Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Pác Bó đón Bác Hồ về nước

Mùa xuân năm 1941, nhân dân Pác Bó vinh dự và tự hào thay mặt nhân dân cả nước đón Bác Hồ tại mốc 108 biên giới Việt -Trung sau hơn 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước trở về Tổ quốc; ngày 28/01 (tức ngày mùng 2 tết Âm lịch năm Tân Tỵ); cùng về nước với Bác có đồng chí Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Hoàng Văn Lộc, Đặng Văn Cáp và Thế An.

Nơi Bác đặt chân đầu tiên khi trở về là Pác Bó, Pác Bó có nghĩa là đầu nguồn nước, nơi ấy có dòng suối lớn, nước trong vắt, thoát ra từ hang núi đá lớn, Bác đặt tên là suối Lê – Nin. Hang đá Bác ở là một ngọn núi đá cao, Bác đặt tên là núi Các Mác. Ngày đầu tiên đồng chí Lê Quảng Ba đưa ông Ké (“ông ké”- theo tiếng địa phương có nghĩa là cụ già – là cách gọi Bác Hồ một cách thân thiện của người dân Pác Bó) về nghỉ tại nhà ông Lý Quốc Súng dân tộc Nùng. Nhà có hai gian cũ và làm thêm một gian mới để đón khách, khách và chủ cùng quây quần bên mân cơm ngày Tết của gia đình họ Lý. Sau bữa cơm chủ nhà đã thu xếp chỗ ăn ở và làm việc cho đoàn cán bộ nhưng ông Ké bảo Lê Quảng Ba: Ta có nhiều người, ở lại nhà ông Lý làm phiền chủ nhà quá, thôi nên dứt khoát “sáu sán” thôi.

Sáng sớm hôm sau ông Lý dẫn ông Ké và mấy anh em cán bộ lên hang Pác Bó. Trước cảnh sắc một sáng xuân của Tổ quốc Bác ngâm khe khẽ bài thơ mới sáng tác:

Non xa xa nước xa xa
Nào phải thêng thang mới gọi là
Đây suối Lê – nin kia núi Mác
Hai tay gây dựng một sơn hà

Trong bối cảnh cuộc sống còn gian khó, đất nước sống dưới ách áp bức của các thế lực thực dân phong kiến, nhưng ở mảnh đất Pác Bó người dân Cao Bằng đã gíac ngộ hướng về cách mạng và bảo vệ cách mạng. Tại Pác Bó Bác tự sắp xếp nơi nằm nghỉ, chỗ nấu cơm, nơi câu cá lúc nhàn rỗi, chỗ đun nước uống mà chè là lá cây ổi, kê bàn đá mộc mạc tự nhiên để dịch lịch sử cách mạng Liên Xô làm tài liệu huấn luyện cán bộ cách mạng… Từ đó ở khu Pác Bó có một ông Ké mặc bộ quần áo chàm, quần sắn cao, tay cầm gậy, dáng đi nhanh nhẹn nhưng ưng dung, thoải mái vui vẻ tiếp các cán bộ về thỉnh thị và báo cáo. Bác hoà mình vào hoàn cảnh mới hết sức tự nhiên, tâm hồn của Bác luôn ung dung lạc quan, với cuộc sống gian khó mà Bác vẫn có những vần thơ bất hủ.

Sáng ra bờ suối tối vào hang
Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang

 Khi về Pác Bó, Bác đã mở nhiều lớp đào tạo huấn luyện cán bộ, gắn họat động cách mạng với thực tiễn tại cơ sở, tổ chức thí điểm Mặt trận Việt Minh, các Hội cứu quốc các giới do 43 cán bộ đã được huấn luyện làm chủ chốt, mở rộng tổ chức ra các xã, châu Hoà An, Hà Quảng, Nguyên Bình hoạt động rất có kết quả, từ kết quả này đồng chí Vũ Anh triệu tập hội nghị tổng kết thí điểm tại Coọc Mu (Hà Quảng) vào tháng 4/1941 đó là những thực tế sinh động cho nội dung Hội nghị Trung ương lần thứ 8.

Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An bên bàn đá tại
khu di tích lịch sử Pác Bó

Ở hang Pác Bó hơn một tháng Bác cho cán bộ chuyển cơ quan sang lán Khuổi Nặm (suối nước), địa điển này tiện lợi đi lại không phải lội qua suối, nếu có động dễ thoát nhanh chóng. Tại đây Bác lấy danh nghĩa đại diện Quốc tế Cộng sản trịêu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII, Hội nghị khai mạc sáng 10/05/1941, Hội nghị đã đề ra chủ trương, nhiệm vụ mới cho cách mạng Việt Nam, hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc. Đây là Hội nghị có tầm quan trọng lịch sử, quyết định đường lối chính sách của Đảng, đặt vấn đề giải phóng dân tộc thành nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của toàn dân, đề ra chủ trương tổ chức Việt Nam Độc Lập đồng Minh, xây dựng các căn cứ địa cách mạng, xây dựng và phát triển các lực lượng vũ trang, chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa. Sau Hội nghị Bác tự tay thảo ra bức thư ”Kính cáo đồng bào” ký tên Nguyễn Ái Quốc kêu gọi đồng bào, toàn dân đoàn kết đấu tranh giải phóng dân tộc. Từ đây phong trào cách mạng ngày càng lan rộng trong chiến khu Việt Bắc, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ dân tộc ta liên tiếp giành được thắng lợi vẻ vang trong đấu tranh giải phóng dân tộc.

(Nguồn: www.caobang.gov.vn)

Bác Hồ làm gì trong mồng 1 Tết Độc lập đầu tiên?

Ngày 2/2/1946 ứng vào ngày mồng 1 Tết Bính Tuất, Tết Độc lập đầu tiên. Hồi ức của Vũ Kỳ, thư ký của Bác viết: “Sáng dậy sớm, chưa tới giờ làm việc Bác đã bảo lấy giấy ra khai bút…

4.1Bác Hồ làm gì trong mồng 1 Tết Độc lập đầu tiên

Bác đọc cho viết: Hôm nay là mồng Một Tết, ngày Tết đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà… và cuối thư có mấy câu thơ kèm theo cả khẩu hiệu: “Trong năm Bính Tuất mới/ Muôn việc đều tiến tới/ Kiến quốc mau thành công/ Kháng chiến mau thắng lợi!/ Việt Nam độc lập muôn năm”.

“Thư chúc mừng năm mới” được đăng toàn văn trên báo Cứu Quốc (ra vào ngày mồng 3 Tết) trong đó còn kêu gọi: “Trong khi đồng bào ở hậu phương đốt hương trầm để thờ phụng Tổ tiên, thì các chiến sĩ ở tiền phương dùng súng đạn để giữ gìn Tổ quốc. Trong khi đồng bào ở hậu phương rót rượu mừng xuân, thì các chiến sĩ ở tiền phương tuốt gươm giết giặc… Chúng ta quyết không để cho bọn thực dân trở lại đè nén chúng ta”.

Cũng dịp này nhân báo “Quốc gia”, cơ quan của một số trí thức Hà Nội ra số Xuân, Bác gửi thơ mừng: “Tết này mới thật Tết dân ta/ Mấy chữ chào mừng báo Quốc gia/ Độc lập đầy vơi ba chén rượu/ Tự do vàng đỏ một rừng hoa/ Muôn nhà chào đón xuân Dân chủ/ Cả nước vui chung phúc Cộng hoà/ Ta chúc nhau rồi ta nhớ chúc/ Những người chiến sĩ ở phương xa”. Và trong thơ gửi báo “Tiếng gọi phụ nữ” Bác cũng nhấn mạnh: “Năm mới Bính Tuất/ Phụ nữ đồng bào/ Phải gắng làm sao/ Gây “Đời sống mới”…”.

Gặp Chủ tịch Uỷ ban Hà Nội Trần Duy Hưng đến chúc Tết, vị Chủ tịch nước thuật lại câu chuyện đi thăm một số gia đình nghèo đêm 30 Tết và nhắc nhở lãnh đạo thành phố cùng các đoàn thể và các nhà hảo tâm phải lo cái Tết cho người nghèo đều được hưởng Tết đầu tiên nước nhà độc lập.

Sau đó Bác ghé thăm đồn Cảnh sát Hàng Trống và đến Nhà Hát lớn Thành phố để chúc Tết đồng bào và đọc lời “Chúc mừng năm mới”. Buổi trưa Bác ăn Tết cùng anh em Vệ Quốc đoàn ở Bắc Bộ Phủ.

Chiều, Bác thăm các nhà thương Đồn Thuỷ (nơi bệnh binh của Pháp đang điều trị), Phủ Doãn (vốn là bệnh viện “làm phúc” dành cho bệnh nhân nghèo) và đến ban quà Tết cho các cháu mồ côi trong Trại An Tư Viện và nhà Ấu Trĩ Viên.

X&N
Theo http://bee.net.vn
Thu Hiền (st)

bqllang.gov.vn

Tết Quý Tỵ của Bác Hồ

9.1tet quy ti cua bac ho

Ngày 28 tháng 1 năm 1953 là ngày rằm tháng chạp năm Nhâm Thìn… 

Buổi sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự và nói chuyện với Hội nghị Tổng kết Chiến dịch Tây Bắc. Chủ tịch nước “biểu dương bộ đội đã thấm nhuần quyết tâm của Trung ương Đảng, ra sức tiêu diệt nhiều sinh lực địch, chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nghiêm khắc chỉ ra những khuyết điểm: “Cán bộ yêu thương chiến sĩ chưa đúng mức. Nhiều đơn vị thực hiện chưa đúng chính sách chiến lợi phẩm, sử dụng bừa bãi, không cân bằng, dân chủ, làm việc còn… quan liêu, đại khái”.

Chủ tịch nước mời đại biểu của Đại đoàn 308 Quân Tiên Phong – Đại đoàn đầu tiên được thành lập, từ tháng 8 năm 1949, mới 4 năm mà đã trưởng thành, lập công xuất sắc lên nhận phần thưởng, mỗi Trung đoàn của Đại đoàn là 25 Huy hiệu…

Ngày 22 tháng chạp năm Nhâm Thìn, tức ngày 6 tháng 2 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh tới dự khai mạc và nói chuyện với lớp chỉnh huấn cán bộ, Đảng, quân, dân, chính của các cơ quan Trung ương. Trong bài nói chuyện, Chủ tịch nước đã nhấn mạnh đến những ưu điểm và khuyết điểm của các cán bộ Đảng và Chính phủ, trong đó có những quan điểm chưa đúng với tầng lớp trí thức…  28 tháng chạp, gần đến Tết Quý Tỵ, các báo trên khu vực Việt Bắc, khu 5, Nam Bộ… đã đăng “Thơ chúc Tết” của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

Mừng năm Thìn vừa qua,
Mừng Xuân Tỵ đã tới.
Mừng phát động nông dân,
Mừng hậu phương phấn khởi.
Mừng tiền tuyến toàn quân,
Thi đua chiến thắng mới.
Mừng toàn dân kết đoàn
Mừng kháng chiến thắng lợi
Mừng năm mới nhiệm vụ mới
Lực lượng mới, thành công mới.
Mừng toàn thể chiến sĩ và đồng bào,
Mừng phe dân chủ hòa bình thế giới!

