Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Nói chuyện tại Đại hội liên hoan thanh niên tích cực ngành đường sắt. (25-7-1956)

– Các cháu có khoẻ không?

(Khoẻ ạ!)

– ở đây ăn có no không?

(Thưa Bác, no ạ!)

– Hội nghị có kết quả không? Các cháu có vui không?

(Có ạ!)

– Bác rất bận, nhưng cũng thu xếp thì giờ đến thăm các cháu, tuy vậy không ở được lâu. Bác khen các cháu làm đầy đủ nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ giao cho. Như thế là tốt.

1. Phải đoàn kết. Đoàn kết giữa thanh niên với nhau, giữa miền Nam với miền Bắc, giữa thanh niên công nhân với công nhân lớn tuổi, phải đoàn kết với nhân dân địa phương nữa. Đoàn kết là sức mạnh. Có tài năng mà không biết đoàn kết thì cũng không thành công.

– ở đây có thanh niên Hoa kiều không?

(Thưa Bác, có ạ!)

– Như thế là tốt. Thanh niên Hoa kiều ra sức góp phần xây dựng đất nước Việt Nam, nghĩa là trong phe xã hội chủ nghĩa chúng ta làm ở đâu cũng là làm cho mình.

2. Thanh niên phải cố gắng xung phong làm đầu tàu trong mọi việc. Các cháu ở đường sắt đều thấy những chuyến xe lửa. Nếu xung phong làm đầu tàu mà bỏ toa xe lại, chạy một mình thì có ích gì không?

(Không ạ !)

Vậy đầu tàu không thể tách rời toa xe, thì thanh niên xung phong không thể tách rời quần chúng. Xung phong mà tách rời quần chúng thì không ích gì.

3. Các cháu phải cố gắng học tập kỹ thuật, văn hoá, chính trị. Nhờ nhân dân ta cố gắng và các nước bạn giúp đỡ mà nền kinh tế của nước ta càng ngày càng tiến. Nếu không học tập văn hoá, không có trình độ văn hoá thì không học tập được kỹ thuật, không học tập được kỹ thuật thì không theo kịp được nhu cầu kinh tế nước nhà; nhưng phải chú ý học tập chính trị vì nếu chỉ học văn hoá, kỹ thuật mà không có chính trị thì như người nhắm mắt mà đi.

Các cháu cần nhớ và thực hiện đầy đủ ba điểm ấy. Ta bị phong kiến áp bức hơn 1.000 năm, như thế có lâu không? Bị đế quốc áp bức gần một thế kỷ có lâu không? Lâu như thế nhưng cách mạng vẫn thành công. Thế kháng chiến 9 năm có lâu không? Nhưng kháng chiến đã thắng lợi. Thế là chống đế quốc, chống phong kiến và kháng chiến tuy lâu dài gian khổ nhưng đã thắng lợi. Đấu tranh cho thống nhất đất nước cũng là một đoạn trong con đường cách mạng của ta. Trước Cách mạng Tháng Tám, Đảng còn ở trong thời kỳ bí mật, ta chưa có chính quyền, chưa có quân đội, Mặt trận dân tộc thống nhất còn mới, thế mà Cách mạng Tháng Tám đã thành công. Lực lượng tuy yếu nhưng vì ta đoàn kết, tin tưởng và quyết tâm cho nên cách mạng đã thắng lợi. Lúc đầu kháng chiến ở Nam Bộ chỉ có gậy tầm vông, ở miền Bắc thì cũng thiếu vũ khí, cán bộ cũng ít. Ta còn yếu, địch thì mạnh, nhưng vì ta đoàn kết, tin tưởng, quyết tâm cho nên kháng chiến đã thắng lợi.

Ngày nay miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Đảng ta lớn mạnh, chính quyền vững chắc hơn. Quân đội ta hùng mạnh hơn. Trước kia ta gặp nhiều khó khăn như thế mà cũng thắng lợi, nay đã mạnh và ngày càng mạnh hơn, lại có các nước bạn đoàn kết thành một khối mạnh mẽ, cho nên ta cũng chắc chắn thắng lợi…

———————————–

Nói ngày 25-7-1956.
Báo Giao thông vận tải, số 307, ngày 15-11-1969.
cpv.org.vn

Tự phê bình, phê bình, sửa chữa (26-7-1956)

Tự phê bình là cá nhân, (cơ quan hoặc đoàn thể) thật thà nhận khuyết điểm của mình để sửa chữa, để người khác giúp mình sửa chữa, mà cũng để người khác biết mà tránh những khuyết điểm mình đã phạm.

Phê bình là thấy ai (cá nhân, cơ quan, đoàn thể) có khuyết điểm thì thành khẩn nói cho họ biết để họ sửa chữa, để họ tiến bộ.

Mục đích tự phê bình và phê bình đều nhằm giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm, cùng nhau tiến bộ.

Từ xưa đến nay, có bao giờ bọn phong kiến, tư bản, đế quốc, thực dân tự phê bình và để người khác phê bình chúng không? Không! Bởi vì chúng không muốn mà cũng không thể sửa chữa khuyết điểm căn bản của chúng là chế độ người bóc lột người. Hơn nữa, ai phê bình thì bị chúng khủng bố. Chỉ có nhân dân dám phê bình chúng bằng cách mạng đánh đổ chúng.

Dưới chế độ dân chủ, thì mọi người, trước hết là mọi cán bộ, mọi cơ quan và đoàn thể cần phải thật thà tự phê bình và hoan nghênh người khác phê bình mình; có như vậy mới tiến bộ được.

Phê bình là cốt để giúp nhau tiến bộ. Cho nên phê bình phải có thái độ thành khẩn, tính chất xây dựng. Không nên phê bình ẩu, phê bình suông. Khi phê bình cần phải xét nguyên nhân của khuyết điểm, phải cân nhắc đến ưu điểm, phải đề ra cách sửa chữa. Thí dụ: Nhân dân ta mạnh dạn phê bình. Đó là một điều rất tốt. Thế là dân chủ thật sự. Nhưng khi phê bình, chúng ta cần phải:

– Xét rõ nguyên nhân của những khuyết điểm, những khó khăn. Như: nước ta bị phong kiến thống trị hàng nghìn năm, bị thực dân áp bức bóc lột gần 100 năm, chiến tranh tàn phá suốt 15 năm, miền Bắc giải phóng chưa đầy hai năm, hạn lụt liên tiếp, v.v..

– Kiểm điểm thành tích – Cải cách ruộng đất căn bản thắng lợi, gần 8 triệu nông dân có ruộng cày, hơn 386 vạn nông dân đã vào nông hội, 14 nông giang lớn và 3.600 cây số đê đã được xây đắp, tu bổ. Chúng ta đã khôi phục nhiều xí nghiệp cũ và xây dựng một số nhà máy mới, đã đắp lại hơn 500 cây số đường xe lửa. Nhiều trường học được mở thêm, chỉ trong mấy tháng đã hơn 2 triệu đồng bào thanh toán nạn mù chữ…

– So với thời gian non hai năm thì những thắng lợi căn bản ấy không phải là ít; nhưng khuyết điểm chắc cũng có nhiều. (Có khi khuyết điểm là cái bóng của thành tích).

