Lời kêu gọi đồng bào toàn quốc nhân dịp kỷ niệm lần thứ hai ngày Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2-9-1947)

Nhân lễ kỷ niệm Ngày Độc lập lần thứ hai, tôi và Chính phủ cùng đồng bào kiểm điểm lại công việc đã qua, để cùng nhau tính toán những công việc sắp tới.

I- NHỮNG KHÓ KHĂN

a) Khó khǎn kinh tế – Chính phủ ra đời sau 80 nǎm nước ta bị áp bức và bóc lột, trong lúc dân cùng tài tận, kinh tế điêu linh.

Lại thêm đê điều hư hỏng, nước lụt mênh mông. Hơn hai triệu đồng bào chết đói.

b) Khó khǎn quân sự – Chính phủ tổ chức được vài tuần thì thực dân Pháp xâm lược chiếm Nam Bộ gây nên cuộc chiến tranh.

c) Khó khǎn chính trị – Chính phủ thành lập chưa đầy một tháng đã ra sức cứu cho đồng bào khỏi chết đói ở Bắc, giúp cho đồng bào chống xâm lược ở Nam, thì có một bọn tự xưng là cách mạng, nhưng họ không cộng tác với Chính phủ, không giúp đỡ cho đồng bào. Họ lại phản đối Chính phủ, quấy rối đồng bào, phá hoại trật tự, muốn gây nội loạn.

Nói tóm lại, Chính phủ ra mang gánh nặng, trong khi nội ưu ngoại hoạn (1), đủ sự gay go.

II- VỀ MẶT KIẾN QUỐC

Tuy vậy Chính phủ dựa vào sức ủng hộ của toàn dân, và tin vào vận mệnh của Tổ quốc để cố gắng vượt mọi nỗi gian nan, và đã đạt được ít nhiều kết quả.

a) Về kinh tế – Chính phủ đã cùng với đồng bào sửa chữa đê điều, tǎng gia sản xuất, bỏ sưu giảm thuế, đã cứu nạn đói và đã cải thiện sinh hoạt cho nhân dân.

Chính phủ lại xây đắp nền tài chính độc lập cho nước ta.

b) Về quân sự – Chính phủ đã do sức mình mà tổ chức nên một quân đội quốc gia, huấn luyện nên hàng ức hàng triệu dân quân, tự vệ, để giữ gìn Tổ quốc, để chống nạn ngoại xâm.

c) Về chính trị – Mặc dầu những bọn phản động âm mưu phá hoại, Chính phủ và đồng bào ta đã hoàn thành cuộc toàn dân tuyển cử tự do, lần đầu tiên trong lịch sử mà dân ta được hưởng dân chủ, dân quyền, tự mình chọn lấy những người đại biểu của mình, để lo việc nước.

Kế đến Quốc hội định ra bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta.

d) Về vǎn hoá – Ngoài việc gây dựng nền trung học và đại học mới, đào tạo nhân tài, mở mang nghệ thuật, do sự khuyến gắng của Chính phủ, sự sáng suốt của cán bộ bình dân học vụ, và sự hǎng hái của đồng bào, chúng ta phá tan cái chính sách ngu dân của Pháp. Trong hai nǎm chúng ta đã dạy hơn bốn triệu đồng bào nam nữ biết đọc biết viết và đã có nhiều làng xã, toàn dân đều biết chữ. Đó là một thành tích vẻ vang, nhất là trong lúc cái gì cũng thiếu thốn.

Nếu thực dân Pháp không gây ra chiến tranh, thì trong hai nǎm, chúng ta chắc đã kiến thiết được nhiều hơn.

III – VỀ MẶT KHÁNG CHIẾN CỨU QUỐC

Nhân dân ta yêu chuộng hoà bình, Chính phủ ta muốn cho dân được yên cư lạc nghiệp. Chúng ta muốn cộng tác thân thiện với nhân dân Pháp mong có ích lợi cho cả hai bên. Vì vậy, chúng ta đã ký Hiệp định ngày 6-3 và Tạm ước ngày 14-9.

Song thực dân phản động Pháp, phá lời ký kết, muốn cướp nước ta, bắt dân ta làm nô lệ như trước.

Chúng gây nên chiến tranh, chúng đặt ra chính phủ bù nhìn, chúng muốn chia rẽ dân ta, chinh phục nước ta.

