Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Cựu thanh niên xung phong lập nhà thờ Bác Hồ

Trên quê hương đất lúa Thái Bình, có một người cựu thanh niên xung phong, bằng niềm kính yêu tuyệt đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã thầm lặng lập bàn thờ Bác suốt 40 năm qua. Bà là Đỗ Thị Mến, ở thôn Lục Bắc, xã Thái Xuyên, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

Cưu TNXP 1Bà Mến trước cổng vào nhà sàn 19 tháng 5.

7 lần mang thai, 7 lần mất con

Chiến tranh đã lùi xa mấy chục năm, nhưng những vết thương mà nó để lại thì vẫn còn dai dẳng. Gặp bà Mến, chúng tôi cảm nhận được nỗi đau của thời hậu chiến.

Là con út trong một gia đình nghèo khó, tuổi thơ bà Mến phải chứng kiến cảnh hai người anh trai chết đói năm 1945. Một người anh trai khác tham gia du kích rồi nhập ngũ lên đường chống Pháp và hi sinh khi tuổi đời còn rất trẻ. Gia đình chỉ còn hai chị em gái. Người chị Đỗ Thị Mượt của bà từng nổi tiếng vì góp phần làm ra chiếc xe cút kít giúp người nông dân Thái Bình giải phóng đôi vai trong việc vận chuyển thóc lúa, hàng hóa. Vì thành tích này, năm 1962, bà Mượt đã vinh dự được nhận Huy hiệu Chiến sĩ thi đua của Bác Hồ.

Năm 1966, đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, bà Mến hăng hái tham gia Thanh niên xung phong. Năm 1967, bà được kết nạp vào Đảng. Sau đó bà về quê gánh vác nhiều việc làng, xã như làm Bí thư Chi bộ, cán bộ Văn phòng Đảng ủy xã, Hiệu trưởng Trường Mẫu giáo…

Chồng bà là ông Nguyễn Quang Dòng, nhập ngũ năm 1957, làm nhiệm vụ tuyển quân và huấn luyện quân ở chiến trường Quảng Trị, sau đó chuyển vào chiến trường Tây Nam. Năm 1972, trong một lần về phép, được sự giới thiệu của hai bên gia đình, ông làm đám cưới với bà Mến.

Lấy nhau được 2 ngày, ông Dòng trở lại làm nhiệm vụ ở khắp các chiến trường miền Nam, sang cả Lào và Campuchia. Năm 1984, với quân hàm Đại úy, ông về hưu, làm cán bộ nông nghiệp rồi cán bộ Mặt trận Tổ quốc xã.

Sau hơn chục năm xa cách kẻ Bắc người Nam, ngày sum họp tưởng rằng sẽ là những ngày hạnh phúc nhất nhưng lại là lúc bà Mến phải gánh chịu những nỗi đau tột cùng của chiến tranh để lại. Chất độc da cam trong người ông Dòng đã khiến những đứa con của bà Mến không thể thành hình hài. Bảy lần bà mang thai thì cả bảy lần những đứa con không thể chào đời.

Nỗi đau chưa dừng lại ở đó, chất độc da cam bắt đầu hành hạ chồng bà. Ông bị sốt rét liên miên, rụng hết tóc, rồi bị những cơn đau quật ngã, không gượng dậy được. Năm 1999, ông Dòng qua đời sau cơn đau khủng khiếp. “Những phút giây ông ấy quằn quại với những cơn đau cuối cùng là những phút giây đến hết đời tôi cũng không thể nào quên” – bà Mến nghẹn ngào.

Nỗi đau của chiến tranh tưởng chừng đã đánh gục người cựu thanh niên xung phong ấy. Liền 2 năm sau đó bà luôn sống trong điên dại và mộng du. Nhưng rồi bà đã tự mình gượng đứng dậy, để sống và để hằng ngày hương khói, chăm nom bàn thờ Bác Hồ.

Cưu TNXP 2Bà Đỗ Thị Mến đang thắp hương trên bàn thờ Bác.

Cưu TNXP 3Ngôi nhà sàn 19 tháng 5 do bà Mến cùng các nhà
hảo tâm và bà con xóm làng chung tay xây dựng.

Nhà sàn 19 tháng 5

Năm 1972, khi mới cưới nhau, vẫn còn phải ở trong ngôi nhà tranh vách đất nhưng bà Mến và chồng đã dành nơi trang trọng nhất trong nhà để lập một bàn thờ Bác Hồ. Bà nói: “Trong lòng chúng tôi, Bác vẫn còn sống mãi. Tôi thờ Bác là thờ những ân tình của Bác dành cho đất nước, cho đồng bào”.

Từ đó đến nay, suốt 40 năm, hàng ngày bà Mến vẫn cần mẫn lau dọn và thắp hương cho Bác. Cảm động trước tấm lòng thành kính của bà đối với Bác, bà con chòm xóm thường qua lại nhà bà Mến thăm nom và dâng hương lên bàn thờ Bác. Căn nhà nghèo khó của bà Mến trở thành nhà thờ Bác Hồ của xóm làng.

Mấy năm gần đây, từ những nỗi đau chiến tranh mà bà đã trải qua và lòng tri ân những người đã ngã xuống vì sự nghiệp chống xâm lược của Tổ quốc, bà Mến đã lập thêm hai bàn thờ nữa bên cạnh bàn thờ Bác Hồ. Bàn thờ thứ nhất thờ hương hồn các anh hùng, liệt sĩ, những người đã hy sinh tuổi xuân và xương máu cho dân tộc và các danh nhân, danh tướng của đất nước. Bàn thờ thứ hai thờ Tiên Tổ 1064 dòng họ ở Việt Nam. Tuy nhà rất nghèo nhưng các bàn thờ trong nhà bà lúc nào cũng được quét dọn tươm tất và nhang khói đủ đầy.

Năm 2009, được sự giúp đỡ của bà Trần Thị Hiền – Giám đốc Xí nghiệp in II, Viện Khoa học – Công nghệ và các nhà hảo tâm cũng như bà con xóm làng, bà Mến đã dành 500m2 đất khu nhà ở của mình để xây khu nhà sàn thờ Bác Hồ. Ngôi nhà được thiết kế theo kiểu dáng ngôi nhà sàn trong Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch. Phía trước chính giữa ngôi nhà là ảnh Bác được treo trang trọng. Hai bên là cờ Đảng và cờ Tổ quốc. Phía dưới là khẩu hiệu: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Bà Mến và bà con trong làng đặt tên đó là “Nhà sàn 19 tháng 5”. Bây giờ, ngôi nhà sàn ấy không chỉ là nơi để bà con xóm làng dâng hương lên Bác mà còn là nơi lui tới của nhiều Đoàn tham quan trong và ngoài nước. Điều mà bà Mến trăn trở nhất lúc này là: “Công ơn trời biển của Bác trải khắp đất nước. Bác sẽ còn sống mãi với đồng bào, với dân tộc. Tôi chỉ mong mỗi địa phương đều có một căn nhà sàn nhỏ để làm nơi cho bà con dân làng tới thắp hương dâng Bác”.

Cưu TNXP 4Bà Mến cùng chiếc xe đạp Thống Nhất đã theo
bà đi khắp nơi sưu tầm những tư liệu về Bác Hồ.

CƯu TNXP 5Mâm hạt giống bà Mến gom nhặt ở mọi miền quê về dưới bàn thờ Bác.

Chiếc xe đạp và những việc không tên

Quanh câu chuyện về ngôi nhà sàn 19 tháng 5, người dân xã Thái Xuyên đến nay vẫn còn kể cho nhau nghe chuyện về chiếc xe đạp Thống Nhất của bà Mến với tất cả sự khâm phục.

Năm 1985, mặc dù nhà rất nghèo nhưng bà Mến đã tiết kiệm chi tiêu, rau cháo qua ngày để dành tiền mua một chiếc xe đạp Thống Nhất. Ngày đó chiếc xe đạp là tài sản rất quý. Mọi người không hiểu trong lúc đói kém như vậy vợ chồng bà mua xe đạp để làm gì. Chỉ đến sau này, bà con xóm làng mới hiểu được việc làm cao cả của bà.

Chiếc xe đạp ấy đã cùng bà Mến rong ruổi khắp nơi để bà sưu tầm những tư liệu, tranh ảnh, sách báo, phim truyện… liên quan đến cuộc đời hoạt động và làm việc của Bác Hồ.

Năm 1985, bà đạp xe vào tận Nghệ An để thắp hương cho Bác và xin bà con quê nội Bác ở Kim Liên, Nam Đàn một ít hạt lúa mang về làm kỷ niệm. Cũng từ đó, đi đâu bà cũng xin một ít hạt giống mang về. Những hạt giống ấy, bà bày trên một kệ gỗ đơn sơ, đặt dưới bàn thờ Bác. Trên đó, bà còn đề mấy câu thơ:

“Nơi đây phúc lộc nhờ Người

Cấy lúa, lúa tốt để đời ấm no”

“Những hạt giống ấy cũng như con cháu Người ở khắp mọi miền Tổ quốc về đây hội tụ, tỏ lòng tri ân với Bác” – bà Mến giải thích thêm.

Nhờ chiếc xe đạp Thống Nhất, mà đến nay, bà Mến đã sưu tầm được cuốn album hàng nghìn bức ảnh quý lúc Bác còn sống với những khoảnh khắc bình dị đời thường của Người. Trong đó, có bức ảnh chị gái bà – bà Mượt được Bác gắn Huy hiệu Chiến sỹ thi đua. Ngoài ra, một tủ sách hàng trăm cuốn về chân dung, con người và cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ tịch cũng được bà Mến sưu tầm và đặt ở vị trí trang trọng.

Với bà, chiếc xe đạp như một người bạn tri kỷ: “Chiếc xe đạp ấy là người bạn đồng hành cùng tôi trên mọi nẻo đường. Từ ngày ông nhà tôi mất thì đó là người thân duy nhất bên tôi, cùng tôi đi làm những việc không tên”.

Những việc mà bà Mến gọi là không tên ấy là cả tấm lòng thành kính của người nông dân quê lúa dâng lên Bác khiến bất cứ ai biết đến cũng không khỏi xúc động, nghẹn ngào. Câu chuyện về bà Mến và ngôi nhà sàn 19 tháng 5 thêm một lần nữa khẳng định chân lý: Bác Hồ sống mãi với non sông, đất nước Việt Nam ta.

Vũ Viết Tuân
Theo http://giadinh.net.vn

bqllang.gov.vn

Bác Hồ nghe thơ “Đêm nay Bác không ngủ”

Ông Vũ Kỳ, thư ký và là người có nhiều thời gian gần gũi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kể lại với nhà thơ Minh Huệ (1927 – 2003) – tác giả bài thơ “Đêm nay Bác không ngủ” mẩu chuyện thú vị sau đây:

Bài thơ “Đêm nay Bác không ngủ” vừa ra đời (năm 1951) đã được phổ biến rộng rãi qua báo đài. Các tầng lớp nhân dân, cán bộ, chiến sĩ yêu thích đến thuộc lòng và truyền tụng bài thơ như một câu chuyện kháng chiến thấm thía và có thật.