Khoảng rằm tháng Giêng năm Quý Tỵ, trên Báo Cứu Quốc số 2282, ra vào cuối tháng 2 năm 1953, có bài viết “Động lực của cách mạng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ký bút danh Đ.X.Trung. Trong bài viết, Người giải thích: “Tùy theo tính chất cách mạng ở mỗi nước mà quyết định động lực của cách mạng. Tính chất của cách mạng nước ta là cách mạng dân chủ mới, cho nên động lực cách mạng của nước ta bao gồm: Giai cấp công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản dân tộc”.

Được báo cáo là đồng chí Vũ Kỳ đã dự chỉnh huấn xong, đang chờ nhiệm vụ mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp đồng chí Vũ Kỳ, giao nhiệm vụ thành lập một Đội Thanh niên Xung phong mới, nhận sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Đảng và Chính phủ, mà Chủ tịch nước là người chỉ đạo cụ thể. Chủ tịch Hồ Chí Minh giao hạn “sau 1 tuần hoặc 10 ngày Đội trưởng Vũ Kỳ phải về báo cáo những việc đã làm với Chủ tịch nước”.

Để tạo điều kiện thuận lợi cho Đội trưởng Vũ Kỳ, ngay sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cấp một “giấy chứng minh” đánh máy, nội dung như sau:

Giấy chứng minh.

Đồng chí Vũ Kỳ, 30 tuổi, người cao 1 mét 56. Phụ trách Thanh niên Xung phong, được phép đi đến những nơi cần cho công việc.

Hồ Chí Minh”.

Tết năm ấy là một mùa Xuân mới với đồng chí Vũ Kỳ, một năm mới của Đội Thanh niên Xung phong mới.

Đại tá, TS Nguyễn Văn Khoan
Theo Thanhtra.com.vn
Kim Yến
(st)

bqllang.gov.vn

Có một mùa xuân đặc biệt trong đời Bác Hồ

mx đặ biệt 1
Bà con Pác Bó, Cao Bằng vô cùng xúc động được gặp lại
Chủ tịch Hồ Chí Minh sau 20 năm xa cách (20-2-1961).

Hai mươi năm trước ở hang này
Đảng vạch con đường đánh Nhật, Tây;
Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu
Non sông gấm vóc có ngày nay.

Lịch sử Đảng ta, lịch sử cách mạng Việt Nam còn ghi lại những sự kiện quan trọng gắn liền với hoạt động của Bác Hồ từ Xuân Tân Tỵ 1941 ở Pác Bó. Ngày 28-1-1941, Bác về đến Cao Bằng, chừng mươi ngày “ông Ké” sống với đồng chí, thăm, chúc Tết đồng bào, ngày 8-2-1941, trong sương giá buốt lạnh của miền núi đá biên cương, Người vào sống và làm việc trong hang Pác Bó. Núi rừng hoang vu, hang sâu ẩm ướt lạnh lẽo, hoạt động bí mật, sinh hoạt kham khổ, thiếu thốn “cháo bẹ, rau măng” nhưng tình cảm, ý chí khôi phục giang sơn đất nước giải phóng dân tộc, cứu nước, cứu dân theo con đường cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin của Bác thật nhiệt huyết và lãng mạn:

Non xa xa nước xa xa,
Nào phải thênh thang mới gọi là.
Đây suối Lê-nin, kia núi Mác,
Hai tay xây dựng một sơn hà”.

Để “vạch con đường đánh Nhật, Tây”, cũng tại núi rừng Khuổi Nậm, Pác Bó, Bác chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8, họp từ ngày 15 đến 19-5-1941. Hội nghị này đã quyết định về đường lối, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạo bước chuyển cơ bản trong chuyển hướng chiến lược cách mạng, chuẩn bị lực lượng và phương pháp lãnh đạo toàn dân đấu tranh tiến tới cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành độc lập dân tộc, sau hơn 80 năm bị thực dân Pháp đô hộ, thống trị.

Vấn đề có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn vô cùng quan trọng, không chỉ ở thời kỳ Đảng hoạt động bí mật chưa lãnh đạo chính quyền mà vẫn có giá trị cho ngày nay là Bác Hồ đã truyền dạy cho cán bộ của Đảng những kinh nghiệm và bài học về phương pháp công tác, phương thức hoạt động cách mạng. Sự thật, đó chính là bàn chỉ nam, những vấn đề có tính nguyên tắc cho tổ chức và hoạt động của Đảng ta. Những điều to tát ấy lại được Bác truyền thụ cho cán bộ rất giản dị, dễ hiểu, dễ nhớ, phù hợp trình độ, điều kiện hoạt động của cán bộ lúc bấy giờ. Bác đã chọn lúc hội nghị kết thúc, trước lúc chia tay các đồng chí Trung ương và Xứ ủy, bên bờ suối trong rừng Khuổi Nậm căn dặn mọi người về cơ sở hoạt động phải ghi nhớ bốn điều: Một là, đoàn kết thương yêu nhau, gắn bó mật thiết với dân. Hai là, giữ bí mật, giữ nghiêm kỷ luật. Ba là, phải hiểu sâu, nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng và lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng theo đường lối, chủ trương của Đảng. Bốn là, thực hiện đúng phương pháp công tác: Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

Bác Hồ của chúng ta đã trải 30 năm bôn ba ở nước ngoài để khi trở về đất nước, Người tiếp tục tạo ra những nhân tố để đưa cách mạng đến thành công. Chúng ta còn nhớ, từ năm 1925 Bác Hồ đã truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào phong trào yêu nước và phong trào công nhân. Người đã tổ chức các lớp huấn luyện cán bộ cách mạng đầu tiên ở nước ngoài và sau đó tiến tới thành lập các tổ chức cộng sản đầu tiên. Năm 1930, Người thống nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam và tổ chức hội nghị thành lập, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là nhân tố đầu tiên, có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Đó cũng là sáng tạo lớn đầu tiên của Bác. Phải đến hơn mười năm sau, tại Pác Bó, Cao Bằng, từ mùa Xuân Tân Tỵ năm 1941, Bác Hồ đã thực hiện “ba sáng tạo” lớn tiếp theo sau khi sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Ba sáng tạo lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh từ 1941 đến tháng 8 năm 1945 là: Sáng lập Mặt trận Dân tộc thống nhất (thành lập Mặt trận Việt Minh); Sáng lập lực lượng vũ trang nhân dân (thành lập Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân); sáng lập chính quyền của nhân dân (Ủy ban dân tộc giải phóng toàn quốc).

Có thể nói, từ mùa Xuân ấy, xuân 1941, Bác về, Tổ quốc ta, dân tộc ta, Đảng ta do Bác trực tiếp chỉ đạo mới thật sự thực hiện được một chiến lược lớn là đặt cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam đứng về phe Đồng minh chống phát-xít. Cũng từ Cao Bằng, cách mạng Việt Nam đã liên lạc với lực lượng Đồng minh. Từ khi Cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta đứng về phe Đồng minh cũng đã được sự ủng hộ của phe Đồng minh. Đó là cơ sở thực tế và pháp lý quốc tế quan trọng để đến khi Cách mạng Tháng Tám thành công, tuyên ngôn thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định và tuyên bố trước toàn thế giới: Một dân tộc gan góc chống xâm lược mấy mươi năm và đã đứng về phe Đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc ấy phải được tự do, dân tộc ấy phải được độc lập.

Vậy là, từ mùa Xuân năm 1941, Cao Bằng có vinh dự được đón Bác Hồ sau 30 năm Người ra đi tìm đường cứu nước trở về, được Bác chọn làm căn cứ địa cách mạng đầu tiên, cho đến khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công và tiếp tục mở đường đi tới những thắng lợi huy hoàng cho cách mạng Việt Nam. Cao Bằng là nơi hiện thực hóa những tư tưởng chiến lược về cách mạng giải phóng dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ mùa Xuân ấy, sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta do Bác Hồ trực tiếp lãnh đạo đã chuyển sang một thời kỳ mới – thời kỳ nhiệm vụ giải phóng dân tộc đặt lên hàng đầu. Để rồi đến mùa Xuân 1975 hoàn thành sự nghiệp giải phóng đất nước, thống nhất Tổ quốc và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, là mùa Xuân vĩnh hằng của dân tộc ta.

Theo Baomoi.com
Tâm Trang
(st)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm phòng, chống tham ô, lãng phí

Tư tưởng Hồ Chí Minh đi tới mùa XuânChủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng Người để lại cho chúng ta những di sản tinh thần to lớn, những giá trị nhân văn cao cả, trong đó đặc biệt là tư tưởng về thực hành tiết kiệm và phòng chống tham ô, lãng phí.

Theo Hồ Chí Minh, tiết kiệm là sử dụng hợp lý và có hiệu quả tiền của, thời gian, công sức lao động, tích trữ thêm vốn cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, nâng cao mức sống của nhân dân. Theo Người, “tiết kiệm không phải là bủn xỉn, không phải là: “Xem đồng tiền to bằng cái nống”, gặp việc đáng làm cũng không làm, đáng tiêu cũng không tiêu. Tiết kiệm không phải là ép bộ đội, cán bộ và nhân dân nhịn ǎn, nhịn mặc. Trái lại, tiết kiệm cốt để giúp vào tǎng gia sản xuất, mà tǎng gia sản xuất là để dần dần nâng cao mức sống của bộ đội, cán bộ và nhân dân. Nói theo lối khoa học, thì tiết kiệm là tích cực, chứ không phải là tiêu cực”. Trong quan niệm của Người, tiết kiệm là chi tiêu, sử dụng có kế hoạch, có tính toán, xem xét đầy đủ các yếu tố, giảm bớt hao phí trong sử dụng tiền của, thời gian, công sức nhưng vẫn đạt được mục tiêu xác định. Mục đích của tiết kiệm là để tích luỹ tiền của, thời gian, công sức cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, nâng cao mức sống của nhân dân. Tiết kiệm “không phải là lý luận cao xa, mà là hành vi trong thực tế của cán bộ, nhân dân ta, tất cả mọi người đều phải thực hành tiết kiệm và kết quả tiết kiệm của mọi người đều góp phần cho sự nghiệp cách mạng thắng lợi”.

