Báo chí phương Tây với Madam Bình

(Chinhphu.vn) – 40 năm trước, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết sau 4 năm đàm phán. Trong khoảng thời gian đó, một nhân vật được báo chí phương Tây trân trọng ghi lại những khoảnh khắc đáng nhớ là bà Nguyễn Thị Bình, được gọi thân mật là Madam Bình.

2 giờ chiều ngày 2/11/1968, bầu trời Paris u ám và giá lạnh, bà Nguyễn Thị Bình trong bộ áo dài màu hồng sậm, khoác măng tô xám với chiếc khăn quàng đen điểm hoa, cùng đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam bước xuống sân bay Bourget giữa đám đông người chào đón, trong đó có nhiều nhà báo. Máy ảnh chớp lia lịa.

Ấn tượng đầu tiên

Bước vào phòng khách danh dự, bà cố gắng nói to, dõng dạc 5 điểm giải pháp của Mặt trận, bà Bình Thanh (Thanh Vân, chị gái bà Bình), dịch rõ ràng mạch lạc.

Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Bình thay mặt Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam trả lời báo chí tại Paris – Ảnh tư liệu

Đám nhà báo ngạc nhiên, im lặng, rồi xung quanh vang tiếng bàn ghế gãy, kính vỡ loảng xoảng và cãi cọ om xòm vì ai cũng muốn đứng gần bà Bình để ghi hình, ghi tiếng tốt hơn.

Ông Xuân Thủy (Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) cùng bà Bình đi trên đoàn xe bóng loáng, phấp phới lá cờ nửa đỏ nửa xanh, có ô tô, mô tô của cảnh sát Pháp dẫn đường và hộ tống, bà con Việt kiều và người dân Paris đứng chật hai bên đường sững sờ, xúc động. Hôm sau tất cả các báo Pháp và báo của các nước phát hành ở Paris đều chạy tít lớn: “Đại diện của Việt cộng đã đến Paris” và những lời bình rất kêu: “Việt cộng đã thắng lớn qua cuộc đón tiếp Madam Bình ở Paris”; “Madam Bình như một bà hoàng được đón như một quốc trưởng với đủ nghi thức chính quy, lại được hoan nghênh nhiệt liệt”; “Madam Bình đã làm chấn động dư luận Paris và thế giới. Cờ Mặt trận đã tung bay ở Paris! Rất tuyệt! Thật hiếm có!”.

Nhiều nhà báo đeo bám đến nơi ở, có nhà báo leo qua tường, có người đặt máy ảnh giữa kẽ hở cánh cửa để bất chợt chụp được những tấm ảnh đặc biệt của “đoàn Việt cộng”, nhất là ảnh Madam Bình ở biệt thự Thévent.

Bà Nguyễn Thị Bình tên thật là Nguyễn Châu Sa, sinh năm 1927 ở tỉnh Sa Đéc, Nam Bộ, là cháu ngoại chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh. Năm 1948, hoạt động chống Pháp ở Sài Gòn, lấy bí danh là Yến Sa. Năm 1961, làm công tác đối ngoại của Ủy ban thống nhất tại Hà Nội, đổi tên là Nguyễn Thị Bình để bảo đảm bí mật.

Thân sinh làm trắc địa ở Campuchia, đưa cả gia đình sang sống ở Phnompenh. Vì vậy, Nguyễn Châu Sa học trường Lycée Sisowath, trường trung học lớn nhất của Campuchia nên rất thông thạo tiếng Pháp, lại có khuôn mặt xinh tươi, vóc dáng thon thả, hợp với nghề ngoại giao. Suốt 14 năm làm công tác ngoại giao, Bà đã tham dự nhiều Hội nghị quốc tế quan trọng ở các nước châu Âu, trong đó có 5 năm là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Paris.

Ba ngày sau (5/11/1968), đoàn tổ chức họp báo, cuộc họp báo đầu tiên được coi là hiếm có. Hơn 400 nhà báo quốc tế đến dự, chứng tỏ họ rất quan tâm chú ý nhiều đến Đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam, đến cuộc đấu tranh chính nghĩa của ta. Trước mắt họ là một người phụ nữ nhỏ nhắn, hiền lành, đến từ một vùng đất đang rực lửa chiến tranh, ăn nói có lý có tình. Bà Bình đã trả lời phỏng vấn các nhà báo một cách suôn sẻ hơn 1 tiếng đồng hồ, gây được thiện cảm với họ. Những ngày tiếp theo, Madam Bình chịu áp lực khi nhiều nhà báo và các hãng truyền hình phỏng vấn riêng, nhưng vẫn tỏ ra bình tĩnh trước ánh đèn pha chiếu trực diện.

Ngày 25/1/1969, cuộc đàm phán về Hiệp định Paris chính thức bắt đầu. Lúc đó, trưởng đoàn là ông Trần Bửu Kiếm, bà Bình và ông Trần Hoài Nam là phó đoàn. Từ phiên họp thứ 21, bà Bình được cử làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, làm trưởng đoàn (thay ông Trần Bửu Kiếm).

Trong 4 năm đàm phán, bà Bình đi thăm nhiều nước để tranh thủ sự ủng hộ của họ. Tháng 4/1969, thăm Anh, một nước luôn ủng hộ Mỹ. Chuyến thăm tốt đẹp hơn cả mong đợi. Kết thúc buổi đón tiếp long trọng, Madam Bình từ trên đài cao bước xuống, đi diễu hành giữa hai hàng cảnh binh bảo vệ. Giữa quãng trường Trafalgar lớn, rừng người hô vang khẩu hiệu “Đoàn kết với Việt Nam!”, “Chấm dứt chiến tranh!”.

Chuyến thăm Thụy Điển năm 1970, được đích thân Thủ tướng Olof Palme (1927-1986) tiếp và cùng Madam Bình dẫn đầu cuộc biểu tình ủng hộ Việt Nam. Nữ nhà văn Sara Lidman (1923-1976) nổi tiếng ở Bắc Âu, tiếp và nói: “Chị Bình ơi, Việt Nam đang có một nền văn hóa dân tộc vô cùng quý giá…”.

Cuối tháng 4/1969, bà Bình về Hà Nội nhận chỉ thị mới và thăm cha đang bệnh nặng, và được Bác Hồ dặn phải vận động nhân dân các nước ủng hộ Việt Nam. Không ngờ đó là lần bà gặp cha và Bác cuối cùng.

Mặt trận đối ngoại là một chiến trường

Ngoài việc chuẩn bị cho các phiên họp chính vào thứ Năm hàng tuần, các trưởng đoàn phải tiếp xúc với báo chí nhiều. Bà Bình có những giai đoạn hầu như ngày nào cũng phải tiếp một hay hai hãng truyền hình hoặc phóng viên các báo Pháp, Mỹ, Anh, Nhật Bản.

Mặt trận đối ngoại là một chiến trường, có thể nói đấu lý lần nào chúng ta cũng giành thắng lợi. Có nhà báo hỏi: “Có quân đội miền Bắc ở miền Nam không?”. Bà Bình trả lời: “Dân tộc Việt Nam là một, người Việt Nam ở Bắc cũng như ở Nam đều có nghĩa vụ chiến đấu chống xâm lược”.

Nhà báo hỏi: “Vùng giải phóng ở đâu?” . Bà Bình dứt khoát: “Nơi nào Mỹ ném bom, bắn phá thì đó chính là vùng giải phóng của chúng tôi. Nếu không tại sao Mỹ lại phải ném bom?”.

Bà Nguyễn Thị Bình tại Lễ ký Hiệp định Paris, ngày 27/1/1973 – Ảnh tư liệu

Giữa năm 1971, truyền hình Pháp tổ chức cuộc họp báo ở hai đầu Paris và Washington, có 20 nhà báo tham gia, 10 người phần lớn là Mỹ bảo vệ lập trường của Mỹ, 10 người, phần lớn là Pháp trung lập. Bà Bình một mình giữa các nhà báo sừng sỏ, dưới ánh đèn sáng chói đã bình tĩnh đối đáp đàng hoàng, mạnh mẽ nhưng hòa nhã, nêu rõ thiện chí muốn tìm giải pháp chính trị chấm dứt chiến tranh. Ông Xuân Thủy gọi điện khen: “Cô rất dũng cảm”.

Khi Mỹ huy động máy bay B52 ném bom Hà Nội, ai cũng hồi hộp, lo lắng. Bà Bình được gọi về. Giữa đêm 30/12, về đến Hà Nội, bà đi thăm phố Khâm Thiên bị B52 tàn phá tối 26/12 với nỗi căm giận kẻ thù tàn bạo. Thăm hai đứa con nhỏ thương yêu, sống xa mẹ nhiều năm, sơ tán ở thị xã Hưng Yên.

Ngày 21/1/1973, trở lại Paris, bà Bình mở ngay cuộc họp báo, tuyên bố: “Chỉ có một nước Việt Nam, chỉ có một dân tộc Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời là đại diện của nhân dân miền Nam!”. Hãng AFP mô tả: “Madam Bình mặc áo dài truyền thống của Việt Nam bằng lụa vân màu xanh lá cây, trông rất thoải mái. Đôi lúc Madam Bình nở nụ cười làm khuôn mặt càng rạng rỡ, trả lời các nhà báo rõ ràng khúc chiết, làm cho người ta có cảm giác đứng trước một quý bà đầy bản lĩnh, đầy tự tin”.

Ngày 27/1/1973, họp phiên chính thức ký kết “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh Việt Nam”. Phóng viên hãng AP của Mỹ mô tả Trung tâm hội nghị Kléber tràn ngập biển người và cờ Việt Nam, cờ Mặt trận. Họ tung hô Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh và Nguyễn Thị Bình: “Hoan hô Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ! Hoan hô Chính phủ Cách mạng lâm thời!”. Mỗi vị ký vào 32 văn bản của Hiệp định. Phóng viên UPI của Mỹ viết: “Buổi lễ ký kết hòa bình ở Việt Nam diễn ra trong khung cảnh huy hoàng tráng lệ của thế kỷ 19 và những biện pháp an ninh nghiêm ngặt nhất mà thế kỷ 20 có thể tạo ra. Bốn Ngoại trưởng, 2.000 cảnh sát và an ninh bảo vệ nghiêm cẩn”.

Bà Bình nhớ rõ, với 174 phiên họp chính thức, hai đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời đã tổ chức hơn 500 cuộc họp báo và 1000 lần trả lời phỏng vấn báo chí. Ngày 29/1/1973, hai đoàn Việt Nam tổ chức chiêu đãi các nhà báo. Ông Lê Đức Thọ hoan nghênh và cảm ơn các nhà báo. Cả phòng họp với hơn 400 nhà báo quốc tế đứng dậy vỗ tay hồi lâu. Đó là một ngoại lệ chưa từng có trong các cuộc họp báo trước đó.

