Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Phái đoàn Ngoại giao Costa Rica vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

corPhái đoàn Ngoại giao Costa Rica vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh
(Ảnh: Vũ Chiến Thắng, Cơ quan đại diện Unesco tại Việt Nam)

Nhân dịp tham dự Diễn đàn cấp Bộ trưởng Việt Nam – Mỹ Latinh về thương mại và đầu tư, ký kết Hiệp định về miễn thị thực cho công dân mang hộ chiếu ngoại giao và công vụ của hai nước, sáng ngày 07/7/2012, Thứ trưởng Ngoại giao Costa Rica, Ngài Carlos Roverssi và các đại diện cùng đi đã đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cùng đi với Đoàn có Bà Katherine Muller-Marin, Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam – đồng thời cũng là công dân Costa Rica.Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Nhân dân Costa Rica kính viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Với lòng kính trọng đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong bài phát biểu tại diễn đàn, Ngài Roverssi bày tỏ rằng Người là một vĩ nhân có tầm nhìn sâu rộng, Người có thể nhìn thấy trước tầm vóc phát triển của quốc gia và góp phần phát triển một hình thức ngoại giao mới, nâng cao vị thế của Việt Nam như một hình mẫu về hợp tác hòa bình và hiểu biết lẫn nhau, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là người đã nỗ lực ủng hộ việc kết hợp hòa bình vào mô hình ngoại giao của Việt Nam. Costa Rica, một quốc gia dân chủ không có quân đội, chia sẻ lời kêu gọi này.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Thư gửi nhi đồng toàn quốc nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám (8-1947)

Hỡi các cháu yêu quý !

Ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám, các cháu cũng phải có phần chứ nhỉ. Vậy Bác gửi cho các cháu lời chào thân ái.

Trong cuộc Cách mạng Tháng Tám, và trong cuộc kháng chiến bây giờ đã cho nhiều cháu tham gia.

Từ Nam đến Bắc có nhiều nhi đồng đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc, có nhiều nhi đồng bị địch giết hại một cách thảm thương. Bác cùng các cháu, ta kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các liệt sĩ thiếu niên đó.

Vì thực dân hung ác mà có nhiều nhi đồng lạc cha rời mẹ, có nhiều nhi đồng phải tản cư đến chỗ núi rậm rừng xanh. Đối với những nhi đồng đó, Bác cùng các cháu, ta phải hết sức thương yêu, tìm cách giúp đỡ.

Bác rất vui lòng biết rằng: nhiều cháu đã hǎng hái giúp việc trong các bộ đội và dân quân.

Nhiều cháu đã tổ chức tǎng gia sản xuất, trồng lúa, trồng ngô, nuôi gà, nuôi vịt (nhi đồng Hải Phòng ). Nhiều cháu vào tuyên truyền xung phong (như nhi đồng Quảng Yên). Nhiều cháu giúp việc bình dân học vụ (nhi đồng nhiều nơi đã làm như thế).

Còn cháu nào cũng biết siêng học, siêng làm, biết ǎn ở sạch sẽ, biết giữ kỷ luật, lễ phép, thế là tốt lắm. Bác khuyên các cháu gắng sức thêm. Việc gì có ích cho kháng chiến, có ích cho Tổ quốc thì các cháu nên gắng sức làm. Làm được bao nhiêu tốt bấy nhiêu. Tuổi các cháu còn nhỏ, thì các cháu làm những công việc nhỏ. Nhiều công việc nhỏ cộng lại thành công việc to. Bác mong các cháu làm việc và học hành, cho xứng đáng là nhi đồng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, thống nhất và độc lập.

Bác hôn tất cả các cháu
BÁC HỒ

Viết tháng 8-1947. Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t. 2, tr. 25.
cpv.org.vn

Thư gửi ông Nguyễn Khánh Toàn (20-8-1947)

Chú Lĩnh (1)

Chú ốm đi ốm lại mãi. Mình lo cho sức khoẻ của chú. Phải gắng uống thuốc đi cho khỏi, hoặc nhờ thầy thuốc tiêm cho. Chớ để ốm mãi như vậy, chú đã yếu mà anh cũng lo.

Thân ái và quyết thắng
Ngày 20 tháng 8 nǎm 1947
ANH

Bản gốc lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh
cpv.org.vn

—————————————-

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Trả lời báo Vui sống (26-8-1947)

Hỏi: ý kiến của Chủ tịch về vấn đề y tế và riêng về quân y trong thời kỳ kháng chiến?