Đảng và Chính phủ ta rất sẵn sàng nhận những lời phê bình của nhân dân và có quyết tâm sửa chữa. Cho nên khi phê bình, chúng ta cần phê bình một cách thiết thực và đề nghị phương pháp sửa chữa hợp lý. Phê bình và giúp đỡ sửa chữa, đó là quyền lợi và nghĩa vụ dân chủ của nhân dân ta.

Chỉ có đảng chân chính cách mạng và chính quyền thật dân chủ mới dám mạnh dạn tự phê bình, hoan nghênh phê bình, và kiên quyết sửa chữa. Do tự phê bình và phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên – mà chúng ta đoàn kết càng chặt chẽ, càng đồng tâm nhất trí, càng tiến bộ không ngừng, càng chắc chắn thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

C.B.

—————————-

Báo Nhân dân, số 874, ngày 26-7-1956.
cpv.org.vn

Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh – giải pháp quan trọng thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Đảng

Xét theo nội dung, cơ sở lý luận và thực tiễn để thực hiện các giải pháp được đề ra trong Nghị quyết Trung ương lần thứ 4, việc thực hiện Chỉ thị 03-CT/TƯ về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” của Bộ Chính trị có tác động trực tiếp và giúp thực hiện tốt tất cả các nhóm giải pháp nêu trên. Điều ấy được khẳng định bởi chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 4 khóa XI đã thảo luận và ra Nghị quyết về công tác xây dựng Đảng. Ngày 16/1/2012, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TƯ: “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 có tầm quan trọng đặc biệt trong việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XI về công tác xây dựng Đảng, một nhiệm vụ được xác định là “then chốt” trong công cuộc đổi mới đất nước. Nghị quyết đã chỉ rõ, đây là nhiệm vụ vừa cơ bản, vừa lâu dài, phải thực hiện thường xuyên, có hiệu quả, đồng thời chỉ ra ba vấn đề có tính cấp bách trong công tác xây dựng Đảng, cần tập trung giải quyết: Một là, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Đảng. Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Ba là, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.

Nghị quyết đã nêu 4 nhóm giải pháp chủ yếu để giải quyết những vấn đề cấp bách nêu trên: 1- Nhóm giải pháp về tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của cấp trên; 2- Nhóm giải pháp về tổ chức, cán bộ và sinh hoạt đảng; 3- Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách; 4- Nhóm giải pháp về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng. Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 03-CT/TƯ của Bộ Chính trị được xác định là giải pháp đầu tiên trong nhóm giải pháp về công tác giáo dục chính trị tư tưởng.

1- Xét theo nội dung, cơ sở lý luận và thực tiễn để thực hiện các giải pháp được đề ra trong Nghị quyết Trung ương lần thứ 4, việc thực hiện Chỉ thị 03-CT/TƯ “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” của Bộ Chính trị có tác động trực tiếp và giúp thực hiện tốt tất cả các nhóm giải pháp nêu trên. Điều ấy được khẳng định bởi chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Quán triệt tư tưởng và những lời dạy của Người về xây dựng Đảng, trong đó có nội dung chuyên đề học tập năm 2010 “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, là đạo đức, là văn minh”, các tác phẩm “Đường Kách mệnh”, “Sửa đổi lối làm việc”, “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, “Di chúc” của Bác giúp thực hiện tốt các giải pháp nêu ra trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4.

Thực hiện giải pháp đẩy mạnh tự phê bình, phê bình trong Đảng, quán triệt tư tưởng và lời dạy của Hồ Chí Minh giúp chúng ta thấy rõ hơn vai trò của tự phê bình, phê bình. Hồ Chí Minh coi tự phê bình và phê bình là một trong những nguyên tắc xây dựng Đảng; là quy luật phát triển của Đảng; là công việc thường xuyên, “như người ta rửa mặt hằng ngày”. Người chỉ rõ, mục đích của tự phê bình và phê bình là làm cho phần tốt trong mỗi con người nẩy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi; làm cho các tổ chức Đảng luôn luôn trong sạch, vững mạnh… Phê bình và tự phê bình để tăng cường đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Đảng; để các tổ chức Đảng và đảng viên luôn luôn hoàn thiện mình, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ Tổ quốc và nhân dân giao cho. Về phương pháp, Người yêu cầu tự phê bình phải thành khẩn, thành tâm, không “giấu bệnh, sợ thuốc”. Phê bình phải trung thực, “không đặt điều”, “không thêm bớt”; ”không nể nang”, kiên quyết, “ráo riết”; nhưng phải có tính xây dựng, “có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”(1). Quán triệt tư tưởng và những lời dạy trên đây của Bác trong kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo Kế hoạch của Bộ Chính trị để đánh giá, chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm, các mặt còn yếu kém, phức tạp; làm rõ nguyên nhân trở ngại trong việc lãnh đạo thực hiện các nghị quyết của Trung ương về xây dựng Đảng, trách nhiệm của các tổ chức đảng, của mỗi cán bộ, đảng viên, từ các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương đến cơ sở, sẽ góp phần làm cho việc tự phê bình, phê bình có kết quả tích cực và hiệu quả cao hơn.

Quán triệt nguyên tắc nêu gương trong thực hành đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh giúp thực hiện tốt hơn yêu cầu nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của cấp trên được đề ra trong Nghị quyết Trung ương lần thứ 4. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi nêu gương là một nguyên tắc trong thực hành đạo đức, một phương pháp lãnh đạo của Đảng. Người viết: “Muốn người ta theo mình thì mình phải làm gương trước”. Theo Người, ai cũng phải nêu gương, nhưng nhấn mạnh người có vị trí cao hơn về chức vụ, nhiều hơn về vị thế, tuổi tác thì phải nêu gương trước, nói đi đôi với làm. Người yêu cầu, đảng viên nêu gương cho quần chúng, lãnh đạo nêu gương cho nhân viên… Phát huy tính tự giác, gương mẫu và thực hiện quy định về sự nêu gương của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp theo tinh thần Chỉ thị 03-CT/TƯ để thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ 4 có hiệu quả hơn.

