ta trong nghiên cứu chống nhiễu. Chính tài liệu của địch sau này cũng đã thừa nhận một trong những nguyên nhân B52 bị bắn rơi là do tồn tại “vùng mù”, đặc biệt là khi bay vòng. Đây là kết quả của quá trình làm việc nghiêm túc, khoa học trên cơ sở kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết với thực tế trên chiến trường.

TRUNG KIÊN (Ghi theo lời kể của Thiếu tướng, GS, TS Trần Thức Vân, nguyên Viện trưởng Viện KTQS, đồng tác giả công trình “Nghiên cứu chống nhiễu trong cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ”)

qdnd.vn

Đêm 21-12-1972: 3 phút, bắn rơi tại chỗ 3 máy bay B-52

Nhật ký Chiến thắng B-52

QĐND Online – Ngày 21-12-1972, Bộ tư lệnh Quân chủng PK-KQ chủ trương kiên quyết sử dụng không quân hiệp đồng với tên lửa đánh B-52. Tên lửa vẫn là lực lượng chủ yếu nhưng không quân phải cất cánh được từ đường băng ngắn hẹp, không đánh được thì tạo điều kiện cho tên lửa đánh. Quân chủng cũng đề nghị Bộ Quốc phòng ra quyết định điều 2 tiểu đoàn tên lửa 71, 72 của Sư đoàn 363 tăng cường cho Hà Nội. Khẩn trương điều lực lượng pháo phòng không từ Thanh Hóa ra kết hợp với không quân bảo vệ tên lửa.

Bị thiệt hại nặng nề trong đêm 20-12, nên không quân Mỹ bắt đầu thay đổi thủ đoạn, xác định tên lửa là đối tượng chủ yếu của B-52.

Ban ngày, địch sử dụng 180 lần chiếc máy bay chiến thuật của không quân và hải quân đánh phá ga Hàng Cỏ và Sở Công an Hà Nội, nhà máy điện Yên Phụ, Bộ Giao thông Vận tải, cầu Phủ Lý và 6 đợt đánh vào khu vực thị xã Thanh Hóa.

3 máy bay B-52 đã bị bộ đội tên lửa tiêu diệt trong đêm 21 rạng sáng 22-12-1972. Ảnh tư liệu

Đêm 21 rạng sáng 22-12, địch huy động 24 lần chiếc B-52 và 36 lần chiếc máy bay chiến thuật hộ tống vào đánh sân bay và bệnh viện Bạch Mai, Giáp Bát, Văn Điển…Ngoài ra, 30 lần chiếc máy bay F-4, F-105 vào đánh các khu vực Bắc Giang, ga Kép, sân bay Yên Bái, cảng Hải Phòng, Cát Bi và An Lão.

Phát huy chiến thắng của ba đêm trước, bộ đội tên lửa tiếp tục đánh đạt hiệu suất chiến đấu cao, chỉ trong 3 phút đã bắn rơi tại chỗ 3 chiếc B-52.

Lúc 3 giờ 42 phút, từ trận địa thôn Đại Đồng, xã Đại Mạch (Đông Anh, Hà Nội), Tiểu đoàn 57 (Trung đoàn 261) bắn 2 quả tên lửa, tiêu diệt một B-52 rơi xuống Chợ Bến, Hòa Bình.

Cùng thời điểm đó, tại trận địa Thượng Thụy, Gia Lâm, Hà Nội, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Chấn cùng kíp chiến đấu của Tiểu đoàn 78 (Trung đoàn 257) cũng phóng 2 đạn, tiêu diệt một chiếc B-52 nữa, rơi xuống khu vực huyện Thanh Miện, Hải Dương.

Sau 2 trận trên 3 phút, vào lúc 3 giờ 45 phút, bằng 2 quả đạn, với chế độ bám sát bằng tay, phương pháp điều khiển đón nửa góc, Tiểu đoàn 93 (Trung đoàn 261) bắn rơi chiếc B-52 thứ ba trong đêm. Chiếc máy bay này rơi tại Đuôi Cá, Quỳnh Lôi, Quỳnh Phụ, Thái Bình.

