Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Tại sao hợp tác xã chưa thấy xuất hiện ở thôn quê

Phong trào vận động hợp tác xã đã được Chính phủ cổ động và khuyến khích, lại được các báo nhiệt liệt hô hào. Song đến nay, ngó về thôn quê, chúng ta vẫn thấy vắng hình bóng hợp tác xã. Có một vài nơi đã mở hợp tác xã tiêu dùng; nhưng, trong lúc này vì giá hàng lên xuống không chừng nên buôn bán thua lỗ rồi sinh chán, không chịu tiến hành công việc đến nơi đến chốn.

Sở dĩ dân quê ta không chú ý lắm đến việc mở hợp tác xã là vì những nguyên nhân sau này:

1) Những tri thức phổ thông chưa được phổ cập ở thôn quê – ở các nước, hợp tác xã là hình thức tổ chức kinh tế rất thông thường trong dân chúng. Trong mỗi làng, mỗi phố, mỗi hầm mỏ, mỗi nhà máy, mỗi công sở, người ta đều tổ chức hợp tác xã tiêu dùng. Số tiền của mỗi cổ phần định rất nhẹ để cho người ít tiền cũng có thể góp được. Người nhiều tiền sẽ góp nhiều cổ phần hơn. Như vậy, hợp tác xã sẽ có đủ vốn để kinh doanh. Sự tiêu dùng của mọi người đều do hợp tác xã ở nơi mình làm việc cung cấp. Nhờ những hợp tác xã đó, đời sống của dân chúng nước người được đầy đủ và dễ dàng.

Còn ở xứ ta, dân chúng hình như vẫn còn bỡ ngỡ với hợp tác xã. Là vì dưới hồi thuộc Pháp, thuộc Nhật, chúng ta chẳng được phép tự do tổ chức những hợp tác xã. Đến nay, những tri thức về hợp tác xã đối với chúng ta bị coi như là mới lạ. Chúng ta chưa hiểu rõ lợi ích của hợp tác xã thế nào và cách thức tổ chức thế nào nên không dám bạo dạn đứng ra khởi xướng lập hợp tác xã.

2) Thiếu cán bộ hoạt động – Như trên đã nói, vì không hiểu biết nên không dám làm. ở nhà quê trừ một số ít người thạo việc buôn bán, kinh doanh, còn phần đông ngoài việc cày cuốc hay một vài thứ thủ công nghệ lặt vặt, không biết gì đến công việc làm ǎn khác nữa. Lại không thông thạo tính toán hay làm sổ sách nên bất luận kinh doanh nghề gì chỉ là làm theo lối buông trôi, gặp chǎng hay chớ, sao tránh khỏi được thất bại.

Những điều kiện cần thiết để phổ cập hợp tác xã thôn quê

1) Về việc cổ động tuyên truyền – Ngoài việc xuất bản sách báo nói về hợp tác xã phát cho dân quê, Chính phủ nên phái người đi các làng mở những cuộc diễn giảng làm cho dân chúng hiểu rõ lợi ích hợp tác xã và cách thức mở hợp tác xã.

2) Mở lớp huấn luyện cán bộ – Bất cứ công việc gì thiếu cán bộ, khó thực hiện được. Chính phủ nên mở ở các tỉnh những lớp huấn luyện cán bộ chuyên về hợp tác xã. Mỗi làng sẽ cử một hay hai người theo học lớp đó. Chương trình học, ngoài những thường thức về hợp tác xã, lại dạy cả những điều rất giản dị trong khoa kế toán và cách thức làm sổ sách. Kỳ hạn học nhiều nhất là một tháng. Học xong những người cán bộ đó về làng sẽ là những cái loa truyền bá lý tưởng hợp tác xã. Đồng thời, họ lại là những người giúp việc đắc lực cho dân chúng trong công cuộc vận động mở hợp tác xã.

3) Tại một vài công sở, hầm mỏ, xưởng máy, hay đồn điền, mở các hợp tác xã làm kiểu mẫu. Bắt đầu mở ngay hợp tác xã tiêu dùng và chỉ mở trong phạm vi nhỏ hẹp với một số vốn vừa đủ kinh doanh về sau sẽ dần dần mở rộng thêm. Chỉ khi nào dân chúng thấy lợi ích của hợp tác xã đã hiển nhiên thì khi đó phong trào hợp tác xã mới có thể sôi nổi, bồng bột được.

Q.Th.

Báo Cứu quốc, số 270, ngày 19-6-1946.
cpv.org.vn

Binh pháp Tôn Tử – Vấn đề quân nhu và lương thực

Về quân sự, quân nhu và lương thực rất quan trọng. Có binh hùng, tướng giỏi, nhưng thiếu quân nhu, lương thực, không thể thắng trận được. Nếu việc cung cấp lương thực, quần áo, thuốc men, súng ống, đạn dược cho quân đội ngoài mặt trận không làm được đầy đủ, chu đáo, binh sĩ bị hãm vào vòng thiếu thốn, sẽ mất hết tinh thần tác chiến. Trái lại, họ sẽ phấn khởi, họ sẽ hǎng hái khi được cấp dưỡng no đủ.

Nhưng quân nhu và lương thực nếu trông cả vào món chiến phí mà dân chúng phải chịu, sẽ làm cho họ gánh vác nặng nề, không thể kham nổi. Nên người làm tướng giỏi bao giờ cũng tìm cách cướp quân nhu, lương thực của bên địch làm của mình. Vì vậy Tôn Tử đã nói:

“Việc tải lương thực ra ngoài mặt trận chỉ hạn cho hai lần chứ không được đến ba lần. Phải lấy lương thực ở ngay nước địch mới tránh được nạn thiếu thốn cho quân đội mình”.