Phan Thu Hương
chinhphu.vn

Tình báo tồi và ông “nghễnh ngãng” ở Hội nghị Pa-ri

QĐND – Trên bàn đàm phán ở Hội nghị Pa-ri về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam, có giai đoạn Mỹ đòi ta không được đưa thêm quân miền Bắc vào miền Nam. Mỹ còn đưa ra các bằng chứng để cáo buộc ta về việc này. Có lần họp, đoàn Mỹ đưa bằng chứng là mấy bức ảnh màu chụp từ vệ tinh, trong đó chụp bộ đội của ta đang ở trong rừng mà Mỹ cho là đang trên đường hành quân vào Nam. Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ rất nhanh, phản ứng trước tiên bằng một nụ cười to, chắc khỏe, có ý “khinh khi” sự bịa đặt của Mỹ. Rồi đồng chí nói, tình báo của các ông tồi lắm. Lúc chúng tôi không đưa quân nữa thì các ông lại chụp ảnh này. Tôi nói với các ông chứ rừng Việt Nam chỗ nào chả giống chỗ nào. Các ông ra Bắc chụp quân mà đội mũ cối, sao vàng, đeo lon thế này là bình thường. Nhưng lúc chúng tôi đưa đại pháo và cả xe tăng vào Sài Gòn thì tình báo các ông lại chẳng biết tí gì cả. Cho nên các ông thua là phải. Tấm ảnh Mỹ đưa ra không hề chính xác, vì khi dàn trận, quân ta không đeo lon, đeo sao như thế. Sau đó, ta họp báo cũng nêu tình tiết này nhằm cho thế giới biết âm mưu và thủ đoạn của Mỹ.

Trưởng đoàn Xuân Thủy nổi tiếng là người hay lái vào các vấn đề đàm phán khi gặp đoàn Mỹ một cách khéo léo. Suốt thời gian diễn ra hội nghị hai bên giữa đoàn VNDCCH và đoàn Mỹ (từ tháng 5 đến tháng 11-1968), ta chỉ nhắc đi nhắc lại yêu cầu Mỹ phải chấm dứt ném bom miền Bắc trước khi bàn sang các vấn đề khác. Trong khi Mỹ muốn bàn đồng thời hai vấn đề quân sự và chính trị trên nguyên tắc “có đi có lại”. Suốt mấy tháng trời, trong các cuộc họp, ta chỉ nêu độc vấn đề như trên, còn Mỹ nhất định không chịu. Thế nên báo chí gọi đây là “cuộc nói chuyện giữa những người điếc”. Song rốt cuộc, do các diễn biến thay đổi trên chiến trường và sức ép mạnh mẽ của dư luận, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn đã phải tuyên bố chấm dứt ném bom hoàn toàn và vô điều kiện miền Bắc Việt Nam. Sau đó, trong một buổi nói chuyện khi kết thúc hội nghị hai bên giữa trưởng đoàn Xuân Thủy và trưởng đoàn Mỹ Ha-ri-man, ông Ha-ri-man tâm sự với ông Xuân Thủy rằng: “Tôi già trên 80 tuổi rồi, nên tai hơi khó nghe”. Đồng chí Xuân Thủy bèn nói ngay: “Bây giờ tôi mới biết ông nghễnh ngãng. Thảo nào chỉ có một câu là “Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc” thôi mà tôi nói suốt gần 6 tháng ông mới nghe ra”.

MỸ HẠNH-ANH THƯ
qdnd.vn

Kỷ niệm trọng thể 40 năm ngày ký hiệp định Paris

Chiều 22-1, tại Mátxcơva, Hội Hữu nghị Nga-Việt phối hợp cùng Đại sứ quán Việt Nam tổ chức kỷ niệm lần thứ 40 ngày ký Hiệp định Paris (27-01-1973/27-01-2003) và lần thứ 70 ngày Chiến thắng Stalingrad trong cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của nhân dân Liên Xô (02-02-1943/02-02-2013).

Hai sự kiện dù xảy ra ở hai thời điểm lịch sử, hai bối cảnh khác nhau, nhưng lại có sự liên quan chặt chẽ, là mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh giữ nước của hai dân tộc.

Tham dự lễ kỷ niệm về phía Việt Nam có Đại sứ Phạm Xuân Sơn cùng đại diện các phòng, ban của Đại sứ quán.

Về phía Nga có các ông Vladimir Buyanov, Chủ tịch Hội Hữu nghị Nga-Việt, ông Anatoly Pozdeev, Thiếu tướng, cựu chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam; các cựu chiến binh Liên Xô trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại; đại điện Hội Cựu chiến binh thành phố Mátxcơva; con em một số anh hùng Xô Viết đã ngã xuống trong trận Stalingrad và đông đảo sinh viên nghiên cứu chuyên ngành lịch sử của Học viện Kinh tế và pháp luật.

Phát biểu tại buổi lễ, Đại sứ Phạm Xuân Sơn nhấn mạnh chiến thắng của nhân dân Liên Xô trong trận Stalingrad đã góp phần cổ vũ tinh thần to lớn dẫn đến thành công của cuộc cách mạng tháng 8/1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sau này, với sự ủng hộ về ngoại giao, sự trợ giúp thiết thực bằng vật chất của nhân dân Liên Xô, Việt Nam đã đạt được thắng lợi trong quá trình đấu trí cam go, buộc Mỹ phải đặt bút ký Hiệp định Pari lịch sử năm 1973 và sau đó quân và dân ta giành chiến thắng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử thống nhất hoàn toàn đất nước vào năm 1975.

Đại sứ cho rằng việc tổ chức kỷ niệm thường niên hai sự kiện lịch sử này có giá trị giáo dục to lớn đối với thế hệ trẻ hai nước, giúp ôn lại quá khứ hào hùng của cha ông và tiếp thêm sức mạnh để các thế hệ mai sau vững tin trên con đường xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Phát biểu bày tỏ cảm xúc, Thiếu tướng Pozdeev cho biết, những người đương thời với ông vẫn tự hào gọi Chiến thắng Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không là Stalingrad của Việt Nam bởi quy mô cuộc chiến, lòng yêu nước và ý chí quyết tâm của hai dân tộc đã cùng tạo nên bước ngoặt lịch sử.

Đại diện cho các nữ cựu chiến binh từng tham gia trận đánh Stalingrad, bà Marina Rokhlina chia sẻ những ký ức khủng khiếp về thời bom đạn; mong muốn các bạn trẻ hôm nay không chỉ nghe, không chỉ biết mà còn phải ghi nhớ để nhắc nhở con cháu rằng đã có một cuộc chiến tranh tàn khốc như thế trong lịch sử dân tộc. Nhiều đại diện là con em các anh hùng Liên Xô đã ngã xuống trong trận Stalingrad bày tỏ ký ức họ còn lưu giữ về những người ông, người cha đã hy sinh để bảo vệ Tổ Quốc.
Các đại biểu tham dự lễ kỷ niệm cùng nhau xem lại những trích đoạn phim tư liệu phản ánh cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của nhân dân Liên Xô và cuộc chiến giành độc lập dân tộc của quân và dân Việt Nam.

Theo Vietnam+
qdnd.vn

Triển lãm “Kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Pa-ri về Việt Nam”

QĐND Online – 140 bức ảnh, 21 lời trích, 23 hiện vật, 3 tài liệu, 8 cuốn sách trưng bày tại triển lãm “Kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Pa-ri về Việt Nam”, do Bộ VH,TT&DL phối hợp với Bộ Ngoại giao tổ chức khai mạc vào sáng 23-1, tại Hà Nội. Nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đến dự triển lãm.

Tại triển lãm, công chúng được chiêm ngưỡng nhiều tư liệu, hiện vật quý, tái hiện quá trình đàm phán và ký kết Hiệp định Pa-ri, trong đó có những hiện vật lần đầu tiên được trưng bày như: Bản gốc Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam; con dấu và biển tên của đoàn Chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam; hai cây bút đã được đoàn Việt Nam sử dụng để ký Hiệp định và Định ước quốc tế công nhận Hiệp định; chiếc xoong nhôm dùng để quấy xi niêm phong bản Hiệp định; cuốn sổ tập hợp 10.000 chữ ký của nhân dân Cu Ba phản đối chiến tranh và ủng hộ nhân dân Việt Nam…

Qua cuộc triển lãm, người xem có thể cảm nhận được toàn cảnh cuộc đấu tranh bền bỉ, kiên cường, mưu trí, khôn khéo và đầy bản lĩnh của những nhà ngoại giao cách mạng Việt Nam trên bàn đàm phán, sự kết hợp tài tình giữa 3 mặt trận quân sự-chính trị-ngoại giao.

Phát biểu tại buổi lễ, Phó trưởng Ban Thường trực Ban tổ chức cấp Nhà nước về các hoạt động kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga khẳng định: “40 năm đã trôi qua. Nhiều thế hệ người Việt Nam đã sinh ra và lớn lên trong hòa bình, sau ngày Hiệp định Pa-ri được ký kết. Trong các nhân chứng lịch sử của sự kiện này có những người đã đi xa. Nhưng ý nghĩa to lớn và những bài học lịch sử của đàm phán và ký kết Hiệp định Pa-ri mãi mãi còn nguyên giá trị. Tôn vinh thắng lợi lịch sử, trân trọng, tri ân những đóng góp, hy sinh của thế hệ cha ông để noi gương, phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Cuộc triển lãm này là một trong chuỗi các sự kiện đầy ý nghĩa kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Pa-ri về Việt Nam”.

Triển lãm sẽ kết thúc vào ngày 28-1.

Dưới đây là một số hình ảnh tại triển lãm kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Pa-ri về Việt Nam.