Hôm ấy, trong Phủ Chủ tịch, vào khoảng 7h tối, Thư ký lên nhà sàn xin gặp Bác. Theo thói quen, ông Vũ Kỳ thận trọng bỏ đôi guốc mộc lại, bước nhẹ lên thang gác để khỏi làm ảnh hưởng đến Người. Khi ông bước đến cửa cũng là lúc chiếc đài bán dẫn trên bàn làm việc của Bác phát đi bài thơ  “Đêm nay Bác không ngủ”. Ông Vũ Kỳ đứng lặng, muốn theo dõi thái độ, cử chỉ của Bác lúc này ra sao? Là một người khiêm tốn, tế nhị nên rất hiếm khi Bác Hồ nhận xét cụ thể những tác phẩm viết về mình…Nhưng, biết đâu lần này sẽ có điều gì khác lạ chăng?

Bác chăm chú nghe, thỉnh thoảng lại nở một nụ cười. Có cảm giác, Người đang cảm thông, thấu hiểu và chia sẻ với hiện thực kháng chiến vô cùng ác liệt, sống động phản ánh một phần qua bài thơ mà Bác cũng là một nhân vật văn học? Cũng có thể Bác đang cảm thông, thấu hiểu và chia sẻ phần nào với tấm lòng thành kính và ý tưởng nghệ thuật của một nhà thơ đi theo kháng chiến…

Lời ngâm thơ vừa dứt, làm như không hay biết gì, ông Vũ Kỳ gõ cửa xin Bác cho vào gặp. Lúc ấy, chỉ thấy nét mặt Người vui vui… còn tuyệt nhiên Bác không nói lời nào về bài thơ “Đêm nay Bác không ngủ” vừa được ngâm trên đài phát thanh.

Nhà thơ Minh Huệ còn được ông Vũ Kỳ “tiết lộ” thêm chi tiết này: Một lần khác sau đó, khi chiếc đài bán dẫn trên bàn làm việc vừa giới thiệu tên bài thơ “Đêm nay Bác không ngủ”, Bác Hồ liền vặn cho tiếng đài thật nhỏ lại. Người tỏ ý không muốn nghe nhiều lần một tác phẩm ca ngợi mình, cho dù tác phẩm ấy chân thật đi nữa? Còn với nhà thơ Minh Huệ – qua câu chuyện ông Vũ Kỳ kể thì chỉ với nụ cười và nét mặt vui vui của Bác khi nghe bài thơ, cũng đủ là phần thưởng vô giá cho đời cầm bút của ông – một nhà thơ trọn đời theo cách mạng!

Nguyễn Văn Hùng
Theo http://vnca.cand.com.vn

bqllang.gov.vn

Bài phát biểu của đồng chí Phan Đình Trạc, UVTW Đảng, Bí thư Tỉnh ủy tại Lễ tiếp nhận đá quý của Nghệ An vào khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

PHÁT BIỂU

Của đồng chí Phan Đình Trạc, UVTW Đảng, Bí thư Tỉnh ủy
tại Lễ tiếp nhận đá quý của Nghệ An
vào khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
(Hà Nội, ngày 04/11/2012)

—–

– Kính thưa: Anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh!

– Kính thưa: Đồng chí Nguyễn Sinh Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam!

– Kính thưa các đồng chí!

Chủ tịch Hồ Chí Minh là của cả dân tộc và nhân loại. Tuy vậy, Người vẫn luôn dành cho quê hương những tình cảm đặc biệt. Trong sâu thẳm của trái tim Người, quê hương luôn luôn là “nghĩa nặng, tình sâu”.

Với lòng thành kính và biết ơn vô hạn đối với Bác Hồ kính yêu, cùng với nhân dân cả nước, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An vinh dự được chọn cung tiến linh vật đá, đặt ở khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Với vinh dự ấy, Đoàn khảo sát của tỉnh với sự phối hợp của Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khảo sát nhiều nơi, nhiều chủng loại đá có nguồn gốc khác nhau. Người tìm đá, nhưng có lẽ đá như tự tìm người. Sau một thời gian khảo sát, ngày 19/4/2011 Đoàn khảo sát gặp được loại đá như mong muốn, tại núi PuCooc, bản Cô, xã Châu Thành, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.

Đó là loại đá do thiên nhiên tôi luyện, tích tụ hàng triệu triệu năm trong lòng đất, có độ cứng và độ bền cao, tỷ trọng nặng, trường tồn mãi mãi với thời gian; không bị ăn mòn bởi nước, a xít, không bị ô xi hóa; có màu xanh lam, đỏ và phớt tím, có khả năng thấu quang và chiết quang, chứa nhiều khoáng vật quý. Có thể gọi loại đá này là “Đại Lam Ngọc”.

Trải qua hàng triệu triệu năm hình thành, tích lũy khá nhiều năng lượng vũ trụ, vì vậy trong phong thủy, “Đại Lam Ngọc” có thể được xem là “thần dược thạch mỹ”, kỳ bí hiếm có, đem lại sinh khí tốt, thiện tâm, tăng cường sinh lực, may mắn cho con người.

Sau nhiều tháng nghiên cứu, chế tác, hôm nay, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An vinh dự được kính dâng 3 khối đá quý đó để trang trí và nâng cao linh khí nơi Người yên nghỉ, góp phần cùng với các sản phẩm đặc sắc của các vùng miền trong cả nước quầy tụ bên Lăng, giữ yên giấc ngủ của Người, làm cho công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn hội tụ linh khí tốt lành.

Thay mặt Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An, tôi chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; Hội đá cảnh, gỗ lũa và tranh tượng dân gian thành phố Hà Nội; sự nỗ lực cố gắng, tâm huyết và trách nhiệm của các nghệ nhân; cán bộ, công nhân viên Công ty Cổ phần đá và khoáng sản Phủ Quỳ, và các cơ quan, đơn vị liên quan đã góp phần hoàn thành công trình đầy ý nghĩa này.

Xin hứa với Bác, với các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà sẽ tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng của quê hương, quyết tâm phấn đấu xây dựng tỉnh nhà trở thành một trong những tỉnh khá của miền Bắc, như mong muốn của Bác Hồ kính yêu.

Kính chúc các đồng chí sức khỏe, hạnh phúc.

Xin trân trọng cảm ơn!

bqllang.gov.vn

Lễ tiếp nhận đá quý của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An phục vụ trang trí khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sáng ngày 4/11/2012, tại Quảng trường Ba Đình, đã diễn ra lễ tiếp nhận ba khối đá quý do Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An cung tiến phục vụ trang trí khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tới dự buổi lễ có các đồng chí: Nguyễn Sinh Hùng – Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội; đồng chí Nguyễn Bắc Son – Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông; Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương – Trưởng ban Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; các đồng chí nguyên là lãnh đạo Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; các đồng chí chỉ huy các lực lượng trong Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và chỉ huy các Phòng, Đoàn, các Ban trực thuộc; các đồng chí đại diện cho Hội Đá quý, đơn vị tài trợ và chế tác đá quý. Về phía tỉnh Nghệ An có các đồng chí: Phan Đình Trạc – Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy; đồng chí Trần Hồng Châu – Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh; cùng các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy, đại diện một số sở, ban, ngành cấp tỉnh và Khu Di tích Kim Liên, Nam Đàn.

Nghe an trao tang da.bao congĐồng chí Phan Đình Trạc – Bí thư Tỉnh ủy phát biểu tại buổi lễ

Tại buổi lễ, đồng chí Phan Đình Trạc – Bí thư Tỉnh ủy xúc động phát biểu: “Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho quê hương xứ Nghệ những tình cảm đặc biệt. Trong sâu thẳm trái tim Người, quê hương luôn là “Nghĩa nặng tình sâu”. Với lòng thành kính và biết ơn vô hạn đối với Bác Hồ kính yêu, đoàn khảo sát của tỉnh với sự phối hợp của Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành khảo sát nhiều nơi, nhiều chủng loại đá có nguồn gốc khác nhau. Đến ngày 19/4/2011, đoàn khảo sát tìm được loại đá quý như mong muốn tại núi Pu-Cooc ở bản Cô, xã Châu Thành, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.

Sau khi nghiên cứu, chế tác, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Nghệ An đã đưa 3 khối đá quý Corindon nặng 50 tấn trang trí tại khu vực Lăng Bác. Đá Corindon có tên khoa học là Nazơdac, có thể gọi “Đại Lam Ngọc” là loại đá được thiên nhiên tạo thành qua hàng triệu triệu năm, tích tụ trong lòng đất, có độ cứng và độ bền cao. Loại đá này trường tồn mãi mãi với thời gian, không bị ăn mòn bởi nước, axít, không bị ô xi hóa, không chứa nguyên tố phóng xạ, có màu lam ngọc đỏ (chứa saphia) và màu phớt tím (chứa ruby), có khả năng thấu quang và chiết quang, chứa nhiều khoáng vật quý. Trải qua hàng triệu triệu năm hình thành tích lũy nhiều năng lượng trong vũ trụ, vì vậy, trong phong thủy “Đại Lam Ngọc” có thể được xem là “thần dược thạch mỹ”, đem lại sinh khí tốt, thiện tâm, tăng cường sinh lực, mang lại may mắn cho con người. Do vậy mà Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An rất vinh dự được cung tiến những khối đá quý này, góp phần xây dựng, tôn tạo cảnh quan, kiến trúc, nâng cao linh khí, nơi Người yên nghỉ cùng với các sản phẩm đặc sắc của các vùng miền trong cả nước.

Cũng nhân dịp này, đồng chí Nguyễn Sinh Hùng đã gắn tặng Huy hiệu Bác Hồ cho các đồng chí đại biểu tỉnh Nghệ An. Thay mặt Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Nghệ An, đồng chí Phan Đình Trạc tặng lại bức ảnh Bác Hồ bằng đá quý cho Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng.

Nghe an trao tang da.huy hieuĐồng chí Nguyễn Sinh Hùng  gắn tặng Huy hiệu Bác Hồ
cho các đồng chí đại biểu tỉnh Nghệ An

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là Công trình mang ý nghĩa chính trị, văn hóa sâu sắc, nơi hội tụ tình cảm, niềm tin của nhân dân cả nước và bầu bạn quốc tế đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong  suốt quá trình xây dựng và từ ngày khánh thành đến nay, Công trình Lăng luôn nhận được sự giúp đỡ to lớn, toàn diện của Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô trước đây – Liên bang Nga ngày nay và sự đóng góp sức người, sức của của đồng bào, chiến sỹ cả nước, trong đó có đồng bào, chiến sỹ tỉnh Nghệ An gửi tặng nhiều cây hoa, cây cảnh quý và những tác phẩm nghệ thuật độc đáo, đặc sắc của quê hương kính dâng lên Bác, thể hiện tư tưởng “Cả nước luôn bên Người ”.

