QĐND – Cách đây đúng 40 năm, ngày 27-1-1973, tại Pa-ri, “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”, gọi tắt là Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, đã được ký kết. Đây là một thắng lợi có ý nghĩa lịch sử của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Hiệp định Pa-ri là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới. Nguồn: Internet
Trong lịch sử đấu tranh của nhân dân ta, chưa bao giờ có cuộc đàm phán nào kéo dài như Hội nghị Pa-ri (từ ngày 15-3-1968 đến 27-1-1973). Ròng rã 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, trải qua 202 phiên họp công khai và 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, Hội nghị Pa-ri là cuộc đấu trí, cuộc thử thách quyết liệt về bản lĩnh giữa nền ngoại giao cách mạng non trẻ với nền ngoại giao lão luyện của một siêu cường hàng đầu thế giới. Những ngày tháng đấu trí cam go, quyết liệt ấy là một trong những hoạt động ngoại giao to lớn, quan trọng của Việt Nam từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, thu hút sự chú ý của dư luận thế giới, đưa cuộc đấu tranh của nhân dân ta trên bàn thương lượng đến thắng lợi.
Hiệp định Pa-ri thắng lợi là kết quả tổng hợp của cuộc đấu tranh trên các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao. Hiệp định đã buộc Mỹ phải thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam. Với Hiệp định Pa-ri, nhân dân Việt Nam đã thực hiện được mục tiêu “đánh cho Mỹ cút”, mở ra một giai đoạn mới, tạo thời cơ thuận lợi cho mục tiêu “đánh cho ngụy nhào”, theo đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Việc ký Hiệp định Pa-ri là tiền đề tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975.
Vượt lên mọi ý nghĩa thông thường, Hội nghị Pa-ri và Hiệp định Pa-ri là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, củng cố niềm tin của nhân dân các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của mình. Cũng chính vì vậy, Hội nghị Pa-ri và Hiệp định Pa-ri đã góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình và công lý, là di sản quý báu của phong trào giải phóng dân tộc nhằm mục tiêu thoát khỏi ách thống trị và can thiệp của nước ngoài.
Để đi đến thắng lợi có tính bước ngoặt này, nhân tố quyết định là sự lãnh đạo sáng suốt, đầy trí tuệ và bản lĩnh của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã đề ra đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đường lối quốc tế độc lập tự chủ, đúng đắn sáng tạo. Vận dụng khéo léo nghệ thuật “Đánh kết hợp với đàm”, hoạt động ngoại giao đã góp phần tranh thủ dư luận thế giới, cô lập kẻ thù, hỗ trợ chiến trường và ngược lại, chiến thắng trên chiến trường đã hỗ trợ to lớn cho công tác vận động quốc tế trong các cuộc đàm phán, buộc địch xuống thang từng bước, làm thay đổi so sánh lực lượng, thế trận trên chiến trường.
Cội nguồn của thắng lợi Hội nghị Pa-ri là tinh thần quyết chiến quyết thắng, là ý chí quật cường đấu tranh bền bỉ bảo vệ chân lý “Không gì quý hơn độc lập tự do” của dân tộc Việt Nam. Cuộc đấu tranh này phản ánh đầy đủ sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trí tuệ của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam, dựa vào chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Hiệp định Pa-ri năm 1973 phản ánh xu thế thắng lợi cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong bối cảnh quốc tế có nhiều thuận lợi nhưng cũng không kém phần phức tạp. Việt Nam đã tranh thủ được cả Liên Xô, Trung Quốc, các nước XHCN, các nước không liên kết, nhân dân thế giới và hình thành trên thực tế “mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược”. Sự hình thành của mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam đã thể hiện phương châm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế, kết hợp ngoại giao Nhà nước với ngoại giao nhân dân. Chính vì thế, Hiệp định Pa-ri còn là kết quả tất yếu của sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân tiến bộ toàn thế giới.
Có thể nói, Hội nghị Pa-ri và Hiệp định Pa-ri mãi mãi đi vào trong lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung và nền ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh nói riêng như một dấu son không bao giờ phai mờ.