Cắt băng khai mạc triển lãm kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pa-ri về Việt Nam

Nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình tại triển lãm

Cặp đựng tài liệu ký Hiệp định Pa-ri

Cuốn sổ tập hợp 10.000 chữ ký của nhân dân Cu Ba phản đối chiến tranh và ủng hộ nhân dân Việt Nam

Hai cây bút và một số hiện vật đã được đoàn Việt Nam sử dụng để ký Hiệp định

Đại diện Việt Nam, Mỹ cùng với tổ quốc tế giám sát, kiểm soát và Ban liên hợp quân sự 4 bên trao đổi thể thức trao trả tù binh (1973)

Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Xuân Thủy và đoàn Mỹ tại cuộc họp riêng ngày 8-9-1968 ở Pa-ri

Kiều bào phất cờ đỏ sao vàng và cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tới dự phiên họp toàn thể lần thứ 2 của Hội nghị Pa-ri về Việt Nam (25-1-1969)

Quang cảnh buổi trao trả 116 tù binh là nhân viên quân sự Mỹ và phi công Mỹ đợt đầu tiên (12-2-1973)

Tin, ảnh: KHÁNH HUYỀN
qdnd.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong trái tim nhân loại

Việt Nam - Hồ Chí MinhLịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã sinh ra nhiều anh hùng giải phóng dân tộc, nhiều người được vinh danh…

Người người nối tiếp nhau, viết lên trang sử vẻ vang cho dân tộc, trong đó Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị anh hùng vĩ đại nhất, trang sử Người để lại là trang sử vẻ vang nhất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là anh hùng dân tộc vĩ đại, bởi vì, Người là người Việt Nam đầu tiên đã tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam, con đường cách mạng vô sản. Người sinh ra và lớn lên trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động của đất nước – giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, bao cuộc khởi nghĩa đấu tranh anh dũng, bất khuất giành độc lập và thống nhất Tổ quốc đều lần lượt thất bại. Phong trào cứu nước của nhân dân Việt Nam đứng trước một cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối. Nhà yêu nước tiền bối Phan Bội Châu đã sớm nhận rõ tư tưởng vĩ đại của người lãnh tụ mới của phong trào cách mạng Việt Nam Nguyễn Ái Quốc, đặt niềm tin vào Nguyễn Ái Quốc. Cụ từng nói với nhiều người khi đến thăm cụ ở Bến Ngự rằng: “… đời hoạt động cách mạng của tôi rốt cuộc là một thất bại lớn. Đó là bởi tuy tôi có lòng mà thực bất tài. Nhưng dân tộc ta thế nào rồi cũng độc lập. Nhất định phải thế. Hiện nay đã có người khác lớn hơn lớp chúng tôi nhiều, đứng ra đảm đương công việc để làm tròn cái việc mà chúng tôi không làm xong. Ông có nghe tiếng ông Nguyễn Ái Quốc không? Ông ấy còn thì nước ta nhất định sẽ độc lập. Vì ông ấy giỏi.”

Đúng như đánh giá của Phan Bội Châu, chính lúc đó, bằng sự mẫn cảm chính trị và qua tìm hiểu thực tiễn cách mạng thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vượt qua hạn chế của các bậc tiền bối, Người là người đầu tiên đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, đỉnh cao của văn hóa nhân loại, tìm ra con đường cứu nước cho cách mạng Việt Nam – cách mạng vô sản, đó là sự kết hợp chủ nghĩa yêu nước nồng nàn với chủ nghĩa quốc tế chân chính, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Từ đó, Người mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đồng thời cũng mở ra con đường giải phóng cho tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Không chỉ kế thừa, vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin vào phong trào cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn góp phần phát triển học thuyết của V.I Lênin về cách mạng thuộc địa, làm sáng tỏ mối quan hệ khăng khít giữa cách mạng vô sản ở chính quốc và cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa; đưa ra luận điểm về tính chủ động của cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và khẳng định sự nghiệp đấu tranh giải phóng của nhân dân thuộc địa chỉ có thể thực hiện được bằng nỗ lực của bản thân các nước thuộc địa. Hơn thế nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định từ rất sớm: cách mạng thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà có thể tiến hành trước, và thắng lợi của nó sẽ “giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”.

Đối với cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa Đảng lên vị trí đảng cầm quyền. Từ ngày Đảng ra đời, Người luôn chăm lo từng bước trưởng thành của Đảng, rèn luyện Đảng thành đội tiên phong vững vàng, sáng suốt của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập Mặt trận Dân tộc thống nhất. Đó là khối đại đoàn kết dân tộc vững chắc, tạo ra sức mạnh vô địch vượt qua mọi thử thách khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công”. Đây chính là tư tưởng chiến lược xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam. Mặt trận là nhân tố quan trọng bảo đảm cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam và góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập và rèn luyện Quân đội nhân dân Việt Nam thành một đội quân cách mạng “trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Những nhân tố quyết định trên đảm bảo vững chắc cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Mở đầu là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà – Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, khẳng định vị trí của Việt Nam trên bản đồ thế giới, đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và tự do, sánh vai cùng các dân tộc đấu tranh không mệt mỏi cho một xã hội công bằng, tiến bộ, văn minh.

Tiếp đó, những thắng lợi vĩ đại, vang dội khắp năm châu của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX, đã đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, là người anh hùng kiệt xuất trong lịch sử dân tộc. Công lao to lớn và sự nghiệp vĩ đại của Người gắn liền với lịch sử quang vinh của Đảng Cộng sản Việt Nam, với những trang hào hùng nhất trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người anh hùng dân tộc vĩ đại, đã đi vào lịch sử và sống mãi với muôn đời sau.

Vượt lên trên tất cả các bậc tiền bối, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là “biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”, mà Người còn có “sự đóng góp quan trọng và nhiều mặt trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật”. Người là “kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc”, Người đã được ghi danh vào danh sách “các nhân vật trí thức lỗi lạc và các danh nhân văn hoá trên phạm vi quốc tế góp phần thực hiện các mục tiêu của UNESCO và đóng góp vào sự hiểu biết trên thê giới” như Nghị quyết 24C/18.65, phiên họp Đại Hội đồng UNESCO, khoá họp lần thứ 24, tại Pari đã tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và khuyến nghị các nước thành viên cùng tham gia kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Người.

Thật khó mà tách rời Hồ Chí Minh – anh hùng giải phóng dân tộc với Hồ Chí Minh – nhà văn hóa kiệt xuất. Bởi vì, lãnh đạo toàn dân đánh đuổi giặc ngoại xâm, với vinh dự lớn là một nước nhỏ đã đánh thắng hai đế quốc to là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng nhân dân khỏi thân phận nô lệ, khỏi cái đói, cái rét, giành lại cho nhân dân Việt Nam những quyền sống của con người, một cuộc sống có văn hóa, đó không chỉ là một sự nghiệp chính trị phi thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà là cuộc đấu tranh không mệt mỏi của Người cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, chính là sự nghiệp văn hóa cao cả nhất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, là nhà văn hóa kiệt xuất, kiến trúc sư của nền văn hóa mới Việt Nam, Người sớm nhận thấy vai trò và sức mạnh của văn hoá, đưa văn hoá vào chiến lược phát triển của đất nước. Để xây dựng một nền văn hoá mới, ngay từ khi nước nhà mới giành được độc lập (1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc là phát triển văn hóa, xoá mù chữ, nâng cao dân trí, phát triển giáo dục. Người nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Do vậy, phải chống giặc dốt đi đôi với chống giặc đói và chống giặc ngoại xâm, trước hết phải là xóa nạn mù chữ, để tất cả mọi người Việt Nam đều phải biết đọc, biết viết “Mọi người Việt Nam đều phải hiểu biết quyền hạn của mình, phải có kiến thức mới để tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà”. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn phát động phong trào xây dựng đời sống mới, để xây dựng một nền đạo đức mới, con người mới; chống những thói quen xấu và hủ tục lạc hậu; phát triển những thuần phong, mỹ tục mới trong nhân dân. Nền văn hoá mới mà Người chủ trương xây dựng là một nền văn hoá luôn hướng con người tới chân, thiện, mỹ, tới hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc, tới tình hữu ái giữa người với người.

Trên hành trình vạn dặm đi tìm chân lý, đến nhiều nước, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa, Người đã học tập và làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn văn hoá phương Đông và phương Tây. Người đã từng hấp thụ văn hoá nhân đạo và dân chủ của phương Tây, đặc biệt là tinh thần tự do, bình đẳng, bác ái của truyền thống văn hoá Pháp. Người trân trọng mọi giá trị văn hoá nhân loại, tôn trọng và chấp nhận những giá trị khác biệt với sự lựa chọn của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm đề ra chủ trương kế thừa truyền thống tốt đẹp của văn hoá dân tộc phải đi đôi với việc học tập và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá của nhân loại: “Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt, ta học lấy để tạo ra một nền văn hoá Việt Nam. Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hoá xưa và văn hoá nay, trau dồi cho văn hoá Việt Nam thật có tinh thần thuần tuý Việt Nam để hợp với tinh thần dân chủ ”.

Là linh hồn của công cuộc kháng chiến, kiến quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời xúc tiến công cuộc xây dựng nền văn hóa mới nước nhà với các tiêu chí: Dân tộc, khoa học và đại chúng. Người đã sáng tạo ra một thời đại mới, một nền văn hoá mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng là những giá trị đóng góp vào sự phát triển văn hoá của thế giới. Đi trước thời gian, nhiều chủ trương văn hoá được Người để ra rất sớm – từ giữa những năm 40 và 50 của thế kỷ XX, như: Xoá mù chữ, trồng cây, trồng người, phủ xanh đồi trọc, cải tạo môi trường sinh thái, v.v.., đến thế kỷ XXI này đã trở thành những vấn đề nóng, cấp bách, mang tính toàn cầu, mà nhân loại bắt buộc phải quan tâm, giải quyết.

Những tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hoá đang là kim chỉ nam cho chúng ta trong việc xây dựng một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đồng thời không ngừng mở rộng sự giao lưu văn hoá với thế giới.