Tôn Tử nói không nên tải lương đến ba lần là vì, về đời Xuân Thu, khi quân đội đi đánh trận, dân chúng tải lương ra ngoài biên giới cho họ; đến khi họ thắng trận trở về, dân chúng lại tải lương đi đón mừng. Thế là chỉ có hai lần tải lương: lần đi, lần về, chứ không có đến ba lần. Là vì khi đã tiến ra mặt trận, không cần lương thực ở hậu phương tải đến nữa, mà phải tìm cách cướp của bên địch. Đó cũng là một chiến thuật tác chiến của Tôn Tử. Không tải lương

đến ba lần, phải cướp lương của địch là có ý tiết kiệm lương thực của nước mình mà làm hao tổn lương thực của nước địch.

Hơn nữa, vận tải lương thực lại là việc rất nhiêu khê, nếu mặt trận ở xa và đường lối giao thông không được tiện lợi. Cướp được lương của quân địch, tránh được nhiều phí tổn về vận tải, nên Tôn Tử lại nói:

“Đem quân đi đánh trận xa, nếu không cướp được lương của địch, mà phải chở lương thực của mình ra chiến trường để phải phí tổn nhiều, làm cho nền tài chính quốc gia kiệt quệ và dân chúng khổ sở khó nhọc về những thuế má nặng nề và vận tải vất vả, thật không có lợi cho kế hoạch tác chiến”.

Lại khi chiến tranh đã bùng ra, bao nhiêu tài nguyên trong nước đều bị tiêu dùng vào chiến tranh và thêm cái nguy phong toả về kinh tế nên nhất nhất vật gì cũng đắt đỏ. Vì vậy Tôn Tử khuyên:

“Khi đã đem quân sang nước địch rồi, phải cướp lương của địch làm của mình. Nếu không thế, mình phải mua đắt. Về quân nhu, lương thực, dù đắt đến đâu cũng phải mua. Nhưng mua tất phải dùng đến tiền của quốc gia. Muốn cung cấp tiền mua, chính phủ đã đánh thuế lại phải đánh thuế nữa, làm cho dân chúng vì gánh vác quá nặng nề không thể kham nổi. Lúc đó, chính phủ không còn có cách gì khác là dùng đến phương pháp trưng thu lương thực, lừa ngựa.

“Dân chúng vì phải đóng thuế, vì phải vận tải lương thực mà lực cùng sức kiệt, hao tài tốn của, đến nỗi nhà nào nhà ấy sạch không.

“Rồi lại còn tiền chi phí về việc sửa chữa vũ khí, xe cộ, thay đổi lừa ngựa.

“Cho nên, tướng giỏi phải tìm hết mưu kế để cướp lấy lương thực của quân địch vì lấy được một đấu gạo của quân địch có thể bớt đi được 20 đấu cho phu ǎn về việc vận tải. Như thế đỡ phí tổn và hao hụt rất nhiều.

“Vậy muốn cho binh sĩ giết được địch quân, trước hết phải khiêu khích quân địch nổi giận rồi hǎng tiết đánh liều, cũng như muốn cho binh sĩ lượm được thắng lợi như chiếm thành trì, cướp lương thực, quân nhu, phải hậu thưởng cho binh sĩ để họ sẽ gắng công”.

Q. Th. thuật

Báo Cứu quốc, số 272, ngày 21-6-1946
cpv.org.vn

Thư gửi chiến binh Việt Nam ở Pháp

Pari, ngày 2 tháng 7 nǎm 1946

Cùng đồng bào chiến binh yêu quý,

Việc các anh em về Tổ quốc, Chính phủ Pháp đã thoả thuận những điều sau này:

1. Ai cũng phải tiêm thuốc phòng bệnh dịch.

2. Mỗi 100 anh em thì có một sĩ quan hoặc hạ sĩ quan Việt Nam coi sóc. Chỉ có tối cao chỉ huy là quan binh Pháp.

3. Lúc đi tàu các anh em theo đẳng cấp được đãi ngộ như quân nhân Pháp.

4. Ai có tiền riêng thì được mang về, mỗi người chỉ được mang 80.000 quan (tám chục nghìn tiền Tây). Phải nói cho Commandant 1 biết, về nước 17 quan sẽ đổi được một đồng bạc ta.

5. Mỗi người được mang theo 50 kilô hành lý 1 .

6. Mỗi người được lãnh 1000 quan phụ cấp giải ngũ (démobilisation), và lúc đi tàu vẫn được ǎn lương như thường.

7. Mỗi người được lãnh tiền phụ cấp 3 tháng lương.

8. Về đến nước nhà (Hải Phòng) sẽ do đại biểu Chính phủ Pháp và đại biểu Chính phủ ta đón tiếp và xem xét việc giải ngũ.

9. Về đến nước nhà thì được thoái ngũ ngay.

Những điều đó đã do Chính phủ Pháp ưng thuận. Vậy tôi khuyên anh em:

1. Phải giữ kỷ luật tử tế.

2. Phải đoàn kết, phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau.

3. Về đến nhà phải giúp ích Tổ quốc, phải ủng hộ Chính phủ.

4. Phải ǎn ở cho xứng đáng với một người công dân của nước Cộng hoà Dân chủ Việt Nam.

Chúc anh em đi mạnh khoẻ.
Lời chào thân ái

Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Hồ Chí Minh

Bản chụp bút tích,
lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Đời đời nhớ ơn các Anh hùng liệt sỹ

Cách mạng Tháng Tám thành công, khi chính quyền cách mạng còn non trẻ, thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta. Với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ, chiến tranh bùng nổ. Trong cuộc chiến đấu này, nhiều chiến sỹ, đồng bào ta đã bị thương, nhiều người đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường.