Trả lời : Theo tôi biết, thì y tế và quân y đều cố gắng làm việc. Riêng về quân y, vì ở gần bộ đội và gần mặt trận đã có những bác sĩ, y sĩ, y tá, dược sĩ và chị em khán hộ rất chịu khó và gan góc, đối với anh em thương binh rất tử tế, đối với công việc rất có tinh thần phụ trách. Đó là những điều đáng nhớ, đáng khen. Tuy trong hoàn cảnh khó khǎn, anh em y giới đã tự chế được mấy thứ thuốc mới. Đó là một sự đáng mừng.

Y tế và quân y cần phải đoàn kết chặt chẽ, cộng tác mật thiết, phải ra sức đào tạo cán bộ, phát minh thêm thuốc mới.

Chúng ta phải cố tranh cho được thắng lợi trên mặt trận y tế cũng như trên các mặt trận khác. Mong toàn thể anh em gắng sức.

Trả lời ngày 26-8-1947.

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.30.
cpv.org.vn

Trả lời báo Độc lập về việc Chính phủ mở rộng (28-8-1947)

Hỏi : Lần này là lần đầu tiên từ khi chính thể Dân chủ Cộng hoà thành lập, chúng tôi nhận thấy trong Chính phủ có một vị quan lại cũ tham dự. Vậy xin Chủ tịch cho biết rõ chính sách của Chính phủ đối với giới này.

Trả lời: Chính sách của Chính phủ trước sau vẫn là đại đoàn kết. Đối với các vị quan lại cũ cũng như đối với tất cả các giới đồng bào, những người có tài có đức thì Chính phủ đều hoan nghênh ra gánh việc nước. Thí dụ: Ngoài cụ Đặng Vǎn Hưởng ra, còn nhiều cụ khác nữa như cụ Phạm Gia Thuỵ, cựu Tổng đốc; cụ Phan Kế Toại, Khâm sai đại thần; cụ Phó bảng Bùi Kỷ, v.v., đều rất tận tuỵ giúp việc kháng chiến. Trước sự đại đoàn kết của Chính phủ và quốc dân đồng bào, mưu mô chia rẽ của thực dân phản động Pháp nhất định thất bại.

Trả lời ngày 28-8-1947.

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.31.
cpv.org.vn

Thư gửi Hội Phật tử Việt Nam (30-8-1947)

Nhân ngày lễ Phật rằm tháng Bảy, tôi kính cẩn cầu nguyện Đức Phật bảo hộ Tổ quốc và đồng bào ta, và tôi gửi lời thân ái chào các vị trong Hội Phật tử.

Từ ngày nước ta trở nên Dân chủ Cộng hoà, Hiến pháp ta tôn trọng tự do tín ngưỡng, thì Phật giáo cũng phát triển một cách thuận tiện.

Thế là: Nước có độc lập, thì đạo Phật mới dễ mở mang.

Bọn thực dân Pháp muốn cướp nước ta. Chúng đốt chùa chiền, phá tượng Phật, hành hạ tǎng ni, tàn sát đạo hữu. Chúng hòng phá tan đạo Phật.

Đức Phật là đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn, muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn Người phải hy sinh tranh đấu, diệt lũ ác ma.

Nay đồng bào ta đại đoàn kết, hy sinh của cải xương máu, kháng chiến đến cùng, để đánh tan thực dân phản động, để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải nô lệ.

Trong cuộc kháng chiến cứu nước, đồng bào Phật giáo đã làm được nhiều. Tôi cảm ơn đồng bào, và mong đồng bào cố gắng thêm, cố gắng mãi, cho đến ngày trường kỳ kháng chiến thắng lợi, thống nhất độc lập thành công.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 15 tháng 7 âm lịch (1)
HỒ CHÍ MINH

Sách Hồ Chí Minh Toàn tập,
xuất bản lần thứ nhất, Nxb Sự thật,
Hà Nội, 1984, t.4, tr.409.
cpv.org.vn

————————–

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Trung tướng Nguyễn Trung Thu – Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam làm việc tại Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng

Sáng ngày 12/7/2012, Trung tướng Nguyễn Trung Thu – Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam dẫn đầu Đoàn công tác của Bộ Tổng tham mưu đến thăm và làm việc tại Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

trung tương
Trung tướng Nguyễn Trung Thu – Phó Tổng Tham mưu trưởng chủ trì buổi làm việc tại
Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thay mặt Thường vụ, Đảng ủy, Thủ trưởng Bộ Tư lệnh, Đại tá Nguyễn Trọng Khánh, Phó Tư lệnh – Tham mưu trưởng đã báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ của đơn vị. 6 tháng đầu năm 2012, đơn vị đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời chủ động phối hợp hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng bảo đảm an ninh, an toàn tuyệt đối các buổi lễ viếng Bác, tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và các sinh hoạt chính trị, văn hóa diễn ra tại khu vực Lăng. Đón tiếp tận tình, phục vụ chu đáo, an toàn đồng bào và khách quốc tế đến viếng Bác, tham quan khu vực Lăng, Quảng trường Ba Đình, Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và Khu Di tích K9. Đặc biệt, Bộ Tư lệnh đã phối hợp các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng triển khai tuyến phố đi bộ bắt đầu từ ngày 19 tháng 5 theo kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã được các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước hoan nghênh và sự đồng thuận cao trong các tầng lớp nhân dân.

Trung tuong Nguyen xuan thu vieng Lang
Trung tướng Nguyễn Trung Thu – Phó Tổng Tham mưu trưởng
vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trung tướng Nguyễn Trung Thu đánh giá cao và biểu dương những thành tích mà cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ đã đạt được trong thời gian vừa qua. Là đơn vị làm nhiệm vụ chính trị đặc biệt giữ gìn lâu dài thi hài Bác, Bộ Tư lệnh đã chú trọng đến công tác bảo đảm an ninh, nghi lễ và SSCĐ, tập trung đầu tư xây dựng các phương án bảo vệ và thường xuyên tổ chức luyện tập bảo đảm tốt. Đồng chí nhấn mạnh: Lăng Bác là một công trình chính trị, văn hóa, giáo dục và mang ý nghĩa tinh thần to lớn đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân ta; giữ gìn thi hài Bác là giữ gìn một di sản vô giá của dân tộc. Trong tình hình hiện nay, các thế lực thù địch tăng cường nhiều hoạt động chống phá ta, Lăng Bác là nơi rất nhạy cảm về chính trị và là một trọng điểm địch tập trung phá hoại; vì vậy, lãnh đạo, Chỉ huy Bộ Tư lệnh và toàn thể cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ phải nhận thức đầy đủ và sâu sắc về nhiệm vụ chính trị được giao, đề cao trách nhiệm và niềm vinh dự, tự hào; thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác, SSCĐ cao, trong đó tập trung vào nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện các phương án bảo vệ, phương án SSCĐ và bổ sung các trang thiết bị bảo đảm an ninh đáp ứng tốt cho yêu cầu nhiệm vụ. Chủ động phối hợp, hiệp đồng trong thực hiện nhiệm vụ và trong luyện tập các phương án, trong xử lý các tình huống có thể xảy ra. Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị đặc biệt mà Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân  giao phó.

Tiếp đó, đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng đã dẫn Đoàn vào Lăng viếng Bác, tham quan Công trình Lăng và Viện 69. Đồng chí Tư lệnh báo cáo với Trung tướng Nguyễn Trung Thu công tác tổ chức lễ viếng Bác và công tác bảo đảm an ninh, an toàn khu vực; công tác quản lý, vận hành các thiết bị kỹ thuật Công trình Lăng và nhiệm vụ y tế giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Đại tá Nguyễn Văn Lâm
bqllang.gov.vn

Tên Người là cả một niềm thơ

Trong cuộc đời sáng tác của nhiều nhạc sĩ, có được một ca khúc hay về Bác Hồ thực sự là một niềm tự hào. Bởi, nói như nhà thơ Cu Ba Phêlic Pita Rôđờrigết thì “Hồ Chí Minh, tên Người là cả một niềm thơ”. Dưới đây là tâm sự của các nhạc sĩ Cao Việt Bách, Văn Dung, Đăng Nước về những tác phẩm: “Tiếng hát từ thành phố mang tên Người”, “Những bông hoa trong vườn Bác”, “Chúng con bên giấc ngủ của Người”.

tho1

            Nhạc sĩ Cao Việt Bách: “Bác như đang hiện diện trong ngày vui”

tho2

            Ngay sau ngày đất nước toàn thắng, nhà báo Đăng Trung mang “khoe” với tôi bài thơ “Tiếng hát từ thành phố mang tên Người” anh vừa sáng tác  dựa trên cái tứ “Ai vô thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng” của nhà thơ Tố Hữu và sự kiện năm 1911, Bác ra đi tìm đường cứu nước. Tôi và nhà báo Đăng Trung đã bàn với nhau và cùng quyết tâm “Phải có một cái gì về sự kiện trọng đại này”…