Vậy tham ô là gì? Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tham ô là: “Ăn cắp của công làm của tư, đục khoét của nhân dân. Tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung, của chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương mình, cho đơn vị mình cũng là tham ô. Tham ô là ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế”. Người còn xác định  tham ô, không chỉ gây tổn hại rất lớn đến của cải vật chất mà còn làm giảm lòng tin của nhân dân. “Tham ô là hành động xấu xa nhất của con người”, “Tham ô của công tức là xâm phạm đến lợi ích chung của nhân dân, tức là kẻ địch của nhân dân. Vì vậy, kiên quyết chống tham ô là trách nhiệm chung của toàn Đảng, toàn dân ta”.

Hồ Chí Minh khẳng định lãng phí là việc quản lý, sử dụng tiền của, sức lao động, thời gian kém hiệu quả. Người cho rằng lãng phí có nhiều cách như lãng phí sức lao động; lãng phí thì giờ; lãng phí tiền của. Người cho rằng: “Lãng phí và tham ô tuy khác nhau ở chỗ: lãng phí thì không trực tiếp ăn cắp, ăn trộm của công, nhưng kết quả tai hại đến tài sản của Nhà nước của tập thể, thì lãng phí cũng có tội. Tham ô là trộm, cướp; lãng phí tuy không lấy của công đút túi, song kết quả cũng rất tai hại cho nhân dân, cho chính phủ, có khi còn tai hại hơn tham ô”.

Hồ Chí Minh chỉ ra “Bệnh quan liêu là nguồn gốc sinh ra lãng phí, tham ô … cho nên muốn triệt để chống tham ô, lãng phí thì phải kiên quyết chống nguồn gốc của nó là bệnh quan liêu”. Theo Người: “Muốn lúa tốt phải nhổ cỏ cho thật sạch, nếu không thì dù cày bừa kỹ, bón nhiều phân, lúa vẫn xấu vì lúa bị cỏ át đi. Muốn thành công trong việc tăng gia sản xuất và tiết kiệm, cũng phải nhổ cỏ cho thật sạch, nghĩa là phải tẩy sạch nạn tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu. Nếu không thì nó sẽ là hại đến công việc của ta”. Tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ “giặc ở trong lòng”, “là kẻ thù của nhân dân, của Chính phủ, kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm, mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta”, “nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta, phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính”. Chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta rất tốt đẹp, tệ tham ô, lãng phí là cái xấu xa do chế độ cũ để lại, như cái ung nhọt còn sót lại trên thân thể của cơ thể sống. “Công khai và mạnh dạn gạt bỏ cho thật sạch những ung nhọt ấy thì thân thể càng khoẻ mạnh thêm”.

Hồ Chí Minh yêu cầu: Thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu phải được tiến hành thường xuyên, kiên quyết, triệt để; phải trở thành phong trào thi đua sôi nổi, rộng khắp. Gắn chặt giữa xây với chống, kết hợp giáo dục, phòng ngừa với đấu tranh khắc phục, lấy giáo dục làm chính. Theo Người, để thực hiện được yêu cầu đó cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mọi người, mọi tổ chức, cơ quan, đơn vị. Phải dựa vào sức mạnh của quần chúng nhân dân; chăm lo xây dựng và phát huy vai trò tiên phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, chủ động đấu tranh khắc phục chủ nghĩa cá nhân. Không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp uỷ, tổ chức đảng, đề cao trách nhiệm chính quyền thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong lãnh đạo, quản lý thực hành tiết kiệm, phòng chống tham ô, lãng phí, quan liêu.

Theo dangcongsan.vn
Đỗ Long Văn (st)

bqllang.gov.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

Tư tưởng Hồ Chí Minh đi tới mùa XuânTrong suốt cuộc đời hoạt động của mình, từ bài giảng đầu tiên trong tác phẩm Đường Kách mệnh(1) đến bản Di chúc cuối cùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và việc tu dưỡng đạo đức, coi đạo đức là “cái gốc” của người cách mạng.

Vấn đề đạo đức cách mạng trong tư tưởng của Hồ Chí Minh luôn có sự nhất quán và tính lôgic cao về tinh thần cách mạng cũng như phương pháp tư duy, nhất là phương pháp tư duy khoa học, tư duy biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, trên cơ sở truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, chắt lọc tinh hoa đạo đức của nhân loại, Người còn phát triển và sáng tạo những giá trị tư tưởng đạo đức mới phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Tầm quan trọng của đạo đức bao giờ cũng được Người đặt ở vị trí hàng đầu. Ngay từ khi Đảng ta chưa ra đời, không phải ngẫu nhiên những bài giảng đầu tiên của Người cho thế hệ thanh niên yêu nước đầu tiên ở nước ta theo con đường cách mạng vô sản là những bài giảng về tư cách của người cách mạng. Trong trang đầu cuốn Đường Kách mệnh – Người đã ghi 23 nét tư cách của một người cách mạng trong ứng xử với mình, với người, với đời, với việc. Đó là những chuẩn mực: “Tự mình phải:

Cần kiệm.
Hòa mà không tư.
Cả quyết sửa lỗi mình.
Cận thận mà không nhút nhát.

Hay hỏi.

Nhẫn nại (chịu khó).
Hay nghiên cứu, xem xét.
Vị công vong tư.
Không hiếu danh, không kiêu ngạo.
Nói thì phải làm.
Giữ chủ nghĩa cho vững.

Hy sinh.

Ít lòng ham muốn về vật chất.

Bí mật.

Đối với người phải:
Với từng người thì khoan thứ.
Với đoàn thể thì nghiêm.
Có lòng bày vẽ cho người.
Trực mà không táo bạo.
Hay xem xét người.

Làm việc phải:

Xem xét hoàn cảnh kỹ càng.
Quyết đoán.
Dũng cảm.
Phục tùng đoàn thể”(2).

Trên cơ sở nhận thức về nền tảng của việc hình thành đạo đức mới, vấn đề đạo đức cách mạng được Người nhắc lại nội dung tương tự khi nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa, năm 1947, nhưng cụ thể hơn(3), gồm 5 điểm: Một, Mình đối với mình; hai, Đối với đồng chí mình phải thế nào?; ba, Đối với công việc phải thế nào?; bốn, Đối với nhân dân; và năm, Đối với đoàn thể. Với những lời căn dặn này cho thấy, Người đã đặt vấn đề đạo đức cách mạng một cách rất lôgic và có cơ sở khoa học về các quan hệ lợi ích. Hầu như các nguyên tắc đạo đức Người đề ra trước hết cho mình thực hiện, sau đó mới để giáo dục người khác, có thể nêu ra một số chuẩn mực cơ bản về đạo đức cách mạng theo tư tưởng của Người, như sau:

1/ Nếu bài học về đạo đức cách mạng đầu tiên trong cuốn Đường Kách mệnh, Người chỉ đề ra những nguyên lý chung thể hiện mối quan hệ giữa ba khía cạnh, phản ánh mối quan hệ đạo đức mới, đạo đức cách mạng mà người cách mạng cần quán triệt trước tiên, đồng thời nêu cao việc tu dưỡng đạo đức cách mạng; thì ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Người đã đề ra những nguyên tắc về hành vi đạo đức cách mạng đối với người có chức, có quyền trong Chính phủ từ toàn quốc đến các làng, Người đề nghị: “Mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: Cần, kiệm, liêm, chính” để “làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động”.

Người coi cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là phẩm chất đạo đức cơ bản nhất của con người mới, đồng thời là chuẩn mực cơ bản của nền đạo đức mới của dân tộc ta. Đây là phẩm chất được Người đề cập đến nhiều nhất, thường xuyên nhất với một nội dung đạo đức mới rất cách mạng mà vẫn giữ được nền tảng của các khái niệm đạo đức cũ rất quen thuộc với mọi người. Phẩm chất này gắn liền với họat động hàng ngày của mỗi con người và có quan hệ mật thiết với tư tưởng trung với nước, hiếu với dân. Chí công vô tư về thực chất là nối tiếp cần, kiệm, liêm, chính. Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công vô tư và ngược lại. Người có tinh thần chí công vô tư là người ham làm những việc ích nước, lợi dân, không ham địa vị, công danh, phú quý, không nghĩ đến quyền lợi cá nhân. Người cho rằng những cán bộ, đảng viên có đầy đủ đức tính nêu trên sẽ đứng vững trước mọi thử thách, hơn nữa yêu cầu họ phải thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đối với người, với việc và với chính mình.

Người từng nói: “Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công, vô tư. Mình đã chí công, vô tư thì khuyết điểm sẽ càng ít, mà những tính tốt như sau, ngày càng thêm. Nói tóm tắt, tính tốt ấy gồm có 5 điều: Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm”(4). Có thể thấy rằng từ các khái niệm đạo đức cũ như: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm, Người đã đưa vào đây nội dung đạo đức mới bằng cách giải thích nó theo quan niệm mới, với một nội dung hoàn toàn khác, rất cách mạng, phản ánh các mối quan hệ một cách rõ ràng, cụ thể và dễ hiểu.

2/ Từ nội dung hẹp của các phạm trù đạo đức cũ, Người mở rộng, đưa vào đây một nội dung rất mới, tiến bộ, cách mạng, vượt qua những hạn chế của tư tưởng đạo đức truyền thống và nâng lên thành tư tưởng đạo đức mới, mà tiêu biểu nhất là các khái niệm: Trung, hiếu, nhân, nghĩa… “Từ trung với vua thành trung với nước; từ hiếu với cha mẹ mình thành hiếu với dân; từ nhân chỉ là nhân ái thành nhân dân, từ cần cho riêng mình thành cần cho cả xã hội; từ kiệm cho riêng mình thành tiết kiệm chung phục vụ cho đất nước; từ liêm nghĩa là liêm khiết, không tham nhũng, nghĩa là chỉ giữ cho bản thân mình trong sạch, Người mở rộng thành vấn đề liêm khiết mang tính xã hội; từ chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đúng đắn, Người chuyển sang vấn đề thiện, ác; làm việc chính, là người thiện; làm việc tà là người ác”(5). Người nhấn mạnh: “Người cán bộ phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải trái, giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”(6). Trung với nước, hiếu với dân được coi là nội dung cơ bản nhất, bao trùm nhất trong tư tưởng đạo đức cách mạng của Người, thể hiện mối quan hệ giữa con người với Tổ quốc và nhân dân. “Trung với nước” là trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc, nước ở đây là nước của dân, dân là chủ nhân của đất nước. Người cho rằng bao nhiêu quyền hạn đều là của dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Xuất phát từ quan niệm như vậy, nên “hiếu” trong tư tưởng của Người chính là “Hiếu với dân”. Hiếu với dân không chỉ là xem người dân như đối tượng dạy dỗ, ban ơn mà là đối tượng phải phục vụ hết lòng. Ở người, lý luận luôn gắn chặt với thực tiễn, lời nói luôn đi đôi với việc làm. Cuộc đời của Người là minh chứng sinh động về tư tưởng tận trung với nước, tận hiếu với dân.

