Kỳ 2: Ấn tượng hai cuộc họp báo đầu tiên

Đấu tranh dư luận ở Pa-ri

Vùng giải phóng của các ông là ở đâu?

QĐND – Phiên họp chính thức đầu tiên của Hội nghị Pa-ri về Việt Nam khai mạc lúc 10 giờ 30 phút ngày 25-1-1969 (sau phiên họp trù bị ngày 18-1). Phải nói rằng đây là một sự mở đầu lịch sử đối với nhân dân ta. Tại Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 về Đông Dương, trên thực tế các nước lớn thảo luận và thỏa thuận với nhau. Lần này chính nhân dân ta là người đến Hội nghị trực tiếp đấu tranh với cường quốc số một là Mỹ để tìm ra một giải pháp cho cuộc chiến tranh mà Mỹ đã sa lầy và đang tìm “lối thoát trong danh dự”.

Phiên họp thứ nhất kết thúc lúc 6 giờ chiều với thỏa thuận duy nhất là tuần sau sẽ họp lại cùng ngày, cùng giờ. Ra về các trưởng đoàn phát biểu ngắn tại cổng lớn của Trung tâm, các người phát ngôn và các nhà báo tức tốc phóng xe về nơi họp báo, lúc này còn ở phố Suchet.

Đoàn VNDCCH trả lời báo chí sau một phiên họp ở Pa-ri. Ảnh tư liệu

Cuộc hội nghị bốn bên bắt đầu như vậy đó, các phiên họp về sau này cũng theo một khuôn khổ. Dư luận thế giới chăm chú theo dõi để biết rõ lập trường của các bên và hy vọng về một giải pháp. Ngay từ phiên họp đầu tiên người ta đã thấy chỉ có đoàn Mặt trận và đoàn VNDCCH là đưa ra những đề nghị cụ thể.

Về sau này trong Hồi ký của Tổng thống Mỹ Ních-xơn, ông ta viết rằng “những phiên họp công khai tạo cho người Bắc Việt và đồng minh Việt cộng của họ một diễn đàn hàng tuần trên vô tuyến truyền hình và tác hại rất lớn đối với Mỹ ở tại ngay nước Mỹ”.

Tại cuộc họp báo sau phiên họp đầu tiên, Người phát ngôn đoàn Mặt trận lên tiếng trước. Phòng họp báo lớn ở phố Suchet đã chật ních phóng viên các báo, hãng thông tấn, hãng truyền hình và đài phát thanh, có thể nói khắp các châu lục. Hàng chục ống kính và micro chĩa về chúng tôi, ánh đèn chiếu làm chúng tôi lóa mắt. Tôi ngồi trên bục họp báo, bên phải là chị Phạm Thanh Vân làm thư ký, bên trái là anh Huỳnh Hữu Nghiệp, một nhà trí thức quê miền Nam, đỗ bằng tiến sĩ, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Việt kiều tại Pháp, đến giúp làm phiên dịch cho tôi. Sau này, anh Nghiệp cũng ngồi cạnh tôi trong hầu hết cuộc họp báo. Với cách phiên dịch chuẩn xác và đúng văn phong báo chí anh đã góp phần quan trọng vào việc tranh thủ dư luận.

Tôi tường thuật tóm tắt diễn biến của phiên họp và tuyên bố “sẵn sàng trả lời các câu hỏi nếu có”. Sau một loạt các câu hỏi về chi tiết của phiên họp, bỗng bên tay trái tôi xuất hiện một nhà báo Mỹ mà tôi chưa được biết danh tính. Ông này đưa ra một tấm bản đồ khá lớn và hỏi: “Mặt trận các ông thường khoe là kiểm soát được tới hai phần ba lãnh thổ Nam Việt Nam, vậy ông vui lòng chỉ cho tôi xem trên tấm bản đồ này các vùng giải phóng đó ở đâu?”.

Tôi trả lời: “Điều ông hỏi cũng là điều bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở Sài Gòn muốn biết. Xin ông hãy đọc thông báo quân sự của Mỹ ngày hôm nay, xem máy bay của họ đã ném bom những nơi nào ở miền Nam Việt Nam, những nơi ấy chính là vùng giải phóng của chúng tôi đấy”.

Có tiếng vỗ tay trong phòng họp

Vào thời điểm ấy quân Mỹ và Sài Gòn đang ráo riết phản công, đánh phá ác liệt các vùng giải phóng của ta. Vùng giải phóng ở đồng bằng Liên khu 5 bị thu hẹp lại. Ở Nam Bộ hầu hết các vùng giải phóng đều bị lấn chiếm. Trên toàn miền Nam, Mỹ-ngụy lập 5.800 ấp chiến lược và 6.964 đồn bốt để khống chế đồng bào ta. Vùng giải phóng của ta từ 7,7 triệu dân rút xuống chỉ còn 4,7 triệu người. Còn máy bay Mỹ kể cả B-52 thì trong những ngày ấy ném bom khắp nơi, ngay cả ngoại vi Sài Gòn.

Về sau này, tháng 6-1975, trong một chuyến đưa một đoàn nhà báo quốc tế về thăm tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền Giang) và Bến Tre, tôi được gặp mấy đồng chí lãnh đạo, trước ở R. Có đồng chí vỗ vai tôi và nói: “Lúc tụi này nằm dưới hầm, bom Mỹ nổ trên đầu, mà qua đài BBC nghe cậu nói nơi đó là vùng giải phóng tụi này khoái lắm”.

“Con lạc đà chui qua trôn kim”

Phiên thứ hai của Hội nghị bốn bên họp ngày 31-1-1969 là một phiên đầy kịch tính. Phạm Đăng Lâm đã lên gân đọc một bài phát biểu dài 26 trang, cả dịch ra tiếng Anh và tiếng Pháp mất 2 giờ, góp nhặt tất cả những luận điệu chống cộng rẻ tiền, xuyên tạc nguồn gốc chiến tranh Việt Nam và cuộc đấu tranh của nhân dân ta, nói xấu Mặt trận và chế độ miền Bắc, huênh hoang khoe chế độ Sài Gòn là độc lập, dân chủ, yêu nước. Chúng tôi ngồi nghe vừa buồn cười cho cái trò quạ mượn lông công, vừa tức giận trước những luận điệu láo xược của họ. Phát biểu của trưởng đoàn Mỹ chỉ ba trang, lên giọng dàn hòa, rồi đòi lập lại quy chế khu phi quân sự, rút quân miền Bắc.

Trở lại phòng họp, anh Trần Bửu Kiếm, Trưởng đoàn Mặt trận và anh Xuân Thủy, Trưởng đoàn VNDCCH tập trung nói rõ nguồn gốc cuộc chiến tranh Việt Nam, vạch mặt Mỹ là kẻ đã chà đạp lên Hiệp nghị Giơ-ne-vơ năm 1954, xâm lược miền Nam, lập nên chế độ bù nhìn, thối nát, độc tài của Thiệu, tay sai cho Mỹ. Bộ trưởng Xuân Thủy đã dẫn lời của Tổng thống Ních-xơn đe chính quyền Thiệu khi chính quyền này không chịu cử đại biểu đến Pa-ri, rằng “cái đuôi con chó không thể vẫy được con chó”. Anh phê phán họ là những kẻ “rước voi về giày mả Tổ”.

Phiên họp này mãi đến gần 6 giờ chiều mới kết thúc. Cuộc họp báo sau đó cũng rất sôi nổi. Anh Nguyễn Thành Lê, phát ngôn chính của đoàn VNDCCH đã nói về phản ứng của đại biểu chính quyền Sài Gòn trong phiên họp là “như đỉa phải vôi”. Một nhà báo Pháp hỏi tôi: “Ông nghĩ gì về việc trưởng đoàn Sài Gòn khoe khoang bản chất tốt đẹp của chính quyền họ?”, tôi đáp: “Con lạc đà chui qua lỗ trôn kim còn dễ hơn chính quyền Sài Gòn tự cho mình là độc lập, dân chủ, yêu nước”. (Tôi nhắc đến một điển tích trong Kinh Thánh).

Hôm sau tờ báo công giáo La Croix viết: “Người phát ngôn Việt Cộng cũng dùng đến điển tích trong Kinh Thánh”, còn báo Le Monde thì viết: “VNDCCH và Mặt trận đã dùng mọi danh từ trong vườn thú để ném về phía Mỹ và Sài Gòn”.

Và cứ như vậy, tuần này qua tuần khác, tháng này qua tháng khác, mỗi cuộc họp báo là một dịp để chúng tôi giới thiệu diễn biến hội nghị, tình hình chiến trường và chính trường miền Nam, vạch trần những tội ác, âm mưu, thủ đoạn và luận điệu dối trá của đối phương, làm rõ lập trường chính nghĩa của ta và giải đáp những câu hỏi của các nhà báo. Đối với những người phát ngôn chúng tôi, mỗi cuộc họp báo là một quá trình nghiêm túc theo dõi tình hình và dư luận, chuẩn bị nội dung và dự kiến các câu hỏi và phương án trả lời.

LÝ VĂN SÁU
Nguyên Phát ngôn viên đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị Pa-ri
qdnd.vn

(Còn nữa)

Kỳ 1: “Trận địa mới” ở Pa-ri

Kỳ 1: “Trận địa mới” ở Pa-ri

Đấu tranh dư luận ở Pa-ri

QĐND – Những năm sau này, khi chiến tranh đã chấm dứt và đất nước đã thống nhất, nhiều người bạn hỏi tôi: “Cậu ngồi ở Hội nghị Pa-ri gần 5 năm, họp báo gần trăm lần, nói cái gì năm này qua năm khác mà không sợ lặp đi lặp lại à?”. Câu hỏi vừa dễ, vừa khó trả lời. Suy nghĩ kỹ thì những người làm công tác phát ngôn báo chí chúng tôi, trong chừng ấy năm trời chỉ nói bằng nghìn cách khác nhau một chân lý không gì thay đổi được, đó là: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, người Việt Nam dầu ở miền Nam hay miền Bắc cũng đều có nghĩa vụ thiêng liêng chung lưng đấu cật chống xâm lược Mỹ và tay sai, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc”.

