Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Xuân về trên quê hương những người mang họ Bác Hồ

A Lưới không những nổi tiếng là vùng chiến khu cách mạng của Thừa Thiên – Huế, mà nơi đây còn ghi dấu ấn của các dân tộc thiểu số như Pa Cô, Tà Ôi, Cơ Tu, Pa Hy… một lòng sắt son với Đảng, với Bác Hồ.

Người là niềm tin tất thắng

Nhớ lại thời kỳ đầu mới giải phóng, được cử đi công tác ở A Lưới ai cũng ái ngại. Còn ấn tượng đối với A Lưới hôm nay là tuyến đường Hồ Chí Minh – con đường huyền thoại – chạy dọc theo huyện lỵ A Lưới, kéo theo đời sống đồng bào không ngừng phát triển, đi lên…

Nhớ mãi, năm 1969, khi nghe tin Bác Hồ mất, đồng bào ở nơi đây đã đồng loạt lấy họ Hồ của Bác làm họ cho chính mình. Ngày đó, vùng miền Tây Thừa Thiên – Huế ai cũng xúc động khi “muối Cụ Hồ, rựa Cụ Hồ, gạo Cụ Hồ” đến với đồng bào trong những năm tháng chiến tranh ác liệt. Cũng chính từ ngày có Bác Hồ giúp gạo, muối, áo quần, được cán bộ Cụ Hồ dạy cái chữ, đồng bào đã thoát u mê tăm tối. Vì vậy, đồng bào nguyện một lòng đi theo ánh sáng cách mạng, phục vụ chiến đấu. Nhiều gia đình cả vợ, chồng và các con đều đi vận chuyển lương thực, vũ khí ra tiền tuyến đánh Mỹ. Gia đình Hồ A Nun, Hồ Dục thường xuyên gùi hàng, vũ khí vượt mưa bom bão đạn ra tiền tuyến, đã được Nhà nước phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đất nước thống nhất, hiện tính ra ở A Lưới có hơn 11.800 đồng bào thiểu số mang họ Hồ và thực sự đổi đời theo sự đi lên của dân tộc. Con em của họ trước đây chỉ biết lên nương, rẫy nay đã được học hành. Những cử nhân đại học, kỹ sư nông nghiệp người Pa Cô, Tà Ôi… hiện không còn là điều hiếm. Đến nay, đã có 12 Phó Chủ tịch UBND xã ở huyện A Lưới là người dân tộc, họ đang từng ngày từng giờ phấn đấu đổi thay mảnh đất A Lưới. Điển hình là Kê Sửu, người dân tộc đầu tiên ở A Lưới bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, hiện chị là Trưởng ban Dân tộc tỉnh.

Những năm trước đây, lên A Lưới phải đi vòng qua Đăckrông (Quảng Trị) trên quãng đường dài tới 220 km, gần hai ngày ngồi ô tô mới đến nơi. Nay, từ Huế đi A Lưới theo đường mới mở chỉ với 70 km, mất khoảng gần 2 giờ đồng hồ thì đến nơi. Ấn tượng đối với A Lưới hôm nay là tuyến đường Hồ Chí Minh – con đường huyền thoại – chạy dọc theo huyện lỵ A Lưới dài đến đâu, nhà cửa, phố xá kéo theo đến đó. Đêm đêm, nhà cửa, phố xá đèn điện sáng trưng, không còn cảm giác đó là thị trấn của một huyện vùng cao. Càng bất ngờ hơn khi đến xã Nhâm, phần đông đồng bào các dân tộc ở đây được thu nhận vào làm công nhân nông trường, đi chăm sóc cà phê bằng xe máy. Mới đưa vào trồng thử từ năm 1996, năm nay A Lưới dự tính phát triển thêm 1.000 ha, nâng tổng diện tích cà phê toàn huyện lên khoảng 1.800 ha. Quá trình chăm sóc, người dân còn được nông trường đầu tư phân bón và hoàn trả tiền đầu tư sau khi có sản phẩm thu hoạch, nên nhận được dân đồng tình và hưởng ứng cao. Ngoài diện tích cà phê nông hộ của mình, hiện có hơn 1.000 hộ nhận khoán, chăm sóc và hưởng lợi trên toàn bộ diện tích của nông trường theo thoả thuận với người lao động. Huyện tiếp tục phối hợp với các cơ quan chuyên môn tổ chức tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ thuật chăm sóc cây cà phê cho đồng bào các dân tộc, phấn đấu đưa năng suất khoảng từ 4-5 tấn/ha như hiện nay lên hơn 10 tấn/ha.

Người dân ở A Lưới còn tham gia làm công nhân ở công trường Thủy điện A Lưới. Ngày chặn dòng, nhiều già làng, gái trai các bản làng vui như ngày hội, thức trắng đêm chứng kiến dòng sông A Sáp, bắt nguồn từ dãy Trường Sơn đại ngàn hùng vĩ phải khuất phục. Cán bộ và nhân dân A Lưới hiểu rằng, nay mai nguồn điện từ A Lưới sẽ thắp sáng ước mơ, biến vùng đất nghèo khó này cùng Thừa Thiên – Huế đi lên. Chính điều đó lý giải vì sao có 1.066 hộ dân trong vùng lòng hồ phải di chuyển đến nơi ở mới để phục vụ cho việc thi công công trình, nhưng mọi việc diễn ra hết sức thuận lợi, bà con đều tự nguyện chuyển đến nơi ở mới, nhường chỗ cho công trình. Công trình thuỷ điện A Lưới có tổng vốn đầu tư là 3.234 tỷ đồng, với công suất lắp máy 170MW (2 x 85MW), sản lượng điện bình quân sau khi đưa vào sử dụng đạt 686,5 triệu KWh/năm. Được khởi công từ tháng 6-2007, đến nay, công trình thuỷ điện A Lưới đang đẩy nhanh tiến độ thi công công trình, phấn đấu đưa tổ máy số 1 vào phát điện vào tháng 12-2011.

Đến với bản làng vùng cao Hồng Hạ, nơi có 5 dân tộc anh em, gồm: Ka Tu, Pa Cô, Tà Ôi, Pa Hy và dân tộc Kinh sinh sống, bà con biết chung sức trồng mới, bảo vệ làm cho một vùng rừng vốn bị tàn phá trong chiến tranh nay xanh tốt. Đến nay, Hồng Hạ đã trồng được 1.070ha rừng phòng hộ, dẫn đầu các xã trong toàn huyện. Xã tổ chức phát triển kinh tế trang trại, tận dụng nguồn đất bãi bồi đầu nguồn sông Bồ trồng được 50ha cao su tiểu điền, 10ha cây ăn quả, hơn 2.000 hố tiêu. Đời sống nhân dân nâng cao nhờ kinh tế rừng phát triển, toàn xã sắm được 57 chiếc xe máy, 65% số hộ có ti vi, 100% hộ có rađiô. Đối với người Tà Ôi ở A Roàng, còn được cán bộ khuyến nông, khuyến lâm xã, huyện hướng dẫn lập vườn rừng, vườn đồi, vườn nhà để định cư, phát triển chăn nuôi. Nay, toàn xã đã có đàn trâu 249 con, đàn bò 308 con, đàn lợn 300 con, nuôi 60 con dê. Nay, A Roàng không còn hộ phá rừng, bà con đã nhận chăm sóc 500ha rừng đầu nguồn, trồng được 200ha cây bản địa, 200ha cây quế để làm giàu ngay trên chính mảnh đất quê hương mình.

Ngày xuân bên ché rượu nồng, Trưởng Ban Dân tộc tỉnh – Kê Sửu cho biết: Nếu ai có dịp lên vùng núi phía Tây Thừa Thiên – Huế sẽ cảm nhận được vẻ mặt rạng rỡ đến diệu kỳ của con người nơi đây. Bởi, dòng chữ “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” ngày càng ngấm vào máu thịt của họ khiến họ hành động để xứng đáng là con cháu Bác Hồ, con Rồng cháu Tiên. Các em nhỏ không còn lạ với cái chữ; các cụ già được ủ ấm với áo cơm; các chị các mẹ được bồi dưỡng kiến thức, hạch toán kinh tế bên cạnh biết lo toan việc bếp núc, rẫy nương. Các chú, các anh phần nào đã biết chia sẻ công việc gia đình với người phụ nữ… ; và nhiều gia đình nông dân đã vượt qua đói nghèo, vươn lên làm giàu bằng chính bàn tay, khối óc của mình cùng với sự hỗ trợ của khoa học kỹ thuật. Sự tiến triển này được đánh dấu qua kết quả giảm tỷ lệ hộ nghèo năm sau thấp hơn năm trước. Ở A Lưới, nếu tỷ lệ hộ nghèo năm 2005 đến 48,47%, thì nay chỉ còn 17,6%… Môi trường sống xen kẽ, hòa đồng giữa người Kinh và người Thượng trên cùng địa bàn xã, thôn, tổ dân cư ngày càng phát triển. Đó cũng chính là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh và xóa đói giảm nghèo.

Mùa xuân đến, đồng bào dân tộc thiểu số ở đây càng tri ân Đảng, Nhà nước, tổ chức và cá nhân từ thiện đã luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với người vùng cao, vùng dân tộc thiểu số, đặc biệt khó khăn. Ngoài ngân sách trung ương (7,450 tỷ đồng), năm nay tỉnh đã huy động kinh phí 13,983 tỷ đồng (Trong đó, ngân sách tỉnh 11,519 tỷ đồng; ngân sách các huyện, thị xã, thành phố 264 triệu đồng; nguồn từ mặt trận, đoàn thể và các tổ chức từ thiện 2,2 tỷ đồng) để tặng quà và hỗ trợ cho 93.005 người thuộc đối tượng chính sách, trợ cấp xã hội và hộ nghèo, cận nghèo vui tết, đón xuân.

Mùa xuân mới ở vùng cao A Lưới, Tết no ấm, an lành trong tiếng cồng chiêng của lễ hội Aya (tết truyền thống của các dân tộc thiểu số) vang lên khắp mọi miền, làm cho không khí càng thêm Xuân…

Quốc Việt
congly.com.vn

Bác Hồ với mùa xuân

Mùa xuân giữ vị trí quan trọng và đã trở thành một hình tượng xuyên suốt trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã góp phần tạo nên ở vị lãnh tụ kính yêu- nhà thi sĩ lớn của dân tộc Việt Nam một nét phong cách nghệ thuật hết sức độc đáo: Rất cổ điển mà vô cùng hiện đại.

Bác Hồ chúc Tết

Sự gặp gỡ giữa hai đối cực này đã làm cho thơ của Người, đặc biệt là những bài thơ xuân, thấm đẫm hồn dân tộc, đậm đà cốt cách Á Đông, phảng phất bóng dáng ung dung tự tại của những bậc tao nhân mặc khách, nhưng lại tràn trề sức thanh xuân và luôn toát ra một tinh thần lạc quan vô hạn, thể hiện bản lĩnh vô song của một nhà cách mạng vô sản lỗi lạc. Vì thế, mùa xuân trong thơ Bác thường lộng lẫy mà tĩnh lặng, thanh cao sang trọng, lịch lãm nhưng không hề xa cách với cuộc đời:

Rằm xuân lồng lộng trăng soi
Sông xuân nước lẫn mầu trời thêm xuân
Giữa dòng bàn bạc việc quân
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền

                                                              (Rằm tháng Giêng)

Có thể coi Rằm tháng Giêng là một kiệt tác về mùa xuân với cảnh xuân thật đẹp, tình xuân lai láng, hương xuân nồng nàn, sắc xuân rạng rỡ! Ở đó, tiểu vũ trụ-thi nhân và đại vũ trụ đất trời bao la tưởng như tan chẩy hòa nhập vào nhau, cộng cảm giao hòa cùng nhau, theo đúng thuyết Tam tài. Thi phẩm dường như đã đạt đến mức độ cổ điển.

Nhưng khác với cổ nhân, cũng không giống những nhà thơ mới, thơ xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh chẳng hề vương vấn nỗi yếm thế buồn sầu mà ngược lại, dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào từ thơ Người, ta vẫn nghe vần thắng vút lên cao (Vô đề),vẫn thấy ngập tràn một niềm vui thắng lợi, thơ Bác sâu lắng mang vẻ đẹp tỏa sáng của một vị đại Nho thông thái đang ung dung.