3/ Nếu như trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất của mỗi con người – công dân đối với Tổ quốc, đối với nhân dân, thì yêu thương con người là trách nhiệm của mỗi con người đối với con người. Người cho đây là phẩm chất cao đẹp nhất của con người. Yêu thương con người trước hết là tình cảm dành cho những người bị áp bức, bóc lột, những người cùng khổ. Yêu thương con người còn được thể hiện trong mối quan hệ hàng ngày với những người đồng chí xung quanh, trong cuộc sống bình thường. Phải luôn nghiêm khắc với bản thân, nhưng rộng rãi độ lượng với ngươì khác. Điều đặc biệt là ở Người, yêu thương con người luôn luôn gắn với niềm tin vào con người, tin vào lương tri, tin vào lòng dũng cảm, tin vào sức sáng tạo của họ trong hành trình con người tự giải phóng lấy mình, để con người làm chủ xã hội, làm chủ bản thân mình.

4/ Người đã có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cá nhân và giai cấp, giữa dân tộc và quốc tế, giữa truyền thống và hiện đại tạo ra trong quan niệm về đạo đức cách mạng sự hài hòa về các mối quan hệ lợi ích. Theo Người, tinh thần quốc tế trong sáng thực chất là chủ nghĩa yêu nước gắn liền với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Người cho rằng nếu tinh thần yêu nước không chân chính, tinh thần quốc tế không trong sáng thì có thể dẫn tới tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, hẹp hòi, sô vanh, biệt lập, kỳ thị chủng tộc. Từ rất sớm, Người đã chủ trương quan hệ với các quốc gia dân tộc và các tổ chức trên thế giới để thêm bạn, bớt thù. Quan điểm dân tộc đã được thổi vào thời đại, đã vượt qua biên giới quốc gia, hướng tới mục tiêu độc lập, dân chủ, hòa bình, hữu nghị và hợp tác.

Cần nhấn mạnh là tuy có những cách định nghĩa khác nhau về nội hàm các khái niệm đạo đức cách mạng, nhưng nhìn chung ở Người đều có sự nhất quán về tinh thần cách mạng và phương pháp tư duy. Từ các khái niệm, phạm trù của các tư tưởng đạo đức đã có từ trước như: Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm, đến cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; từ trung, hiếu, đến thiện, ác… bao giờ Người cũng có cách giải thích riêng về những chuẩn mực đạo đức phù hợp dễ hiểu, dễ chấp nhận với từng đối tượng, với mọi tầng lớp nhân dân: trí thức, quân đội, công an, công nhân, nông dân, phụ nữ, phụ lão, các cháu thiếu niên và nhi đồng… Đề cao đạo đức mới, Người đã thể hiện một tầm nhìn xa trông rộng về nhân cách con người. Những phẩm chất mà Người nêu ra là nhằm hướng con người tới cái thiện, cái tốt, cái cao cả, đồng thời ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện thoái hóa, biến chất có thể xảy ra, đặc biệt là chống khuynh hướng lạm dụng quyền lực để tham nhũng, lãng phí. Ngay cả trước khi qua đời, việc đầu tiên được đề cập đến trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân là nói về Đảng, việc đầu tiên khi đề cập đến Đảng là đạo đức, Người viết: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(7).

Tóm lại, từ bài viết đầu tiên trong tác phẩm Đường Kách mệnh đến bản Di chúc cuối cùng, dù ở những thời điểm lịch sử khác nhau nhưng tư tưởng của Người về đạo đức cách mạng đều có sức thuyết phục rất cao, có sức sống mạnh mẽ và có giá trị lâu bền. Bởi đó là sự thống nhất giữa lời nói, tư tưởng và hành động. Người đặt vấn đề đạo đức cách mạng từ lĩnh vực lý luận sang lĩnh vực thực tiễn, đưa đạo đức cách mạng vào chính sự nghiệp cách mạng, coi đó là một trong những nguyên tắc hoạt động cách mạng, phản ánh các quan hệ mới về lợi ích tạo ra nền tảng vững chắc của chính quyền cách mạng nói chung và người cách mạng nói riêng.

———————————–

[1] Đường Kách mệnh, xuất bản năm 1927 – đây là một tác phẩm lý luận và chính trị vô cùng quan trọng, gồm những đề cương bài giảng của Nguyễn Ái Quốc, tức Chủ tịch Hồ Chí Minh giảng cho các lớp huấn luyện chính trị được tổ chức bí mật ở Quảng Châu, Trung Quốc từ đầu năm 1925 nhằm đào tạo cán bộ cách mạng nước ta, chuẩn bị về tư tưởng, đường lối và tổ chức cho việc thành lập một chính đảng mác xít của giai cấp công nhân Việt Nam.
[2] Nguyễn Ái Quốc. Đường Kách mệnh. Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1982, tr..22-23.
[3] Xem thêm: Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 5. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 54-55.
[4] Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 5. Sđd, tr. 251.
[5] Thành Duy, Văn hóa đạo đức: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2004, tr. 35.
[6] Hồ Chí Minh. Toàn tập, Tập 7, Sđd, tr. 480.
[7] Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 12, Sđd, tr. 510.

Theo: dangcongsan.vn
Tâm Trang(st)

bqllang.gov.vn

Bác Hồ và mùa xuân cách mạng 72 năm trước (*)

Tháng 10-1938, Bác Hồ từ Nga trở lại Trung Quốc. Giữa năm 1940, xe tăng của phát xít Hit-le tràn vào Pa-ri, và ngày 20-6-1940, nước Pháp đầu hàng. Đang ở Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc), Bác chủ trương chuyển hướng hoạt động đến biên giới Việt – Trung, rồi về hẳn trong nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam.

Trưa ngày 8-2-1941, đồng chí Vũ Anh ra đón Bác ở chân một ngọn núi đá cạnh mấy đám ruộng vừa mới gặt xong. Mặt trời đã ngả sang chiều thì Bác và các đồng chí Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Hoàng Văn Lộc, Thế An, Đặng Văn Cáp đã về bên này cột mốc biên giới. Khi đến cột mốc 108 – cột mốc bằng đá như một tấm bia, hai mặt có khắc chữ Trung Quốc và chữ Pháp – Bác dừng lại, cúi đọc những chữ khắc sâu trong đá, rồi hướng tầm mắt nhìn vọng hồi lâu tới dải đất Tổ quốc trùng điệp.

Sau 30 năm đi tìm đường cứu nước, qua nhiều quốc gia ở châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, Bác Hồ về Tổ quốc vào mùa Xuân Tân Tỵ 1941.

Khi ra đi từ bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn), Bác 21 tuổi, đến khi trở về 51 tuổi, tóc đã hoa râm, song tầm vóc chính trị vượt xa các nhà lãnh đạo cách mạng ở trong nước lúc bấy giờ.

Pác Bó thay mặt Đất Mẹ, đón người con vĩ đại nhất của dân tộc, sau 30 năm xa cách, lần đầu tiên vui Xuân trên mảnh đất thân yêu của Tổ quốc.

“Ôi sáng Xuân nay, Xuân 41
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ
Bác về…Im lặng. Con chim hót
Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ”

                                     (Tố Hữu)

Pác Bó là nơi đặt chân đầu tiên của Bác khi về nước, và sau đó vẫn là nơi đóng cơ quan của Bác cho đến lúc Bác chuyển về Tân Trào (4 tháng 5 năm 1945).

Pác Bó là một bản nhỏ thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, nằm sát biên giới Việt – Trung, cách thị xã Cao Bằng gần 60 km. Nhân dân trong vùng chủ yếu là người Nùng.

Tài sản của Bác sau bao nhiêu năm đi khắp năm châu bốn biển, giờ đây vẫn chỉ một chiếc va-li con, trong đựng một ít tài liệu quan trọng và một chiếc máy chữ của các đồng chí trong nước gửi cho trước đây.

Trong sương giá lạnh của miền núi đá biên cương, Bác sống và làm việc trong hang Pác Bó. Trong hang, có dòng suối chảy về xuôi và dãy núi đá xanh. Cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ đó đã được Bác thể hiện trong bài thơ “Pác Bó hùng vĩ”:

“Non xa xa, nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là.
Đây suối Lê-nin, kia núi Mác
Hai tay xây dựng một sơn hà”.

Từ suối Lê-nin, từ núi Mác, ánh sáng cách mạng đã tỏa rộng muôn nơi…

Câu đối dưới đây Bác làm ngay trong rừng sâu Pác Bó đã nói lên mong muốn và quyết tâm của Bác đối với dân, với nước từ những ngày đầy gian khó:

– Nước mới quyết làm cho nước mới
– Non sông Hồng Lạc gấm thêu hoa. (1)

Ở Pác Bó, cuộc sống tuy vô cùng khó khăn, kham khổ, nhưng Bác vẫn ung dung, thanh thản, luôn lạc quan, tin tưởng vào tiền đồ tươi sáng của cách mạng:

“Sáng ra bờ suối, tối vào hang
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang”.

Tư thế của nhà thơ là tư thế đứng trên đầu mọi gian khó, hiểm nguy. Bài thơ đã làm sống lại cuộc đời của một nhà hoạt động chính trị bí mật trong thời kỳ cách mạng còn trứng nước. Năm 1961, về thăm lại Pác Bó, Bác xúc động cảm tác:

“Hai mươi năm trước ở hang này
Đảng vạch con đường đánh Nhật Tây;
Lãnh đạo toàn dân ra chiến đấu
Non sông gấm vóc có ngày nay”

Bài thơ bốn câu ngắn gọn đã phác họa con đường lịch sử 20 năm của dân tộc.

Cũng chính tại Pác Bó, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (từ 10 đến 19-5-1941) do Bác triệu tập và chủ trì, họp ở rừng Khuổi Nậm, đã nhận định thời cơ giải phóng dân tộc đang đến gần, quyết định thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) để tập hợp lực lượng toàn dân. Hội nghị đã hoàn chỉnh đường lối cứu nước giải phóng dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Rõ ràng, Bác Hồ về Tổ quốc mùa Xuân 1941 là một sự kiện vô cùng quan trọng cho cách mạng Việt Nam. Bốn năm sau, năm 1945, Tổng khởi nghĩa thắng lợi trong cả nước. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Mười ba năm sau, năm 1954, chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, dẫn tới Hiệp định Giơ-ne-vơ chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương (20-7-1954). Cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược từ ngày 23-9-1945 đã kết thúc. Hòa bình được lập lại trên miền Bắc nước ta. Ba mươi tư năm sau, năm 1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, mở ra một mùa Xuân vĩnh viễn cho đất nước.

