Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Những kỷ niệm, những bài học không quên từ Người

“Tôi có diễm phúc nhiều lần được gặp Bác, thậm chí có những lần được trực tiếp phục vụ Bác trong một số hoạt động đối ngoại. Mỗi lần như vậy đều để lại trong tôi những kỷ niệm và những bài học nhớ mãi không quên”.

Đồng chí Vũ Khoan, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ bồi hồi nhớ lại những kỷ niệm thiêng liêng về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

44Bác Hồ với thiếu nhi quốc tế

Tấm lòng chân thành từ những món quà nhỏ

Lúc nào Bác cũng sống giản dị, chắt chiu từng đồng của nhân dân, của đất nước. Ngoài vài lần dẫn đầu các đoàn đại biểu đi thăm chính thức nước ngoài, còn hầu hết các chuyến thăm và làm việc khác của Người, không bao giờ Bác dùng chuyên cơ. Bác chỉ đi máy bay dân hàng.

Đi theo người cũng chỉ có vài ba người, anh Vũ Kỳ là thư ký của Bác kiêm luôn cần vụ. Trong va li của Bác chỉ có độc một bộ quần áo dạ, còn hàng ngày Bác vẫn mặc quần áo ka ki bạc mầu như chúng ta thường thấy.

Thường thường, trong mỗi chuyến thăm, Bác chuẩn bị quà biếu lãnh đạo nước bạn là hoa quả trồng trong vườn Bác như cam, nhãn, bưởi.

Tôi nhớ có lần trước khi rời nhà khách của bạn, Bác bảo tôi biếu các cô phục vụ những hộp thuốc lá Bác đã hút hết bằng bìa cứng rất đẹp để các cô đựng kim chỉ.

Tôi buột miệng thưa với Bác, ở nước bạn thiếu gì hộp kim chỉ, Bác ôn tồn rằng, Bác cũng biết vậy nhưng đây là tấm lòng của Bác, giá trị của những hộp thuốc lá là ở chỗ đó.

Điều đặc biệt trong những chuyến làm việc tại nước ngoài là quà của các địa phương nước sở tại biếu Bác nhưng khi rời sân bay biên giới, Bác nhờ chuyển lại cho lãnh đạo nước bạn chứ không mang về.

Bác thường bao giờ cũng nghĩ tới người khác trước mà ít khi lo cho mình. Khi ở nhà khách chúng tôi cứ thấy Bác tự giặt quần áo lót, khăn mùi xoa. Anh em đi cùng xin với Bác để họ giặt hoặc gửi lại phục vụ nhà khách nhưng Bác không chịu.

Có một chuyện in dấu ấn trong tôi tới tận bây giờ. Ở nhà khách của bạn, tới bữa ăn họ bày la liệt đồ ăn, thức uống trên bàn. Vốn còn trẻ, ăn khỏe, tôi gắp hết món này đến món kia để ăn.

Bác liền khẽ nhắc: “Cháu ăn món nào thì ăn hết món ấy, đừng để thừa cho người khác”. Từ đó tôi cứ chọn những món mình ưa thích, ăn hết rồi mới chuyển sang món khác.

Trong những bữa tiệc đứng, không bao giờ Bác để cho nhân viên nhà khách phục vụ đồ nóng mà yêu cầu để trên mặt bàn, ai ăn tự ra lấy và khi ăn xong tự mang bát đĩa xuống bếp.

Cách hành xử của Bác rất tự nhiên, thấy vậy, ngay các nhà lãnh đạo cấp cao của nước bạn cũng vui vẻ làm theo.

Không được dạy đời

Bác luôn luôn rất chu đáo từ việc nhỏ trở đi. Một lần đi theo Bác tiếp khách ở Phủ Chủ tịch, đang đi chúng tôi ngạc nhiên khi thấy Bác lấy ngón tay quệt vào bậu cửa sổ xem còn bụi bẩn không!

Là một nhà lãnh đạo tầm cỡ quốc tế, một chiến sĩ lão thành trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nhưng Bác luôn khiêm tốn.

Một lần chuẩn bị đón đoàn đại biểu cấp cao của nước bạn sang thăm, trong đề cương hội đàm do anh em chuẩn bị có những câu, những đoạn hơi cao giọng, Bác bèn ghi bên cạnh: “Không được dạy đời!” và tự tay sửa lại câu từ cho khiêm tốn, dễ nghe.

Trong giao tiếp Bác luôn ứng xử vừa có lý, vừa có tình –  đó cũng là một phương châm Bác để lại trong Di chúc khi Bác đi xa. Tôi nhớ mãi lần Đoàn đại biểu cấp cao của một nước bạn sang thăm nước ta.

Trên đường đưa đoàn đại biểu về thăm địa phương, anh em đoàn phục vụ đã có hành vi sơ suất làm cho vị Trưởng đoàn phật ý. Sáng sớm hôm sau, tôi trực ở Nhà khách 12 Ngô Quyền bỗng thấy Bác đi tới.

Bác bảo tôi báo cho ông bà Trưởng đoàn biết. Do Bác tới sớm quá nên vị khách chưa kịp thay quần áo, ông Trưởng đoàn chỉ kịp quấn khăn tắm quanh người, còn bà vợ vẫn mặc áo ngủ.

Bác kéo ghế ra sân thượng ngồi chờ. Ông Trưởng đoàn tỏ ý ái ngại vì từ lúc đặt chân tới Việt Nam chưa kịp lên chào Bác lại để Bác phải tới thăm. Bác ôn tồn mở đầu câu chuyện:

“Phương Đông có câu “nhất tự vi sư, bán tự vi sư” (dạy một chữ hay nửa chữ cũng là thầy), đồng chí đã từng giảng dạy tại trường Đại học Cộng sản Matxcơva, nơi tôi có nghe giảng, vậy đồng chí là thầy, tôi là trò. Trò phải thăm thầy trước là lẽ đương nhiên.

Còn cô ấy (Bác chỉ phu nhân của Trưởng đoàn) là em gái nuôi của tôi khi sống và hoạt động trong Quốc tế cộng sản ở Mátxcơva, lẽ nào tôi không thăm em mình?”.

Thế là mọi sự phiền muộn của ông bà Trưởng đoàn biến mất, thay vào đó là sự chân tình và khâm phục với Bác.

Những mẩu chuyện trên nói lên cách đối nhân xử thế rất nhân ái, khiêm nhường, thu phục lòng người của Bác. Chúng ta hãy cố làm theo Bác từ những việc cụ thể, thiết thực.

Noi theo gương Bác Hồ không thể chỉ trên lý thuyết và trong các cuộc vận động mà phải học, nhất là phải làm suốt đời. Rất mong các bạn trẻ ghi nhớ điều này.

Theo Tiền Phong

Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Ngành Hậu cần Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh làm theo lời Bác dạy

Thấm nhuần lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Công việc cung cấp cũng quan trọng như công việc trực tiếp đánh giặc trước mặt trận. Cung cấp có đủ súng đạn, đủ cơm áo cho bộ đội, thì bộ đội mới đánh thắng trận….. Các chú phải làm thế nào một bát gạo, một đồng tiền, một viên thuốc, một tấc vải phải đi thẳng tới chiến sĩ. Đó là bổn phận của các chú”. Năm 2012, ngành Hậu cần Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện hiệu quả phong trào thi đua “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy”.

Nganh HCBan Chỉ đạo ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy sơ kết năm 2012.

Ngay từ đầu năm, phong trào thi đua “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy” của đơn vị đã quán triệt, triển khai thực hiện đúng chủ trương “Một tập trung” và “Ba khâu đột phá”. Tập trung: “Đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, xây dựng cơ quan, đơn vị hậu cần vững mạnh toàn diện”. Toàn ngành Hậu cần đã làm tốt việc tuyên truyền, giáo dục và tổ chức cho 100% cán bộ, đảng viên đăng ký, giao ước thi đua nêu gương làm theo Bác về tinh thần cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; hết lòng vì công việc, vì bộ đội để phục vụ. Đã tổ chức đăng ký, giao ước chỉ tiêu thi đua và thực hành đúng quy định về quản lý, sử dụng kinh phí, cơ sở vật chất trang bị chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả. Bước “làm theo” tấm gương của Bác được theo dõi, tổng hợp, đánh giá, nhận xét cụ thể thông qua công việc hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, hàng quý của cán bộ, đảng viên, công nhân viên, chiến sỹ. Trong đợt kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI), Đảng ủy và các chi  bộ trong Đảng bộ cơ quan Hậu cần đều nghiêm túc kiểm điểm đánh giá: “Từ năm 2010 đến nay, ngành hậu cần đã có sự chuyển biến tiến bộ về nhận thức tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và năng lực, phương pháp tác phong công tác. Cán bộ, đảng viên trong Ngành đã nêu cao tinh thần phục vụ tận tình chu đáo, văn minh, lịch sự. Không có cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, vi phạm phẩm chất đạo đức lối sống, vi phạm đạo đức nghề nghiệp”.