Thơ của nhà hiền triết Hồ Chí Minh luôn là sự tích hợp giữa những giá trị tinh hoa của văn hóa bác học Đông Tây với sự minh triết và thông tuệ của dân gian nên mùa xuân thường mang ý nghĩa kép: đâu chỉ là mùa xuân của đất trời mà còn mang biểu tượng của hào khí dân tộc, của sự sống bất diệt, mang vẻ đẹp của tuổi trẻ và biểu tượng cho tương lai tươi sáng của cách mạng:

Với một trí tuệ vô cùng mẫn tiệp và khả năng nhìn xa trông rộng, nhà chiến lược Hồ Chí Minh đã trở thành người đi trước thời đại, nên ngay từ cách đây hơn nửa thế kỷ, vào mùa xuân 1960, Người đã trịnh trọng phát động phong trào toàn dân trồng cây gây rừng tạo nên ngày hội trồng cây mỗi khi tết đến xuân về – một mỹ tục mới nhằm bảo vệ môi trường, bảo vệ sự sống của nhân loại và góp phần làm cho đất nước bốn mùa là cả một mùa xuân:

Mùa xuân là tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân

Không những thế, vị lãnh tụ tài hoa Hồ Chí Minh còn sáng tạo được một phong tục đẹp khác là làm thơ mừng xuân để gửi tặng đồng bào, chiến sĩ. Từ năm 1942 đến năm 1969, Người đã để lại cho cháu con một di sản quý báu gồm 22 bài thơ chúc Tết với mong ước thiêng liêng: Năm mới thắng lợi mới, năm mới tiến bộ mới để đất nước luôn hưng thịnh, vững bền. Đó là chưa kể những bài thơ xuân Người viết cho bè bạn như thơ Tặng Bùi Công, Cảnh rừng Việt Bắc… hay viết cho chính mình với một niềm lạc quan vô hạn:

Sáu mươi tuổi vẫn còn xuân chán
So với ông Bành vẫn thiếu niên

Chúng đã thỏa nguyện được tâm lý yêu thơ, thích thưởng thức thơ vào dịp đầu năm mới và khát vọng về một cuộc sống bình yên của toàn thể con dân đất Việt. Hai mươi hai bài thơ chúc tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh mỗi bài một vẻ, trong đó có không ít bài được coi là tuyệt bút:

Xuân về xin có một bài ca
Gửi chúc đồng bào cả nước ta
Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi
Tin Mừng thắng trận nở như hoa

                                                             (Mừng xuân 1967)

Những bài thơ chúc tết thấm đẫm hồn non nước của Người ngày đó đã được thiêng hóa và trở thành lời tiên đoán sáng suốt về vận mệnh của toàn dân tộc:

Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua
Thắng trận tin vui khắp mọi nhà
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta.

                                                             (Mừng xuân 1968)

Mùa xuân chứa đựng bao nhiêu phong tục thiêng liêng: Nào tục khai bút đầu xuân của một đất nước trọng văn, nào những lời chúc tốt lành nhân dịp năm mới, nào tục lệ tổng kết thành tích vào dịp cuối năm để năm mới làm ăn tấn tới , nào thể thơ lục bát thuần Việt có nguồn gốc ngàn đời từ ca dao… Mùa xuân được Người phô diễn bằng cách cảm, cách nghĩ của dân gian, mang rất nhiều màu sắc dân gian và rất đậm chất xuân, ngập tràn không khí tết: Có hoa nở, cờ hồng, có cách gọi tên theo lối Âm lịch: Nhâm ngọ, Bính Tuất, Đinh Hợi, Mậu Tý, Kỷ sửu, Canh Dần, Tân Mão, Quý Tỵ, Nhâm Thìn….Nhờ thế mà những nội dung tư tưởng lớn lao, mang tính thời sự cao trong thời khắc trọng đại, đã dễ dàng đến với trái tim của mỗi người dân, làm cho vị lãnh tụ càng trở nên gần gũi và những vần thơ tuôn chảy từ trái tim nhà cách mạng của giai cấp vô sản bỗng trở thành những bức thông điệp mang tầm vóc của một lời sấm truyền với tính chất dự báo rất lớn. Rồi suốt mấy chục năm liền, việc Bác đọc thơ mỗi dịp xuân về đã trở thành một nét văn hóa đặc sắc, thiêng liêng như lời non nước.

Những vần thơ xuân đầy hào khí của vị lãnh tụ kính yêu đã trở thành phương châm hành động thôi thúc toàn thể nhân dân tin tưởng, cùng nhau đoàn kết, xốc tới giành thắng lợi:

Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to
Vì độc lập, vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào
Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào
Bắc Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!

Và chúng vẫn mãi mãi như những cánh hồng đào chỉ lối mùa xuân đến, góp phần khai thông con đường dân tộc Việt Nam đi lên hạnh phúc rộng thênh thênh.

T.S Trần Thị Trâm
baobacninh.com.vn

Nhớ lời Bác, thực hiện tốt Tết trồng cây

Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cứ mỗi độ Tết đến xuân về, nhân dân cả nước lại nô nức ra quân thực hiện “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác”.

Mùa xuân là Tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân

63 năm qua kể từ khi Bác chính thức phát động “Tết trồng cây” (năm 1960) trong toàn dân cùng với lời dạy “việc này ít tốn kém mà lợi ích nhiều” và “trong mười năm, nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu sẽ hiền hòa hơn, cây gỗ sẽ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta”, Tết trồng cây đã trở thành một phong tục tập quán mới, một truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng - Ảnh tư liệu

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng – Ảnh tư liệu

Ở Bắc Ninh nhiều năm qua, thực hiện lời dạy của Bác, Tết trồng cây đã luôn được duy trì và phát triển rộng khắp, không chỉ mở đầu cho việc thực hiện thắng lợi kế hoạch trồng cây gây rừng cả năm, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái mà còn mở đầu cho một năm mới với khí thế thi đua sôi nổi rộng khắp của các cấp, ngành, các địa phương, đơn vị phấn đấu cho việc hoàn thành thắng lợi kế hoạch cả năm ngay từ những ngày đầu xuân. Phát huy truyền thống đó, xuân Quý Tỵ này Bắc Ninh sẽ phát động Tết trồng cây ngay từ ngày làm việc đầu tiên (Mùng 9 Tết) với sự tham gia của các đồng chí lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo các ngành, các địa phương và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh. Đây là tiền đề, động lực quan trọng để tỉnh thực hiện thắng lợi mục tiêu trồng cây, trồng rừng cả năm 2013.

Tuy nhiên, do Tết Quý Tỵ năm nay được nghỉ dài ngày, lại trùng mùa lễ hội, các địa phương đang tập trung gieo cấy lúa xuân nên các ngành, các địa phương cần quán triệt nghiêm túc tinh thần chỉ đạo của tỉnh, chủ động, tích cực xây dựng và triển khai kế hoạch Tết trồng cây thật cụ thể, sát sao và có sự chỉ đạo quyết liệt nhằm tổ chức Tết trồng cây thực sự thiết thực, sâu rộng, hiệu quả và chất lượng. Trước hết, các ngành, các địa phương cần đẩy mạnh tuyên truyền ý nghĩa của Tết trồng cây, cũng như ý nghĩa, hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường sinh thái của việc trồng cây, trồng rừng. Từ đó, tích cực vận động nhân dân tham gia trồng cây theo lời kêu gọi của Bác “người người trồng cây, nhà nhà trồng cây”.

Cần xây dựng những kế hoạch cụ thể, những công việc phù hợp, tận dụng triệt để quỹ đất để trồng cây xanh, bố trí những loài cây trồng bảo đảm hiệu quả lâu dài về kinh tế, bảo vệ môi trường và xây dựng cảnh quan… để mọi người dân, từ các cụ già đến các em học sinh, từ các cơ quan, đơn vị đến các tổ chức đoàn thể đều có thể tham gia trồng và chăm sóc cây hiệu quả. Khẩn trương thực hiện các bước chuẩn bị cho Tết trồng cây, từ việc khảo sát, thiết kế, chuẩn bị đầy đủ về vật tư phân bón, nhân lực… đến việc chuẩn bị tổ chức lễ phát động sao cho trang trọng, thiết thực, tiết kiệm và hiệu quả, tránh phô trương, hình thức hoặc qua loa, chiếu lệ, lãng phí. Đặc biệt cần có những cơ chế, chính sách và biện pháp mạnh để chăm sóc và bảo vệ cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, tránh mọi hiện tượng xâm lấn, phá hoại rừng và cây xanh trên địa bàn…

Trong bối cảnh hiện nay, việc thực hiện tốt Tết trồng cây và phong trào trồng cây gây rừng như lời Bác dạy, không chỉ có ý nghĩa tạo cảnh quan, mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu toàn cầu, tạo tiền đề cho tỉnh thực hiện thắng lợi công cuộc CNH, HĐH một cách bền vững. Đó cũng chính là những hành động, việc làm thiết thực để mỗi chúng ta “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Lê Thanh
baobacninh.com.vn

Cảm tưởng về hình ảnh Bác Hồ về nước vào mùa xuân năm 1941

Vào năm 1941, sau 30 năm bôn ba đi tìm đường cứu nước cho dân tộc, vượt qua biết bao khó khăn, trở ngại tưởng chừng không thể vượt qua nổi, mong ước được trở về nước cùng đồng bào đấu tranh của Bác Hồ đã trở thành hiện thực. Và khi vừa đặt chân lên mảnh đất quê hương, Người đã lặng đi bên cột mốc 108 biên giới Việt – Trung, mặt hướng về Tổ quốc, ngắm nhìn núi rừng trùng điệp Cao Bằng – mảnh đất địa đầu của Tổ quốc, rồi Người cúi xuống cầm nắm đất Tổ quốc lên hôn mà đôi mắt rưng rưng.

Bác Hồ về nước xuân Tân Tỵ

Tổ quốc – tiếng gọi thiêng liêng, luôn trong trái tim mỗi người dân. Đối với một con người không có tình cảm nào cao hơn, lớn hơn, thiêng liêng hơn tình yêu Tổ quốc. Lòng yêu nước, yêu Tổ quốc là cốt lõi trong tính cách và bản chất của dân tộc ta, nó là cội nguồn tạo nên sức mạnh, là máu chảy trong huyết quản mỗi người Việt Nam. Lòng yêu nước, yêu Tổ quốc càng sáng ngời qua tấm gương cuộc đời của Bác – một con người với tầm tư tưởng lớn, quyết ra đi tìm đường cứu nước, cả cuộc đời Người dành cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Bác đã từng nói “Tôi luôn luôn là một người yêu nước, tranh đấu cho độc lập và thống nhất thật sự của Tổ quốc tôi ”“Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi ”. Giữa lúc kế sách cứu nước của những nhà cách mạng tiền bối còn mờ mịt chưa có đường ra thì Bác đã làm ra điều kỳ diệu. Chỉ với hai bàn tay lao động và ý chí cứu nước mãnh liệt, giấu trong lòng nỗi đau xót, sự quyến luyến, Bác quyết ra đi cho một ngày trở lại. Chính từ nỗi đau dân nước, tình thương nhân loại là động lực bên trong thôi thúc Bác tìm đến lý tưởng cách mạng nhân đạo và khoa học của Mác – Lênin. Có thể thấy trong hành trình đi tìm một con đường mới cho dân tộc, Người đã chèo lái con thuyền sức mạnh của mình bằng tình yêu đất nước tha thiết. Trong cuộc hành trình đó, Người đã phải trải qua biết bao nhiêucông việc cực nhọc như làm bồi bàn, lao công quét tuyết, phụ bếp cho khách sạn… vất vả là vậy nhưng Người chưa bao giờ thôi nghĩ đến vận mệnh của đất nước. Trong tâm trí Người luôn luôn cháy bỏng tình yêu Tổ quốc đến tha thiết, hình bóng quê hương chẳng lúc nào phai mờ. Càng xa quê hương Người càng thấm thía nỗi khổ đau mà đồng bào đang phải gánh chịu.Người ăn không ngon, ngủ không yên mỗi khi nghĩ về Tổ quốc đang chịu nhiều thương đau. Trái tim giàu lòng yêu nước của Người cùng đau với nỗi đau của dân tộc trong cảnh nước mất, nhà tan. Có thấu hiểu tình yêu lớn lao mà Bác dành cho đồng bào, cho Tổ quốc, có đặt mình vào trong hoàn cảnh của Bác lúc bấy giờ mới thật sự hiểu hết tâm trạng bồi hồi, niềm xúc động của Người sau 30 năm xa sứ sở, chịu biết bao gian truân, khổ ải mới được đặt chân về với đất mẹ. Niềm vui ấy không thể nói hết bằng lời. Khi đặt bước chân đầu tiên lên dải đất quê hương, lòng bồi hồi, xúc động Người lặng đi trong phút giây thiêng liêng được về với Tổ quốc, với đồng bào. Phút giây đó, sau này được Người kể lại rằng“Bao nhiêu năm thương nhớ, đợi chờ. Hôm nay mới bước chân về nơi non sông gấm vóc của mình. Khi bước qua cái bia giới tuyến, lòng Bác vô cùng cảm động”. Có niềm xúc động nào hơn niềm xúc động của một người con xa quê, xa đất nước mình hàng chục năm trời lại được trở về trong không khí của ngày Tết cổ truyền của dân tộc, khi tất cả những kỷ niệm, những thương nhớ và những giá trị truyền thống của dân tộc dường như đang sống lại, đang ùa về trong lòng.