Về giải pháp xây dựng tổ chức và cán bộ nêu trong Nghị quyết Trung ương lần thứ tư, việc quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng nêu trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, một tác phẩm nổi tiếng về xây dựng Đảng của Người đã được giới thiệu và tổ chức học tập trong những năm qua, có ý nghĩa rất tích cực. Trong tác phẩm này, Hồ Chí Minh chỉ rất rõ vai trò và vị trí của cán bộ và công tác cán bộ. Người viết: “Cán bộ là cầu nối giữa Đảng, Chính phủ và nhân dân”; “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Muôn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Người yêu cầu, cán bộ cách mạng phải hội đủ các tiêu chuẩn đức và tài, phẩm chất và năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phong cách, phương pháp công tác tốt, trong đó phẩm chất đạo đức phải là yếu tố hàng đầu, là gốc, là nền tảng. Người coi công tác cán bộ là công tác gốc của Đảng; là một vấn đề rất trọng yếu, rất cần kíp. Thực chất công tác cán bộ là “nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”. Để thực hiện tốt công tác cán bộ, cần quan tâm đầy đủ đến các mặt: huấn luyện cán bộ; dạy cán bộ và dùng cán bộ; lựa chọn cán bộ; bồi dưỡng cán bộ; thực hiện chính sách đối với cán bộ…

Về phát huy dân chủ trong Đảng, Hồ Chí Minh khẳng định: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do”; “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi”… Người chỉ ra cho chúng ta mục đích và yêu cầu thực hành dân chủ trong Đảng, mở rộng dân chủ “để tất cả mọi đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình”. “Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người. Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý. Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân… Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân – tức là phục tùng chân lý”(2). Quán triệt tư tưởng trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ tư giúp chúng ta phát huy dân chủ thật sự trong Đảng, thực hiện tốt các giải pháp cụ thể được đề ra, như Quy chế chất vấn trong Đảng; lấy phiếu tín nhiệm để đánh giá, nhận xét cán bộ; thí điểm bố trí cán bộ chủ chốt ở cấp tỉnh, cấp huyện không phải người địa phương; kê khai tài sản; định kỳ tổ chức để nhân dân góp ý kiến xây dựng Đảng thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội…

Về các giải pháp xây dựng cơ chế, chính sách, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ trách nhiệm của Đảng và Chính phủ, khi coi “dân đói”, “dân rét”, “dân ốm” là Đảng, Chính phủ có lỗi để đặt ra yêu cầu phải không ngừng xây dựng, hoàn thiện chính sách phát triển kinh tế – xã hội, không ngừng cải thiện đời sống nhân dân. Trong bản “Di chúc” bất hủ, Người yêu cầu: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế, văn hóa, không ngừng cải thiện đời sống nhân dân”. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh để rà soát, loại bỏ các cơ chế, chính sách đã lạc hậu, xây dựng, ban hành đồng bộ các chính sách để đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ; rà soát cơ chế, chính sách và ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quản lý, kiểm soát chặt chẽ vốn và tài sản nhà nước; thực hiện cải cách hành chính nhà nước và cải cách hành chính trong Đảng; đẩy nhanh việc cải cách, thực hiện sớm chế độ tiền lương, nhà ở, chống bình quân, cào bằng; đồng thời chống đặc quyền, đặc lợi; gắn với tinh giảm biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức…, tạo nên sự “không cần”, “không dám”, “không thể” tham ô, tham nhũng, qua đó mà xây dựng đội ngũ cán bộ, để ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện nay.

Trong nhóm giải pháp về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, tư tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ ra cho chúng ta ý nghĩa, tầm quan trọng, nội dung và phương pháp học tập lý luận chính trị. Từ cuốn “Đường Kách mệnh” năm 1927 đến “Sửa đổi lối làm việc” năm 1947, Hồ Chí Minh đã luôn luôn nhấn mạnh vai trò của lý luận, của thực tiễn và quan hệ giữa lý luận với thực tiễn. Người khẳng định, lý luận có vai trò rất to lớn, nó như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế; không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên, phải nâng cao hiểu biết cả về lý luận; “có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ”… Theo Hồ Chí Minh, hiểu lý luận là “đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế. Đó là lý luận chân chính”.

Về phương pháp học tập lý luận, Người yêu cầu lý luận phải liên hệ chặt chẽ với thực tiễn. Người nói, “lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông. Dù xem được hàng ngàn, hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách”. Lý luận và thực hành có quan hệ qua lại; lý luận phải đem ra thực hành. Thực hành phải nhìn theo lý luận. Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. “Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung cũng như không có tên”.

Về đẩy mạnh học tập lý luận, Người dạy, “phải chữa cái bệnh kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông”…

Quán triệt tư tưởng và những lời chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, những nội dung đã được thể hiện rõ trong 7 chuyên đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh những năm qua và hiện đang là những tài liệu quan trọng để tổ chức thực hiện Chỉ thị 03-CT/TƯ, giúp thực hiện tốt hơn, có hiệu quả hơn các giải pháp về xây dựng Đảng nêu ra trong Nghị quyết Trung ương 4.

2- Về các giải pháp đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 03-CT/TƯ của Bộ Chính trị, đưa việc học tập và làm theo Bác trở thành công việc thường xuyên quan trọng, gắn với các nhiệm vụ chính trị của từng cơ quan, đơn vị hiện nay để thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, cần thực hiện tốt các hướng dẫn của Trung ương.

Trong năm 2012, thực hiện Hướng dẫn 32-HD/BTGTƯ của Ban Tuyên giáo Trung ương, cần chú ý làm tốt các công việc sau:

Một là, cần tiếp tục quán triệt các chuyên đề về tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong 4 năm triển khai cuộc vận động, các tài liệu học tập theo chủ đề hằng năm để tổ chức nghiên cứu, trao đổi, thảo luận tại các chi bộ trong từng tháng, từng quý, gắn với kế hoạch nghiên cứu quán triệt nghị quyết và tổ chức kiểm điểm, liên hệ theo kế hoạch của Bộ Chính trị.

Hai là, xây dựng các chuẩn mực đạo đức cụ thể, sát hợp với đặc điểm tình hình, nhiệm vụ chính trị của ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị, với tổ chức thực hiện Điều lệ Đảng, quy định các điều đảng viên không được làm, các quy định chung của cơ quan, đơn vị. Các chuẩn mực đạo đức được xây dựng theo tư tưởng, tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh phải trở thành một trong những cơ sở để mỗi cán bộ, đảng viên đăng ký thực hiện, để liên hệ, kiểm điểm theo Kế hoạch thực hiện nghị quyết Trung ương 4 của Bộ Chính trị và trong sinh hoạt chi bộ, kiểm điểm cuối năm theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương.

Ba là, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ lãnh đạo các cấp, cán bộ, đảng viên trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống. Ở các ngành, địa phương, Ban Thường vụ cấp ủy, trực tiếp là Bí thư cấp ủy có trách nhiệm tổ chức việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong cơ quan, đơn vị mình và gương mẫu thực hiện các giải pháp đề ra để làm gương cho mọi người noi theo. Căn cứ quy định chung về trách nhiệm nêu gương, các ngành, địa phương cần cụ thể hóa thêm để giúp cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo theo đó tự giác và gương mẫu thực hiện.

Bốn là, để việc triển khai thực hiện Chỉ thị 03-CT/TƯ trở nên thiết thực hơn, tạo niềm tin trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, cấp ủy chỉ đạo và lựa chọn một số vấn đề nổi lên, được dư luận quan tâm, đưa ra trao đổi, thảo luận trong đơn vị, bàn giải pháp và tập trung sức giải quyết với những kết quả cụ thể. Điều đó giúp giải quyết các vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng và trong quan hệ với nhân dân ở cơ sở, làm cho việc thực hiện Nghị quyết mang tính thiết thực hơn.