Nganh HC Nghi le 275Ngành Hậu cần bảo đảm quân phục nghiệp vụ
cho bộ đội thực hiện nghi lễ tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong năm, giá cả lương thực, thực phẩm liên tục tăng cao, ngành Hậu cần đã thực hiện tốt khâu đột phá thứ nhất: “Nâng cao chất lượng bảo đảm ăn, mặc, ở, chăm sóc sức khoẻ bộ đội và vệ sinh môi trường”. Tập trung đầu tư triển khai Dự án DT275 nhằm xây dựng doanh trại chính quy, tu sửa khu vực cơ quan Bộ Tư lệnh và doanh trại Đoàn 275 khang trang, sạch đẹp. Thông qua sự chỉ đạo của Phòng Hậu cần, từng cơ quan, đơn vị đã chủ động triển khai các biện pháp giữ vững chất lượng bữa ăn cho bộ đội, tích cực tăng gia quanh bếp, quanh nhà bảo đảm thực phẩm, rau xanh cho bộ đội. Đoàn 285 đã đảm bảo 100% rau xanh ăn tại bếp. Tất cả 6/6 bếp ăn của các đoàn, Viện 69 và cơ quan Văn phòng đều đạt “Bếp nuôi quân giỏi, quản lý quân nhu tốt”. Đồng thời quan tâm xây dựng và quản lý doanh trại “chính quy, xanh, sạch, đẹp”, triển khai trồng nhiều cây ăn quả, cây leo giàn, cây lấy gỗ, tạo cảnh quan môi trường. Đoàn 195, Đoàn 595 đã động viên mọi người đóng góp kinh phí, cây cảnh, xây dựng giàn hoa lan ở doanh trại. Công tác chăm sóc, bảo đảm sức khoẻ cho bộ đội luôn được quan tâm chu đáo. Cán bộ, nhân viên quân y các đơn vị đã quán triệt, thực hiện đúng tiêu chuẩn “Đơn vị Quân y 5 tốt”, chủ động thực hiện chu đáo các khâu, các bước phòng bệnh, phát hiện bệnh, điều trị bệnh và gửi lên tuyến trên kịp thời, không để xảy ra dịch bệnh, hoặc ngộ độc thức ăn, bảo đảm quân số khoẻ đạt 99,54%.

Thực hiện chủ trương tiết kiệm của Bộ Tư lệnh, ngành Hậu cần đã tích cực triển khai khâu đột phá thứ hai: “Thực hành tiết kiệm; chống tham ô lãng phí; chấp hành nghiêm chế độ, tiêu chuẩn bảo đảm hậu cần” gắn liền với các biện pháp “Xây dựng đơn vị quản lý tài chính tốt”; thực hiện tốt công tác quản lý, sử dụng cơ sở vật chất hậu cần, tài chính; thực hành tiết kiệm điện, nước, điện thoại. Các ngành thường xuyên duy trì nề nếp, chế độ công tác quản lý, sử dụng cơ sở vật chất, kinh phí hậu cần, quỹ phúc lợi chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả. Đã ứng dụng đưa 2 bếp ở Đoàn 275 và Đoàn 285 từ đun than chuyển sang bếp cấp nhiệt lò hơi cơ khí, tiết kiệm được hơn 147 triệu đồng đưa vào cải thiện bữa ăn bộ đội; triển khai các biện pháp tiết kiệm điện, nước gần 160 triệu đồng; tiết kiệm xăng dầu theo quy định được gần 190 triệu đồng. Song song với thực hành tiết kiệm, đơn vị đã đẩy mạnh tăng gia sản xuất tập trung ở khu vực K84 và tận dụng mặt bằng, khai thác dịch vụ ở hầu hết các cơ quan, đơn vị hiệu quả, phục vụ công tác chính sách hậu phương quân đội, đạt bình quân 1.550.000đ/người/năm, vượt 93% so với năm 2011.

Nganh HC Tang gia 285Công tác tăng gia sản xuất tại Đoàn 285

Khâu đột phá thứ ba được toàn ngành đã thực hiện tốt là: “Đẩy mạnh cải cách hành chính; duy trì nề nếp chính quy công tác hậu cần, bảo đảm an toàn giao thông”. Ngành Hậu cần đã đi đầu trong việc đổi mới phương pháp tác phong công tác, làm việc theo kế hoạch; tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, bám sát cơ sở, bám vào nhiệm vụ và các hoạt động của bộ đội, tránh chồng chéo, gây rối bận. Hàng tuần đều có cán bộ, nhân viên hậu cần đi chỉ đạo, giúp đỡ cơ sở. Hàng quý đều sơ kết, đánh giá, chấm điểm thi đua Ngành Hậu cần đối với từng cơ quan, đơn vị, kịp thời biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có nhiều nỗ lực cố gắng trong công tác. Trong năm, Thủ trưởng Bộ Tư lệnh đã biểu dương, khen thưởng 2 tập thể, 8 lượt cá nhân tiêu biểu trong ngành Hậu cần; đề nghị Thủ trưởng Bộ Quốc phòng tặng Bằng khen “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy” và “Đơn vị Quân y 5 tốt” cho Đoàn 275.

Năm 2012, phong trào thi đua “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy” đã trở thành mục tiêu, động lực thúc đẩy mỗi cán bộ, nhân viên, chiến sỹ ngành Hậu cần ra sức thi đua làm theo lời Bác bằng cả nhiệt huyết từ trái tim mình. Từ những việc làm bình dị của những chiến sỹ quân y, quân trang, nuôi quân, tài chính, kế toán, thủ kho, doanh trại….đã góp phần xây dựng ngành Hậu cần của đơn vị ngày càng vững mạnh, góp phần vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và phát huy ý nghĩa chính trị, văn hoá của Công trình Lăng trong giai đoạn mới. Đúng như kết luận của đồng chí Đại tá Phạm Văn Lập – Phó Tư lệnh, Trưởng ban Ban Chỉ đạo phong trào thi đua “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy” của Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị sơ kết năm 2012: “Phong trào thi đua ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy trong đơn vị đã tạo sự chuyển biến toàn diện cả về nhận thức, trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chỉ huy các cấp và năng lực tiến hành của đội ngũ cán bộ, nhân viên, chiến sỹ ngành Hậu cần. Công tác hậu cần đã phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị, bảo đảm đầy đủ, kịp thời chế độ tiêu chuẩn ăn, ở, mặc, chăm sóc sức khoẻ bộ đội; cải tạo, sửa chữa doanh trại khang trang, sạch đẹp; tích cực tăng gia, sản xuất, khai thác dịch vụ hiệu quả, trực tiếp góp phần hoàn thành nhiệm vụ chung của đơn vị”./.

Hữu Mạnh, Ngọc Hà
bqllang.gov.vn

Chuyến viếng thăm Lăng Bác của vị khách đặc biệt từ Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào

Sáng 25/11/2012, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được đón một vị khách đặc biệt tới viếng Bác. Đó là Hòa thượng Phoong Xả Ma Lợt, Chủ tịch Liên minh Phật giáo Lào. Năm nay, Hòa thượng đã trên trăm tuổi. Theo lời mời của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hòa thượng sang dự Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VII. Nhân dịp này, Hòa thượng bày tỏ tâm nguyện được vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cùng đi với Hòa thượng có Đoàn đại biểu của Liên minh Phật giáo Lào. Thay mặt đơn vị, Đại tá Nguyễn Văn Thanh, Phó Chánh Văn phòng đã tiếp Đoàn.

hoa thuong lao a3Đại tá Nguyễn Văn Thanh đón tiếp Đoàn

hao thuong Lao a2Hòa thượng Phoong Xả Ma Lợt, Chủ tịch Liên minh Phật giáo Lào vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ CHí Minh

Do tuổi cao, phải ngồi xe lăn, song với gương mặt phúc hậu, ánh mắt nhìn ấm áp và nụ cười hiền từ, Hòa thượng mang đến cho tất cả chúng tôi cảm giác gần gũi, thân thiết khi được tiếp xúc trò chuyện. Giọng nói trầm ấm, Hòa thượng kể đã nhiều lần được gặp Bác Hồ trong thời gian Bác hoạt động cách mạng tại Lào và Thái Lan. Tận đáy lòng, Hòa thượng luôn giữ mãi kỷ niệm sâu sắc về lần đầu tiên được gặp Bác tại tỉnh Udon, Thái Lan cùng với các đồng chí lãnh đạo Lào và được nghe Bác tuyên truyền vận động về đường lối đấu tranh giành độc lập cho ba nước Đông Dương. Hòa thượng khắc sâu lời Bác dạy: Lào, Việt Nam, Campuchia phải luôn sát cánh bên nhau trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, giải phóng dân tộc, giữ trọn lãnh thổ. Ghi nhớ lời Bác, Hòa thượng đã rất tích cực tham gia vào phong trào cách mạng tại Lào và có nhiều đóng góp to lớn xây dựng Liên minh Phật giáo Lào.

Ánh mắt nhìn xa xăm đầy hoài niệm, dáng điệu trầm tư trong hồi tưởng, Hòa thượng chậm rãi nói, sang Việt Nam lần này, Hòa thượng mong được vào viếng Bác như người con lâu ngày mong được về thăm cha.

Đồng chí Nguyễn Văn Thanh đã bày tỏ sự xúc động và vinh dự được đón tiếp Hòa thượng tại Ban Quản lý Lăng. Đồng chí đã giới thiệu với Hòa thượng về nhiệm vụ giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và hơn 40 năm qua thi hài Bác vẫn luôn được giữ gìn ở trạng thái tốt nhất để nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế được đến với Người. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn đang tỏa sáng và được đời đời con cháu học tập và làm theo, trong đó có sự kế thừa và phát huy truyền thống hữu nghị thủy chung lâu đời giữa hai nước Việt Nam, Lào, như Bác Hồ đã từng nói:

Việt – Lào hai nước chúng ta
Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long.