Cũng trong đêm 21 rạng sáng 22-12, quân và dân miền Bắc bắn rơi 2 máy bay F-4, 2 máy bay A-7, một chiếc F-111, một chiếc A-6, một chiếc RA-50 và một chiếc F-105.

HOÀNG HÀ (tổng hợp)
qdnd.vn

Khánh thành và mở cửa tham quan Di tích Hầm chỉ huy tác chiến-Bộ Tổng tham mưu

QĐND Online – Sáng 20-12, Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long Hà Nội tổ chức Lễ khánh thành và mở cửa tham quan Di tích Hầm chỉ huy tác chiến-Bộ Tổng tham mưu, tại Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long (Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội).

Lễ cắt băng khánh thành Di tích

Trước giờ khai mạc, đồng chí Lê Khả Phiêu, Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã tới thăm, động viên, khen ngợi Ban tổ chức về công trình đầy ý nghĩa này. Đồng chí Hồ Quang Lợi, Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội và nhiều nhân chứng lịch sử, nhà khoa học, khách tham quan trong nước và quốc tế đã tới dự. Thiếu tướng Bùi Xuân Nhâm, Phó Cục trưởng Cục Tác chiến (Bộ Tổng tham mưu) đã phát biểu, khẳng định ý nghĩa lịch sử của di tích và tầm quan trọng của việc bảo tồn di tích này.

Các đại biểu tham quan Di tích

Sau Lễ cắt băng khánh thành, các đại biểu đã trực tiếp tham quan các phòng của Di tích, gồm: Phòng giao ban tác chiến (rộng 20m2), là nơi làm việc của trực ban trưởng, có nhiệm vụ tổng hợp tình hình mới nhất của các bộ, báo cáo với cấp trên, nhận mệnh lệnh và phát lệnh. Phòng trực ban tác chiến (rộng 34m2), làm việc liên tục 24/24 giờ, có nhiệm vụ trực tiếp trả lời Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người gọi, hỏi; theo dõi tình hình bảo vệ miền Bắc và chiến sự diễn ra trên các chiến trường Đông Dương; đề xuất với Bộ Tổng tham mưu các phương án tác chiến… Phòng đặt trang thiết bị, cơ động (rộng 10m2), nơi vận hành các hệ thống thông hơi, lọc độc, làm mát, điện đàm… bảo đảm kỹ thuật cho 28 máy điện thoại trong hầm liên lạc thông suốt và kíp trực ban (10 người) sinh hoạt suốt ngày đêm.

Thiết bị tại phòng thiết bị, cơ động của Di tích

Tất cả các sự kiện của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đặc biệt là Chiến dịch chống tập kích đường không chiến lược của đế quốc Mỹ cuối tháng 12-1972, đều có sự tham gia tích cực của Hầm chỉ huy tác chiến- Bộ Tổng tham mưu. Căn hầm đã làm tròn sứ mệnh mà lịch sử giao phó.

Căn hầm nằm trong cụm công trình quốc phòng (1965-1975) được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2005.

Tin, ảnh: PHẠM XƯỞNG
qdnd.vn

Hoạt động kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

QĐND – Ngày 20-12, tại Trung tâm Văn hóa tỉnh Quảng Bình, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Bộ CHQS tỉnh tổ chức khai mạc trưng bày triển lãm ảnh 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Triển lãm gồm 85 bức ảnh được chia thành 4 đề mục, gồm: Chủ trương và quyết tâm chiến lược của Đảng ta; âm mưu và tội ác của đế quốc Mỹ; Hà Nội chiến đấu và chiến thắng; viết tiếp bản hùng ca “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Triển lãm sẽ kết thúc vào ngày 31-12. (Tin, ảnh: MINH TÚ)

Triển lãm thu hút đông đảo người xem.