Năm là, phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trong công tác xây dựng Đảng. Ban Thường vụ cấp ủy tổ chức để Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tham gia giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, thực hiện tốt Quy định về đảng viên các cơ quan sinh hoạt hai chiều với nơi cư trú…

Sáu là, đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, phát hiện, phổ biến, nhân rộng những cách làm hay, những sáng kiến tốt ở cơ sở. Chỉ đạo báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng tăng cường các hoạt động tuyên truyền về thực hiện Nghị quyết, biểu dương những điển hình người tốt, việc tốt, nhân rộng các điển hình tiên tiến, động viên cán bộ, đảng viên học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Quản lý tốt các hoạt động báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ, góp phần động viên thực hiện Nghị quyết và hạn chế những mặt tiêu cực trong các lĩnh vực hoạt động này./.

PGS.TS Ngô Văn Thạo
Theo tuyengiao.vn
Thu Hiền (st)

———————

(1). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t.2, tr.510
(2). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, H, 1996, t.8, tr. 216.

bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh với bài Quốc ca Việt Nam

Quảng trường Ba Đình ngày 2.9.1945. Ảnh: Tư liệu

Quốc ca Việt Nam ra đời đã được 67 năm – cùng với Quốc kỳ, Quốc huy và Thủ đô Hà Nội – Quốc ca Việt Nam đã hòa vào máu thịt của mỗi người dân đất Việt.

Dù ở đâu trên trái đất này, nếu ai đó hát Quốc ca Việt Nam thì hãy tin rằng đó là người bạn, người đồng chí của chúng ta. Nhưng cũng ít ai biết rằng Quốc ca Việt Nam gắn liền với Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những ngày sôi nổi của Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám. Chính Người đã lựa chọn và sửa chữa để trở thành bài ca bất diệt của nước Việt Nam mới.

Trong những ngày tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8 năm 1945, Hội nghị quốc dân đã được thành lập với Chủ tịch là Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch là Trần Huy Liệu. Hội nghị quốc dân đã nhất trí thông qua Quốc kỳ, Quốc huy và Thủ đô của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Thủ đô là Hà Nội – đất đế đô ngàn năm văn vật, xứ sở của rồng vàng và bóng nước Hồ Gươm. Quốc kỳ là lá cờ nền đỏ, giữa có ngôi sao vàng năm cánh. Còn bài Quốc ca, Hồ Chủ tịch đã giao nhiệm vụ tuyển chọn cho một số người với yêu cầu: Quốc ca phải hào hùng, thể hiện ý chí của dân tộc, lời lẽ dễ hiểu, dễ phổ cập trong dân chúng.

Ban tuyển chọn Quốc ca đã trình lên Hội nghị quốc dân và Hồ Chủ tịch 3 bài là: “Cùng nhau đi Hồng binh” của Đỗ Nhuận, “Diệt phátxít” của Nguyễn Đình Thi và “Tiến quân ca” của Văn Cao, cả 3 bài hát đều có thể trở thành Quốc ca, vấn đề ở chỗ chỉ được phép lấy một bài thật tiêu biểu. Và Bác Hồ đã có sự lựa chọn chính xác, để thông qua Ban Thường vụ Hội nghị quốc dân và Ban Thường vụ Trung ương Đảng.

Về bài “Cùng nhau đi Hồng binh” thì Hồ Chủ tịch không đồng ý, tuy Người không nêu rõ lý do. Nhưng có lẽ “Cùng nhau đi Hồng binh” lời ca còn đơn giản, còn lặp lại điệp khúc nhiều lần. Cho dù bài hát có ngôn ngữ dễ hiểu, nôm na và dễ phổ cập.

Được Nguyễn Đình Thi sáng tác trong cao trào kháng Nhật cứu nước, “Diệt phátxít” là ca khúc rất được phổ biến lúc bấy giờ, nhất là đối với tầng lớp thanh niên, học sinh. Âm điệu và lời hát hào hùng, như một tiếng kèn xung trận thúc giục mọi người xông lên giết giặc cứu nước. Tuy nhiên, bài hát cũng không được Bác Hồ lựa chọn, theo Người thì ca khúc này lời hơi dài, khó phổ cập. Mặt khác, một số từ ngữ dùng vào Quốc ca là chưa thích hợp. Ví dụ như câu “Diệt phátxít cùng bầy chó đê hèn của chúng”. Có lẽ Người muốn quốc ca không những sâu sắc về nội dung, mà còn phải đẹp về lời ca, từ ngữ.

“Tiến quân ca” được Văn Cao sáng tác đầu năm 1945. Cùng với “Du kích ca”, “Tiến quân ca” như mang được cả hình ảnh những chiến sỹ giải phóng từ chiến khu trở về. Bài hát gợi lên không khí trang nghiêm, hào hùng của những đoàn quân theo nghĩa lớn, sẵn sàng chiến đấu hy sinh “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”. Bài hát có nhịp điệu thong thả như một khúc quân hành, như hiệu lệnh cho cả dân tộc tiến lên theo cờ Đảng để giải phóng non sông. Mặc dù bận rất nhiều công việc, Bác Hồ đã xem xét và sửa chữa một cách cẩn thận bài “Tiến quân ca”. Người đã sửa chữa một số câu từ, như câu mở đầu của “Tiến quân ca”, nguyên bản là “Đoàn quân Việt Minh đi…”, Người đã sửa lại là “Đoàn quân Việt Nam đi…”; hoặc câu “Thề phanh thây uống máu quân thù…”, Người đã sửa lại “Đường vinh quang xây xác quân thù…”. Rõ ràng những câu chữa lại của Bác Hồ chính xác hơn, đẹp hơn và đáp ứng yêu cầu của bài Quốc ca Việt Nam.

Sau khi cân nhắc kỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ban Thường vụ Trung ương Đảng và các vị trong Hội nghị quốc dân đã nhất trí lấy “Tiến quân ca” làm Quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ngày 2/9/1945, trong không khí tưng bừng của lễ Tuyên ngôn Độc lập, Quốc ca Việt Nam đã vang lên trong hàng triệu trái tim của con dân Việt Nam, báo hiệu một kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc. Nhắc lại sự kiện này, cố nhạc sĩ Văn Cao đã nói: Đây là hạnh phúc lớn lao nhất của đời tôi, là niềm tự hào không bao giờ quên khi được lãnh tụ kính yêu sửa chữa một tác phẩm nghệ thuật của mình.

Quốc ca Việt Nam đã trở thành một phần máu thịt của Tổ quốc và chắc chắn còn trường tồn rất lâu dài với lịch sử dân tộc. Cũng như bài Mácxâye, Quốc ca Pháp đã có lịch sử trên 200 năm, mặc dù nước Pháp từ cách mạng tư sản 1789 đến nay đã có bao nhiêu thay đổi. Cùng với suy nghĩ như vậy, tin chắc rằng “Tiến quân ca” mãi mãi là Quốc ca Việt Nam theo cùng với dân tộc trong công cuộc xây dựng “đất nước dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.