Không quan cách, xa hoa, rộn rã, ồn ào, Bác trở về trong hình ảnh rất đời thường, bình dị, vĩ đại mà gần gũi thân thương, toả sáng mà ấm áp hiền hoà. Lúc ấy Bác mặc trang phục của người Nùng (một dân tộc sinh sống ở Cao Bằng), quần áo chàm, đầu thì đội mũ may bằng vải màu chàm, chân đi đôi giày vải đen, quàng khăn vừa che kín râu. Hành lý mà Bác mang theo chỉ vẻn vẹn có một chiếc vali bằng mây nhỏ cũ kỹ đựng quần áo và chiếc máy đánh chữ xách tay. Hình ảnh đơn sơ, giản dị ấy cùng với với tấm lòng, trái tim giàu lòng yêu nước của Bác đã làm cho ta, mỗi người con đất Việt càng thêm mến phục và kính yêu Bác nhiều hơn, cảm nhận được sự hy sinh cao cả của Bác, sự bình dị, gần gũi của Bác. Và cũng thật xúc động khi Bác cúi xuống cầm nắm đất Tổ quốc lên hôn. Đó quả là hình ảnh cảm động, Bác đã trân trọng, đã yêu quý từng tất đất của Tổ quốc đến nhường nào. Bước chân đầu tiên về đất mẹ cũng là giây phút Người lắng nghe sự sống của sinh thể đất nước đang phôi thai trong lòng mình. Nhà thơ Chế Lan Viên đã diễn tả lại hình ảnh ấy bằng những câu thơ đầy xúc động “Kìa! bóng Bác đang hôn lên hòn đất/ Lắng nghe trong màu hồng hình đất nước phôi thai”. Bác về nước đúng vào mùa xuân, mùa tươi đẹp nhất của đất trời, mùa của trăm hoa đua nở, mùa của lộc biếc chồi xanh, vạn vật như khoác lên mình sắc áo mới hứa hẹn một tương lai tươi sáng ở phía trước.Người về nước trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, cả thiên nhiên đất trời như reo vui Ôi sáng xuân nay, xuân bốn mốt/Trắng rừng biên giới nở hoa mơ/Bác về… im lặng. Con chim hót/Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ (Thơ: Theo chân Bác của Tố Hữu). Sự kiện Bác Hồ về nước mùa Xuân năm 1941 là một mùa xuân đặc biệt trong cuộc đời bảy mươi chín mùa xuân của Người, vì đó là mùa xuân đầu tiên Bác Hồ trở về Tổ quốc, kết thúc chặng đường dài sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước, hoạt động ở nước ngoài, để rồi từ đó trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam và cùng Đảng ta đem lại những mùa xuân cho dân tộc, chấm dứt trăm năm nô lệ tăm tối.

Đã bảy mươi hai mùa xuân trôi qua nhưng hình ảnh khi lần đầu tiên Bác trở về với Tổ quốc sau 30 năm xa cách ấy vẫn mãi không phai nhòa trong lòng mỗi người dân Việt Nam. Mỗi chúng ta đều không khỏi bồi hồi xúc động và thành kính tưởng nhớ đến Bác Hồ kính yêu đã hy sinh trọn đời mình cho dân tộc, đã dành cả cuộc đời chăm lo cho hạnh phúc nhân dân mà không gợn chút riêng tư để đất nước hôm nay trọn niềm vui độc lập tự do và đổi mới phát triển. Công lao to lớn đó của Bác không có gì có thể so sánh được. Càng nhớ Bác Hồ, mỗi người chúng ta hôm nay càng phải thực hiện tốt hơn Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, góp phần đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống, tạo thành nguồn sức mạnh to lớn cổ vũ toàn dân cùng thi đua, phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng, xứng đáng với lòng mong ước của Bác Hồ kính yêu “Xây dựng một mước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”./.

Thu Hiền
sgtvt.gialai.gov.vn

Bác Hồ với tết cổ truyền của dân tộc

         Đầu năm 1946, trong thư gửi Tuổi trẻ Việt Nam Bác viết “Một năm mới khởi đầu từ mùa xuân, một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Mùa xuân là mùa khởi đầu của một năm và người Việt Nam có quan niệm trong những ngày đầu năm mới, mùa mà vạn vật khoe sắc hương, thiên nhiên tươi đẹp, những điều tốt đẹp nhất sẽ đến với mọi người. Từ ngày đất nước được độc lập, vào những ngày tết cổ truyền của dân tộc Bác luôn dành trọn những ngày nghỉ của mình đến thăm từng nhà, coi nhân dân ta chuẩn bị tết cổ truyền như thế nào, qua đó sẽ biết nhân dân ta có được hưởng cuộc sống ấm no, vui tươi chưa? Dù bận trăm công nghìn việc nhưng không bao giờ Bác quên đi thăm đồng bào, chiến sĩ.

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng - Ảnh tư liệu

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng – Ảnh tư liệu

          Xuân Bính Tuất năm 1946, trong cuộc vi hành đêm 30 tết của mùa xuân độc lập đầu tiên, Bác Hồ đã chứng kiến cảnh gia đình của một người đạp xích lô “Tết mà không có tết”, ngoài một nén hương đang cháy dở trên bàn còn chủ nhà đang nằm đắp chiếu mê mệt vì ốm. Bác đã xúc động lấy khăn lau nước mắt, lặng lẽ đi ra và dặn đồng chí thư ký hôm sau mang thuốc, quà của Người đến thăm hỏi và nhắc đồng chí thư kí ghi lại để báo cho đồng chí Chủ tịch ủy ban hành chính Hà Nội biết.

          Kể từ mùa xuân đầu tiên đó, suốt 24 năm làm chủ tịch nước, mỗi khi tết đến xuân về Bác lại nghĩ đến dân, lo sao cho dân có một mùa xuân ấm no, hạnh phúc. Thường thì trước tết ba tháng Bác đã nhắc các cơ quan, các ngành chuẩn bị tết cho dân. Riêng Bác cũng tự mình chuẩn bị sớm ba việc: Tìm ý thơ cho bài thơ mừng năm mới; nhắc Văn phòng chuẩn bị thiệp “Chúc mừng năm mới” để kịp gửi đến những nơi xa xôi nhất, kể cả bộ đội ở những vùng rừng núi, hải đảo và cán bộ công tác ở nước ngoài; và cuối cùng là một chương trình đi thăm dân không thể thiếu đối với Bác do Văn phòng chuẩn bị cũng có khi là một chương trình riêng mà chỉ Bác và các đồng chí cảnh vệ biết.

          Tết năm 1962 nếu chỉ đi thăm các gia đình theo chương trình của Văn phòng bố trí thì làm sao Chủ tịch nước biết được gần đến giao thừa rồi mà chị Nguyễn Thị Tín – một người gánh nước thuê ở ngõ 16 Lý Thái Tổ, Hà Nội vẫn còn phải đi gánh nước thuê đổi gạo để sáng mai, mùng một tết có cơm cho bốn đứa con của mình. Gặp Bác, chị Tín xúc động làm rơi cả đôi thùng gánh nước xuống đất, run run cầm lấy bàn tay Bác:

          – Cháu không ngờ Bác lại đến thăm…

          Chỉ nói được như vậy chị đã òa lên khóc nức nở.

          Vị chủ tịch nước đã an ủi chị:

          – Bác không đến thăm những gia đình như cô thì thăm ai…

          Và Bác đã vào thăm hỏi khá lâu năm mẹ con chị Tín. Gọi là nhà nhưng đâu có phải là nhà mà là một cái chái như túp lều. Chồng chị Tín là công nhân khuân vác ở bến phà Đen đã mất cách đó bốn năm, còn chị thì cho đến lúc này vẫn chưa có việc làm ổn định. Cảnh nghèo của gia đình đã phũ phàng hiện ra trước mắt Bác. Trên chiếc bàn gỗ mục chỉ có một nải chuối xanh và một nén hương. Bốn đứa nhỏ, đứa lớn nhất đang ngồi trên chiếc giường chia nhau một gói kẹo. Đúng là “Ba mươi tết mà không có tết”. Cách đây hơn 15 năm, tết độc lập đầu tiên Bác đã chứng kiến cảnh một gia đình “Tết mà không có tết” ở ngõ hẻm Sinh Từ, đó là khi đất nước mới thoát khỏi vòng nô lệ. Còn bây giờ kháng chiến đã thắng lợi, hòa bình đã gần chục năm mà lại còn cái cảnh này sao? Không phải ở đâu xa mà ngay thủ đô Hà Nội… Vậy còn bao nhiêu gia đình như thế này ở khắp mọi miền đất nước? Cứ ngồi nghe báo cáo thì đâu cũng no ấm, vui tươi…

          Bác đã từng tâm sự với đồng chí phục vụ: “Một ngày dân chưa đủ ăn, áo chưa đủ mặc, các cháu chưa được học hành, mọi người còn khổ thì Bác ăn không ngon, ngủ không yên”.

          Ngày nay, nền kinh tế của nước ta đã phát triển hơn, đời sống của đại bộ phận nhân dân đã phần nào được nâng cao nhưng không có nghĩa là đã hết những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và rất cần sự chung tay giúp đỡ, chia sẻ của cả cộng đồng. Phát huy truyền thống “Tương thân tương ái”, “lá lành dùm lá rách” của dân tộc và cụ thể hơn là học tấm gương sáng ngời của Bác về lòng nhân ái, tình thương yêu con người, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc chăm lo đời sống của nhân dân. Trong những ngày lễ, tết Đảng, Nhà nước đã chỉ đạo các ban ngành hỗ trợ các gia đình chính sách, hộ nghèo đảm bảo kịp thời để tất cả mọi người đều được vui tết, đón xuân đầm ấm.

          Là một tỉnh vùng cao như Đăk Lăk với hơn bốn mươi dân tộc anh em cùng sinh sống. Mỗi dân tộc có một nét văn hóa riêng, phong tục tập quán riêng nhưng sự đoàn kết, thương yêu, chia sẻ luôn là mục tiêu chung của các dân tộc. Học tập tấm gương của Bác, hàng năm chuẩn bị cho tết cổ truyền của dân tộc các sở ban ngành cũng luôn quan tâm, tạo điều kiện để mọi người cùng được vui xuân, đón tết. Điển hình như Sở Y tế Đăk Lăk trong những ngày rộn rã đón sắc xuân, ban lãnh đạo, Công đoàn ngành cũng như các đơn vị trực thuộc không bao giờ quên việc đến thăm hỏi, chúc tết và tặng quà cho các gia đình chính sách, chiến sĩ đồn biên phòng, buôn làng kết nghĩa và các bệnh nhân phải nằm lại bệnh viện trong những ngày tết… Tết cổ truyền năm Qúy Tỵ 2013, riêng Văn phòng Sở Y tế và Công đoàn ngành Y tế tổ chức thăm hỏi, chúc tết tại buôn kết nghĩa, đồn biên phòng với gần 300 suất quà trị giá gần 70 triệu đồng. Giá trị của những món quà tuy nhỏ nhưng đã thể hiện tấm lòng chân thành của cán bộ, công nhân viên chức ngành y tế, góp phần động viên, an ủi, chia sẻ niềm vui với bà con, chiến sĩ cũng như người bệnh. Đây là một trong những hoạt động thiết thực nhằm thắt chặt hơn tình cảm của các dân tộc anh em, góp phần xây dựng Đăk Lăk ngày càng phát triển giàu mạnh./.

Bài & ảnh: Hồng Vân
(Trung tâm Truyền thông GDSK)
soytedaklak.gov.vn

Cây đào mùa Xuân

Ảnh minh họa: Internet

Chuyện được ghi lại rằng: Buổi sáng trời đẹp cuối tháng Chạp năm Bính Thân – 1956, một đoàn đại biểu chính quyền và nhân dân xã Nhật Tân (Hà Nội), trong đó có nhiều cụ phụ lão tuổi 70, 80 dẫn đầu đã đem một cây đào được đánh cả gốc đưa lên ô tô, chở lên Phủ Chủ tịch. Cây đào này đã được một cụ ở xã Nhật Tân chăm sóc trong thời gian hai năm, được các cụ bình chọn là ưng ý nhất. Cây đào có chốt thẳng, tán tròn hình mâm xôi, sai nụ, hoa to rất đẹp mắt, tràn đầy không khí mùa xuân sắp đến.