Đồng chí Nguyễn Văn Thanh đã tặng Hòa thượng và các thành viên trong Đoàn huy hiệu Bác Hồ và tấm ảnh Bác, chúc Hòa thượng sức khỏe và tuổi thọ, tiếp tục có những đóng góp quý báu cho tình hữu nghị Việt – Lào. Nâng niu tấm hình Bác trên tay, Hòa thượng nghẹn ngào nói: Không chỉ riêng tôi mà Đảng và nhân dân Lào đều tôn kính Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người là vị cha chung của dân tộc Việt Nam và Lào.

hoa thuong lao a1Đại lão Hòa thượng viết cảm tưởng về chuyến viếng thăm Lăng Bác

Kết thúc buổi gặp mặt, Hòa thượng đã rất xúc động tự tay viết lên những dòng cảm tưởng trong chuyến viếng thăm Lăng Bác lần này. “Thay mặt Đoàn Liên minh Phật giáo Lào tới đất nước Việt Nam dự Đại hội Đại biểu Phật giáo và được đến thăm Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi rất xúc động. Trong đời, tôi đã từng được gặp Bác Hồ và nay lại được đến viếng thăm Người, tôi luôn cầu nguyện cho Người được yên nghỉ trong an lạc”.

Chuyến viếng thăm đặc biệt của Đại lão Hòa thượng Phoong Xả Ma Lợt càng khẳng định tầm vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất, không chỉ đối với nhân dân Việt Nam, mà còn đối với nhân dân toàn thế giới./.

Bùi Thu Nga
bqllang.gov.vn

Đoàn đại biểu đồng bào Công giáo Thủ đô đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sáng 28/11/2012, Đoàn đại biểu tham dự Đại hội đại biểu những người Công giáo Thủ đô xây dựng và bảo vệ Tổ quốc lần thứ VI nhiệm kỳ 2012-2017 đã đến đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Đồng bào Công giáo Thủ đô đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”.

Dai hoi Cong giao 2012Đoàn đại biểu vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đại hội sẽ được tổ chức trong hai ngày 27- 28/11/2012. Đây là dịp Ủy ban Đoàn kết Công giáo Hà Nội tổng kết hoạt động nhiệm kỳ 2007-2012 và phong trào thi đua yêu nước của đồng bào công giáo Thủ đô trong 5 năm qua; xác định nhiệm vụ trọng tâm trong 5 năm tới; thảo luận và đóng góp vào dự thảo Điều lệ sửa đổi; hiệp thương bầu Ủy ban Đoàn kết Công giáo Hà Nội lần thứ VI, nhiệm kỳ 2012-2017… Nội dung trọng tâm nhiệm kỳ tới là tiếp tục đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trong giới Công giáo Thủ đô như phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa mới ở khu dân cư, sống tốt đời đẹp đạo”; “Mỗi người Công giáo Thủ đô là một công dân tốt”, tham gia tích cực vào xây dựng nông thôn mới, thực hiện nếp sống văn minh và đền ơn đáp nghĩa.

Trong nhiệm kỳ 2012-1017, Ủy ban Đoàn kết Công giáo Hà Nội sẽ xem xét kiến nghị Ủy ban Đoàn kết công giáo Việt Nam quyết định công nhận các Ban Đoàn kết Công giáo ở 28 quận, huyện, thị; quy tụ những doanh nhân, trí thức Công giáo sinh hoạt chung theo chuyên đề để giúp nhau sản xuất, kinh doanh, bồi dưỡng tri thức và củng cố đức tin.

Ông Phạm Huy Thông, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban Đoàn kết Công giáo thành phố Hà Nội, cho biết: “Đại hội lần thứ VI tiếp tục củng cố, đổi mới và hiệp thông. Củng cố tổ chức của Ủy ban Đoàn kết Công giáo thành phố Hà Nội, củng cố những thành tựu mà nhiệm kỳ trước đã đạt được. Chúng tôi tiếp tục đổi mới về nhân sự, trẻ trung hơn, có trình độ văn hóa hơn, có uy tín cả trong đạo và đời. Cùng với đó là đổi mới về phương thức hoạt động, như tổ chức giao lưu công tác với các đơn vị bạn để có thể học tập kinh nghiệm lẫn nhau…”./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo quan niệm của Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài, người sáng lập ra Đảng ta. Trong quá trình rèn luyện, dẫn dắt Đảng ta lãnh đạo phong trào cách mạng, Người rất quan tâm đến việc truyền bá, giảng dạy và học tập lý luận. Ngay từ ngày đầu của phong trào cách mạng, Hồ Chí Minh đã khẳng định: Không có lý luận cách mạng thì không có cách mạng vận động… Việc học tập chủ nghĩa, dùi mài tư tưởng, nâng cao lý luận… là những việc cần kíp của Đảng. Vì vậy, giảng dạy và học tập lý luận là nhiệm vụ rất quan trọng đối với cách mạng.

Hồ Chí Minh là người đầu tiên của nước ta quan tâm tới lý luận cách mạng và thực hành kiên trì, bền bỉ việc giáo dục lý luận chính trị cho các thế hệ người Việt Nam yêu nước. Người đã để lại cho cách mạng Việt Nam cả một di sản to lớn về giáo dục lý luận chính trị. Đó là cả một hệ thống quan điểm của Người về khái niệm giáo dục chính trị, về vị trí và mục đích của giáo dục lý luận chính trị, cũng như về nội dung, phương châm, phương pháp giáo dục lý luận chính trị.

Nói về phương pháp dạy và học lý luận chính trị Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu một số phương pháp cơ bản, chủ yếu như sau:

Thứ nhất, dạy và học lý luận chính trị phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học, phải biết tự động học tập, phải lấy tự học làm cốt.

Hồ Chí Minh đề cao vấn đề tự học trong công tác giáo dục lý luận chính trị. Người cho rằng: Học tập ở trường của đoàn thể không phải như học ở các trường lối cũ, không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa. Phải biết tự động học tập. Phải giành nhiều thời gian cho khâu tự học của học viên, bao gồm tự nghiên cứu làm đề cương, thảo luận, tranh luận… theo sự hướng dẫn của giáo viên.

Như vậy, bằng phương pháp này của Hồ Chí Minh nếu được thực hiện tốt ở các trường Chính trị nói chung, Trường Chính trị Hậu Giang nói riêng thì sẽ chuyển từ phương pháp cũ, từ cách truyền thụ kiến thức một chiều – thầy giảng, trò ghi, sang cách tổ chức quá trình nhận thức năng động của người học. Người học và người dạy cùng làm việc trên lớp, trong thảo luận hoặc người học tự làm việc theo hướng dẫn của giảng viên.

Thực hiện phương pháp này bắt buộc người học phải chuẩn bị kỹ nội dung qua các khâu học tập trên cơ sở giáo trình, giáo khoa và tài liệu tham khảo có liên quan. Người nói: phải khiêm tốn, thật thà trong học tập, cái gì biết thì nói biết, không biết thì nói là không biết. Kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập. Mặt khác cũng phải tự nguyện, tự giác, xem công tác học tập cũng là một nhiệm vụ mà người cán bộ phải hoàn thành cho được… nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng, không lùi bước trước bất kỳ khó khăn nào trong việc học tập.

Thực hiện phương pháp này cũng đòi hỏi người giảng viên phải có sự đầu tư và chuẩn bị thật chu đáo từ khâu soạn bài giảng, thực hiện bài giảng, thảo luận… Đồng thời, người giảng viên phải không ngừng cập nhật, bổ sung kiến thức về lý luận cũng như thực tiễn để không ngừng nâng cao tri thức của người thầy. Như vậy mới có thể “biết mười dạy một” mà những điều dạy đó lại phải là kết quả của sự chọn lọc, gợi mở hướng dẫn cho học viên biết tự động học tập nâng cao hiểu biết. Người dạy: Trong khi giảng dạy cần phải khơi dậy tính chủ động của người học. Đặc biệt là gợi ý để trao đổi những kinh nghiệm công tác (cả kinh nghiệm thành công cũng như kinh nghiệm thất bại), từ đó gom lại thành bài học quý. Bởi vì mỗi cán bộ ở các lĩnh vực công tác khác nhau đều có những bài học kinh nghiệm bổ ích, nếu biết tập hợp lại và đem ra trao đổi sẽ làm cho hiệu quả công tác của các đồng chí khác cao hơn, tránh những sai lầm đã gặp phải.

Hai là, trong dạy và học lý luận chính trị, phải thực hành phương pháp “nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng”

Đối với phương pháp này Người yêu cầu người học cần phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng. Phải đào sâu hiểu kỹ, không tin một cách mù quáng từng câu một trong sách, có vấn đề chưa thông thì mạnh dạn đề ra và thảo luận cho vỡ lẽ. Đối với bất cứ vấn đề gì cần phải đặt câu hỏi Vì sao?  đều phải suy nghĩ kỹ càng xem nó có hợp với thực tế không, có thật là đúng lý không, tuyêt đối không nên nhắm mắt tuân theo sách vở một cách xuôi chiều. Chỉ có như vậy mới tránh được bệnh giáo điều và việc học mới có ích cho cách mạng.

Đối với người dạy Hồ Chí Minh cho rằng, không phải ai cũng làm công tác huấn luyện được, muốn huấn luyện được người khác phải làm kiểu mẫu về mọi mặt: tư tưởng, đạo đức, lối làm việc… Về chuyên môn, để trở thành người huấn luyện lý luận giỏi thì người dạy phải nắm chắc lý luận trong giảng dạy cần xác định nội dung cốt lõi, nội dung chính, trọng tâm cần nắm vững và vận dụng; có như vậy mới khắc phục được tình trạng phiến diện chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng, tình trạng chung chung, đại khái, chỉ biết rừng mà không biết các loại cây cụ thể. Đồng thời trong huấn luyện phải chú ý vào rèn  phương pháp, kỹ năng, tạo cho người học nắm được bản chất linh hồn của các quan điểm lý luận, có thể độc lập, tự chủ xử trí đúng công việc trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Ba là, công tác giáo dục lý luận chính trị phải thiết thực, cụ thể, phù hợp với đối tượng, với thực tiễn.