Kỳ 1: “Trận địa mới” ở Pa-ri

Những người phát ngôn không “mặn mà” với họp báo

Ông Oan-tơ Cron-kít (Walter Cronkite), nhà bình luận chính của Hãng truyền hình Mỹ CBS và là một người được coi là có quan điểm khách quan, sau khi đi Sài Gòn để tận mắt xem xét tình hình đã đưa ra kết luận: “Giờ đây có lẽ điều chắc chắn hơn bao giờ hết là cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam đã đi vào chỗ bế tắc… Chỉ còn một cách để người Mỹ thoát khỏi vũng lầy và thương lượng với Hà Nội”. Tuy nhiên, trong nước Mỹ cũng như trên thế giới còn không ít người chưa hiểu rõ nguyên nhân và nguồn gốc của cuộc chiến tranh Việt Nam và chịu ảnh hưởng của những luận điệu của bộ máy tuyên truyền khổng lồ của Mỹ. Nhiều người còn chưa hiểu rõ “Việt cộng” là những người thế nào và chưa tin Việt Nam lại có thể chiến thắng được. Hội nghị Pa-ri về Việt Nam mở ra cho ta một trận địa mới để làm sáng tỏ những vấn đề ấy và tranh thủ sự đồng tình của công luận ngay tại một trung tâm báo chí quan trọng của thế giới là Pa-ri.

Ông Lý Văn Sáu (bên phải), Người phát ngôn đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời tại một cuộc họp báo ở Hội nghị Pa-ri. Ảnh tư liệu

Hội nghị Pa-ri không chỉ là “diễn đàn” đấu trí, đấu lý giữa Việt Nam và Mỹ mà còn là nơi để ta đấu tranh dư luận nhằm kêu gọi và tranh thủ sự ủng hộ của dư luận đối với Việt Nam cũng như vạch trần tội ác của Mỹ và chính quyền tay sai. Hoạt động báo chí của ta tại Hội nghị Pa-ri chính là công cụ đắc lực trong cuộc đấu tranh trên mặt trận dư luận ấy.

Theo thỏa thuận giữa các bên, sau mỗi phiên họp chính thức của hội nghị “bốn bên” sẽ có họp báo của các người phát ngôn các đoàn. Phát ngôn báo chí cho đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng (sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam) qua các thời kỳ có các anh Dương Đình Thảo, Trần Hoài Nam và tôi. Những lúc chúng tôi đi công tác thì các anh Đinh Bá Thi, Trần Văn Tư chủ trì. Về phía đoàn Mỹ, người phát ngôn báo chí thường thay đổi, thời gian đầu là ông Đa-vít A. En-giơ (David A.Engel), rồi tới ông Lê-đô-ga (Ledoga). Nhưng xem chừng họ không “mặn mà” lắm với các cuộc họp này vì thường bị các nhà báo chất vấn tới tấp. Người phát ngôn báo chí của đoàn chính quyền Sài Gòn là ông Nguyễn Triệu Đan, người “bao sân” hầu như suốt mấy năm hội nghị. Cũng có lúc ông Nguyễn Xuân Phong, phó đoàn, họp báo thay ông Đan. Ngoài các cuộc họp báo tại Trung tâm Hội nghị quốc tế, hai đoàn ta là VNDCCH và Mặt trận còn tổ chức các cuộc họp báo riêng, bất thường mỗi khi có sự kiện quan trọng.

Những người bạn cầm bút ở Pa-ri

Nhìn lại gần trăm cuộc họp báo, phải công nhận rằng giới báo chí quốc tế thật là những người kiên nhẫn và nhạy bén. Có những nhà báo không bỏ lỡ cuộc họp báo nào của chúng ta, dần dà họ trở thành những người bạn quen, như ông S. Gên-dơ-bớc (Serges Gainzbourg) hãng AFP, ông Xét-bon (Sedbon) hãng Roi-tơ, ông I-tô (Ito) hãng NHK (Nhật Bản), bà Phlo-ra Lê-uýt (Flora Lewis) của tờ New York Times và nhiều người khác. Các nhà báo cộng sản và cánh tả Pháp và các nước châu Âu là những người bạn trung thành chẳng những ủng hộ mạnh mẽ lập trường chính nghĩa của ta mà còn cung cấp cho ta nhiều thông tin và giúp chúng tôi cách phát biểu và trả lời như thế nào cho hợp với báo chí phương Tây. Trong số họ có những người có điều kiện vào Sài Gòn và đi đến nhiều vùng ở miền Nam, kể cả các vùng chiến sự. Họ thường thông tin cho chúng tôi biết trước khi đi và trở về lại cung cấp cho chúng tôi nhiều tin tức và những bức ảnh quý giá…

Trong số những nhà báo theo dõi hội nghị, tôi muốn được nhắc đến nhà báo và nhiếp ảnh người Pháp Rô-gơ Pích (Roger Pic), nhà báo người Ô-xtrây-li-a Uyn-phrét Bớc-xét (Willfred Burchett), chuyên gia về các vấn đề Đông Dương, cả hai đều đã được Mặt trận mời vào thăm vùng giải phóng. Nhà báo Bớc-xét cho biết, trong một chuyến bay quốc tế ông tình cờ ngồi cạnh một viên đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, làm quen và hỏi thăm về chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ. Ông đại sứ buột mồm nói: “Ồ, đó chẳng qua là việc thay đổi màu da các xác chết!”. “Định nghĩa” này về chính sách dã man của Mỹ, dùng người Việt giết người Việt, nhằm kéo dài chiến tranh, duy trì bè lũ bù nhìn ở Sài Gòn đã được chúng ta nhắc đến để vạch mặt Mỹ, ngụy tại bàn hội nghị mà họ không cách gì chối cãi được.

Cũng xin được nhắc đến chị Ma-đơ-lin Ríp-phô (Madeleine Riffaud), nhà báo của Đảng Cộng sản Pháp từng có mặt ở Việt Nam từ thời kháng chiến chống Pháp, đã được gặp Bác Hồ và vào thăm vùng giải phóng miền Nam. Chị cùng với tổng biên tập Giăng Mo-rô (Jean Moreau) và nhà báo Giăng Ê-min Vi-đan (Jean Emile Vidal) của báo L’Humanité… đã viết nhiều bài nghị luận và phóng sự sắc bén, ủng hộ mạnh mẽ lập trường của ta. Chị Ma-đơ-lin Ríp-phô cũng là người đã sáng tác ra cụm từ “đội quân tóc búi” (L’armée des chignons) mà chúng ta gọi là “đội quân tóc dài” để nói về người phụ nữ miền Nam kiên cường bất khuất đấu tranh chống Mỹ, ngụy.

LÝ VĂN SÁU
qdnd.vn

Nguyên Phát ngôn viên đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị Pa-ri

———

Còn nữa

“Mặt trận” báo chí tại Hội nghị Pa-ri 1973

QĐND – Hội nghị Pa-ri về Việt Nam được mở tại thủ đô Pa-ri của Pháp (bắt đầu từ 15-5-1968 và kết thúc vào 27-1-1973). Đây là sự kiện quốc tế hàng đầu, là chủ đề chính của báo chí và dư luận thế giới thời kỳ đó. “Mặt trận” báo chí và vận động dư luận đã góp phần vào thắng lợi chung trong cuộc đàm phán lịch sử của dân tộc.

“Đưa cuộc chiến tranh Việt Nam vào phòng ngủ của người Mỹ”

Nói như ông Nguyễn Khắc Huỳnh, nguyên Đại sứ, thành viên đoàn đàm phán Việt Nam dân chủ cộng hòa, việc lựa chọn Pa-ri là nơi đàm phán đã tạo thuận lợi lớn cho phái đoàn đàm phán Việt Nam. Bởi lẽ đây là địa điểm khá thuận lợi, có tác động mạnh, kịp thời, sức lan tỏa nhanh chóng đến dư luận xã hội Mỹ, phương Tây và thế giới. Khi đó, phong trào nhân dân thế giới lên án Mỹ, đòi chấm dứt chiến tranh lên cao chưa từng có. Trong dư luận Mỹ, tinh thần chán ghét chiến tranh, đòi phải đàm phán để đưa lính Mỹ về nước cũng ngày càng mạnh mẽ. Như các nhân chứng lịch sử và nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra, chính các phương tiện thông tin đại chúng đã “đưa cuộc chiến tranh Việt Nam vào phòng ngủ của mọi người Mỹ” và làm thức tỉnh lương tri họ.

Trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình trả lời phỏng vấn báo chí báo chí ở Pa-ri. Ảnh: UPI

Cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Mỹ tại Pa-ri còn nhận được sự ủng hộ hoàn toàn tự nguyện của bạn bè quốc tế, trong đó có Liên Xô, Trung Quốc, Đức… và đặc biệt là Chính phủ và nhân dân Pháp. Đảng Cộng sản Pháp đã cho Việt Nam mượn Trường Đảng làm trụ sở của đoàn trong gần 5 năm; cho mượn một số cơ sở làm nơi gặp riêng với Mỹ; cử nhiều người đến giúp đỡ đoàn Việt Nam trong việc đi lại, ăn ở. Nhiều công nhân Pháp, kể cả những người về hưu đã tình nguyện làm công tác bảo vệ suốt ngày đêm cho hai đoàn Việt Nam. Bà con Việt kiều thuộc nhiều thế hệ và ngành nghề khác nhau đã ủng hộ và tích cực phục vụ cuộc đấu tranh của hai đoàn Việt Nam.

