Archive by Author | Việt Nam - Hồ Chí Minh

Bác Hồ với mùa Xuân của Đảng, của dân tộc

1
Ảnh Tư liệu

“Một năm khởi đầu từ mùa Xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ…”, mùa Xuân luôn khiến ta cảm thấy tràn trề nhựa sống, thiên nhiên, vạn vật dường như cũng sinh sôi nảy nở hơn vào mùa Xuân. Với dân tộc ta, mùa Xuân không chỉ thể hiện cho sự giao mùa, sự kết thúc của một năm cũ bước sang năm mới mà mùa Xuân còn gắn với nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc. Kể từ mùa Xuân đầu tiên nhân dân ta có Đảng, ngày 3-2-1930 đến nay, đã có rất nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc ta diễn ra.

Từ mùa Xuân Canh Ngọ năm 1930, nhận được liên lạc của Quốc tế Cộng sản, Bác Hồ của chúng ta sau khi bàn bạc với các đồng chí của mình, Bác quyết định tổ chức Hội nghị hợp nhất các Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày 3 đến ngày 7 tháng 2 năm 1930 (trùng với ngày 6 đến ngày 8 tháng 1 âm lịch) tại Cửu Long (Trung Quốc). Ngày cuối cùng của Hội nghị, Người xúc động nói: “Các đồng chí! Hôm nay là ngày lịch sử của chúng ta. Lê-nin vĩ đại đã nói: Chỉ Đảng nào có được một lý luận tiên phong, mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong. Bây giờ chúng ta đã có một Đảng như thế rồi – Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam. Nhân dân ta từ xưa đã có truyền thống anh dũng, nhưng suốt những năm ấy nhân dân ta lại thiếu những người cầm lái sáng suốt. Giờ đây, Đảng của chúng ta phải gắn lấy vai trò này và tôi tin rằng Đảng ta phải dẫn dắt nhân dân ta đến thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc thân yêu”.Đúng như vậy, từ mùa Xuân năm 1930 cách mạng Việt Nam có Cương lĩnh đúng đắn do Bác Hồ khởi thảo, được Đảng  không ngừng hoàn thiện, đời sống chính trị, tinh thần, khí thế đấu tranh cách mạng của toàn dân ta đã chuyển qua một giai đoạn mới, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua giông bão đi tới bến vinh quang.

Sau gần 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, mùa Xuân năm 1941, Bác Hồ đã trở về Cao Bằng – mảnh đất địa đầu của Tổ quốc, cùng Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc với bản Nghị quyết lịch sử của Hội nghị Trung ương VIII. Những công việc đầu tiên của Người là chỉ đạo Đảng ta thành lập Mặt trận Việt Minh, tập hợp lực lượng toàn dân đứng lên để “đem sức ta mà giải phóng cho ta”; tổ chức xây dựng căn cứ địa cách mạng làm nơi đứng chân để xây dựng lực lượng, tích lũy lương thực, súng đạn, chuẩn bị tiền đề vật chất cho tổng khởi nghĩa cách mạng giành chính quyền. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ và sự đồng lòng đồng sức của nhân dân, Tổng khởi nghĩa đã thành công. Sự thành công của Cách mạng Tháng Tám đã mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc ta: Kỷ nguyên của độc lập, tự do, hạnh phúc.Xuân Bính Tuất năm 1946 là mùa Xuân độc lập đầu tiên của dân tộc và cũng là lần đầu tiên cả nước ta được nghe Thơ chúc Tết của Bác Hồ vào giao thừa năm 1946. Mọi người vẫn còn nhớ lời Bác nhắn gửi các chiến sĩ lúc bấy giờ đang đánh thực dân Pháp xâm lược ở miền Nam:

Bao giờ kháng chiến thành công
Chúng ta cùng uống một chung rượu đào.

và chúc Tết toàn thể đồng bào:
Trong năm Bính Tuất mới
Muôn việc đều tiến tới
Kiến quốc mau thành công
Kháng chiến mau thắng lợi.
Việt Nam độc lập muôn năm.

Trong bài “Mừng báo Quốc gia”, nhân Tết độc lập đầu tiên, Người đã chúc:

“Tết này mới thật Tết dân ta
Mấy chữ chào mừng báo Quốc gia
Độc lập đầy vơi ba cốc rượu
Tự do vàng đỏ một rừng hoa.
Muôn nhà chào đón Xuân dân chủ,
Cả nước vui chung phúc cộng hòa”.

Lời chúc của Bác thật đơn sơ, mộc mạc nhưng thấm đẫm nghĩa tình với triết lý “Tết này mới thật Tết dân ta”, chỉ một câu này thôi đã đủ cho ta thấy được ý nghĩa lớn lao của cái Tết độc lập đầu tiên của dân tộc. Vì từ xưa đến nay  nhân dân ta chưa bao giờ được làm chủ mình, mà trước thì phải nghe lời vua quan, sau thì phải nghe lời thực dân cướp nước, luôn phải sống cuộc sống một cổ hai tròng. Chỉ từ khi Cách mạng Tháng Tám thành công, dân ta mới biết thế nào là tự do, bình đẳng, bác ái.

Sau mùa Xuân độc lập đầu tiên của dân tộc, mùa Xuân Bính Tuất năm 1946, cả dân tộc ta bước vào cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.Trong giai đoạn trường kỳ kháng chiến này vào mỗi độ Xuân về Bác vẫn luôn làm thơ chúc Tết đồng bào cả nước. Những vần thơ chúc Tết, chào đón mùa Xuân của Bác luôn gieo vào lòng mọi người niềm tin thắng lợi của ngày mai. Đó cũng là biểu hiện của tinh thần lạc quan cách mạng của người cộng sản. Khi cách mạng gặp khó khăn hay khi gần thắng lợi, Bác luôn thể hiện một niềm tin mãnh liệt vào tương lai. Vào những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, Bác đã nói:

Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi
Thống nhất độc lập nhất định thành công.

Chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” cũng bắt đầu từ những ngày đầu mùa Xuân năm 1954. Với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã mở đầu cho sự sụp đổ hoàn toàn của hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân trên phạm vi toàn thế giới, chấm dứt gần một trăm năm đô hộ của thực dân Pháp trên đất nước ta. Miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương lớn cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước lâu dài và vô cùng gian khổ, dân tộc ta đã có biết bao chiến công hiển hách được ghi dấu ấn lịch sử  từ những mùa Xuân. Mở đầu cho những chiến công to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đó là khởi nghĩa Đồng khởi của quân và dân Bến Tre vào mùa Xuân năm 1960, tạo một bước phát triển mới quan trọng của cách mạng miền Nam. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 tạo tiếng vang lớn làm đau đầu cả Lầu Năm Góc, báo hiệu sự sụp đổ không thể nào tránh khỏi của quân xâm lược Mỹ và bè lũ tay sai.

Vào giao thừa Mậu Thân chuyển sang Kỷ Dậu (2 năm 1969), đồng bào và chiến sĩ cả nước quây quần bên nhau chăm chú lắng nghe bài thơ chúc Tết của Bác Hồ truyền qua làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam:

Năm qua, thắng lợi vẻ vang,
Năm nay, tiền tuyến chắc càng thắng to !
Vì độc lập, vì tự do,
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.
Tiến lên ! chiến sĩ, đồng bào,
Bắc Nam sum họp, Xuân nào vui hơn !

Đây cũng là lần cuối cùng đồng bào cả nước được nghe thơ của Bác, lời của Người thể hiện một ý chí sắt thép, một nghị lực phi thường. Lời thơ Xuân như hịch truyền cổ vũ cuộc đấu tranh cách mạng ngoan cường mà Hồ Chí Minh là ngọn cờ, là hồn thiêng sông núi.

Từ đó, hằng năm đến giao thừa, ta không còn có cái hạnh phúc được nghe giọng ấm cúng của Bác đọc thơ Xuân mới nữa, nhưng âm vang hào hùng và sâu lắng trong những bài thơ Xuân của Bác vẫn còn rung động lòng ta mãnh liệt. Theo những lời thơ chúc Tết của Bác và cũng là những mệnh lệnh, sự tiên đoán thần kỳ, để rồi cuộc tiến công chiến lược mùa Xuân năm 1972, đặc biệt là chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” cuối năm đó đã làm sụp đổ hoàn toàn uy lực của không lực Hoa Kỳ, buộc chúng phải ký Hiệp định Pa-ri rút quân về nước ngày 27/1/1973. Và cuối cùng là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc vẻ vang ba mươi năm chiến tranh giải phóng giành độc lập, thống nhất Tổ quốc, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng trong mùa Xuân năm 1975 như một điểm hẹn lịch sử, là sự kết tinh của đường lối cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn, theo tư tưởng Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Đã trải qua 83 năm, qua nhiều thăng trầm của lịch sử nhưng mỗi năm Tết đến, Xuân về, toàn dân tộc ta vẫn rộn ràng niềm vui, niềm tự hào: “Mừng Đảng, mừng Xuân” và mỗi mùa Xuân mới mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi người dân của dân tộc Việt Nam anh hùng luôn nguyện sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại, phấn đấu thực hiện thành công mục tiêu “ dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, hiên ngang sánh vai với các cường quốc năm châu như mong ước của Người

Kim Yến
bqllang.gov.vn

Đọc thơ Bác Hồ mừng Tết Quý Tỵ 60 năm trước

Bác Hồ chúc TếtQuân và dân ta vừa trải qua bảy năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, liên tiếp giành thắng lợi trên khắp các chiến trường, mà gần nhất là chiến thắng Tây Bắc Thu – Đông năm 1952 giải phóng hoàn toàn một vùng rộng lớn, nối liền nước ta với nước bạn Lào. Còn ở hậu phương, chính sách giảm tô, cải cách ruộng đất vừa được Chính phủ ban hành như luồng gió mới làm nức lòng hàng triệu nông dân. Trong bối cảnh ấy, thơ chúc Tết Quý Tỵ 1953 của Bác Hồ cũng hào sảng, phấn chấn và giục giã lòng người hơn năm trước.