Ngay hôm sau, tôi đem đến anh bản thảo ca khúc “Tiếng hát từ thành phố mang tên Người” hoàn chỉnh. Cả hai chúng tôi đã ôm chầm lấy nhau và hát vang: “Thành phố Hồ Chí Minh/ Ngời ngời rực sáng tương lai /Trong mỗi trái tim, trong mỗi ước mơ, trong mỗi cuộc đời ta luôn có Bác“… Hình ảnh Bác Hồ như đang hiện diện trong ngày vui đại thắng. Nhạc phẩm “Tiếng hát từ thành phố mang tên Người” đã vang trên làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam vào những ngày đầu tháng 5 năm 1975, mau chóng được đông đảo thính giả cả nước đón nhận.

Năm 1977, đoàn ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam lần đầu tiên trình diễn tác phẩm này trên sân khấu Nhà  hát Thành phố Hồ Chí Minh. Dàn hợp xướng có tới 160 người. Khán phòng chật cứng người nghe. Bỗng tất cả khán giả đứng hết cả lên, đồng thanh hát cùng  dàn hợp xướng. Tôi cảm động quá, đứng trên bục chỉ huy tôi quay hẳn người lại, bắt nhịp cho khán giả. Tiếng hát của cả ngàn người hòa cùng dàn hợp xướng vang ngân… Đây có lẽ là bản giao hưởng hợp xướng đông người tham gia nhất, hùng tráng nhất trong cuộc đời làm nhạc trưởng của tôi. Tôi đánh nhịp cho mọi người mà nước mắt cứ trào ra…

Có lẽ cảm xúc về lần biểu diễn ấy tôi sẽ không bao giờ quên.

Nhạc sĩ Văn Dung: Mỗi người hãy là một bông hoa đẹp

tho3

Nhạc sĩ Văn Dung chia sẻ, sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, cũng như bao nhạc sĩ khác, với niềm kính yêu và tiếc thương Bác vô hạn, ông đã sáng tác những ca khúc chứa chan tình cảm về Bác như “Tên Người sáng mãi niềm tin” (năm 1969), “Tiếng Người nói ngày ấy” (năm 1975)… Những ca khúc này đều được bạn bè đồng nghiệp và khán thính giả cả nước đánh giá cao. Nhưng không hiểu sao ông vẫn cảm thấy lòng trĩu nặng như đang mắc nợ một điều gì đó. Những suy nghĩ ấy cứ đau đáu trong ông, lúc bảng lảng, lúc lại trỗi dậy mạnh mẽ.

Năm 1970, khi bắt tay viết ca khúc “Hành khúc thanh niên cộng sản”, hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Người trồng hoa vĩ đại” cũng được nhắc qua hình ảnh “Vinh quang thanh niên được Bác chăm lo như rừng hoa lớn lên dưới cờ cách mạng”. Và cũng từ đó, ý tưởng “Mỗi người hãy là một bông hoa đẹp” cứ đeo đuổi ông.

Một buổi tối năm 1977, như thường lệ, nhạc sĩ Văn Dung lấy sách ra đọc, nhưng đọc mãi mà không thấy chữ, chỉ “nghe” thấy nhạc. Nhạc sĩ liền lấy giấy ra ghi lại những điều mà mình “nghe” thấy. Và những giai điệu cùng ca từ của “Những bông hoa trong vườn Bác” cứ thế ào ạt tuôn trào: “Những bông hoa trong vườn Bác/ Tỏa ngát hương mang tình yêu mênh mông của Người“. Ông thực tình không lý giải nổi điều kỳ lạ này. Ông không ngờ rằng vào lúc ông cảm thấy việc viết một ca khúc về Bác hình như không thể thực hiện được thì bài hát lại ra đời. Ca khúc được viết chỉ trong một giờ đồng hồ. Có lẽ đó là rất nhiều cảm xúc của ông đã được dồn nén từ lâu, để một ngày “chưng cất” thành những giai điệu bay bổng. Chỉ sau khi giai điệu cuối cùng của bài hát kết thúc, ông mới thấy nhẹ lòng trở lại, những day dứt lâu nay dường như đã được giải tỏa.