Hồ Chí Minh cho rằng công tác giảng dạy phải xuất phát từ tình hình cụ thể của đất nước, của địa phương phù hợp với từng đối tượng cán bộ công tác ở cơ quan, ban ngành cấp tỉnh, cấp huyện, thị… Theo Người, việc huấn luyện cốt yếu ở thiết thực, chu đáo hơn tham nhiều. Việc cốt yếu là phải làm cho người đọc thấu hiểu vấn đề. Nhưng thấu hiểu vấn đề cũng có nhiều cách: có cách thấu hiểu thật tỷ mỉ, nhưng dạy theo cách đó tốn rất nhiều thì giờ. Trái lại, cũng có cách dạy bao quát mà vẫn làm cho người học thấu hiểu được vấn đề.

Giảng viên cần hiểu rõ và nắm chắc nhu cầu nhận thức của người học và mối liện hệ giữa nội dung học tập với chức trách, nhiệm vụ của người học và thực tiễn địa phương, đơn vị công tác của họ. Đồng thời Hồ Chí Minh cũng lưu ý rằng giảng dạy và huấn luyện phải gắn lý luận với thực tế trong quá trình giảng dạy. Phải dạy người học cả kỹ năng tiếp cận và phương pháp thực hành để vận dụng lý luận đó vào cuộc sống và thực tế công tác của họ. Nếu chỉ dạy lý luận mà không dạy thực hành thì mới chỉ đạt một nử a yêu cầu mà thôi. Người viết, lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên.

Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy.

Điều kiện có ý nghĩa quyết định hiệu quả công tác giáo dục lý luận chính trị là đội ngũ và chất lượng giảng viên làm công tác đào tạo.

Hồ Chí Minh cho rằng: không phải ai cũng huấn luyện được nhất là người huấn luyện của Đoàn thể cần phải có trình độ hiểu biết chuyên sâu. Người đã đặt vấn đề “phải lựa chọn rất cẩn thận những nhân viên phụ trách việc huấn luyện đó”, người huấn luyện phải làm kiểu mẫu về mọi mặt: tư tưởng, đạo đức, lối làm việc…

Hồ Chí Minh cho rằng, do chức năng của mình, một đặc trưng, phẩm chất của người giảng dạy lý luận chính trị là phải không ngừng học tập, người giảng viên phải có lòng đam mê, khiêm tốn học tập, không có thái độ kỳ thị, học thêm mãi, biết kết hợp và làm giàu trí tuệ của mình. Người giảng viên nào tự cho mình là đã biết đủ cả rồi, thì người đó dốt nát nhất và người đó không thể làm công việc giảng dạy được. Người giảng viên lý luận chính trị phải thực hiện học không biết chán, dạy không biết mỏi. Nếu ngưng học tập thì kiến thức lý luận đó sẽ trở nên cũ, xơ cứng, nó không phản ánh thực tiễn sinh động nên làm cho việc dạy và học không có hiệu quả.

Năm là, tổ chức quản lý học viên trong quá trình đào tạo.

Muốn huấn luyện lý luận chính trị trước hết phải có tổ chức, có lãnh đạo sâu sát tỉ mỉ và chu đáo.

Tổ chức huấn luyện phải bám sát cả yêu cầu số lượng và chất lượng; đồng thời, Hồ Chí Minh quan tâm đến cách thức tổ chức lớp. Người chỉ ra một khuyết điểm cần sữa chữa ngay trong việc huấn luyện, đó là “tham làm nhiều mà không chu đáo”. Rõ ràng nhất là trong việc mở lớp huấn luyện: lớp quá đông; Mở lớp lung tung… Người căn dặn: chúng ta mở lớp nào phải cho ra lớp nấy, lựa chọn người dạy và người học cho cẩn thận, đừng mở lớp lung tung.

Người phê phán việc mở lớp lung tung, chồng chéo lẫn nhau và lớp học quá đông, tốn sức, tốn của của Đảng, Nhà nước và nhân dân mà kết quả lại không đâu vào đâu. Người cho rằng: chúng ta không được mở lớp tràn lan. Vì mở nhiều lớp sẽ thiếu người giảng nên người đi giảng lúc nào cũng hấp tấp, lướt qua lớp này một chút, lớp khác một chút như chuồn chuồn đạp nước, dạy không chu đáo được. Thậm chí có người giảng sai lại có hại cho học sinh, hại cho đoàn thể. Mặt khác, lớp đông sẽ có sự chênh lệch lớn về trình độ của người học, nên nhận biết của họ không đều. Do vậy, phải mở lớp nào cho ra lớp đó, lựa chọn người dạy và không mở lớp tràn lan.

Các lớp huấn luyện phải được tổ chức thường xuyên; chương trình, giáo trình phải có tính hệ thống theo từng mức độ từ thấp đến cao, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. “ Sắp xếp thời gian và bài học phải logic, mạch lạc với nhau mà không xung đột với nhau”. Phải xem giáo dục lý luận là công việc thường xuyên của Đảng, của đoàn thể; là nhu cầu thường trực của cán bộ, đảng viên, gắn liền với quá trình hoàn thiện nhân cách nói chung.

Đối với người học, Hồ Chí Minh cho rằng, vì nhiệm vụ cách mạng mà ai cũng phải học lý luận. Đối tượng cần huấn luyện bao gồm: Cán bộ, hội viên của đoàn thể, cán bộ các ngành chuyên môn của chính quyền và nhân dân. Trong đó huấn luyện cán bộ là quan trọng nhất, vì cán bộ là tiền vốn của đoàn thể. Cán bộ tốt thì thành công, cán bộ không tốt thì hỏng việc.

Sáu là, để giáo dục lý luận chính trị đạt hiệu quả cao cần chuẩn bị tốt các phương tiện, trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy và học tập của đội ngũ giảng viên và học viên.

Ngoài nguồn lực con người như là nhân tố quyết định, hiệu quả giáo dục lý luận chính trị còn phụ thuộc vào phương tiện, trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật trực tiếp phục vụ cho việc dạy và học. Đó là các loại giáo trình, giáo khoa, lớp học, phương tiện hỗ trợ giảng dạy…

Theo Hồ Chí Minh, tài liệu là một trong những yếu tố giữ vai trò cơ bản và có ý nghĩa quyết định đến kết quả, chất lượng giáo dục lý luận chính trị.

Hồ Chí Minh cho rằng: “Phải lấy những tài liệu về chủ nghĩa Mác – Lênin làm gốc. Tài liệu phải được lựa chọn, xếp đặt lại, vì trình độ người học không đều nhau, cần có tài liệu thích hợp với từng hạng. Tài liệu không thích hợp thì học không có lợi gì.

Người còn chỉ ra rằng, ngoài những tài liệu có sẵn như trên, còn có những tài liệu thiết thực khác. Đó là những kinh nghiệm do những người đi học mang đến, kinh nghiệm thành công cũng như kinh nghiệm thất bại. Những kinh nghiệm đó đem trao đổi, gom góp lại tức là những bài học quý, không phải cứ chờ đồng chí cấp trên đến nói chuyện thì mới là bài, là học. Việc trao đổi gom góp kinh nghiệm này phải có tổ chức hẳn hoi chứ không phải mạnh ai nấy nói.

Tóm lại, Hồ Chí Minh vạch rõ: “Chúng ta làm cách mạng nhằm mục đích cải tạo thế giới, cải tạo xã hội. Muốn cải tạo thế giới và cải tạo xã hội thì trước hết phải tự cải tạo bản thân chúng ta”. Phải cố gắng học tập để cải tạo mình, cải tạo tư tưởng của mình và giúp vào việc cải tạo xã hội; phải nâng cao nhận thức chính trị để có lập trường vững vàng và xem xét đúng đắn các vấn đề quốc tế cũng như trong nước. “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình là đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”. Hồ Chí Minh yêu cầu: “Tất cả các đảng viên phải cố gắng học tập, coi việc học tập lý luận và chính trị là một nhiệm vụ quan trọng của mình.

Truong chinh tri hau giang
Tam trang (st)
bqllang.gov.vn

Đoàn đại biểu festival “ Sáng tạo trẻ ” báo công dâng Bác

DSC 0389Đoàn đại biểu festival “ Sáng tạo trẻ ” báo công dâng Bác

Sáng ngày 18/11/2012 tại Quảng trường Ba Đình, trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã diễn ra Lễ báo công của Đoàn đại biểu festival “ Sáng tạo trẻ”. Đây là một hoạt động thiết thực chào mừng thành công Đại hội Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh các cấp tiến tới Chào mừng Đại hội Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh toàn quốc lần thứ X, nhằm khuyến khích, cổ vũ đoàn viên, thanh niên phát huy các ý tưởng sáng tạo, phát minh sáng chế, đề tài khoa học, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, làm chủ và ứng dụng khoa học công nghệ góp phần phát triển kinh tế – xã hội; tuyên dương những cán bộ công chức, viên chức trẻ đã có nhiều thành tích trong công tác góp phần xây dựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; tôn vinh 10 công trình thanh niên tiêu biểu nhiệm kỳ 2007 – 2012.