Thay mặt cán bộ, công nhân viên chiến sỹ Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thiếu tướng Nguyễn Văn Cương cảm ơn sự quan tâm của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An đã trao tặng và đóng góp kinh phí để chế tác những khối đá quý nhằm phục vụ việc tôn tạo Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng thời cán bộ, công nhân viên và chiến sỹ Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận thức sâu sắc,  niềm vinh dự, tự hào và hoàn thành xuất xắc nhiệm vụ: Giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát huy ý nghĩa chính trị – văn hóa của Công trình Lăng trong giai đoạn mới.

Nghe an trao tang da.dat hoaĐoàn đại biểu đặt hoa và vào Lăng viếng Bác

Kết thúc buổi lễ, Đoàn đại biểu đặt hoa và vào Lăng viếng Bác./.

Hải Yến
bqllang.gov.vn

Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Băng-la-đét đặt hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh và các Anh hùng liệt sĩ Việt Nam.

Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Băng-la-đét, Sếch Ha-xi-na (Sheikh Hasina) thăm chính thức Việt Nam từ ngày 2 đến 4-11-2012. Đây là chuyến thăm Việt Nam đầu tiên của bà Sếch Ha-xi-na trên cương vị Thủ tướng Băng-la Đét, đánh dấu một cột mốc mới trong quan hệ Việt Nam – Băng-la-đét. Chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Băng-la Đét nhằm tăng cường quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác nhiều mặt với Việt Nam, thúc đẩy hợp tác mọi mặt giữa hai nước trong thời gian tới, đồng thời trao đổi một số vấn đề khu vực và quốc tế mà hai bên cùng quan tâm.Việt Nam và Băng-la-đét có quan hệ hữu nghị và hợp tác tốt đẹp. Ngay sau khi giành được độc lập, Băng-la Đét quan tâm theo dõi và ủng hộ cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, phong trào ủng hộ Việt Nam ở Băng-la-đét lên cao, lan rộng trong cả nước. Băng-la-đét là nước đầu tiên ở Nam Á công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ với Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam. Ngày 11-2-1973, Việt Nam và Băng-la Đét chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Hai bên bắt đầu trao đổi về lĩnh vực kinh tế, thương mại. Từ tháng 11 năm 1993, Băng-la-đét lập Đại sứ quán tại Hà Nội.

thu tuong bangladetThủ tướng Sếch Ha-xi-na cùng Đoàn đặt hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong thời gian ở thăm Việt Nam, sáng 3/11/2012, Thủ tướng Sếch Ha-xi-na đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, bày tỏ sự kính trọng đối với vị Chủ tịch đã dành trọn cuộc đời của mình đấu tranh giành độc lập, tự do thống nhất cho nhân dân Việt Nam, đồng thời giương cao ngọn cờ đấu tranh giành độc lập cho các dân tộc thuộc địa trên toàn thế giới. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Sếch Ha-xi-na, Thủ tướng Chính phủ Băng-la-đét kính viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Sau đó Bà Thủ tướng và Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Băng-la-đét đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Việt Nam tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Bắc Sơn, Hà Nội. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Sếch Ha-xi-na, Thủ tướng Chính phủ Băng-la-đét kính viếng các Anh hùng liệt sĩ Việt Nam”./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Về một câu nói của Bác Hồ với báo chí

Trong một bức thư gửi trí thức Nam bộ, trong đó có các nhà báo, (thư đề ngày 25/5/1947) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính, trừ tà, mà anh em văn hóa trí thức phải làm cũng như là những chiến sĩ anh dũng trong công cuộc kháng chiến để tranh lại quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc”.

Trong cả hai cuộc kháng chiến giành độc lập và thống nhất cho Tổ quốc, các nhà báo Việt Nam đã làm được những gì mà Bác Hồ kỳ vọng vào họ qua những dòng thư tâm huyết trên. Nhưng câu nói của Bác Hồ còn vượt ra ngoài phạm vi của nhiệm vụ “kháng chiến chống ngoại xâm” mà các nhà báo yêu nước Việt Nam cần thực hiện.

4.ve mot cau noi cua Bac HoBác Hồ với các phóng viên báo đài. Ảnh tư liệu

Trong câu nói của Bác Hồ:  “Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính, trừ tà”, thì ý nghĩa cập nhật của nó là rất cao, và nhiệm vụ của các nhà báo chân chính đương đại cũng đã được nhấn mạnh: Một là “phò chính”, tức bảo vệ chính nghĩa, nói lên sự thật, đồng hành với lẽ phải, và hai là “trừ tà”, tức lên án cái xấu cái ác, chống lại sự phi nghĩa. Muốn phân biệt được đâu là “chính” đâu là “tà” phải dựa vào dân, phụng sự nhân dân, phải dựa vào lợi ích quốc gia, phụng sự Tổ quốc.

65 năm đã qua từ khi Bác Hồ viết bức thư này gửi các nhà báo Nam bộ, cũng là gửi chung cho các nhà báo Việt Nam, đất nước ta giờ đã được độc lập, Tổ quốc ta đã thống nhất. Nhưng không phải vì thế mà các nhà báo Việt Nam hết việc để làm, vì hai nhiệm vụ “phò chính” và “trừ tà” vẫn còn phải được các nhà báo coi là phần quan trọng trong sự nghiệp làm báo của mình.

Khi không còn kẻ thù xâm lược, hoặc kẻ thù xâm lược chưa thực sự xâm lăng đất nước ta, thì nhiệm vụ “trừ tà” ở đây phải hiểu là trừ diệt những gì phương hại tới nhân dân và Tổ quốc. “Tà” ấy có thể là “ngoại tà”, nhưng nhiều hơn là “nội tà”, kể cả “nội tà” trong chính lương tâm nhà báo.

“Danh mục” của những cái “tà” ấy khá dài, và không liệt kê ra thì ai cũng biết chúng là những gì rồi. Với tất cả những cái gì và những ai làm hại dân hại nước, thì đều phải coi là tà. Và nhiệm vụ, hay cao hơn, sứ mệnh của nhà báo, là phải đấu tranh chống lại chúng, tiến tới cùng nhân dân trừ diệt chúng. Đây là cuộc đấu tranh vô cùng cam go và dai dẳng, nhiều khi nó diễn ra ngay trong lòng một số nhà báo.

Viết thế nào cho trung thực và dám chấp nhận trả giá cho sự trung thực của ngòi bút mình, điều đó thực sự khó khăn, vì nó đụng chạm tới mọi mặt của đời sống nhà báo, những được và mất rất hiện thực của cuộc đời nhà báo.

Chuyện nhà báo bị hành hung khi trực tiếp tới hiện trường những “điểm nóng” để đưa tin hay viết bài, nghĩ cho cùng, cũng chỉ là một phần nhỏ của những sự trả giá mà nhà báo phải chấp nhận khi muốn mình là một nhà báo trung thực và có lương tâm.

“Phò chính, trừ tà”, Bác Hồ chỉ đề ra cái sứ mệnh gồm 4 chữ cho các nhà báo, nhưng nó gần như bao quát cả sự nghiệp của những nhà báo chân chính. Bây giờ, chúng ta đều biết, ngay “phò chính” cũng không hề dễ, chứ đừng nói tới “trừ tà”.

Bởi phải biết đâu là “chính” thì mới “phò” đúng được, vì nhiều khi giữa “chính” với “tà” không đơn giản chỉ là “trắng” và “đen”, mà còn có những điểm đan xen, những vùng “xôi đậu” trộn lộn buộc nhà báo phải tinh tường và có lương tâm mới phân biệt ra được.

Trước một vụ việc phải phân định được đúng, sai, phải cân đong đo đếm được những mức độ của phải và trái, thì mới viết được bài báo đúng với tiêu chí của Bác Hồ đặt ra là “phò chính” và “trừ tà”. Nếu nhà báo lẫn lộn ngay từ khâu phân định, thì không mong gì họ có được những bài báo trung thực và tích cực.

Trong sự nghiệp làm báo của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ bài báo đầu tiên đã cố gắng để viết ngắn nhất và nói rõ nhất điều mình muốn nói cho đông đảo người đọc có thể chia sẻ được. Chính vì rèn luyện được phong cách viết báo cô đọng và giản dị như thế mà trong nhiều trường hợp, những câu chữ ngắn gọn, dễ hiểu của Bác Hồ lại phải được người đọc suy ngẫm để cảm thấu được những biên độ cả trong và ngoài chữ nghĩa của Bác. “Phò chính, trừ tà” là một câu nói cực ngắn gọn như vậy, nhưng nội hàm của nó là cực sâu, và biên độ của nó lại cực rộng./.

Theo baoquangngai.com.vn
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (phần 4)

Nói về người cách mạng và Đảng cách mạng, nhà đại văn hào Trung Quốc là ông Lỗ Tấn có câu thơ:

“Hoành my lãnh đối thiên phu chỉ, Phủ thủ cam vi nhũ tử ngưu”.

Xin tạm dịch là:

“Trợn mắt xem khinh nghìn lực sĩ,

Cúi đầu làm ngựa các nhi đồng”.

“Nghìn lực sĩ” có nghĩa là những kẻ địch mạnh, thí dụ: Lũ thực dân Pháp, bọn can thiệp Mỹ. Cũng có nghĩa là những sự khó khăn gian khổ.

“Các nhi đồng” nghĩa là quần chúng nhân dân hiền lành, đông đảo. Cũng có nghĩa là những công việc ích quốc, lợi dân.

Đảng Lao động Việt Nam không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân”.

“Lời kết thúc buổi ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam”, 3-3-1951, Hồ Chí Minh toàn tập, t.6, tr.184-185.

“… người đảng viên, dù công tác to hay nhỏ, địa vị cao hay thấp – ở đâu cũng phải làm gương mẫu cho quần chúng.

Mỗi đảng viên là một người thay mặt cho Đảng trước quần chúng, để giải thích chính sách của Đảng và của Chính phủ cho quần chúng hiểu rõ và vui lòng thi hành. Mà muốn cho quần chúng hăng hái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để quần chúng bắt chước, làm theo.

Mà muốn cho quần chúng nghe lời mình, làm theo mình, thì người đảng viên, từ việc làm, lời nói cho đến cách ăn ở, phải thế nào cho dân tin, dân phục, dân yêu. Thế là làm cho dân tin Đảng, phục Đảng, yêu Đảng và làm theo chính sách của Đảng và của Chính phủ.

Đảng viên nào không được dân tin, dân phục, dân yêu thì chưa xứng đáng là một người đảng viên của Đảng Lao động Việt Nam.

Vì vậy, mỗi đảng viên phải luôn luôn cố gắng”.

“Người đảng viên Đảng Lao động Việt Nam phải thế nào?”, 25-3-1951.Hồ Chí Minh toàn tập, t.6, tr.189-190.