Ngay từ câu mở đầu, Bác Hồ như không nén được niềm vui, muốn nói to lên, nhấn mạnh thêm cho mọi người cùng reo mừng một năm cũ vừa qua, năm mới đã tới, nông dân được phát động đứng lên giành ruộng đất về tay mình, biến ước mơ ngàn đời “người cày có ruộng” thành hiện thực, nên cả hậu phương đều tưng bừng phấn khởi; còn tiền tuyến thì toàn quân đang thi đua giết giặc lập công. Như một điệp khúc náo nức niềm vui, liên tiếp năm câu ở đoạn mở đầu bài thơ được bắt đầu bằng từ “mừng”. Quả là năm Nhâm Thìn 1952 qua, năm Quý Tỵ 1953 tới với nhiều niềm vui mừng khôn xiết.

Sau niềm vui lớn là những nhiệm vụ cụ thể của năm mới tới. Khác thơ chúc Tết mừng Xuân của Bác Hồ hai năm Tân Mão 1951, Nhâm Thìn 1952, thường được mở đầu bằng việc điểm lại năm cũ: “Xuân này kháng chiến đã năm Xuân” (1951), hoặc “Kháng chiến vừa sáu năm/ Trường kỳ và gian khổ” (1952), “Thơ mừng Tết Quý Tỵ 1953” của Bác Hồ đi thẳng vào nhiệm vụ lớn của đồng bào, chiến sỹ cả nước. Đó là, ở hậu phương cuộc phát động nông dân đứng lên làm giảm tô, cải cách ruộng đất thắng lợi, tạo ra động lực cách mạng và niềm phấn khởi của hàng triệu nông dân: “Mừng phát động nông dân/ Mừng hậu phương phấn khởi”. Chính cuộc phát động giảm tô, cải cách ruộng đất cũng tiếp thêm sức mạnh cho con em nông dân đang cầm súng chiến đấu ngoài tiền tuyến: “Mừng tiền tuyến toàn quân/ Thi đua chiến thắng mới”. Thơ mừng Tết của Bác Hồ đã nêu bật mối quan hệ máu thịt giữa tiền tuyến-hậu phương trong cuộc chiến tranh nhân dân thần thánh của dân tộc ta.

Để mối quan hệ ấy thực sự tạo sức mạnh vĩ đại, đưa kháng chiến đến thành công, Bác Hồ một lần nữa nhấn mạnh đến sự đoàn kết: “Mừng toàn dân đoàn kết”. Đoàn kết là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tư tưởng của Bác Hồ. Mỗi độ Xuân về Tết đến theo truyền thống mọi người có dịp sum họp, thì lại càng cần nhắc nhau giữ gìn sự đoàn kết, cội nguồn sức mạnh. Có lẽ vì thế, thơ chúc Tết mừng xuân của Bác Hồ từ bài đầu tiên (năm 1942) đến năm Quý Tỵ 1953, hầu như bài nào cũng nói tới đoàn kết. Chúng ta nhớ lại, năm 1942 cách mạng còn trong trứng nước, tập hợp quần chúng là nhiệm vụ hàng đầu của Mặt trận Việt Minh, thơ “Mừng xuân 1942” của Bác Hồ đã viết: “Chúc đồng bào ta đoàn kết mau”, đến thơ “Chúc năm mới Đinh Hợi 1947”, Tết đầu tiên của cuộc trường kỳ kháng chiến chín năm chống Pháp thì trong thơ, Bác Hồ lại khẳng định: “Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng”. Sang năm 1948, thơ chúc Tết Mậu Tý của Bác Hồ lại một lần nữa thể hiện sức mạnh đoàn kết không gì lay chuyển được: “Toàn dân đại đoàn kết/ Cả nước dốc một lòng”. Đoàn kết được Bác Hồ nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong thơ chúc Tết mừng Xuân như những điều tốt lành cầu chúc cho nhau mỗi dịp Xuân về Tết đến. Đọc thơ chúc Tết mừng Xuân của Bác Hồ chúng ta càng thấy tấm lòng trời biển của Người chăm lo cho sự đoàn kết toàn dân tộc.

Sau bảy năm trường kỳ kháng chiến, mùa Xuân Quý Tỵ 1953 đến với quân dân ta quả là một mùa Xuân vui. Niềm vui ấy như thấy hiện nên ngay từng câu thơ trong bài “Mừng Tết Quý Tỵ 1953” của Bác Hồ. Bài thơ có 12 câu được viết theo lối tự do, khoáng đạt mà có tới 10 câu được bắt đầu bằng chữ “mừng”. Đúng là niềm vui không thể kìm nén, nên giọng thơ hào sảng, dạt dào cảm xúc.

“Thơ mừng Tết Quý Tỵ 1953” Bác Hồ viết 60 năm về trước, nhưng mùa Xuân Qúy Tỵ này đọc lại vẫn mới, vẫn hợp vô cùng với những lời chúc đầu năm. Chẳng hạn hai câu: “Mừng năm mới, nhiệm vụ mới /Lực lượng mới, thành công mới” thì ngày nay mọi người vẫn chúc nhau như vậy để đón năm mới với bao vui mừng và niềm tin vào tương lại phía trước.

HỒ CHÍ MINH

Thơ mừng Tết Quý Tỵ

Mừng năm Thìn vừa qua,

Mừng Xuân Tỵ đã tới.

Mừng phát động nông dân,

Mừng hậu phương phấn khởi.

Mừng tiền tuyến toàn quân,

Thi đua chiến thắng mới.

Mừng toàn dân đoàn kết,

Mừng kháng chiến thắng lợi.

Mừng năm mới, nhiệm vụ mới,

Lực lượng mới, thành công mới.

Mừng toàn thể chiến sĩ và đồng bào,

Mừng phe dân chủ, hòa bình thế giới.

                                              Xuân Quý Tỵ 1953
Theo Báo Hải Dương online

Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Mùa Xuân này Bác về với Tây Nguyên

Gia Lai, những ngày đầu Xuân, trời trong veo. Và nắng, vàng tươi, rực rỡ. Và gió, sao bỗng dịu dàng, thơm mùi cơm mới. Vào bất cứ thời điểm nào trong ngày, nếu có dịp ngang qua Quảng trường Đại Đoàn Kết (TP. Pleiku), lòng tôi cũng lại ngân lên những câu thơ đắm lòng trong trường ca “Theo chân Bác” của nhà thơ Tố Hữu: “Ta hiểu. Miền Nam thương nhớ Bác/ Nóng lòng mong đợi Bác vào thăm/ Ta hiểu. Đêm nằm nghe gió gác/ Bác thường trăn trở, nhớ miền Nam!”. Vậy là, kể từ mùa Xuân Quý Tỵ này, Bác đã về với Tây Nguyên.

Từ nay, công trình Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên sẽ là nơi để đồng bào các dân tộc Tây Nguyên thể hiện lòng tôn kính đối với Bác Hồ; là nơi để chúng ta dâng hoa, báo công với Người và tự sửa mình khi làm những điều chưa tốt, có hại đối với đất nước, đối với nhân dân. Đặc biệt, đây còn là nơi có ý nghĩa giáo dục truyền thống cách mạng đối với các thế hệ, nhất là thế hệ trẻ”- Bí thư Tỉnh ủy Hà Sơn Nhin khẳng định.