Đến nơi, đoàn đại biểu nhân dân xã Nhật Tân được mời vào phòng khách Phủ Chủ tịch. Được tin, Bác Hồ đã đến ngay phòng khách, tươi cười nói chuyện với Đoàn và các cụ phụ lão. Bác hỏi chuyện ăn Tết của người dân ở địa phương. Mọi người hồ hởi

– Dạ, kính thưa Bác, năm ngoái nhân dân trong xã ăn Tết vui lắm vì Thủ đô mới được giải phóng. Trong xã tính ra đã thịt 12 con bò và lợn, gói nhiều bánh chưng để ăn Tết.

Nghe vậy Bác Hồ liền nói:

– Thịt nhiều trâu bò, thế lấy gì mà cày bừa làm ruộng.

Ngừng một lát, Bác Hồ nói tiếp:

– Ăn Tết là rất phấn khởi vui mừng nhưng mọi nhà cần chú ý tiết kiệm, vì đất nước ta còn nghèo vì vừa phải trải qua nhiều năm chiến tranh và từ nay đất nước sẽ còn phải tiết kiệm để làm được nhiều việc lớn. Chính quyền cần thường xuyên vận động nhân dân hăng hái thi đua tăng gia sản xuất để nhân dân ngày càng no ấm hơn.

Đoàn đại biểu xã Nhật Tân ngỏ ý, từ nay mỗi độ Xuân về sẽ mang cây đào kính tặng Bác để Bác vui Xuân, đón Tết, góp phần to đẹp thêm cảnh sắc Phủ Chủ tịch.

Ngắm nhìn khá lâu cây đào rất đẹp, được chăm sóc 2-3 năm, Bác nói:

– Bác xin cảm ơn các cụ và các đồng chí đã đem tặng Bác cây đào đẹp thế này. Nhưng sang năm, các cụ và các cháu thôi không phải đem cây đào lên tặng Bác nữa. Các đồng chí trong cơ quan và Bác sẽ trồng cây đào này và nhân nó ra để năm nào cũng có hoa đào Nhật Tân đón Xuân vui Tết. Cây đào này sẽ làm cho Bác vui hơn và khoẻ hơn năm cũ.

Trên đường trở về nhà, đoàn đại biểu nhân dân xã Nhật Tân rất vui và cũng thấm sâu những lời căn dặn ân tình của Bác Hồ – một vị Chủ tịch nước nhất nhất nói gì, làm gì cũng ân cần nhắc nhở mọi người luôn luôn cần cù, tiết kiệm để xây dựng xóm thôn, xây dựng đất nước

Theo Phuly.edu.vn
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Xuân Tân Tỵ 72 năm trước Bác Hồ về nước

Được Quốc tế Cộng sản đồng ý, mùa Thu năm Mậu Dần (1938), Nguyễn Ái Quốc từ Viện Nghiên cứu các vấn đề Dân tộc và thuộc địa (Liên Xô) lên đường trở về Tổ quốc.

Nhưng đến năm Kỷ Mão (1939) chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, nên cuối năm ấy Người mới đến Côn Minh. Tháng 6/1940 Bác tới Quế Lâm, rồi về Tĩnh Tây và chọn Cao Bằng, nơi có phong trào cách mạng phát triển, liên lạc quốc tế thuận lợi để làm căn cứ địa cách mạng.

Bác Hồ về nước xuân Tân Tỵ

Trong thời gian lưu lại ở bản Nậm Quang (giáp huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng), Người mở lớp huấn luyện cho 43 cán bộ, có các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Phùng Chí Kiên phụ giảng.

Đầu Xuân, mùng Một Tết Tân Tỵ (27/1/1941), Người và anh em cán bộ đi chúc Tết bà con hai thôn Nậm Quang và Nậm Tẩy. Người tặng mỗi nhà một tờ giấy hồng điều, có ghi bốn chữ Hán “Cung chúc tân Xuân”, tặng mỗi cháu nhỏ phong bao tiền mừng tuổi. Ai nấy phấn khởi, nhà nhà hân hoan.

Sáng mùng Hai Tết (28/1/1941) trời rét căm căm, sương mù dày đặc, Người và các đồng chí cùng đi tạm biệt Nậm Quang lên đường về nước sau 30 năm ra đi tìm đường cứu nước. Người xiết bao xúc động bởi hơn 10 nghìn ngày thương nhớ, đợi chờ nay đã thành sự thật.

Sau khi vượt cột mốc 108, đồng chí Lê Quảng Ba đưa Bác và anh em vào nhà ông Máy Lì, dân tộc Nùng, một cơ sở tin cậy của cán bộ ta ở làng Pác Bó. Được nghe cán bộ giới thiệu ông Ké (ông già) cũng là cán bộ ở dưới xuôi lên, ông Máy Lì mừng vui lắm, gọi con gái mang ra thau nước nóng mời ông Ké rửa mặt. Nghỉ ngơi một lát, chủ nhà bưng ra mâm cỗ mời ông Ké và Đoàn cán bộ vui Xuân “con Rắn”. Từ đáy lòng mình, ông Máy Lì chậm rãi nói: “Biết thế nào ông Ké và các cháu cũng đến nên già cố chờ, để hái lộc năm Tỵ này to hơn”. Bên mâm cỗ tết, mọi người trò chuyện râm ran. Riêng Bác vẫn lặng yên, vẻ mặt ưu tư vì sau 30 cái Tết vắng nhà nhưng không bao giờ có Tết, hôm nay lần đầu tiên trở về đất mẹ, sống lại ngày Tết cổ truyền.

Nghe ông Máy Lì mời rất thịnh tình, Bác nhìn mọi người và cầm đũa chỉ vào từng món ăn trên mâm, hỏi tên các món ăn bằng tiếng dân tộc. Thấy Bác nói và nghe tiếng dân tộc rất chuẩn làm cho ông chủ nhà xúc động, mến phục. Bữa cơm ngày Tết kết thúc lúc xế chiều. Trời tối dần, mọi người đi ngủ, bên ngoài sương xuống nhiều, Bác và ông Máy Lì vẫn rì rầm nói chuyện. Đêm ấy, Bác cứ thổn thức, gần sáng mới ngủ thiếp đi.

Sáng mùng 03 Tết, vừa ngủ dậy, Bác nói với đồng chí Lê Quảng Ba: “Đồng bào ở đây nghèo, nhà chật chội, ta đông người, ở đây mãi không tiện, ra rừng thôi”. Theo hướng dẫn của ông Máy Lì, Bác và anh em chuyển lên ở trong một hang đá bí mật, đó là hang Cốc Pó, phía sau hang núi đá là đất Trung Quốc, khi lâm sự có thể rút sang bên đó an toàn. Trong hang tuy âm u, tối tăm, ẩm thấp song địa hình xung quanh hùng vĩ nên thơ, có con suối trong xanh, có quả núi cao. Sau này Bác gọi là suối Lê-nin và núi Các Mác. Đồ tư trang của Bác lúc ấy chỉ có vài bộ quần áo, một va-li tài liệu, một máy chữ. Chỗ nằm của Bác là các cành cây ghép lại, trên trải liếp tre đan, vô cùng thiếu thốn gian khổ.

Hàng ngày, Bác ngồi làm việc trên tảng đá bên suối, dưới vòm cây xanh, có nhiều hoa rừng, bướm bay, chim hót. Từ địa điểm lịch sử này, Bác đã làm hai bài thơ bất hủ: “Sáng ra bờ suối, tối vào hang/ Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng/ Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng/ Cuộc đời cách mạng thật là sang” và: “Non xa xa, nước xa xa/ Nào phải thênh thang mới gọi là/ Đây suối Lê-nin, kia núi Mác/ Hai tay gây dựng một sơn hà”.

Về Pác Bó ít ngày, Bác đã phát động tổ chức các hội quần chúng, thành lập các Đội Tự vệ, hình thành Mặt trận Thống nhất. Tháng 4/1941, Bác chủ trì hội nghị tiến tới thành lập Việt Nam độc lập Đồng Minh. Đến ngày 10/5/1941 với danh nghĩa là phái viên của Quốc tế Cộng sản, Bác triệu tập Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương bên con suối Khuổi Nặm, gần làng Pác Bó. Sau Hội nghị lịch sử này, Bác viết thư “Kính báo đồng bào” gửi đồng bào cả nước, kêu gọi toàn dân đoàn kết đánh đuổi giặc Pháp, phát xít Nhật.

Trở về Tổ quốc để trực tiếp lãnh đạo cách mạng, Bác và Đảng đã đưa phong trào cách mạng nước ta có những chuyển biến vô cùng to lớn. Chỉ sau 4 năm từ khi Bác về nước (28/1/1941 đến 19/8/1945), chính quyền cách mạng đã được thành lập trong phạm vi cả nước bằng một cuộc tổng khởi nghĩa giành thắng lợi từ Bắc vào Nam. Nước Việt Nam đã là một nước độc lập – đúng như dự đoán thiên tài của Bác Hồ năm 1942, một năm sau khi Người về nước ở Cao Bằng.

Qua 72 mùa Xuân từ Tân Tỵ đến Quý Tỵ dù phải trải qua 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân ta từng vượt qua bao hi sinh gian khổ, song cách mạng Việt Nam đã toàn thắng, hoàn thành mục tiêu “Độc lập dân tộc”, đang tiến hành công cuộc đổi mới, tiếp tục công cuộc xây dựng vì “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Ngày Bác Hồ về nước năm ấy đã trở thành dấu ấn kì diệu của lịch sử cách mạng Việt Nam, tạo nên bước ngoặt mới cho cách mạng nước ta.

Theo Quốc Sĩ/ Báo Người cao tuổi
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Những bài thơ Xuân của Bác Hồ

Thơ Xuân là một phần “đặc biệt” trong thơ của Bác Hồ. Hơn thế, đó không chỉ vì Thơ, vì Tết, vì Xuân, mà là truyền thống của dân tộc, là tình cảm, là tấm lòng, là món quà đầu năm mới Bác Hồ gửi tặng đồng bào và chiến sĩ cả nước, là những định hướng chiến lược, những lời đúc kết, đánh giá những thắng lợi trong năm qua và đề ra phương hướng nhiệm vụ của năm tới, là những lời động viên, cổ vũ toàn dân tộc cùng nhau đoàn kết một lòng, vững bước tiến lên trong đấu tranh cách mạng, trong lao động và sáng tạo để xây dựng quê hương, đất nước…

12.

Tháng 12-1967, Hội nghị Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá III họp dưới sự chủ tọa của Bác, trên cơ sở phân tích tình hình trong nước và thế giới, đã quyết định mở đợt Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968). Tinh thần và quyết tâm của Bộ Chính trị chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định được Chủ tịch Hồ Chí Minh truyền tới đồng bào và chiến sĩ cả nước qua thư Chúc mừng năm mới, ngày 1 tháng 1 năm 1968. Cuối thư, Người chúc đồng bào và chiến sĩ cả nước bằng những vần thơ Xuân quen thuộc:

“Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!”

Bác đã theo dõi sát và động viên kịp thời từng chiến công của quân và dân ta trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy giữa mùa Xuân ấy. Đặc biệt ở Huế, ngay từ đêm 31-1-1968, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu, đồng loạt tiến công vào 40 mục tiêu địch trong nội và ngoại thành phố Huế, thành lập chính quyền cách mạng ở nhiều nơi… Ngay trong những ngày sôi động ấy, Người đã gửi thư khen thành tích chiến đấu của quân và dân Huế đánh giỏi, công tác giỏi, thu được nhiều thắng lợi. Khi được tin tiểu đội nữ du kích thôn Vân Thê, xã Thanh Thuỷ, huyện Hương Thuỷ – trong Tổng tiến công Xuân Mậu Thân được giao nhiệm vụ bảo vệ Sở chỉ huy cánh Nam, tham gia chuyển thương binh và tiếp đạn – khi địch chuyển sang phản kích giải vây Huế, đã xin được trang bị vũ khí, tiếp tục chiến đấu và đã chiến đấu vô cùng anh dũng, đẩy lui nhiều đợt phản kích của địch, Bác Hồ đã gửi thư khen và tặng 11cô gái sông Hương bài thơ:

“Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường,
Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường. 
Bác khen các cháu dân quân gái, 
Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương”.