NGUYỄN XUYẾN
thuathienhue.edu.vn

—————————

(*) Bìa viết này được đăng vào năm 2011 nên Vkyno xin sửa lại tiêu đề cho phù hợp với hiệu niên

Đồng bào Tây Nguyên vui Xuân bên tượng Bác Hồ

Ông Nay Pơ, dân tộc Ja Rai, ngày nào cũng đi bộ ra quảng trường để chiêm ngưỡng tượng vị lãnh tụ vĩ đại nhưng vô cùng gần gũi.

Cuối năm 2012 đồng bào các dân tộc Tây Nguyên hân hoan trong lễ khánh thành tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên tại Quảng trường Đại đoàn kết, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Từ ngày đó đến nay, nhất là trong những ngày xuân này, ngày ngày, có hàng nghìn người đến với Quảng trường Đại Đoàn Kết để thể hiện lòng tôn kính với Bác.

Ông Nay Pơ, dân tộc Ja Rai, 81 tuổi đời, 51 năm tuổi Đảng, ở phường Tây Sơn, thành phố Pleiku cho biết, từ khi công trình tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên khánh thành, ngày nào ông đi bộ từ nhà ra quảng trường Đại đoàn kết để ông chiêm ngắm hình ảnh giản dị, gần gũi nhưng sáng ngời và vĩ đại của Bác –  người đã dành cả cuộc đời vì nước, vì dân.

Vinh dự lớn nhất đời ông Nay Pơ là 4 lần được gặp Bác Hồ. Những lời Bác dạy ông vẫn khắc ghi trong tim, đồng bào Kinh, Ba Na, Ja Rai, hay Ê Đê, Xê Đăng … đều là anh em một nhà, đồng bào phải biết đoàn kết, vượt qua mọi khó khăn, xây dựng quê hương giàu đẹp.

Hơn 37 năm kể từ ngày giải phóng, ông chưa có dịp ra thủ đô Hà Nội, ra thăm lăng Bác, nên hôm nay đây, trong những ngày xuân mới này, ông rất phấn khởi vì Đảng và Nhà nước đã quan tâm, xây dựng tượng đài Bác Hồ ngay tại Tây Nguyên. Ông cũng như nhiều đồng chí, đồng đội, nhiều đảng viên có cơ hội được tỏ lòng tôn kính với Bác ngay tại quê nhà. Đối với ông, đó là niềm hạnh phúc lớn nhất trong những ngày cuối đời.

Ông nhớ lại buổi lễ khánh thành công trình Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên (tối 9/12/2012), trong đó Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu rõ: ‘Công trình Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên là một công trình có ý nghĩa văn hóa lịch sử và nhân văn tiêu biểu của đồng bào 5 tỉnh Tây Nguyên và là niềm vui chung của cả nước. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa có điều kiện đến thăm Tây Nguyên, nhưng từ trong sâu thẳm trái tim, Người lúc nào cũng đau đáu một niềm thương nhớ, yêu quý đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tin tưởng rằng,  với truyền thống đoàn kết, tự lực, tự cường, tỉnh Gia Lai và các tỉnh Tây Nguyên nói chung sẽ tiếp tục vững bước tiến lên, đạt nhiều thành tựu và đóng góp to lớn hơn nữa cho sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng và toàn dân tộc’.

Hôm nay đây, tượng đài Bác Hồ được dựng lên giữa đất trời Tây Nguyên, Người đứng đó, cao sang mà gần gũi, vĩ đại mà giản dị như chính cuộc đời của Người – vị lãnh tụ suốt đời vì nước vì dân. Đồng bào Tây Nguyên nhớ ơn và luôn khắc ghi lời dạy của Bác, luôn mang trong tim hình ảnh Bác Hồ như điểm tựa tinh thần, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ cùng cả nước hoàn thành sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước và ngày nay đang tiến hành công cuộc đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần từng bước làm cho Tây Nguyên ngày càng trở nên trù phú.

Tối nay (9/2), đêm giao thừa đầu tiên nhân dân các dân tộc tỉnh Gia Lai mở hội mừng xuân ngay tại Quảng trường Đại đoàn Kết, ngay dưới chân tượng đài Bác Hồ. Qua đó, nhân dân báo cáo với Bác, năm qua, tỉnh Gia Lai nói riêng và các tỉnh Tây Nguyên nói chung đạt được nhiều thành tựu về kinh tế – xã hội, an ninh chính trị được đảm bảo, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tiếp tục được nâng lên. Đồng thời, hứa với Bác, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên sẽ tiếp tục phấn đấu để xây dựng Tây Nguyên ngày càng vững mạnh, giàu đẹp như niềm mong mỏi của Bác./.

Vài hình ảnh về nhân dân Tây Nguyên bên tượng đài Bác Hồ:

Đồng bào Tây Nguyên hân hoan trong lễ khánh thành tượng đài Bác Hồ

Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên là một công trình có ý nghĩa văn hóa lịch sử và nhân văn tiêu biểu

Công Bắc/VOV-Tây Nguyên
daklak24h.com

Bác với Đảng – Những mùa xuân ghi nhớ

Xây dựng ĐảngSau mùa đông lạnh lẽo, muôn vật tiêu điều, và tạo hoá lại cho mùa Xuân mang đến cho thế gian vẻ tốt tươi ấm áp, muôn hoa tươi thắm, ngàn lá đua xanh. Loài động vật cũng nhờ Xuân mà khôi phục lại sinh khí. Vậy nên gọi là Xuân sinh.

Mỗi độ Xuân về, mỗi người Việt Nam lại bồi hồi nhớ lời Bác Hồ dặn về “Chào Xuân”:

Năm cũ lịch cũ vừa qua,
Năm mới lịch mới lại tới!

Sau mùa đông lạnh lẽo, muôn vật tiêu điều, và tạo hoá lại cho mùa Xuân mang đến cho thế gian vẻ tốt tươi ấm áp, muôn hoa tươi thắm, ngàn lá đua xanh. Loài động vật cũng nhờ Xuân mà khôi phục lại sinh khi. Vậy nên gọi là Xuân sinh.

Loài người lợi dụng cái luật tự nhiên của tạo hoá, chẳng những hưởng thụ cái hạnh phúc khoái lạc của mùa Xuân, mà lại nhận cái không khí phồn vinh của ngày Xuân để sắp đặt cái kế hoạch hoạt động và sống còn cho cả năm, nên tục ngữ có câu “nhất niên chi kế, thi ư Xuân” (suốt năm kế hoạch, định từ mùa Xuân). Cũng vì thế cho nên năm mới thì người ta có những cuộc vui vẻ, sung sướng cho xứng đáng với Xuân và để mừng Xuân.

Với ý nghĩa của ngày Xuân như vậy, Bác đã đưa đến cho Đảng ta cuộc đời gắn với mùa Xuân: Ngày Xuân 3-2-1930, Bác đã sáng lập Đảng ta. Và sau đó vài ngày (khoảng từ ngày 5 đến ngày 8), Bác đã “đãi” một bữa cơm Tết Nguyên đán vừa tiết kiệm, vừa linh đình để chúc mừng ngày Đảng chào đời. Bắt đầu từ Xuân và mãi mãi về sau, cứ mùa Xuân đến là mùa Xuân mừng Đảng ra đời, là mùa Xuân để Đảng sắp đặt cái kế hoạch hoạt động và sống còn cho cả năm.

Và từ khi về nước (28-1-1941) để trực tiếp lãnh đạo cách mạng sau 30 năm đi tìm đường cứu nước, cứu dân, cứ ngày Xuân đến, Bác Hồ đã đưa đến cho toàn dân hưởng cảnh Xuân vui vẻ, đón Xuân, mừng Xuân bằng những lời chúc Xuân ấm áp, mang nặng nghĩa “Xuân sinh” và đặc biệt mang đến cho mọi người “kế hoạch hoạt động và sống còn” cho cuộc sống. Mùa xuân 1942, Bác Hồ đã đưa đến cho toàn dân cảnh đón Xuân, mừng Xuân, vui với Xuân với những lời thơ chúc Tết đầu tiên của Người:

Tháng ngày thấm thoắt chóng như thoi,
Năm cũ qua rồi, chúc năm mới.
Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong,
Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi.
Chúc đồng bào ta đoàn kết mau!
Chúc Việt minh ta càng lấn tới,
Chúc toàn quốc ta trong năm này,
Cờ đỏ ngôi sao bay phấp phới!
Năm nay là năm rấtt vẻ vang,
Cách mệnh thành công khắp thế giới “.

Và cũng mùa Xuân này, Bác Hồ đã chỉ rõ bổn phận của người dân Việt Nam qua cuốn “Lịch sử nước ta” mà Bác viết cho dân, cho nước vào tháng 2-1942:

“Dân ta phải biết sử ta,
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.
Kể năm hơn bốn ngàn năm,
Tổ tiên rực rỡ anh em thuận hoà…
Trên vì nước, dưới vì nhà,
ấy là sự nghiệp, ấy là công danh”…

Ngày 6-1-1946, ngày quốc dân đi bỏ phiếu bầu Quốc hội đầu tiên của nước nhà, Bác Hồ – lãnh tụ của Đảng, lãnh tụ tối cao của dân tộc đã trúng cử với số phiếu cao nhất là 98,4%. Đó là Xuân “đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ”; là Xuân “đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dựng quyền dân chủ của mình”; là Xuân “mỗi người đều nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập, tự do”.

Đúng vào lúc giao thừa của Tết cổ truyền dân tộc năm 1947 – Tết đầu tiên sau khi nhân dân Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược theo lời hiệu triệu “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, lần đầu tiên nhân dân ta được trực tiếp nghe lời chúc Tết của Bác Hồ trên Đài Tiếng nói Việt Nam đặt tại chùa Trầm huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Đông, nay là tỉnh Hà Tây, vào lúc gần 24 giờ ngày 21-1-1947 (tức ngày 30 Tết Nguyên đán) :

“Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió,
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy núi sông.
Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến.
Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng,
Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào!
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông,
Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi
Thống nhất độc lập nhất định thành công”.

Mùa Xuân năm 1951, Đảng ta tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II. Đó là Đại hội:

“- Xây dựng một Đảng Lao động Việt Nam rất mạnh mẽ,
– Đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn
– Xây dựng Việt Nam dân chủ mới
– Góp sức vào việc giữ gìn dân chủ thế giới và hoà bình lâu dài”.

Bằng sức mạnh của dân tộc, đất nước trong sự nghiệp dựng nước, giữ nước: “Dân tộc ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.