2
Lễ khánh thành Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên. Ảnh: Đức Thụy

Thỏa niềm mong ước

Một lòng sắt son theo Đảng, theo Bác Hồ suốt từ những năm tháng đói cơm lạt muối trong 2 cuộc kháng chiến chống ngoại xâm cho đến công cuộc dựng xây và phát triển đất nước, lòng người Tây Nguyên lúc nào cũng khôn nguôi nhớ Bác. Bởi, người Tây Nguyên hiểu rằng, chính Bác Hồ là người yêu quý đồng bào, người luôn khẳng định, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên là anh em ruột thịt, không thể tách rời trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Từ ngày Bác đi xa, đã có biết bao người con của núi rừng Tây Nguyên hành hương về nơi Bác ở, mà thưa với Bác rằng: Chúng con khắc ghi và làm theo lời Bác dặn, đoàn kết cùng nhau bảo vệ và xây dựng quê hương; để lại bày tỏ nguyện vọng thiết tha mong được đón Bác về ở mãi với đồng bào Tây Nguyên. Nay thì nguyện vọng ấy đã trở thành hiện thực, khi ngày ngày, đã có biết bao người dân đến với Quảng trường Đại Đoàn Kết lộng gió – đến để ngước nhìn lên tượng Bác, để chiêm ngắm khuôn mặt sáng ngời của cụ già rất phương Đông, quần áo ka-ki, dép cao su, giản dị gần gũi mọi người và đặc biệt là để thấy Bác Hồ cười trong niềm vui mãi mãi. Giữa đất trời Tây Nguyên, Người đứng đó, cao sang mà gần gũi, vĩ đại mà giản dị, như chính cuộc đời của một vị lãnh tụ suốt đời vì nước vì dân.

Còn nhớ, tại lễ khánh thành Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên, bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã làm xúc động biết bao trái tim – những người dự lễ và xem trực tiếp trên sóng của Đài Truyền hình Việt Nam. Sau khi ôn lại tình cảm đau đáu của Bác Hồ với Tây Nguyên, tình cảm thủy chung, son sắt của đồng bào Tây Nguyên với Bác, Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Được biết, hiện nay ở Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Gia Lai và Kon Tum, vẫn đang lưu giữ một tượng Bác bằng đồng, cao 12,5 cm, do đồng bào Jrai đúc thủ công từ những năm đầu của thập niên 60 thế kỷ trước, trong những năm Mỹ – Diệm lê máy chém khắp miền Nam, hòng tiêu diệt những người cách mạng, những chiến sĩ cộng sản.

Bức tượng đã được truyền tay từ người ngã xuống cho thế hệ sau với lời dặn: “Đây là tượng Bác Hồ, các đồng chí hãy giữ lấy làm cách mạng, dù có phải hy sinh cũng quyết giữ gìn”. Cảm động biết bao tình dân với Bác, tình người Tây Nguyên một lòng son sắt với Bác. Và chính đó cũng là một nguồn sức mạnh để đồng bào Tây Nguyên cùng cả nước hoàn thành sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước và ngày nay đang tiến hành công cuộc đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần làm cho Tây Nguyên chúng ta ngày càng phát triển, trở nên trù phú, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện…”.

Lời của Tổng Bí thư khiến tôi nhớ đến câu chuyện của ông Siu Yú ở làng Jít Jẻ, xã Ia Lang, huyện Đức Cơ một trong những người cùng các đảng viên và nhân dân trong xã cất giữ tượng Bác Hồ ngày ấy. Trong suốt câu chuyện với chúng tôi, chốc chốc ông Yú lại nghẹn lời, vì xúc động. “Chúng tôi đúc tượng là để tỏ lòng kính yêu với Bác, để ngày ngày anh em đồng chí đồng đội được gần Bác, kể cho Bác nghe câu chuyện chiến đấu đánh Mỹ của đồng bào Tây Nguyên – ông Yú xúc động nói – Ngày ấy, chính sự “có mặt” hàng ngày này của Bác đã giúp quân và dân Tây Nguyên kiên cường đánh Mỹ, là sự động viên khích lệ tinh thần to lớn để chúng tôi vượt qua mọi khó khăn gian khổ, góp sức cho thắng lợi chung”. Và hôm nay, Tượng đài Bác Hồ hiển hiện tại Quảng trường Đại Đoàn Kết, với Siu Ýu là cả niềm vui và tự hào, ông mừng rỡ thốt lên: “Mừng lắm, mừng lắm”, bởi với ông người từ khi còn trai trẻ, đã từng ấp ủ cất giấu tượng Bác nơi trái tim mình.

Muôn triệu tấm lòng hướng về Bác kính yêu

“Công trình Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên mang ý nghĩa sâu sắc về chính trị, tư tưởng, lịch sử và văn hóa, là món quà của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam dành cho Tây Nguyên, thể hiện tấm lòng của Đảng, Bác Hồ đối với Tây Nguyên và tấm lòng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đối với Đảng và Bác Hồ kính yêu (…). Vinh dự, tự hào với công trình văn hóa đầy ý nghĩa này, Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các dân tộc tỉnh Gia Lai trân trọng coi đây là báu vật của tỉnh và xin hứa với Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam sẽ nâng niu, gìn giữ, phát huy hết giá trị, ý nghĩa của công trình…” – Lời phát biểu của Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Thế Dũng tại lễ khánh thành Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên, ngày 9-12-2012.

Sâu lắng và thiết tha, kể từ khi phát lệnh khởi công xây dựng, đến khi hoàn thành Tượng đài Bác Hồ, không chỉ có cán bộ, đảng viên, quân và dân các dân tộc tỉnh Gia Lai, các nhà khoa học, các nghệ sĩ, họa sĩ, nhà điêu khắc và cán bộ, công nhân viên của các đơn vị thi công… dành nhiều tâm huyết, tình cảm chân thành đón đợi, mà các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước cũng luôn dành nhiều tâm huyết, đặc biệt quan tâm công trình “Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên”.

Thật cảm động và trân trọng biết bao, ngày khởi công công trình tượng Bác, có Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đến dự phát lệnh khởi công, ngày khánh thành được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về chung vui. Nhớ lại, trong suốt thời gian gần 2 năm thi công công trình, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đến thăm, cùng với Hội đồng Nghệ thuật kiểm tra công trình thi công mẫu “Tượng đài Bác Hồ với các dân tộc Tây Nguyên” tại Hà Nội. Cũng trong thời gian ấy, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng còn có các chuyến đi về với đảng bộ, quân và dân các dân tộc Gia Lai. Lần nào cũng vậy, ngoài công việc chung, các đồng chí cũng dành thời gian đến kiểm tra tiến độ thi công, góp ý từng chi tiết tại công trình xây dựng Tượng đài Bác ở Quảng trường Đại Đoàn Kết, TP. Pleiku.

…Bây giờ, mỗi khi thấy các thanh, thiếu nhi ngày ngày quây quần bên tượng Bác, thấy khách xa gần về thăm và chụp ảnh lưu niệm bên tượng Bác Hồ, thăm Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh Gia Lai và Kon Tum; bên thạch thư của Bác gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam họp tại Pleiku, ngày 19-4-1946. Hay bên tháp đá bazan với 54 cột đá tự nhiên, được hun đúc của tạo hóa hàng triệu triệu năm trên mảnh đất Tây Nguyên này, tượng trưng cho tinh thần đại đoàn kết của 54 dân tộc anh em… chính tại Quảng trường Đại Đoàn Kết, mà lòng ta thấy xốn xang, tự hào. Mới đây, nhà báo Bùi Đức Thịnh-Phó Tổng Biên tập Báo Đak Nông đã dẫn đoàn cán bộ, phóng viên đến TP. Pleiku, việc đầu tiên của Đoàn là đến thăm tượng Bác, anh xúc động: “Đứng bên tượng Bác, ta thấy Bác thật gần gũi, thấy lòng mình ấm áp lạ thường”, rồi anh khoe rằng mình có cả bộ sưu tập ảnh của mình bên tượng Bác, xem đây là kỷ vật về Bác Hồ của cuộc đời mình.

Theo Quốc Ninh/ Báo Gia Lai
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Mùa xuân, suy nghĩ về minh triết Hồ Chí Minh

Lời của Bác - Lời của non sông(NTO) Hồ Chí Minh là danh nhân văn hóa thế giới. Người đi xa, nhưng để lại cho dân tộc ta một kho tàng tư tưởng đồ sộ – tư tưởng Hồ Chí Minh. Gần đây, giới học thuật đã không dừng lại ở việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh mà đã xuất hiện những công trình nghiên cứu mới về “Minh triết Hồ Chí Minh”.

Minh triết, hiểu một cách chung nhất là sự sáng láng, mẫn tiệp, thông tuệ của trí tuệ mang tính cách phương Đông. Đó là những tư tưởng thuộc về nhân sinh, đạo lý, đi vào lối sống, là những đúc kết thành châm ngôn, gắn với đời sống, rất gần với thực tiễn và nó trở thành những chỉ dẫn về lối sống cho con người.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi của Bác, có thể kể ra hàng ngàn những câu chuyện về tấm gương đạo đức của Bác, mà đó có thể coi là những minh triết- minh triết Hồ Chí Minh.