Một trong những điều kiện giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh hoạt động cách mạng, hoạt động văn hóa, tiếp thu tri thức nhân loại, là Người biết nhiều ngôn ngữ khác nhau, sử dụng một cách thành thạo trong viết văn, viết báo, làm thơ, viết kịch. Trải qua mấy chục năm học tập và rèn luyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng bước vươn lên tầm cao của trí tuệ thời đại để từ đó mà vận dụng và phát triển, sáng tạo và đổi mới, đóng góp vào kho tàng văn hoá thế giới những giá trị đặc sắc, in đậm dấu ấn Việt Nam – Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà thơ, nhà văn lớn. Thơ của Người phần lớn viết bằng tiếng Việt, có nhiều bài viết bằng chữ Hán, không chỉ là những những vần thơ tuyên truyền, đuổi giặc, mà thơ của Người còn thể hiện khát vọng tự do, công lý, cơm áo, hoà bình, cổ vũ cho cái đẹp và mối quan hệ nhân văn giữa người với người, đậm chất chữ tình, với nghệ thuật uyên bác. Đó là những nội dung chủ yếu làm nên thơ Hồ Chí Minh, với những giá trị nhân văn cao quý, toả sáng từ một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn. Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là nhà văn lớn, là người mở đầu và đặt nền móng cho nền văn xuôi cách mạng Việt Nam. Người viết nhiều thể loại: truyện ngắn, ký, kịch, tiểu phẩm, văn chính luận,… Ở lĩnh vực nào cũng có những thành công nổi trội. Văn chính luận của Người giàu tri thức văn hoá, giàu tính luận chiến, lập luận chặt chẽ, lý luận sắc sảo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là nhà báo vĩ đại, người thầy của báo chí cách mạng Việt Nam. Người rất khiêm tốn, không nhận mình là nhà báo, chỉ nhận mình là “người có duyên nợ với báo chí”. Chính Người đã sáng lập và là linh hồn của nhiều tờ báo cách mạng: Le Paria (1922); Thanh niên (1925); Việt Nam Độc lập (1941)… Với trên 60 bút danh khác nhau, Người đã viết hàng nghìn bài báo, góp phần thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, lên án chủ nghĩa thực dân, chỉ đạo phong trào cách mạng ở thuộc địa, hướng tới CNXH, giáo dục về CNXH, xây dựng kinh tế, bồi dưỡng con người mới… “Suốt đời, Hồ Chí Minh là người cầm bút, chiến đấu trên mặt trận văn hóa, báo chí, với một văn phong đa dạng nhiều sắc thái mà điểm nổi bật là tính quần chúng, cách suy nghĩ và diễn đạt dân gian, dễ hiểu, đi sâu vang vọng trong lòng người, gợi mở những tư tưởng lớn lao, thúc đẩy những việc làm tốt đẹp, bằng những lời lẽ bình dị giàu hình tượng, nói lên được điều lớn, bằng chữ nhỏ”.

“Văn hóa là sợi dây có khả năng nối liền nhân dân các nước và các dân tộc. Những tinh hoa văn hóa của một dân tộc đều là tài sản chung của nhân loại và ngược lại, những đỉnh cao văn hóa loài người là những của báu không dành cho riêng ai. Sự hiểu biết lẫn nhau, sự học tập và tôn trọng nhau xưa nay đều thể hiện sâu sắc qua văn hóa, nơi tập trung những biểu hiện rực rỡ nhất của tâm huyết và sức sáng tạo của con người”. Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng sự nghiệp hoạt động cách mạng, hoạt động văn hóa của mình, đã là người Việt Nam đầu tiên bắc nhịp cầu hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với các dân tộc trên thế giới.

Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà văn hóa và nhà cách mạng thống nhất hữu cơ làm một, tri thức văn hóa chỉ nhằm mục đích phục vụ cho hoạt động cách mạng. Không những vậy, chính yếu tố văn hóa trong con người Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho Người có một sức thu hút mạnh mẽ, một khả năng cảm hóa đặc biệt đối với người xung quanh, ngay cả đối với những người nước ngoài, dù cho từ đâu tới và thuộc hệ tư tưởng nào. Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà văn hóa lớn còn bởi vì chính bản thân Người, cuộc sống của Người, là hiện thân của nền văn hóa mới Việt Nam, là mẫu mực của con người mới Việt Nam và là đề tài không bao giờ cũ, là nguồn cảm hứng vô tận cho các nhạc sĩ, họa sĩ, nhà thơ, nhà văn, nhà báo… tạo ra những tuyệt tác, bởi vì, “ngay giữa cuộc đời mình”, Người đã đi vào truyền thuyết, “Cuộc sống của Người là một bài thơ đầy nét anh hùng ca”.

Là một vĩ nhân đã để lại dấu ấn đặc biệt trong thế kỷ XX, từ khi xuất hiện trên vũ đài chính trị (1919), đến khi từ biệt thế giới này (1969), sau đó 10 năm, 20 năm… sự kính trọng, ngưỡng mộ, đánh giá cao của nhân loại đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh không hề thay đổi. Một vài nhận thức của chúng tôi trên đây chỉ là đôi nét phác thảo về Chủ tịch Hồ Chí Minh-Lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, người Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất mà nhân loại đã ghi nhận. Cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh là tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam, đã và đang được các nhà nghiên cứu tiếp tục khai thác, nhằm phát hiện, tôn vinh những giá trị văn hóa, tư tưởng trong cuộc đời Người cho công cuộc bảo vệ và xây dựng cuộc sống mới hôm nay. “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”, Người sẽ sống mãi và đồng hành cùng dân tộc trên con đường “xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Theo TS. Chu Đức Tính, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

http://www.yenbai.gov.vn

“Báu vật” trong tờ báo mang tên “Quốc hội”

Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị “Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử, ứng cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống”.

Tiếp đó, Sắc lệnh về ngày Tổng tuyển cử bầu Quốc hội ra đời. Cuộc Tổng tuyển cử lần đầu tiên diễn ra ở Việt Nam và cả khu vực Đông Nam Á đã khiến cả thế giới ngỡ ngàng…

bau vatCử tri nhận phiếu bầu tại một khu vực bỏ phiếu trong ngày Tổng tuyển cử

Ký ức của cụ già 80 tuổi

Cụ Nguyễn Đức Kầm ở xã Cát Văn (Thanh Chương, Nghệ An) năm nay đã 80 tuổi kể:

“Tôi nhớ Sắc lệnh ghi rõ những quy định về vận động ứng cử, tổ chức bầu cử. Ví dụ như Sắc lệnh quy định người ứng cử được tự do vận động nhưng cuộc vận động không được trái với nền dân chủ cộng hòa và phương hại đến nền độc lập.

Trong cuộc hội họp để vận động tuyển cử (diễn thuyết giới thiệu người ứng cử) chỉ phải khai cho các Ủy ban nhân dân địa phương biết trước 24 giờ… Hồi đó, tôi còn đọc được một bài trên Báo Quốc hội ra ngày 17/12/1946 với nhan đề Trước ngày Tổng tuyển cử làm gì?

Bài báo đã hướng dẫn ngắn gọn nhưng đầy đủ những việc mà người cử tri cần làm trước ngày bầu cử”.

Cụ Kầm cẩn thận lật đáy hòm lấy ra một tờ báo khổ to, in trên giấy nâu cũ kỹ. Tờ báo mang tên Quốc hội và dưới măng-séc ghi “Nhật báo chỉ ra trong ngày Tổng tuyển cử”. Giá bán 5 hào. Tờ báo có hai trang nhưng đã phản ánh rất phong phú, sinh động những diễn biến và không khí trước ngày Tổng tuyển cử.

Cụ Kầm nhớ lại: “Ngày ấy, tôi muốn biết rõ các ứng cử viên, chương trình tranh cử và những phát biểu của họ trước ngày Tổng tuyển cử thì mua tờ báo Quốc hội này đọc, nghe loa phát thanh…

Cách tuyên truyền đi vào lòng người nên đến bây giờ tôi vẫn không thể nào quên”. Cụ vuốt lại tờ báo cho phẳng rồi cẩn thận cất vào đáy hòm.

Những ngày này, PGS Lê Mậu Hãn – giảng dạy môn Khoa học chính trị ở Đại học Quốc gia Hà Nội, người nghiên cứu sâu về Tổng tuyển cử năm 1946 và đã biên soạn hai tập sách về lịch sử Quốc hội đang muốn tìm về cái không khí náo nức của những ngày đầu năm 1946.

Ông lần giở cho chúng tôi xem từng trang báo Quốc hội và thuyết minh như thể mình là chủ bút: “ Đây là báo Quốc hội số 1, thay lời phi lộ, báo nói rõ mục đích của mình: “1. Định rõ giá trị cuộc Tổng Tuyển cử đối với ngoài nước và trong nước. 2 Giải thích thể lệ Tổng tuyển cử cho công dân Việt Nam hiểu quyền hạn và bổn phận của mình trong khi bầu cử .3. Giúp các bạn ứng cử một cơ quan vận động chung, để giới thiệu thành tích, khả năng và chương trình của mình”.

Có thể nói thời điểm này, nếu đọc lại các số báo Quốc hội có thể hình dung được bức tranh toàn cảnh lẫn cận cảnh ngày Tổng tuyển cử. Báo đã phỏng vấn rất nhiều ứng cử viên mà tên tuổi đã đi vào lịch sử . Đặc biệt báo đã hai lần đăng phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh về Tổng tuyển cử. Đó thực sự là “báu vật” của Báo Quốc hội”.

Đó là số đặc biệt ra ngày 6/1/1945 – Ngày Tổng tuyển cử. Mặc dù bận trăm công ngàn việc nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành thời gian tiếp phóng viên Báo Quốc hội.

Bài báo với nhan đề Hồ Chủ tịch nói về phụ nữ, được đăng trang trọng trên trang nhất. Đã hơn 60 năm trôi qua nhưng bài trả lời phỏng vấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn rất ý nghĩa đối với kỳ bầu bầu cử Quốc hội khóa XII sẽ diễn ra vào ngày 20/5/2007.

PV: Xin Cụ cho biết về chính trị, phụ nữ nước nhà đã có gì khả quan chưa? Hồ Chủ tịch mỉm cười: Ấy, tôi cũng đang định hỏi chị về chỗ đó.

PV: Bẩm Cụ theo như chỗ cháu thấy thì phụ nữ nước nhà tiến bộ chậm lắm, hầu hết còn rụt rè, nhút nhát vì không có nhiều cuộc họp chung để trao đổi ý kiến, tuy cũng có một vài đoàn thể song phạm vi không rộng lắm, phần nhiều chỉ những tổ chức riêng, hội họp riêng cho một số đoàn viên thôi.

Hồ Chủ tịch gật đầu: Cái đó là lỗi ở các đoàn thể không biết mở rộng phạm vi nhưng cũng là lỗi ở các chị đã không biết tin đến…

PV: Bẩm Cụ, rất đúng, phụ nữ xứ nhà còn thờ ơ lắm với quyền lợi của mình, ngay như việc đi bầu cử, có nhiều chị không được sốt sắng, kêu bận con không đi được hay không biết gì mà bầu…

Hồ Chủ tịch hỏi: Thế chị có khuyến khích các chị ấy không? Chị nói gì với các chị ấy?

PV: Bẩm Cụ, cháu có nói với các chị ấy rằng cần phải đi bầu cử, có đi bầu cử mới chọn được người xứng đáng làm đại biểu bênh vực quyền lợi cho mình, nhất là cuộc Tổng tuyển cử tới đây lại quan hệ đến nền độc lập của quốc gia.

Hồ Chủ tịch ôn tồn nói: Chị nói thế chưa đủ, phải nói cho phổ thông chứ đừng nói cao xa quá.