“Mình đánh giặc là vì dân. Nhưng mình không phải là “cứu tinh” của dân, mà mình có trách nhiệm phụng sự nhân dân. Tất cả quân nhân phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu. Phải làm thế nào để khi mình chưa đến, thì dân trông mong, khi mình đến thì dân giúp đỡ, khi mình đi nơi khác thì dân luyến tiếc. Muốn vậy, bộ đội phải giúp đỡ dân, thương yêu dân. Mỗi quân nhân phải là một cán bộ tuyên truyền bằng việc làm của quân đội. Trong mấy chiến dịch vừa qua, nói chung bộ đội ta đã biết giúp đỡ dân, thương yêu dân. Nhưng cũng còn có chú dọa nạt dân, mượn của dân không trả, mua rẻ của dân. Phải sửa chữa những khuyết điểm ấy. Dân như nước, quân như cá. Phải làm cho dân hết sức giúp đỡ mình thì mình mới đánh thắng giặc”.

“Bài nói tại Hội nghị Kiểm thảo chiến dịch đường số 18”, 04-5-1951, Hồ Chí Minh toàn tập, t.6, tr.207.

“Cách mạng cũng như một bộ máy, phải có phân công, người làm việc này, người làm việc khác nhưng việc nào cũng cần thiết, cũng quan trọng. Thí dụ trong một cái đồng hồ, những cái kim thì chạy suốt ngày đêm, những chữ số thì suốt đời đứng một chỗ. Nếu những chữ số cũng muốn chạy như cái kim, hay là cái kim cũng muốn đứng lại như chữ số thì không thành cái đồng hồ nữa”.

“Thư gửi lớp cán bộ cung cấp”, 02-9-1951.

Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, tr.296.

“Có người cho đạo đức cũ và đạo đức mới không có gì khác nhau. Nói như vậy là lầm to. Đạo đức cũ và đạo đức mới khác nhau nhiều.

Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời. Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời. Bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm, chính, nhưng không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi cho chúng. Ngày nay ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân theo để lợi cho nước cho dân”.

 “Bài nói chuyện tại Trường Chính trị  Trung cấp quân đội”, 25-10-1951, Hồ Chí Minh toàn tập, t.6, tr.320-321.

“Để thực hiện chính sách, làm trọn nhiệm vụ, cán bộ chẳng những phải chịu khó giải thích, tuyên truyền, cổ động mà còn phải bàn bạc với quần chúng, hỏi han ý kiến, gom góp sáng kiến của quần chúng. Lãnh đạo quần chúng và hoan nghênh quần chúng phê bình…Tóm lại, phải đi đúng đường lối quần chúng. Thế là có tinh thần trách nhiệm đối với Đảng, đối với Chính phủ, đối với nhân dân.

Bệnh quan liêu, mệnh lệnh, chủ quan, hấp tấp, tự tư tự lợi là trái hẳn với tinh thần trách nhiệm”.

Tinh thần trách nhiệm”, 13-12-1951, Hồ Chí Minh toàn tập, t.6, tr.346.

“Quân đội ta là Quân đội nhân dân. Nghĩa là con em ruột thịt của nhân dân. Đánh giặc để tranh lại độc lập thống nhất cho Tổ quốc, để bảo vệ tự do hạnh phúc của nhân dân. Ngoài lợi ích của nhân dân, quân đội ta không có lợi ích nào khác.

Quân đội ta biết rằng: cơm quân đội ăn, áo quân đội mặc, vũ khí quân đội dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân tăng gia sản xuất, đóng thuế nông nghiệp mà có. Nhân dân thức khuya dậy sớm, ăn gió nằm sương, để đắp đường sửa cầu cho bộ đội đi. Nhân dân không quản trèo đèo lội suối, không quản khó nhọc gian lao, để chuyên chở súng đạn cho bộ đội đánh giặc. Tóm lại, quân đội sinh trưởng, thắng lợi, là nhờ nhân dân ra sức giúp đỡ. Vì thế, bộ đội rất biết ơn và yêu mến nhân dân.

Về phía nhân dân thì ai cũng biết rằng: có quân đội đánh giặc và giữ làng giữ nước, mình mới được yên ổn làm ăn, Tổ quốc mới được thống nhất, độc lập. Trong công cuộc kháng chiến cứu nước, nhân dân hy sinh là hy sinh một phần của cải và thời giờ. Của cải hết, có thể lại làm ra; thời giờ qua, thời giờ lại đến. Nhưng bộ đội hy sinh là hy sinh xương máu, có khi hy sinh cả tính mệnh. Cụt chân, gẫy tay, chân tay không thể mọc lại; người chết không thể sống lại. Đó là một sự hy sinh tuyệt đối. Đồng bào biết rằng: Các chiến sĩ trong bộ đội ai cũng có cha mẹ anh em, ai cũng có gia đình thân thích. Nhưng họ đã hy sinh tiểu gia đình của họ, họ đã không ngại rời cha mẹ, bỏ quê hương, ra xông pha bom đạn, để phụng sự đại gia đình dân tộc gồm cả gia đình của mỗi đồng bào. Do đó nhân dân rất biết ơn và yêu mến bộ đội”.

“Tình đoàn kết quân dân ngày thêm bền chặt”, 3-3-1952, Hồ Chí Minh: toàn tập, t.6, tr.426-427.

“Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. Trong bộ máy cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch một nước đều là phân công làm đày tớ cho dân.

Đó là vinh dự cao nhất. Nếu có thành tích gì thì Chủ tịch và người nấu cơm phải chia nhau cái vinh dự ấy. Tóm lại không có việc sang, hèn. Công việc gì làm tròn, bổ ích cho kháng chiến, cho nhân dân đều là công việc sang, công việc gì bên ngoài có vẻ loè loẹt mà không làm tròn là công việc xấu”.

“Bài nói tại Hội nghị cung cấp toàn quân lần thứ nhất”, tháng 6-1952, Hồ Chí Minh toàn tập, t.6, tr.515.

“Quần chúng rất nhiều sáng kiến, họ hiểu biết rất mau, nhất là những cái thuộc về quyền lợi của họ. Cán bộ phải tìm hiểu quần chúng, phải học hỏi quần chúng để lãnh đạo quần chúng. Cán bộ phải kiên nhẫn, quyết tâm, phải chí công vô tư. Nếu tự tư tự lợi, lập trường không vững, tư tưởng không thông, thì tài giỏi gì cũng vô dụng, vì quần chúng rất thông minh. Ai ra sức phục vụ, ai tự tư tự lợi, họ biết ngay, không giấu được họ”.

“Bài nói tại Hội nghị nông vận và dân vận toàn quốc”, 5-2-1953, Hồ Chí Minh toàn tập, t.7, tr.28.

“Chính phủ ta là chính phủ của nhân dân, chỉ có một mục đích là ra sức phụng sự lợi ích của nhân dân. Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm tròn nhiệm vụ của mình là người đầy tớ trung thành tận tuỵ của nhân dân”.

“Lời kêu gọi nhân dân ngày Thủ đô giải phóng”, 10-10-1954, Hồ Chí Minh toàn tập, t.7, tr.361-362.

(Theo Tài liệu tham khảo “Hồ Chí Minh về suốt đời phấn đấu cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm người công bộc tận tuỵ, trung thành của nhân dân, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị” – Ban Tuyên giáo Trung ương).

Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

——————————-

>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 1)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 2)
>> Làm người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân (Phần 3)

Một số lời dạy của Bác Hồ dành cho phụ nữ Việt Nam

Bác Hồ với Phụ nữ các dân tộc thiểu sốBác Hồ với phụ nữ các dân tộc thiểu số

Sinh thời, Bác Hồ rất quan tâm đến phụ nữ Việt Nam và vấn đề giải phóng phụ nữ, giáo dục phụ nữ, làm thế nào để giúp phụ nữ bình đẳng, phát triển tiến bộ. Người đã nhìn nhận, đánh giá cao những truyền thống quý báu của phụ nữ Việt Nam, ghi nhận những đóng góp của phụ nữ Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc: “Phụ nữ Việt Nam ta sẵn có truyền thống đấu tranh anh dũng và lao động cần cù. Trong kháng chiến, phụ nữ ta từ Bắc đến Nam đều hăng hái tham gia đánh giặc cứu nước.

Suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc phụ nữ ta đã kiên cường kề vai sát cánh cùng các đồng chí nam giới để bền bỉ đấu tranh giành độc lập dân tộc thống nhất đất nước. Không chỉ trên tiền tuyến mà ở hậu phương chị em phụ nữ cũng ra sức phấn đấu thi đua, tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm để phục vụ cho đất nước, xứng đáng với tám chữ vàng mà Bác Hồ khen tặng: “ Anh hùng – Bất khuất – Trung hậu – Đảm đang ”

Tuy nhiên, Người cũng nhận thấy những hạn chế, ngăn cản sự phát triển, bình đẳng của phụ nữ Việt Nam. Đó là những khó khăn xuất phát từ bản thân chị em phụ nữ và hoàn cảnh khách quan: “Phụ nữ ta còn có một số nhược điểm như bỡ ngỡ, lúng túng, tự ti, thiếu tin tưởng vào khả năng của mình; mặt khác, phụ nữ cũng gặp nhiều khó khăn về gia đình, con cái” .

Tại Hội nghị cán bộ phụ nữ miền núi (ngày 19/3/1964), Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn bản thân phụ nữ phải ra sức phấn đấu:

Pháp luật của Nhà nước ta đã quy định đàn bà cũng có mọi quyền lợi như đàn ông. Để thực hiện thật sự bình quyền, phụ nữ phải ra sức phấn đấu.

Ngày 9/3/1961 khi nói chuyện với các đại biểu dự Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần III, Bác dặn dò phụ nữ phải nhận rõ địa vị làm chủ của mình:

“Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã nêu rõ chính sách nam nữ bình đẳng. Hiến pháp ta đã xác định chính sách đó. Trong mọi việc, Đảng và Chính phủ ta luôn luôn quan tâm giúp đỡ phụ nữ. Vậy chị em phụ nữ ta phải nhận rõ địa vị làm người chủ và nhiệm vụ người làm chủ nước nhà; phải có quyết tâm mới, đạo đức mới, tác phong mới để làm trọn nghĩa vụ mới của mình là góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, trước mắt là thi đua hoàn thành tốt kế hoạch năm nay, để làm đà tốt cho cả kế hoạch 5 năm, để xây dựng đời sống tươi vui hạnh phúc cho nhân dân ta, cho con cháu ta”…

Tại Đại hội liên hoan Phụ nữ “năm tốt” (ngày 30/4/1964), Bác thể hiện mong muốn chị em phải tích cực thi đua, cố gắng học tập, phấn đấu vươn lên:

“Phụ nữ phải nâng cao tinh thần làm chủ, cố gắng học tập và phấn đấu; phải xoá bỏ tư tưởng bảo thủ, tự ti; phải phát triển chí khí tự cường, tự lập. Có như thế thì phong trào “Năm tốt” sẽ ngày càng lan rộng, ăn sâu và sẽ thực hiện 100% bình quyền, bình đẳng”…

Tại Hội nghị cán bộ phụ nữ miền núi (ngày 19/3/1964), Chủ tịch Hồ Chí Minh định hướng phấn đấu, chỉ ra những việc làm cụ thể cho các chị em:

Phụ nữ cũng là người chủ nước nhà. Để xứng đáng là người chủ thì chị em phải ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Tổ chức và phát triển hợp tác xã cho tốt. Làm cho gia đình ngày càng no ấm, làm tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước.