Chuyện kể rằng tấm áo Bác mặc đã cũ, sờn. Các đồng chí giúp việc thương Bác quá, cứ năn nỉ đề nghị Bác thay bộ quần áo mới. Bác bảo không sao cả, Bác mặc được, cứ để Bác mặc, đỡ tốn kém. Mỗi đồng tiền, bát gạo mà chúng ta tiêu dùng đều là mồ hôi nước mắt của dân. Thương dân thì phải tiết kiệm. Lãng phí là không thương dân. Tham ô, ăn cắp của dân là có tội với dân, với cách mạng. Bác nói với các đồng chí phục vụ và ngay cả trong các phiên họp Trung ương là “Chủ tịch nước mà biết mặc áo vá là có phúc cho dân”. Đó chính là một tư tưởng minh triết. Trong điều kiện đất nước Việt Nam vừa giành được độc lập, vừa thoát khỏi trăm năm đô hộ của thực dân phong kiến, lại trải qua chín năm kháng chiến trường kỳ để bảo vệ nền độc lập, tự do vừa giành được, đời sống nhân dân còn gặp muôn vàn khó khăn, vất vả thì quan điểm, tư tưởng đó của Bác thật là thiết thực, gần gũi đời thường mà mấy người có được.

Khi bàn về chân lý, chúng ta đều hiểu một cách chung nhất chân lý là tri thức lý luận phục vụ cho việc nghiên cứu, tri thức phù hợp với khách quan. Nhưng Bác nói chân lý là cái gì tốt cho nhân dân, cái gì lợi cho nhân dân và cái gì đúng với nhân dân thì cái đó là chân lý. Đó cũng là một tư tưởng minh triết. Bác cũng nói là người có đạo đức thì tiếp thu chân lý dễ hơn. Như vậy, Bác đã soi vào chân lý từ góc độ đạo đức học. Luận điểm này của Bác rất sâu sắc, thâm thúy, tức là người có đạo đức thì dễ phục thiện hơn, dễ thừa nhận sự thật hơn, dễ thừa nhận đạo lý hơn. Và do vậy, trong khoa học có cả đạo đức. Đó là bệ đỡ tinh thần cho con người trong cuộc hành trình đi tìm chân lý.

Một chuyện nữa về Bác cũng rất đời thường. Có lần Bác mời một đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đi tát nước với Bác. Ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ, khi lấy nước vào các chân ruộng cao phải tát nước bằng gàu dai. Khi tát nước phải có hai người phối hợp nhịp nhàng mới tát nước được. Vào tát nước với Bác, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy cứ lúng túng không tát được làm nước bắn tung tóe lên cả râu, lên cả áo Bác, vì cả đời có tát nước bao giờ đâu. Trong khi đó Bác tát nước thành thạo như một lão nông tri điền. Bác hỏi chú chưa tát nước bao giờ à? Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy thưa với Bác là chưa ạ!. Bác bảo không sao cả, Bác sẽ huấn luyện cho chú biết tát nước. Sau đó Bác nói một câu là một minh triết: “Chú làm Bí thư một tỉnh nông nghiệp thì chú phải biết tát nước”. Tức là làm bí thư tỉnh ủy thì phải gắn với nhân dân, phải thấu hiểu cách nghĩ của nhân dân và sống trong cuộc sống của nhân dân thì mới lãnh đạo nhân dân được. Suy rộng ra, khi làm bất kể một công việc gì cũng cần phải sâu sát, phải thấu hiểu công việc mình làm thì mới có thể thành công. Làm người cán bộ trong bộ máy công quyền là nhằm phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội thì cần phải hiểu nhân dân, hiểu xã hội. Trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ của người cán bộ thì người cán bộ cần phải hiểu chức trách, nhiệm vụ của mình, và thực hiện chức trách, nhiệm vụ đó phải phù hợp với điều kiện cuộc sống, tránh quan liêu bàn giấy, tránh lý luận suông mù quáng.

Chính những quan điểm, tư tưởng của Bác rất đời thường, rất dung dị và hòa với cách nghĩ, lối sống của nhân dân nhưng lại bao hàm những tư tưởng nhân sinh rộng lớn, là những tư tưởng minh triết nên ai cũng có thể hiểu Bác, ai cũng có thể học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác được, miễn là người đó có tâm, miễn là người đó quyết tâm học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác để cho “…đời ta trong sáng hơn”.

Thiết nghĩ, mỗi cán bộ, đảng viên thường xuyên học tập, rèn luyện và mỗi tổ chức cơ sở Đảng, mỗi cơ quan, đơn vị phải tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh do Đảng ta phát động, tạo thêm động lực mạnh mẽ, có sức lan tỏa rộng lớn, góp phần quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” ở nước ta trong điều kiện hiện nay.

Trương Tiến Hưng
Phó Giám đốc Sở Tư pháp
laodong.com.vn

Thiên nhiên và mùa xuân trong thơ văn của Bác

Không chỉ trong các tác phẩm văn chương nghệ thuật và những trước tác Người để lại, mà trong toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thiên nhiên và mùa xuân đất nước luôn gắn bó mật thiết, rất gần gũi, thân quen và là đối tượng khơi nguồn cảm hứng, góp phần tạo nên sự phong phú đa dạng trong tư tưởng và tình cảm của Người.

Thiên nhiên và mùa xuân đất nước qua thơ văn của Bác

Tách mình ra khỏi tự nhiên nguyên khởi là một nỗ lực và là bước ngoặt vĩ đại nhất trong lịch sử phát triển của loài người, kể từ khi con người biết chế tác ra công cụ lao động và sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện giao tiếp rất hữu hiệu. Điều này đã được F. Engel nói rất rõ trong tác phẩm nổi tiếng: “Biện chứng của tự nhiên”. Thế nhưng, chủ động hoà đồng trở lại với tự nhiên như một phẩm chất mang tính nhân văn sâu sắc lại chỉ có ở một số người với tư cách là nhà sáng lập ra các học thuyết tư tưởng, các nghệ sỹ lớn mà tác phẩm của họ có ảnh hưởng sâu rộng đến tiến trình phát triển của nhân loại. Trong tư tưởng và tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh dường như có cả hai phẩm chất đó: Nhà tư tưởng và nhà nghệ sỹ.

Có thể nói thiên nhiên dưới con mắt của Bác rất sống động, phong phú và đa dạng. Nó không chỉ là đối tượng để khai thác, miêu tả, là tác nhân nâng đà cho xúc cảm thẩm mỹ bay cao và vươn xa đối với quá trình sáng tạo thi ca, hơn thế nữa, nó còn tạo nên những giá trị thẩm mỹ tự nhiên cho tác phẩm nghệ thuật, tạo nên cốt cách của một thi sỹ- nhà hiền triết phương Đông Hồ Chí Minh rất độc đáo. Chính vì thế, thiên nhiên và mùa xuân đất nước trong tình cảm của Bác không còn là “Cái Tự nhiên tự nó” mà đã trở thành “Cái Tự nhiên cho ta” (ý của Hegel).

Ngay từ những ngày ở trong lao tù của Tưởng Giới Thạch, thiên nhiên đã ùa vào tình cảm của Bác hay là chính Người đã tìm đến với thiên nhiên. Có lẽ là cả hai:

Trong tù không rượu cũng không hoa
Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ

(Ngắm trăng)

Hay là:

Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không.
Cô em xóm núi xay ngôi tối
Xay hết, lò than đã rực hồng

(Chiều tối)

Hoặc:

Núi ấp ôm mây, mây ấp núi
Lòng sông gương sáng, bụi không mờ
Bồi hồi dạo bước Tây phong lĩnh
Trông lại trời Nam, nhớ bạn xưa

(Mới ra tù tập leo núi)

Trở về nước sau một thời gian bôn ba ở hải ngoại, hình bóng quê hương, đất nước thân yêu như càng trở nên thiêng liêng hơn bao giờ hết đối với Bác. Người đã ôm hôn nắm đất quê hương khi mới đặt chân lên mảnh đất Cao Bằng, nơi địa đầu của Tổ quốc. Và trong thời gian lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc, mặc dù bận trăm công nghìn việc, nhưng xúc cảm về thiên nhiên và mùa xuân đất nước vẫn không hề vơi cạn trong tâm tưởng của Người:

Rằm xuân lồng lộng trăng soi.
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân.
Giữa dòng bàn bạc việc quân.
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

(Rằm tháng giêng)

Tố Hữu trong một lần tháp tùng Bác Hồ về thăm Pác Bó (năm 1961) (ảnh vnca.com.vn)

Và qua những việc làm cụ thể

Tuy nhiên, tình yêu thiên nhiên, đất nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện ở trong các tác phẩm thơ ca, như là những sáng tạo nghệ thuật mang đậm dấu ấn cá nhân, mà nó còn được thể hiện trong toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Vì thế chúng ta có thể thấy những nơi Bác chọn làm chỗ ở và làm việc đều là những địa danh vừa đảm bảo sự bí mật thiết yếu về mặt an ninh, quốc phòng, vừa gần gũi với thiên nhiên, đất nước. Những địa danh đó chính là suối Lê Nin, núi Các Mác ở Pắc Bó, Cao Bằng, lán Nà Lừa ở Tân Trào, Tuyên Quang, khu Đá Chông ở Ba Vì, Hà Tây (cũ) và ngôi nhà sàn xung quanh có vườn cây, ao cá ở giữa thủ đô Hà Nội.