(Theo lời kể của cố nhạc sĩ Văn Cao và nhạc sĩ Lê Mây)

Theo Báo Lao động
Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Nói chuyện tại lớp hướng dẫn giáo viên cấp 2, cấp 3 và hội nghị sư phạm (7-1956)

Bác nghe nói thanh niên không thích làm thầy giáo, làm thầy giáo không oanh liệt, không anh hùng, có đúng không ?

(Nhiều người đáp: “Có ạ!”)

– Sự thật các cô các chú cũng biết dân tộc ta, nước nhà ta đang khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá mà muốn khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá thì cần cán bộ rất nhiều, nhưng cán bộ ta còn thiếu. Vậy ta phải đào tạo cán bộ, cán bộ phải có văn hoá làm gốc. Nếu ta muốn dùng máy móc mà máy móc ngày một thêm tinh xảo, thì công nhân cũng phải có trình độ kỹ thuật rất cao không kém gì kỹ sư, phải biết tính toán nhiều.

ở nông thôn cũng vậy. Các cô các chú ở nông thôn nhiều, chắc biết trước kia ruộng là của địa chủ, nông dân cứ cúi đầu làm lụng suốt ngày, gặt bao nhiêu thì nộp cho địa chủ hết, nên không cần có văn hoá mà cũng không thể mong mỏi có văn hoá được. Bây giờ khác, nông dân có ruộng đất, lại có tổ đổi công cho nên nông dân phải biết văn hoá, như có quyển sổ, phải ghi tổ có mấy người, không biết chữ thì không làm được, rồi phải biết chia công chấm điểm, lại càng phải có văn hoá.

Vì vậy, công nhân, nông dân đại đa số phải có văn hoá. Muốn có văn hoá thì phải làm thế nào?

(Hội trường trả lời to: “Phải học”).

– Muốn học phải cần có gì?

(Có thầy).

– Các cô các chú cứ đi dần dần thì hiểu. Thầy giáo ngày nay không phải như trước chỉ biết gõ đầu trẻ, miễn là có bài cho học trò học, cuối tháng bỏ lương vào túi. Bây giờ thầy giáo có trách nhiệm với nhân dân, đào tạo cán bộ ra phục vụ nhân dân. Cách dạy, quan niệm dạy phải khác. Dạy sao cho học sinh mau hiểu, mau nhớ, lý luận đi với thực hành. Các cô các chú có thấy khác trước không?

(Có ạ!)

– Các thầy giáo, các cô giáo phải gần gũi dân chúng. Các thầy giáo cũng như các trí thức khác là lao động trí óc. Lao động trí óc phải biết sinh hoạt của nhân dân, nếu chỉ giở sách đọc thì không đủ. Phải yêu dân, yêu học trò, gần gũi nhau, gần gũi cha mẹ học trò. Giáo dục ở trường và ở gia đình có quan hệ với nhau. Các chú các cô phải thi đua trao đổi kinh nghiệm. Bác nói thế là hết. Văn hay không cần nói dài.

– Các cô, các chú có điều gì muốn hỏi Bác nữa không ?

(Một thanh niên đứng dậy: “Thưa Bác, ở miền Bắc nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội như thế nào?)

– Chú muốn biết ta tiến lên chủ nghĩa xã hội như thế nào thì trước hết chú phải biết chủ nghĩa xã hội là gì đã chứ!

– Cách mạng của mình hiện nay là cách mạng dân tộc dân chủ. Chắc các cô các chú đều biết cách mạng Pháp (1789). Họ cũng tịch thu tất cả ruộng đất của bọn vua chúa quý tộc, đại địa chủ rồi chia cho nông dân. Sau cách mạng, bọn quý tộc mất, nhưng vẫn còn có tiểu địa chủ, nhưng nói chung họ đánh đổ phong kiến địa chủ. Nay ta làm cải cách ruộng đất, có người nói là ta làm cộng sản, thế ta đã làm cộng sản chưa?

(Cả hội trường trả lời: “Chưa ạ!”)

– Nghe các cô, các chú trả lời thì hình như có lẽ đúng mà cũng có lẽ không. Nói như thế không đúng. Cộng sản là tất cả những cái gì để mà sản xuất đều là của chung như máy móc, ruộng đất. Tất cả những tư liệu sản xuất đều là của chung của nhân dân, của Nhà nước, người ta làm chung hưởng chung.

(Bác chỉ vào một đồng chí giáo viên trẻ tuổi và hỏi:)

– Xã chú đã cải cách ruộng đất chưa?

(Đã cải cách ruộng đất rồi ạ!)

– Khi trước có mấy địa chủ?

(Thưa có 9 địa chủ).

– Xã chú có bao nhiêu nông dân?

(Độ 8 nghìn người ạ!)

– Ruộng ấy chia cho 8 nghìn người. Chia là thế nào? Trước kia ruộng đất thuộc về 9 tư hữu, bây giờ là của 8 nghìn tư hữu. Thế thì có phải là cộng sản không ?

Thế chủ nghĩa xã hội là gì?

(Một đồng chí mạnh bạo đứng lên nói: “Chủ nghĩa xã hội là những tư liệu sản xuất thuộc về nhân dân”).

– Thế giữa người và người như thế nào?

(Đồng chí ấy chưa trả lời được. Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị một đồng chí cùng đi với mình trả lời hộ và nhắc lại:)

– Như vậy chủ nghĩa xã hội là lấy nhà máy, xe lửa, ngân hàng, v.v. làm của chung. Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tất nhiên là trừ những người già cả, đau yếu và trẻ con. Thế ta đã đến đấy chưa? Chưa đến. Chủ nghĩa xã hội không thể làm mau được mà phải làm dần dần. ở nông thôn phải có tổ đổi công để tăng gia sản xuất rồi tiến lên hợp tác xã, tiến lên nông trường.

Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu nước mạnh. ở nông thôn, nông dân được ruộng rồi mà cứ làm ăn theo cách cũ thì sản xuất không thể tăng gia được, xã hội không tiến lên được mà phải thụt lùi. Cho nên lúc đầu là cải cách ruộng đất, sau tiến lên một bước là tổ chức tổ đổi công sao cho tốt, cho khắp, lại tiến lên hình thức hợp tác xã dễ dàng, rồi tiến lên hợp tác xã cao hơn, lúc bấy giờ mới có chủ nghĩa xã hội.

ở thành thị, Chính phủ có những xí nghiệp lớn, trong các xí nghiệp đó, công nhân phải thi đua sản xuất và quản lý cho tốt. Dần dần, như bên Trung Quốc, ta sẽ khuyên các nhà tư sản – không phải bắt ép mà giáo dục thuyết phục họ – chung vốn với Chính phủ. Các nhà tư sản sẽ hợp tác với Chính phủ để sản xuất dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân.

– Phải hướng về phía ấy, mà công tư hợp doanh cũng còn phải tiến lên nữa. Các nhà tư sản sẽ thấy công tư hợp doanh có lợi, không có hại, dần dần họ thấy nhất định phải tiến lên chủ nghĩa xã hội. Bác hỏi các cô, các chú muốn đi con đường nào?