Ngày 16/2/1947 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 20/SL “Quy định chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sỹ”. Đây là văn bản pháp quy đầu tiên khẳng định vị trí quan trọng của công tác thương binh, liệt sỹ đối với công cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc.

Cũng trong thời gian này, tại một cuộc họp ở xóm Bàn Cờ, xã Hùng Sơn huyện Đại Từ (Thái Nguyên), đại diện cho Đảng và Nhà nước đã chọn ngày 27 tháng 7 hàng năm là Ngày Thương binh toàn quốc.

Tháng 7 năm 1955, “Ngày Thương binh” được đổi thành “Ngày Thương binh – Liệt sỹ” để ghi nhận những hy sinh lớn lao của đồng bào, chiến sỹ cả nước cho chiến thắng vẻ vang của toàn dân tộc.

Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, theo Chỉ thị 223/CT-TW ngày 8/7/1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, từ năm 1975, ngày 27 tháng 7 hàng năm chính thức trở thành “Ngày Thương binh – Liệt sỹ” của cả nước.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến thương binh, liệt sỹ.

Bh vieng nghia trang LSBác Hồ viếng nghĩa trang liệt sỹ

Đã 65 năm trôi qua kể từ Ngày Thương binh – Liệt sỹ đầu tiên ấy, mỗi năm cứ đến ngày 27 tháng 7, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cả nước lại tưởng nhớ đến Bác và thêm tự hào về bước phát triển của công tác thương binh, liệt sỹ theo tư tưởng và sự chỉ đạo của Người. Cứ đến những ngày này mỗi người dân Việt Nam lại vô cùng xúc động, tưởng nhớ đến các Anh hùng liệt sỹ đã hy sinh, các mẹ Việt Nam anh hùng, các thươngbinh, bệnh binh đã hy sinh xương máu của mình, tô thắm những trang sử vẻ vang của dân tộc. Trong đó có những người tuổi đời còn rất trẻ đã gạt lại phía sau những hạnh phúc riêng tư, nguyện đem thân mình dâng hiến cho Tổ quốc. Biết bao người đã mãi mãi nằm lại trong lòng đất mẹ, hay để lại một phần thân thể, đã hy sinh máu xương vì lý tưởng cao đẹp, như Anh hùng lực lượng vũ trang, liệt sỹ, bác sỹ Đặng Thuỳ Trâm đã viết: “Hãy giữ vững tinh thần của người cộng sản, tinh thần trong suốt như pha lê, cứng rắn như kim cương và chói lọi muôn nghìn hào quang của lòng tin tưởng …”.

Nhân dịp này Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã xây dựng Kế hoạch 1037/KH-LĐTBXH, tiếp tục đẩy mạnh công tác đền ơn đáp nghĩa với Người có công và thân nhân của họ, tuyên truyền sâu rộng và tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về chính sách ưu đãi Người có công với cách mạng; giáo dục truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” cho thế hệ trẻ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các Bộ, Ban , ngành, đoàn thể Trung ương, các cấp ủy chính quyền địa phương; các tổ chức đoàn thể chính trị – xã hội tổ chức thực hiện các hoạt động thiết thực cụ thể để tất cả Người có công và nhân thân của họ đều được quan tâm, chăm sóc, ổn định về vật chất, động viên về tinh thần.

Tại thành phố Đà Nẵng, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã tổ chức Hội nghị biểu dương Người có công với cách mạng, tham dự Hội nghị gồm có các cấp lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và các vị lão thành cánh mạng, Anh hùng lực lượng vũ trang, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng và gần 400 đại biểu là thương binh, thân nhân liệt sỹ và người có công tiêu biểu đại diện cho gần 8,8 triệu người có công với cách mạng trên cả nước. Theo thống kê của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, hiện nay đối tượng Người có công có khoảng 8,8 triệu người (chiếm gần 10% dân số). Bên cạnh chế độ trợ cấp ưu đãi của Nhà nước, các hoạt động chăm sóc đời sống người có công cũng được duy trì thường xuyên. Hầu hết, người có công và thân nhân của họ đã được hưởng các chế độ ưu đãi về chăm sóc sức khỏe, cải thiện nhà ở, ưu đãi trong giáo dục, đào tạo và dạy nghề, tạo việc làm…Hàng vạn người có công được vay vốn từ Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm để phát triển sản xuất; hỗ trợ các cơ sở sản xuất, kinh doanh của thương bệnh binh và người có công, tạo điều kiện cho con, em của họ có việc làm, tăng thu nhập ổn định cuộc sống…Hệ thống cơ sở sự nghiệp phục vụ thương binh, thân nhân liệt sỹ và người có công bao gồm: các cơ sở nuôi dưỡng thương bệnh binh nặng, điều dưỡng luân phiên, các trung tâm chỉnh hình, phục hồi chức năng, sản xuất dụng cụ chỉnh hình đã có những hình thức quản lý hoạt động hiệu quả hơn, năng động hơn. Công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ, xây dựng, tu bổ nghĩa trang, đền đài liệt sỹ cũng được Nhà nước và toàn xã hội chăm lo. Cả nước hiện có gần 7.000 các công trình ghi công liệt sỹ, trong đó có 237 Đài tưởng niệm liệt sỹ, 3.540 Nhà bia ghi tên liệt sỹ và 3.077 Nghĩa trang liệt sỹ với tổng số trên 780.000 mộ, trong đó 630.000 mộ có đầy đủ thông tin và khoảng 303.000 mộ còn thiếu thông tin, hơn 208.000 hài cốt liệt sỹ chưa phát hiện, quy tập được. Nhiều công trình ghi công liệt sỹ trở thành công trình lịch sử – văn hóa, như: Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn (là nơi quy tụ hơn 10.333 phần mộ của các liệt sỹ, có tổng diện tích 140.000m2); Nghĩa trang Điện Biên Phủ; Nghĩa trang Đường 9, Đền liệt sỹ Bến Dược, Đài tưởng niệm liệt sỹ Thái Nguyên; Khu di tích kỷ niệm 10 cô gái ở Ngã Ba Đồng Lộc… đặc biệt phải kể đến như Thành cổ Quảng Trị chỉ trong vòng 81 ngày, Mỹ – ngụy đã ném xuống đây gần 330.000 tấn bom đạn, tương đương sức công phá của 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ đã ném xuống Nhật Bản năm 1945. Riêng ngày 25 tháng 7, chúng xả vào Thành Cổ hơn 5000 quả đại bác. Nhưng với tinh thần chiến đấu kiên cường quân và dân ta đã đánh địch bật ra khỏi Thành Cổ. Nơi đây là nghĩa trang duy nhất của Việt Nam chỉ có một nấm mồ chung, một nấm mồ tượng trưng. Những nơi này đã chở thành một tượng đài kỷ niệm chiến tranh bất diệt,một địa chỉ đỏ để giáo dục truyền thống yêu nước và là điểm thu hút hấp dẫn khách tham quan trong nước và bè bạn quốc tế.

Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” của cả nước ngày càng thu hút được đông đảo các tấm lòng hảo tâm quan tâm đóng góp. Chỉ tính riêng từ năm 2007 đến nay, Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” cả nước đã vận động được 1.263 tỷ đồng (riêng năm 2007, nhân dịp kỷ niệm 60 năm Ngày Thương binh – Liệt sỹ, cả nước đã vận động được 242 tỷ đồng), trong đó Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” Trung ương đạt 17,5 tỷ đồng.

Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cũng phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chỉ đạo trong toàn Đoàn và ngành Lao động – Thương binh và Xã hội tổ chức Tuần “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn” (từ ngày 20 tháng7 đến ngày 27 tháng 7). Các cấp bộ Đoàn và ngành Lao động – Thương binh và Xã hội tập trung tổ chức các hoạt động tuyên truyền về ý nghĩa ngày 27 tháng 7; chăm sóc, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng; động viên, thăm hỏi, tặng quà, khám sức khỏe thương bệnh binh, thân nhân gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng; tổ chức các hoạt động vệ sinh môi trường, tu sửa, chỉnh trang, tạo cảnh quan môi trường sạch, đẹp tại các nghĩa trang, tượng đài liệt sỹ, các di tích lịch sử văn hóa; tổ chức các hoạt động của tuổi trẻ giúp đỡ nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam. Theo báo cáo đăng ký của các địa phương, tính đến thời điểm này, các cấp bộ Đoàn đã tổ chức 33.216 hoạt động giúp đỡ gia đình thương binh, liệt sỹ; tổ chức thắp nến tri ân tại 2.098 nghĩa trang liệt sỹ với trên 800.000 ngôi mộ của các Anh hùng liệt sỹ; tổ chức trên 569.000 ngày công làm đẹp các nghĩa trang và công trình Tổ quốc ghi công các Anh hùng liệt sỹ… thu hút hơn 1 triệu đoàn viên thanh niên, sinh viên tham gia.

Tối ngày 20 tháng 7, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã dâng hương, hoa tại Đài tưởng niệm Trung tâm Thành cổ và làm lễ thả hoa trên dòng sông Thạch Hãn tưởng nhớ các Anh hùng liệt sỹ đã anh dũng chiến đấu và hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc trong chiến dịch bảo vệ Thành Cổ Quảng Trị 81 ngày đêm năm 1972. Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trao tặng quà cho Mẹ Việt Nam anh hùng, thương bệnh binh và thân nhân các gia đình liệt sỹ.

thăp hương tương niem cac AHLS tai thanh co QtThắp hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ tại Thành cổ Quảng Trị. Ảnh Internet

Trong những ngày tháng 7 tri ân này, các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có những hoạt động tích cực hưởng ứng Kế Hoạch 1037/KH-LĐTBXH, tiếp tục đẩy mạnh công tác đền ơn đáp nghĩa với Người có công và thân nhân của họ, tuyên truyền sâu rộng và tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về chính sách ưu đãi Người có công với cách mạng; giáo dục truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” cho các cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ trong đơn vị. Ban Quản lý Lăng đã xây dựng Kế hoạch 1898/KH-TM về phục vụ lễ tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 65 năm Ngày Thương binh – Liệt sỹ. Lãnh đạo Ban và tập thể cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ đã có những hoạt động thiết thực như: động viên, thăm hỏi, tặng quà, thương bệnh binh, thân nhân gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng; Tham gia khởi công xây dựng nhà tình nghĩa ở Phú Thọ, Sầm Sơn; Dự lễ cầu siêu các Anh hùng liệt sỹ ở Thành cổ Quảng Trị; ngày 26 tháng 7 Lãnh đạo Ban và tập thể cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ Ban Quản lý Lăng đã dâng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và vào Lăng viếng Bác; Thăm gia đình chính sách ở tỉnh Thái Bình; các đoàn viên thanh niên Đoàn 285 đã đến thăm hỏi và tặng quà Mẹ Việt nam anh hùng trên địa bàn; tập trung trang trí, làm đẹp khu vực Lăng và Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ; phục vụ công tác đón tiếp các Đoàn chính sách, Đoàn Người có công của các địa phương, các tổ chức xã hội về báo công dâng Bác và đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng Liệt sỹ.