Tình yêu thiên nhiên, đất nước ở Bác đã vượt lên trên việc ngắm cảnh hay ngâm vịnh, mà quan trọng hơn là tình yêu ấy đã được thể hiện thành những việc làm rất cụ thể, thiết thực trong việc bảo vệ, giữ gìn tài sản vô giá của quốc gia, dân tộc.

Sau khi hoà bình được lập lại ở miền Bắc, trong dịp nói chuyện với Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An, ngày 8/12/1961, Bác đã nói: “Trồng cây gây rừng là rất quan trọng. Bây giờ dân chưa thấy đâu. Có khi các chú cũng chưa thấy”. Có lần Bác đã giải thích một cách giản dị về tầm quan trọng của việc trồng cây gây rừng: “Nếu rừng cạn kiệt thì không còn gỗ và mất nguồn nước thì ruộng nương mất mầu, gây ra lụt lội và hạn hán… Nếu cứ để tình trạng đồng bào phá một ít, nông trường phá một ít, công nhân  phá một ít, thậm chí đoàn thăm dò địa chất cũng phá một ít thì rất tai hại… Phá rừng thì dễ, nhưng gây lại rừng phải mất hàng chục năm. Phá rừng nhiều như vậy sẽ ảnh hưởng đến khí hậu, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống”. Và Người xem việc phá rừng không có kế hoạch là hành vi “đem vàng đổ xuống biển”.

Trước tình trạng phá rừng thiếu ý thức của một số người dân và một bộ phận cán bộ, Bác thấy cần phải phát động một phong trào Trồng cây gây rừng vào mùa xuân. Và phong trào do Bác khởi xướng trên khắp đất nước cho đến hôm nay và chắc là mãi về sau vẫn được toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta duy trì, phát triển thành một phong trào rộng khắp trong mọi tầng lớp xã hội. Mỗi khi tết đến, xuân về, hẳn nhiều người trong chúng ta còn nhớ mãi hai câu thơ của Người về Tết trồng cây:

Mùa xuân là tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân.

Có lẽ cho đến nay, ít có một lãnh tụ, một nguyên thủ quốc gia nào như Chủ tịch Hồ Chí Minh có hành động độc đáo đến như vậy.

Trước khi đi xa, trong Di chúc, Bác có bày tỏ nguyện vọng của mình mong muốn rằng sau khi qua đời thi hài được hoả táng và an táng trên một ngọn đồi nào đó gần núi Tam Đảo hay Ba Vì. Người còn nhắc nhở Đảng và Nhà nước “nên có kế hoạch trồng cây trên và xung quanh đồi. Ai đến thăm cũng trồng thêm một cây làm kỷ niệm. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp”.

Như vậy có thể thấy cảnh vật thiên nhiên và hình bóng mùa xuân đất nước luôn có mặt trong đời sống tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính thiên nhiên đã khơi nguồn cho nhiều tác phẩm thơ ca nổi tiếng và góp phần nâng vị thế danh nhân văn hoá thế giới của Người lên một tầm cao mới. Nhưng điều cần thiết phải nhấn mạnh ở đây là từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây những kiệt tác văn chư­ơng về thiên nhiên và đất nước th­ường là sản phẩm vô giá của những nhà văn, nhà thơ lỗi lạc và đồng thời cũng là những ngư­ời có tư tư­ởng, tình cảm xuất chúng như­ Trương Kế, Thôi Hiệu, Đỗ Phủ, Lý Bạch, Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Tagor, Puskin…

Còn đối với Bác những tư tưởng, tình cảm về thiên nhiên và mùa xuân đất nước không chỉ dừng lại ở những điều chỉ giáo trong các văn bản hay tác phẩm nghệ thuật, mà hơn thế nó đã trở thành những hành động sống trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Sinh thời Bác đã từng cùng các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, bà con nông dân và các cháu thiếu nhi tham gia Tết trồng cây ở một số địa phương miền Bắc như Hà Nội, Hà Tây (cũ)… mỗi khi xuân về và hàng ngày Bác vẫn thường cho cá ăn và chăm sóc vườn cây quanh khu nhà ở Phủ Chủ tịch.

Những hành động ấy, ngoài ý nghĩa giáo dục, còn ẩn chứa bên trong Bác là một người yêu thiên nhiên và đất nước đến khôn cùng. Thiên nhiên và đất nước trong đời sống tinh thần của Bác không đơn giản chỉ là một thái độ ứng xử tích cực của con người đối với cuộc sống xung quanh, hơn thế sự quan tâm, bảo vệ và hoà đồng với thiên nhiên và đất nước đã trở thành một phần máu thịt, gắn quện với nhân sinh quan và thế giới quan của một chiến sỹ cộng sản lỗi lạc, thể hiện tầm độ nhận thức cực kỳ sâu sắc của Bác đối với thế giới tự nhiên và vai trò chủ động, tích cực của con người trong tiến trình biến “Cái Tự nhiên tự nó” thành “Cái Tự nhiên cho ta”. Đấy vừa là một tình cảm cao quí, vừa là một bài học lịch sử vô giá mà trước lúc đi xa Người muốn để lại cho con cháu mai sau.

Đỗ Ngọc Yên
chinhphu.vn

Bác Hồ và mùa xuân thành lập Đảng

Người là niềm tin tất thắngNguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu từng nói: “Hằng năm chúng ta kỷ niệm ngày thành lập Đảng trùng với mỗi độ xuân về. Mùa xuân tiếp thêm sức sống cho con người và cảnh vật. Mùa xuân cũng là dịp để chúng ta ôn lại những chặng đường lịch sử vinh quang của Đảng, của dân tộc, cảm thấy lớn lên và vững vàng thêm bởi sức mạnh cội nguồn”. Mùa xuân năm nay, Đảng ta bước sang tuổi 81, nhân dịp này, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta lại có dịp ôn lại chặng đường lịch sử vẻ vảng của Đảng và cách mạng Việt Nam.

Tháng 12 năm 1927, đồng chí Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô đi Brúc-xen dự khóa họp của Đại hội đồng Liên đoàn chống đế quốc. Đây là tổ chức chống đế quốc rộng rãi đầu tiên trong mặt trận thống nhất giữa giai cấp công nhân thế giới và trí thức tiến bộ thế giới. Sau khóa họp, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đi Pháp, rồi sang Đức, qua Thụy Sỹ, Italia, rồi Người đáp tàu Nhật Bản về Xiêm (Thái Lan), ở đây, Người vận động cách mạng trong bà con Việt Kiều và lập nên Hội Thân ái.

Một hôm nhận được liên lạc từ Hồng Kông chuyển đến, báo tin: phong trào cách mạng ở trong nước đang có những chuyển biến tốt. Cần có một đảng cộng sản thống nhất, có đường lối chính trị đúng để lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Từ một vùng quê ở Thái Lan, Bác Hồ của chúng ta đáp xe lửa đi Băng Cốc, rồi từ Băng Cốc đi tàu thủy đến Singapo. Tại đây Người xuống tàu đi Hồng Kông.

Đến nơi, các đồng chí Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn ra tận cảng biển, bí mật đón Bác. Hai người đưa Bác về chỗ nghỉ và chuyển cho Bác bức thư của Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản. Trong thư có đoạn viết: “Việc không có một đảng cộng sản thống nhất trong lúc phong trào quần chúng công nông lên cao là một nguy cơ lớn cho cách mạng ở Đông Dương sau này… Nhiệm vụ quan trọng và vô cùng cấp bách đối với tất cả những người cộng sản Đông Dương này là thành lập một đảng cách mạng của giai cấp vô sản”.

Sau đó mọi người cùng bắt tay chuẩn bị cho hội nghị hợp nhất. Bác tìm gặp và liên lạc với các đồng chí cũ, quen biết trong Đảng Cộng sản Trung Quốc, để tạo điều kiện an toàn cho hội nghị. Cuộc họp quyết định tiến hành trong dịp tết. Vì ngày tết theo truyền thống phương Đông, mọi người đi lại rất đông, các đại biểu dự họp có thể đi khỏi đất nước dễ dàng hơn. Và ở Cửu Long, một cuộc họp như vậy cũng đảm bảo an toàn hơn.

Hội nghị bắt đầu làm việc từ ngày mồng 3 tháng 2 năm 1930. Phiên họp đầu tiên được khai mạc trong một căn buồng khách sạn loại hai, nơi phần lớn các đại biểu đang ở trọ. Trên bàn để sẵn một bộ súc sắc, để nếu có ai nghi ngờ, thì tưởng đấy là nơi tụ tập của những người ham mê cờ bạc trong dịp Tết.