* Sáng 20-12, tại Hà Nội, Sư đoàn Phòng không 361 (Quân chủng PK-KQ) đã tổ chức kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”. Trong 12 ngày đêm chiến đấu, Sư đoàn Phòng không 361 đã bắn rơi 25 chiếc B-52. Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn Phòng không 361 tiếp tục phát huy truyền thống, tập trung xây dựng đơn vị vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, hoàn thành tốt nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu. (HÀM ĐAN)

* Chào mừng 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, 68 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, Chi đoàn thanh niên và Hội phụ nữ cơ quan Viện Kiểm sát quân sự Trung ương đã tổ chức giải thi đấu giao hữu cầu lông giữa Cơ quan Viện Kiểm sát quân sự Trung ương với Tòa án Quân sự Thủ đô Hà Nội, Cơ quan Thi hành án (Bộ Tổng tham mưu) và Tiểu đoàn 610 (Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội). Kết quả, Viện Kiểm sát quân sự Trung ương đã giành giải nhất, Tiểu đoàn 610 giành giải nhì, Cơ quan Thi hành án (Bộ Tổng tham mưu) và Tòa án Quân sự Thủ đô Hà Nội đồng giải ba. (NGUYỄN VĂN NGHIÊN)

* Cục Kỹ thuật Quân khu 4 phối hợp với các đơn vị, nhà trường, địa phương kết nghĩa trên địa bàn TP Vinh (Nghệ An) tổ chức đêm giao lưu văn nghệ với chủ đề “Bài ca chiến thắng”. 17 màn hát múa, hòa tấu, tốp ca, đơn ca tập trung ca ngợi Đảng, Bác Hồ vĩ đại, tình yêu quê hương đất nước, truyền thống xây dựng, chiến đấu anh dũng của Quân đội nhân dân Việt Nam và chiến công 12 ngày đêm của quân và dân Việt Nam trong Chiến dịch “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” năm 1972. (TRẦN DŨNG)

qdnd.vn

Triển lãm lưu động hình ảnh 40 năm “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”

Bảo tàng Vũ khí (Tổng cục Kỹ thuật):

QĐND Online – Gần 500 cán bộ, giáo viên, học sinh, sinh viên trên địa bàn quận Gia Lâm đã đến dự lễ khai mạc Triển lãm lưu động với chủ đề “Kỷ niệm 40 năm chiến thắng Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” tại Cơ sở 2, Trường Cao đẳng Công nghiệp Quốc phòng do Bảo tàng Vũ khí (Tổng cục Kỹ thuật) tổ chức chiều 20-12.

Đại tá Lại Huy Thực, Giám đốc Bảo tàng Vũ khí cho biết: Triển lãm gồm 19 gian trưng bày với gần 100 ảnh tư liệu và bảng tin bổ trợ phản ánh về chiến dịch phòng không 12 ngày đêm tháng 12-1972 của quân và dân Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương miền Bắc. Các hình ảnh nêu bật sự chỉ đạo của Đảng và Quân đội ta trong chiến dịch phòng không tháng 12-1972; đồng thời tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ ném bom hủy diệt Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương miền Bắc nước ta. Triển lãm cũng giới thiệu những hình ảnh huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của Quân đội và sự phát triển đất nước sau chiến tranh.

Học sinh, sinh viên các trường trên địa bàn quận Long Biên tham quan triển lãm.

Đợt triển lãm nhằm tuyên truyền, giáo dục truyền thống cho cán bộ, chiến sĩ, các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ về tầm vóc, ý nghĩa lịch sử của chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên phủ trên không”; khẳng định sự đúng đắn của đường lối chiến tranh nhân dân, thế trận quốc phòng toàn dân.

Bảo tàng Vũ khí tổ chức triển lãm lưu động từ ngày 20-12 đến ngày 30-12, tại 5 điểm, gồm: Trường Cao đẳng Công nghiệp quốc phòng (Cơ sở 2), Trường Trung cấp Y dược Phạm Ngọc Thạch, Hội Cựu chiến binh quận Gia Lâm, các nhà trường và nhân dân phường Thượng Thanh, Thạch Bàn (quận Long Biên), xã Tiền Phong (huyện Gia Lâm, Hà Nội).