Người đầu tiên thể hiện ca khúc “Những bông hoa trong vườn Bác” là nghệ sĩ Tuyết Nhung của Đoàn Ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam. Bài hát ngay sau khi ra đời đã nhận được sự khen ngợi và tình yêu mến của khán giả.

Theo nhạc sĩ Văn Dung tâm sự, trong bài hát, ông không dùng nhiều từ gắn với tên Hồ Chủ tịch nhưng người nghe vẫn thấy hình ảnh Bác đọng lại, gợi niềm nhớ thương Bác khôn nguôi. Không chỉ có vậy, ông còn gửi gắm ý nghĩa sâu sắc qua những ca từ: “Mỗi mùa hoa, một mùa yêu thương/ Mỗi màu hoa, một màu yêu thương/ Gợi nhớ về bao nhiêu kỷ niệm“. Thông điệp của ông là: Chúng ta hãy trân trọng mọi cái hay, cái đẹp, làm sao để mỗi chúng ta là một mùa xuân của quê hương, đất nước.

            Nhạc sĩ Đăng Nước: “Bài hát được phổ biến rộng rãi đúng như điều tôi ước đoán”

tho4

Năm 1972, khi vừa vào học Nhạc viện Hà Nội được 3 tháng, cậu sinh viên Nguyễn Đăng Nước nhận được giấy báo nhập ngũ. Vậy là Đăng Nước lên đường, trở thành chiến sỹ của Trung đoàn Công Binh Hải Quân đóng tại Quảng Nam. Nhưng chàng thanh niên này không “xếp bút nghiên” mà đem theo giáo trình âm nhạc để tự học.

Tháng 5 năm 1976, Trung sĩ Nguyễn Đăng Nước được nghỉ phép về thăm nhà và được cùng cha là Thiếu tá Công an Nguyễn Đăng Chè vào Lăng viếng Bác. Từ tình cảm dành cho Bác dồn nén trong tim và niềm xúc động khi nhìn Đoàn đại biểu nhân dân vào Lăng viếng Bác, ngay tối hôm đó, về khu tập thể của Bộ Nội vụ (cũ) ở ngõ Chiến Thắng, Khâm Thiên (Hà Nội), nhạc sĩ Đăng Nước đã viết xong lời 1 của ca khúc “Chúng con bên giấc ngủ của Người”.

Hôm sau, Đăng Nước phải về quê Hưng Yên – nơi mẹ anh và những người thân trong gia đình đang ngóng đợi sau 4 năm xa cách. Tại đây, anh bắt tay viết tiếp lời 2. Khi trở lại Hà Nội, Đăng Nước đã đem bài hát đến Báo Công an nhân dân (cùng ở trong ngõ Chiến Thắng) hát cho các bác trong phòng cùng nghe. Ai cũng khen bài hát rất hay và xúc động, nhưng mọi người đều chung cảm nhận là hình như nó vẫn thiếu một cái gì đó.

Vậy là đêm đó, Đăng Nước đã suy nghĩ rất lâu và cuối cùng thay một nốt nhạc để đoạn cuối bài hát vút lên: “Cháu con đời đời bên Bác/ Bác ơi Bác ngủ ngon lành” như lời khẳng định Bác mất đi nhưng sự nghiệp của Người còn mãi. Bài hát hoàn thành, bằng linh cảm của một nghệ sĩ, Đăng Nước biết rằng nó sẽ được phổ biến rộng rãi. Báo Công an nhân dân là nơi đăng bản nhạc này và ngay sau đó Đài Tiếng nói Việt Nam đã cho dàn dựng.

Cho đến tận bây giờ, Đăng Nước vẫn còn một niềm trăn trở, đó là các ca sĩ Việt Nam khi thể hiện bài hát vẫn nghiêng nhiều về tình cảm bi thương, về nỗi đau mất mát khi Bác ra đi, trong khi điều nhạc sĩ muốn gửi gắm đó là một nỗi niềm “khỏe khoắn” hơn. Có lẽ, trong hàng trăm ca sĩ đã thể hiện bài hát này, nhạc sĩ Đăng Nước cảm thấy hài lòng nhất với phần thể hiện của cố Nghệ sỹ nhân dân Lê Dung./.

Theo: CAND
Kim Yến (st)

Thơ khen tặng hai em nhi đồng liên lạc trong bộ đội Chiến khu II (8-1947)

Gửi cháu Phạm Đỗ Hải

Bác được tin rằng:
Cháu làm liên lạc,
Bị giặc bắt được,
Lại trốn thoát ngay.
Mang hai lính Tây
Theo về bộ đội.
Thế là cháu giỏi.
Biết cách tuyên truyền.
Bác gửi lời khen.
Khuyên cháu gắng sức
Học hành, công tác
Tiến bộ luôn luôn.
Gửi cháu cái hôn
Và lòng thân ái.