Nhờ uy tín và sự phân tích của Bác, tất cả những vấn đề đã được giải quyết. Các đại biểu đã nhất trí thông qua nghị quyết về việc hợp nhất các tổ chức cộng sản trong cả nước thành một đảng cộng sản thống nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị đã thông qua chính cương vắn tắt và sách lược vắn tắt của Đảng do đồng chí Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và sau đó bầu ra Ban Chấp hành Trung ương lâm thời để lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Để phòng xa, có ngày cuộc họp lại được chuyển đến một khán đài sân vận động ở Cửu Long, nhân một trận bóng đá. Chiều ngày cuối cùng của hội nghị, Bác tổ chức một bữa liên hoan nhỏ ngay tại phòng ở của mình. Vẫn 7 đồng chí: Hai đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng, hai đại biểu của An Nam Cộng sản Đảng, các đồng chí Lê Hồng Sơn và Hồ Tùng Mậu thay mặt cho tổ chức Đảng ở nước ngoài và Bác – Nguyễn Ái Quốc đại diện cho Quốc tế Cộng sản.

Khi các đại biểu đã ngồi chung quanh bàn, Bác xúc động nói: “Các đồng chí, hôm nay ngày lịch sử của chúng ta! Lê – nin vĩ đại đã nói, chỉ có Đảng nào có được một lý luận tiên phong, mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sỹ tiên phong. Bây giờ chúng ta đã có một Đảng như thế rồi. Nhân dân ta từ xưa đã có truyền thống đấu tranh anh dũng, nhưng suốt năm ấy, nhân dân ta thiếu người cầm lái sáng suốt. Giờ đây, Đảng của chúng ta phải gánh lấy vai trò này và tôi tin rằng Đảng ta sẽ dẫn dắt nhân dân ta đi đến thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành độc lập và tự do cho Tổ quốc thân yêu”.

Trong giờ phút trọng đại của ngày thành lập Đảng ấy và trong câu nói ngắn ngủi ấy, Bác đã ba lần nhắc đến “nhân dân ta”. Mục đích của Đảng cũng là vì dân! Sức mạnh của Đảng cũng là từ dân! Có thể nói hình ảnh đẹp đẽ nhất trong tâm trí của Người, chính là nhân dân, là Tổ quốc!

Trong niềm vui của mùa xuân này, chúng ta càng nhớ đến Bác – Người sáng lập Đảng ta, lãnh tụ vĩ đại của nhân dân ta, nhưng cũng là người Bác thân thiết, gần gũi trong mỗi trái tim Việt Nam! Đúng như một người bạn nước ngoài đến thăm Việt Nam đã nói: “ở đất nước này đi đến đâu ta cũng cảm thấy sự hiện diện của tinh thần Hồ Chí Minh!”.

Bác vẫn ở cùng chúng ta, trong sắc xuân tràn đầy hy vọng!

Hồng Nguyên (ST)
thanhtravietnam.vn

Đảng, Bác Hồ Xuân Tân Tỵ và Quý Tỵ không thể nào quên

Mùa xuân Tân Tỵ năm 1941, Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Ngày 28-1-1941, tức mùng 2 Tết, Người về tới cột mốc 108 biên giới Việt – Trung thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Ngày 8-2-1941, Người đến ở trong hang Cốc Bó thuộc địa phận làng Pác Pó, xã Trường Hà. Nơi ở có con suối và ngọn núi, Người đặt tên là suối Lênin và núi Các Mác. Người sáng tác hai bài thơ: Pác Bó hùng vĩ và Tức cảnh Pác Bó.

Pác Bó hùng vĩ

Non xa xa, nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là.
Đây suối Lênin, kia núi Mác,
Hai tay xây dựng một sơn hà.

Tức cảnh Pác Bó

Sáng ra bờ suối, tối vào hang
Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng.
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng,
Cuộc đời cách mạng thật là sang.

Đồng chí Dương Đại Lâm kể lại sinh hoạt của Bác trong thời gian ở Pác Bó: “Người sống rất giản dị và kham khổ. Nước lá ổi thay chè, và cải xoang là thức ăn chủ yếu. Ngày ấy đồng bào quanh vùng ăn độn bắp, mọi người trong cơ quan cũng ăn độn bắp. Riêng “đồng chí già” tuổi cao, sức yếu, chúng tôi mua gạo nấu riêng cho Người ăn, nhưng Người không đồng ý. Có lần bắp non xay để lâu mới ăn đến, bị chua, chúng tôi lại đề nghị Người ăn cơm gạo không, Người vẫn không nghe… Câu thơ cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng chính là ra đời trong thời kỳ này, gian khổ nhưng đầy lạc quan”.

Từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941, Bác Hồ chủ trì Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Hội nghị xác định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Đông Dương: “Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. Theo đề nghị của Bác, Hội nghị quyết định thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) nhằm đoàn kết tất cả các giới đồng bào yêu nước để giành lại độc lập dân tộc. Hội nghị cũng đã bầu Ban Chấp hành Trung ương mới và cử đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư của Đảng.

Mùa xuân Tân Tỵ năm 1941, tư duy độc lập sáng tạo của Bác Hồ, đặt cách mạng giải phóng dân tộc lên hàng đầu là tiền đề quyết định thành công của cách mạng mùa Thu tháng Tám 1945.

Mùa xuân Quý Tỵ 1953, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta đã bước vào năm thứ tám. Nhân dịp Tết Dương lịch, ngày 1 tháng 1 năm 1953, Bác Hồ gửi Thơ chúc Tết đến đồng bào và chiến sĩ cả nước:

Thơ chúc Tết

Toàn thể chiến sĩ thi đua giết giặc,
Đồng bào cả nước đoàn kết một lòng.
Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi,
Độc lập thống nhất, nhất định thành công.

                                                Ngày 1 tháng 1 năm 1953
                                                Hồ Chí Minh

Cũng trong ngày này, Bác tiếp tục dự phiên họp Hội đồng Chính phủ. Tổng kết cuộc họp, Người nêu: Phải có chính sách cán bộ, phấn đấu nâng cao mức sống của cán bộ và các tầng lớp nhân dân. Phải triệt để chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Cán bộ phải gương mẫu đi trước; có thưởng, có phạt.

Ngày đầu năm dương lịch, Bác tiếp và chụp ảnh với đồng chí La Quý Ba cùng các đồng chí nữ trong Đoàn cố vấn Trung Quốc đến chúc mừng Người nhân dịp năm mới.

Hơn một tháng sau, đến Tết cổ truyền của dân tộc, Bác Hồ cũng có Thơ chúc Tết đăng trên Báo Nhân dân số 95 (ngày 11 đến ngày 15-2-1953):

Thơ chúc Tết xuân Quý Tỵ 1953

Mừng năm Thìn vừa qua,
Mừng xuân Tỵ đã tới.
Mừng phát động nông dân,
Mừng hậu phương phấn khởi.
Mừng tiền tuyến toàn quân
Thi đua chiến thắng mới.
Mừng toàn dân kết đoàn,
Mừng kháng chiến thắng lợi.
Mừng năm mới, nhiệm vụ mới,
Lực lượng mới, thành công mới.
Mừng toàn thể chiến sĩ và đồng bào,
Mừng phe dân chủ hòa bình thế giới.

                                                Hồ Chí Minh

Nhân dân ta đón Tết Quý Tỵ 1953 khi Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa 2) vừa kết thúc thắng lợi. Hội nghị đánh giá tình hình thế giới và trong nước năm 1952 và đề ra nhiệm vụ năm 1953 mà trọng tâm là: lãnh đạo kháng chiến và chính sách quân sự, xây dựng một quân đội nhân dân thật vững mạnh và luôn luôn tiến bộ; phát động quần chúng triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức để tiến đến cải cách ruộng đất.

Nói về tầm quan trọng và ý nghĩa của cải cách ruộng đất, Bác nhấn mạnh: “… Ngày nay, kháng chiến đã 7 năm, đồng bào nông dân hy sinh cho Tổ quốc, đóng góp cho kháng chiến đã nhiều và vẫn sẵn sàng hy sinh, đóng góp nữa. Song họ vẫn là lớp người nghèo khổ hơn hết, vì thiếu ruộng hoặc không có ruộng cày. Đó là một điều rất không hợp lý. Muốn kháng chiến hoàn toàn thắng lợi, dân chủ nhân dân thật thà thực hiện thì phải thiết thực nâng cao quyền lợi kinh tế và chính trị của nông dân, phải chia ruộng đất cho nông dân”. Trên thực tế, dù có một số sai lầm lệch lạc được Bác Hồ kịp thời ngăn chặn, cải cách ruộng đất đã thu được kết quả to lớn. Hàng triệu nông dân có ruộng, đời sống được cải thiện, kháng chiến có thêm sức mạnh.

Đồng thời, từ đầu năm 1953, với bút danh Đ.X, Bác viết một loạt 50 bài thường thức về chính trị đăng trên Báo Cứu Quốc. Nội dung các bài viết là những vấn đề lý luận chính trị cơ bản, đi sâu chủ đề công tác xây dựng Đảng, xây dựng lý tưởng và niềm tin cho cán bộ, đảng viên để vượt qua gian khổ, hy sinh nhằm đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.