Chiến công nối tiếp chiến công. Tin thắng trận từ khắp các chiến trường miền Nam dồn dập báo về chính là những bông hoa thơm dâng Bác, làm xúc động lòng Người. Và, giữa mùa Xuân chiến thắng ấy, Người đã mượn cái cớ lâu rồi không làm thơ, đọc cho đồng chí thư ký chép bài thơ “Không đề” với vần “thắng” bất ngờ và thú vị, gửi một đồng chí Uỷ viên Trung ương Đảng:

“Đã lâu chưa làm bài thơ nào, 
Đến nay thử làm xem ra sao. 
Lục mãi giấy tờ vẫn chưa thấy, 
Bỗng nghe vần thắng vút lên cao”.

Bài thơ đã nhanh chóng lan xa và làm xúc động lòng người. Nhà thơ Chế Lan Viên đã kể về niềm sung sướng, hạnh phúc khi được nghe bài thơ Xuân “độc đáo” này: “Tôi nhớ lại một cuộc họp ở Pari năm 1968, khi bộ trưởng Hoàng Minh Giám trong diễn văn của mình đã đọc một bài thơ tứ tuyệt của Bác thì cả hội trường trí thức Pháp đã vỗ tay và đứng dậy. Hàng trăm Việt kiều và chúng tôi lúc ấy đã giàn giụa nước mắt. Tự hào và sung sướng cho dân tộc ta biết nhường nào…”.

Tin thắng lợi của cuộc tiến công và nổi dậy đồng loạt của quân và dân ta trên khắp các chiến trường miền Nam càng khẳng định sức mạnh lớn của quân dân ta trong những thử thách vô cùng quyết liệt của cuộc chiến đấu có một không hai này. Còn có công việc nào trọng đại hơn công việc đánh giặc giữ nước và niềm vui nào lớn hơn niềm vui thắng trận. Giữa Xuân này, Bác viết bài thơ bằng chữ Hán “Mậu Thân Xuân tiết” (Tết Mậu Thân):

“Tháng tư hoa nở một vườn đây, 
Tía tía, hồng hồng đua sắc tươi.
Chim trắng xuống hồ tìm bắt cá,
Hoàng oanh vút tận trời. 
Trên trời mây đến rồi đi, 
Miền Nam thắng trận báo về tin vui”.

Xuân này, đọc lại những vần thơ Xuân của Bác Hồ từ 41 Xuân trước càng thấy rõ hơn những lời tâm tình trong thơ Bác vừa tràn ngập sắc Xuân, vừa toát lên tinh thần lạc quan, khoẻ khoắn của một ý chí lớn: Ý chí cách mạng tiến công. Tinh thần ấy, ý chí ấy đã giúp Bác vượt lên những hạn chế của tuổi tác, giữ được sự hài hoà giữa vật chất và tinh thần, chan hoà và gắn bó làm một với phong trào cách mạng, với cuộc sống mới đang dựng xây và phát triển của non sông đất nước.

Theo TS. Chu Đức Tính (Bảo tàng Hồ Chí Minh)
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Cải cách ruộng đất 1953 – Văn bản quy phạm pháp luật

QUỐC HỘI
Số: Không số

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
_________________________
Hà Nội, ngày 04 tháng 12 năm 1953

LUẬT

CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT

CHƯƠNG I

MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT

Điều 1. – Mục đích và ý nghĩa cải cách ruộng đất là:

Thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và của đế quốc xâm lược khác ở Việt Nam, xoá bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ,

Để thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân,

Để giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và mở đường cho công thương nghiệp phát triển,

Để cải thiện đời sống của nông dân, bồi dưỡng lực lượng của nhân dân, lực lượng của kháng chiến,

Để đẩy mạnh kháng chiến, hoàn thành giải phòng dân tộc, củng cố chế độ dân chủ nhân dân, phát triển công cuộc kiến quốc.

CHƯƠNG II

TỊCH THU, TRƯNG THU, TRƯNG MUA RUỘNG ĐẤT

MỤC I

ĐỐI VỚI RUỘNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ CỦA ĐẾ QUỐC

XÂM LƯỢC KHÁC; CỦA ĐỊA CHỦ VIỆT GIAN, PHẢN ĐỘNG,

CƯỜNG HÀO GIAN ÁC.

Điều 2. – Tịch thu toàn bộ ruộng đất và tài sản của thực dân Pháp và của đề quốc xâm lược khác.

Điều 3. – Đối với địa chủ Việt gian, phản động, cường hào gian ác, thì tuỳ tội nặng nhẹ mà tịch thu toàn bộ hoặc một phần ruộng đất, trâu bò, nông cụ, lương thực thừa, nhà cửa thừa và tài sản khác.

Phần không tịch thu thì trưng thu.

MỤC II

ĐỐI VỚI RUỘNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN CỦA NHÂN SĨ DÂN CHỦ, ĐỊA CHỦ

KHÁNG CHIẾN, ĐỊA CHỦ THƯỜNG.

Điều 4. – Đối với nhân sĩ dân chủ, địa chủ kháng chiến, địa chủ thường, thì:

Trưng thu toàn bộ ruộng đất hiện có cùng trâu bò và nông cụ.

Không đụng đến tài sản khác.

Giá trưng mua ruộng đất là giá sản lượng trung bình hàng năm của ruộng đất trưng mua.

Giá trưng mua trâu bò, nông cụ là giá thị trường ở địa phương.

Giá trưng mua được trả bằng một loại công phiếu riêng.

Công phiếu ấy được trả lãi 1,5 phần trăm mỗi năm.

Sau thời hạn mười năm sẽ hoàn vốn.

MỤC 3

ĐỐI VỚI RUỘNG ĐẤT CỦA ĐỊA CHỦ ĐÃ PHÂN TÁN.

Điều 5. – Từ ngày ban hành sắc lệnh giảm tô (14 tháng 7 năm 1949) đến ngày ban hành sắc lệnh phát động quần chúng triệt để giảm tô (12 tháng 4 năm 1953), việc phân tán ruộng đất của địa chủ với mục đích trốn tránh sắc lệnh giảm tô và sắc lệnh thuế nông nghiệp, là không chính đáng.

Đối với ruộng đất của địa chủ đã phân tán trong trường hợp kể trên, thì xử trí như sau:

1) Ruộng đất đã phân tán vào tay địa chủ thì tịch thu, trưng thu hoặc trưng mua tuỳ trường hợp, như đã quy định ở điều 3 và điều 4.

Giá trưng mua ruộng đất phân tán nói trên là nguyên giá lúc mua.

Giá trưng mua đó được trả cho địa chủ đã mua ruộng đất phân tán bằng công phiếu.

2) Ruộng đất đã phân tán vào tay phú nông thì trưng mua theo nguyên giá lúc mua.

Giá trưng mua sẽ trả dần trong thời hạn không quá năm năm, bằng tiền hay hiện vật.

3) Ruộng đất đã phân tán vào tay trung nông thì coi đó là việc trong nội bộ nông dân lao động, dùng lối thuyết phục mà dàn xếp một cách thoả thuận, để trung nông tự động nhường lại cho nông dân không có ruộng đất hoặc thiếu ruộng đất.

Khi trung nông nhường lại, thì phải đảm bảo cho họ còn số diện tích không dưới mức bình quân chiến hữu hiện nay của trung nông trong xã.

Trung nông nhường ruộng đất được Chính phủ đền bù bằng tiền hay hiện vật theo nguyên giá lúc mua.

4) Ruộng đất đã phân tán vào tay bần cố nông thì không đụng đến.

5) Ruộng đất đã phân tán vào tay tư sản dân tộc thì trưng mua theo nguyên giá lúc mua.

Giá trưng mua sẽ trả dần trong thời hạn không quá năm năm, bằng tiền hay hiện vật.

6) Ruộng đất đã phân tán vào tay các tầng lớp tiểu tư sản, thì thuyết phục họ tự động nhường lại cho nông dân không có ruộng đất hoặc thiếu ruộng đất.

Nếu họ không đủ sống với nghề chính, thì phải để lại cho họ một phần ruộng đất để bù cho họ đủ sống.

Người nhường ruộng đất được Chính phủ đến bù bằng tiền hay hiện vật theo nguyên giá lúc mua.

Điều 6. – Từ ngày ban hành sắc lệnh phát động quần chúng thực hiện giảm tô (12 tháng 4 năm 1953), những việc phân tán ruộng đất trái phép của địa chủ đều không được thừa nhận.

Ruộng đất địa chủ phân tán trái phép bị tịch thu.

Địa chủ trái phép phải bồi thường thiệt hại cho người đã nhận ruộng đất phân tán đó.

Điều 7. – Nay xó bỏ nợ mà nông dân lao động và các tầng lớp nghèo ở nông thôn đã vay của địa chủ.

Điều 8. – Nay xoá bỏ độc quyền mặt biển và khúc sông.

MỤC 4

ĐỐI VỚI RUỘNG ĐẤT CÔNG VÀ NỬA CÔNG NỬA TƯ

VÀ RUỘNG ĐẤT CỦA TÔN GIÁO.

Điều 9.– Trưng thu:

– Công điền, công thổ;

– Ruộng phe, ruộng giáp, ruộng xóm; ruộng tư văn, tư vũ, lộc điền; ruộng hậu, ruộng họ, ruộng môm sinh, v.v..

– Ruộng đất của các đoàn thể.

Điều 10. – Ruộng đất của tôn giáo (Nhà Chung, nhà chùa, thánh thất, tu viên, v.v…) thì trưng thu và trưng mua.

Trường hợp có mua chính đáng thì trưng mua.

MỤC 5

ĐỐI VỚI CÁC LOẠI RUỘNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN KHÁC.

RUỘNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN CỦA ĐỊA CHỦ KIÊM NHÀ CÔNG THƯƠNG NGHIỆP

VÀ CỦA NHÀ CÔNG THƯƠNG NGHIỆP KIÊM ĐỊA CHỦ.

Điều 11. – Để khuyến khích sản xuất và phát triển kinh tế quốc dân, công thương nghiệp được bảo hộ.

Không đụng đến công thương nghiệp của địa chủ.

Không đụng đến đất đại trực tiếp dùng vào việc kinh doanh công thương nghiệp.

Những ruộng đất khác của địa chủ kiêm nhà công thương nghiệp và của nhà công thương nghiệp kiêm địa chủ thì trưng mua.

Ruộng đất và tài sản của những người có ít ruộng đất phát canh hoặc thuê người làm.

Điều 12. – Những người có ít ruộng đất, nhưng vì tham gia công tác kháng chiến, vì thiếu sức lao động, vì bận làm nghề khác mà phải phát canh hoặc thuê người làm, thì không coi là địa chủ.

Không đụng đến ruộng đất và tài sản của họ.

Ruộng đất và tài sản của phú nông.

Điều 13. – Kinh tế phú nông được bảo tồn.

Không đụng đến ruộng đất, trâu bò, nông cụ và tài sản khác của phú nông.

Ruộng đất và tài sản của trung nông

Điều 14. – Bảo hộ ruộng đất, trâu bò, nông cụ và tài sản khác của trung nông.

Trung nông thiếu ruộng đất được chia thêm ruộng đất.

MỤC 6

ĐỐI VỚI RUỘNG VẮNG CHỦ VÀ RUỘNG ĐẤT BỎ HOANG

RUỘNG ĐẤT VẮNG CHỦ

Điều 15. – Trưng thu ruộng đất của địa chủ không rõ tông tích.

Điều 16. – Đối với ruộng đất của địa chủ vắng mặt vì tham gia công tác kháng chiến và của địa chủ tản cư ở vùng tự do mà không phải là Việt gian, phản động, cường hào gian ác, thì trưng mua.

Điều 17. – Đối với ruộng đất ở vùng tự do của địa chủ hiện nay ở vùng tạm bị chiếm, thì tuỳ thái độ chính trị của từng người mà tịch thu, trưng thu hoặc trưng mua.

Nếu là Việt gian, phản động, cường hào gian ác, thì xử trí như đã quy định ở điều 3.

Nếu không phải là Việt gian, phản động, cường hào gian ác, thì trưng mua, như đã quy định ở điều 4.

RUỘNG ĐẤT BỎ HOANG

Điều 18. – Trưng thu ruộng đất của địa chủ bỏ hoang bất cứ vì lý do gì.

Ruộng đất không phải của địa chủ mà bỏ hoang quá hai năm không có lý do chính đáng thì trưng thu.

MỤC 7

ĐỐI VỚI RUỘNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN CỦA NGOẠI KIỀU.

Điều 19. – Về nguyên tắc, ngoại kiều không có quyền chiếm hữu ruộng đất ở Việt Nam.

Ngoại kiều được phép sử dụng ruộng đất ở Việt Nam.