Tham dự buổi Lễ báo công có Đồng chí Nguyễn Mạnh Dũng – Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Đồng chí Nguyễn Anh Tuấn, Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đoàn, Trưởng ban Ban Thanh niên Công nhân và Đô thị Trung ương Đoàn. Các đại biểu về dự Đại hội đại diện cho hàng triệu thanh niên đang ngày đêm lao động hăng say, trên mọi miền của Tổ quốc, tụ hội về đây, trước anh linh của Bác, thành kính dâng lên Bác những bông hoa người tốt việc tốt, tự hào báo công với Bác những thành quả trong quá trình học tập, lao động sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế, góp phần xây dựng nguồn nhân lực trẻ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Bước vào thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, thời cơ để thanh niên tham gia phát triển kinh tế là rất lớn, nhưng vẫn còn không ít những khó khăn, thách thức, nhất là những yêu cầu về chuyên môn, kỹ năng, văn hóa công sở, văn hóa doanh nghiệp.

Để thực hiện được mục tiêu của Đảng, đẩy nhanh và vững chắc sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hơn lúc nào hết, thanh niên phải luôn năng động, sáng tạo, nhanh chóng tiếp cận và từng bước làm chủ kỹ thuật, công nghệ hiện đại, tình nguyện tham gia đảm nhận những khâu then chốt, công trình trọng điểm. Mặc dù ở đất nước ta điều kiện sản xuất còn nhiều khó khăn, nhưng với ý chí và nghị lực của tuổi trẻ, với tinh thần lao động cần cù, chịu khó, ham học hỏi, nhiều bạn trẻ đã nỗ lực vượt qua khó khăn, không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề, nắm bắt nhanh kỹ thuật công nghệ hiện đại, lao động sáng tạo, với năng suất, chất lượng, hiệu quả cao viết nên những bản hùng ca của tuổi trẻ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.

Tại buổi lễ, các đại biểu xin hứa trước anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh, sẽ tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt được, không ngừng đổi mới, năng động, sáng tạo, không ngừng học tập, vươn lên làm giàu chính đáng cho gia đình và xã hội, quyết tâm lao động, sản xuất, học tập, xông pha tình nguyện, vượt qua mọi khó khăn thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa.

Kết thúc buổi lễ Đoàn đại biểu đã thành kính đặt hoa tưởng niệm và vào Lăng viếng Bác./.

sang tao 3

Hải Yến
bqllang.gov.vn

Học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh suy nghĩ về vấn đề dân chủ

Để có một nền dân chủ thật sự, trước hết phải thực hành dân chủ, một trong những khía cạnh quan trọng của thực hành dân chủ là để mọi người được tham gia thảo luận, tranh luận một cách bình đẳng. Cho nên, tổ chức các cuộc họp, các cuộc Hội nghị ở cơ quan, đơn vị thực chất là để thực hiện sự lãnh đạo tập thể và nguyên tắc sinh hoạt dân chủ trong cơ quan cũng như trong tổ chức Đảng. Thế nhưng trong thực tế ở nơi này, nơi khác đã tổ chức nhiều cuộc họp, Hội nghị để bàn bạc những nội dung, những nhiệm vụ quan trọng của cơ quan, của tổ chức cơ sở đảng nhưng thực tế vẫn thiếu dân chủ, vẫn là dân chủ hình thức.

Bởi vì, mặc dù vấn đề được đưa ra bàn trong các cuộc họp, các cuộc Hội nghị, nhưng có những đồng chí lãnh đạo lại nghĩ rằng, cán bộ cấp dưới  là người chịu sự lãnh đạo của mình. Do đó, bàn thì cứ bàn cho phải phép, cho có vẻ dân chủ, để trên khỏi chê, dưới khỏi trách, thậm chí có những việc hệ trọng nhưng không cần bàn bạc trong ban lãnh đạo, cứ theo ý mình mà kết luận và quyết định. Mặt khác, trong điều hành đôi khi có nhiều vấn đề bị hợp thức hóa bằng tập thể lãnh đạo. Đây là vấn đề cần phải được chấn chỉnh.

Thực tế đã chỉ rõ, thực hành dân chủ là chìa khóa giải quyết mọi khó khăn và tìm ra nhiều giải pháp hay để phát triển xã hội, “Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến”(1), đồng thời, chỉ có tin tưởng gắn bó với nhân dân, với đồng nghiệp thì mới thấy ở đó những sáng kiến vĩ đại, những con đường, biện pháp, lực lượng để đổi mới, đem lại hiệu quả cao trong thực hiện nhiệm vụ chính trị. Chỉ có thực hành dân chủ, coi việc nước là việc chung, mọi người cùng lo toan thì sẽ tìm thấy sáng kiến hay và lòng hăng hái của mọi ngưới sẽ được nhân lên gấp bội.

Theo Bác, “Phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình”(2) Vì thế, trong họp, Hội nghị có những ý kiến khác nhau là chuyện bình thường, bởi đoàn kết của chúng ta là đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh Chính trị và Điều lệ Đảng, do đó, không nên tìm lý do để gạt đi những ý kiến đối lập, càng không nên giữ thành kiến dai dẳng đối với những người đưa ra ý kiến đó, vì như vậy sẽ làm cho cái dân chủ trên thực tế bị hạn chế, từ đó trong những cuộc họp, Hội nghị ý kiến thảo luận, tranh luận sẽ trở thành tẻ nhạt, xuôi chiều, những suy nghĩ sáng tạo, có căn cứ khoa học và thực tiễn sẽ không được ủng hộ. Như thế, nội dung của các cuộc họp, Hội nghị mang tính một chiều, Nghị quyết chung chung thiếu tính cách mạng tiến công.

Thực tế cho thấy, đối với những cán bộ, đảng viên có bề dầy kinh nghiệm trong thực tiễn nếu biết khai thác, biết phát huy và được tập hợp lại chắc chắn sẽ là nguồn sức mạnh vô tận, tạo nên trí tuệ, sức sáng tạo chung của cơ quan, đơn vị. Là người lãnh đạo một cơ quan, đơn vị đòi hỏi phải có tâm, có tầm, phải nắm vững chủ trương chính sách của Đảng và những quy định có tính nguyên tắc có liên quan đến lĩnh vực mà mình phụ trách; Phải nghiên cứu thật kỹ, phải xem xét và giải quyết đúng yêu cầu nhiệm vụ thực tiễn với mỗi giai đoạn phát triển cụ thể của từng sự vật và hiện tượng, từng con người cụ thể với những biện pháp hết sức cụ thể; Phải chịu khó lắng nghe ý kiến của mọi người chung quanh, nhất là những người kế cận; phải bàn bạc, cân nhắc thận trọng để đưa ra quyết định đúng đắn. Chúng ta đều biết trong thảo luận, tranh luận sẽ có những ý kiến không hoàn toàn giống nhau, và đó là cơ sở giúp cho lãnh đạo nhìn nhận sự vật, hiện tượng khách quan hơn, trên cơ sở đó đề ra kết luận chính xác hơn. Là cán bộ, đảng viên thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh, đấu tranh là để đi đến sự thống nhất cao hơn trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, và đó là quy luật phát triển của Đảng.

Tuy nhiên, nội dung của thực hành dân chủ phải xuất phát từ động cơ trong sáng, công tâm, khách quan, có tình, có lý. Vì đây là lợi ích chung chứ không phải tìm cách soi mói. Cho nên, chúng ta cũng phê phán những ý kiến thiếu tinh thần xây dựng, những ý kiến lợi dụng phê bình để đả kích cá nhân, nói xấu lẫn nhau, những tranh luận không tôn trọng nguyên tắc, thiếu tình thương yêu đồng chí, đồng nghiệp, vì như vậy là trái với bản chất của vấn đề dân chủ, là vi phạm Điều lệ Đảng, là dân chủ quá trớn dân chủ cực đoan, dẫn đến tự do tùy tiện, xem thường tập thể. Vì thế, dân chủ trong Đảng là dân chủ có lãnh đạo, có tính nguyên tắc. Nói cách khác, dân chủ của ta là dân chủ có định hướng.

Do đó, trong mỗi tập thể dù nhỏ, muốn giữ gìn sự đoàn kết thống nhất thật sự, phải thực hành tốt dân chủ, nếu lãnh đạo cơ quan, đơn vị thiếu tôn trọng Nghị quyết của Cấp ủy, coi thường kết luận của tập thể, điều hành  như thế thì bao công sức, trí tuệ của cán bộ, đảng viên đã góp ý trong cuộc họp trở thành vô nghĩa và như vậy cũng có nghĩa Nghị quyết, kế hoạch chỉ dừng lại trên trang giấy, không thực hiện hoặc thực hiện nhưng nội dung bị méo mó không còn nguyên vẹn. Như thế, cho dù có tổ chức nhiều cuộc họp nhưng vẫn cứ thiếu dân chủ.