Bên cạnh đó, từ Cố vấn Lê Đức Thọ, các trưởng đoàn Xuân Thủy, Nguyễn Thị Bình, cho đến các đoàn viên đều tích cực làm công tác vận động dư luận đi khắp các địa phương trên nước Pháp và các nước khác trên thế giới, dự các cuộc mít tinh, biểu tình, hội nghị, hội thảo về Việt Nam để giới thiệu tình hình và lập trường của Việt Nam. Thông qua các hoạt động vận động quốc tế, chúng ta đã đưa tiếng nói chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đến với mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới, bày tỏ lập trường, nguyện vọng, quan điểm để vận động nhân dân thế giới phản đối Mỹ, ủng hộ Việt Nam đấu tranh tại Hội nghị Pa-ri, để đi tới kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Thua ngay trên mặt trận báo chí

Tại bàn đàm phán Pa-ri, công tác tuyên truyền đối ngoại, vận động báo chí đóng vai trò quan trọng. Phối hợp chặt chẽ với cuộc đàm phán, lực lượng tuyên truyền của hai đoàn Việt Nam đã tiến hành hàng trăm cuộc họp báo, hàng nghìn cuộc tiếp xúc báo chí và gặp gỡ đại diện các tổ chức quần chúng, nhân sĩ, trí thức, cá nhân người Pháp, người nước ngoài, Việt kiều… để tuyên truyền, đấu tranh dư luận và ngoại giao nhân dân ngay bên ngoài Hội nghị Pa-ri, trên nhiều vùng của nước Pháp và các nước láng giềng của Pháp như I-ta-li-a, Anh, Đức, Bỉ, Hà Lan…

Theo cuốn sách “Cuộc đàm phán lịch sử” do NXB Chính trị Quốc gia phát hành năm 2009, hàng nghìn nhà báo, phóng viên nhiếp ảnh, điện ảnh, quay phim truyền hình của rất nhiều nước trên thế giới đổ về thủ đô Pa-ri theo dõi, đưa tin, bình luận cuộc đàm phán Việt Nam-Mỹ, mà trong lịch sử chưa có hội nghị quốc tế nào (kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai) có mặt đội ngũ các nhà báo hùng hậu đến thế.

Riêng ở Pa-ri, bên cạnh 28 cuộc họp công khai với 12 cuộc họp bí mật trong giai đoạn hội nghị bốn bên, còn có đến gần 500 cuộc họp báo của hai đoàn, hàng nghìn cuộc tiếp xúc với bạn bè Pháp và quốc tế, kể cả những đồng bào từ miền Nam sang. Hội nghị Pa-ri về Việt Nam kéo dài, lúc sôi nổi, lúc không tiến triển, giậm chân tại chỗ. Vì thế các nhà báo quốc tế đến theo dõi hội nghị cũng lúc đông đảo, náo nhiệt, lúc vắng vẻ, buồn tẻ. Các nhà báo của Việt Nam đã hoạt động rất tích cực, giao lưu với các nhà báo quốc tế, thu thập thông tin, tìm hiểu tình hình dư luận, giới thiệu đường lối, chính sách, lập trường của Việt Nam.

Các cán bộ trong đoàn đàm phán cũng tranh thủ đến các địa phương ở Pháp và các nước châu Âu, châu Mỹ, châu Phi dự các cuộc mít tinh, biểu tình, diễu hành, hội thảo, hội nghị chống Mỹ xâm lược Việt Nam. Đoàn Việt Nam cũng hoàn toàn chủ động tổ chức các cuộc hội họp, gặp gỡ với Việt kiều ở Pháp và nhiều nước, với bà con đồng bào từ miền Nam đến tiếp nhận thông tin để gây ảnh hưởng đến dư luận.

Trụ sở của phái đoàn Việt Nam ở Pa-ri cũng thường xuyên tiếp nhiều đại biểu nhân dân Mỹ, nhiều dân biểu và thượng nghị sĩ Mỹ, nhiều nhà văn, nhà báo, luật gia Mỹ và các nước khác đến Pa-ri để bày tỏ sự ủng hộ nhân dân Việt Nam, phê phán chính sách hiếu chiến của chính quyền Mỹ.

Có thể nói rằng, vai trò báo chí của các nước hằng ngày, hằng tuần, suốt nhiều năm đưa tin về chiến tranh, đưa những bình luận sắc bén, cổ vũ Việt Nam, truyền đạt ý chí của nhân dân các nước với nhau, đã góp phần tạo nên sức mạnh to lớn cho dân tộc ta đánh Mỹ và thắng Mỹ, nó khiến cho chính người Mỹ cũng phải thừa nhận “nước Mỹ thua trong cuộc chiến tranh trước hết là thua ngay trên mặt trận báo chí”.

BÌNH NGUYÊN
qdnd.vn

Khắc ghi tình cảm, sự giúp đỡ chí nghĩa, chí tình

Gặp gỡ các nhân chứng lịch sử kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris:

QĐND Online- Trong khuôn khổ các hoạt động kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Việt Nam (27-1-1973/27-1-2013), sáng 27-1, tại Bảo tàng chứng tích chiến tranh (TP Hồ Chí Minh), đã diễn ra cuộc Gặp gỡ các nhân chứng lịch sử, do Hiệp hội Các tổ chức hữu nghị Việt Nam tổ chức. Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã tới dự. Tham dự buổi gặp gỡ còn có ông Vũ Xuân Hồng, Chủ tịch Hiệp hội Các tổ chức hữu nghị Việt Nam; đại diện lãnh đạo TP Hồ Chí Minh cùng đông đảo đại biểu trong nước và quốc tế.

Đây là sự kiện quan trọng nhằm ôn lại những năm tháng hào hùng của dân tộc, giáo dục truyền thống vẻ vang cho thế hệ trẻ, phát động và xây dựng mối quan hệ đoàn kết quốc tế với Việt Nam trong tình hình hiện nay; đồng thời, là dịp để tri ân bạn bè quốc tế đã ủng hộ Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước.

Tại cuộc gặp gỡ, các đại biểu đã chia sẻ những kỷ niệm sâu sắc với Việt Nam và bày tỏ lòng khâm phục nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Bà Hélène Luc, Chủ tịch danh dự Hội Hữu nghị Pháp – Việt, khẳng định: “Sở dĩ Việt Nam là một nước nhỏ bé nhưng đã chiến thắng nước Mỹ hùng mạnh là bởi tinh thần quật cường và trí thông minh, khéo léo, bởi sự chính nghĩa nên được nhân dân tiến bộ thế giới ủng hộ. Ngay trong những năm đàm phán tại Paris, đoàn Việt Nam cũng thể hiện rõ khí phách và tài trí ngoại giao kiên quyết và đầy mưu lược. Tôi rất ấn tượng với các bạn Việt Nam, về những thành công của Việt Nam cả trong chiến tranh và sự nghiệp xây dựng hòa bình. Người Việt Nam luôn lạc quan trước mọi khó khăn. Đây là phẩm chất lớn không dễ gì có được. Chúng tôi luôn ủng hộ các bạn”.

Bà Hélène Luc, Chủ tịch danh dự Hội Hữu nghị Pháp – Việt, phát biểu tại buổi gặp gỡ

Cùng quan điểm và ôn lại những hoạt động phản đối chiến tranh, ủng hộ Việt Nam, ông Rabin Dep, Bí thư Ban Thường vụ Tổ chức Hòa bình và Đoàn kết toàn Ấn Độ (AIPSO), bày tỏ: “Chúng tôi đã tổ chức những cuộc diễu hành với sự tham gia của hàng trăm sinh viên để yêu cầu Mỹ rút quân vô điều kiện khỏi Việt Nam. Đất nước chúng tôi cũng huy động mọi nguồn lực có thể để giúp đỡ Việt Nam. Năm 1975, khi đất nước các bạn được giải phóng, lãnh đạo Đảng, Nhà nước Ấn Độ đã đọc diễn văn chào mừng sự kiện này và bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với Việt Nam. Chúng tôi vô cùng phấn khởi và chung niềm vui chiến thắng với các bạn”.

Không khí của buổi gặp gỡ trở nên thân tình, ấm áp khi ông Rabin Dep đọc lại bài diễn văn năm trước với những lời lẽ tốt đẹp mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Ấn Độ dành tặng Việt Nam: “Các bạn thực sự là những người anh hùng, tiên phong trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, mở ra một thời kỳ mới không chỉ cho nhân dân Việt Nam mà với cả nhân loại tiến bộ trên thế giới”.

Chia sẻ những kỷ niệm sâu sắc của mình, ông Carlos Rey Gomez, du kích quân Caracas (Vê-nê-zu-ê-la), thành viên Nhóm du kích tham gia vụ bắt giữ sĩ quan Mỹ Michael Smo-len để đánh đổi chiến sĩ biệt động Nguyễn Văn Trỗi, xúc động: “Chúng tôi đã cố hết sức để có thể cứu được anh Trỗi bằng sự ngưỡng mộ nhưng chính quyền Ngụy Sài Gòn lật lọng nên cuộc trao đổi không thành. Đất nước Việt Nam có được những con người vĩ đại như Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và cả Nguyễn Văn Trỗi… nên các bạn giành chiến thắng là điều tất yếu. Dân tộc Vê-nê-zu-ê-la chúng tôi học tập Việt Nam và luôn sát cánh cùng Việt Nam trong tiến trình phát triển, dựng xây đất nước”.

Phát biểu tại hội nghị, ông Vũ Xuân Hồng đã bày tỏ những tình cảm tốt đẹp của nhân dân Việt Nam đối với bạn bè quốc tế và nhấn mạnh mối quan hệ khăng khít, gắn bó, thủy chung, trước sau như một của Việt Nam với các nước anh em. Nhân dân Việt Nam luôn khắc ghi những tình cảm, sự giúp đỡ chí nghĩa, chí tình của các tổ chức hữu nghị quốc tế đối với sự nghiệp cách mạng của Việt Nam và mong muốn tăng cường hơn nữa mối quan hệ vô tư, trong sáng ấy vì một thế giới hòa bình, ổn định và phát triển. Những kinh nghiệm, bài học và thắng lợi trong Hiệp định Paris còn nguyên giá trị và sẽ được phát huy trong thời đại mới.