Thí dụ như một người đàn bà xưa nay chỉ ở trong nhà bế con, nghe chị nói, người ta chỉ biết rằng đi bầu chọn người đại biểu để bênh vực quyền lợi, nhưng người ta có hiểu quyền lợi gì? Ở đâu?

Phải nói đến cái điều gì thiết thực cho người ta thấy ngay được cái lợi, thí dụ ít nữa sẽ có nhiều nhà nuôi dạy trẻ, nếu chị bận hay muốn làm thêm công việc gì khác, có thể đem con đến gửi, cũng được chăm sóc cẩn thận như ở nhà…”.

Cũng trong số báo Quốc hội đặc biệt ra ngày 6/1/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời phỏng vấn về một số vấn đề quan trọng của Tổng Tuyển cử.

Trả lời câu hỏi: Phương pháp tuyên truyền Quốc hội và vận động Tổng Tuyển cử, nước nhà đã theo kịp nước người chưa, Hồ Chủ tịch cho rằng: Nước nhà cố nhiên chưa theo kịp nước người, vì lần đầu tiên chưa có kinh nghiệm; vả chăng những phương tiện tuyên truyền của nước ngoài khá hơn, ví dụ họ có sẵn tàu bay, sẵn rạp chiếu bóng, sẵn giấy.v.v.. là những thứ hiện ta thiếu cả. Nhưng lần đầu mình làm được như thế này cũng đã khá lắm rồi.

Ông Chủ bút Báo Quốc hội nhắc lại nỗi sung sướng của một bà cụ 92 tuổi ở Phúc Yên hôm đi bỏ phiếu. Hồ Chủ tịch bảo đó cũng là một chứng cớ chứng tỏ mình không kém người chút nào, chỉ tại mình chưa hề được bầu cử.

Trước khi các phóng viên ra về, Hồ Chủ tịch ân cần nói thêm một câu và dặn phải nhắc lại cho đồng bào: “Ở Pháp đã có mấy chục lần tuyển cử rồi nhưng mãi năm ngoái, phụ nữ Pháp mới được hưởng quyền bỏ phiếu. Xem như thế, thì có cái ta chậm hơn nước ngoài, nhưng có cái ta đi quá họ”.

Hồi ấy, PGS Lê Mậu Hãn còn là một thiếu niên chưa được quyền đi bầu cử, nhưng cái không khí náo nức ở cái làng nhỏ ở tỉnh Quảng Trị trước ngày Tổng tuyển cử vẫn in đậm trong tâm trí ông đến bây giờ.

Làng rợp bóng cờ đỏ sao vàng, khẩu hiệu, biểu ngữ. Nhiều người mang biểu ngữ lên xe trâu đi khắp làng kêu gọi người dân đi bầu cử. Một số người còn sáng tác cả thơ ca hò vè để vận động cho các ứng cử viên.

Có bà cụ 85 tuổi vẫn thắp đèn học chữ quốc ngữ để đến ngày bầu cử có thể tự tay viết tên ứng cử viên mình chọn, khỏi phải nhờ đến con cháu. Không khí ngày hội ấy tràn ngập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ.

Tại tỉnh miền núi xa xôi Bắc Kạn, gần như tất cả các nhà dân đều dán những khẩu hiệu: “Công dân Việt Nam phải đi bầu cử”. Tối hôm 19/12/1945, Ban Tuyên truyền thành Bắc Kạn đã diễn vở Thày bói xin đi bỏ phiếu để cổ động cho dân chúng biết thế nào là người có quyền bầu cử.

Tại thị xã Sơn Tây, tối 18/12/1945, một số người ứng cử vào Quốc hội đã ra mắt và công chúng và diễn thuyết. Nhiều địa phương treo giải cho làng nào có người đi bầu đông nhất. Có nơi còn mở cuộc thi dự đoán ai sẽ trúng cử…

Trên cái nền đó, những người ứng cử vào Quốc hội cũng tích cực vận động, đi diễn thuyết, gặp gỡ cử tri, trả lời báo chí… Các chương trình hành động, lời hứa đối với người dân của một số ứng viên nổi tiếng như Vũ Đình Hoè, Xuân Diệu, Trịnh Văn Bô… được đăng tải trên các số Báo Quốc hội và tạo nên một không khí dân chủ đầy chất nghị trường chưa từng có trong lịch sử hàng nghìn năm nước Việt.

Phùng Nguyên
Việt Báo (Theo
Báo Tiền Phong)
Kim Yến
(st)

bqllang.gov.vn

Đạo đức Hồ Chí Minh

TT-HCM về đạo đứcHồ Chí Minh đã suốt đời tận tụy hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, cho tự do, hạnh phúc của nhân dân, cho lý tưởng cộng sản chủ nghĩa – Người luôn tự cho mình là một “người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra Mặt trận”, là “người đầy tớ trung thành của nhân dân”.

Ngay từ năm 1946, khi trả lời các nhà báo, Người đã nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân tộc được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” – và Người đã khẳng định với đồng bào cả nước: “Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ đeo đuổi một mục đích là làm cho ích quốc, lợi dân” và “tôi chỉ có một cách báo đáp là kiên quyết cùng đồng bào chịu cực, chịu khổ, quyết cùng đồng bào kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, quyết cùng đồng bào tranh lại độc lập, thống nhất thực sự cho Tổ quốc, quyết cùng đồng bào ra sức làm thế nào cho con cháu chúng ta bây giờ và muôn đời về sau sung sướng và tự do”.

Nhân dân Việt Nam vô cùng kính phục và yêu mến Hồ Chí Minh vì suốt cả đời mình, Người đã đấu tranh không mệt mỏi để thực hiện những điều Người đã nói trên.

Từ ngày hòa bình được lập lại, Người không chỉ kêu gọi nhân dân không ngừng phấn đấu để “xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”, mà còn khẳng định lý tưởng và nhiệm vụ của XHCN: “muốn tiến lên CNXH thì phải cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới, một xã hội không có chế độ người bóc lột người.

Một xã hội bình đẳng, nghĩa là ai cũng phải lao động và có quyền lao động. Ai làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng.

Một xã hội giàu có, mà muốn giàu có thì mỗi cá nhân, mỗi gia đình cho đến cả nước phải tăng gia sản xuất thực hành tiết kiệm…”

Theo Người “Lao động là một nghĩa vụ thiêng liêng của mọi người công dân đối với Tổ quốc. Ai cũng phải tùy khả năng mình mà tự nguyện, tự giác tham gia lao động góp phần xây dựng nước nhà”.

Để xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà. Hồ Chí Minh đã kêu gọi cán bộ, đảng viên phải: “Cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư, hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ CNXH”. Và Người đã giải thích rất đầy đủ, súc tích về cần, kiệm, liêm, chính: “Trước hết là cần, tức là tăng năng suất trong công tác, bất kỳ công tác gì.

Kiệm tức là không lãng phí thời giờ của cải của mình và của dân.

Liêm tức là không tham ô và luôn tôn trọng giữ gìn của công và của nhân dân.

Chính tức là việc phải làm dù nhỏ cũng làm, việc trái dù nhỏ cũng tránh.

Bốn điều đó đi liền với nhau”.

Về chí công, vô tư thì Người nói: “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, đối với việc. Ham làm những việc ích quốc, lợi dân. Không ham địa vị và công danh phú quý” và “khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước mà phải nghĩ đến đồng bào, đến toàn dân đã… Có khó nhọc thì mình nên đi trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”. Chí công vô tư chính là biểu hiện sâu sắc ý thức tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh rất ghét chủ nghĩa cá nhân và thói tự kiêu, tự mãn, tự lợi. Theo Người “chủ nghĩa cá nhân chỉ thấy lợi ích riêng của mình, không thấy lợi chung của tập thể. Về vật chất thì chỉ muốn hưởng thụ, công việc làm thì không dám xung phong”.

Những đức tính lớn Hồ Chí Minh để lại mà chúng ta phải cố gắng học tập là cần cù, khiêm tốn, giản dị, mẫu mực về mọi mặt, sáng suốt trong công việc, gần gũi quần chúng và tin tưởng ở quần chúng. Luôn quan tâm đến lợi ích và đời sống của nhân dân; đoàn kết đồng chí, thương yêu cán bộ; thắng không kiêu bại không nản, lúc thuận lợi cũng như khi khó khăn luôn bình tĩnh nhìn thẳng vào sự thật, nhìn thẳng tương lai với một niềm tin tưởng sắt đá không gì lay chuyển được.

Đạo đức Hồ Chí Minh là sự kết tinh trong sáng tư tưởng khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, đạo đức cộng sản chủ nghĩa và phong thái của các bậc hiền triết phương Đông. Cuộc đời và sự nghiệp của Người là tấm gương vĩ đại của sự trung thành tuyệt đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc và lý tưởng cộng sản chủ nghĩa. Trước tình trạng tham nhũng và những tệ nạn tiêu cực xã hội lan rộng hiện nay, chúng ta càng thấy rõ ý nghĩa sâu xa, tầm quan trọng của những lời dạy và tấm gương về đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh.

Theo www.yenbai.gov.vn
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Người lãnh đạo cần nắm vấn đề như thế nào?

Chuyện kể về NgườiTháng 8 năm 1960, tôi (Song Tùng) về nước và được giao nhiệm vụ Vụ trưởng Vụ Tổng hợp Ban Đối ngoại Trung ương Đảng, đầu năm 1963 làm Phó Ban Đối ngoại Trung ương Đảng. Mỗi lần đại biểu các Đảng bạn sang trao đổi kinh nghiệm với Đảng ta thường được Bác mời vào gặp. Mỗi lần như thế, tôi có nhiệm vụ vào gặp Bác trước khi khách đến độ 30 phút để báo cáo tình hình Đảng nước đó, kết quả và cảm tưởng của vị đại biểu về những ngày gặp các vị lãnh đạo Đảng ta. Mỗi năm, thường có hàng chục đoàn sang trao đổi kinh nghiệm với Đảng ta. Do trách nhiệm được giao, suốt tám năm (1961-1969) tôi được vào báo cáo nhiều lần với Bác. Các đồng chí giúp việc Bác thường cho tôi vào trước 30 phút, chờ có thể gặp trước giờ quy định hoặc đúng giờ quy định. Nếu báo cáo xong, còn thì giờ thì Bác thường hỏi chuyện về công tác, về tình hình trong nước và dư luận nhân dân về một sự kiện gì đó mới xảy ra. Mỗi lần như vậy tôi học tập được rất nhiều. Trong câu chuyện nhỏ này, tôi chỉ viết một số vấn đề cảm thấy bổ ích cho bạn đọc. Trước hết, Bác dạy “người lãnh đạo cần phải nắm vấn đề như thế nào?”.