Ngoại kiều nông dân từ trước đến nay sống ở nông thôn về nghề cày cấy, trồng trọt, nếu làm mọi bổn phận như người Việt Nam thì được quyền sở hữu ruộng đất.

Điều 20. – Đối với địa chủ ngoại kiều hợp tác với địch hoặc là phản động, cường hào gian ác, thì tịch thu toàn bộ hoặc một phần ruộng đất và tài sản, tuỳ tội nặng nhẹ.

Phần không tịch thu thì trưng mua.

Đối với địa chủ ngoại kiều không hợp tác với địch, không phải là phản động, cường hào gian ác, thì trưng mua toàn bộ ruộng đất, trâu bò và nông cụ.

CHƯƠNG III

CÁCH CHIA RUỘNG ĐẤT

MỤC 1

RUỘNG ĐẤT, TÀI SẢN CHIA, VÀ RUỘNG ĐẤT, TÀI SẢN KHÔNG CHIA.

Điều 21. – Trừ trường hợp quy định ở điều 22, những thứ tịch thu, trưng thu, trưng mua đều chia cho công dân:

1) Ruộng đất, trâu bò, nông cụ và tài sản khác.

2) Đồi, vườn trồng cây ăn quả, trồng chè, chẩu, cọ, sơn, dó, v.v…

Gặp trường hợp chia mà có hại cho sản xuất thì không chia.

Nếu không chia, thi do chính quyền quản lý, hoặc chính quyền giao cho chủ cũ quản lý.

Điều 22. – Những thứ không chia:

1) Ruộng đất trồng trọt bằng máy móc; đồn điền trồng cà phê, cao su hoặc trồng cây công nghiệp khác; vườn trồng cây ăn quả bằng kỹ thuật tiến bộ; đồn điền thí nghiệm, bãi phi lao ở bờ biển, v.v…

2) Rừng núi lớn, hầm mỏ; hồ lớn, sông ngòi, công trình thuỷ lợi, đê điều; đất ở ven đường xe lửa, đường xá, đất thuộc các đô thị, thị trấn, đất dùng vào các công trình lợi ích chung, v.v…

3) Cảnh vật có tiếng trong lịch sử, hoặc có giá trị về văn hoá, lâu đài, đền, miếu; sách vở tài liệu chính trị và văn hoá, v. v…, nghĩa địa và lăng tẩm, v.v…

Đất đai, nhà cửa và tài sản kể trên là của nhà nước và của chung nhân dân, do chính quyền quản lý.

Điều 23. – Trong khi chia phải để lại ở mỗi xã một số ruộng đất để dùng vào những việc sau đây: đón thương binh về làng; dự phòng sau này chia cho những người ở xa về; làm trụ sở cho cơ quan, làm trường học v.v…

Điều 24. – Ruộng đất do nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác khai phá từ Cách mạng Tháng Tám thuộc quyền sở hữu của những người đã có công khai phá.

Không được đụng đến ruộng đất đó.

MỤC 2

NGƯỜI ĐƯỢC CHIA.

Điều 25. – Những người sau đây được chia:

1) Nông dân không có ruộng đất hoặc thiếu ruộng đất: bần cố nông và trung nông thiếu ruộng đất.

Phú nông làm tá điền thiếu ruộng đất cũng được chia.

2) Đối với những tầng lớp nghèo ở nông thôn (người làm nghề thủ công, người làm hàng xay hàng xáo, người buôn thúng, bán mẹt, người làm nghề đánh cá, người làm nghề tự do, v.v…), nếu không đủ sống và có sức cày cấy, thì được chia một phần để bù thêm cho đủ sống.

3) Những người sau đây, nếu gia đình họ ở nông thôn và thuộc hạng được chia, thì được chia một phần ngang với phần chia cho nông dân:

a) Liệt sĩ, quân nhân cách mạng, thương binh, bệnh binh.

b) Cán bộ chính quyền và đoàn thể; nhân viên phục vụ kháng chiến, công nhân các xí nghiệp quốc doanh.

4) Công nhân thất nghiệp, và gia đình họ ở nông thôn, nếu không có nghề khác để sống và có sức cày cấy, thì được chia.

5) Những người tản cư về nông thôn, nếu không đủ sống, có sức cày cấy, yêu cầu được chia, và nông dân nơi họ tản cư đồng ý, thì cũng được chia.

Họ chỉ được phép sử dụng mà không có quyền sở hữu ruộng đất được chia.

6) Nhà Chung, nhà chùa, từ đường họ, và các cơ quan tôn giáo khác, được để lại một phần ruộng đất để dùng vào việc thờ cúng.

Phần ruộng đất ấy do nhân dân địa phương bình nghị và Uỷ ban Kháng chiến Hành chính tỉnh xét định.

Trường hợp đặc biệt quan trọng do cấp trên quyết định.

Những người làm nghề tôn giáo, nếu không đủ sống, có sức cày cấy và yêu cầu, thì được chia một phần ruộng đất ở nơi họ hoạt động, hoặc ở quê quán họ.

7) Nhân sĩ dân chủ, địa chủ kháng chiến, địa chủ thường, và gia đình của họ, được chia một phần xấp xỉ với phần chia cho nông dân.

Nhân sĩ dân chủ, địa chủ kháng chiến được chiếu cố một cách thích đáng.

8) Việt gian, phản động, cường hào gian ác bị xử phạt trên năm năm tù thì không được chia; từ năm năm tù trờ xuống thì được chia.

Gia đình họ vẫn được chia.

9) Gia đình ngụy binh ở nông thôn thuộc hạng được chia, thì cũng được chia.

Ngụy binh cũng được chia một phần ruộng đất. Nhưng khi họ chưa bỏ hàng ngũ ngụy quân trở về với Tổ quốc, thì ruộng đất ấy do Uỷ ban Kháng chiến Hành chính hay Nông Hội xã tạm giữ.

10) Ngoại kiều và gia đình họ, nếu không có nghề đủ sống, có sức cày cấy, và yêu cầu, thì được chia một phần ruộng đất.

MỤC 3

NGUYÊN TẮC CHIA.

Điều 26. – Nguyên tắc chia là:

– Thiếu nhiều chia nhiều, thiếu ít chia ít, không thiếu không chia;

– Chia trên cơ sở nguyên canh, rút nhiều bù ít, rút tốt bù xấu,

rút gần bù xa;

– Chia theo nhân khẩu chứ không theo sức lao động;

– Lấy số diện tích bình quân và số sản lượng bình quân ở địa phương làm tiêu chuẩn để chia;

– Chia theo đơn vị xã; song nếu xã ít người nhiều ruộng, thì có thể san sẻ một phần cho xã khác ít ruộng nhiều người, sau khi đã chia đủ cho nông dân trong xã.

Điều 27. – Trong khi chia ruộng đất, phải chiếu cố đến quyền lợi của tá điền trung nông.

Khi rút phần ruộng đất mà tá điền trung nông đang cày cấy, thì phải để lại cho họ một phần; phần ruộng đất để lại cộng với số ruộng đất tư của họ phải nhiều hơn số bình quân được chia một ít và không quá số bình quân chiếm hữu của mỗi nhân khẩu trong xã.

Điều 28. – Liệt sĩ, quân nhân cách mạng, thương binh, bệnh binh được ưu đãi trong khi chia.

Gia đình của họ được chiếu cố.

Điều 29. – Đối với những nhà nông dân nghèo chỉ có một hai người mà có sức lao động, nếu xã có đủ ruộng đất thì có thể chia cho họ nhiều hơn phần của những người khác.

Điều 30. – Để khuyến khích tăng gia sản xuất, ruộng đất vỡ hoang chưa quá ba năm của nông dân không tính vào số ruộng đất của họ trong khi chia.

MỤC 4

QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐƯỢC CHIA.

Điều 31. – Người được chia ruộng đất có quyền sở hữu ruộng đất đó, và không phải trả cho địa chủ hay chính quyền bất cứ một khoản nào.

Chính quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu ấy cho người được chia. Mọi khế ước cũ đều huỷ bỏ.

Người được chia có quyền chia gia tài, cầm, bán, cho, v.v… ruộng đất được chia.

CHƯƠNG IV

CƠ QUAN CHẤP HÀNH VÀ PHƯƠNG PHÁP

THỰC HIỆN CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT.

Điều 32. – Trong thời gian cải cách ruộng đất, sẽ lập Uỷ ban cải cách ruộng đất ở Trung ương, khu và tỉnh.

Dưới sự lãnh đạo của chính quyền, Uỷ ban cải cách ruộng đất có nhiệm vụ thi hành luật cải cách ruộng đất, và lãnh đạo cụ thể cuộc phát động quần chúng thực hiện cải cách ruộng đất.

Điều 33. – ở cấp xã, hội nghị đại biểu nông dân toàn xã, ban chấp hành Nông Hội xã là những cơ quan hợp pháp chấp hành luật cải cách ruộng đất.

Điều 34. – Khi phân định thành phần giai cấp, phải theo đúng điều lệ phân định thành phần giai cấp ở nông thôn do Chính phủ quy định.

Thành phần giai cấp do hội nghị đại biểu nông dân bình nghị và quyết định. Người đương sự phải được dự hội nghị để tham gia bàn định.

Quyết định của xã về thành phần giai cấp phải do Uỷ ban Kháng chiến Hành chính tỉnh duyệt y, hoặc do cơ quan được Uỷ ban Kháng chiến Hành chính tỉnh uỷ quyền, duyệt y.

Gặp trường hợp tranh chấp, thì phải đưa ra Toà án Nhân dân Đặc biệt xét định.

Điều 35. – Nghiêm cấm mọi hành động chống lại hoặc phá hoại phong trào phát động quần chúng cải cách ruộng đất.

Từ lúc ban hành luật cải cách ruộng đất đến lúc tuyên bố kết thúc cuộc cải cách ruộng đất, tuyệt đối cấm địa chủ chuyển dịch ruộng đất, trâu bò, nông cụ bằng bất cứ hình thức nào.

Kẻ phạm pháp do Toà án Nhân dân Đặc biệt xét xử.

Điều 36. – ở những nơi phát động quần chúng thực hiện cải cách ruộng đất, sẽ lập Toà án Nhân dân Đặc biệt.

Toà án Nhân dân Đặc biệt có nhiệm vụ:

1) Xét xử Việt gian, phản động, cường hào gian ác và những kẻ chống lại hoặc phá hoại cải cách ruộng đất;

2) Xét xử những vụ tranh chấp về ruộng đất và tài sản có liên quan đến cải cách ruộng đất;

3) Xét xử những vụ tranh chấp về phân định thành phần giai cấp.

Đối với kẻ phạm pháp thì xét xử theo pháp luật.

Nghiêm cấm bắt bớ và giết chóc trái phép, đánh đập, tra tấn hoặc dùng mọi thứ nhục hình khác.

Điều lệ tổ chức Toà án Nhân dân Đặc biệt do Chính phủ, quy định.

CHƯƠNG V

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 37. – Luật cải cách ruộng đất này định cho toàn quốc.

Vùng tự do có đủ điều kiện thì thi hành trước. Các vùng khác chưa đủ điều kiện, thì thi hành sau.

Chính phủ sẽ định trong vùng tự do, nơi nào thi hành trước, nơi nào thi hành sau.

Đối với những vùng dân tộc thiểu số, tuỳ theo tình hình, Chính phủ sẽ quy định riêng.

Điều 38. – Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ban bố luật cải cách ruộng đất.

Chính phủ quy định chi tiết và chịu trách nhiệm thi hành luật cải cách ruộng đất này.

—————————-

Luật này do Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà thông qua trong khoá họp lần thứ III ngày 4 tháng 12 năm 1953

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
(Đã ký)
Hồ Chí Minh

moj.gov.vn

Hơn 28.900 lượt người viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

(Ảnh: Dương Giang/TTXVN)

Trong dịp Tết Nguyên đán Quý Tỵ 2013, đông đảo đồng bào, chiến sỹ ở nhiều địa phương trong nước và du khách nước ngoài đã nô nức “đổ” về Quảng trường Ba Đình lịch sử, vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Theo thống kê của Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ ngày 10-14/2, (tức ngày 1-5 Tết đã có gần 28.910 lượt người vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh; trong đó, có gần 9.730 lượt khách nước ngoài.

Riêng ngày 14/2 (tức Mồng 5 Tết) đã có gần 10.590 lượt người vào viếng Lăng và thăm nơi làm việc, nơi ở của Người.