Buổi chiều cùng ngày, các đại biểu đã tới thăm các nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin tại làng Hòa bình, Bệnh viện Từ Dũ, kết thúc chuỗi hoạt động kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris trong tình cảm lưu luyến, thân tình, đầy xúc động.

Tin, ảnh: HOÀNG THÀNH
qdnd.vn

Đoàn đại biểu Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ

Nhân kỷ niệm 83 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 – 03/02/2013) và Tết Nguyên đán Quý Tỵ, sáng ngày 06/2/2013, Đoàn đại biểu Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đến đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng và Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng dẫn đầu.

Lanh dao dang vieng 3.2.1Đoàn đại biểu vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đoàn đại biểu gồm: Nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương; nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An; nguyên Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Phạm Thế Duyệt và các Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ; lãnh đạo một số Bộ, ngành, đoàn thể Trung ương và các đồng chí lão thành cách mạng cùng dự lễ viếng. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bày tỏ lòng thành kính trước anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh, tưởng nhớ công lao vĩ đại của Người đối với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc ta. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”.

Lanh dao dang vieng 3.2.2Đoàn đại biểu đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ

Sau khi vào Lăng viếng Bác, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đến dâng hương, tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ tại Đài Tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, tưởng nhớ những người con ưu tú của dân tộc đã không tiếc máu xương, dũng cảm chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ “Đời đời nhớ ơn các Anh hùng liệt sỹ.”

Cũng trong sáng ngày 06/2/2013, Đoàn đại biểu Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Đảng ủy Công an Trung ương và Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã đến đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh; đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm các Anh hùng Liệt sỹ. Cùng ngày, đông đảo đồng bào, chiến sỹ cả nước và khách quốc tế đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Điều 4 Hiến pháp 1992 và nền dân chủ của chúng ta

Lợi dụng chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, các thế lực thù địch trong và ngoài nước đang dấy lên làn sóng xuyên tạc, vu cáo, bôi nhọ Đảng, Nhà nước, lãnh tụ và chế độ xã hội ta. Một trong những trọng điểm mà họ tập trung chống phá là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được ghi trong bản Hiến pháp năm 1992.

altChủ tịch Quốc hội (nay là Tổng Bí thư) Nguyễn Phú Trọng dự ngày hội đại đoàn kết tại huyện Ninh Giang, Hải Dương (Nguồn: qdnd.vn)

Họ cho rằng: “Điều 4 Hiến pháp 1992 phá hủy nền tảng của chính bản Hiến pháp”. Bởi lẽ: “Điều 2 Hiến pháp 1992viết “Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…”, trong khi Điều 4 lại khẳng định: “Đảng Cộng sản (ĐCS) Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, tức là nước Cộng hoà XHCN Việt Nam theo một chế độ Đảng trị= Đảng chủ”. Hơn nữa, theo họ: “Điều 83 của Hiến pháp viết “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam… Như vậy, cơ quan cao nhất ở đây “không thuộc về ĐCS Việt Nam như Điều 4”.

Về đường lối kinh tế,họ nói: “Điều 15 của Hiến pháp viết: “Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN… dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng…”. Như vậy, Điều 15 trái với Điều 4ghi: “ĐCS Việt Nam theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Vì chủ nghĩa Mác – Lê-nin phủ nhận kinh tế thị trường = tư bản, xóa bỏ sở hữu tư nhân” và họ hỏi: “Vì sao theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin lại phát triển kinh tế tư bản?”, v.v.

Tựu trung lại, họ kêu gọi: “cần phải xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp 1992” mà thực chất là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của ĐCS Việt Nam, đơn giản chỉ là như vậy!

Có lẽ không cần phải phân tích những sai trái trong từng lập luận của họ. Bởi vì, mọi người có thể thấy rõ tất cả những lập luận trên chỉ là sự sao chép tư duy chính trị dân chủ đa nguyên mà các phần tử hành nghề chống cộng ở ngoài nước đã đưa đầy rẫy trên mạng internet cùng với sự ngụy biện thô thiển mà thôi.

Người làm chính trị, khoa học hay văn hóa, nghệ thuật trước hết phải thực sự nghiêm túc, chân thành, trung thực… Thế nhưng, những lập luận ngụy biện, vòng vo rằng: “Điều 4 Hiến pháp 1992 phá hủy nền tảng của chính bản Hiến pháp” chẳng những không có sức thuyết phục về trí tuệ mà còn thể hiện lập luận hoàn toàn ngụy biện, không đáng tin cậy.

Với họ, đã là Nhà nước pháp quyền XHCN thì Quốc hội – cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, không chịu sự lãnh đạo của bất cứ chính đảng nào! Ở lập luận này, trước hết, họ đã bộc lộ sự thiếu hiểu biết của mình. Họ không thấy rằng: trong tất cả các nền dân chủ hiện đại bao giờ cũng có đảng chính trị lãnh đạo, cầm quyền. Sự khác nhau chỉ là ở mục tiêu và phương thức lãnh đạo mà thôi. Ở Hoa Kỳ, Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa thay nhau lãnh đạo. Ở Cộng hòa Liên bang Đức cũng như vậy, phần lớn thế kỷ XX do Đảng Dân chủ Thiên chúa và Đảng Dân chủ xã hội cầm quyền. Ở Úc thì Đảng Lao động và Liên Đảng Quốc gia – Tự do thay nhau cầm quyền… Thử hỏi: Nếu ở Hoa Kỳ, Đức, Úc thì họ có phê phán chế độ đó là không dân chủ với lập luận: “Nhà nước pháp quyền, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…”, sao lại có đảng cầm quyền? Vì sao đã là Nghị viện – cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của quốc gia sao quyền lãnh đạo lại vẫn thuộc về đảng này đảng nọ? Thật ra, họ chỉ muốn loại trừ ĐCS Việt Nam ra khỏi vai trò lãnh đạo, cầm quyền mà thôi, còn những đảng khác lãnh đạo, cầm quyền thì vẫn hợp lý!

Lại nói về lập luận của họ về Điều 17 của Hiến pháp 1992. Điều này quy định: “Phát huy mọi năng lực sản xuất, mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài…”. Theo họ, thì chính sự khẳng định: “ĐCS Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế TBCN (ở Điều 17 này) đã “giết chết chủ nghĩa Mác – Lê-nin là tôn giáo và cương lĩnh của Đảng như Điều 4”.

Trong lập luận trên, họ đã thể hiện mâu thuẫn trong tư duy và sự thiếu trung thực. Bởi vì, họ cho rằng: ĐCS Việt Nam “đang xây dựng nền kinh tế TBCN”, là “giết chết chủ nghĩa Mác – Lê-nin”. Ở đây họ đóng vai trò là người bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lê-nin; thế nhưng, ngay ở câu đó lại nói: “chủ nghĩa Mác – Lê-nin là tôn giáo”. Và ở một đoạn khác họ cho rằng: “nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường – khái niệm “định hướng XHCN” hoàn toàn vô nghĩa”.

Xin nói rằng, bình luận “định hướng XHCN hoàn toàn vô nghĩa” của họ là hoàn toàn sai lầm. Bởi vì, không có một nền kinh tế nào nằm ngoài một không gian chính trị, nằm ngoài một quốc gia với một nhà nước và một đảng chính trị cầm quyền.

Những ai hiểu biết về lịch sử tư tưởng kinh tế thì đều biết rằng, chủ nghĩa tự do cổ điển (Classical liberalism) về kinh tế thị trường còn gọi là “bàn tay vô hình” do Adam Smith đề xướng cho rằng: tự cơ chế thị trường sẽ bảo đảm được sự hài hòa lợi ích giữa các nhóm xã hội… Tuy nhiên, trên thực tế ở các nước TBCN cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã xuất hiện suy thoái và khủng hoảng nghiêm trọng. Đó là cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 ở hệ thống TBCN, mở đầu ở nước Mỹ.

Không ai khác, chính Tổng thống Mỹ Phranh-klin Ru-dơ-ven (Franklin Roosevelt) đã nhận thấy khiếm khuyết của kinh tế thị trường tự do. Ông đã chủ trương chuyển sang thực hiện chính sách kinh tế thị trường có sự can thiệp của nhà nước; mà về mặt học thuật, đại diện cho lý luận kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước là John Maynard Keynes. Thế nhưng, vào những năm 80 (thế kỷ XX), ở hệ thống TBCN lại ra đời học thuyết: “Chủ nghĩa tự do mới” mà nội dung của nó là hạn chế sự can thiệp của nhà nước theo phương châm “thị trường nhiều hơn, nhà nước ít hơn”… Tiếp đó, vào đầu thập niên 90 (thế kỷ XX), một lần nữa CNTB hiện đại lại điều chỉnh mô hình kinh tế thị trường. Mô hình mới được gọi là “Con đường thứ ba” mà nội dung của nó là kết hợp giữa chủ nghĩa tự do mới với các ưu tiên dành cho chính sách xã hội, như: đầu tư vào lĩnh vực đào tạo, việc làm, y tế, giáo dục,… Còn ở Trung Quốc, như mọi người đều biết, nền kinh tế của quốc gia này được gọi là “nền kinh tế thị trường XHCN”. Vì vậy, từ lý luận và thực tế cho thấy, định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường Việt Nam không phải là ngoại lệ, hơn nữa còn là một tất yếu đối với chế độ ta.

Định hướng XHCN đối với nền kinh tế thị trường Việt Nam dựa trên các nguyên tắc và quy luật phổ biến của kinh tế thị trường, đồng thời phát huy chức năng của nhà nước pháp quyền XHCN để tác động vào thị trường hướng vào mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Cụ thể hơn, đó là việc bảo đảm công bằng xã hội, hạn chế sự phân cực giàu – nghèo, bất công xã hội.