Tháng 8 nǎm 1947
BÁC HỒ

Gửi cháu Lê Vǎn Thức (1)

Cháu có can đảm
Giơ súng doạ Tây.
Bắt nó hàng ngay,
Lấy được súng nó.
Vì thành công đó,
Bác gửi lời khen
Khuyên cháu tập rèn
Ngày càng tiến bộ.
Bác lại gửi cháu
Mấy chục cái hôn.

Tháng 8 nǎm 1947
BÁC HỒ

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam,
1949, t.2, tr.26.
cpv.org.vn

——————————-

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Lời kêu gọi đồng bào toàn quốc nhân dịp kỷ niệm lần thứ hai ngày Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2-9-1947)

Nhân lễ kỷ niệm Ngày Độc lập lần thứ hai, tôi và Chính phủ cùng đồng bào kiểm điểm lại công việc đã qua, để cùng nhau tính toán những công việc sắp tới.

I- NHỮNG KHÓ KHĂN

a) Khó khǎn kinh tế – Chính phủ ra đời sau 80 nǎm nước ta bị áp bức và bóc lột, trong lúc dân cùng tài tận, kinh tế điêu linh.

Lại thêm đê điều hư hỏng, nước lụt mênh mông. Hơn hai triệu đồng bào chết đói.

b) Khó khǎn quân sự – Chính phủ tổ chức được vài tuần thì thực dân Pháp xâm lược chiếm Nam Bộ gây nên cuộc chiến tranh.

c) Khó khǎn chính trị – Chính phủ thành lập chưa đầy một tháng đã ra sức cứu cho đồng bào khỏi chết đói ở Bắc, giúp cho đồng bào chống xâm lược ở Nam, thì có một bọn tự xưng là cách mạng, nhưng họ không cộng tác với Chính phủ, không giúp đỡ cho đồng bào. Họ lại phản đối Chính phủ, quấy rối đồng bào, phá hoại trật tự, muốn gây nội loạn.

Nói tóm lại, Chính phủ ra mang gánh nặng, trong khi nội ưu ngoại hoạn (1), đủ sự gay go.

II- VỀ MẶT KIẾN QUỐC

Tuy vậy Chính phủ dựa vào sức ủng hộ của toàn dân, và tin vào vận mệnh của Tổ quốc để cố gắng vượt mọi nỗi gian nan, và đã đạt được ít nhiều kết quả.

a) Về kinh tế – Chính phủ đã cùng với đồng bào sửa chữa đê điều, tǎng gia sản xuất, bỏ sưu giảm thuế, đã cứu nạn đói và đã cải thiện sinh hoạt cho nhân dân.

Chính phủ lại xây đắp nền tài chính độc lập cho nước ta.

b) Về quân sự – Chính phủ đã do sức mình mà tổ chức nên một quân đội quốc gia, huấn luyện nên hàng ức hàng triệu dân quân, tự vệ, để giữ gìn Tổ quốc, để chống nạn ngoại xâm.

c) Về chính trị – Mặc dầu những bọn phản động âm mưu phá hoại, Chính phủ và đồng bào ta đã hoàn thành cuộc toàn dân tuyển cử tự do, lần đầu tiên trong lịch sử mà dân ta được hưởng dân chủ, dân quyền, tự mình chọn lấy những người đại biểu của mình, để lo việc nước.

Kế đến Quốc hội định ra bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta.

d) Về vǎn hoá – Ngoài việc gây dựng nền trung học và đại học mới, đào tạo nhân tài, mở mang nghệ thuật, do sự khuyến gắng của Chính phủ, sự sáng suốt của cán bộ bình dân học vụ, và sự hǎng hái của đồng bào, chúng ta phá tan cái chính sách ngu dân của Pháp. Trong hai nǎm chúng ta đã dạy hơn bốn triệu đồng bào nam nữ biết đọc biết viết và đã có nhiều làng xã, toàn dân đều biết chữ. Đó là một thành tích vẻ vang, nhất là trong lúc cái gì cũng thiếu thốn.

Nếu thực dân Pháp không gây ra chiến tranh, thì trong hai nǎm, chúng ta chắc đã kiến thiết được nhiều hơn.