65 năm qua, hệ thống văn bản pháp luật, cơ chế, chính sách tôn vinh, ưu đãi, chăm sóc người có công ngày càng được hoàn thiện. Công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ; xây dựng, tu bổ nghĩa trang, đền, đài liệt sỹ được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội luôn chăm lo. Hệ thống cơ sở vật chất cho thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sỹ và người có công ngày càng được tăng cường. Cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội đất nước, diện người có công được mở rộng, chế độ chăm sóc, ưu đãi được nâng lên dần. Đến nay, hầu hết những người có công và thân nhân, con em người có công đã được hưởng các ưu đãi về chăm sóc sức khỏe, giáo dục – đào tạo, giải quyết việc làm, cải thiện về nhà ở. Các hoạt động “đền ơn đáp nghĩa,” chăm sóc người có công đã thật sự trở thành một phong trào rộng khắp trong các tầng lớp nhân dân, các tổ chức xã hội, các cấp, các ngành, các địa phương trong cả nước với nhiều hình thức tổ chức, nhiều việc làm cụ thể, thiết thực, hết sức phong phú, sáng tạo, trở thành nét đẹp văn hoá trong đời sống xã hội./.

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Đáp từ trong buổi chiêu đãi của Chủ tịch G.Biđôn

Thưa Chủ tịch,

Sự đón tiếp mà dân chúng và Chính phủ Pháp dành cho tôi đã rung động đến chỗ sâu nhất của lòng tôi. Tôi xin gửi tới Chính phủ Pháp và dân chúng Pháp những lời cảm ơn thành thực của dân chúng Việt Nam, về những cảm tình và thân thiện mà dân chúng và Chính phủ Pháp đã dành cho tôi. Trước khi chính thức chào Chính phủ Pháp, tôi đã có dịp đi thǎm xứ Baxcơ 2 , một miền rất đẹp của Pháp. Sự tiếp xúc với xứ Baxcơ đã cho tôi nhiều giáo huấn.

Dân Baxcơ tuy vẫn giữ được những màu sắc riêng, ngôn ngữ riêng, phong tục riêng, nhưng vẫn là dân Pháp. Nước Pháp tuy có nhiều tỉnh khác nhau nhưng vẫn là nước thống nhất và không thể chia sẻ được. Ngày mai, khối Liên hiệp Pháp 39 sẽ làm cho thế giới phải ngạc nhiên về sự đoàn kết và thống nhất của mình. Khối Liên hiệp mà chúng ta sẽ xây dựng lên trên một cǎn bản dân chủ chỉ có thể thành lập dưới những dấu hiệu tốt đẹp. Chính ở Pari này, cái thành phố anh hùng và rộng lượng xướng xuất ra những nguyên tắc tự do, bình đẳng, bác ái, cái thành phố có thói quen bênh vực sự bình đẳng của các dân tộc, chính ở thành phố này tôi trân trọng tuyên bố nước Việt Nam gia nhập vào cái sự nghiệp rất nhân đạo ấy.

Pari là thành phố đã tìm ra những lý tưởng bất hủ của Cách mạng 1789 40 , Pari vẫn trung thành với lý tưởng của mình trong cuộc đổ máu giữa khối dân chủ và khối phát xít.

Pari đã cống hiến không ít để cho nước Việt Nam và nước Pháp có thể hoà hợp với nhau trong khối Liên hiệp Pháp gồm những dân tộc tự do bình đẳng cùng ôm một lý tưởng dân chủ và cùng say mê vì tự do. Chính ở Pari, nước Việt Nam sẽ tiến lên con đường độc lập, tôi tin rằng chẳng bao lâu nước Việt Nam sẽ đóng cái vai trò xứng đáng ở Thái Bình Dương là một nước độc lập làm vẻ vang lớn cho nước Pháp. Chắc hẳn nhiều sự khó khǎn đang chờ đợi Hội nghị Phôngtennơblô 41 có nhiệm vụ đặt nền móng cho sự giao thiệp giữa nước Pháp mới và nước Việt Nam mới. Nhưng sự thành thực và sự tin cẩn lẫn nhau sẽ san phẳng được hết thảy những trở ngại. Chúng ta chẳng đã ruồng bỏ được cái chủ nghĩa đế quốc xâm lược và cái chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi không còn thích hợp với thế giới hiện tại đấy ư? Chúng ta đều được kích thích bởi một tinh thần. Triết lý đạo Khổng, và triết lý phương Tây đều tán dương một nguyên tắc đạo đức: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” 1 . Tôi tin rằng trong những điều kiện ấy, hội nghị sắp tới sẽ đi tới những kết quả tốt đẹp.

Thưa Chủ tịch, tôi tin rằng sự hợp tác thành thực và thân thiện của hai nước sẽ là một gương lớn cho thế giới biết rằng, với một sự tin cẩn lẫn nhau, những dân tộc tự do và bình đẳng vẫn có thể giải quyết những vấn đề khó khǎn nhất. Thưa các ngài, tôi xin nâng cốc chúc mừng Chủ tịch và các nhân viên Chính phủ Pháp.