Xin hỏi tất cả những ai kêu gọi xóa bỏ định hướng XHCN trong nền kinh tế thị trường nhằm mục đích gì? Nếu ai đó nói rằng, nền kinh tế của Việt Nam chưa hoàn thiện về thể chế, về cơ chế, chính sách, còn tình trạng tham nhũng, lãng phí, còn tình trạng lợi ích cục bộ, phân hóa giàu – nghèo, lợi ích nhóm thì đó là một nhận định khách quan, có trách nhiệm. Song nếu cho rằng, khái niệm “định hướng XHCN hoàn toàn vô nghĩa” thì thực sự đó là một ý đồ chính trị đen tối.

Thiết tưởng hiện nay, Việt Nam rất cần sự “định hướng XHCN”; bởi pháp luật chưa hoàn chỉnh, lại thiếu cơ chế quản lý hữu hiệu, vẫn còn những khoảng trống pháp lý, những sơ hở, khiếm khuyết về cơ chế, những quy định cụ thể, đặc biệt là thiếu sự nghiêm minh trong việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật dẫn đến thất thoát của cải, tài nguyên quốc gia, tiền đóng thuế của người dân.

Nói tới Điều 4 Hiến pháp 1992 là nói tới những cơ sở lịch sử, chính trị và pháp lý về vai trò lãnh đạo, cầm quyền của ĐCS Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội ta. Về lịch sử, ai cũng biết hơn 80 năm qua, ĐCS Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện là lực lượng duy nhất tổ chức vận động, lãnh đạo, đồng thời là người đi tiên phong, không sợ hy sinh, gian khổ trong cuộc Cách mạng Tháng Tám, giành lại độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, xây dựng nước Việt Nam hiện đại với chế độ dân chủ – cộng hòa. Lần đầu tiên trong lịch sử, các quyền công dân và quyền con người của người dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946 và được bảo đảm trong thực tế. Tiếp đó, ĐCS Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm bảo vệ thành quả của cách mạng. ĐCS Việt Nam cũng là lực lượng chính trị duy nhất khởi xướng công cuộc đổi mới, hội nhập với cộng đồng quốc tế, tạo nên vị thế mới của Việt Nam trên trường quốc tế.

Về chính trị – tư tưởng, ĐCS Việt Nam đi theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh với tinh thần cách mạng và sáng tạo. Mục tiêu của Đảng là: Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; vừa giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia, vừa xây dựng một xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, hội nhập quốc tế trên tinh thần: Việt Nam sẵn sàng là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm với tất cả các quốc gia, vùng lãnh thổ trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập dân tộc và sự tiến bộ xã hội.

Những kẻ đang tuyên truyền cho nền dân chủ phương Tây thường lập luận rằng, chủ nghĩa Mác – Lê-nin là “tôn giáo”, đã lỗi thời và CNXH đã sụp đổ; do đó, Việt Nam cần phải thực hiện chế độ dân chủ đa nguyên… Họ lờ đi hoặc xuyên tạc tư duy mới, đường lối đổi mới của ĐCS Việt Nam về CNXH và con đường đi lên CNXH. Trong đó, ĐCS Việt Nam đã thừa nhận những sai lầm, khuyết điểm của mình trong thời kỳ trước đổi mới, như: chủ quan duy ý chí, xóa bỏ kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường… Đảng ta đã khẳng định cần phải xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; phát huy mạnh mẽ vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể xã hội và hội nhập với cộng đồng quốc tế, v.v.

Về vai trò lãnh đạo của Đảng, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung và phát triển năm 2011) viết: “ĐCS Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động… Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”1.

Về pháp lý, vai trò lãnh đạo của ĐCS Việt Nam đã được quy định tại Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 1992. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với pháp luật quốc tế. Tại Điều 1, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (năm 1966) ghi: “Tất cả các quốc gia đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình, tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá”2.

Quy định trên có nghĩa: việc lựa chọn chế độ chính trị nào, thể chế tam quyền phân lập hay phân công phối hợp có sự giám sát của nhân dân; đề cao hệ tư tưởng nào? Giai cấp tư sản hay giai cấp công nhân? CNTB hay CNXH? và việc có ghi hay không ghi vào Hiến pháp, điều đó hoàn toàn là quyền của mỗi dân tộc, không ai có quyền can thiệp, kể cả Liên hợp quốc. Vai trò lãnh đạo, cầm quyền của ĐCS Việt Nam được Quốc hội quyết định ghi vào Hiến pháp 1992 chỉ là văn bản hóa vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta trên thực tế hơn một nửa thế kỷ qua mà thôi.

Không phủ nhận rằng, xã hội ta hiện nay còn nhiều vấn đề, thậm chí có những vấn đề bức xúc, như: tình trạng phân hóa giàu – nghèo, quan liêu, tham nhũng chưa bị đẩy lùi, đặc biệt là sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên cho đến nay, xã hội ta đã tạo lập được những cơ sở chính trị, tư tưởng, pháp lý vững chắc để giải quyết những vấn đề đó, nhất là quyết tâm chính trị của toàn Đảng ta thể hiện trong Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” để làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh lãnh đạo nhân dân ta xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Bởi vậy, tất cả sự xuyên tạc, hoặc mưu toan áp đặt một mô hình dân chủ nào đó cho xã hội ta, đều là nhằm loại bỏ sự lãnh đạo của ĐCS Việt Nam, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch trong và ngoài nước thực hiện dã tâm chuyển hóa xã hội ta trở lại chế độ bóc lột, trở lại chế độ thuộc địa cho ngoại bang mà thôi. Hơn nữa vai trò lãnh đạo, cầm quyền của ĐCS Việt Nam còn là một giá trị của dân tộc ta trong thế kỷ XX – thế kỷ mà dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đứng lên giành được độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng một xã hội mới hướng đến những tiêu chuẩn chung của nền văn minh nhân loại.

PHƯƠNG NHI
tapchiqptd.vn

1 – ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 88 – 89.

2 – Trung tâm nghiên cứu Quyền con người – Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người, H. 2002, tr. 250.

Hội nghị Paris và những bài học quý giá cho ngoại giao Việt Nam

(Chinhphu.vn) – Nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ xin trân trọng giới thiệu bài viết của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh.

Bộ trưởng Phạm Bình Minh

Ngày 27/1/1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (gọi tắt là Hiệp định Paris) được ký kết, kết thúc thắng lợi Hội nghị Paris – cuộc đấu tranh ngoại giao lâu dài nhất, cam go nhất trong lịch sử của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. 40 năm đã trôi  qua, đất nước đã có nhiều đổi thay và đang bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế toàn diện, song ký ức về những ngày tháng gian lao mà oanh liệt cũng như những bài học sâu sắc của Hội nghị và Hiệp định Paris vẫn còn sáng mãi.

Kỷ niệm 40 năm ký kết Hiệp định Paris là dịp để chúng ta ôn lại chiến công hào hùng của dân tộc, noi theo tấm gương sáng của những thế hệ cha anh, tri ân bạn bè quốc tế và vận dụng sáng tạo các bài học lịch sử để triển khai thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kỳ mới.

Hội nghị  được mở ra từ một quyết định chiến  lược sáng suốt của Đảng ta trong bối cảnh tình hình hết sức khó khăn. Đầu năm 1965, chính quyền Johnson ồ ạt đưa quân vào miền Nam, leo thang chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân chống lại miền Bắc, đồng thời, mở rộng cuộc vận động “ngoại giao hòa bình” đòi miền Bắc rút quân khỏi miền Nam và “đàm phán không điều kiện với Mỹ” (1). Đáp lại các hành động xâm lược và luận điệu lừa bịp dư luận của Mỹ, quân và dân hai miền Nam Bắc đã hiệp đồng tiến công mãnh liệt cả về quân sự và chính trị, kiên quyết đòi Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân khỏi miền Nam, chấm dứt vô điều kiện chiến tranh phá hoại chống miền Bắc.

Cuộc đối đầu lịch sử giữa cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Henry Kissinger – Ảnh tư liệu

Chính vào lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta bước vào giai đoạn quyết liệt nhất, tháng 12/1965, Đảng ta ra Nghị quyết Trung ương 12, trong đó chỉ rõ “đánh đến một lúc nào đó sẽ vừa đánh vừa đàm” nhưng nhận định “tình hình chưa chín muồi cho một giải pháp” (2). Đến tháng 1/1967, sau những thắng lợi vang dội của quân và dân hai miền Nam Bắc tạo thế cho ta, Nghị quyết Trung ương 13 đã quyết định mở mặt trận ngoại giao để tạo cục diện đánh đàm và kéo Mỹ xuống thang chiến tranh (3). Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, Johnson phải cam kết xuống thang chiến tranh, ta quyết định đi vào đàm phán với Mỹ.

Cuộc đấu trí, đấu bản lĩnh quyết liệt

Kéo dài ròng rã 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, trải qua 202 phiên họp công khai và 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, Hội nghị Paris là cuộc đấu trí, đấu bản lĩnh quyết liệt giữa nền ngoại giao non trẻ với nền ngoại giao lão luyện của một siêu cường hàng đầu thế giới.

Để đi đến thắng lợi cuối cùng là bản Hiệp định lịch sử ngày 27/1/1973, chúng ta đã kiên định đường lối, chiến lược mà Đảng đề ra, đồng thời chuẩn bị kỹ càng, hết sức chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cả về bản lĩnh cách mạnh và kiến thức mọi mặt. Kế tục truyền thống đấu  tranh ngoại giao của cha ông và trên cơ sở các bài học của Hiệp định Geneva 1954, đội ngũ cán bộ ngoại giao đã không ngừng lớn mạnh thông qua các hoạt động tranh thủ dư luận quốc tế, hỗ trợ chiến trường chống “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ, góp phần đưa tới thắng lợi Tết Mậu Thân 1968, buộc Mỹ phải thay đổi chiến lược, xuống thang chiến tranh, đi vào đàm phán, kết thúc chiến tranh bằng một giải pháp chính trị.