III – VỀ MẶT KHÁNG CHIẾN CỨU QUỐC

Nhân dân ta yêu chuộng hoà bình, Chính phủ ta muốn cho dân được yên cư lạc nghiệp. Chúng ta muốn cộng tác thân thiện với nhân dân Pháp mong có ích lợi cho cả hai bên. Vì vậy, chúng ta đã ký Hiệp định ngày 6-3 và Tạm ước ngày 14-9.

Song thực dân phản động Pháp, phá lời ký kết, muốn cướp nước ta, bắt dân ta làm nô lệ như trước.

Chúng gây nên chiến tranh, chúng đặt ra chính phủ bù nhìn, chúng muốn chia rẽ dân ta, chinh phục nước ta.

Trước sự xâm lược dã man đó, Chính phủ, quân đội và nhân dân ta, đã đoàn kết thành một bức tường đồng, kiên quyết giữ gìn Tổ quốc.

Nhờ tinh thần đoàn kết, chí khí quật cường đó mà hai nǎm kháng chiến ở Nam, chín tháng kháng chiến toàn quốc, lực lượng của địch càng ngày càng hao mòn, ta thì càng đánh càng hǎng, càng mạnh.

Xét kinh nghiệm các nước và lịch sử nước nhà, thì chúng ta thấy rằng:

Cách mạng giải phóng của Mỹ 8 nǎm mới thành công.

Cách mạng Pháp 5 nǎm, Cách mạng Nga 6 nǎm, Cách mạng Tàu 15 nǎm mới thành công.

Tổ tiên ta chống ngoại xâm đời Trần 5 nǎm, đời Lê 10 nǎm mới thắng lợi.

Vì vậy nếu Pháp thực thà thừa nhận quyền thống nhất độc lập của nước ta, như Mỹ đối với Phi Luật Tân, Anh đối với ấn Độ thì Chính phủ và dân ta cũng sẵn sàng cộng tác thân thiện với Pháp, nhưng nếu thực dân Pháp cứ giữ chính sách vũ lực, mưu mô chia rẽ, thì chúng ta cương quyết kháng chiến, tranh cho kỳ được thống nhất độc lập mới thôi.

Nhân ngày vẻ vang và nghiêm trọng này, tôi thay mặt Chính phủ kêu gọi:

Toàn thể đồng bào,

Toàn thể chiến sĩ,

Những đồng bào nơi địch chiếm đóng,

Các kiều bào ở nước ngoài,

Hãy tin tưởng vào vận mệnh vẻ vang của Tổ quốc, tin tưởng

vào sức đoàn kết và chiến đấu của chúng ta. Chúng ta hãy cắn rǎng chịu khổ, ra sức chiến đấu. Chịu khổ chiến đấu mấy nǎm, để đánh tan ách nô lệ hơn 80 nǎm vừa qua, để xây nền tự do muôn ngàn đời sắp tới, thì cũng bõ công. Tướng sĩ trước mặt trận, đồng bào ở hậu phương, ai nấy đều phải đoàn kết chặt chẽ, cố gắng làm đúng bốn chữ Cần, Kiệm, Liêm, Chính, thì cuộc trường kỳ kháng chiến của ta nhất định vững vàng.

Tôi thay mặt Chính phủ và đồng bào, gửi lời chào thân ái cho các dân tộc anh em châu á, cho nhân dân Pháp, cho dân tộc anh em các thuộc địa Pháp.

Toàn dân đại đoàn kết!

Đánh đổ thực dân phản động Pháp!

Tình thân thiện giữa hai dân tộc Việt – Pháp muôn nǎm!

Tinh thần thân ái đại gia đình châu á muôn nǎm!

Kháng chiến nhất định thắng lợi!

Việt Nam thống nhất và độc lập muôn nǎm!

Ngày 2 tháng 9 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.32-35.
Báo Vệ quốc quân, số 13, ngày 2-9-1947.
cpv.org.vn

—————————–

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Thư gửi Quân đội Quốc gia Việt Nam nhân dịp kỷ niệm Quốc khánh lần thứ hai (2-9-1947)

Quân đội ta mới tổ chức, mới huấn luyện.

Nhưng lòng yêu nước, đức dũng cảm, chí hy sinh, thì chẳng kém quân đội nào.

Vì vậy, trong 2 nǎm kháng chiến cứu nước, từ Nam đến Bắc, quân đội ta đã nhiều phen chiến thắng quân đội thực dân Pháp là một quân đội kinh nghiệm nhiều, khí giới tốt, là một quân đội có tiếng trên hoàn cầu.