Phụ nữ cần phải xung phong trong việc xây dựng đời sống mới. Ở miền núi đang còn những phong tục không tốt do bọn phong kiến để lại, như: ma chay, cúng bái rất tốn kém. Cưới vợ, gả chồng quá sớm. Vệ sinh phòng bệnh, v.v… còn kém. Đó là những mê tín và hủ tục nên xóa bỏ, để xây dựng mỹ tục thuần phong.

Đoàn kết là sức mạnh. Đồng bào miền núi, trước hết là chị em phụ nữ, cần phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Đoàn kết giữa dân tộc mình, đoàn kết giữa các dân tộc. Đoàn kết với đồng bào miền xuôi lên phát triển kinh tế miền núi. Tất cả các dân tộc miền núi và miền xuôi phải đoàn kết như anh em, chị em trong một nhà, cùng nhau ra sức xây dựng miền Bắc giàu mạnh và ủng hộ đồng bào miền Nam ruột thịt đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ Việt gian.

Một việc rất quan trọng nữa là: toàn thể đồng bào miền núi phải nâng cao tinh thần cảnh giác, giữ gìn trật tự trị an, luôn luôn sẵn sàng tiêu diệt bọn biệt kích, ngăn chặn bọn phản cách mạng âm mưu phá hoại.

Để làm tốt những việc nói trên, chị em phải cố gắng học tập. Học văn hoá, học chính trị, học nghề nghiệp. Nếu không học thì không tiến bộ. Có quyết tâm thì nhất định học được. Hiện nay đã có phụ nữ miền núi làm thày giáo, làm bác sĩ, làm cán bộ kỹ thuật, đội trưởng dân quân, v.v.. Tất cả phụ nữ trong huyện Đà Bắc ở tỉnh Hoà Bình đã xoá xong nạn mù chữ. Đó là những gương mẫu có quyết tâm thì thành công. Bác chờ để khen thưởng những chị em có thành tích xuất sắc nhất…

Trong lời chúc mừng Ngày quốc tế phụ nữ 8/3/1957, Bác cũng chỉ ra những nhiệm vụ của từng đối tượng phụ nữ

“Để kỷ niệm ngày 8 tháng 3 một cách thiết thực và xứng đáng, chúng ta cần động viên:

Chị em phụ nữ nông thôn THI ĐUA góp sức hoàn thành tốt cải cách ruộng đất và lập những tổ đổi công tốt.

Chị em công nhân và công chức THI ĐUA làm trọn nhiệm vụ của mình.

Chị em trí thức THI ĐUA góp phần vào việc phát triển văn hoá.

Nữ thanh niên tuỳ theo cương vị của mình, THI ĐUA học và hành, xung phong trong mọi công việc…

Tại Hội nghị phụ nữ lao động tích cực lần thứ nhất của Hà Nội ngày 18-10-1958, Bác đã căn dặn chị em phụ nữ Thủ đô:

“Chị em phụ nữ cố gắng thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giành thống nhất Tổ quốc. Phụ nữ công nhân cần tích cực tham gia quản lý thật tốt nhà máy, công trường. Phụ nữ nông dân cần hăng hái tham gia phong trào đổi công, hợp tác, gặt tốt vụ mùa, chuẩn bị tốt vụ chiêm năm tới. Các tầng lớp phụ nữ ở thành phố cần chấp hành tốt các chính sách của Đảng và Chính phủ. Chị em làm nghề buôn bán cần giữ đức tính thật thà, đúng đắn, bài trừ tệ “mua rẻ, bán đắt”, tệ “mặc cả, nói thách”. Chị em phụ nữ phải hết sức chăm lo bảo vệ sức khoẻ của con cái, vì thiếu nhi là tương lai của dân tộc”.

Đặc biệt, trong thư gửi phụ nữ Việt Nam nhân dịp xuân Bính Tuất (1946), Bác đã tặng bài thơ như một lời nhắc nhở, động viên chị em phấn đấu rèn luyện, tu dưỡng cách sống “Đời sống mới”:

Năm mới Bính Tuất

Phụ nữ đồng bào

Phải gắng làm sao

Gây “Đời sống mới”

Việc thành là bởi

Chúng ta siêng mần

Vậy nên chữ cần

Ta thực hành trước

Lại phải kiệm ước

Bỏ thói xa hoa

Tiền của dư ra

Đem làm việc nghĩa

Thấy của bất nghĩa

Ta chớ tham tàn

Thế tức là liêm

Đã liêm thì khiết

Giữ mình làm việc

Quảng đại công bình

Vì nước quên mình

Thế tức là chính

Cần, kiệm, liêm, chính

Giữ được vẹn mười

Tức là những người

Sống “Đời sống mới”.

Báo Tiếng gọi phụ nữ, số Xuân Bính Tuất, năm 1946,

Bên cạnh những lời động viên, khuyến khích dành cho phụ nữ, Bác còn chỉ ra những nhược điểm nào của phụ nữ và hướng dẫn cách khắc phục.

Nói chuyện tại Hội nghị các đại biểu phụ nữ tham gia công tác chính quyền toàn miền Bắc (ngày 1-8-1960), Bác chỉ rõ:

“Phụ nữ ta còn có một số nhược điểm như bỡ ngỡ, lúng túng, tự ti, thiếu tin tưởng vào khả năng của mình; mặt khác, phụ nữ cũng gặp nhiều khó khăn về gia đình, con cái. Muốn giải quyết khó khăn không nên ỷ lại vào Đảng, Chính phủ mà phải quyết tâm học tập, phát huy sáng kiến, tin tưởng ở khả năng mình, nâng cao tinh thần tập thể, đoàn kết giúp đỡ nhau để giải quyết mọi khó khăn của phụ nữ trong công tác chính quyền”…

            Cùng với việc căn dặn, nhắc nhở phụ nữ, Bác Hồ đã nhiều lần nêu rõ trách nhiệm của các cơ quan Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia hoạt động, phấn đấu. Đó là: Khi nói chuyện tại Lớp bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp huyện (18/1/1967), Bác phê bình sự thiếu sót trong bồi dưỡng cán bộ nữ, Người đánh giá cao vai trò của cán bộ nữ đồng thời yêu cầu phải đấu tranh mạnh bệnh thành kiến hẹp hòi đối với phụ nữ:

  “Cán bộ nữ ít như vậy là một thiếu sót. Các đồng chí phụ trách lớp học chưa quan tâm đến việc bồi dưỡng cán bộ nữ. Đây cũng là thiếu sót chung ở trong Đảng. Nhiều người còn đánh giá không đúng khả năng của phụ nữ, hay thành kiến, hẹp hòi. Như vậy là rất sai. Hiện nay, có nhiều phụ nữ tham gia công tác lãnh đạo ở cơ sở. Nhiều người công tác rất giỏi. Có cháu gái làm chủ nhiệm hợp tác xã toàn thôn, không những hăng hái mà còn làm rất tốt. Các cháu gái ở các hợp tác xã thường có nhiều ưu điểm: ít mắc tệ tham ô, lãng phí, không hay chè chén, ít hống hách, mệnh lệnh như một số cán bộ nam, có đúng như thế không?

Bác mong rằng các đồng chí hãy thật sự sửa chữa bệnh thành kiến, hẹp hòi đối với phụ nữ. Các cô, nhất là các cô ở huyện, phải đấu tranh mạnh. Vì các cô mà không đấu tranh thì những đồng chí nam có thành kiến với phụ nữ sẽ không tích cực sửa chữa”.

 Trong bài “Phải thật sự đảm bảo quyền lợi của phụ nữ” đăng trên báo Nhân dân ngày 28/12/1962, Bác viết

“Từ nay, đảng bộ, chính quyền và đoàn thể quần chúng (trước hết là đoàn thể phụ nữ và thanh niên) cần phải ra sức tuyên truyền Luật Hôn nhân và gia đình sâu rộng hơn nữa và phải chấp hành thật nghiêm chỉnh. Những thói dã man đánh vợ và ép con cần phải chấm dứt. Lợi quyền của phụ nữ cần được thật sự bảo đảm. Bản thân phụ nữ thì phải đấu tranh tự cường tự lập để giữ lấy lợi quyền của mình”…

Trong Di chúc, Người vẫn đau đáu một nỗi niềm : “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo”…

Di chúc

Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 12, NXB Chính trị quốc gia, tr. 510

Tuy vậy, Người luôn nhấn mạnh đến khả năng tự lực vươn lên của phụ nữ: “Bản thân phụ nữ thì phải đấu tranh tự cường tự lập để giữ lấy lợi quyền của mình”…

Phải thật sự đảm bảo quyền lợi của phụ nữ,

Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 10, NXB Chính trị quốc gia, tr. 661 – 662

Tâm Trang (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Những mẩu chuyện đầy xúc động và chân tình của Bác Hồ với phụ nữ

Đại biểu phụ nữ các dân tộc tỉnh Hà Giang về thăm Hà Nội vui mừng được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh 25-11-1965Đại biểu phụ nữ các dân tộc tỉnh Hà Giang về thăm Hà Nội 
vui mừng được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh (25-11-1965)

Suốt cuộc đời mình Bác luôn đứng về lẽ phải, đấu tranh bảo vệ cho những kiếp người cơ cực lầm than. Người đặc biệt quan tâm đến phụ nữ và trẻ em bởi theo Người đó là lớp người khổ nhất trong những người khổ cực. Như nhà thơ Tố Hữu đã từng viết:

Bác ơi tim Bác mênh mông thế
Ôm cả non sông mọi kiếp người

Trong những “kiếp người” lầm than đó Bác dành sự quan tâm đặc biệt cho phụ nữ. Bởi hơn ai hết Bác là người hiểu rõ rằng: Trong xã hội, người phụ nữ là người bị áp bức, chịu đau khổ và thiệt thòi nhiều nhất. Bác nhiều lần bày tỏ chính kiến trước công luận là phải tiêu diệt tư tưởng phong kiến và đầu óc gia trưởng, tư tưởng trọng nam khinh nữ. Bác cũng chỉ rõ: “Luật lấy vợ lấy chồng nhằm giải phóng phụ nữ, tức là giải phóng phần nửa xã hội. Giải phóng người đàn bà”, “phải tiêu diệt tư tưởng phong kiến”, tư tưởng “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (Một nam là có, mười nữ như không) trong người đàn ông. Bác phê phán tình trạng chồng đánh vợ và khẳng định đây là tệ nạn về mặt đạo đức và vi phạm pháp luật: “Đàn ông là người công dân, đàn bà cũng là người công dân, dù là vợ chồng, người công dân này đánh người công dân khác tức là phạm pháp”. Theo quan điểm của Bác, vấn đề giải phóng phụ nữ là một vấn đề xã hội to lớn, không phải chỉ là việc riêng của phụ nữ, mà là công việc quan trọng của Đảng, Nhà nước và đòi hỏi phải có sự tham gia của toàn xã hội, của tất cả mọi người. Việc giải phóng phụ nữ là phải tạo điều kiện để phụ nữ tham gia vào các hoạt động xã hội; Chỉ có đưa phụ nữ tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa… thì mới bảo đảm quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ. Muốn vậy phải tôn trọng phụ nữ, phải tính đến đặc thù của lao động nữ, phải thực hiện phân công sắp xếp lao động toàn xã hội, mở rộng các dịch vụ xã hội, tổ chức đời sống mới để phụ nữ có thời gian học tập và tham gia vào các hoạt động xã hội. Đảng và Chính phủ cần có những chủ trương chính sách phù hợp để phụ nữ tham gia vào các công việc của xã hội theo khả năng của họ. Song thực hiện bình đẳng giới, cũng không có nghĩa là “cào bằng” trong mọi việc, mà phải là, ngoài những cơ chế chính sách chung đối với người lao động, các cơ quan chức năng cần chú ý “quán triệt quan điểm giới” khi xây dựng chính sách, pháp luật đối với người lao động, nhằm bảo vệ sức khoẻ của phụ nữ, bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em khỏi những lao động độc hại và phi đạo đức, đồng thời đảm bảo phân phối công bằng cho cả hai giới, khi cùng làm một công việc và cống hiến như nhau. Bác Hồ cũng khẳng định, sự nghiệp giải phóng phụ nữ phụ thuộc vào chính bản thân người phụ nữ. Người đánh giá cao vai trò của phụ nữ khi nhìn nhận họ là một lực lượng lao động đông đảo của xã hội, làm việc không thua kém nam giới. Phụ nữ có thể đảm nhận và hoàn thành tốt những công việc lớn của cách mạng, của nhân dân. Tuy nhiên, để phát huy vai trò của phụ nữ, Người yêu cầu: “Chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng phụ nữ mà tự mình phải tự cường đấu tranh”. “Mỗi một người và tất cả phụ nữ phải hăng hái nhận trách nhiệm của người làm chủ đất nước, tức là phải ra sức thi đua sản xuất và thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, xây dựng xã hội chủ nghĩa. Muốn làm tròn nhiệm vụ vẻ vang đó, phụ nữ phải xóa bỏ tâm lý tự ti và ỷ lại, phải có ý chí tự cường tự lập, phải nâng cao lên mãi trình độ chính trị, văn hóa, kỹ thuật”. “Phải nâng cao tinh thần làm chủ, cố gắng học tập và phấn đấu. Người phụ nữ phải tự khẳng định mình thông qua năng lực trình độ, thông qua sự hiểu biết và sự đóng góp của chính họ vào gia đình và xã hội. Từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, nâng cao vị trí của người phụ nữ trong xã hội và thực hiện xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, bình đẳng và tiến bộ. Và trên thực tế, đã không ít tài liệu ghi lại những mẩu chuyện của Bác Hồ với phụ nữ đầy xúc động và chân tình.

Một lần, tới một Hội nghị, nhìn suốt dọc hội trường Bác hỏi: “Này các chú, phụ nữ đâu mà không thấy phụ nữ ngồi hàng đầu?” Rồi Bác lại hỏi tiếp: “Các cô gái có đấy không?” “Có ạ”.“Vậy mời lên đây ngồi. Ngay việc ngồi cũng không bình đẳng. Phụ nữ muốn được bình đẳng không phải bảo Đảng và Chính phủ hay nam giới mời lên ngồi mới ngồi mà phải tự đấu tranh phấn đấu giành lấy”. Đó chính là lời căn dặn của Bác với phụ nữ, bởi hơn ai hết Bác luôn quan tâm và giành nhiều tình cảm cho lớp người đã chịu nhiều lầm than này.

Một câu chuyện kể rằng vào tháng 1 năm 1963, trong phiên họp của Bộ Chính trị để bàn về những vấn đề quan trọng của cách mạng, Người đã đọc một bức thư của một phụ nữ trong cuộc họp này, đó là bức thư một nữ cán bộ cách mạng ở Vĩnh Phúc bị chồng đối xử đánh đập tàn tệ mà không được chính quyền đoàn thể can thiệp, cán bộ đảng viên thì lẩn tránh. Bác xem đó là tội ác, là tàn dư còn lại tồi tệ nhất của chế độ cũ và yêu cầu cuộc họp ưu tiên giải quyết trường hợp này trước.

Có lần tại một Hội nghị cấp huyện, Bác hỏi: Ở đây có Hải Phòng không? Có ạ!. Hợp tác xã các chú làm thế nào mà phải sang Hợp tác xã khác mượn lợn để lừa dối cấp trên? Có không? Có ạ. Vậy không nên làm như thế nữa”. Lúc đó, gần Tết, Bác kêu gọi tiết kiệm. Bác nói: Các chú phải có văn hóa không được đánh vần chữ “tiết kiệm” thành “tiết canh”. Phụ nữ người ta làm Chủ nhiệm đâu có đánh chén. Chủ nhiệm phụ nữ thật thà, phải đưa nhiều phụ nữ tham gia làm Chủ nhiệm”… Thế mới thấy được Bác rất coi trọng vai trò của phụ nữ Việt Nam. Thế nên khi đi thăm các nước, Bác thường nói với phụ nữ các nước đó: Phụ nữ Việt Nam làm được nhiều việc cho đất nước, phụ nữ Việt Nam thay thế nam giới thực hiện phục vụ cho chiến đấu, sản xuất. Đặc biệt, khi làm Chủ nhiệm Hợp tác xã, phụ nữ làm tốt hơn nam giới, cần cù hơn, không lãng phí, không đánh chén.

Một lần đến thăm một đơn vị nữ Thanh niên xung phong, Bác nghe báo cáo, đi xuống tận đơn vị sản xuất rồi góp ý với lãnh đạo đơn vị: “Đi chặt gỗ, việc ấy nặng nhọc, lúc hăng các cháu làm được hết; hay đi đắp đường, chỗ núi non khó khăn, các cháu cũng làm được. Nhưng lãnh đạo không nên để các cháu làm những việc như thế…phân phối công tác cho phụ nữ phải thích hợp…”. Lần ấy, các nữ Thanh niên xung phong đã rơi nước mắt trước nỗi lo toan rất đời thường của vị Chủ tịch nước.

Ngày lễ 2/9/1949, Bác đến thăm chị em cán bộ, nhân viên Văn phòng Trung ương Đảng tại chiến khu Việt Bắc. Người bước vào hội trường, ngồi xuống trước rồi bảo mọi người ngồi xuống theo. Các cán bộ nhanh chân đến trước vây quanh Chủ tịch. Các chị các cô vì có cháu nhỏ đi theo không chen kịp, đành ngồi phía sau hội trường, dù rất muốn được gần Bác.

Khi được báo cáo anh chị em đã đến đủ, Bác nhìn quanh nhận ra ngay điều bất hợp lý, liền nói:

– Để ổn định trật tự cho buổi “diễn thuyết” được thành công, các cô các chú phải ngồi đúng vị trí của mình. Riêng “diễn giả” được phép thay đổi chỗ.

Người đứng dậy đi đến cuối hội trường, hô:

 Đằng sau, quay!

Ngày ấy hội trường gồm toàn những ghế băng. Thế là các chị, các cô, các cháu nhỏ chỉ cần quay lại là được gần Bác nhất.

Chính sự quan tâm ngay cả những điều tưởng như nhỏ nhặt trong cuộc sống, đã làm cho hình ảnh của Người vốn đã vĩ đại càng trở thành bất tử.

Bác Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác kể lại rằng: “Vào tháng 5 năm 1968, Bác Hồ đọc lại bản Di chúc và thấy cần phải viết thêm mấy điểm về phụ nữ”. Thế rồi, trong bản Di chúc Bác viết: “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất, Ðảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Ðó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”. Đó là những lời chân tình, chứa chan tình cảm và cũng là sự nhắc nhở, huấn thị của Bác với phụ nữ trước khi đi xa.

Bác không có gia đình riêng, nhưng Người hiểu và thông cảm sâu sắc với người phụ nữ làm bổn phận người vợ, người mẹ trong gia đình, người lao động của xã hội. Trong cuộc sống gia đình, người phụ nữ phải lo bộn bề công việc “không tên” nhưng chính nó lại tạo nên của cải tinh thần vô cùng to lớn, đó là không khí gia đình, là tổ ấm của mỗi người Việt Nam.

Sự quan tâm của Bác Hồ với phụ nữ Việt Nam thật nhân ái bao la. Bác từng viết: “Ông Các Mác nói rằng: Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào, thì chắc không làm nổi ( Đường Kách Mệnh). Đối với Bác, tầng lớp phụ nữ luôn có vị trí quan trọng trong cuộc cách mạng chung của dân tộc và hoàn toàn có thể tự hào mà ngẩng cao đầu trước các đấng mày râu. Và quả thật vây, nhìn lại những chặng đường đã đi qua, những anh hùng lao động, những chiến sỹ thi đua, những tấm huân chương, những giải thưởng khoa học là bằng chứng ghi nhận công lao đóng góp của chị em phụ nữ, dấu ấn ghi đậm truyền thống phụ nữ Việt Nam dũng cảm, đảm đang. Chị em phụ nữ hôm qua, hôm nay và ngày mai sẽ viết tiếp những truyền thống hào hùng đó, sẽ làm rạng danh dân tộc Việt Nam để thoả ước nguyện của Người trước lúc đi xa.

Kim Yến (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức đối với Phụ nữ

1 … Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người.

Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa.

… Về phần mình, chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình, mà tự mình phải tự cường, phải đấu tranh.

Bài nói tại Hội nghị cán bộ thảo luận Luật Hôn nhân và gia đình
ngày 10-10-1959, sđd, t.9, tr 523, 524.

nhung nguyen tac va chuan muc 1Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nữ đại biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III,
tháng 9 năm 1960. (Ảnh tư liệu)

2. … Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã nêu rõ chính sách nam nữ bình đẳng, Hiến pháp ta đã xác định chính sách đó. Trong mọi việc, Đảng và Chính phủ ta luôn luôn quan tâm giúp đỡ phụ nữ. Vậy chị em phụ nữ ta phải nhận rõ địa vị làm người chủ và nhiệm vụ người làm chủ nước nhà; phải có quyết tâm mới, đạo đức mới, tác phong mới để làm trọn nghĩa vụ mới của mình là góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội…

Bài nói chuyện tại Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ III
ngày 9-3-1961, sđd, t.10, tr. 296.

nhung nguyen tac va chuan muc 2Bác Hồ với các đại biểu phụ nữ các dân tộc Việt Bắc năm 1959. (Ảnh tư liệu)

3. Phụ nữ cũng là người chủ nước nhà. Để xứng đáng là người chủ thì chị em phải ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm…

4. Phụ nữ cần phải xung phong trong việc xây dựng đời sống mới. Ở miền núi đang còn những phong tục không tốt do bọn phong kiến để lại, như: ma chay, cúng bái rất tốn kém. Cưới vợ, gả chồng quá sớm. Vệ sinh phòng bệnh, v.v… còn kém. Đó là những mê tín và hủ tục nên xóa bỏ, để xây dựng mỹ tục thuần phong.