Trước Tết, quân ta đã kết thúc thắng lợi chiến dịch Tây Bắc: Tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá tan âm mưu lập “xứ Thái tự trị” của Pháp, giải phóng một phần đất đai, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc. Rồi sau Tết ba tháng, liên quân Lào – Việt mở chiến dịch Thượng Lào, giải phóng toàn bộ tỉnh Sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng Khoảng và tỉnh Phong Xa Lỳ. Nhờ vậy, căn cứ kháng chiến Thượng Lào nối liền với vùng Tây Bắc, tạo một thế mạnh uy hiếp quân Pháp.

Đầu tháng 3 năm 1953, Bác Hồ chủ tọa phiên họp Hội đồng Chính phủ. Bác phát biểu tổng kết phiên họp, nhấn mạnh: Phiên họp đã giải quyết được nhiều vấn đề quan trọng, nhất là chính sách ruộng đất. Song chúng ta không được chủ quan, phải có quyết tâm sửa chữa sai lầm, khuyết điểm nhằm đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.

Trước khi bế mạc, đáp lại lời phát biểu tổng kết của Bác, luật sư Phan Anh, Bộ trưởng Bộ Kinh tế, đọc mấy câu thơ:

Mấy lời Bác dạy sắt son
Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng qua
Diệt thù giải phóng quê ta
Ấy là nghĩa nặng, ấy là tình sâu.

Cả hội trường vỗ tay, hoan hô nhiệt liệt. Bỗng Bác giơ tay ra hiệu cho mọi người yên lặng, rồi Người đọc tiếp thêm hai câu:

Đành lòng chờ đó ít lâu
Chầy ra thì một năm sau vội gì.

Tất cả mọi người reo hò nồng nhiệt. Nhưng chẳng ai nghĩ rằng đó là lời tiên tri của Bác về ngày thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp. Đúng vào tháng 3 năm sau, ngày 13-3-1954, chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn và kết thúc thắng lợi vẻ vang sau 55 ngày đêm chiến đấu anh dũng.

Đất nước lại vào xuân. Xuân Quý Tỵ 2013. Một năm đi qua có lúc gặp phải sóng to gió lớn. Nhưng con thuyền cách mạng vẫn vững vàng vượt lên phía trước ánh bình minh. Vầng dương ngày càng rực sáng. Xuân về, vườn thơ xuân của Bác Hồ lại khoe sắc và ngát hương. Lời thơ chúc Tết của Bác năm nào như vẫn đang vang vọng trong mỗi lòng người.

PHẠM MINH KHẢI
hagiang.vnpt.vn

Mùa xuân nhớ Bác, ơn Đảng

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào đúng dịp xuân về (vào ngày mùng 5 Tết Canh Ngọ, nhằm ngày 3/2/1930). Lúc đầu, khi mới ra đời, Đảng ta chỉ vỏn vẹn có mấy trăm người trong cảnh “nước đã mất, dân phải làm nô lệ”, những người yêu nước và cách mạng bị chính quyền thực dân, phong kiến truy lùng, bắt bớ, giam cầm, chém giết. Những người cộng sản phải hòa mình trong giai cấp cần lao, được nhân dân ta bao bọc, chở che, đã nhen nhóm và thổi bùng lên ngọn lửa cách mạng để cứu dân, cứu nước. Đảng ta đã lãnh đạo, tổ chức nhân dân và cùng toàn dân không quản hy sinh, không nề gian khổ, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua thác ghềnh, vượt qua mọi thử thách hiểm nghèo, dẫn dắt dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

ImageBộ tem cờ đỏ búa liềm được phát hành năm 1960. (Ảnh tư liệu)

Cứ mỗi độ xuân về, chúng ta lại nhớ về Đảng, nhất là nhân kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Đảng ta thật vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác”. Và Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Đảng là trí tuệ, là niềm tin, là phẩm chất cao đẹp của dân tộc, kế thừa tinh hoa và được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của ông cha ta thuở mang gươm đi mở cõi. Sức mạnh của Đảng chính là đại đoàn kết toàn dân, là sự gắn bó máu thịt với nhân dân. Chính vì thế mà Bác đã nói: “Nhiệm vụ của Đảng ta có thể nói gọn trong 8 chữ: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nói: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Và chính Người là đỉnh cao của đạo đức và văn minh đó, là hình ảnh tuyệt đẹp về mối liên hệ thân thiết, gắn bó giữa lãnh tụ với nhân dân, và Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên ta phải thường xuyên liên hệ chặt chẽ với nhân dân. Sự liên hệ và gắn bó chặt chẽ với nhân dân là điều mà Bác đã nói với chúng ta rất nhiều lần. Bác thường xuyên nhắc nhở:“Đảng phải liên hệ với quần chúng như chân tay ruột thịt… Đảng viên thì phải dựa vào nhân dân mà xây dựng  Đảng. Tức là hết lòng ra sức phụng sự nhân dân, tin tưởng vào lực lượng của nhân dân, học hỏi nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân và không một phút nào xa rời nhân dân, cùng nhân dân kết thành mộ khối”. Có thể nói chưa ở đâu mà lãnh tụ với quần chúng lại thân thiết, gần gũi và được kính trọng, tin tưởng như Bác Hồ với nhân dân ta.

Bác còn nói: “Đảng ta là một Đảng tiên phong, anh dũng. Để làm tròn nhiệm vụ nặng nề mà vẻ vang của Đảng thì toàn thể cán bộ và đảng viên từ trên đến dưới, bất kỳ ở địa vị nào, làm công việc gì, đều phải: Quyết tâm thực hiện đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, quyết tâm tẩy bỏ cho kỳ hết bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí”. Bác nói thế và suốt đời Bác luôn gương mẫu làm đúng, làm hơn cả những điều mình nói. Bác luôn luôn đặt đời sống của mình trong đời sống của nhân dân. Trong Di chúc của mình, Bác dặn dò: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.

ImageBác Hồ nói chuyện với nông dân năm 1960. (Ảnh tư liệu)

Mùa xuân đến, ta không những phấn khởi, nô nức chào mừng kỷ niệm ngày thành lập Đảng ta, mà chúng ta lại càng nhớ nhiều đến Bác Hồ kính yêu, người đã sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng ta đã lãnh đạo, rèn luyện, lãnh đạo cách mạng nước ta 83 năm qua. Ngày thành lập Đảng 3/2 mãi mãi là mốc son chói lọi trong lịch sử của dân tộc Việt Nam. Từ mốc son ấy, mà cả dân tộc đã đoàn kết, bền lòng phấn đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thành lập Nhà nước công nông, Nhà nước của nhân dân lao động; tiến hành các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc, thu giang sơn về một mối và đưa cả nước tiến lên xây dựng CNXH.

Có thể khẳng định lịch sử đất nước ta từ khi Đảng ra đời năm 1930 đến nay vẫn luôn minh chứng lời Bác nói, Đảng ta luôn có tư duy trẻ, trí tuệ, năng động, sáng tạo, nhanh nhạy, bám sát thực tiễn, biết phát hiện vấn đề mới và quyết đoán. Đảng mãi mãi là niềm tin tất thắng sáng  ngời, là biểu tượng của ý chí “không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Nhìn lại chặng đường dài từ mùa xuân 1930 đến nay, mọi người Việt Nam yêu nước đều ghi lòng tạc dạ công ơn của Đảng, của Bác như nhà thơ Tố Hữu đã viết trong bài thơ Một nhành xuân: “… Năm hai mươi của thế kỷ hai mươi, tôi sinh ra nhưng chưa được làm người, nước đã mất cha đã làm nô lệ, ôi ! nhớ ngày xưa mưa xứ Huế, mưa sao buồn vậy nỗi mưa ơi, ngẫng đầu lên không thấy ánh mặt trời, đất lai láng chỉ là nước mắt… Từ vô vọng mênh mông đêm tối, Người đã đến chói chang nắng dội, trong lòng tôi ôi Đảng thân yêu…”

Bởi vì nếu không có Đảng, không có Bác thì dân tộc ta không thể có ngày hôm nay, Đảng ta mãi là ngọn cờ đưa đường, chỉ lối mà giấy mực nào ghi hết được niềm tin yêu của nhân dân ta đối với Đảng ta, là một Đảng cách mạng duy nhất của dân tộc Việt Nam anh hùng, luôn biết lãnh đạo đất nước vượt qua những khó khăn thách thức của lạm phát toàn cầu, vượt qua thiên tai, bão lũ. Đặc biệt, càng làm sáng lên ý chí đoàn kết, phát huy nội lực, tình cảm gắn bó “lá lành dùm lá rách”, chăm lo đến đời sống cho đồng bào ta; tổ chức rộng rãi cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, để càng làm cho chúng ta luôn nhớ tới lời dặn, lời dạy của Bác lúc sinh thời, mãi mãi nhớ tới công lao trời biển của Bác, người cộng sản Việt Nam đầu tiên tuyệt vời, đẹp nhất, vĩ đại nhất, danh nhân văn hóa thế giới, anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, lãnh tụ thiên tài của Đảng ta, quân đội ta và điều quan trọng là Bác Hồ kính yêu vẫn sống mãi trong sự nghiệp đổi mới của Đảng và nhân dân ta.