Trước sự xâm lược dã man đó, Chính phủ, quân đội và nhân dân ta, đã đoàn kết thành một bức tường đồng, kiên quyết giữ gìn Tổ quốc.

Nhờ tinh thần đoàn kết, chí khí quật cường đó mà hai nǎm kháng chiến ở Nam, chín tháng kháng chiến toàn quốc, lực lượng của địch càng ngày càng hao mòn, ta thì càng đánh càng hǎng, càng mạnh.

Xét kinh nghiệm các nước và lịch sử nước nhà, thì chúng ta thấy rằng:

Cách mạng giải phóng của Mỹ 8 nǎm mới thành công.

Cách mạng Pháp 5 nǎm, Cách mạng Nga 6 nǎm, Cách mạng Tàu 15 nǎm mới thành công.

Tổ tiên ta chống ngoại xâm đời Trần 5 nǎm, đời Lê 10 nǎm mới thắng lợi.

Vì vậy nếu Pháp thực thà thừa nhận quyền thống nhất độc lập của nước ta, như Mỹ đối với Phi Luật Tân, Anh đối với ấn Độ thì Chính phủ và dân ta cũng sẵn sàng cộng tác thân thiện với Pháp, nhưng nếu thực dân Pháp cứ giữ chính sách vũ lực, mưu mô chia rẽ, thì chúng ta cương quyết kháng chiến, tranh cho kỳ được thống nhất độc lập mới thôi.

Nhân ngày vẻ vang và nghiêm trọng này, tôi thay mặt Chính phủ kêu gọi:

Toàn thể đồng bào,

Toàn thể chiến sĩ,

Những đồng bào nơi địch chiếm đóng,

Các kiều bào ở nước ngoài,

Hãy tin tưởng vào vận mệnh vẻ vang của Tổ quốc, tin tưởng

vào sức đoàn kết và chiến đấu của chúng ta. Chúng ta hãy cắn rǎng chịu khổ, ra sức chiến đấu. Chịu khổ chiến đấu mấy nǎm, để đánh tan ách nô lệ hơn 80 nǎm vừa qua, để xây nền tự do muôn ngàn đời sắp tới, thì cũng bõ công. Tướng sĩ trước mặt trận, đồng bào ở hậu phương, ai nấy đều phải đoàn kết chặt chẽ, cố gắng làm đúng bốn chữ Cần, Kiệm, Liêm, Chính, thì cuộc trường kỳ kháng chiến của ta nhất định vững vàng.

Tôi thay mặt Chính phủ và đồng bào, gửi lời chào thân ái cho các dân tộc anh em châu á, cho nhân dân Pháp, cho dân tộc anh em các thuộc địa Pháp.

Toàn dân đại đoàn kết!

Đánh đổ thực dân phản động Pháp!

Tình thân thiện giữa hai dân tộc Việt – Pháp muôn nǎm!

Tinh thần thân ái đại gia đình châu á muôn nǎm!

Kháng chiến nhất định thắng lợi!

Việt Nam thống nhất và độc lập muôn nǎm!

Ngày 2 tháng 9 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH

Sách Lời Hồ Chủ tịch,
Nha Thông tin Việt Nam, 1949, t.2, tr.32-35.
Báo Vệ quốc quân, số 13, ngày 2-9-1947.
cpv.org.vn

—————————–

(1) Tạm ước 14-9-1946: Tên thường gọi của thoả hiệp tạm thời (Modus vivendi) giữa Việt Nam và Pháp, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng M.Mutê ký ngày 14-9-1946, tại Pari.

Tạm ước gồm 11 điều khoản. Nội dung của các điều khoản thể hiện những thoả thuận tạm thời về một số vấn đề bức thiết có tính chất bộ phận: Chính phủ Pháp thi hành các quyền tự do, dân chủ và ngừng bắn ở Nam Bộ; Chính phủ Việt Nam nhân nhượng với Pháp một số quyền lợi về kinh tế và vǎn hoá của Pháp ở Việt Nam; quy định thời gian tiếp tục cuộc đàm phán Việt – Pháp vào tháng 1-1947.

Việc ký Tạm ước 14-9 là một thắng lợi trong sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Tr.12.

Advertisements