Thực tiễn chứng minh, nơi nào không thực hiện tốt vấn đề dân chủ đều dẫn đến bất lợi cho tổ chức, đều cản trở bước tiến của cách mạng, nếu không dám nhìn thẳng vào sự thật để tìm cách khắc phục, dần dần nó sẽ triệt tiêu sức sáng tạo và tinh thần đấu tranh xây dựng của tập thể, tạo nên một lối sống an phận, nắng bề nào che bề nấy, đây là mảnh đất tốt để cho chủ nghĩa cá nhân phát triển và thực tế nơi nào thực hiện tốt phát huy dân chủ thật sự thì nơi đó sẽ động viên được tất cả mọi người tham gia đưa cách mạng đi đến thắng lợi. Do đó, cán bộ đảng viên phải chăm lo nhiều đến lề lối làm việc dân chủ, tác phong quan sát, sâu sát thực tế. Cho nên khi đã tổ chức cuộc họp, Hội nghị thì phải bàn cho ra lẽ, bàn xong phải có kết luận dứt khoát, phân định rõ đúng, sai. Trên cơ sở kết luận thông qua được tập thể đồng tình thì hình thành Nghị quyết. Khi chỉ đạo thực hiện, phải nói và làm theo đúng tinh thần của Nghị quyết. Nếu làm trái với Nghị quyết thì các cuộc hội, họp dẫu có bàn sâu đến đâu, kéo dài bao lâu đi chăng nữa cũng chỉ là dân chủ hình thức, dân chủ giả hiệu.

Chú thích:

(1): Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, Tập 6, tr 174

(2): Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd… t10, tr118).

Theo Phan Thị Hữu Hạnh
Phó Hiệu trưởng Trường Chính trị
T
am trang (st)

bqllang.gov.vn

Người sưu tầm hiện vật về Bác Hồ ở Thái Lan

Hành trình tìm kiếm và thu thập kỷ vật về Bác Hồ giúp ông Ngô Vĩnh Bao, cán bộ hưu trí Hà Nội, từng sống ở Thái Lan, thấu hiểu tình cảm chứa chan của bà con kiều bào ở đây đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Không chỉ có một “Bảo tàng” những di vật của Bác Hồ tại Thái Lan, ông Bao còn chuẩn bị ra một tập sách ghi lại những kỷ niệm của bà con kiều bào với Bác.

Tìm đến nơi in dấu chân Bác

Ông Ngô Vĩnh Bao còn nhớ như in ngày ông đến nhà ông Bùi Bá Ba ở tỉnh Sa Kon NaKhon để xin chiếc phản gỗ của Bác sử dụng hồi năm 1929.

Là chủ sở hữu thứ 6 của chiếc phản, ông Ba đã cất giữ hơn 22 năm với niềm mong mỏi có ngày sẽ chuyển về nước. Khi ông Bao nói rõ ý định, ông Ba đột nhiên lên cơn nhồi máu cơ tim, khiến con cháu phải vội vàng đưa đi bệnh viện cấp cứu. Trái tim của một ông lão đã không chịu nổi niềm xúc động sau bao năm chờ đợi, cuối cùng đã có một người ở Việt Nam đến tìm ông. Năm 2002, ông Bao nhờ người chuyển chiếc phản qua Lào về Việt Nam.

New PictureÔng Ngô Vĩnh Bao bên tủ sách trong đó lưu giữ
một số cuốn sách tự biên soạn về Bác Hồ.

Từ năm 1999-2002, nhân thời gian làm việc ở Thái Lan, ông Bao đã thực hiện hơn 40 chuyến đi các tỉnh thành Thái Lan để tìm lại những hiện vật về Bác Hồ. Thời điểm đó, cứ vào thứ bảy, chủ nhật, ông Bao lại lên đường, tìm đến những địa danh Bác Hồ từng đi qua, tất cả là 9 tỉnh, thành phố. Đến đâu ông Bao cũng được bạn bè giúp đỡ để có thể tìm lại và tiếp nhận những kỷ vật về Bác, như tấm huy hiệu làm bằng sắt, hay bức chân dung bà con tự vẽ. Điều đáng khâm phục là trong mọi hoàn cảnh bà con kiều bào ở Thái Lan vẫn kiên trì cất giữ những hiện vật và kỷ vật về Bác Hồ và chờ ngày giao cho “người ở Việt Nam sang”, ông Bao kể.

Sưu tầm được nhiều hiện vật quý

Tin tức về một người Việt Nam chuyên tâm sưu tầm kỷ vật về Bác đã nhanh chóng lan truyền đến những nơi có kiều bào sống ở Thái Lan. Họ đã tự tìm đến ông Bao hoặc nhờ người nhắn với ông để trao kỷ vật vô giá mà cha mẹ họ để lại. “Tình cảm và mối tin cậy của họ làm tôi rất cảm kích. Tôi nguyện sẽ đem về Việt Nam, tái hiện quá trình hoạt động của Bác ở Thái Lan để góp phần làm phong phú hơn kho tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là tài sản vô giá của cả dân tộc”.

Sau khi rời gia đình ông Bùi Bá Ba, ông Bao đã thu thập thêm được viên gạch lát nền nhà của Bác ở bản Mạy, tỉnh Nakhon Phanom, tấm ảnh Bác tại một ngôi chùa ở Bangkok, cùng hơn 20 cuốn hồi ký của những người từng theo Bác hoạt động cách mạng hoặc nghe kể về Bác.

Nhớ lại ngày đầu tiên có ý định sưu tầm kỷ vật về Bác, ông Bao trầm ngâm: “Đó là năm 1969 khi Bác mất, tôi lặng lẽ cất chiếc băng tang của mình trong tủ. Dần dần, việc cất giữ những tấm hình, bài báo hay bất kỳ di vật gì về Bác đã trở thành niềm say mê của tôi”. Qua ngần ấy thời gian, giờ đây, ông Bao đang có trong tay 13 tập sách tự biên soạn với 100 tấm bản đồ, sơ đồ, hơn 2.000 bức ảnh, bài báo ghi lại chặng đường hoạt động cách mạng của Bác trong và ngoài nước.

Chia sẻ với Đất Việt sau khi Đảng ủy ngoài nước và Ủy ban Nhà nước về Người Việt Nam ở nước ngoài phát động cuộc vận động sưu tầm và sáng tác về Bác Hồ dành cho kiều bào, ông Bao nói: “Ngày ngày, tôi vẫn bổ sung tư liệu mới cho 13 tập sách”. Khi được hỏi sao chưa trao những tư liệu quý giá này cho Bảo tàng Hồ Chí Minh, ông Bao băn khoăn: “Điều tôi lo ngại nhất là các bạn trẻ sẽ không có nhiều thời gian để nghiên cứu ở bảo tàng. Vì vậy, tôi rất muốn chúng được in thành sách. Để dễ xem và dễ nhớ, tôi đã biên soạn các phần thuyết minh, đi kèm với tranh ảnh minh họa. Tuy nhiên, hiện nay một mình thì chưa đủ sức tổ chức in ấn”.

Ông Bao cho biết thêm, độ chính xác của dữ liệu đã được ông đối chiếu với bộ Biên niên tiểu sử Hồ Chí Minh của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, kết hợp với thông tin của những người đã từng gặp Bác, những di vật và hồi ký… Điểm đặc biệt của bộ sưu tập này là nhiều hình ảnh và sơ đồ, ít chữ, giúp người xem tiếp cận tư liệu về Bác một cách sinh động.

Ông Ngô Vĩnh Bao dự kiến tổ chức một cuộc triển lãm các hiện vật và tư liệu về cuộc đời Bác Hồ do ông sưu tầm. Tại đó, ông sẽ trực tiếp kể lại những câu chuyện xung quanh cuộc hành trình thu thập kỷ vật về Bác của ông trên đất Thái Lan.

Báo Đất Việt
Tâm Trang
(st)

bqllang.gov.vn

Đoàn đại biểu Người có công tỉnh Đồng Nai đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong không khí cả nước đang sôi nổi hướng tới kỷ niệm 68 năm Ngày Thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 23 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân… thực hiện kế hoạch công tác năm 2012 Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh phối hợp với Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai đã tổ chức cho Đoàn đại biểu Người có công 60 người gồm các đồng chí thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và các cán bộ, nhân viên Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh ra thăm Thủ đô Hà Nội, vào Lăng viếng Bác, đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ, và tham quan một số danh lam thắng cảnh của Thủ đô và miền Bắc từ ngày 20/11/2012 đến ngày 25/11/2012. Đây là đoàn thứ 3 (trong số 3 Đoàn gồm 180 đại biểu) mà Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai đã tổ chức ra viếng Bác, đáp ứng được nguyện vọng của những Người có công của tỉnh Đồng Nai.

nguoi co cong dong naiĐồng chí  Lương Kỳ Hải thay mặt Lãnh đạo Ban Quản lý Lăng
tặng Huy hiệu Bác Hồ cho các đại biểu

 Đón và tiếp Đoàn tại Nhà khách số 8 Hùng Vương, đồng chí Lương Kỳ Hải, Trưởng Ban Đón tiếp, đã giới thiệu với Đoàn về nhiệm vụ của đơn vị và quá trình giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và tặng Huy hiệu Bác Hồ cho các đại biểu. Phát biểu tại buổi gặp mặt, đồng chí bày tỏ sự khâm phục  những công lao, sự cống hiến của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Đồng Nai nói chung, đối tượng chính sách, người có công của tỉnh nói riêng, đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thay mặt cán bộ, công nhân viên Ban Đón tiếp, đồng chí chúc sức khoẻ các thành viên trong Đoàn và mong muốn các đối tượng chính sách của tỉnh Đồng Nai luôn vượt lên khó khăn, sống vui, sống khoẻ và tiếp tục cống hiến, động viên lớp con cháu tiếp tục giữ vững truyền thống anh hùng của cha ông, bằng tấm gương và uy tín của mình giáo dục thế hệ trẻ tích cực lao động, học tập, góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh.

Các đại biểu người có công tỉnh Đồng Nai đã bày tỏ xúc động được ra thăm Thủ đô Hà Nội, vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh; cảm ơn sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước, sự đón tiếp chu đáo, tận tình của cán bộ, công nhân viên Ban Quản lý Lăng đối với gia đình chính sách, người có công tỉnh Đồng Nai và khẳng định sẽ luôn là những tấm gương mẫu mực cho con cháu noi theo.