Để phục vụ các tầng lớp nhân dân trong cả nước và du khách nước ngoài vào Lăng viếng Bác dịp Tết Nguyên đán Quý Tỵ năm nay, Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động trang trí khu vực Quảng trường Ba Đình, cử cán bộ, chiến sỹ, bảo đảm tiếp đón khách chu đáo, theo đúng quy định./.

Nguyễn Cường (TTXVN)
vietnamplus.vn

Thơ Xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bác Hồ chúc TếtThơ Xuân có một vị trí “đặc biệt” trong thơ chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt bởi lời thơ ngắn gọn, ngôn từ và cách diễn đạt dễ hiểu như lời Người tâm sự: “Mấy lời thân ái nôm na, Vừa là kêu gọi, vừa là mừng Xuân”. Thêm nữa, bên cạnh những cảm xúc đẹp về mùa Xuân, Người còn làm thơ để mừng tuổi đồng bào. Gần 30 năm trời (1942 – 1969), cứ mỗi khi Tết đến Xuân về là đồng bào cả nước lại mong chờ những vần thơ chúc Tết của Bác như một món quà ý nghĩa. Món quà ấy là nguồn động viên, cổ vũ toàn dân tộc cùng nhau đoàn kết một lòng, vững bước tiến lên trong đấu tranh cách mạng, trong lao động và sáng tạo để  dựng xây quê hương, đất nước… Hơn thế, đằng sau thi hứng từ mùa Xuân, đằng sau nỗi niềm dân tộc, tấm lòng với đồng bào, mỗi bài thơ của Hồ Chí Minh còn là một bài học lớn khiến chúng ta phải suy ngẫm, noi theo.

Mùa Xuân với sức sống và vẻ đẹp của nó từ bao đời nay đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận của các thi nhân. Là thi sĩ ai lại không có một đôi vần thơ Xuân trong đời? Hồ Chí  Minh cũng vậy. Yêu đời, say mê cuộc sống, tâm hồn dễ xúc cảm trước cái đẹp của con người, thiên nhiên, tạo vật, vì thế, thơ Xuân chiếm một phần không nhỏ trong sự nghiệp sáng tác của Người. Có điều khác là, Xuân trong thơ Hồ Chí Minh không chỉ là mùa Xuân hiện hữu của đất trời mà còn là mùa Xuân chất chứa bao nỗi niềm dân tộc, Xuân bởi lòng người, Xuân của lịch sử và của mong ước tương lai. Đọc thơ Xuân của Hồ Chí Minh, chúng ta thấy có hai mảng: Những bài thơ viết về mùa Xuân và những bài thơ viết nhân dịp mừng Xuân hay chính là thơ chúc mừng năm mới.

1. Thơ viết về mùa xuân

Nói đến thơ Xuân của Bác, chúng ta không thể không nhắc tới một bài thơ được coi là kiệt tác, Người viết ở chiến khu Việt Bắc năm 1948: Nguyên tiêu:

Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên
Xuân giang, Xuân thuỷ tiếp Xuân thiên.
Yên ba thâm xứ đàm quân sự
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.

Vẻ đẹp của bài thơ này đã được các nhà nghiên cứu, nhà phê bình và những người yêu thơ Bác viết khá nhiều. Chỉ với bốn câu thơ, Bác đã khơi gợi trước mắt người đọc vẻ đẹp thơ mộng, tràn đầy, viên mãn của mùa Xuân trong không gian và thời gian. Đêm rằm tháng giêng, mặt trăng tròn sáng ngời soi tỏ dòng sông mùa Xuân, làn nước mùa Xuân, bầu trời mùa Xuân. Tưởng như rất quen thuộc nhưng cũng không khỏi bất ngờ bởi góc nhìn tươi mới của thi nhân:

Rằm Xuân lồng lộng trăng soi
Sông Xuân nước lẫn màu trời thêm xuân
Giữa dòng bàn bạc việc quân,
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

                                                                        (Bản dịch của Xuân Thuỷ)

Vẫn dòng sông ấy, màu nước ấy, vẫn mây trời ấy, dưới ánh trăng rằm, trong một đêm mùa Xuân lại mang một màu sắc mới: Mùa Xuân làm cho trăng thêm đẹp. Và trăng làm cho cảnh vật thêm hữu tình. Ánh trăng, mùa Xuân, sông nước, mây trời quyện hòa, chứa chan vào nhau, tô điểm cho nhau, cùng nhau khơi gợi tâm hồn thi sĩ, soi xuống con thuyền Người đang “đàm quân sự”. Có lần Người đã từng hẹn với trăng: “Việc quân đang bận xin chờ hôm sau”. Bàn xong việc quân trời đã nửa đêm nhưng Người chiến sỹ – thi sỹ ấy không thể lại một lần lỗi hẹn cùng trăng nữa. Trăng Xuân oà vào lòng người, người mở rộng lòng đón trăng, thưởng ngoạn chất Xuân sung mãn với tâm thế sảng khoái và lạc quan. Con thuyền bàn bạc việc quân đã trở thành con thuyền trăng trôi nhẹ trên sông, ẩn hiện trong màn khói sóng. Trăng là biểu tượng cao đẹp, sáng láng của tự do. Con thuyền bát ngát trăng cũng bát ngát niềm vui cao đẹp tin tưởng vào bình minh sáng rỡ của dân tộc. “Nguyên tiêu” là một bức tranh Xuân đẹp được vẽ nên từ những vần thơ đẹp. Viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, “Nguyên tiêu” mang phong vị Đường thi: Một con thuyền, một vầng trăng, có sông Xuân, nước Xuân, trời Xuân, khói sóng, không gian bao la yên tĩnh…Chỉ khác một điều, ở giữa khung cảnh thiên nhiên hữu tình ấy, nhà thơ không có rượu và hoa để thưởng trăng, không đàm đạo thi phú mà “đàm quân sự”. Bài thơ vừa thể hiện tâm hồn, phong thái của một “tao nhân mặc khách” vừa thể hiện trí tuệ, cốt cách thanh cao của vị lãnh tụ thiên tài.

Không chỉ rung động trước vẻ đẹp của mùa Xuân. Xuân còn đi vào trong thơ Bác như là một nguyên cớ, là nguồn cảm hứng để người bày tỏ cái nhìn lạc quan, biện chứng về xu thế vận động, phát triển của lịch sử, của dân tộc. Trong bài Tự khuyên mình Người viết:

Nếu không có cảnh đông tàn
Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày Xuân
Nghĩ mình trong bước gian truân
Gian nan rèn luyện tinh thần thêm hăng.

Mùa Xuân ở đây được đặt trong mối tương quan đối lập với mùa đông. Đông về, giá lạnh, khắc nghiệt. Xuân tới, ấm áp, tươi vui. Bốn mùa luân chuyển: Hết Đông tất tới Xuân. Cuộc sống con người cũng vậy. Để có được ngày Xuân rạng rỡ, huy hoàng, đừng ngại gian truân, vất vả. Nắm được quy luật tất yếu của lịch sử, của xã hội, Bác luôn nhìn cuộc sống, nhìn cách mạng với một tinh thần lạc quan và lòng tin tưởng sâu sắc vào ngày thắng lợi.

Lấy Xuân để giãi bày, nhân lên niềm vui, niềm phấn khởi tới muôn người con đất Việt, năm 1968, Bác Hồ viết nhiều thơ Xuân nhất. Điều đặc biệt là chùm thơ Xuân ngày ấy (gồm 6 bài) được viết ở những thời khắc khác nhau, với những nội dung và cách biểu đạt khác nhau, nhưng tất cả đều khởi nguồn từ niềm tin và niềm vui chiến thắng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân năm 1968. Chiến công nối tiếp chiến công. Tin thắng trận từ khắp các chiến trường miền Nam dồn dập báo về chính là nguồn thi hứng dạt dào với Người. Giữa mùa Xuân chiến thắng ấy, Người mượn  cớ đã lâu không làm thơ, đọc cho đồng chí thư ký chép bài thơ “Không đề” gửi một đồng chí Uỷ viên Trung ương Đảng:

Đã lâu chưa làm bài thơ nào,
Đến nay thử làm xem ra sao.
Lục mãi giấy tờ vẫn chưa thấy,
Bỗng nghe vần thắng vút lên cao“.

Nghe như một lời bộc bạch giản dị, thân tình, nhưng chỉ với một “vần thắng” cho thấy cảm hứng mới thật mãnh liệt. Mãnh liệt và truyền cảm, câu thơ ấy đã đem đến niềm xúc động cho bao người, những người chiến sĩ, những đồng bào đang một lòng hướng tới Miền Nam ruột thịt. Với Bác, không có công việc nào trọng đại hơn việc đánh giặc giữ nước và không có niềm vui nào lớn hơn niềm vui thắng trận. Giữa Xuân này, Bác viết:

“Tháng tư hoa nở một vườn đầy,
Tía tía, hồng hồng đua sắc tươi.
Chim trắng xuống hồ tìm bắt cá,
Hoàng oanh vút tận trời.
Trên trời mây đến rồi đi,
Miền Nam thắng trận báo về tin vui”.

                         Mậu thân Xuân tiết (dịch thơ)

Hoà cùng niềm vui chiến thắng chung của dân tộc, trong mùa Xuân ấy, Bác Hồ cũng góp thêm một “chiến công” thầm lặng của mình. Đó là, khi sức khoẻ của Bác đã suy giảm nhiều so với những năm trước, thấy Người ho nhiều, để giữ gìn sức khoẻ cho Người, các bác sĩ đã đề nghị “hai chớ” (chớ hút thuốc, chớ uống rượu). Nhân dịp này, Bác Hồ đã “tự mình đề thơ làm chứng” về quá trình rèn luyện đó:

Thuốc không, rượu chẳng có mừng Xuân,
Dễ khiến thi nhân hoá tục nhân,
Trong mộng thuốc thơm và rượu ngọt,
Tỉnh ra thêm phấn chấn tinh thần”.

                   Nhị vật (dịch thơ, 1, tr.336)

Từ bỏ một thói quen đã lâu năm mà nỗi nhớ đi cả vào trong mộng thì quả không phải là điều dễ dàng. Nhưng, Người đã quyết tâm và thực hiện thành công. Đó là kết quả của ý chí và sự kiên trì. Và niềm vui phấn chấn tinh thần ấy lại được Người viết tiếp trong bài thơ “Vô đề”:

Thuốc kiêng, rượu cữ đã ba năm,
Không bệnh là tiên sướng tuyệt trần.
Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn,
Một năm là cả bốn mùa Xuân” .

                                 Không đề (dịch thơ, 1, tr.341)

Cách mạng thành công, đất nước độc lập, nhân dân tự do chính là mùa Xuân tươi đẹp nhất trong trái tim thiêng liêng, ngời sáng của Hồ Chí Minh. “Làm cho đất nước càng ngày càng Xuân”, “Một năm là cả bốn mùa Xuân”, là nỗi niềm, là mong muốn khôn nguôi của Bác. Nỗi niềm riêng, mong muốn riêng cũng là nỗi niềm chung, mong muốn chung của cả dân tộc, là cái đích Đảng ta phấn đấu đạt tới. Đây chính là nét đẹp tột đỉnh của nhân cách, trí tuệ Hồ Chí Minh.

Qua những vần thơ viết về mùa Xuân, chúng ta thấy ở Bác luôn có một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế của một thi nhân cùng với một cốt cách, phong thái ung dung, tự tại của người chiến sĩ cách mạng kiên trung. Xuân khơi nguồn cảm hứng thơ. Thơ lấy Xuân làm nguyên cớ. Xuân tự đất trời và Xuân tự lòng người hòa quyện, tâm hồn thi sĩ và tinh thần chiến sĩ kết tụ, Bác để lại cho đời những vần thơ vừa rung động, tràn ngập sắc Xuân, vừa toát lên tinh thần lạc quan, khoẻ khoắn của một ý chí lớn: Ý chí cách mạng.

2. Thơ chúc mừng năm mới

Thủ tướng Phạm Văn Đồng có lần đã viết “Hồ Chủ tịch là người Việt Nam, Việt Nam hơn người nào hết. Ngót ba mươi năm bôn ba bốn phương trời, Người vẫn giữ thuần tuý phong độ, ngôn ngữ, tính tình của một người Việt Nam. Ngay sau khi về nước, gặp Tết, Người không quên mừng tuổi đồng bào hàng xóm và quà bánh cho trẻ em. Chỉ có mấy đồng xu, nhưng cũng bọc giấy hồng đơn cẩn thận, tươm tất…”. Không chỉ có thế, mỗi dịp Tết đến, Người luôn có một món quà mừng tuổi ý nghĩa có thể gửi tới tất cả đồng bào của mình đó là những bài thơ chúc mừng năm mới. Lấy thơ làm quà “mừng Xuân”, Người cũng mượn thơ để “kêu gọi”, khích lệ đồng bào và khẳng định niềm tin vào một tương lai rạng ngời của dân tộc:

Tháng ngày thấm thoát chóng như thoi,
Nǎm cũ qua rồi, chúc nǎm mới:
Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong !
Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi !
Chúc đồng bào ta đoàn kết mau !
Chúc Việt Minh ta càng tấn tới,
Chúc toàn quốc ta trong nǎm này
Cờ đỏ ngôi sao bay phất phới!
Nǎm này là nǎm Tết vẻ vang,
Cách mệnh thành công khắp thế giới.