5. Đoàn kết là sức mạnh. Đồng bào miền núi, trước hết là chị em phụ nữ, cần phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Đoàn kết giữa dân tộc mình, đoàn kết giữa các dân tộc. Đoàn kết với đồng bào miền xuôi lên phát triển kinh tế miền núi…

6. Để làm tốt những việc nói trên, chị em phải cố gắng học tập. Học văn hóa, học chính trị, học nghề nghiệp. Nếu không học thì không tiến bộ. Có quyết tâm thì nhất định học được…

Nói chuyện Hội nghị cán bộ phụ nữ miền núi,
ngày 19-3-1964, sđd, t.11, tr. 215

(theo Một số lời dạy và mẫu chuyện về 
Tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Nxb Chính trị quốc gia)

Phuly.edu.vn
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hội đồng Châu Âu đặt hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận lời mời của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Hội đồng Châu Âu Herman Van Rompuy và Phu nhân sang thăm chính thức nước ta từ ngày 31/10/2012 đến ngày 2/11/2012.

chu   tich hoi dong CÂ1
Ngài Chủ tịch Hội đồng Châu Âu và Phu nhân đến đặt vòng hoa
tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Lăng của Người

Đây là chuyến thăm lần đầu tiên của Chủ tịch Hội đồng Châu Âu đến Việt Nam kể từ khi hai bên thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1990. Năm 1996, Liên minh Châu Âu chính thức mở Phái đoàn đại diện tại Hà Nội. Kể từ đó đến nay, quan hệ hai bên đã đi vào khuôn khổ, phát triển nhanh chóng cả về chiều rộng và chiều sâu. Liên minh Châu Âu trở thành một trong các đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế, thương mại, đầu tư, đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Các nước thành viên Liên minh Châu Âu hiện là một trong các nhà đầu tư hàng đầu tại Việt Nam.

Chủ tịch Hội đồng Châu Âu Herman Van Rompuy thăm Việt Nam nhằm thể hiện sự coi trọng vai trò, vị thế ngày càng tăng của Việt Nam tại khu vực đang phát triển năng động; khẳng định mong muốn tăng cường quan hệ hợp tác nhiều mặt với Việt Nam; tìm hiểu tình hình phát triển kinh tế – xã hội, đường lối đổi mới và hội nhập quốc tế thành công của Việt Nam; trao đổi các biện pháp tăng cường hợp tác song phương trong khuôn khổ hợp tác rộng lớn hơn của Hiệp định PCA; trao đổi các vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm; thông báo các biện pháp Liên minh Châu Âu triển khai đối phó với khủng hoảng khu vực đồng Euro và trao đổi các biện pháp tăng cường quan hệ hai bên tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế.

Trong khuôn khổ chuyến thăm của Đoàn, sáng 1/11/2012, Ngài Chủ tịch và Phu nhân đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Lăng của Người. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Liên minh Châu Âu Kính viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.”

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Câu chuyện gặp Bác Hồ và việc sản xuất nước lọc Penicilline tại Việt Bắc của cố Giáo sư Đặng Văn Ngữ

P1

GS Ngữ trình bày công trình chiết xuất Penicilline

Nhân một chuyến lên Việt Bắc cùng Giáo sư Đặng Văn Ngữ theo dõi tình hình thực hiện công tác tiêu diệt sốt rét, Giáo sư đã kể cho chúng tôi nghe câu chuyện gặp Bác Hồ và việc sản xuất nước lọc Penicilline tại An toàn khu (ATK) Việt Bắc. Giáo sư Đặng Văn Ngữ kể:

“… Lên đến Việt Bắc, tôi gặp Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên, Cụ Hồ Đắc Di, Giám đốc Trường Đại học Y Dược khoa, Bác sĩ Tôn Thất Tùng, Thứ trưởng Bộ Y tế; là những người tôi đã biết từ trước tại Hà Nội. Tôi trình bày nguyên tắc làm Penicilline ở thể bột và hơi lo ngại vì thấy ở Việt Nam lúc ấy không có máy móc, dụng cụ để làm được bột Penicilline. Bác sĩ Tùng bảo: “Ở đây anh không có dụng cụ nhiều bằng ở Liên khu IV (cũ), nhưng anh được sự lãnh đạo và giúp đỡ của Chính phủ Trung ương, lại có tập thể chúng tôi giúp đỡ, nhất định anh sẽ đạt nhiều kết quả hơn ở Liên khu IV.

Sau hai ngày đường leo đèo, lội suối, cùng với Ông Nguyễn Văn Huyên và Bác sĩ Tôn Thất Tùng, chúng tôi bước lên một nhà sàn. Trong nhà đã có 14 đến 15 người ngồi xung quanh bếp lửa nói chuyện với nhau rất vui vẻ. Tôi được giới thiệu và biết rằng những người đang ngồi đây là các vị Bộ trưởng và Thứ trưởng trong Chính phủ. Một lúc sau thì Bác đến. Mọi người đều đứng dậy vui vẻ chào. Bác bắt tay mọi người. Khi đến phía tôi, Bác chỉ cái cà vạt của tôi, vừa cười vừa nói: “A! Chú Ngữ đã đến, không cần phải giới thiệu, nhìn cà vạt ở cổ thì biết ngay người mới ở ngoại quốc về”. Sau đó Bác bảo mọi người cùng ngồi, rồi mở cho xem một tập ảnh của Đoàn đại biểu đi Varsovie mới mang về tặng Bác. Bác giản dị và chân tình. Gặp Bác, tôi không thấy bối rối lo sợ, lúng túng như tôi tưởng tượng; trái lại, tôi có cảm tưởng thân mật như một người con đi xa về gặp cha vậy.

Sau bữa cơm trưa hôm đó, tôi lại được gặp riêng Bác, Bác bảo:

– Bộ đội ta cần rất nhiều thuốc để chữa vết thương, chú phải cố gắng giải quyết vấn đề thuốc. Nghe nói chú biết làm Penicilline. Chú có kế hoạch gì không?

– Dạ có. Tôi rút trong túi ra một bản kế hoạch đã chuẩn bị sẵn với sự tham gia ý kiến của Bác sĩ Tùng và Bác sĩ Di. Trong kế hoạch có đề ra việc thành lập một Phòng nghiên cứu Trung ương. Phòng ấy sẽ chỉ huy một số Phòng nghiên cứu ở địa phương. Các phòng địa phương sẽ huấn luyện và cung cấp nhân viên làm nước lọc Penicilline cho các trạm phẫu thuật ở tiền tuyến.

Bác chăm chú nghe tôi trình bày. Nghe xong, Bác chỉ tay vào đoạn cuối cùng, phần huấn luyện của bản kế hoạch và bảo:

– Chú nên chú trọng về phần này, phần này phải làm trước. Chú phải huấn luyện cho nhiều y tá đi phục vụ ngay cho tiền tuyến. Các phòng thí nghiệm cũng cần thiết, nhưng chú sẽ có thì giờ làm sau, chú cần bao nhiều thời gian để huấn luyện một y tá có thể làm được Penicilline?”.

– Thưa Bác, chừng một tháng. Tôi trả lời.

– Thôi, cứ cho là 3 tháng, cho rộng rãi. Còn vật liệu, chú cần những gì?

– Thưa Bác, cần nhất là chai, lọ; nếu có thì chai bẹt càng tốt; nếu không tạm dùng chai tròn cũng được, nhưng phải có hàng nghìn chai mới sản xuất kịp.

Bác liền cho mời đồng chí Hoàng Quốc Việt, Chủ tịch Tổng Công đoàn; Ông Nguyễn Văn Huyên, Bộ trưởng Bộ Giáo dục; Ông Vũ Văn Cẩn, Cục trưởng Cục Quân y và Ông Lê Văn Hiến, Bộ trưởng Bộ Tài chính tới. Bác nhắc các vị ấy giúp đỡ tôi để công tác chung có hiệu quả.

Giáo sư kể tiếp “… Trên đường về, tôi ôn lại những lời Bác dạy. Tôi hơi tiếc vì Bác dạy chưa nên tổ chức Phòng nghiên cứu Trung ương vội, chỉ đào tạo cán bộ làm nước lọc Penicilline. Tôi tự nghĩ nếu có nghiên cứu mới thích thú, mới phát hiện được cái mới, chứ đào tạo cán bộ làm nước lọc Penicilline thì dễ quá. Nhưng tôi lại nghĩ lại, nếu tôi muốn nghiên cứu cao xa thì ở lại ngay Nhật Bản mà nghiên cứu, chứ đã về với kháng chiến thì tất nhiên phải góp phần vào kháng chiến, đưa sự hiểu biết của mình ra phục vụ cho bộ đội, cho nhân dân. Tôi lại kiểm điểm lại công việc tôi đã làm ở Liên khu IV, kiểm điểm lại chủ trương làm Penicilline bột với điều kiện kháng chiến khó khăn, phức tạp; nhưng không thực sự phục vụ trước mắt. Nếu có làm ra bột Penicilline, số lượng sản xuất trong một tháng có thể không đủ để chữa bệnh cho một người; vả lại Penicilline bột làm trong điều kiện kháng chiến chỉ là Penicilline vàng, nếu không có tủ lạnh thì không giữ được lâu. Như vậy sản xuất Penicilline ấy chẳng có ích lợi gì cho kháng chiến.

P2Bác sĩ Đặng Văn Ngữ giới thiệu kết quả kiểm tra nước lọc Penicilline với Bác sĩ,
Bộ trưởng Bộ Y  tế Hoàng Tích Trí tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang, năm 1952.