Thay mặt Đoàn đại biểu, đồng chí Nguyễn Thành Liễu (tức Nguyễn Anh Dung), thương binh 4/4 huyện Tam Hiệp, tỉnh Đồng Nai đã phát biểu: “Xin trân trọng cảm ơn Ban Quản lý Lăng đã nhiệt tình đón tiếp Đoàn. Chúng tôi rất xúc động khi được các đồng chí đến đón chúng tôi lúc 5 giờ sáng ở tận sân ga Hà Nội. Tháng 5 năm 1961, tôi lên đường trở về Nam chiến đấu. Với những thành tích xuất sắc trong chiến đấu, tôi đã 6 lần vinh dự được gặp Bác Hồ. Tôi vẫn ghi nhớ những lời Bác dạy, nguyện đi theo con đường của Bác, nguyện cống hiến hết sức mình vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam yêu dấu.”

Sau lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ban Đón tiếp sẽ phối hợp với các cán bộ của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai hướng dẫn Đoàn tham quan Khu Di tích K9, Bảo tàng Quân đội, Văn miếu Quốc tử giám…

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Đoàn đại biểu dự Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ VII đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sáng ngày 22/11/2012, hơn 1.100 đại biểu tham dự Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ VII đã đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đoàn gồm Chư tôn Hòa thượng thành viên Hội đồng Chứng minh; Chư tôn đức Hòa thượng, Thượng tọa, Ni trưởng, Ni sư, Đại đức thành viên Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam; đại biểu các Ban, Viện trực thuộc Trung ương Giáo hội; Ban Trị sự Tỉnh, Thành hội Phật giáo; đại biểu tăng ni, phật tử Việt Nam ở hải ngoại.

anh hoi phat giaoĐoàn đại biểu vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VII Giáo hội Phật giáo Việt Nam sẽ diễn ra trong 4 ngày (từ ngày 21 đến ngày 24/11/2012) tại Cung Văn hóa Hữu nghị Việt – Xô. Với chủ đề “Kế thừa – Ổn định – Phát triển”, Đại hội VII Giáo hội Phật giáo Việt Nam thực hiện các nhiệm vụ: Tổng kết công tác Phật sự của Giáo hội Phật giáo Việt Nam nhiệm kỳ VI (2007-2012); hoạch định chương trình hoạt động Phật sự nhiệm kỳ VII (2012-2017); thông qua sửa đổi Hiến chương lần thứ V; suy tôn thành viên Hội đồng Chứng minh, suy cử Hội đồng Trị sự và một số Phật sự quan trọng khác.

Ra đời cách đây 31 năm (07/11/1981), Giáo hội Phật giáo Việt Nam luôn phát huy tinh thần phụng đạo yêu nước, phát huy vai trò của mình để trở thành thành viên của khối đại đoàn kết, thực hiện hữu hiệu phương châm: “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”. Điều này được thể hiện trong tất cả các hoạt động của đời sống xã hội, Giáo hội Phật giáo Việt Nam và các tăng ni, phật tử đều có sự đóng góp tích cực.

Cùng với việc chăm lo phát triển đạo pháp, Giáo hội Phật giáo Việt Nam luôn đồng hành, gắn bó với xã hội bằng những hành động cụ thể. Các hoạt động của Phật giáo luôn cổ vũ, lôi cuốn đông đảo tăng ni, Phật tử và người dân trong cả nước cùng tham gia.

Trong nhiều năm qua, các phong trào, các cuộc vận động thi đua yêu nước do Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động được Giáo hội tham gia tích cực góp phần quan trọng trong sự nghiệp xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế – xã hội của đất nước./.

Hải Yến
bqllang.gov.vn

Nhớ lời Bác dạy phấn đấu không ngừng

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Huỳnh Thúc Bá ở phường Hòa Thuận Tây, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia cách mạng từ thuở thiếu niên, chưa tròn 20 tuổi đã trở thành y tá trưởng của Đại đội 1, Tiểu đoàn 72, tỉnh Quảng Nam và nổi bật bởi tinh thần chiến đấu bảo vệ thương binh, tử sĩ.

Có trận, ông ra vào cửa mở đến tám lần để cõng thương binh, tử sĩ về phía sau. Qua 65 trận đánh, ông tiêu diệt và bắt sống hơn 60 tên địch, thu nhiều chiến lợi phẩm, được phong Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vào ngày 17-9-1967. Ông Bá kể:

…Tháng 3 năm 1968, tôi và đồng chí Trần Đình ở Sư đoàn 2 được cử ra Bắc học tập. Cuối tháng 4 năm ấy, chúng tôi đến Thủ đô Hà Nội và nghỉ tại Trạm khách Bộ Quốc phòng ở 83 Lý Nam Đế. Sáng sớm ngày 19-5-1968, Trạm trưởng thông báo: “Hai đồng chí Bá và Đình 9 giờ đi công tác, mặc quần áo quân giải phóng”. Chúng tôi phấp phỏng đoán là sự kiện quan trọng, vì theo quy định, tất cả cán bộ miền Nam ở đây đều mặc thường phục.

…Chiếc ô tô chở chúng tôi chạy được một lát, anh cán bộ phụ trách mới phổ biến ngắn gọn: “Bác Hồ muốn gặp một số anh hùng ở miền Nam. Trạm chọn hai đồng chí vào báo cáo với Bác”. Chao ôi! Hai chúng tôi ngập tràn niềm vui mừng, hạnh phúc, vì được gặp Bác là điều mơ ước của biết bao đồng bào, chiến sĩ miền Nam!

nhoAnh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Huỳnh Thúc Bá (người vuốt chòm râu Bác) và một số Anh hùng dũng sĩ miền Nam thăm Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch (3-1969)

Bác và đồng chí Vũ Kỳ đón chúng tôi tại vườn hoa bán nguyệt trong Phủ Chủ tịch. Không biết đã được báo trước nhân dạng, hay là do sự cảm nhận tài tình, mà vừa bắt tay tôi, Bác đã hỏi:

Chú là Huỳnh Thúc Bá?

– Dạ! – Tôi lễ phép thưa.

Bác tiếp tục bắt tay đồng chí Đình và bảo:

– Hai cháu là anh hùng của quê hương “Trung dũng, kiên cường, đi đầu diệt Mỹ”.

Bác ân cần hỏi chúng tôi về việc ăn, nghỉ, sinh hoạt. Tôi cảm nhận rất rõ tình thương yêu của Bác khi Người hỏi về bệnh sốt rét và các vết thương của tôi. Bác âu yếm cầm tay tôi, thấy tay tôi gầy, nổi lên những đường gân xanh, Bác xúc động, rơm rớm nước mắt. Ôi! Bác là lãnh tụ thiên tài của dân tộc, mà sao gần gũi, hiền từ như người ông, người cha của mình. Bác dặn chúng tôi phải cố gắng ăn uống, nghỉ ngơi, dưỡng bệnh để có đủ sức khỏe học tập và nhớ phải bền bỉ phấn đấu không ngừng. Bác đãi bánh ga-tô và còn bảo chúng tôi mang về cho anh em trong Trạm.

Lần thứ hai, tôi được gặp Bác vào dịp kỉ niệm ngày Quốc khánh 2-9-1968. Tại hội trường Ba Đình, tôi và 50 anh hùng, dũng sĩ, cán bộ miền Nam được nghe Bác dặn dò, động viên phấn đấu, học tập cho tốt và sẵn sàng nhận nhiệm vụ trở về chiến đấu giải phóng quê hương.

Tháng 3 năm 1969, tôi lại được vinh dự gặp Bác trước khi trở vào miền Nam. Lần này, tôi là thành viên trong Đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam ra thăm miền Bắc. Khi Đoàn đang nghỉ tại nhà 103 phố Quán Thánh thì được thông báo đi gặp Bác. Đồng chí phụ trách căn dặn: “Sức khỏe của Bác hiện nay rất yếu, nhưng Bác muốn gặp các đồng chí. Yêu cầu tất cả ngồi xa, kẻo Bác mệt”. Hôm ấy, Bác Hồ và Bác Tôn cùng các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp đón chúng tôi tại Phủ Chủ tịch. Nhớ lời dặn, chúng tôi ý tứ đứng xa, nhìn lên Bác. Vừa thấy tôi, Bác đã vẫy lại, trìu mến hỏi:

– Cháu Bá đã hết sốt chưa? Học tập có tốt không?

Quá xúc động, tôi không sao cầm được nước mắt. Bác bận biết bao công việc trọng đại mà vẫn nhớ đến bệnh sốt rét của tôi! Lần đó, cả Đoàn được chụp ảnh với Bác. Tôi hoàn toàn không ngờ đó là lần cuối cùng được nhìn thấy Bác!

Ba lần được gặp Bác Hồ là kỉ niệm sâu sắc, không thể nào phai mờ của Anh hùng Huỳnh Thúc Bá, là nguồn sức mạnh to lớn để ông tiếp tục chiến đấu, công tác, lập nhiều chiến công xuất sắc. Ông về hưu năm 2002, với quân hàm Đại tá. Nhớ lời Bác dạy “phải bền bỉ phấn đấu không ngừng”, ông hăng hái tham gia công tác địa phương và nhiều năm được bầu làm Bí thư Chi bộ. Ông đã dẫn dắt phong trào thi đua của khu phố đạt nhiều thành tích tiêu biểu.