(Hội trường nhất loạt trả lời: ” Chủ nghĩa xã hội “).

– Thế thì các nhà tư sản, họ kinh doanh một mình, họ thấy khó có đường ra. Dù cho họ buôn bán to mấy cũng không thể chống lại công ty mậu dịch, không thể cạnh tranh nổi, do đó họ tự thấy tiền đồ của họ. Ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác. Các cô, các chú có thảo luận về Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ XX không?

Đại hội đã chỉ cho ta thấy ta có thể đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Ta có thể làm như Trung Quốc: đối với bọn phản động ở lại phá hoại thì phải tiêu diệt, nhưng đối với các nhà tư sản khác thì Trung Quốc đã giáo dục họ. Thế bao giờ miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội? Tất cả nhân dân cố gắng thì tiến mau, nếu ai cũng nghĩ đó là việc của Bác Hồ thì tiến chậm.

Còn giai cấp tư sản ở ta thì họ có xu hướng chống đế quốc, có xu hướng yêu nước. Tư sản các nước Anh, Mỹ, Pháp không có như thế. Vì sao? Vì tư sản nước ta bị Tây, Nhật áp bức, khinh miệt, họ căm tức tư sản Nhật, Pháp, cho nên, nếu mình thuyết phục khéo, lãnh đạo khéo, họ có thể hướng theo chủ nghĩa xã hội như ở Trung Quốc. ở Trung Quốc có những nhà đại tư bản đã chạy đi mà cũng có những người ở lại, nhưng lúc đầu không theo, hoặc chống lại cán bộ, chống lại cộng sản. Sau họ thấy rõ chính sách của Đảng Cộng sản, thấy rõ lòng hăng hái của nhân dân, thấy rõ sự tiến bộ của toàn dân, Đảng lại biết tổ chức, biết thuyết phục, bấy giờ họ vui vẻ đi với

Chính phủ vào công tư hợp doanh, có người làm việc với Chính phủ, vợ con cũng làm việc, ai làm được việc gì thì làm. Đại đa số con cái của họ vào Đoàn thanh niên. Họ viết thư về nhà nói: “Của cải của bố mẹ để lại, chúng con không cần nữa, chúng con đã được Đảng và Đoàn dạy cho lao động mà ăn”. Hoá được gia đình vợ con thì hoá được họ. Các bà tư sản, trước không làm được gì, bây giờ giúp bình dân học vụ, làm nhiều việc trong thành phố, ai có học thì làm việc cho Chính phủ. Họ viết thư khuyến khích bà con đã chạy sang Đài Loan. Họ viết: “Tổ quốc đẹp đẽ hùng mạnh như thế nếu còn có lương tâm thì về mà xem, nếu không muốn ở thì lại đi, chúng tôi xin bảo đảm”. Thế là nhà tư sản thành người tuyên truyền cho Chính phủ.

Nói tóm lại, tiến lên chủ nghĩa xã hội, không thể một sớm một chiều. Đó là cả một công tác tổ chức và giáo dục. Đó là công tác chung của tất cả mọi người, của cả thầy giáo. Phải hiểu chính sách của Chính phủ và của Đảng, phải thảo luận rồi tuyên truyền cho chính sách, phải giải thích cho dân hiểu, làm được như thế là gần lên chủ nghĩa xã hội rồi.

—————————–

Nói vào tháng 7-1956.
Sách Hồ Chủ tịch bàn về công tác giáo dục, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1962, tr. 255-261.
cpv.org.vn

Điện chúc mừng nhân dịp Quốc khánh Vương quốc Lào (7-8-1956)

Nhân dịp ngày Quốc khánh của Vương quốc Lào, thay mặt Chính phủ và nhân dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân tôi, tôi kính gửi Quốc vương, Chính phủ và nhân dân Lào lời chào mừng nhiệt liệt.

Tôi kính chúc Quốc vương, Chính phủ và nhân dân Lào sẽ thu được nhiều kết quả trong việc xây dựng một nước Lào ngày càng giàu mạnh.

Tôi tin rằng mối tình hữu nghị sẵn có giữa nhân dân hai nước láng giềng Việt – Lào sẽ ngày càng thêm thân mật và phát triển.

 

————————

Báo Nhân dân, số 886, ngày 7-8-1956.
cpv.org.vn

Thư gửi đồng bào Khu tự trị Việt Bắc (10-8-1956)

Thân ái gửi đồng bào Khu tự trị Việt Bắc,

Nhân ngày thành lập Khu tự trị Việt Bắc, tôi thay mặt Đảng và Chính phủ thân ái gửi lời chào mừng đồng bào, bộ đội và cán bộ toàn Khu.

Mục đích lập Khu tự trị là để làm cho các dân tộc anh em toàn Khu cùng nhau tự quản lý công việc của mình, phát huy khả năng của mình, tiến bộ mau chóng về mọi mặt: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội… Để đạt mục đích ấy, đồng bào ta cần phải:

– Đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc, các tầng lớp nhân dân, mọi người thương yêu giúp đỡ nhau như ruột thịt.

– Đoàn kết chặt chẽ với đồng bào cả nước.

– Mọi người ra sức thi đua tăng gia sản xuất, thực hiện kế hoạch Nhà nước, làm cho ai cũng cơm no áo ấm và được học hành, làm cho Khu tự trị Việt Bắc phát đạt giàu có.

– Hăng hái góp phần củng cố quốc phòng, xây dựng công an, để bảo vệ đất nước, bảo vệ đời sống yên vui của nhân dân.

– Cán bộ quân, dân, chính, Đảng phải đoàn kết chặt chẽ; phải luôn luôn gần gũi nhân dân, ra sức phục vụ nhân dân, phải cần, kiệm, liêm, chính, kiên quyết chống quan liêu mệnh lệnh, tham ô lãng phí.

Với truyền thống cách mạng anh dũng và lòng nồng nàn yêu nước của đồng bào Việt Bắc, Khu tự trị của chúng ta nhất định sẽ ngày càng tiến bộ. Là một bộ phận khăng khít của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Khu tự trị Việt Bắc sẽ góp phần xứng đáng vào sự nghiệp chung của toàn dân là: củng cố miền Bắc, chiếu cố miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Chào thân ái và thắng lợi
Hà Nội, ngày 10 tháng 8 năm 1956

HỒ CHÍ MINH

———————————–

Báo Nhân dân, số 889, ngày 10-8-1956.
cpv.org.vn

Nói chuyện với anh chị em công nhân Nhà máy diêm Thống nhất (16-8-1956)

Mọi người phải biết ơn Liên Xô và các nước bạn đã giúp đỡ nhân dân ta kiến thiết Tổ quốc và phải học tập tinh thần quốc tế cao cả của các đồng chí chuyên gia và công nhân các nước bạn. Anh chị em phải nhận rõ ngày nay công nhân đã làm chủ nhà máy, phải làm sao xứng đáng với địa vị đó, phải ra sức làm cho nhà máy phát triển, thực hiện tǎng gia sản xuất và tiết kiệm, chống lãng phí, triệt để tôn trọng kỷ luật lao động. Lợi ích của công nhân đi đôi với lợi ích chung của nhà máy. Nếu đời sống được cải thiện và mọi người được khoẻ mạnh thì sẽ phấn khởi thi đua sản xuất, làm cho nhà máy thu được nhiều kết quả. Nếu nhà máy phát triển thì có khả nǎng để cải thiện đời sống của công nhân và nhân viên. Do đó, muốn đời sống được cải thiện thì anh chị em công nhân phải cố gắng sản xuất, còn các cán bộ phụ trách phải luôn luôn chú ý sǎn sóc đến đời sống của công nhân. Cán bộ phụ trách phải chú ý hơn nữa đến việc chǎm nom sǎn sóc các cháu trong nhà máy vì như vậy mới làm cho cha mẹ các cháu yên tâm sản xuất và sau này các cháu mới trở thành những công nhân, cán bộ khoẻ mạnh để phục vụ Tổ quốc.