Tuy vậy, chúng ta không được vì thế mà khinh địch, mà kiêu cǎng, mà sơ suất.

Trái lại, chúng ta phải luôn luôn cẩn thận, luôn luôn ra sức cầu tiến bộ.

CÁC CẤP CHỈ HUY CẦN PHẢI

a) Biết rõ bộ đội, chǎm nom bộ đội.

b) Mỗi một cái mệnh lệnh đưa ra, thì cần phải mau chóng và chuyển khắp đến từng đội viên và phải thi hànhtriệt để.

c) Mỗi người chỉ huy về quân sự cũng như về chính trị, phải làm kiểu mẫu. Phải giữ đúng đạo đức của quân nhân.

TẤT CẢ CÁC ĐỘI VIÊN CẦN PHẢI

a) Ra sức học tập kinh nghiệm, và cố gắng nghiên cứu kỹ thuật.

b) Rèn luyện tinh thần chịu khó, chịu khổ.

TOÀN THỂ BỘ ĐỘI CẦN PHẢI

Ra sức thực hành những nghị quyết đã do những hội nghị quân sự toàn quốc ấn định. Phải thực hành cho đến nơi đến chốn.

Quân đội ta quyết phải làm được những điều đó, để khỏi phụ lòng tin cậy của Chính phủ, của đồng bào, và để trở nên một quân đội tất thắng.

HỒ CHÍ MINH

Báo Vệ quốc quân,
số 13, ngày 2-9-1947.
cpv.org.vn

Thư gửi đồng bào các tỉnh Việt Bắc (2-9-1947)

Hỡi đồng bào yêu quý,

Nhân ngày kỷ niệm Độc lập, tôi gửi lời thân ái hỏi thǎm đồng bào.

Tôi luôn luôn nhớ đến những ngày công tác ở tỉnh ta. Cùng mấy đồng chí trong tỉnh, trèo đèo lặn suối, ở núi nằm hang, khi thì cùng 5, 7 anh chị em, bí mật tuyên truyền, huấn luyện, tổ chức. Khi thì cùng các anh em du kích đánh Nhật, chống Pháp, trừ Việt gian. Anh em no đói có nhau, sướng khổ cùng nhau, một lòng một chí. Do đó mà đào tạo nên những cán bộ quân sự và chính trị.

Tôi không bao giờ quên được, trong những ngày gian nan cực khổ đó, đồng bào trong tỉnh ta, các cụ già, các chị em phụ nữ, anh em nông dân, các em thanh niên, các cháu nhi đồng ai cũng hǎng hái giúp đỡ. Mặc dầu Tây và Nhật thẳng tay khủng bố, nó đốt làng, nó phá nhà, nó bắt người, nhưng đồng bào vẫn kiên quyết giúp đỡ cách mệnh. Đồng bào Thổ, đồng bào Nùng, đồng bào Mán, đồng bào Mèo, cho đến anh em Hoa kiều, người thì giúp chúng tôi ǎn, kẻ thì cho chúng tôi áo. Có những đồng bào nhịn ǎn nhịn mặc, bán trâu bán ruộng để giúp chúng tôi làm cách mệnh. Thật là quý hoá vô cùng.

Ngày nay, nước ta đã độc lập, nhưng thực dân Tây còn muốn cướp nước ta, để bắt chúng ta đi phu, đóng thuế, nộp thóc, trồng đay, để không cho chúng ta phát rẫy, làm nương, không cho chúng ta tổ chức học hành, như trong thời kỳ nô lệ.

Vì vậy chúng ta phải kháng chiến cứu nước.

Đồng bào tỉnh ta đã rất hǎng hái giúp cách mệnh trong mấy nǎm trước. Tôi chắc rằng đồng bào cũng hǎng hái ủng hộ kháng chiến trong lúc này.

Việt Bắc trước kia là cǎn cứ của cách mệnh, đã nổi tiếng khắp cả nước, khắp thế giới. Thì ngày nay, Việt Bắc phải thành cǎn cứ của kháng chiến, để giữ lấy cái địa vị và cái danh giá vẻ vang của mình.

Cách mệnh đã do Việt Bắc mà thành công, thì kháng chiến sẽ do Việt Bắc mà thắng lợi. Mong đồng bào đều gắng sức.

Chào thân ái và quyết thắng
Ngày 2 tháng 9 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr. 36-37
cpv.org.vn