Cuộc đàm phán Paris trải qua ba giai đoạn. Giai đoạn một bắt đầu từ ngày 13/5/1968 đến 31/10/1968, ta đấu tranh buộc Mỹ phải chấp nhận chấm dứt mọi hành động chiến tranh chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ ngày 31/10/1968; chấp nhận việc triệu tập hội nghị về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam gồm 4 bên với sự tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Giai đoạn hai từ ngày 25/1/1969 đến giữa năm 1972, ta kiên quyết đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội và vũ khí ra khỏi miền Nam Việt Nam, xóa bỏ chính quyền Sài Gòn, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam. Mỹ muốn chấm dứt chiến tranh nhưng đòi miền Bắc và Mỹ cùng rút quân, đòi duy trì khu phi quân sự và duy trì chính quyền Sài Gòn. Giai đoạn cuối cùng từ tháng 7/1972 khi Mỹ buộc phải quay lại bàn đàm phán sau các thất bại ở cả hai miền Nam Bắc. Tuy vậy, Mỹ vẫn nuôi hy vọng đạt được một thỏa thuận trên thế mạnh. Cuối tháng 12/1972, khi con át chủ bài cuối cùng của Mỹ – dùng B52 đánh phá hủy diệt Hà Nội và các thành phố lớn của miền Bắc – đã bị quân và dân ta đánh gục trong chiến thắng vang dội “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, Mỹ mới chấp nhận ký Hiệp định.

Hiệp định Paris có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng, thống nhất đất nước của dân tộc ta. Hiệp định là văn bản pháp lý toàn diện, đầy đủ nhất công nhận các quyền cơ bản của dân tộc ta, trong đó Mỹ buộc phải cam kết “tôn trọng độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”. Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đã góp phần quan trọng vào nỗ lực tạo nên bước chuyển chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, từng bước buộc Mỹ phải đi vào giải pháp, chấm dứt ném bom miền Bắc, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam, hoàn thành mục tiêu chiến lược “đánh cho Mỹ cút”. Với việc buộc Mỹ phải rút hết trong khi ta duy trì được hoàn toàn lực lượng, Hiệp định mở ra một cục diện mới, so sánh lực lượng trên chiến trường nghiêng hẳn về ta để tiến lên “đánh cho ngụy nhào”. Hiệp định Paris còn góp phần ngăn chặn mọi âm mưu can thiệp trở lại của Mỹ khi toàn quân, toàn dân ta tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Vượt lên trên mọi ý nghĩa thông thường, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hoà bình và công lý trên thế giới, củng cố niềm tin của nhân dân các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của mình. Cũng chính vì vậy, Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đã góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình và công lý, là di sản vĩ đại của phong trào giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị và can thiệp của nước ngoài.

Năm bài học quý giá

Hội nghị Paris để lại những bài học vô cùng quý giá.

Nhân dân Liên Xô mít tinh ủng hộ Việt Nam chống Mỹ cứu nước tại Thủ đô Moscow, ngày 8/2/1965 – Ảnh tư liệu

Bài học thứ nhất và quan trọng nhất là tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Đây là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Trong suốt quá trình đàm phán, Bộ Chính trị đã luôn theo dõi và chỉ đạo sát sao cả về chiến lược và sách lược đối với hai đoàn đàm phán để đi đến thắng lợi cuối cùng.

Thứ hai, giữ vững độc lập, tự chủ, coi đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong xử lý các vấn đề đối ngoại. Hội nghị Paris một lần nữa khẳng định rằng, chỉ có giữ vững độc lập, tự chủ trong quyết định chiến lược, sách lược, ta mới có thể chủ động tiến công, chủ động tạo thời cơ và tranh thủ thời cơ để bảo vệ lợi ích dân tộc.

Thứ ba, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp, các lĩnh vực là nhân tố quyết định đảm bảo thắng lợi. Trong suốt quá trình đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris, sự phối hợp nhịp nhàng giữa ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, giữa “đánh” và “đàm”, giữa các binh chủng hợp thành thế trận chiến tranh nhân dân, có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Ngay tại Paris, sự phối hợp chặt chẽ và thực hiện phương châm “tuy hai mà một, tuy một mà hai” của hai đoàn đàm phán dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng ta cũng là nhân tố hết sức quan trọng để đi đến thắng lợi.

Thứ tư, chủ động, sáng tạo là phương cách đảm bảo thắng lợi trong đấu tranh ngoại giao. Ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước mà đỉnh cao là Hội nghị Paris thực sự đã trở thành một mặt trận chiến lược, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp của dân tộc. Trong suốt quá trình đàm phán tại Paris, mặt trận ngoại giao đã chủ động tiến công, đồng thời tận dụng tối đa các thế mạnh đặc thù của mình để giành thắng lợi.

Thứ năm, Hội nghị Paris là bài học tiêu biểu về kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Trong suốt quá trình đàm phán tại Paris, chúng ta đã có được sự ủng hộ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã tranh thủ được sự đồng tình của dư luận quốc tế, kể cả dư luận tiến bộ Mỹ, góp phần tạo nên một mặt trận nhân dân thế giới rộng lớn ủng hộ Việt Nam.

Kỷ niệm thắng lợi oanh liệt của Hội nghị Paris là dịp để chúng ta bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến những người con của Tổ quốc đã chiến đấu quên mình vì độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Sự hy sinh và công ơn to lớn ấy sẽ mãi mãi là tấm gương sáng cho lớp lớp thế hệ người Việt Nam nói chung và cán bộ ngành ngoại giao nói riêng, hôm nay và mai sau.

Đây cũng là dịp để chúng ta bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các bạn bè quốc tế khắp năm châu, trước hết là nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, đã kề vai sát cánh với nhân dân Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sự ủng hộ của bạn bè quốc tế không chỉ là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân ta mà còn góp phần quan trọng vào việc nâng cao thế và lực của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Mỹ.

Vận dụng các bài học lịch sử của Hội nghị Paris

Kế tục và phát huy truyền thống vẻ vang của ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước, ngoại giao thời kỳ hội nhập quốc tế và phát triển đất nước tiếp tục là một “mặt trận”, trong đó các cán bộ ngoại giao là những “người lính”, không ngừng phấn đấu góp phần tích cực đưa đất nước vào vị thế có lợi nhất trong nền chính trị, nền kinh tế và văn hóa khu vực và toàn cầu.

Với thế và lực sau hơn 25 năm Đổi mới, trong bối cảnh mới, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ: “Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới” (4).

Ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris được kí kết – Ảnh tư liệu

Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ đối ngoại và vận dụng các bài học lịch sử của Hội nghị Paris, ngành ngoại giao tiếp tục nỗ lực vượt bậc trong các hướng cụ thể sau:

Thứ nhất, tăng cường công tác chính trị tư tưởng, tuyệt đối tin tưởng vào con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, vững vàng bản lĩnh chính trị, kiên định đường lối đối ngoại “độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ”; nỗ lực quên mình vì lợi ích quốc gia dân tộc vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh.

Thứ hai, phát huy truyền thống chủ động, sáng tạo trong đối ngoại, đề xuất nhiều sáng kiến thiết thực để nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại trong quan hệ với các đối tác và trên các diễn đàn, tổ chức quốc tế; tăng cường công tác nghiên cứu dự báo, phát hiện thời cơ và kiến nghị các biện pháp tận dụng thời cơ, lường trước các thách thức và kiến nghị các biện pháp hóa giải hoặc giảm thiểu các thách thức đối với phát triển và an ninh của đất nước.

Thứ ba, hợp đồng chặt chẽ giữa ngoại giao với kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh…. phối hợp nhịp nhàng với đối ngoại Đảng, ngoại giao nhân dân dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp của đất nước, kết hợp thành công sức mạnh của đất nước với sức mạnh của thời đại, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đối ngoại được Đảng giao phó.

Thứ tư, không ngừng học tập rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ và kiến thức mọi mặt, xây dựng đội ngũ cán bộ ngoại giao có trình độ và năng lực ngang tầm với các nước trong khu vực; đáp ứng yêu cầu triển khai thành công định hướng “triển khai đồng bộ và toàn diện các hoạt động đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” của đường lối đối ngoại Đại hội XI.

Kỷ niệm 40 năm ngày Hiệp định Paris được ký kết, chúng ta bày tỏ lòng biết ơn đối với sự hy sinh của biết bao đồng bào và chiến sỹ cả nước, biết ơn Đảng và Bác Hồ vĩ đại, tri ân các thế hệ cha, anh đã trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh ngoại giao ở Paris, tri ân các bạn bè quốc tế đã nhiệt tình ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Ôn lại các ý nghĩa trọng đại và bài học sâu sắc của Hội nghị Paris, chúng ta thêm vững tin vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, quyết tâm phát huy tinh thần Hội nghị Paris, vận dụng sáng tạo các bài học của Hội nghị trong bối cảnh tình hình và nhiệm vụ mới, quyết tâm góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

Phạm Bình Minh
Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao

(1) Nguyễn Đình Bin (chủ biên), Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000 (Hà nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002), trang 199.

(2) Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam 1954-1975, tập II (Hà nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1995), trang 306.

(3) Nguyễn Đình Bin (chủ biên), Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000 (Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002), trang 217.

(4) Văn kiện  Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2011), trang 236.

* Tiêu đề bài do Cổng Thông tin điện tử đặt
chinhphu.vn

“Muốn thành công phải biết trước mọi chuyện”

(Chinhphu.vn) – Đó là lời căn dặn của Bác Hồ với cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ trước khi ông sang Pháp để đàm phán với Mỹ về Hiệp định Paris.

Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ với nụ cười thắng lợi tại Hội nghị Paris. Ảnh tư liệu

Dù đã qua 40 năm sự kiện Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam chính thức được ký kết, ông Lưu Văn Lợi – nguyên Thư ký cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ vẫn nhớ như in các cuộc trao đổi khôn khéo nhưng kiên quyết của đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với đại diện Chính phủ Mỹ.