Báo Cứu quốc, số 284, ngày 5-7-1946.
cpv.org.vn

Điện mừng nhân dịp nước Cộng hoà Phi Luật Tân tuyên bố độc lập

Nhân dịp nước Cộng hoà Phi Luật Tân tuyên bố độc lập, Chính phủ và dân tộc Việt Nam gửi lời chào mừng Chính phủ và các dân tộc Phi Luật Tân được hưởng hạnh phúc và ngày thêm thịnh vượng.

Nước Cộng hoà Dân chủ Việt Nam vui mừng chào đón ngày 4 tháng 7 nǎm 1946 là một ngày kỷ niệm trong lịch sử giải phóng các dân tộc Đông Nam châu á, dân tộc Phi Luật Tân đã khôi phục quyền tự do bằng một con đường hoà bình nó làm vinh dự đặc biệt cho Hợp chủng quốc Mỹ.

Nhiều dân tộc khác không may mắn bằng Phi Luật Tân còn đang tranh đấu chống đế quốc để giành quyền độc lập. Nhưng hết thảy các dân tộc cũng đã trải qua những nỗi đau đớn chung, rồi đây sẽ liên hợp với nhau để tiến tới một nền hoà bình lâu bền và một nền dân chủ chân chính.

Nước Việt Nam quốc gia tự do, mong mỏi sự hợp tác đó sẽ thành công rực rỡ.

Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 286, ngày 8-7-1946.
cpv.org.vn

Nói chuyện trong buổi đón tiếp của Uỷ ban Trung ương Hội Pháp – Việt(1)

Tôi không tìm cách giấu nỗi cảm động của tôi trong lúc này. Tôi thật sung sướng quá chừng, nhận được dấu hiệu cụ thể của tình thân thiện của nước Pháp. Nỗi vui sướng này không gì mạnh bằng, có lẽ trừ nỗi vui sướng khi tôi được chào mừng một ngày gần đây, sự thực hiện chính thức tình thân thiện giữa hai dân tộc chúng ta.

Những nhà sáng lập Hội Pháp – Việt Nam, những nhân viên trong ban tổ chức cuộc họp mặt này, hãy nhận lời cảm ơn thành thực của tôi, và tấm lòng thân ái của tôi.

Các ngài cũng nhận thấy rằng lòng mong ước mạnh nhất của tôi, sự quan tâm nhất của nước Cộng hoà Việt Nam, nguyện vọng tha thiết nhất của dân tộc Việt Nam là thực hiện được tình thân thiện Pháp – Việt.

Tất cả những sự đó thúc đẩy nước Việt Nam và nước Pháp phải cùng nhau xây đắp tương lai của mình một cách chặt chẽ: cả hai nước đều có quyền lợi chung, có mối cảm tình chung, có một nền vǎn hoá và luân lý giống nhau và có chung một nguyện vọng tha thiết tự do.

Nước Pháp của cuộc Đại cách mạng 1789, nước Pháp của cuộc kháng Đức, của cuộc giải phóng, đã tượng trưng hơn bao giờ hết lý tưởng tự do, dân chủ. Và nước Việt Nam chiến đấu giành độc lập chỉ là theo những lý tưởng dân chủ mà dân tộc Pháp là người tiên phong.

Nói ngày 11-7-1946.

Báo Cứu quốc, số 292, ngày 15-7-1946.
cpv.org.vn

————————-

1. Tuyên ngôn Độc lập: Ngày 2-9-1945, tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người khởi thảo, tuyên bố trước đồng bào cả nước và nhân dân thế giới việc thủ tiêu chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong vǎn kiện lịch sử này, sau khi tố cáo những tội ác tầy trời của bọn thực dân và phong kiến tay sai trong gần một thế kỷ qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta, Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là bản anh hùng ca mở đầu một kỷ nguyên mới của dân tộc – Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Tr.1.

Điện gửi Chính phủ Việt Nam

Thứ bảy 20-7. – Uỷ ban chính trị họp, vấn đề ngoại giao là đầu đề bản thuyết trình của ông Banhđê (Bindet). Thái độ của Pháp tiến bộ hơn ở Hội nghị Đà Lạt.

Vấn đề ngoại giao đã giao cho một tiểu ban xét rồi sẽ đem ra thảo luận tại Uỷ ban chính trị hôm thứ ba, 23. Đã nhận được điện vǎn và các điện vǎn trước. ở đây mấy hôm nay không có tin tức gì ở bên nước nhà.

Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 308, ngày 2-8-1946.
cpv.org.vn

Trả lời các nhà báo

Hỏi: Thưa Chủ tịch, chúng tôi nghe nói Chủ tịch tuyên bố rằng Chủ tịch có xu hướng cộng sản, nhưng có phải Chủ tịch cho rằng nước Việt Nam chưa có thể cộng sản hoá được trước một thời hạn là 50 nǎm không?

Trả lời: Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác. Cách đây 2000 nǎm, Đức Chúa Giêsu đã nói là ta phải yêu mến các kẻ thù của ta. Điều đó đến bây giờ vẫn chưa thực hiện được.

Còn khi nào thì chủ nghĩa Các Mác thực hiện thì tôi không thể trả lời được. Muốn cho chủ nghĩa cộng sản thực hiện được, cần phải có kỹ nghệ, nông nghiệp và tất cả mọi người đều được phát triển hết khả nǎng của mình. ở nước chúng tôi, những điều kiện ấy chưa có đủ.

Hỏi: Nếu Nam Kỳ từ chối không sáp nhập vào Việt Nam, Chủ tịch sẽ làm thế nào?

Trả lời: Nam Kỳ cùng một tổ tiên với chúng tôi, tại sao Nam Kỳ lại không muốn ở trong đất nước Việt Nam? Người Baxcơ (Basques), người Brơtôn (Breton) không nói tiếng Pháp mà vẫn là người Pháp. Người Nam Kỳ nói tiếng Việt Nam, tại sao lại còn nghĩ đến sự cản trở việc thống nhất nước Việt Nam?