Đầu năm 1963, lần đầu tôi vào báo cáo, chuẩn bị để Bác gặp một vị đại biểu Đảng bạn đến chào. Bác nhìn tập tài liệu dày 30 trang tôi cầm trong tay. Bác hỏi: Chú định gặp Bác bao nhiêu phút? Thưa Bác, 15 phút. 15 phút, chú không đọc xong tập báo cáo thì Bác còn thì giờ đâu để trao đổi? Chú gấp tài liệu lại, báo cáo trong một phút Bác nghe. Cũng may, tôi tự tay viết báo cáo nên chỉ phát biểu không đến một phút. Bác gật đầu: Chú nói ngắn như thế là được, nhiều chú giao cho cán bộ viết hộ rồi vào đọc như “thầy đọc”.

Theo 120 Chuyện kể về Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Bài học về sự tiết kiệm

43Ảnh Tư liệu

Trước kia, Thông tấn xã Việt Nam hàng ngày đều đưa bản tin lên cho Bác xem. Khi in một mặt, Bác phê bình là lãng phí giấy. Sau đấy Thông tấn xã in hai mặt bằng rônêô, nhoè nhoẹt khó đọc hơn nhưng Bác vẫn đọc. Sang năm 1969, sức khoẻ Bác yếu và mắt giảm thị lực, Thông tấn xã lại gửi bản tin in một mặt để Bác đọc cho tiện. Khi xem xong, những tin cần thiết Bác giữ lại, còn Người chuyển bản tin cho Văn phòng Phủ Chủ tịch cắt làm phong bì tiết kiệm hoặc dùng làm giấy viết. Ngày 10-5-1969, Bác đã viết lại toàn bộ đoạn mở đầu Bản Di chúc lịch sử bằng mực xanh vào mặt sau tờ tin Tham khảo đặc biệt ra ngày 3-5-1969. Từ giữa năm 1969, sức khoẻ Bác yếu đi nhiều nên Bộ Chính trị đề nghị: Khi bàn những việc quan trọng của Đảng, Nhà nước thì Bác mới chủ trì, còn những việc khác thì cứ bàn rồi báo cáo lại sau, Bác cũng đồng ý như vậy. Tháng 7, Bộ Chính trị họp ra Nghị quyết về việc tổ chức 4 ngày lễ lớn của năm: Ngày thành lập Đảng, ngày Quốc khánh, Ngày sinh Lênin và Ngày sinh của Bác. Sau khi Báo Nhân Dân đăng tin Nghị quyết này, Bác đọc xong liền cho mời mọi người đến để góp ý kiến: “Bác chỉ đồng ý 3/4 nghị quyết. Bác không đồng ý đưa ngày 19-5 là Ngày kỷ niệm lớn trong năm sau. Hiện nay, các cháu thanh thiếu niên đã sắp bước vào năm học mới, giấy mực, tiền bạc dùng để tuyên truyền về Ngày sinh nhật của Bác thì các chú nên dành để in sách giáo khoa và mua dụng cụ học tập cho các cháu, khỏi lãng phí”.

Theo Những câu chuyện kể về Bác Hồ
Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn

“Chiếc búa” của ông Sáu Búa

Kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pa-ri (27-1-1973 / 27-1-2013)

QĐND – Ông Sáu Búa là tên gọi thân mật của đồng chí Lê Đức Thọ ở miền Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Ở Hội nghị Pa-ri về Việt Nam, đồng chí là Cố vấn đặc biệt của Bộ trưởng Xuân Thủy và của Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH).

Lê Đức Thọ được nhìn nhận như một nhà lãnh đạo chính trị quyền uy, một nhà đàm phán giàu bản lĩnh, đầy tự tin, lịch thiệp, cởi mở, biết tiến thoái, cương nhu đúng lúc.

“Chiếc búa” dùng trong bài này là để chỉ những đòn tiến công của ông nhằm vào đối phương. Tiến công vào mọi âm mưu và thủ đoạn của đối phương tại bàn đàm phán cũng như trên chiến trường. Tiến công khi phân tích đến tận gốc rễ mọi vấn đề đặt ra trong thương lượng.

Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ gặp Cố vấn Kít-xinh-giơ ngày 13-1-1973 chuẩn bị cho ký kết Hiệp định Pa-ri. Ảnh: Tư liệu

Xin dẫn ra sau đây ba lần Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ giơ “chiếc búa” đó trong đàm phán riêng ở giai đoạn cuối.

Lần thứ nhất: “Không có cách thần kỳ nào ngoài đàm phán nghiêm chỉnh”

Mùa hè năm 1971, tình hình trên chiến trường và tại bàn đàm phán Pa-ri đều rất căng thẳng, giằng co quyết liệt. Chính quyền Ních-xơn còn ráo riết vận động ngoại giao, tranh thủ hòa hoãn với Liên Xô và Trung Quốc hòng gây thêm sức ép đối với ta.

Ngày 31-5, tại cuộc gặp riêng, Cố vấn Mỹ Kít-xinh-giơ đưa ra đề nghị Bảy điểm. Ngày 26-6, VNDCCH đưa ra lập trường Chín điểm. Ngày 1-7, tại Hội nghị bốn bên, Chính phủ Cách mạng lâm thời đưa ra Tuyên bố Bảy điểm.

Trong khi đó, để thực hiện lời Thủ tướng Chu Ân Lai mời Tổng thống Ních-xơn thăm Bắc Kinh, ngày 9-7, Kít-xinh-giơ đi Trung Quốc nói là chuẩn bị cho chuyến thăm này, thật ra là còn bàn nhiều việc khác. Và ngày 15-7, tại Oa-sinh-tơn, Nich xơn tuyên bố sẽ đi thăm Trung Quốc vào đầu năm 1972.

Trong bối cảnh tình hình nói trên, đã diễn ra cuộc gặp riêng giữa Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, Trưởng đoàn Xuân Thủy với Kít-xinh-giơ ngày 26-7. Cuộc họp tập trung vào việc xem xét lập trường của hai bên trong Bảy điểm của Mỹ và Chín điểm của VNDCCH.

Kít-xinh-giơ cho rằng Bảy điểm là cái khung cho một giải pháp. Hai đồng chí Lê Đức Thọ và Xuân Thủy nhận xét: Có hai điểm mấu chốt là thời hạn rút quân gắn liền với vấn đề tù binh và chính quyền Sài Gòn không có Thiệu (như Chín điểm của VNDCCH đã nêu) thì Mỹ không đả động gì tới. Vậy đó là một cái khung không có xương sống.

Đồng chí Lê Đức Thọ cũng phê phán mạnh cách thương lượng của Mỹ, luôn tách vấn đề quân sự với vấn đề chính trị, lẩn tránh vấn đề chính trị, chỉ chú ý vấn đề quân sự, mà giải quyết vấn đề quân sự thì ý định cũng là rút quân từ từ để giải quyết bằng thương lượng hay không, vẫn duy trì được chính quyền Nguyễn Văn Thiệu.

Cố vấn Lê Đức Thọ còn vạch ra rằng:

– Trong mấy năm nay, các ông chạy vạy chỗ này chỗ kia để tìm ra lối thoát nhưng không biết các ông có rút ra được kinh nghiệm gì không? Thực ra các ông uổng công vô ích, làm phức tạp thêm vấn đề cho các ông.

Cố vấn Lê Đức Thọ còn nhấn thêm:

– “Không có cách thần kỳ nào để giải quyết vấn đề Việt Nam ngoài cách đàm phán nghiêm chỉnh với chúng tôi ở Hội nghị Pa-ri trên cơ sở những đề nghị của chúng tôi và những đề nghị của các ông. Trong một ván cờ, quyết định thắng lợi là người trong cuộc, không có cách nào khác. Chúng tôi độc lập giải quyết các vấn đề của chúng tôi”.

Kít-xinh-giơ đã phản bác nhiều điểm về cách thức và nội dung thương lượng. Nhưng để trả lời ám chỉ của Lê Đức Thọ về việc đi Trung Quốc của ông, Kít-xinh-giơ nói gần như thanh minh:

– Chúng tôi biết muốn giải quyết chiến tranh Việt Nam bằng thương lượng thì phải giải quyết ở Pa-ri. Chúng tôi tôn trọng và khâm phục tinh thần độc lập mà các ngài luôn tỏ ra. Chúng tôi không muốn tìm một giải pháp ở nơi nào khác ngoài nơi đây.

Lần thứ hai: “Chưa bao giờ sự lừa dối lại trắng trợn như lần này”

Mùa thu năm 1972, đàm phán có bước tiến quan trọng.

Ngày 20-10, hai bên đã đi đến thỏa thuận Dự thảo Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Chính ngày đó, Tổng thống Ních-xơn đã gửi công hàm cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng, khẳng định Hiệp định “xem như đã hoàn thành”. Kít-xinh-giơ còn nói: “Hòa bình đã ở trong tầm tay”.

Thế nhưng, sau đó, do sự phản ứng dữ dội của Thiệu, cũng do những toan tính từ trước của Ních-xơn, Mỹ đã lật lọng, đòi sửa đổi những điều cơ bản nhất của Hiệp định.

Một tháng sau, ngày 20-11, đàm phán riêng nối lại. Cố vấn Lê Đức Thọ đã mạnh mẽ tố cáo sự lật lọng của Mỹ: “ Chúng tôi đã bị người Nhật, người Pháp, người Mỹ lừa dối, nhưng chưa bao giờ sự lừa dối lại trắng trợn như lần này.”

Về sự cần thiết phải có sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, ông nhắc lại lời nói đó của Kít-xinh-giơ trước đây và hỏi: “Ông nói với chúng tôi như vậy rồi ông lật ngược đi thì ông nghĩ chúng tôi hiểu ông là người như thế nào?”