Toàn thể anh chị em phải thực hiện đoàn kết dân chủ, chống quan liêu, tham ô, lãng phí, thành khẩn phê bình, tự phê bình để giúp nhau tiến bộ. Nhà máy diêm Thống nhất là nhà máy xây dựng xong đầu tiên ở miền Bắc. Vì vậy, các cán bộ, công nhân viên cùng phải cố gắng làm gương mẫu về mọi mặt. Các cán bộ lãnh đạo chi bộ, đoàn thanh niên, công đoàn của nhà máy phải làm cho nội bộ đoàn kết, toàn xưởng đoàn kết, đoàn kết với đồng bào địa phương, chú trọng giáo dục công nhân, thực hiện dân chủ, đẩy mạnh thi đua sản xuất, tiết kiệm và chú trọng sǎn sóc đến đời sống của anh chị em công nhân trong nhà máy, để góp phần thiết thực củng cố miền Bắc, chiếu cố miền Nam, thực hiện một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

————————–

Nói ngày 16-8-1956.
Sách Bác Hồ với nhân dân Hà Nội, Nxb. Hà Nội, 1980, tr.59-61.
cpv.org.vn

Điện mừng nước Cộng hoà Nam Dương (17-8-1956)

Kính gửi: Ông A. Xucácnô,
Tổng thống nước Cộng hoà Nam Dương,

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 11 ngày nước Cộng hoà Nam Dương tuyên bố độc lập, thay mặt Chính phủ và nhân dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân tôi, tôi kính gửi Ngài, Chính phủ và nhân dân nước Cộng hoà Nam Dương lời chào mừng nồng nhiệt.

Tôi tin rằng dưới sự lãnh đạo của Tổng thống và Chính phủ Nam Dương, nhân dân Nam Dương sẽ thu được nhiều thắng lợi trong việc kiến thiết đất nước giàu mạnh và phát triển quan hệ hợp tác quốc tế trên tinh thần chung sống hoà bình.

Xin kính chúc Ngài mạnh khoẻ.

Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
HỒ CHÍ MINH

————————

Báo Nhân dân, số 896, ngày 17-8-1956.
cpv.org.vn

Thư gửi đồng bào nông thôn và cán bộ nhân dịp cải cách ruộng đất ở miền Bắc cǎn bản hoàn thành (18-8-1956)

Kháng chiến thắng lợi đã hai năm, miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng khỏi xiềng xích thực dân; ngày nay nông dân miền Bắc ta lại thoát khỏi ách địa chủ phong kiến.

Gần 10 triệu đồng bào nông dân đã được ruộng cày, hàng vạn cán bộ mới ở nông thôn đã được đào tạo. Tổ chức của Đảng, chính quyền và nông hội ở xã đã được chấn chỉnh.

Đó là một thắng lợi to lớn. Nó mở đường cho đồng bào nông thôn ta xây dựng cuộc đời ấm no, góp phần xứng đáng vào công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế, củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh để đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.

Có thắng lợi đó là nhờ Đảng và Chính phủ ta có chính sách đúng đắn, nhờ sức đoàn kết đấu tranh của nông dân lao động, nhờ sự ủng hộ tích cực của quân đội và nhân dân, nhờ tinh thần hy sinh cố gắng của cán bộ.

Nhân dịp này, tôi thay mặt Đảng và Chính phủ thân ái gửi lời:

Chúc mừng đồng bào nông thôn đã thắng lợi;

Khen ngợi cán bộ cải cách ruộng đất và cán bộ cùng cốt cán các xã đã chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, đấu tranh bền bỉ;

Khen ngợi nhân dân và quân đội đã tích cực góp phần vào thắng lợi chung.

Cải cách ruộng đất là một cuộc đấu tranh giai cấp chống phong kiến, một cuộc cách mạng long trời lở đất, quyết liệt gay go. Lại vì kẻ địch phá hoại điên cuồng; vì một số cán bộ ta chưa nắm vững chính sách, chưa thực đi đúng đường lối quần chúng; vì sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ có chỗ thiếu cụ thể, thiếu kiểm tra đôn đốc – cho nên khi cải cách ruộng đất đã xảy ra những khuyết điểm, sai lầm: trong việc thực hiện đoàn kết nông thôn, việc đánh kẻ địch, việc chấn chỉnh tổ chức, trong chính sách thuế nông nghiệp, v.v ..

Trung ương Đảng và Chính phủ đã nghiêm khắc kiểm điểm những sai lầm, khuyết điểm ấy và đã có kế hoạch kiên quyết sửa chữa, nhằm đoàn kết cán bộ, đoàn kết nhân dân, ổn định nông thôn, đẩy mạnh sản xuất.

Cần phải sửa chữa những khuyết điểm như: không dựa hẳn vào bần cố nông, không đoàn kết chặt chẽ với trung nông, không thực sự liên hiệp phú nông.

Ai bị vạch sai lên thành phần địa chủ, phú nông, cần phải vạch lại cho đúng.

Đảng viên, cán bộ và nhân dân, ai đã bị xử trí sai thì cần phải khôi phục đảng tịch, quyền lợi và danh dự cho họ.

Đối với địa chủ, thì phải đối xử theo đúng 8 điều quy định; phải chiếu cố những địa chủ kháng chiến, ủng hộ cách mạng và địa chủ có con là bộ đội, cán bộ.

Những nơi đã nâng diện tích hoặc sản lượng quá mức, cần phải điều chỉnh lại cho đúng.

Việc sửa chữa phải kiên quyết và có kế hoạch. Việc gì sửa được ngay thì phải làm ngay. Việc gì chưa sửa được ngay thì phải kết hợp trong kiểm tra lại mà làm.

Chúng ta cần phát huy những thắng lợi đã thu được, đồng thời chúng ta phải kiên quyết sửa chữa những sai lầm.

Ngày nay, nhân dân đã làm chủ nông thôn thì cần phải đoàn kết chặt chẽ, hăng hái sản xuất, phát triển và củng cố các tổ đổi công, v.v. để ngày càng no đủ hơn và để góp phần làm cho dân giàu nước mạnh.