40 năm đã trôi qua, đất nước đã có nhiều đổi thay và đang bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế toàn diện, song những bài học của cuộc đấu tranh ngoại giao trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vẫn còn nguyên giá trị thời sự. Đó là bài học về sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng; là bài học về kiên định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, vì lợi ích quốc gia dân tộc; là bài học về tầm quan trọng của thực lực kết hợp với chủ động, sáng tạo; là bài học về đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; là bài học về xây dựng lực lượng, về sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp, các lĩnh vực.
Trong một thế giới đầy biến động hiện nay, bài học về ý chí bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc và tinh thần đoàn kết quốc tế cần được phát huy hơn bao giờ hết. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, trong bất kỳ tình huống nào, việc bảo vệ độc lập, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ mãi mãi là nguyên tắc bất di bất dịch. Lợi ích của quốc gia, của dân tộc là trên hết. Và trong thời kỳ hiện đại, tinh thần, bản lĩnh sáng tạo, linh hoạt cần phải phát huy hơn nữa.
Kỷ niệm 40 năm ký kết Hiệp định Pa-ri là dịp để chúng ta ôn lại chiến công hào hùng của dân tộc, noi theo tấm gương sáng của những thế hệ cha anh, tri ân bạn bè quốc tế, đồng thời vận dụng sáng tạo các bài học lịch sử để triển khai thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kỳ mới.
QĐND
qdnd.vn


Phi công Nguyễn Văn Nghĩa và đồng đội (người thứ hai, từ trái qua phải, hàng sau).
Nhà ngoại giao Nguyễn Khắc Huỳnh.
Cô gái Mỹ cắm hoa vào họng súng của lính cảnh vệ Quốc gia như một biểu tượng mong muốn hòa bình ở Việt Nam
Toàn cảnh hội thảo.
Bà Men Som Ol, Thượng nghị sĩ, Phó Chủ tịch Hội Phụ nữ vì hòa bình và phát triển Vương quốc Campuchia, người đã từng tham gia lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, phát biểu tại hội thảo.
Bà Nguyễn Thị Bình (bên trái), Trưởng Phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, người đã đặt bút ký vào Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam năm 1973, gặp gỡ các chứng nhân lịch sử trong nước và quốc tế.
Bà Võ Thị Thắng, người phụ nữ Việt Nam tiêu biểu với “Nụ cười chiến thắng” trong tấm ảnh lịch sử thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước, phát biểu tại hội thảo.
Ông Andre Menras (tên Việt Nam là Hồ Cương Quyết), hiện là Ủy viên Ủy ban toàn quốc Hội Hữu nghị Pháp – Việt, Chủ tịch Hội Hữu nghị vì sự phát triển và trao đổi giáo dục Pháp – Việt, người đã công khai lao lên đầu tượng đài 2 lính thủy đánh bộ trước trụ sở Quốc hội chính quyền Sài Gòn để phất cao lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và tung truyền đơn đòi quân đội Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam.
Ông Ramsey Clark, cựu Bộ trưởng Tư pháp Mỹ (1967-1969) dưới thời Tổng thống L.B.Johnson, người đã lên tiếng phản đối chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và có nhiều đóng góp trong các hoạt động đoàn kết ủng hộ Việt Nam.
Bà Hélène Luc, Chủ tịch danh dự Hội Hữu nghị Pháp – Việt (chồng là cố Thị trưởng Paris, ông Choisy le Roi, đã có nhiều đóng góp cho các hoạt động đoàn kết hữu nghị với Việt Nam), giới thiệu bức ảnh tư liệu lịch sử của gia đình bà, trong ảnh là bà Nguyễn Thị Bình phát biểu trước hội nghị đàm phán 4 bên ở Paris; với mong muốn tặng lại bức ảnh này cho Bảo tàng Chứng tích chiến tranh Thành phố.
Bà Raymond Dien.
Bác Lâm Bá Châu – người tham gia lãnh đạo phong trào Việt kiều tại Pháp thời đó.
Quang cảnh Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Ảnh tư liệu.
Toàn cảnh Lễ ký kết Hiệp định Pa-ri, ngày 27-1-1973. Ảnh tư liệu.
Quân giải phóng trên đường vào Huế trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu.
Bạn phải đăng nhập để bình luận.