Trong đợt đàm phán riêng lần này, phía Mỹ đưa ra 69 điều sửa đổi, trong đó có rất nhiều sửa đổi lớn. Đáp lại ta cũng đưa ra những đòi hỏi sửa đổi mạnh hơn trước. Đàm phán càng lúc càng căng thẳng mà không giải quyết được gì. Kít-xinh-giơ bị xem là con người quá đáng. Đến nỗi sau này, trong hồi ký của mình, Ních-xơn cũng phải nói: “Kít-xinh-giơ đã không phân biệt được giữa những điều chúng ta cần thay đổi và những điều chúng ta thay mặt người Nam Việt Nam đưa ra”

Thấy rõ quan điểm hai bên rất xa nhau, tại phiên họp ngày 4-12-1972, Cố vấn Lê Đức Thọ tuyên bố: “Nếu các ông muốn giữ Hiệp định như cũ thì chúng tôi cũng sẵn sàng giữ nguyên như cũ, không thay đổi một chữ. Nếu ông không sửa một chữ nào thì chúng tôi cũng không sửa một chữ nào”

Ngày 6-12, Cố vấn Lê Đức Thọ nhắc lại đề nghị hai bên rút hết mọi đề nghị sửa đổi và trở lại Hiệp định đã thỏa thuận: “Nếu sửa thì chỉ sửa một số chi tiết không thuộc thực chất và nguyên tắc; hai là hai bên đều sửa đổi. Đã sửa đổi thì bên này sửa lớn, bên kia cũng sửa lớn; bên này sửa nhỏ, bên kia cũng sửa nhỏ; không chỉ một bên sửa một bên không sửa. Cứ như thế, sửa đi sửa lại mãi không thể hoàn thành được. Trong hai cách đó, phía Mỹ chọn cách nào, chúng tôi cũng sẵn sàng, nhưng chúng tôi cho rằng cách tốt nhất là cơ bản giữ Hiệp định”.

Đề nghị đó của Cố vấn Lê Đức Thọ đã làm cho không khí dịu hơn và nhiều vấn đề tồn tại được lần lượt giải quyết.

Đến ngày 12, chỉ còn hai vấn đề: Cách ký văn kiện và vấn đề khu phi quân sự.

Ngày 13, Cố vấn Lê Đức Thọ và Kít-xinh-giơ đề nghị ngừng các cuộc họp chính thức và hai bên về xin chỉ thị của chính phủ mình.

Lần thứ ba: “Cuộc tập kích chiến lược làm hoen ố danh dự nước Mỹ”

Đùng một cái, đêm 18-12-1972, Ních-xơn ra lệnh mở đợt tập kích chiến lược bằng B-52 đánh vào Hà Nội, Hải Phòng và nhiều nơi khác. Thủ đoạn quen thuộc của Mỹ vẫn là dùng sức mạnh quân sự để ép đối phương. Nhưng Hà Nội đã đáp trả bằng một trận “Điện Biên Phủ trên không” vô cùng oanh liệt.

Ngày 8-1-1973, hai bên họp lại. Lê Đức Thọ “nổ phát súng” đầu tiên:

– “Các ông lấy cớ đàm phán gián đoạn để ném bom lại miền Bắc Việt Nam giữa lúc tôi về đến nhà. Việc các ông đón chúng tôi khi về đến Hà Nội có thể nói là rất “lịch sự”. Tôi có thể nói rằng, hành động của các ông rất trắng trợn và thô bạo. Các ông tưởng rằng làm như vậy là có thể khuất phục được chúng tôi nhưng các ông nhầm. Chính các ông đã làm cho cuộc đàm phán khó khăn, chính các ông đã làm cho danh dự nước Mỹ bị hoen ố!”

Cố vấn Lê Đức Thọ đòi Mỹ phải chấm dứt thủ đoạn thương lượng trên thế mạnh và đi vào đàm phán nghiêm chỉnh.

Kít-xinh-giơ thanh minh rằng chính cách đàm phán của Việt Nam trong tháng 12 làm cho Oa-sinh-tơn cho là Việt Nam muốn kéo dài đàm phán, không muốn giải quyết.

Cố vấn Lê Đức Thọ tiếp tục phê phán Mỹ gay gắt. Kít-xinh-giơ nói: Tôi có nghe những tính từ, tôi đề nghị không dùng những tính từ đó!

Đồng chí Lê Đức Thọ: Tôi dùng những tính từ đó cũng là kiềm chế lắm rồi. Chứ dư luận thế giới, các nhà báo và chính các nhân vật ở Mỹ còn dùng những câu chữ dữ dội hơn nhiều!

Kít-xinh-giơ ngồi im.

Đấy, hiệp đấu cuối cùng tại bàn đàm phán mở đầu là như vậy đấy.

Vậy mà chỉ 5 ngày sau, ngày 13-1-1973, hai bên đã đi đến thỏa thuận toàn văn Hiệp định. Và Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được chính thức ký ngày 27-1-1973.

HÀ ĐĂNG
Nguyên thành viên đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị Pa-ri
qdnd.vn

Kỳ 4: Đấu tranh dư luận mọi lúc, mọi nơi

Đấu tranh dư luận ở Pa-ri

Cuộc trả lời phỏng vấn lúc nửa đêm

QĐND – Một giờ sáng 4-9-1969, điện thoại của bộ phận báo chí đoàn CPCMLT tại Massy đổ vang. Giờ này trong nước, Thông cáo đặc biệt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đưa đến cho đồng bào cả nước và kiều bào ở nước ngoài cái tin vô cùng đau đớn: Bác Hồ đã qua đời.

Phóng viên AFP xin lỗi là đã gọi tôi vào lúc này và đặt ngay câu hỏi: Hà Nội vừa thông báo Chủ tịch Hồ Chí Minh đã qua đời. Xin được biết bình luận của người phát ngôn Mặt trận dân tộc giải phóng về sự kiện này.

Những ngày trước đó chúng tôi trong hai đoàn đã sống trong tâm trạng lo lắng và đau buồn vô hạn khi được thông báo mật là Bác ốm nặng. Không khí trong đoàn vắng lặng hẳn đi, chúng tôi khóc thầm nhưng vẫn phải làm ra vẻ bình thản.

Phong trào chống chiến tranh ở Việt Nam lan rộng khắp thế giới. Ảnh tư liệu

Tôi trả lời: “Hồ Chủ tịch là vị lãnh tụ vĩ đại, là người Cha của cả dân tộc chúng tôi. Người qua đời là một mất mát to lớn không gì bù đắp được”.

Lại hỏi: “Ông có nghĩ rằng sự qua đời của Chủ tịch có tác động đến cuộc chiến đấu của đồng bào các ông không?”.

Trả lời: “Tất nhiên tác động rất lớn: Đồng bào chúng tôi ở cả hai miền Nam, Bắc sẽ càng đoàn kết, quyết tâm hơn bao giờ hết, chiến đấu kiên cường hơn nữa để đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược đến thắng lợi hoàn toàn, như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong ước”.

Lại hỏi: “Theo ông sự kiện này có tác động gì đến Hội nghị bốn bên”?

Trả lời: “Chúng tôi cũng sẽ tiếp tục đấu tranh cho một giải pháp bảo đảm các quyền dân tộc thiêng liêng của nhân dân chúng tôi, như Hồ Chủ tịch đã nói “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

“Chim bồ câu” quấy nhiễu

Hoạt động báo chí của chúng tôi đặc biệt nhắm vào dư luận Mỹ. Ngay từ những ngày đầu mới đến Pa-ri, chị Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Ngoại giao, trưởng đoàn CPCMLT đã có sáng kiến viết một bức thư ngỏ gửi hai viện Quốc hội Mỹ và nhân dân Mỹ kêu gọi họ tác động buộc chính quyền Mỹ ngừng bàn tay tội ác, chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Rất nhiều cuộc gặp gỡ với báo chí và nhân sĩ Mỹ đã diễn ra tại trụ sở đoàn Mặt trận. Bản thân tôi đã dự một cuộc phỏng vấn bất thường do một kênh Truyền hình Mỹ tổ chức tại Versailles. Trong cuộc phỏng vấn này, bốn người phát ngôn của bốn đoàn ngồi ở bốn bàn đối diện đặt trong cùng một phòng và trả lời bằng tiếng Anh. Những câu hỏi đặt ra rất “hắc”, nhưng anh Ngạc, phát ngôn cho đoàn miền Bắc và tôi đã được dặn trước là phải bình tĩnh trả lời, nhắm đối tượng là người dân Mỹ mà nói. Chúng tôi dùng lời lẽ lịch sự nhưng mạnh mẽ vạch tội ác của chính quyền Ních-xơn tiếp tục và tăng cường và mở rộng chiến tranh gây đau thương, tang tóc cho nhân dân Việt Nam và nhân dân Mỹ, kêu gọi những người có lương tri ở Mỹ hãy cùng chúng tôi chặn bàn tay tội ác của Ních-xơn. Nhiều lúc trong quá trình cuộc “phỏng vấn bốn bên” này, tôi thấy người dẫn chương trình vung tay muốn cắt lời chúng tôi, nhưng chúng tôi vẫn nói hết ý của mình.

Vào lúc này, dư luận Mỹ và thế giới càng thấy rõ trở ngại cho một giải pháp hòa bình không phải là VNDCCH và Việt cộng mà chính là chính quyền Ních-xơn và chính quyền Sài Gòn. Phong trào chống chiến tranh ở Mỹ lan rộng ra tất cả các tầng lớp nhân dân, ngay cả trong chính giới, trí thức, nghệ sĩ và binh lính, cựu chiến binh Mỹ. Các đoàn đại biểu các tổ chức chống chiến tranh Mỹ như tổ chức phụ nữ đấu tranh vì hòa bình đến Pháp gặp hai đoàn chúng ta. Tôi được thấy họ cùng ngồi, cùng trò chuyện, cùng cười, cùng khóc, cùng hát với các thành viên nữ trong đoàn, như những người chị em. Không phải người Mỹ nào lúc mới đến cũng thông cảm với chúng ta, nhưng phần lớn dần dà họ hiểu ra và những cuộc gặp như vậy đã góp phần “làm tan băng giá” trong trái tim người Mỹ, như nhiều vị khách đã nói.

Phải chăng vì vậy mà giới cầm quyền Mỹ đặc biệt căm thù phong trào hòa bình. Về sau này Kít-xinh-giơ viết trong Hồi ký “Những năm ở Nhà Trắng”: “Những con bồ câu chứng tỏ rằng chúng là loài chim đặc biệt quấy nhiễu và năm tháng qua đi chúng cũng không trở nên tốt hơn”.

Cuộc họp báo cuối cùng

Tháng 3-1972, quân và dân ta mở cuộc tấn công chiến lược rộng lớn ở Quảng Trị, Thừa Thiên, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và đồng bằng Liên khu 5 giành thắng lợi lớn. Ngày 6-4-1972, Mỹ ném bom miền Bắc trở lại với quy mô chưa từng có, kể cả Hà Nội và Hải Phòng, sử dụng cả máy bay chiến thuật và chiến lược. Tình hình hết sức căng thẳng. Dư luận lo âu không biết rồi Hội nghị Pa-ri có còn hay không, người ta bàn tán về nhiều khả năng và không ít người lo ngại bản chất cực kỳ phiêu lưu, hiếu chiến của chính quyền Ních-xơn.