Cán bộ phải ra sức học tập văn hoá và chính trị, phải gương mẫu trong công tác và sản xuất, phải thiết thực quan tâm đến đời sống của nhân dân.

Nhân dân cần thẳng thắn phê bình và giúp đỡ cán bộ trong công tác.

Các cấp khu và tỉnh cần phải thiết thực giúp đỡ cán bộ huyện và xã, để công tác và sản xuất được kết quả tốt.

Đoàn kết là lực lượng tất thắng của chúng ta. Để củng cố miền Bắc làm nền tảng vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà, toàn dân ta cần đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi trên cơ sở liên minh công nông trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Cán bộ cũ và cán bộ mới của Đảng và chính quyền càng phải thống nhất tư tưởng, đoàn kết nhất trí, thi đua phục vụ nhân dân.

Toàn thể cán bộ và nhân dân hãy đoàn kết chặt chẽ chung quanh Đảng và Chính phủ, cùng nhau ra sức thi đua, làm cho nông thôn dân chủ của chúng ta ngày càng tươi vui, phồn thịnh.

Chào thân ái và đoàn kết

HỒ CHÍ MINH

—————————–

Báo Nhân dân, số 897, ngày 18-8-1956.
cpv.org.vn

Phải xem trọng ý kiến của quần chúng (21-8-1956)

Nhân dân ta đã tiến bộ nhiều. Không những trong các cuộc hội họp, quần chúng đã thẳng thắn bày tỏ ý kiến của mình, mà nhiều khi còn gửi thư cho các báo, cơ quan và đoàn thể, hoặc thành khẩn phê bình và tự phê bình, hoặc nêu những đề nghị thiết thực.

Đó là một điều rất tốt: Nó làm cho nhân dân càng gần gũi và càng tin tưởng đoàn thể và chính quyền. Nó làm cho đoàn thể và chính quyền càng hiểu thấu nguyện vọng của quần chúng, càng thấy rõ những thiếu sót của mình để sửa chữa. Nó làm cho chúng ta đoàn kết càng chặt chẽ. Nó càng chứng tỏ chế độ của ta là thật sự dân chủ.

Trách nhiệm của cán bộ chính quyền và đoàn thể là phải xem trọng những phê bình và những đề nghị của quần chúng. Những cán bộ (hoặc cơ quan, đoàn thể) được phê bình cần phải thật thà và công khai tự phê bình, ra sức sửa chữa. Nếu lời phê bình có chỗ không thật đúng, thì phải giải thích rõ ràng cho quần chúng hiểu. Nhưng dù phê bình đúng cả hay là chỉ đúng một phần nào, chúng ta cũng cần luôn luôn hoan nghênh quần chúng phê bình. Tuyệt đối không được áp bức phê bình. Chúng ta phải nhớ rằng cán bộ đoàn thể cũng như chính quyền, từ trên đến dưới, đều là đày tớ của nhân dân, phải xem trọng ý kiến của nhân dân. Nhiều cán bộ ta cố gắng làm đúng như thế.

Nhưng vẫn có nhiều cán bộ không làm đúng như vậy. Vài thí dụ:

Các báo thường đăng lời phê bình của nhân dân. Nhưng nhiều khi như “nước đổ đầu vịt”, cán bộ, cơ quan và đoàn thể được phê bình cứ im hơi lặng tiếng, không tự kiểm điểm, không đăng báo tự phê bình và hứa sửa chữa.

Thậm chí có cán bộ địa phương đã tự tiện bóc thư cấp trên gửi cho nhân dân, dùng dằng trao thư ấy cho nhân dân một cách chậm trễ, hoặc không trao mà cán bộ tự viết trả lời cho cấp trên (như Uỷ ban hành chính xã Đồng Minh, Nam Ninh). Có cán bộ đã doạ nạt nhân dân vì họ đã gửi thư cho cấp trên (như Phó Chủ tịch xã Xuân Yên, Hà Tĩnh).

Làm như vậy, các đồng chí ấy đã phạm kỷ luật: một là bóc thư riêng của người khác; hai là bưng bít tai mắt cấp trên, bịt mồm bịt miệng quần chúng. Sai lầm ấy phải được chấm dứt.

Một điểm nữa cần nói: phê bình và đề nghị là quyền dân chủ của mọi công dân. Khi gửi thư cần suy xét kỹ lưỡng, bày tỏ thật thà, viết tên họ và địa điểm rõ ràng, thì cơ quan nhận được thư mới có thể điều tra, nghiên cứu. Thư mà không có tên họ và địa điểm là không có giá trị gì.

Nói tóm lại, cán bộ, cơ quan và đoàn thể cần thật sự xem trọng ý kiến của quần chúng nhân dân.

C.B.

————————

Báo Nhân dân, số 900, ngày 21-8-1956.
cpv.org.vn

Lời phát biểu trong buổi chiêu đãi Đoàn đại biểu Chính phủ Vương quốc Lào (28-8-1956)

Thưa Hoàng thân Thủ tướng,

Các bà,

Các vị và các bạn,

Nhân danh Chính phủ và đồng bào tôi, tôi thành khẩn cảm ơn các vị đã đến thǎm Việt Nam và thân ái chúc các vị mọi sự tốt lành.

Từ xưa đến nay, hai nước Việt và Lào là láng giềng và hai dân tộc ta là anh em.

Nhưng gần một thế kỷ qua, đế quốc chủ nghĩa hung ác đã đến chia rẽ chúng ta, tách rời chúng ta.

Nhờ tình yêu nước, nhờ tình đoàn kết và sự đấu tranh anh dũng của hai dân tộc ta, mà đế quốc chủ nghĩa đã bị đuổi đi, nước chúng ta đã giành lại độc lập. Chúng tôi nghĩ rằng đã đến lúc để chúng ta nối lại mối quan hệ anh em.

Việc các vị đến thǎm Việt Nam sẽ mở đường cho sự nối lại quan hệ ấy.

Nhân dịp tốt đẹp này, tôi xin tuyên bố rằng nhân dân và Chính phủ Việt Nam tuyệt đối tôn trọng Hiệp định Giơnevơ và nǎm nguyên tắc chung sống hoà bình của Bǎngđung; và tất cả mọi vấn đề giữa hai nước Việt, Lào, chúng ta đều có thể giải quyết với tinh thần láng giềng thân thiện và tình nghĩa anh em.

Chúng tôi chúc nhân dân Lào anh em nhiều hạnh phúc và thịnh vượng. Chúng tôi coi hạnh phúc và thịnh vượng của anh em Lào cũng như của mình.

Tôi đề nghị chúng ta nâng cốc chúc sức khoẻ nhà vua Lào.

Chúc sức khoẻ Hoàng thân Thủ tướng,

Chúc sức khoẻ các vị trong quý đoàn đại biểu,

Chúc tình hữu nghị bền vững giữa nhân dân hai nước Việt – Lào.

——————————

Phát biểu ngày 28-8-1956.
Báo Nhân dân, số 908, ngày 29-8-1956.
cpv.org.vn