Xuân 1960, Xuân “mừng Nhà nước ta 15 xuân xanh. Mừng Đảng chúng ta 30 tuổi trẻ”- Xuân cho ta niềm tự hào lớn lao về Đảng, như Bác Hồ đã nói tại lễ kỷ niệm Đảng 30 tuổi:

“Đảng ta vĩ đại như biển rộng, như núi cao,
Ba mươi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình
Đảng ta là đạo đức là văn minh,
Là thống nhất độc lập, là hoà bình ấm no”.

Và bắt đầu từ Xuân này, nhân dân ta thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược trên đất nước Việt Nam, như Bác Hồ đã có thơ chúc Tết:

“Chúc đồng bào ta đoàn kết thi đua
Xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa
Chúc đồng bào ta bền bỉ đấu tranh
Thành đồng miền Nam vững bền mạnh mẽ.
Cả nước một lòng hăng hái tiến lên.
Thống nhất nước nhà Bắc Nam vui vẻ”.

Xuân Mậu Thân năm 1968, đã đi vào lịch sử, đó là mùa Xuân Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt của quân dân miền Nam tạo ra một bước ngoặt lịch sử trong cuộc chiến tranh, buộc địch phải lùi vào chiến lược phòng ngự trên toàn chiến trường. Cuộc Tổng tiến công này là bước tập dượt cho cuộc Tổng tiến công toàn thắng mùa Xuân năm 1975. Vì thế, đất nước vào Xuân 1968 với khí thế như Bác Hồ đã có thơ chúc Tết:

“Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên !
Toàn thắng ắt về ta”.

Cuộc tổng tiến công của quân dân miền Nam, với chiến dịch mang tên người anh hùng dân tộc vĩ đại Hồ Chí Minh, mùa Xuân 1975, đã đánh bại đế quốc Mỹ, đưa giang sơn Việt Nam thu về một mối, cả nước chung sức chung lòng bảo vệ nền độc lập thống nhất và đi lên CNXH. Như lời chúc Tết của Bác Hồ năm 1969:

‘Tiến lên chiến sĩ đồng bào
Bắc Nam sum họp Xuân nào vui hơn”.

Mùa Xuân năm 2000, đó là mùa Xuân cuối cùng của thế kỷ XX, thế kỷ mà với dân tộc Việt Nam, đất nước Việt nam dưới sự dẫn dắt của người anh hùng dân tộc Hồ Chí Minh thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”; đó là mùa Xuân, Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh kỷ niệm 70 tuổi, tổng kết đợt 1 của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng để Đảng thật sự là Đảng cầm quyền, tiếp tục lãnh đạo dân tộc, đất nước và cùng với đất nước, dân tộc bước sang thế kỷ XXI, thế kỷ mà đất nước đã độc lập thống nhất, đi vào xây dựng cơ đồ Việt Nam đàng hoàng, to đẹp và văn minh.

Xuân 2001, mùa Xuân Đảng ta tiến hành Đại hội IX – Đại hội phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; Xuân cả nước một lòng vượt qua khó khăn, tất cả để năm đầu tiên của thế kỷ mới với Nghị quyết IX của Đảng soi sáng sẽ giành thắng lợi to lớn và toàn diện. Xuân đầu tiên Đảng, dân tộc thực hiện hành trang mà Bác Hồ chuẩn bị cho mọi người làm hành trình đi trong thế kỷ mới “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Tới Xuân 2006, Đảng ta tiến hành Đại hội X – Đại hội đánh dấu thời điểm có ý nghĩa trọng đại: đất nước đã qua 5 năm đầu tiền của thế kỷ XXI thực hiện đường mối đổi mới; Xuân thứ 60, nhân dân ta hưởng dụng quyền dân chủ và quyền lợi của một người dân độc lập, tự do.

Năm 2010 đã đi qua, năm mà đảng ta kỷ niệm nhiều sự kiện trọng đại của đất nước: kỷ niệm 80 năm ra đời và trưởng thành của Đảng, 1000 năm Thăng Long đông đô Hà Nội, 35 năm giải phóng miền nam thống nhất đất nước, 120 năm ngày sinh Hồ Chủ tịch, năm 5 học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người,…Trong niềm vui hân hoan đó, nhân dân trong cả nước ra sức thi đua lao động xây dựng đất nước tiến lên theo con đường CNXH mà Bác và Đảng đã vạch ra.

Chỉ còn không ít giờ nũa, một mùa xuân mới lại về. Xuân mới, lịch mới năm 2011 này, Đảng ta “sắp đặt và lên kế hoạch hoạt động cho cả năm” mà mở đầu là diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (01/2011), kỷ niệm 81 năm thành lập Đảng (03/02/1930-3/02/2011), năm đầu tiên của thập kỷ thứ hai giai đoạn 2010-2020…những kế hoạch trên một lần nữa khẳng định sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng, tinh thần chiến đấu của nhân dân ta vì sự nghiệp đấu tranh thống nhất Tổ quốc; giáo dục truyền thống yêu nước, ý chí độc lập, tự chủ, niềm tự hào dân tộc đã tạo nên bởi những mùa Xuân dựng nước, giữ nước. Để Xuân Tân Mão này – năm bản lề của giai đoạn phát triển kinh tế 2010-2020 và cũng là năm Đảng ta kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của trong hoàn cảnh đất nước đang không ngừng đổi mới, đang phấn đấu cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; lại thêm một năm chí Đảng đã quyết, lòng dân đã đồng, kiên quyết, kiên trì tiêu diệt “giặc nội xâm”, “giặc quốc nạn”, “giặc trong lòng”, loại giặc quan liêu, tham nhũng, lãng phí ở bộ phận người có chức, có quyền đã biến chất đang làm băng hoại đạo đức xã hội, băng hoại truyền thống nhân văn của dân tộc, đang là thách thức lớn nhất của công cuộc đổi mới đất nước, làm mất thanh danh uy tín của Đảng, Nhà nước, làm xói mòn lòng tin của dân chúng vào Đảng, là nguy cơ đe doạ sự sống còn của chế độ ta. Vì vậy, bước vào mùa Xuân 2011 này, chúng ta như được thúc giục bởi lời chúc Xuân Mậu Thân 1968 của Bác Hồ:

“Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta”./.

Bá Dương
busta.vn

Những bài thơ xuân của Bác Hồ 40 năm về trước

Người là niềm tin tất thắng    Thơ Xuân là một phần “đặc biệt” trong thơ của Bác Hồ. Đặc biệt bởi lời thơ ngắn gọn, ngôn từ và cách diễn đạt dễ hiểu như lời Người tâm sự, đó là: Mấy lời thân ái nôm na, Vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân. Đặc biệt bởi lối viết nôm na, kêu gọi ấy, trong mỗi câu, mỗi bài đều chan chứa ý thơ, tràn đầy sắc xuân, vừa độc đáo, hào hùng, vừa ấm áp thương yêu. Hơn thế, đó không chỉ vì thơ, vì Tết, vì xuân, mà là truyền thống của dân tộc, là tình cảm, là tấm lòng, là món quà đầu năm mới Người gửi tặng đồng bào và chiến sĩ cả nước, là những định hướng chiến lược, là những lời đúc kết, đánh giá những thắng lợi trong năm qua và đề ra phương hướng nhiệm vụ của năm tới, là những lời động viên, cổ vũ toàn dân tộc cùng nhau đoàn kết một lòng, vững bước tiến lên trong đấu tranh cách mạng, trong lao động và sáng tạo để xây dựng quê hương, đất nước…

     Xuân này, chúng ta kỷ niệm bốn mươi xuân – Xuân Bác Hồ viết nhiều thơ xuân nhất (1968 -2008). Điều đặc biệt là chùm thơ xuân ngày ấy (gồm 6 bài) được viết ở những thời khắc khác nhau, với những nội dung và cách biểu đạt khác nhau, nhưng tất cả đều khởi nguồn từ niềm tin và niềm vui chiến thắng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu thân 1968. Có thể nói, đây là một trong những thời điểm đặc biệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, thời điểm mà sự vươn lên của mỗi con người, mỗi chiến công, mỗi khoảng đất của Tổ quốc, mỗi bước đi của thời gian đang dần trở thành lịch sử, thành hùng văn về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc Việt Nam.

     Tháng 12-1967, Hội nghị Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá III họp dưới sự chủ toạ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cơ sở phân tích tình hình trong nước và thế giới, đã quyết định mở đợt Tổng tiến công và nổi dây Tết Mậu Thân (1968).

     Tinh thần và quyết tâm của Bộ Chính trị chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định được Chủ tịch Hồ Chí Minh truyền tới đồng bào và chiến sĩ cả nước qua thư Chúc mừng năm mới, ngày 1 thăng 1 năm 1968. Sau khi điểm lại những thắng lợi của quân và dân ta ở cả hai miền Nam – Bắc trong năm 1967, Người chỉ rõ “Sang năm nay, bọn Mỹ xâm lược ngày càng bị động, càng lúng túng, quân và dân ta thừa thắng xông lên, nhất định giành được nhiều thắng lơi to lớn hơn nữa”. Cuối thư, Người chúc đồng bào và chiến sĩ cả nước bằng bằng những vần thơ xuân quen thuộc:

“Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!”

     Thật tài tình! Chỉ với một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, vừa ngắn gọn, dễ hiểu, Bác Hồ đã cho chúng ta cả một bài ca chiến thắng, một dự đoán thiên tài về sự tất thắng của quân và dân ta trong trận đánh lịch sử mừng xuân này. Điệp khúc “thắng trận”, “toàn thắng” vừa động viên khích lệ, vừa thôi thúc lòng người, dục giã mỗi bước chúng ta đi. Ở câu cuối, sự đột ngột ngắt câu, chuyển dòng, lời thơ như một mệnh lệnh để cả dân tộc muôn người như một, cùng hăng hái tiến lên, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược… Vâng lời Bác, toàn dân ta đã cùng lên đường ra trận, quyết chiến đấu và chiến thắng.

     Chủ tịch Hồ Chí Minh đã theo dõi sát và động viên kịp thời từng chiến công của quân và dân ta trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy giữa mùa xuân ấy. Đặc biệt ở Huế, ngay từ đêm 31-1-1968, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu, đồng loạt tiến công vào 40 mục tiêu địch trong nội và ngoại thành phố Huế, thành lập chính quyền cách mạng ở nhiều nơi… Ngay trong những ngày sôi động ấy, Người đã gửi thư khen thành tích chiến đấu của quân và dân Huế đánh giỏi, công tác giỏi, thu được nhiều thắng lợi. Khi được tin, tiểu đội nữ du kích thôn Vân Thê, xã Thanh Thuỷ, huyện Hương Thuỷ – trong Tổng tiến công Xuân Mậu Thân được giao nhiệm vụ bảo vệ Sở chỉ huy cánh Nam, tham gia chuyển thương binh và tiếp đạn – khi địch chuyển sang phản kích giải vây Huế, đã xin được trang bị vũ khí, tiếp tục chiến đấu và đã chiến đấu vô cùng anh dũng cảm, đẩy lui nhiều đợt phản kích của địch, Bác Hồ đã gửi thư khen và tặng 11cô gái sông Hương bài thơ:

“Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường,
Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường.
Bác khen các cháu dân quân gái,
Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương”.