Hội nghị Pa-ri đã ở năm thứ tư (1972) cũng là năm các phiên họp bốn bên bị cắt quãng nhiều lần. Cuộc kháng chiến ngoan cường, bất khuất của nhân dân ta đã buộc Mỹ tiếp tục đàm phán và hai bên đi đến một văn bản dự thảo hiệp định mà ông Ních-xơn vào ngày 20-10-1972 xem như đã hoàn chỉnh và thỏa mãn. Nhưng sau đó, Mỹ lại trở mặt, đòi sửa hầu hết các điều khoản chủ yếu đã thỏa thuận mà họ nói là “theo yêu cầu của Sài Gòn”.

Ngày 18-12, Ních-xơn ra lệnh cho B-52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng và một số nơi khác trong chiến dịch “Lai-nơ-bếch-cơ 2” kéo dài 12 ngày đêm, nhưng cuối cùng đã thảm bại. Thất bại đau đớn này đã buộc Mỹ phải ký vào Hiệp định Pa-ri ngày 27-1-1973, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Sau lễ ký kết, nhiều nhà báo quen thuộc kéo về “ngôi nhà nhỏ bên hồ”, trụ sở của đoàn CPCMLT để gặp Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình. Chị đã nói về ý nghĩa Hiệp định, về những việc chúng ta còn phải đấu tranh để Hiệp định được thi hành nghiêm chỉnh. Chị cảnh báo âm mưu lật lọng, vi phạm Hiệp định của chính quyền Ních-xơn và chính quyền Thiệu… Chị nồng nhiệt cảm ơn các nhà báo quốc tế đã theo dõi Hội nghị suốt bấy nhiêu năm và đã góp phần vào thành công của Hội nghị. Nhiều nhà báo ngồi lại với chúng tôi rất lâu, cùng nhau ôn lại những ngày tháng không thể quên của cuộc hội nghị dài nhất trong lịch sử này.

Trước khi ra về, một nhà báo Mỹ hỏi tôi: “Ông có nhắn gì người Mỹ không?”. Tôi cầm tay ông và đáp: “Tôi mong ông nhắn với họ rằng họ hãy “Remember Vietnam!”- nhớ mãi Việt Nam để không bao giờ lại để cho những người cầm quyền của họ phạm lại sai lầm bi thảm như cuộc chiến tranh Việt Nam”.

LÝ VĂN SÁU
Nguyên Phát ngôn viên đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị Pa-ri
qdnd.vn

(Hết)

Kỳ 3: “Quả bom” nổ trên bàn hội nghị

Đấu tranh dư luận ở Pa-ri

Một cuộc họp báo sôi nổi hiếm hoi

QĐND – Tháng 5-1969, gần 5 tháng trôi qua từ phiên họp lần thứ nhất, Hội nghị bốn bên “giẫm chân tại chỗ”, hết phiên này qua phiên khác các bên tiếp tục “cuộc đối thoại giữa những người điếc”. Ta đòi Mỹ chấm dứt xâm lược, rút hết quân đội khỏi miền Nam, từ bỏ bè lũ Thiệu-Kỳ. Mỹ cũng đòi ta “chấm dứt xâm lược”, rút hết quân miền Bắc khỏi miền Nam, ngừng can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam…

Các cuộc họp báo tại Trung tâm Kleber nhiều khi trở nên chán ngắt và số nhà báo đến dự cũng ít hẳn đi. Tuy nhiên, mặt trận dư luận tiếp tục sôi động. Phong trào nhân dân thế giới nhất là ở Mỹ và châu Âu đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh Việt Nam ngày càng lớn mạnh. Chúng tôi tận dụng thời gian này để mở rộng diện tiếp xúc với các nhà báo các nước để trò chuyện, tìm hiểu và trình bày, phân tích cho họ hiểu về đất nước và nhân dân Việt Nam, về tình hình và cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta. Tại trụ sở của đoàn ngày nào cũng có vài cuộc gặp gỡ nhà báo, nhà sử học, nhà nghiên cứu, chính khách các nước, các cuộc trả lời phỏng vấn truyền hình hoặc phát thanh. Vào các ngày cuối tuần, chúng tôi chia nhau đi các địa phương của nước Pháp và một số nước châu Âu để nói chuyện với báo chí, các chính khách, các giới nhân dân và bà con kiều bào.

Một phiên họp tại Hội nghị Pa-ri. Ảnh tư liệu

Ngày thứ năm, 8-5-1969 là ngày họp phiên thứ 16. Tối hôm trước, không khí chuẩn bị cho phiên họp ở hai đoàn Việt Nam rất khẩn trương, chúng tôi làm việc đến tận ba, bốn giờ sáng để chuẩn bị cho “sự kiện lớn”. Sáng hôm đó, trước khi đi họp chúng tôi đã “rỉ tai” cho một số nhà báo và hãng thông tấn quen biết rằng, họ hãy “chờ điều mới”.

Trưởng đoàn Mặt trận Trần Bửu Kiếm, vẫn với giọng khoan thai như mọi phiên nói: “Hôm nay nhằm bày tỏ thiện chí và với lòng mong muốn đưa Hội nghị chúng ta khỏi bế tắc, tôi thay mặt Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đưa ra “Giải pháp toàn bộ 10 điểm để giải quyết vấn đề Việt Nam”. Rồi ông chậm rãi đọc từng điểm một, bao gồm giải pháp về tất cả các vấn đề quân sự, chính trị, quan hệ đối nội và đối ngoại của miền Nam Việt Nam trong tương lai, việc giải quyết hậu quả chiến tranh, việc kiểm soát quốc tế, kể cả việc thống nhất đất nước trong tương lai. Khi anh Kiếm đọc đến đoạn nói: “Vấn đề các lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam sẽ do các bên Việt Nam giải quyết”, chúng tôi thấy trưởng đoàn Mỹ Lót-giơ (Lodge) ghi vội điều gì đó trong sổ tay.

Thực ra đây là lần đầu tiên trên bàn hội nghị có một đề nghị giải pháp đầy đủ, cụ thể, với những điểm rất mới mà các nhà quan sát chính trị đều chú ý. Giải pháp nêu lên những đòi hỏi chính đáng và nguyện vọng xây dựng một miền Nam hòa bình, độc lập, trung lập và dân chủ, có quan hệ hữu nghị với tất cả các nước, kể cả Mỹ, tiến tới hòa bình thống nhất đất nước.

Về sau này, trong Hồi ký “Những năm ở Nhà Trắng”, Cố vấn an ninh quốc gia của Mỹ Kít-xinh-giơ nhận xét Giải pháp 10 điểm của Mặt trận, đã viết: “Kế hoạch này lời lẽ thì xấc xược, về nội dung thì phiến diện. Tuy nhiên, chỉ riêng sự có mặt của một kế hoạch hòa bình của cộng sản, dù cho bản thân nó là bất ngờ, đã dấy lên một sự phản ứng tức khắc của Quốc hội, của các phương tiện đại chúng và của công chúng làm áp lực lên chính phủ, đòi không để lỡ mất thời cơ này”.

Có lẽ họ đã thông báo cho nhau, các nhà báo đến rất đông. Chúng tôi phân phát văn bản Giải pháp toàn bộ và bài phát biểu của anh Trần Bửu Kiếm. Chúng tôi cũng nói cho họ biết thái độ lúng túng và phản ứng tiêu cực của hai phái đoàn Mỹ và Sài Gòn. Ít khi có một cuộc họp báo sôi nổi như lần này. Các nhà báo muốn biết thêm chi tiết và bối cảnh của Giải pháp, về chính quyền miền Nam sau này, về định nghĩa đường lối trung lập v.v.. Nhiều nhà báo tức tốc về tòa soạn để đưa tin và viết bài và không mấy người ở lại dự cuộc họp báo của đoàn Mỹ và Sài Gòn. Một tờ báo Pháp đưa tít: “Kế hoạch hòa bình của Việt Cộng: Quả bom nổ trên bàn hội nghị”.

Cuối tháng 5-1969, tôi được theo anh Trần Bửu Kiếm sang thăm Cu-ba. Tại cuộc hội đàm với Bộ Chính trị và Chính phủ Cu-ba, anh Kiếm đã thông báo tình hình miền Nam và trình bày lập trường “10 điểm” của Mặt trận. Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô (Fidel Castro) đã nhiệt liệt ca ngợi cuộc kháng chiến của nhân dân ta và ủng hộ mạnh mẽ lập trường “10 điểm” của Mặt trận, khẳng định một lần nữa sự ủng hộ chí tình dành cho Việt Nam. Trên đường về, anh Kiếm đã ghé thăm nước Cộng hòa dân chủ nhân dân An-giê-ri, hội đàm với Tổng thống H. Bu-mê-điêng (Houari Boumediene) và Ngoại trưởng A. Bu-tê-phlích-ca (A.Bouteflika), giành được sự ủng hộ kiên quyết cho Giải pháp 10 điểm.

“Giải pháp hòa bình” của Ních-xơn

Sau khi đề Giải pháp toàn bộ 10 điểm của Mặt trận được công bố, trong thế bị động, ông Ních-xơn lên truyền hình ngày 14-5-1969 đưa ra “kế hoạch hòa bình 8 điểm” để giải quyết vấn đề Việt Nam. Ông ta khoe khoang “thành tích” 4 tháng đầu cầm quyền, tuyên bố muốn rút quân Mỹ nhanh chóng nhưng đòi phải “có đi có lại”, phải rút đồng thời và nhanh chóng quân đội của cả hai bên trong vòng 12 tháng (có nghĩa là đòi quân miền Bắc cùng rút với quân xâm lược Mỹ). Làm ra vẻ rộng lượng, ông Ních-xơn tuyên bố “đồng ý” để cho Mặt trận dân tộc giải phóng “tham dự sinh hoạt chính trị ở Nam Việt Nam, tham gia bầu cử tự do dưới kiểm soát và giám sát quốc tế”. Ông Ních-xơn nói dài dòng về Hiệp định Giơ-ne-vơ, về ngừng bắn, về trao trả tù binh và không quên đe dọa sẽ “dùng biện pháp cứng rắn” nếu sự mềm dẻo của Mỹ bị hiểu lầm là thế yếu”.

Trong nhiều phiên họp và nhiều cuộc họp báo, hai đoàn Việt Nam vạch trần luận điệu hiếu chiến giả nhân giả nghĩa của Tổng thống Mỹ và đòi Mỹ phải chấp nhận Giải pháp toàn bộ 10 điểm của ta, nhất là về luận điệu “cùng rút quân” và “tuyển cử tự do” trong khi vẫn duy trì chính quyền Thiệu-Kỳ.

LÝ VĂN SÁU
Nguyên Phát ngôn viên đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị Pa-ri
qdnd.vn

(Còn nữa)