Theo baomoi.com
Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Vai trò và mục đích của giáo dục trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Trước khi đi vào cõi vĩnh hằng, Chủ tịch Hồ Chi Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta một hệ thống những tư tưởng, quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cuộc cách mạng Việt Nam. Trong đó, tư tưởng về giáo dục luôn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng và xây dựng một nền văn hoá, giáo dục Việt Nam. Sinh thời, Người luôn xem phát triển giáo dục, nâng cao dân trí xã hội là một triết lý, một tư tưởng, một ước vọng. Người nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành(1).

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, cũng như quan niệm của Người về vai trò của giáo dục không bó hẹp trong việc giáo dục tri thức, học vấn cho con người, mà có tính bao quát, sâu xa, nhưng vô cùng sinh động, thiết thực, nhằm đào tạo ra những con người toàn diện, vừa “hồng” vừa “chuyên“, có tri thức, lý tưởng, đạo đức sức khoẻ, thẩm mỹ… Khi nhìn nhận vai trò của giáo dục đối với sự hình thành nhân cách của con người, Bác Hồ khẳng định:

Thiện, ác nguyên lai vô định tính
Đa do giáo dục đích nguyên nhân”
Nghĩa là: Hiền dữ phải đâu là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên
Dạ bán (Nửa đêm) – Nam Trân dịch

Hồ Chí minh luôn coi giáo dục có vai trò quan trọng không chỉ đối với việc giáo dục tri thức, học vấn mà còn góp phần hình thành nên nhân cách, phẩm chất đạo đức của mỗi con người. Người nói: Mỗi con người đều có thiện và ác trong lòng, ta phải biết làm cho phần tốt ở  trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vừa là thành quả của một quá trình tiếp thu, chắt lọc và phát triển tinh hoa văn hoá dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại. Do vậy, ở tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục luôn có sự thống nhất hữu cơ giũa lý luận giáo dục và thực tiễn giáo dục, vừa mang hơi thở của cuộc sống hiện tại, vừa chứa đựng khát vọng về một tương lai. Mục đích cao cả của Hồ Chí Minh – mục đích mà Người nguyện suốt đời phấn đấu – là mong cho dân tộc, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Bởi, đối với Người: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì(3). Suốt đời, Bác Hồ luôn mong muốn xây dựng một xã hội mới về chất, cao hơn hẳn xã hội cũ, đó là – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Và để xây dụng chủ nghĩa xã hội, theo Người, “trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”. Tuy nhiên, con người xã hội chủ nghĩa ở đây theo Người, cần phải: “…có học thức. Cần phải học lý luận Mác – Lênin kết hợp với đấu tranh và công tác hàng ngày, học phải đi đôi với hành”(2).

Đào tạo con người xã hội chủ nghĩa không có con đường nào khác ngoài giáo dục tri thức khoa học và lý tưởng, đạo đức xã hội chủ nghĩa. Đó là nền giáo dục nhằm phát triển con người toàn diện, vừa “hồng” vừa “chuyên” trong thời đại mới. Và như vậy, “con người xã hội chủ nghĩa’, con người toàn diện, “nhất định phải có học thức. Cần phải học văn hoá, chính trị, kỹ thuật. Cần phải học lý luận Mác – Lênin kết hợp với đấu tranh và công tác hàng ngày. Trong thư gửi cán bộ giáo dục, học sinh, sinh viên các trường và các lớp bổ túc văn hoá, ngày 31 – 8 – 1960, Chủ tich Hồ Chí Minh đã viết: Văn hoá giáo dục là một mặt trận quan trọng trong công cuôc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà….Giáo dục phải phục vụ đường lối chính trị của Đảng và của Chính phủ, gắn liền với sản xuất và đời sống của nhân dân. Học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế.

Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc luyện “tài”, rèn “đức” cho tất cả đối tượng. Đối với trẻ em, Bác căn dặn các giáo viên phải: Giáo dục cho các cháu biết thế nào là đoàn kết, ham học, ham làm, nhưng phải làm sao cho các cháu giữ được tính chất của trẻ con. Phải làm sao cho trẻ em có kỷ luật nhưng vẫn vui vẻ, hoạt bát chứ không phải là khúm núm, đặt đâu ngồi đấy. Thông điệp của Bác để lại cho thế hệ trẻ là vẻ vang, vinh dự nhưng cũng là một trong trách lớn: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”(4).

Tại Đại hội Thanh niên Thủ đô ngày 30 tháng 9 năm 1967, Bác cũng căn dặn: “Thanh nên phải ra sức học tập chính trị, văn hoá và khoa học kỷ thuật. Học có tốt, hành mới tốt. Học và hành tốt mới làm tròn nhiệm vụ người thanh niên cách mạng…”. Hồ Chí Minh xem học tập chính là để làm người tốt, việc tốt có ích cho nhân dân và dân tộc, vì vậy, “Nhiệm vụ của các cháu là thi đua học tốt để sau này góp phần vào việc mở mang quê hương của mình và việc xây dựng nước Việt Nam yêu quý của chúng ta”.

Để tào tạo một con người có ích cho xã hội, theo Hồ Chí minh cần phải giáo dục toàn diện, đặc biệt là giáo dục về tài và đức. Bởi, theo Người, có tài mà không có đức, ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông bụt không làm hại gì nhưng cũng không lợi gì cho loài người. Để giáo dục tốt cả đức lẫn tài Bác nhắc nhở giáo viên: “Giáo viên phải chú ý cả tài, cả đức. Tài là văn hoá, chuyên môn; đức là chính trị. Muốn cho học sinh có đức thì giáo viên phải có đức… cho nên thầy giáo cô giáo phải gương mẫu, nhất là đối với trẻ con”(5).

Đối với cán bộ, Hồ Chí Minh xem việc học tập là: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ”. Mục đích trọng tâm và xuyên suốt trong tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh là vì con người, cho con người, là xây dựng con người mới. Nhưng do yêu cầu của mỗi thời kỳ cách mạng khác nhau, Hồ Chí Minh đã đề ra nhiệm vụ giáo dục khác nhau cho phù hợp. Ở thời kỳ chuẩn bị thành lập Đảng, Người tập trung vào việc triển khai các lớp huấn luyện tại Quảng Châu, Trung Quốc nhằm nâng cao trình độ nhận thức cho cán bộ về con đường cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Đến giai đoạn toàn quốc kháng chiến và xây dựng nền dân chủ, Người kêu gọi sửa đổi giáo dục cho phù hợp với việc đào tạo nhân tài kháng chiến kiến quốc. Tất cả giáo dục tập trung phục vụ kháng chiến kiến quốc. Bước sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, mục đích giáo dục lại gắn liền với tình hình mới. Đó là thời kỳ rất cần những con người làm chủ xã hội, làm chủ sản xuất, biết quản lý cơ quan, xí nghiệp, trường học…

Về phương pháp giáo dục, Hồ Chí Minh không để lại cho chúng ta một tác phẩm chuyên khảo, một hệ thống lý luận hoàn chỉnh nào về phương pháp giáo dục, nhưng qua những việc làm thiết thực như: Những bài viết ngắn gọn, súc tích, những lời nói, quan điểm giáo dục của Người đã hàm chứa các phương pháp giáo dục mẫu mực. Trong quá trình lãnh đạo cuộc cách mạng Việt Nam nói chung cũng như các vấn đề liên quan đến giáo dục nói riêng, Người luôn xác định nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn làm nguyên tắc cơ bản cho việc xây dựng các phương pháp về giáo dục. Nguyên tắc này được Người sử dụng xuyên suốt trong việc giáo dục cán bộ, đảng viên, thanh thiếu niên, công nhân, nông dân, bộ đội, trí thức, học sinh, sinh viên… trong suốt tiến trình của cuộc cách mạng.

Từ nhận thức sâu sắc về vai trò và mục đích của giáo dục, Hồ Chí Minh đã gắn bó cả cuộc đời mình để việc chăm lo, mở mang, xây dựng và phát triển một nền giáo dục mới, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa – một nền giáo dục mà mọi người đều được học, được tham gia, phát huy hết khả năng của mình, không phân biệt nam nữ, tuổi tác, giai cấp, dân tộc…

Tiếp tục kế thừa và quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp to lớn và cao cả đó của Người, trong những năm qua Đảng ta luôn quan tâm và chăm lo đến sự nghiệp giáo dục. Tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, khoá VIII đã xác định nhiệm vụ và mục đích cơ bản của giáo dục Việt Nam là: “Nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật, có sức khoẻ, là những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” như lời căn dặn của Bác Hồ”. Đại hội Đảng lần thứ IX, một lần nữa Đảng ta khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”, tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá. Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện “giáo dục cho mọi người”, “cả nước trở thành một xã hội học tập”, thực hiện phương châm “học đi đôi với hành”.

1. Năm 1946, khi trả lời câu hỏi của các nhà báo về điều mong muốn của mình.
2. Hồ Chí Minh toàn tập. NXB CTQG 1995, 1996 tập 4, tr.56; tập 12, tr.505
3. HCM: Toàn tập, t.10, Nxb CTQG, H., 1995, tr 306.
4. Trong Thư gửi các em học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, tháng 9/1945.
5. Bài nói tại lớp học chính trị của giáo viên, năm 1959; dẫn theo “Hồ Chí Minh- Toàn tập”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2000, tập 9, tr. 492.

Theo Lê Văn Tuyên/GV. Khoa Xây dựng Đảng
Truong CHính trị Hậu Giang
Tâm trang
(st)
bqllang.gov.vn