Các nhà báo hỏi về vấn đề đại sứ Việt Nam ở ngoại quốc, Chủ tịch tuyên bố: “Tôi cho rằng, vấn đề này không những chỉ quan hệ đến quyền lợi của chúng tôi mà lại còn mật thiết đến cả quyền lợi của nước Pháp nữa. Thí dụ, ở Liên hợp quốc nước Pháp có một phiếu, nhưng thêm vào phiếu của nước Việt Nam, nước Pháp sẽ 2 phiếu nói ví chắc rằng hai nước Việt và Pháp sẽ cùng nhau song song tiến bước”.

Hỏi: Chủ tịch có định quốc hữu hoá doanh nghiệp nào của người Pháp không?

Trả lời: Chúng tôi không quốc hữu hoá không điều kiện; chúng tôi không tịch thu không của người nào cả.

Hỏi: Nếu Chủ tịch cần phải quốc hữu hoá thì sẽ quốc hữu hoá những doanh nghiệp nào?

Trả lời: Những doanh nghiệp nào dùng vào việc chế tạo bom nguyên tử.

Hỏi: Nước Việt Nam độc lập có thể đi đôi được với khối Liên hiệp Pháp không? Nếu như có một sự xích mích xảy ra thì sẽ xử trí như thế nào?

Trả lời: Chúng ta sẽ thảo luận và chúng ta sẽ đi tới chỗ thoả thuận.

Về vấn đề trưng cầu dân ý có thể nhưng chưa nhất định là sẽ tổ chức ở Nam Bộ, Chủ tịch tuyên bố: “Muốn tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý, bao giờ cũng tốn rất nhiều tiền. Giá thoả thuận được với nhau và bỏ trưng cầu dân ý đi thì vẫn hơn. Nếu không đi đến chỗ đó được, thì sẽ tổ chức một cách thành thực và thẳng thắn”.

Trả lời ngày 12-7-1946.

Báo Cứu quốc,
số 292, ngày 15-7-1946.
cpv.org.vn

“Luôn luôn tưởng nhớ đến thương binh, liệt sỹ”

Cho đến nay, hàng năm, ngày 27 tháng 7 được coi là “Ngày Thương binh – Liệt sỹ”. Đạo lý tôn thờ những người chết vì nước đã được tôn vinh ngay từ những ngày đầu nước nhà độc lập.

Đầu tháng 11 năm 1945, nhân một số chiến sỹ và đồng bào bị giặc Pháp giết chết, những cuộc Lễ truy điệu đã được tổ chức trọng thể với sự tham dự của nhiều tôn giáo. Lễ tổ chức được kỷ niệm trang trọng tại Nhà Hát Lớn Hà Nội (ảnh 1), có sự tham dự của giới Phật tử (ảnh 2), Chủ tịch Hồ Chí Minh đích thân đến dự Lễ cầu siêu tại Nhà Hát Lớn Hà Nội cùng cố vấn Vĩnh Thụy (cựu hoàng Bảo Đại) (ảnh 3).

Ngày 30/4/1946, tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo việc được “Hội giúp binh sỹ bị nạn” tại Huế mời ra làm Chủ tịch Danh dự và các Bộ trưởng làm Hội viên Danh dự và đề nghị Chính phủ nên đáp lại bằng việc ra thông tư cho các địa phương nên có hình thức tỏ lòng biết ơn đối với các chiến sỹ …

Ngày 27/7/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Ban thường trực của Ban Tổ chức “Ngày Thương binh toàn quốc” nêu rõ: “Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp, cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng ta bị đe dọa. Của cải, ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập. Ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta. Đó là những chiến sỹ mà ngày nay một số đã thành thương binh. Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc…Vì vậy, Tổ quốc, đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy…”.

Thư nhấn mạnh: “Ngày 27 tháng 7 là một dịp để cho đồng bào ta tỏ lòng hiếu nghĩa, bác ái, là tỏ ý yêu mến thương binh” và đưa ra một số sáng kiến thiết thực trong “Ngày Thương binh”, đồng thời “tôi xin xung phong gửi chiếc áo lót bằng lụa chị em phụ nữ gửi tặng, 1 tháng lương, 1 bữa ăn của tôi cùng 1 bữa ăn của các nhân viên Phủ Chủ tịch cộng lại là 1.127đồng”.

Từ năm 1948 Ngày Thương binh – Liệt sỹ được tổ chức vào ngày 27 tháng 7 và trở thành một cuộc vận động chính trị sâu rộng. Tháng 7 năm ấy, Bác viết  thư gửi “Anh em thương và bệnh binh”.

Với anh em thương và bệnh binh, Bác chia sẻ: “Các đồng chí đã hy sinh một phần xương máu vì Tổ quốc… Các đồng chí không khỏi phân vân. Nhưng không, các đồng chí nên một mặt nuôi lại sức khoẻ, một mặt cố gắng học tập. Khi đã khôi phục sức khoẻ, các đồng chí sẽ hăng hái tham gia công tác tăng gia sản xuất, để giúp ích cho Tổ quốc, cũng như các đồng chí đã anh dũng giữ gìn non sông, các đồng chí sẽ trở nên người công dân kiểu mẫu ở hậu phương cũng như các đồng chí đã làm người chiến sỹ kiểu mẫu ngoài mặt trận. Tôi cùng đồng bào luôn luôn nhớ đến các đồng chí”.