Tôi thấy rõ tôi mới ở ngoại quốc về mà được Bác giao cho nhiệm vụ như thế, thực tế hợp với khả năng của tôi và cũng là một vinh dự vô cùng to lớn. Bắt tay vào việc, mới thấy rằng không phải nghiên cứu gì cao xa, chỉ nghiên cứu làm được nước lọc Penicilline với điều kiện kháng chiến cũng là một vấn đề rất khó khăn, phức tạp. Về đến nhà, mở gói nấm để làm Penicilline ra xem lại thì thấy nấm không còn công hiệu nữa, những nấm khác ở ngoài đã lẫn lộn vào. Thật là một sự bất ngờ và rất đau đớn cho tôi. Trước khi đi tôi đã chú ý để giống nấm vào phòng sạch sẽ nhất ở Việt Bắc, là phòng mổ của Anh Tùng, thế mà vẫn bị tạp nấm rơi vào. Có người bảo ở Việt Nam nhiều tạp nấm lắm, nên không nghiên cứu về nấm được. Ngay ở Viện Pasteur có đủ phương tiện như vậy, bọn Pháp cũng không đặt vấn đề nghiên cứu nấm được, huống là ở Việt Bắc. Nhưng tôi đã hứa với Bác, đã có sự giúp đỡ của Chính phủ, và tôi tin tưởng ở sự tận tâm góp sức của các anh em đang làm việc với tôi lúc ấy. Chính vì vậy tôi đã quyết tâm loại cho kỳ được tạp nấm đã lẫn vào ống nấm Penicilline.

Giọng Giáo sư trầm hẳn xuống: “Ôn lại quãng đời của tôi, tôi chưa có khi nào lo lắng, và chưa có khi nào tôi thấy một cách rõ rệt trách nhiệm của tôi đối với công tác nghiên cứu bằng lúc này. Hồ Chủ tịch và Chính phủ đang hàng ngày, hàng giờ mong đợi kết quả của tôi, hàng nghìn thương binh, bệnh binh đang chờ nước lọc Penicilline”.

Giáo sư xót xa: “Ngày ngày tôi cấy hàng trăm cái nấm lấy ở ống giống ra để thử với vi trùng, nhưng ngày nào cũng như ngày nào, vi trùng đều mọc quanh cái nấm; chứng tỏ rằng nấm không còn tác dụng chống vi trùng nữa. Ròng rã suốt ba tuần lễ, tối nào trước khi đi ngủ cũng đầy hy vọng, mong chóng sáng để đọc kết quả thử nấm. Nhưng đến sáng lấy nấm ở tủ ấm ra xem thì lại thất vọng. Ở Nhật Bản, tôi đã bao nhiêu lần làm tinh khiết nấm và còn tinh khiết những nấm khó hơn nhưng không bao giờ bị thất bại cả; tôi nghĩ vẫn không thấy vì sao về Việt Nam lại thất bại. Các nấm mà tôi đã mất bao nhiêu công trình đưa từ Nhật Bản về đến Bangkok rồi đưa lên Việt Bắc, các nấm ấy bây giờ không còn giá trị nữa chăng? Bao nhiêu hy vọng phục vụ bộ đội được xây dựng trên ống nghiệm này sẽ tiêu tan cả chăng? Đã nhiều lần, tôi sắp viết thư lên báo cáo với Bác Hồ là nấm đã hỏng và chịu tội với Bác. Nhưng tôi nghĩ không thể làm như thế được. Tôi đã hứa với Bác, với các vị Bộ trưởng; nhất định tôi phải làm kỳ được.

Đêm đến, vấn đề nấm đeo đuổi tôi mãi không ngủ được. Một hôm tôi ngủ dậy vào lúc 3 giờ sáng, lấy nấm ra xem … Lúc này, gương mặt Giáo sư như bừng sáng. Giáo sư kể tiếp: “Tôi mừng đến trào nước mắt khi thấy tất cả các con nấm đều có công hiệu, vi trùng không con nào mọc được gần nấm cả. Bấy giờ tôi mới hiểu ra lý do thất bại của mình. Vì tủ ấm của tôi chỉ là một cái thùng sắt có đốt ngọn đèn dầu nhiệt độ không đủ, nấm lại bị lẫn với tạp nấm khác nên chỉ tác dụng trên vi trùng trong một thời gian ngắn, đến sau vi trùng mọc mạnh dần thì nấm không còn chống lại được nữa. Như thế là nấm chưa hoàn toàn mất, và lúc ấy tôi nắm được quy luật tác dụng của nấm trên vi trùng trong điều kiện tủ ấm của tôi. Nhất định thế nào cũng loại được tạp nấm ra, tôi theo dõi nấm mọc hàng giờ trong một đêm, một ngày. Sau một tuần lễ, tôi đã được nấm tốt trở lại, mạnh như cũ.

Xong giống nấm thì tôi nhận được 20 anh em y tá ở Quân y Cục gửi sang học làm nước lọc Penicilline. Cùng đi theo để học và để giúp đỡ các anh em y tá học tập có hai anh em sinh viên dược khoa là anh Tiến và anh Thiều. Tất cả đều chưa biết một tí gì về kỹ thuật nuôi cấy vi trùng và nấm. Nhưng tất cả đều có một lòng hăng hái vô cùng mãnh liệt. Sau một tuần lễ, anh em đã nắm được kỹ thuật căn bản và tôi đã chuyển dần anh em vào công tác nghiên cứu. Vấn đề nghiên cứu lúc bấy giờ là tìm một thứ nước để nuôi nấm. Nấm nuôi ở nước ấy phải nhả nhiều Penicilline và nước nuôi nấm ấy phải là một thứ nước dễ làm, để các anh em y tá có khả năng làm được và phải dùng nguyên liệu sẵn có trong nước.

Sau khi tìm ra được một thứ nước nuôi nấm rất tốt và rất rẻ tiền là nước thân ngô. Nguyên liệu dùng là thân ngô, sau khi đã bẻ bắp và trẩy hết lá. Nguyên liệu ấy ở đâu cũng tìm thấy và hoàn toàn không mất tiền mua. Những khó khăn về kỹ thuật đã được giải quyết xong. Nhưng còn một vấn đề cần bàn, cần giải quyết nữa mới thực hiện được chương trình; đó là vấn đề chai, lọ. Theo chỉ thị của Bác, Tổng Liên đoàn Lao động tích cực giúp đỡ vấn đề này, các Xưởng Thủy tinh đều cố gắng thổi nhiều chai bẹt để sản xuất Penicilline. Tôi đã gửi mẫu chai bẹt đi nhiều nơi. Sau ba tháng, nơi nào cũng có báo cáo là chưa làm được. Các xưởng thủy tinh đang vấp phải một khó khăn về khuôn để thổi chai. Khuôn thổi chai là một cái khuôn gồm hai mảnh bằng gang. Các xưởng đã thử rất nhiều khuôn nhưng không có gang tốt nên chỉ thổi vài lần là khuôn lại vỡ.

Chiến dịch Biên giới 1950 đã đến mà vẫn chưa có một chai bẹt nào cả. Tất cả các anh em đã học xong, chỉ còn có chai bẹt nữa là có thể ra phục vụ ngay được. Một ngày chậm là hàng trăm thương binh không có thuốc. Tôi họp anh em y tá lại và đưa vấn đề ra bàn. Tôi nói: “Anh em công nhân ở xưởng thủy tinh đã cố gắng nhiều mà chưa làm được chai bẹt, nếu ta giải thích cho anh em biết công dụng của chai bẹt trong việc sản xuất Penicilline, nhất định anh em sẽ phát huy sáng kiến và giải quyết được vấn đề”. Tôi cử một anh xuống Xưởng Thủy tinh của Cục Quân y trực tiếp trình bày vấn đề cho anh em công nhân. Quả nhiên sau khi thảo luận sôi nổi, anh em công nhân Xưởng Thủy tinh đã có sáng kiến xếp gạch thành khuôn và thổi được chai.

Suốt ba ngày Tết Nguyên đán, anh em thổi chai không nghỉ, và đến mùng 8 Tết, anh em thổi được 800 chai mới. Đây là một bài học mà tôi luôn luôn nhớ, nêu rõ khả năng vô tận của giai cấp công nhân. Các anh em đã thực hiện khâu cuối cùng trong công tác làm nước lọc Penicilline, một khâu mà tôi không làm được vì tôi phải ở xa và rất xa tiền tuyến để huấn luyện cán bộ và nghiên cứu thêm để cải tiến phương pháp. Nước lọc Penicilline được đưa ra phục vụ cho thương binh một cách rộng rãi với những kết quả tốt đẹp là nhờ Cục Quân y đã giúp đỡ nhiều để tổ chức các Trạm Sản xuất được nước lọc Penicilline, nhờ các đồng nghiệp ở các Phân Viện trong khi dùng nước lọc Penicilline đã tận tình theo dõi thương bệnh binh, nhận xét tỷ mỷ kết quả của nước lọc Penicilline trên các loại vết thương. Nhưng căn bản là nhờ sự tận tâm phục vụ của anh em y tá phụ trách sản xuất nước lọc Penicilline. Có anh đã có sáng kiến viết những tài liệu nhỏ để phổ biến công hiệu và cách sử dụng nước lọc Penicilline để phối hợp với các y sĩ đem ra phổ biến cho đơn vị, có anh đã đào tạo ngay tại chỗ cho anh em y tá khác để nhân thêm nhiều những Trạm Sản xuất nước lọc Penicilline.

P tong hop

Nước lọc Penicilline đã đem lại những kết quả rất tốt đẹp, giúp ta giải quyết khó khăn về khan hiếm thuốc trong lúc biên giới chưa mở rộng và trong lúc địch tăng cường bao vây ta, đặc biệt bao vây về phương diện thuốc men. Có bác sĩ quân y đã tuyên bố: “Lần này chúng tôi không lo sợ về số thương binh đưa về nhiều, vì chúng tôi đã có nước lọc Penicilline thừa dùng để chữa cho thương binh”. Các Bác sĩ Đỗ Xuân Hợp, Hữu Chánh nhận thấy nước lọc Penicilline so với Sulfamide thì công hiệu hơn hẳn. Trong Chiến dịch Lý Thường Kiệt ở Nghĩa Lộ và Yên Bái, báo cáo của xưởng XFI cho rằng 80% thương binh đã trở về đơn vị sau khi dùng nước lọc Penicilline. Những vết thương trước phải điều trị lâu, ngày nay thời gian điều trị rút ngắn hơn. Có nhiều trường hợp so với trước thì rất dễ phải cưa tay, cưa chân; nhưng dùng nước lọc Penicilline không những vết thương lành liền mà còn làm cho thương bệnh binh chóng khỏi …

Mới đó mà đã 45 năm (1/4/1967 – 1/4/2012), kể từ ngày Cố Giáo sư Bác sĩ Đặng Văn Ngữ cùng một số anh chị em đồng nghiệp đã khác hy sinh trên chiến trường Thừa Thiên Huế tại chiến khu Hòa Mỹ, nay thuộc xã Phong Mỹ, huyện Phong Điền khi đang ôm ấp hoài bão nghiên cứu vaccine chống sốt rét. Giáo sư đã ra đi nhưng sự nghiệp của Giáo sư vẫn còn sống mãi trong chúng ta, những người đang kế tục xuất sắc sự nghiệp phòng chống sốt rét hiện nay.

Theo Trang tin điện tử Viện sốt rét ký sinh trùng – Côn trùng Quy nhơn.

Phương Thúy (st)
bqllang.gov.vn