… Từ năm 1965 Bộ Chính trị và Bác Hồ đã có chủ trương kết hợp “đánh với đàm” trong kháng chiến chống Mỹ.

Nghị quyết lần thứ 13 của BCH TW khoá III tháng 1/1967 đã khẳng định: “Chúng ta tiến công địch về ngoại giao bây giờ là đúng lúc vì ta đã và đang thắng địch, thế của ta là thế mạnh. Trong tình hình quốc tế hiện nay với tính chất cuộc đấu tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động” .

Thắng lợi to lớn của cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân năm 1968 đã làm nhụt ý chí xâm lược nước ta của Mỹ và buộc Tổng thống Mỹ Jonhson tuyên bố trên truyền hình ngày 31/3/1968 về việc Mỹ sẵn sàng đơn phương chấm dứt ném bom miền Bắc và chấp nhận thương lượng với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Bác Hồ và Bộ Chính trị trực tiếp chuẩn bị nhân sự cho cuộc đàm phán. Để đương đầu với những chính khách chuyên nghiệp, lọc lõi, mưu mô của Mỹ, đại diện đàm phán của Việt Nam cần có không chỉ ý chí cách mạng tiến công và tính kỷ luật cao, mà còn phải có trí tuệ, bản lĩnh, tính quyết đoán trách nhiệm cao, cương nhu hài hoà, khôn khéo.

Bác Hồ và Đảng ta đã trực tiếp giao cho Bí thư TW Đảng, Bộ trưởng Xuân Thủy làm Trưởng đoàn đàm phán, đồng thời Bác Hồ đã trực tiếp viết thư cho Bộ Chính trị đề nghị điện vào Trung ương Cục cho đồng chí Lê Đức Thọ khi đó đang là Phó Bí thư Trung ương Cục bàn giao công việc cho Bí thư Phạm Hùng rồi ra ngay Hà Nội để tham gia phái đoàn ta đi gặp đoàn đại biểu Mỹ.

Trước khi sang Paris, đồng chí Lê Đức Thọ đã gặp Bác Hồ. Người căn dặn đồng chí nhiều điều trong đó có lời nhắc nhở: “Muốn thành công phải biết trước mọi chuyện”. Để đàm phán với Mỹ, đánh giá Mỹ cho đúng đã rất khó, nhưng đâu chỉ có riêng Mỹ mà còn bao nhiêu nước khác nữa trong khu vực và quốc tế. Lợi ích các quốc gia đan xen, song trùng và đối kháng. Mỹ đã lợi dụng hoà hoãn Mỹ-Xô-Trung vào đầu những năm 1970 đã gây cho Việt Nam không ít trở ngại và khó khăn. Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đã đặt ra nhiệm vụ cho mình trên bàn đàm phán là phải thật khôn khéo, để vừa giữ vững độc lập tự chủ, kiên định mục tiêu, giữ vững đoàn kết quốc tế và tranh thủ sự giúp đỡ cả về vật chất và tinh thần cho cuộc kháng chiến của dân tộc.

Bên cạnh cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ có Bộ trưởng Xuân Thủy tài ba và cả một tập thể đoàn kết keo sơn một lòng với sự nghiệp chung của dân tộc. “Hai đoàn nhưng là một, một nhưng lại là hai”, đó là một trong những sáng tạo riêng của ngoại giao Việt Nam. Những sáng kiến và giải pháp quan trọng nhất đưa ra diễn đàn công khai ở Paris đều dành cho đoàn miền Nam do Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình làm Trưởng đoàn để khẳng định địa vị quốc tế của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và tranh thủ rộng rãi sự ủng hộ quốc tế.

Thực hiện chiến lược của Đảng, phá vỡ bế tắc đàm phán, đầu tháng 10/1972 cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đã đưa ra bản dự thảo: “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam”. Phía Mỹ đã hoan nghênh đề nghị của ta và đồng ý lấy dự thảo này để thảo luận và thoả thuận.

Khi cuộc đàm phán với Mỹ ở Paris đang đi tới hồi kết thì H. Kissinger đã hỏi có tính khiêu khích cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ: “Vừa qua ngài đi qua Bắc Kinh và Mátxcơva, chắc các bạn của ngài đã nói về những yêu cầu của chúng tôi”. Đồng chí Lê Đức Thọ đã nói thẳng với Kissinger : “Bạn chúng tôi hết lòng ủng hộ chúng tôi, nhưng không làm thay chúng tôi”.

Tại phiên họp riêng từ 9h30 sáng 11/10/1972 tới gần 2 giờ sáng ngày hôm sau 12/10/1972 (phiên họp kéo dài nhất trong số các phiên họp của cả gần 5 năm đàm phán), nội dung Hiệp định do ta đưa ra về cơ bản đã được hai bên chấp nhận. Trong thông điệp ngày 20/10/1972 gửi Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Tổng thống Mỹ Nixon đã xác nhận văn bản Hiệp định coi như đã hoàn thành và cam kết Hiệp định sẽ được chính thức ký vào ngày 31/10/1972 tại Paris.

Tình hình đàm phán dường như đang tiến triển thuận lợi nhưng đồng chí Lê Đức Thọ cũng đã dự kiến những diễn biến phức tạp do các nhân tố khách quan, trong đó có mối quan hệ Mỹ – nguỵ.Đúng là phía Mỹ đã lật lọng thô bạo, viện cớ Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu phản đối bản dự thảo Hiệp định nên Tổng thống Mỹ Nixon lại  trả lời chưa thể ký Hiệp định như đã thỏa thuận. Ngày 23/11/1972, Kissinger đã đòi sửa 69 điều trong văn bản đã thỏa thuận, trong đó có một số vấn đề thuộc về nguyên tắc. Mỹ lại đòi rút quân Bắc Việt Nam, một nguyên tắc ta không bao giờ nhượng bộ.

Trong cuộc họp hẹp ngày 4/12/1972 đồng chí Lê Đức Thọ đã nói: “Chúng tôi cũng đã dự tính nếu không giải quyết được thì chiến tranh sẽ rất tàn khốc, có thể các ông sẽ đem B52 ném bom ồ ạt đất nước chúng tôi. Chúng tôi đã chịu đựng hàng triệu tấn bom đạn của Mỹ, nhưng chúng tôi không hề khiếp sợ, chúng tôi không chịu khuất phục, không chịu làm nô lệ. Cho nên những lời đe doạ của các ông và việc các ông không giữ đúng lời hứa chỉ chứng tỏ các ông không phải là những người đàm phán nghiêm chỉnh”.

Từ ngày 18 – 29/12/1972 Mỹ dùng B52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác. Con át chủ bài B52 đã bị thất bại thảm hại nhờ quân và dân ta nhớ lời tiên đoán tài tình của Bác Hồ từ năm 1967 “Mỹ chỉ chịu thua dưới bầu trời Hà Nội” , đã giăng lưới lửa sẵn sàng chiến đấu, bắn rơi 81 máy bay chiến đấu trong đó có 34 chiếc B52, khiến Mỹ phải ngừng ném bom để quay trở lại đàm phán.

Trong buổi họp đầu tiên của đợt đàm phán cuối cùng bắt đầu từ ngày 8/1/1973, đồng chí Lê Đức Thọ đã mở đầu bằng những lời chỉ trích lên án mạnh mẽ cuộc ném bom Hà Nội 12 ngày đêm của Mỹ.

Cuộc họp riêng cuối cùng diễn ra ngày 13/1/1973, hai bên đã thỏa thuận nội dung bản Hiệp định Paris không có thay đổi gì về cơ bản và nguyên tắc. Ngày 23/1/1973, cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và H.Kissinger đã ký tắt bản Hiệp định, chính là bản dự thảo hồi tháng 10/1972.

Sau gần 5 năm đàm phán (1968-1973), Hiệp định chính thức được ký ngày 27/1/1973. Theo đó,  Mỹ phải rút hết quân đội ra khỏi Việt Nam. Điều này đã đúng như lời mong ước của Bác Hồ trong lời chúc Tết năm 1969 trước lúc Bác đi xa là “đánh cho Mỹ cút” và hai năm sau quan và dân ta đã hoàn thành nốt nhiệm vụ “đánh cho Nguỵ nhào”, giang sơn thu về một mối thống nhất vào ngày lịch sử 30/4/1975.

Lưu Văn Lợi
Nguyên Thư ký cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ
chinhphu.vn

Hiệp định Paris và sáng tạo trong đường lối ngoại giao

(Chinhphu.vn) – Nói về sự thành công của Hiệp định Paris, Đại sứ Dương Văn Quảng, Trưởng phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của LHQ (UNESCO) khẳng định chúng ta đã tạo dựng được một mặt trận nhân dân thế giới, đoàn kết tất cả các lực lượng chính trị tiến bộ ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa.

Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đoàn Mỹ tại Phòng họp Trung tâm Hội nghị quốc tế Paris, ngày 13/5/1968 (đoàn Việt Nam phía bên phải). Ảnh tư liệu

Theo Đại sứ Dương Văn Quảng, trong mối tương quan giữa Việt Nam và Mỹ vào năm 1973, việc ký kết Hiệp định Paris là một bước ngoặt quyết định cho những sự kiện diễn ra sau đó.

Sáng tạo trong đường lối ngoại giao

Hiệp định Paris hội tụ đủ các điều kiện kể cả về chiến lược, quân sự, chính trị lẫn ngoại giao cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy năm 1975, thể hiện rất rõ một quyết định đúng đắn về mặt chiến lược của Việt Nam. Đó là chiến lược giành thắng lợi từng bước tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn trên cả ba mặt trận: chính trị, quân sự và ngoại giao.

Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, Việt Nam đã biết cách xây dựng ngoại giao thành một mặt trận và đây là một sự sáng tạo. Ngoại giao đã thể hiện được vai trò chủ động của mình, góp phần quan trọng tiến tới kết thúc cuộc chiến tranh một cách thuận lợi nhất.