     Chiến công nối tiếp chiến công. Tin thắng trận từ khắp các chiến trường miền Nam dồn dập báo về chính là những bông hoa thơm dâng Bác, làm xúc động lòng Người. Và, giữa mùa xuân chiến thắng ấy, Người đã mượn cái cớ đã lâu không làm thơ, đọc cho đồng chí thư ký chép bài thơ “Không đề” với vần “thắng” bất ngờ và thú vị, gửi một đồng chí Uỷ viên Trung ương Đảng:

“Đã lâu chưa làm bài thơ nào,
Đến nay thử làm xem ra sao.
Lục mãi giấy tờ vẫn chưa thấy,
Bỗng nghe vần thắng vút lên cao”.

     Bài thơ đã nhanh chóng lan xa và làm xúc động lòng người. Nhà thơ Chế Lan Viên đã kể về niềm sung sướng, hạnh phúc khi được nghe bài thơ xuân “độc đáo” này: “Tôi nhớ lại một cuộc họp ở Pari năm 1968, khi bộ trưởng Hoàng Minh Giám trong diễn văn của mình đã đọc một bài thơ tứ tuyệt của Bác thì cả hội trường trí thức Pháp đã vỗ tay và đứng dậy. Hàng trăm Việt kiều và chúng tôi lúc ấy đã ràn rụa nước mắt. Tự hào và sung sướng cho dân tộc ta biết nhường nào…”.

     Tin thắng lợi của cuộc tiến công và nổi dây đồng loạt của quân và dân ta trên khắp các chiến trường miền Nam càng khẳng định sức mạnh lớn của quân dân ta trong những thử thách vô cùng quyết liệt của cuộc chiến đấu có một không hai này. Còn có công việc nào trọng đại hơn công việc đánh giặc giữ nước và niềm vui nào lớn hơn niềm vui thắng trận. Giữa xuân này, Bác viết bài thơ bằng chữ Hán “Mậu Thân Xuân tiết” (Tết Mậu Thân):

“Tháng tư hoa nở một vườn đây,
Tía tía, hồng hồng đua sắc tươi.
Chim trắng xuống hồ tìm bắt cá,
Hoàng oanh vút tận trời.
Trên trời mây đến rồi đi,
Miền Nam thắng trận báo về tin vui”.

     Hoà cùng niềm vui chiến thắng chung của dân tộc trong mùa xuân chiến thắng ấy, Bác Hồ cũng góp thêm một “chiến công” thầm lặng của mình. Đó là, từ năm 1966, khi sức khoẻ của Bác Hồ đã suy giảm nhiều so với những năm trước, thấy Người ho nhiều, để giữ gìn sức khoẻ cho Người, các bác sĩ đã đề nghị “hai chớ” (chớ hút thuốc, chớ uống rượu). Về chuyện này, theo lời kể của đồng chí Vũ Kỳ, Bác Hồ tâm sự, nếu bỏ được thì tốt, nhưng vì Bác đã hút thuốc lá đã nhiều năm, nên đó là một việc không dễ, và Người đề nghị: các chú phải giúp Bác bỏ tật xấu này. Sau đó, Bác Hồ định ra kế hoạch bỏ thuốc lá, rồi nghiêm túc thực hiện. Người giao thuốc cho đồng chí giúp việc quản lý, mỗi ngày chỉ hút ba lần và hút giảm dần: tuần đầu mỗi lần hút 2/3 điếu, tuần thứ hai hút 1/2 điếu, tuần thứ ba hút 1/3 điếu, tuần thứ tư chỉ một vài hơi. Người bỏ luôn cả cà phê sáng và nhờ đồng chí thư ký uống hộ. Người bảo: cà phê ngon, nhưng uống thì Bác lại nhớ thuốc lá. Khi bỏ thuốc, Người cũng thôi uống rượu.

      Vui niềm vui của riêng mình, giữa mùa xuân chiến thắng ấy, Bác Hồ đã “tự mình đề thơ làm chứng” về quá trình rèn luyện này. Đó là bài Nhị vật bằng chữ Hán:

“Thuốc không, rượu chẳng có mừng xuân,
Dễ khiến thi nhân hoá tục nhân,
Trong mộng thuốc thơm và rượu ngọt,
Tỉnh ra thêm phấn chấn tinh thần” .

     Từ bỏ một thói quen đã lâu năm mà nỗi nhớ đi cả vào trong mộng thì quả là bỏ không phải là điều dễ dàng. Nhưng, Người đã quyết tâm và thực hiện thành công. Đó là kết quả của ý chí và sự kiên trì. Và niềm vui phấn chấn tinh thần ấy lại được Người viết tiếp trong bài thơ “Vô đề” bằng chữ Hán:

“Thuốc kiêng, rượu cữ đã ba năm,
Không bệnh là tiên sướng tuyệt trần.
Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn,
Một năm là cả bốn mùa xuân” .

      Xuân này, đọc lại những vần thơ xuân của Bác Hồ 40 xuân trước càng thấy rõ hơn những lời tâm tình trong thơ Bác vừa tràn ngập sắc xuân, vừa toát lên tinh thần lạc quan, khoẻ khoắn của một ý chí lớn: ý chí cách mạng tiến công. Tinh thần ấy, ý chí ấy đã giúp Người vượt lên những hạn chế của tuổi tác, giữ được sự hài hoà giữa vật chất và tinh thần, chan hoà và gắn bó làm một với phong trào cách mạng, với cuộc sống mới đang dựng xây và phát triến của non sông đất nước.

     Vui đón Xuân về, đọc lại những vần thơ xuân của Bác để nhớ mãi ơn Người, nguyện học tập và làm theo lời Người để mỗi cuộc đời mãi mãi: Một năm là cả bốn mùa xuân!

T.s. Chu Đức Tính
Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

lichsuvietnam.vn

Đọc tâm hồn xuân Bác Hồ

Theo gương Bác Hồ làm báoNhư một hoài niệm thấm đượm tâm hồn Việt, cứ mỗi độ xuân về, ký ức con người lại dấy lên những vần thơ Xuân Bác Hồ. Ấy là vì, như thành lệ, khi xuân đến trong cảnh đất trời rực rỡ, lòng người lại xốn xang chờ đợi những lời chúc mừng năm mới của lãnh tụ: “Vừa là kêu gọi, vừa là mừng Xuân”. Xuân về, nhớ Bác là tình cảm thiêng liêng tự nhiên.

Gần như suốt những năm với cương vị người đứng đầu Nhà nước, Bác Hồ đều gửi thu bằng thơ mừng xuân như một phong tục đẹp mới vừa truyền thống, vừa rất cách mạng.

Trong tâm hồn người cầm súng tự vệ mùa xuân Đinh Hợi 1947 là lồng lộng tung bay lá cờ đỏ sao vàng và rộn rã “Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông”. Lời lãnh tụ từ đài Tiếng nói Việt Nam ở cơ sở Chùa Trầm, ngay sát Thủ đô khói lửa, có sức kêu gọi ghê gớm cả lớp thanh niên Quyết tử quân mùa xuân ấy. Rồi cả nước, từ hải đảo xa xôi đến vùng biên hẻo lánh nghe Bác Hồ cất tiếng nói Mừng Xuân 1968 kêu gọi trong niềm hy vọng cháy bỏng: “Tiến lên!/Toàn thắng ắt về ta”

Mùa xuân Kỷ Dậu 1969, không ai ngờ Mừng Xuân như một lời gĩa biệt trước khi Người đi xa mãi mãi.

Nếu ngược dòng thời gian ta sẽ nhớ lại những mùa xuân trọng đại từ trước Cách mạng của Bác Hồ.

Mùa xuân Canh Ngọ, sau nhiều năm bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh trở về trực tiếp lãnh đạo cách mạng : Ôi sáng xuân nay, Xuân 41/ Trắng rừng biên giới nởhoa mơ” (Theo chân Bác – Tố Hữu). Năm sau, đúng ngày 01/01/1942, Mừng xuân 1942 là bài thơ khởi đầu cho chùm hơn hai chục bài thơ vào dịp năm mới của vị Nguyên thủ Quốc gia tương lai.

Hồ Chí Minh gắn bó với Mùa xuân – một sự gắn bó mật thiết từ trong tâm hồn. Không phải đợi đến kỳ chuyển giao thời tiết mà, đối với Người, mỗi năm không chỉ có một mà là những bốn mùa xuân – như một ý thơ mừng xuân.

Mùa xuân là “mùa xanh” của vạn vật, mùa của đâm chồi nảy lộc, của sinh sôi cây lá. Bức tranh thiên nhiên xanh tuyệt đẹp ấy chính là phiên bản của một “tâm hồn xanh” – tâm hồn vui tươi yêu đời lạc quan tột độ.

Không chỉ là phong cách mà chính là cốt cách. Hồ Chí Minh là người ưa sống với thiên nhiên, bầu bạn với thiên nhiên. Chủ tịch phủ gắn với Bách thảo như một khu rừng với cây cao bóng cả. Riêng Vườn Bác đã là một bảo tàng sống thực vật “Cõi Bác” tiên cảnh mà đời thường “Đường xoài hoa trắng nắng đu đưa, Có bốn mùa rau tươi tốt lá… ” (Tố Hữu). Sở thích riêng là tính cách con người hòa nhập tự nhiên theo một quan niệm triết lý.

Từ bạt ngàn xanh Chủ tịch phủ “Lộc non về như trận thắng Mùa Xuân”, Người muốn “Lộc của đời chia đến mỗi người dân” (Lộc của đời-Chế Lan Viên). Màu “xanh” chính là màu “xuân” – báu vật của thiên nhiên và đời người.

Mùa xuân là mùa hy vọng, mùa của những ước mơ.

Đông qua, xuân tới. Mỗi khi năm hết tết đến, trong thâm tâm Bác Hồ lại nổi lên lòng trắc ẩn, nỗi niềm đồng chí, đồng bào, tình yêu con người.

Năm 1948, người viết bài thơ Tư chiến sĩ (Nhớ chiến sĩ) có câu : “Gửi mau áo rét ra tiền tuyến/ Nhờ ấm truyền tin xuân sắp sang”. Lòng người trĩu nặng tình cảm gắn liền trách nhiệm trước mùa xuân nhân sinh.