Ngày 27/7/1950, tại chiến khu Việt Bắc, Bác lại viết thư gửi Ban Tổ chức Trung ương Ngày Thương binh – Liệt sỹ trong đó có đoạn: “Càng tưởng nhớ đến những người con dũng cảm của Tổ quốc, thì mọi người càng thêm hăng hái thi đua làm trọn nhiệm vụ tổng động viên, để chuẩn bị đầy đủ, để chuyển mạnh sang tổng phản công, để tranh lại độc lập và thống nhất cho Tổ quốc. Mà cũng để trả thù cho thương binh và liệt sỹ ta”.

Ngày 27/7/1952, đúng vào Ngày Thương binh – Liệt sỹ, Bác gửi điện tới Bộ trưởng Bộ Thương binh và Cựu binh nhờ chuyển một tháng lương ủng hộ,  nhắc nhở đồng bào nên coi việc giúp đỡ thương binh “là một nghĩa vụ của nhân dân đối với những chiến sỹ bị thương bị bệnh, không nên coi đó là một việc “làm phúc”. Đồng thời cũng khuyên anh em thương binh “phải tránh tâm lý “công thần”, coi thường lao động, coi thường kỷ luật”…

Ngày 28/7/1954, Bác viết thư gửi Bộ trưởng Bộ Thương binh biểu dương những sáng kiến và một số tấm gương trong phong trào chăm sóc các đối tượng có công cũng như những thương binh gương mẫu.

Đồng thời, thư cũng khuyên “các thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sỹ thì cần phải biết ơn sự săn sóc của đồng bào; cần phải cố gắng tăng gia sản xuất, tự lực cánh sinh, tuỳ theo khả năng mà tham gia các công tác trong xã, chớ nên yêu cầu quá đáng, ra vẻ “công thần” và như thường lệ gửi một tháng lương của mình để làm quà cho thương bệnh binh.

Ngày 27/7/1956, cũng nhân “Ngày Thương binh – Liệt sỹ”, Bác gửi thư không chỉ động viên toàn xã hội quan tâm mà còn “nhắc nhở anh em thương binh, bệnh binh: Đã là quân nhân cách mạng thì bao giờ cũng phải là chiến sỹ anh dũng. Khi ở Trại thì anh em nên thi đua học tập và công tác. Lúc ra Trại, thì nên hăng hái tham gia công tác sản xuất ở địa phương, ở cơ quan”.

Theo http://bee.net.vn
Thu Hiền (st)

Thư gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa M. Mutê

Soadi xu Môngmôrǎngxi, ngày 12 tháng 8 nǎm 1946

Thưa Ngài Bộ trưởng và bạn thân mến,

1. Điều trước tiên là chúng ta cần làm dịu đầu óc những người Pháp và những người Việt Nam.

2. Để đạt được mục đích đó, chúng ta cần làm cho cả hai bên hiểu rõ những cái mà họ có thể giành được.

3. Những vấn đề mà người Pháp cũng như người Việt Nam tha thiết nhất, đó là độc lập dân tộc và vấn đề Nam Bộ.

Vì thế, rất thẳng thắn và trung thực, tôi xin phép Ngài đưa ra những đề nghị kèm theo đây.

Còn về vấn đề tiếng Pháp, chúng tôi đồng ý rằng trên bình diện Liên bang Đông Dương, tiếng Pháp sẽ là tiếng nói chính thức. Nhưng ở Việt Nam thì tiếng Pháp không thể bị áp đặt là một ngôn ngữ bắt buộc.

Về những vấn đề khác, tôi sẽ vui lòng thảo luận trực tiếp với Ngài trên cơ sở bản ghi nhớ tôi đã gửi đến Ngài.

Tôi chắc chắn rằng, với thiện ý chung và sự tin cậy lẫn nhau, chúng ta sẽ rất nhanh chóng đi đến một sự thoả thuận có lợi cho cả hai dân tộc chúng ta.

Ngài Bộ trưởng và bạn thân mến, tôi xin gửi đến Ngài lời chào hữu nghị nhất của tôi.

Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà

Hồ Chí Minh

Nguyên bản tiếng Pháp,
bản sao lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

cpv.org.vn

Thư gửi đồng chí Môrixơ Tôrê, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Pháp

Đồng chí thân mến,

Ngày mai, thứ tư, Hội đồng Chính phủ sẽ thảo luận vấn đề Đông Dương.

Số phận Việt Nam tuỳ thuộc nhiều vào cuộc thảo luận đó.

Vì thế, tôi yêu cầu đồng chí mời tất cả các đồng chí Bộ trưởng của chúng ta 1 đến dự phiên họp của Hội đồng.

Hôm qua tôi đã gặp ông Bộ trưởng thuộc địa và đã nói với ông ấy rằng, trước hết chúng ta phải giải quyết hai vấn đề chính là Độc lập và Nam Bộ.

Ông ấy đã đề nghị tôi đưa ra một công thức khả dĩ có thể thông qua từ “Độc lập” một cách dễ dàng.

Xin đính theo đây bức thư và đề nghị mà tôi đã gửi cho Bộ trưởng thuộc địa ngày hôm qua.

Có thể là sai lầm khi cụ thể hoá thời hạn “ba nǎm”. Nhưng chúng

tôi không tìm được công thức khác! “a.b.c.” 1 có thể giúp các đồng chí về tư liệu nếu người ta nêu vấn đề về những vụ việc đã xảy ra.

Gửi đồng chí lời chào anh em.

H.C.M.

Bút tích tiếng Pháp.
Bản chụp lưu tại Cục lưu trữ Vǎn phòng Trung ương Đảng.
cpv.org.vn