Cùng thời gian này, Bảo tàng Vũ khí tổ chức 18 buổi chiếu phim lưu động, chủ yếu phim tư liệu về chiến dịch phòng không tháng 12-1972 và các bộ phim về đề tài lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng như: Mùi cỏ cháy, Em bé Hà Nội, Áo lụa Hà Đông… phục vụ cán bộ, chiến sĩ các đơn vị thuộc Tổng cục Kỹ thuật, bộ đội và nhân dân đóng quân trên địa bàn quận Long Biên và Gia Lâm (Hà Nội).

Tin, ảnh: ĐÌNH XUÂN
qdnd.vn

Ngày 20-12-1972: Kịp thời điều chỉnh cách đánh, lập công xuất sắc

Ngày này 40 năm trước

QĐND – Sáng 20-12-1972, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng trực tiếp chỉ đạo Quân chủng Phòng không-Không quân rút kinh nghiệm chiến đấu và tổ chức, bố trí lại đội hình chiến đấu. Theo đề nghị của Quân chủng Phòng không-Không quân, Bộ Tổng tham mưu nhất trí điều động hai Tiểu đoàn 71 và 72 của Trung đoàn 285, thuộc Sư đoàn 363 từ Hải Phòng tăng cường cho Sư đoàn Phòng không 361 để đánh máy bay B-52 ở phía đông và đông bắc Hà Nội; điều động các trung đoàn pháo phòng không 262, 223 ở Thanh Hóa, Nam Định cấp tốc ra bảo vệ các trận địa tên lửa tại Hà Nội.

Kíp chiến đấu Tiểu đoàn 77, Trung đoàn 257 bắn rơi tại chỗ 2 máy bay B-52 vào đêm 20, rạng sáng 21-12-1972. Ảnh tư liệu.

Khắc phục tình trạng thiếu đạn tên lửa do không lắp ráp, sản xuất kịp, Quân chủng Phòng không-Không quân chỉ đạo Cục Kỹ thuật điều động Xưởng A31 và cán bộ kỹ thuật của quân chủng, các sư đoàn tăng cường cho các dây chuyền lắp ráp, sản xuất đạn tên lửa; thống nhất chỉ huy tiếp đạn tên lửa cho các tiểu đoàn hỏa lực. Các tiểu đoàn tên lửa thực hiện phương châm bắn tiết kiệm đạn, chủ yếu dành đạn tên lửa bắn máy bay B-52.

Ban ngày, không quân Mỹ sử dụng máy bay chiến thuật tiến hành 60 lần chiếc đánh vào các sân bay: Yên Bái, Hòa Lạc, Nội Bài, Gia Lâm, Bạch Mai và các vị trí trọng điểm ở Hà Nội. Từ 20 giờ ngày 20-12 đến 5 giờ 40 phút sáng 21-12-1972, Mỹ huy động 93 lần chiếc B-52 và 150 lần chiếc máy bay chiến thuật, chia làm ba đợt, trong đó 2 đợt đánh Hà Nội và một đợt đánh lên Thái Nguyên, thị xã Bắc Giang.

Tối 20-12-1972, không quân ta xuất kích đánh máy bay B-52 địch, phá vỡ đội hình máy bay chiến thuật của địch bảo vệ B-52, tạo điều kiện cho các đơn vị tên lửa của ta phát hiện, đánh trúng B-52. Đêm 20-12, rạng sáng 21-12, bộ đội tên lửa và các đơn vị phòng không bảo vệ Hà Nội đã chiến đấu rất xuất sắc, tiêu thụ 35 quả đạn, bắn rơi 7 chiếc B-52, trong đó 5 chiếc rơi tại chỗ; các đơn vị pháo phòng không, dân quân, tự vệ bắn rơi 9 máy bay chiến thuật, trong đó có 1 máy bay F-111.

Với chiến công xuất sắc trên, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp trực tiếp gọi điện thoại biểu dương đội đội phòng không Hà Nội đánh tốt, xứng đáng với lòng tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

XUÂN GIANG (tổng hợp)
qdnd.vn