Hiệp định Paris còn có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, đó là quy định các điều khoản liên quan đến chính trị, các lực lượng chính trị, tổng tuyển cử và việc thành lập cơ cấu chính quyền tại miền Nam Việt Nam. Theo Đại sứ Dương Văn Quảng, các diễn biến lịch sử cách đây 40 năm cho thấy Hiệp định Paris đã tạo mọi tiền đề để chúng ta kết thúc cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc vào năm 1975.

Đề cập những khó khăn và thuận lợi của chúng ta khi tiến hành các cuộc đàm phán, Đại sứ Dương Văn Quảng cho biết trong bối cảnh quốc tế phức tạp, quan hệ giữa các nước lớn cũng như nội bộ từng khối, đặc biệt trong những thập niên 60, 70 của thế kỷ trước với trật tự thế giới chia làm hai cực mang tính đối kháng trên mọi khía cạnh, nhưng Việt Nam đã có những thuận lợi nhất định khi tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhất là khi mở ra cục diện “vừa đánh, vừa đàm”.

Ba thuận lợi khi hội đàm tại Paris

Paris là nơi hội tụ 3 điều kiện để trở thành nơi thích hợp tiến hành đàm phán. Đó là cộng đồng người Việt đông đảo luôn ủng hộ cuộc kháng chiến của dân tộc, trong đó có rất nhiều sinh viên đi từ miền Nam sang Pháp du học. Tại Pháp, họ đã nhận thức rõ được tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và đã gia nhập phong trào của những người Việt Nam yêu nước. Vì vậy, đóng góp của cộng đồng người Việt tại Pháp là vô cùng to lớn.

Thứ hai là vai trò của Đảng Cộng sản Pháp (PCF), một lực lượng chính trị rất mạnh ở Pháp lúc bấy giờ. Ngoài sự giúp đỡ về vật chất rất to lớn mà PCF dành cho đoàn Việt Nam tham gia đàm phán, PCF còn có vai trò tích cực trong việc tập hợp các lực lượng chính trị và nhân dân Pháp ủng hộ cuộc kháng chiến của ta và phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ. PCF còn là cầu nối giữa Việt Nam và Pháp vì hai nước lúc bấy giờ chưa có quan hệ ngoại giao ở cấp đại sứ.

Một nguyên nhân nữa là vai trò của dư luận. Không ở đâu có khả năng tập hợp được dư luận và thông tin một cách nhạy bén như ở Paris, địa điểm có thể ví như đầu não thông tin của thế giới lúc bấy giờ. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam luôn chiếm gần một nửa thời lượng thông tin thời sự quốc tế, đặc biệt là giai đoạn cuối của tiến trình đàm phán Hiệp định Paris.

Thực tế, Việt Nam đã tận dụng được Paris như là một đầu não thông tin để tuyên truyền tính chính nghĩa của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và tính phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược, từ đó tập hợp được lực lượng và dư luận thế giới ủng hộ Việt Nam.

Nguyễn Chiến
chinhphu.vn

Tôn vinh hai đoàn đại biểu quân sự đấu tranh thi hành Hiệp định Paris

(Chinhphu.vn) – Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vừa đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho hai đoàn đại biểu trên được Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam-Bộ Quốc phòng tổ chức ngày 20/4 tại Hà Nội.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho hai Đoàn đại biểu quân sự. – Ảnh: QĐND

Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập ngày 28/1/1973, dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Quân ủy Miền.

Quán triệt tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, trong suốt 823 ngày đêm hoạt động, từ khi thành lập đến khi kết thúc nhiệm vụ (30/4/1975), hai đoàn đại biểu quân sự đã dũng cảm kiên cường, mưu trí, sáng tạo, tranh thủ dư luận và dựa vào pháp lý của Hiệp định Paris để đấu tranh, vạch trần âm mưu và lên án các hành động phá hoại Hiệp định Paris của quân Mỹ-ngụy trước cộng đồng quốc tế; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh buộc những lính Mỹ cuối cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam, đánh dấu mốc lịch sử sau 115 năm, kể từ năm 1858, đất nước sạch bóng quân xâm lược.

Đây là yếu tố quan trọng nhất làm chuyển biến so sánh lực lượng trên chiến trường có lợi cho ta, để tiến đến giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Biểu dương tinh thần đấu tranh kiên quyết, tỉnh táo, khôn khéo, sáng tạo cùng với những thành tích xuất sắc, thể hiện bản lĩnh và trí tuệ con người Việt Nam của hai đoàn đại biểu quân sự, Chủ tịch nước nêu rõ, việc thành lập hai đoàn đại biểu quân sự là sự kiện có ý nghĩa chiến lược, là sách lược sáng suốt của cách mạng Việt Nam, đánh dấu bước thắng lợi có ý nghĩa lịch sử trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta trên mặt trận ngoại giao quân sự.

Chủ tịch nước nhấn mạnh, đây cũng là bài học vô cùng quý báu trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh và nghệ thuật đấu tranh ngoại giao quân sự của Đảng.

Trong tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, những kinh nghiệm và bài học quý báu trong đấu tranh ngoại giao của hai đoàn đại biểu quân sự của ta trong thi hành Hiệp định Paris vẫn còn nguyên giá trị, cần tiếp tục được phát huy trong thời kỳ mới, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; tạo nên sức mạnh tổng hợp giữ vững hòa bình, xây dựng và phát triển đất nước.

Thanh Hà
chinhphu.vn

“Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” – Tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam

(Chinhphu.vn) – Đây là chủ đề của Hội thảo khoa học cấp nhà nước về chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tổ chức sáng 28/11 tại Hà Nội.

Hội thảo khoa học cấp nhà nước “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” –  tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam. – Ảnh: VGP/Việt Hà

Hội thảo do Bộ Quốc phòng, Ban Tuyên giáo Trung ương, Thành ủy, UBND thành phố Hà Nội phối hợp tổ chức.

Cách đây 40 năm (tháng 12/1972), đế quốc Mỹ  đã mở cuộc tập kích chiến lược bằng không quân vào Hà Nội và các thành phố lớn ở miền Bắc với ý đồ làm xoay chuyển tình thế trên bàn đàm phán Hiệp định Paris.

Với ý chí  quyết chiến, quyết thắng, quân và dân ta đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược này, bắn rơi nhiều máy bay, trong đó có trên 30 máy bay B52, giáng cho Mỹ một đòn chí mạng, buộc chúng phải ký Hiệp định Paris, rút hết quân viễn chinh về nước, làm thay đổi cục diện chiến tranh có lợi cho cuộc kháng chiến của ta. Chiến thắng B52 trên bầu trời Thủ đô đã trở thành trận quyết chiến lịch sử, được mệnh danh là “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, Thượng tướng Nguyễn Thành Cung, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban Chỉ đạo Hội thảo khẳng định chiến thắng 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” thể hiện bản lĩnh, trí tuệ, tầm nhìn chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

66 tham luận tập trung khẳng định và làm sáng tỏ thêm bối cảnh, âm mưu, thủ đoạn mới của đế quốc Mỹ trước khi ký Hiệp định Paris; sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam – nhân tố quyết định thắng lợi của chiến dịch 12 ngày đêm, tinh thần chiến đấu kiên cường, mưu trí, dũng cảm, sự linh hoạt, sáng tạo của bộ đội phòng không – không quân, của quân và dân miền Bắc, trực tiếp là quân và dân Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác…

Hội thảo góp thêm tiếng nói khẳng định tầm vóc, ý nghĩa,  những kinh nghiệm và bài học lịch sử của Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, vận dụng và phát huy những bài học kinh nghiệm vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trung tướng Mai Quang Phấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ  nhiệm Tổng cục Chính trị  khẳng định, chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” là một mốc son chói lọi, là biểu tượng của ý chí kiên cường, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam. Đây là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân, của “thế trận phòng không nhân dân”, kế thừa và phát triển truyên thống nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời đại mới.

Dấu tích một thời bom đạn có thể bị phai mờ theo quy luật của thời gian, nhưng tầm vóc và ý nghĩa của “Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” vẫn mãi âm vang trong tâm trí của mỗi con người Việt Nam nói riêng và nhân loại tiến bộ nói chung. Những bài học kinh nghiệm được rút ra từ đây vẫn nguyên vẹn giá trị để nghiên cứu, vận dụng cho sự nghiệp xây dựng lực lượng và thế trận chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

Việt Hà
chinhphu.vn

Ra mắt cuốn sách “Đối mặt với B.52”

(Chinhphu.vn) – Nhân dịp kỉ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, ngày 4/12, NXB Trẻ và công ty Tomorrow Media đã tổ chức ra mắt cuốn sách “Đối mặt với B.52”.

Trong khoảng thời gian từ tháng 3/2010 đến tháng 9/2012, nhóm tác giả biên soạn cuốn sách đã tiến hành các cuộc gặp gỡ, ghi lại hồi ức của 116 nhân chứng về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ trên không. Đó là chân dung của một Hà Nội đối mặt với B -52, những đau thương mất mát, những cách thích ứng khó tin của người Hà Nội…

Với 3 phần, cuốn sách đi theo mạch thời gian từ thời điểm miền Bắc chống chiến tranh phá hoại, dựng lại bối cảnh sống của người Hà Nội những năm 1966-1972 và quá trình Quân chủng Phòng không-Không quân nghiên cứu cách đánh B.52.

Tiếp theo là quãng thời gian 12 ngày đêm không quên của những người dân ở lại Thủ đô Hà Nội trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không.

Phần III là câu chuyện của Hiệp định Paris dưới tác động của Điện Biên Phủ trên không cũng như điểm quá trình đàm phán gần 5 năm của cuộc chiến ngoại giao gian khổ, lâu dài hiếm có để có được hòa bình lập lại trên miền Bắc.

Theo PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà, Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, nguyên Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, nhờ cách làm sáng tạo của nhóm tác giả, đây là cuốn sách thú vị và sinh động viết về lịch sử.

Minh Anh
chinhphu.vn