Ưu tư nhưng vẫn thanh thản, đó là cốt cách của bậc đại nhân. Nguyên tiêu viết trong kháng chiến thể hiện rất rõ một tâm hồn tuyệt đẹp qua một bài thơ tuyệt bích/Rằm xuân lồng lộng trăng soi/Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân/ Giữa dòng bàn bạc việc quân/ Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

Từ lâu lý tưởng cao đẹp nhất của Người là đấu tranh vì độc lập, tự do và hạnh phúc cho dân tộc và nhân loại. Lý tưởng ấy chính là mùa xuân của loài người. Đấu tranh cho một mùa xuân vĩnh viễn là tất cả tâm can, ý chí và ước vọng của người.

Mừng xuân, xuân cả thế gian.

Mùa xuân là mùa trăm hoa đua nở, muôn hồng nghìn tía.

Trong mùa xuân của thơ Bác không có những cảnh tượng thiên nhiên rực rỡ mặc dầu nhà thơ Hồ Chí Minh thừa sức mô tả.

Có hoa nhưng nổi lên là “hoa lao động” : “Bốn mùa hoa Duyên Hải, Đại Phong”, nhất là “hoa chiến đấu” : “Tin vui thắng trận nở như hoa”. Trong kháng chiến phải là những bó “hoa lửa” chiến công. Nhưng năm cuối đời, với tâm trạng “Lắng mỗi tin mừng, tiếng súng xa” (Bác ơi – Tố Hữu), tâm hồn lãnh tụ chói ngời hy vọng, niềm tin sắt đá chiến thắng. Bài thơ lớn của Bác vang lên âm thanh của chiến trận. Tin vui lớn là tin vui thắng trận : “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua/Thắng trận tin vui khắp nước nhà”

Lời mừng xuân cũng là lời chúc thắng lợi : “Tiến lên!/Toàn thắng ắt về ta” (Mừng xuân – 1968).

Như để đáp lại tấm lòng mong mỏi của Bác Hồ qua thơ Mừng xuân 1969, nhà thơ Tố Hữu diễn đạt ý thơ của Người qua vần thơ Xuân 69 : “Tưng bừng năm 68 chuyển nhanh/ Như một chuyến tốc hành chở đầy hoa chiến thắng/ Hoa Việt Nam – Hoa bốn mùa mưa nắng” Tứ thơ gói gọn ý Bác, lòng Dân.

***

Nghe thơ chúc mừng đầu năm của Bác, lòng người phấn khích tưng bừng nở hoa cùng với đất trời vào xuân :

Xuân về xin có một bài ca

Đúng, đó là một bài ca, bài ca chiến thắng, bài ca hy vọng.

Nhưng hơn thế, đó còn là một lời “kêu gọi” vang lên giọng đanh chắc như một mệnh lệnh thép có sức chấn động lương tâm, ý thức con người, như lời truyền hịch hào hùng.

Qua thơ mừng xuân của Người, người dân đọc được bản tổng kết “thắng lợi vẻ vang” và hướng tới nhiệm vụ thời sự, đường hướng chiến lược mới “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy” (Mừng xuân 1969) .Lịch sử đã diễn ra đúng như dự cảm, tiên đoán của lãnh tụ thiên tài.

Nhưng lẽ trời là thế “Ví không có cảnh đông tàn/ Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân (Tự miễn, Nhật ký trong tù). Lẽ đời cũng vậy. Với Người, vượt lên bức xúc, phiền hà, gian khó, hiểm nguy là lòng yêu đời lạc quan tin tưởng.

Dự cảm tương lai của Hồ Chí Minh là cực kỳ mạnh mẽ, nhanh nhạy. Thăm bạn, trên đường về, chợt thấy cây mai núi mà lòng Người đã xốn xang (Tầm hữu vị ngộ).

Mỗi đóa hoa vàng một điểm xuân

Rất nhạy cảm với tín hiệu, nhiều khi còn ở dạng ẩn hiện, thấp thoáng, mơ hồ. Với thiên nhiên là vậy, với công cuộc đấu tranh lại càng như vậy!

Mừng thấy miền Nam, luôn thắng lớn
Một năm là cả bốn mùa xuân
(Vô đề – 1963)

Với Hồ Chí Minh, trong đời Người, mùa xuân như bao trùm hết – trong bốn mùa, trên cả bốn mùa. Ấy là mùa xuân trong tâm tưởng – mùa xuân tâm hồn.

Bình sinh, Người mong ước một Đất nước xanh tức một Đất đẹp, tràn đầy sức sống. Như câu thơ tươi trẻ: “Mùa xuân là tết trồng cây/ Làm cho Đất nước mỗi ngày một xuân”.

Trước lúc ra đi mãi mãi, Người còn để lại thông điệp lạc quan. Đời người là liên tục những mùa xuân như tinh thần Di chúc : “Khi người ta đã ngoài 70 xuân”.

Đặc biệt Người rất coi trọng tuổi thanh xuân .Trong mấy lời Gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết sắp đến, Người nói: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội.”

Qua cuộc đời anh hùng của Người, qua thơ của bậc danh nhân văn hóa thế giới, có thể thâu tóm một nhận định như chân lý nhân sinh và nghệ thuật.

Hồ Chí Minh -một con người sống đầy xuân sắc
Hồ Chí Minh- một cuộc đời sáng mãi mùa xuân
Hồ Chí Minh -một tâm hồn xuân

Thành phố Hồ Chí Minh
Tất niên Nhâm Thìn, nghênh xuân Quý Tỵ
Đoàn Trọng Huy(*)

CHÚ THÍCH:

1.Tất cả thơ văn trích dẫn đều lấy từ Hồ Chí Minh -Thơ – toàn tập, Danh ngôn Hồ Chí Minh – Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2000; Nhà xuất bản Văn học – Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2011.

2.Tất cả thơ Tố Hữu lấy từ Tố Hữu toàn tập – Thơ ca Nhà xuất bản Văn học , Hà Nội, 2008.

* Tác giả Đoàn Trọng Huy nguyên là nhà giáo, đã từng dạy học ở Tây Bắc từ năm 1953-1958, chuyên gia giáo dục ở Angola, hiện đã về hưu và sống tại thành phố Hồ Chí Minh

(Theo Bản tác giả gửi NBĐ)
Theo Nguoibanduong.net

nguoixunghekiev.vn

Bác Hồ khai bút đầu xuân

Bác Hồ chúc TếtNgoài những thư và thơ chúc tết gửi đồng bào và chiến sĩ cả nước, đầu xuân Bác Hồ thường khai bút bằng những bài báo với nhiều bút danh khác nhau, khi thì C.B, T. Lan hoặc Trần Lực (T.L). Thường mỗi tết, Bác viết từ một đến hai bài báo. Đặc biệt tết năm 1960, Bác viết tới 4 bài báo. Chủ đề Bác viết rất phong phú, bài viết ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu. Có bài Bác viết tố cáo kẻ thù xâm lược bị nhân dân lên án như “Mỹ không mừng xuân” (T.L 1961).

Khi phê phán tệ nạn lãng phí xa hoa, lấy tiền công quỹ để chè chén lu bù, trong ngày lễ, ngày tết – Bác viết bài: “Mừng Tết Nguyên đán như thế nào?” (T.L 1960). Bác lên án những kẻ “đục khoét” của dân là những kẻ bất nhân, có tội với dân. Đồng thời, Bác khen ngợi cán bộ của hai HTX vì dân đã không những không chè chén mà còn biết động viên dân ăn tết tiết kiệm, lấy tiền dự định liên hoan đầu tư vào sản xuất và trích thưởng nếu tăng năng suất. Bác kết luận, như vậy cán bộ ở đó biết nâng cao đời sống cho dân và làm cho dân yêu quý HTX, tin tưởng ở cán bộ hơn. Bác nhắc nhở tiết kiệm là quốc sách, làm giàu đất nước, tạo cho con người nếp sống văn minh lành mạnh, làm việc vì mọi người, khi ăn uống biết nghĩ đến người nghèo. Trong bài viết khai bút đầu xuân, Bác đề xướng phong trào “Tết trồng cây”, giữ mãi trong chúng ta hình ảnh đẹp đẽ đầu xuân Bác đi trồng cây. Trong di sản những bài báo ký nhiều bút danh, có nhiều bài cổ vũ Tết trồng cây. Bác nêu gương những người trồng cây giỏi, như cụ Vũ Văn Lân ở Hưng Yên tuy đã 104 tuổi, tự mình trồng và chăm bón cây tốt. Anh Cao Xuân Nhĩ ở Vĩnh Phúc, tuy kém cả hai mắt nhưng vẫn trồng được 6.000 cây. Bác khen những địa phương có phong trào trồng cây tốt như Lạc Trung, Ngọc Long (Vĩnh Phúc), Vĩnh Thành (Nghệ An), Nà Vó (Hòa Bình), Vinh Quang (Phú Thọ), Lê Hồng Phong (Hà Tĩnh)…

Bác khen Đoàn thanh niên thực sự là đội quân chủ lực của phong trào trồng cây. Riêng năm 1963, Đoàn thanh niên đã trồng được hàng triệu cây. Thanh niên tỉnh Hải Dương đã biến 1.500ha đồi trọc thành rừng cây. Bác khích lệ: “Vì lợi ích 10 năm trồng cây” để có gỗ làm nhà, có củi đun, có bóng mát, góp phần cho bầu không khí trong lành. Trồng cây có lợi cho xuất khẩu, cho công nghiệp như cây keo lá tràm, cây trẩu, quế, hồi… Trồng cây chắn sóng, chắn cát, chắn gió. Trồng cây cho quả ăn, tăng thu nhập kinh tế gia đình như cam, quýt, mận, mơ, nhãn, vải… mang lại lợi ích gần gũi với người dân. Đặc biệt, Bác động viên không những đồng bào miền xuôi trồng cây mà đồng bào miền ngược cũng phải tích cực trồng cây, phủ xanh đồi núi trọc, có rừng cây xanh giữ nước tránh lụt, giữ đất tránh khỏi bạc màu. Bác kết luận, lợi ích trồng cây là cho hôm nay và cho cả mai sau. Bác mong muốn thiết tha là phong trào trồng cây phải được giữ gìn, phát huy mãi mãi, vì nó luôn gắn với sự tồn vong và phồn vinh của đất nước.

Có bài khai bút đầu xuân, Bác nhắn nhủ vui xuân mới không quên xuân cũ, những cái tết thiếu thốn, gian khổ, ác liệt đã qua. Bác nhắc nhở mỗi một chúng ta, ăn tết sung sướng hôm nay là nhờ những ngày gian khổ hôm qua, không được quên đi quá khứ, không được quên đi lịch sử. Bác nhắc nhở không được quên nhân dân lao động vì cách mạng mà nay vẫn còn thiếu thốn, nghĩa cử “uống nước nhớ nguồn” là lẽ sống của người cách mạng.

QUỲNH LINH
baophuyen.com.vn