                                  (Thơ chúc Tết Xuân Nhâm Ngọ – 1942, 2, tr.210)

Theo thơ chúc Tết của Bác, chúng ta như được dịp ôn lại lịch sử của dân tộc, được dịp nhìn lại những năm tháng kháng chiến của toàn dân vừa trường kỳ gian khổ vừa thắng lợi vẻ vang. Xuân 1946, Xuân đầu tiên nước nhà được độc lập. Cách mạngTháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa đầu tiên… một loạt các sự kiện ghi dấu son lịch sử đã mang đến cho nhân dân cả nước một mùa Xuân đầy hào khí của bài ca thắng lợi. Vui cái vui của đồng bào, trong cái Tết đặc biệt này, Bác Hồ đã có đến ba bài thơ Xuân chúc Tết đồng bào và chiến sĩ cả nước: Chúc Tết Bính Tuất – 1946, Mừng Báo Quốc gia, Gửi chị em phụ nữ Xuân Bính Tuất (3, tr.169).

Bác chúc đồng bào cả nước:
Trong nǎm Bính Tuất mới,
Muôn việc đều tiến tới.
Kiến quốc mau thành công,
Kháng chiến mau thắng lợi.

Việt Nam độc lập muôn nǎm!

Đối với Bác, với nhân dân ta, mùa Xuân 1946 này mới thực sự là mùa Xuân dân chủ cộng hoà, Tết này mới thực sự là Tết độc lập, tự do:

Tết này mới thực Tết dân ta
Mấy chữ chào mừng báo Quốc gia
Độc lập đầy vơi ba chén rượu
Tự do vàng đỏ một rừng hoa
Mọi nhà vui đón Xuân Dân chủ
Cả nước hoan nghênh Phúc Cộng hoà.

Ca bài ca chiến thắng, Bác không quên nhắc nhở mọi người phấn đấu, rèn luyện, tu dưỡng cần, kiệm, liêm, chính để xây dựng đất nước:

Năm mới Bính Tuất
Phụ nữ đồng bào
Phải gắng làm sao
Gây đời sống mới

………….

Cần, kiệm, liêm , chính
Giữ được vẹn mười
Tức là những người
Sống “Đời sống mới”

Từ năm 1945 đến năm 1954, thời kỳ “Toàn dân kháng chiến – toàn diện kháng chiến”, trong mỗi bài thơ chúc Tết của Bác, chúng ta đều như nhìn thấy, nghe thấy diễn biến của cuộc kháng chiến 9 năm trường kỳ. Đó là hào khí của dân tộc:

Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió,
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông.
Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến,
Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng.
Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào!
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông.
Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi!
Thống nhất độc lập, nhất định thành công
!

                            (Thơ Chúc năm mới Xuân Đinh Hợi – 1947)

Theo Đỗ Thị Kiều Nga / Tạp chí nghiên cứ văn hóa
Tâm Trang (st)

bqllang.gov.vn

Vì sao gọi Người là Bác Hồ?

(Petrotimes) – Một ông bạn người nước ngoài gửi e-mail đến hỏi vì sao tất cả người Việt Nam đương đại đều cùng gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh là Bác Hồ? Bài báo này như lá thư trả lời bạn xa.

Quốc Hiếu

Có một tình cờ thú vị là người đầu tiên viết tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh in thành sách lại là một, Jean Lacouture. Ông được người Pháp đánh giá là một trong những nhà văn chuyên viết tiểu sử nổi tiếng nhất nước Pháp đương đại… Lý do là ở trong nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh không đồng thuận cho viết tiểu sử mình. Nhà báo Phan Quang, nguyên Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam nhớ về Jean Lacouture như sau:

“…Trong một bữa ăn, tôi nói với Jean về cảm tưởng khi lần đầu đọc cuốn sách viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thời ấy, cả nước Việt Nam đang bừng bừng khí thế đánh Mỹ. Quân dân ta đã bắn rơi chiếc máy bay thứ 2.000… Thành thật mà nói, những tư liệu anh viết về Bác Hồ đối với chúng tôi không có gì mới. Nhưng sách của anh là cuốn tiểu sử hoàn chỉnh đầu tiên về Hồ Chí Minh. Trước anh, mới có cuốn sách mỏng của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất bản ở Liên khu 5 từ thời kháng Pháp, bài báo của đồng chí Trường Chinh và một số hồi ký của các nhà cách mạng… Hơn nữa, tác phẩm được thực hiện và xuất bản khi Người còn khỏe (1967). Chúng tôi rất biết ơn những lời tốt đẹp anh viết về Việt Nam. Có phải chính anh đã viết: Ai muốn học bài học về chủ nghĩa lạc quan, hãy đến Việt Nam?…”.

Jean Lacouture kể lại một kỷ niệm. Hôm ấy, tại Hà Nội, giữa hai đợt bom Mỹ, khi đang phỏng vấn Thủ tướng Phạm Văn Đồng thì cửa phòng hé mở và Bác Hồ nhẹ nhàng bước vào. Tiếng chân Người bước đi vẫn rất nhẹ, còn nhẹ hơn tiếng sột soạt của bộ áo quần kaki Bác mặc trên người. Bác Hồ mỉm cười, đưa tay ra hiệu bảo mọi người cứ ngồi yên và nói: “Thủ tướng nói về chính sách của Chính phủ hay hơn tôi. Tôi đến đây chỉ như một người bạn cũ để chuyện trò với nhau về những ngày đã qua thôi. Thế nào, Paris có gì mới nào, anh bạn?”.

Jean Lacouture nhận xét, Bác Hồ trông có khác đi nhiều. Tóc bạc nhiều hơn. Bộ râu dường như thưa thớt hơn lần anh được gặp trước. Dáng người của Bác vẫn dong dỏng trong bộ quần áo kaki, tuy khuôn mặt có đầy đặn hơn một chút so với hồi trước…

Và Jean Lacouture kết thúc cuốn tiểu sử bằng ý kiến riêng của mình với những dòng sau:

“Ai mà biết được? Bác Hồ bây giờ là một người cao tuổi. Đời Bác đã trải qua cả nửa thế kỷ đấu tranh cách mạng… Nhưng nếu cậu bé Cung trở thành Nguyễn Tất Thành, trở thành anh Ba, trở thành Nguyễn Ái Quốc, trở thành Vương, trở thành Line, rồi trở thành Hồ Chí Minh không được tự mắt nhìn thấy nước Việt Nam độc lập và thống nhất từ Mục Nam Quan đến mũi Cà Mau, thì những người Việt Nam khác, những người được Bác Hồ đào tạo nên và cũng đều được tôi luyện trong chiến đấu, họ sẽ thay mặt Người mà chứng kiến điều ấy trở thành hiện thực…”.

Vậy là Jean Lacouture là một trong những người nước ngoài sớm gọi “Bác Hồ”.

Một người nước ngoài khác, con trai nhà báo Wilfred Burchett là George Burchett được sinh ra tại Hà Nội năm 1955 luôn có cảm tình đặc biệt với Bác Hồ. Anh nói rằng, Wilfred Burchett ngưỡng mộ Hồ Chủ tịch nhiều hơn bất cứ nhân vật nào trong lịch sử – bởi nhân cách, cũng như sự thông tuệ đáng khâm phục, tư tưởng quốc tế và tài lãnh đạo của Người.

“Mỗi lần trở lại Việt Nam qua những chuyến thăm ngắn ngủi, Wilfred Burchett đều nói rằng, Bác Hồ gửi tới những đứa trẻ chúng tôi lời hỏi thăm ấm áp nhất – dành cho anh trai tôi, chị gái tôi và tôi. Bởi vậy, có thể nói rằng, Bác Hồ luôn hiện diện trong gia đình tôi như một hình ảnh vô cùng mạnh mẽ. Và bởi vì cha tôi đã luôn kiên định với cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do và thống nhất của Việt Nam, nên Việt Nam cũng luôn hiện diện trong gia đình tôi. Với tôi, Việt Nam – Bác Hồ thực sự là một điều gì đó sâu sắc và có thực.

Trong tâm trí tôi, Bác Hồ và cha tôi luôn có mối quan hệ mật thiết. Tôi yêu quý và trân trọng họ với tất cả trái tim mình…”.

Xưng hô chính thức và đầu tiên của Hồ Chủ tịch trước công luận là xưng… “tôi” trong câu hỏi nổi tiếng, khi Người đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945: “Đồng bào nghe tôi nói có rõ không?”. Đồng bào và tôi. Mỗi lần nói với toàn thể hay một tập hợp người Việt, Người đều dùng chữ đồng bào.

Trong nhiều trang hồi ký các nhân vật lịch sử cho thấy, Hồ Chủ tịch rất uyển chuyển khi trò chuyện với các đối tượng khác nhau. Những người như Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh thì Người gọi là tiên sinh, tướng Trần Tu Hòa là Trần tướng quân, giám mục Lê Hữu Từ là cụ, linh mục Lê Văn Yên là ngài, các ông Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Văn Tố… đều là cụ, đại diện các gia đình hảo tâm quyên góp cho Chính phủ là các bà và các ngài, hội hảo tâm là quý hội, Chủ tịch Quốc hội là cụ chủ tịch, một bộ trưởng là cụ bộ trưởng, đại diện các ủy ban nhân dân là các bạn… Trong một bức thư gửi các ngụy binh, Người gọi họ là anh em. Gửi những người đi lính cho Pháp và bù nhìn, Người viết: “Tôi thiết tha kêu gọi các người”.

Vậy “Bác Hồ” bắt đầu được gọi như vậy từ bao giờ, từ đâu ra? Thư tịch và tài liệu lưu trữ cho hay, tháng 9/1947, lần đầu tiên Người xưng bác và gọi cháu là trong “Trả lời thư chúc mừng của Hội Nhi đồng Công giáo khu Thượng Mỹ, huyện Phú Xuyên, Hà Đông” ngày 10/5/1947: “Bác cảm ơn các cháu. Bác khuyên các cháu: Biết giữ kỷ luật, siêng học siêng làm, yêu Chúa yêu nước. Bác hôn các cháu”. Và Người vẫn ký Hồ Chí Minh, chứ không ký Bác Hồ. Ba tháng sau, trong “Thư gửi nhi đồng toàn quốc nhân kỷ niệm Cách mạng tháng Tám” năm 1947, danh xưng Bác Hồ xuất hiện và từ đó được sử dụng.

Các nhà nghiên cứu lưu ý Hồ Chủ tịch chỉ xưng “Bác” trong hai trường hợp quan hệ. Thứ nhất, trường hợp bác – cháu, với nhi đồng. Điều này là bình thường. Ở tuổi 55, khi lên làm Chủ tịch nước, đối với người Việt thời đó, Người đã là một người cao tuổi. Bác gọi những người trạc tuổi mình là cụ. Trong bối cảnh ấy, xưng hô bác – cháu của Hồ Chủ tịch với nhi đồng là tự nhiên. Cuối thư gửi nhi đồng, Bác Hồ thường hôn các cháu. Trong một bức thư, Bác Hồ còn hôn các cháu rõ kêu, một kiểu biểu lộ tình cảm của người Âu – Mỹ lại được diễn đạt đậm đà bản sắc Việt Nam. Người cũng xưng trong quan hệ với những cộng sự, giúp việc kém tuổi mình. Bác ở đây là bác – cô/chú.

“Bác Hồ”, danh xưng thân thương này được dùng với mọi người, mọi nơi ở Việt Nam. Những người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên không gọi Bác mà gọi Bok Hồ (Cha Hồ). Nay trong nhiều gia đình “tam đại đồng đường”, thậm chí “tứ đại đồng đường”, cả nhà cùng gọi Bác Hồ vẫn tự nhiên như thường mà quên đi khái niệm tuổi tác. “Bác Hồ”, danh xưng này vượt qua tính chất gia đình mà là tấm lòng yêu quý, lòng kính trọng, biết ơn của mọi con dân nước Việt hôm nay và mai sau đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác Hồ sống mãi trong mỗi gia đình người Việt.

Q.H
petrotimes.vn