ImageDi tích Cây Da Đôi, xã Tân Xuân, Ba Tri, nơi diễn ra cuộc míttinh sau khi thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đầu tiên của Bến Tre. (Ảnh: Ngọc Thạch).

Đối với tỉnh ta, lịch sử hình thành và phát triển tự nhiên là vùng cù lao bốn bề sông nước, được các lưu dân vượt qua chặng đường dài suốt hàng thế kỷ, với biết bao nỗi nguy nan, cam go, vất vả, những hy sinh thầm lặng, nỗi ngậm ngùi, để chinh phục những rừng rậm hoang vu, đầm lầy đầy thú dữ, muỗi mòng, rắn rết, sơn lam chướng khí,… để biến vùng đất này thành tỉnh Bến Tre trù phú. Và như mạch suối ngầm âm thầm ngày đêm miệt mài chảy trong lòng đất, hòa vào cùng với cả nước ta, mảnh đất ba dải cù lao xứ dừa Bến Tre trở thành căn cứ địa cách mạng vững chắc, nuôi dưỡng và che chở cho hàng ngàn chiến sĩ cách mạng. Và Chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đầu tiên của tỉnh Bến Tre ra đời vào cuối tháng 4/1930 tại nhà ông Nguyễn Văn Cung thuộc ấp Tân Hòa, xã Tân Xuân, huyện Ba Tri. Sau khi thành lập, để tạo ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng, Chi bộ xã Tân Xuân đã tổ chức cuộc míttinh nhân kỷ niệm ngày Quốc tế lao động (1/5) tại Cây Da Đôi, sau đó biến thành cuộc biểu tình tuần hành thu hút trên 200 quần chúng trong xã và các xã lân cận tham gia. Đồng chí Trần Văn An – Bí thư Chi bộ Đảng đứng lên đọc lời hiệu triệu, vạch rõ tội ác của bọn thực dân xâm lược Pháp và bọn tay sai, vận động quần chúng đứng lên chống Pháp. Lá cờ đỏ búa liềm bay phất phới trên ngọn Cây Da Đôi. Cuộc míttinh sau đó trở thành cuộc biểu tình tuần hành biểu dương lực lượng. Đồng chí Trần Văn An cầm cờ đỏ búa liềm dẫn đầu đoàn biểu tình, theo sau là quần chúng cầm băng, cờ, biểu ngữ, trang bị vũ khí thô sơ, tuần hành qua các ấp trong xã, nổi trống mõ, hô vang khẩu hiệu rồi giải tán. Cuộc biểu tình đầu tiên do Chi bộ Đảng xã Tân Xuân tổ chức thành công tốt đẹp, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần cách mạng trong nhân dân, minh chứng đường lối của Đảng đúng đắn là phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.

Với truyền thống yêu nước bất khuất của người Bến Tre, được các thế hệ bền bỉ nối tiếp nhau kế thừa một cách xuất sắc ngay từ buổi đầu chống quân xâm lược, qua thời kỳ thành lập Đảng, rồi thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đặc biệt nhất là dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta dưới ánh sáng của Nghị quyết 15, Đảng bộ Bến Tre thời chống Mỹ đã lãnh đạo nhân dân xứ dừa nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt làm nên cuộc Đồng Khởi vào ngày 17/1/1960 long trời lở đất. Và cao trào Đồng Khởi Bến Tre như nước vỡ bờ lan rộng ra cả miền Nam, làm thay đổi cục diện ở miền Nam, phá vỡ một mảng lớn hệ thống chính quyền cơ sở của địch.

Chiến tranh đã qua đi, lịch sử cũng đã sang trang, đất nước ta, quê hương ta bước sang một giai đoạn mới, nhưng ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam  3/2/1930 mãi mãi vẫn là điểm son của cách mạng Việt Nam. Và những thành tựu vô cùng to lớn trong 83 năm qua chứng tỏ Đảng ta luôn kiên định chủ nghĩa Mác–Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, đó là đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam từng lúc vượt qua khó khăn, thử thách của cả đất nước, cả dân tộc, cùng vượt qua thiên tai, bão lũ, những cơn bão tài chính, bão trong thực phẩm, bão dịch bệnh cho người và gia súc…. Tình hình là như vậy, khó khăn chồng chất như vậy, nhưng chính trong những ngày tháng khó khăn nhất, vất vả nhất, lại là dịp để Đảng ta thể hiện bản lĩnh lãnh đạo đất nước, lãnh đạo nhân dân vượt qua và khắc phục những khó khăn từng lúc.

Không những Đảng ta chỉ chăm lo cho nhân dân, phát động nhân dân trong nước đùm bọc nhau khi khó khăn hoạn nạn, mà khi nghe tin các nước bạn trên thế giới bị thiên tai tàn phá, Đảng ta cùng bà con ta cũng lại sẵn sàng “bát cơm sẻ nửa” để chi viện cho nước bạn anh em mà không hề kêu ca, phàn nàn. Tấm lòng cao cả đó không phải bỗng dưng mà có, mà chính là nhờ sự giáo dục, rèn luyện của Đảng ta ngay từ khi mới thành lập đã không ngừng nâng cao tinh thần quốc tế vô sản cho đảng viên, cho nhân dân.

Nhờ có Đảng ra đời và dưới sự lãnh đạo tài tình bằng đường lối cách mạng đúng đắn, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, mà Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta làm nên thắng lợi vẻ vang, làm nên sự nghiệp vĩ đại giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Đảng ta sẽ luôn là ánh sáng ban mai, là một vườn hoa thơm ngào ngạt, là mùa xuân ấm áp mang nhiều niềm tin và hy vọng, là một rừng cây cao bóng mát, là Đảng của toàn dân tộc Việt Nam, là biểu tượng của khối đại đoàn kết toàn dân.

Xuân 2013, chúng ta lại hân hoan, phấn khởi chào đón năm mới với bao niềm hy vọng, nhưng hạnh phúc nhất là chào mừng Đảng ta tròn 83 tuổi. Trên khắp mọi miền đất nước ta, đâu đâu cũng thấy những khẩu hiệu “Mừng đất mước đổi mới –  Mừng Đảng quang vinh – Mừng xuân Quý Tỵ!”. Với bao niềm hy vọng khi mỗi mùa xuân đến, chúng ta lại càng không quên những lời kêu gọi của một vị lãnh tụ thiên tài, kính yêu vô vàn của đất nước ta, dân tộc ta:

Dân ta xin nhớ chữ đồng
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh.

Với niềm tự hào, niềm tin vững chắc vào Đảng quang vinh, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới. Riêng với quê hương ta tiếp bước và phát huy truyền thống anh dũng, Đồng Khởi của các thế hệ cha, anh đã làm nên những chiến công oanh liệt và viết nên những trang sử vàng làm rạng danh quê hương Bến Tre Đồng Khởi anh hùng. Giờ đây trong niềm vui chung của đất nước ngày càng đổi mới, tiến lên xây dựng thành công CNXH, chúng ta hãy cùng tuyên truyền, vận động mọi tầng lớp nhân dân Bến Tre cùng đồng tâm, đồng lòng, hiệp lực tiếp tục nhiệm vụ cuộc “Đồng Khởi mới” là thực hiện thắng lợi Nghị Đại hội lần thứ XI của Đảng ta và Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ Bến Tre lần thứ IX. Đặc biệt, là xây dựng quê hương Bến Tre ngày càng giàu đẹp, là xây dựng thành công xã nông thôn mới trên quê hương xứ dừa Bến Tre; tiếp tục cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, không chỉ là học tập mà quan trọng hơn hết là làm theo lời Bác, để luôn xứng đáng, luôn tự hào “dáng đứng Bến Tre”.

Chúng ta mãi mãi khắc ghi ơn Đảng, luôn tự hào Đảng đã làm nên nhiều kỳ tích vang dội khắp năm châu. Chúng ta luôn tạc dạ ghi lòng vì “Đảng đã cho ta một mùa xuân bao ước vọng…”, “Đảng đã cho ta sáng mắt, sáng lòng…” và Đảng đã cùng với nhân dân làm nên mùa xuân đất nước thanh bình.

(Tham khảo tư liệu lịch sử)

Hoàng Chương
bentre.gov.vn

Bác Hồ và những mùa xuân kỷ niệm

Mỗi dịp Tết cổ truyền dân tộc, bên cạnh cây nêu, cành hoa đào, mâm ngũ quả, nóc nhà mỗi gia đình Việt Nam có thêm lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới tượng trưng cho ánh sáng của nền độc lập. Cả cuộc đời mình, Bác Hồ hy sinh lặn lội đi khắp chân trời góc bể cũng chỉ vì mong cho cả dân tộc đón xuân trong độc lập, ấm no, hạnh phúc.

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi Hà Bắc khi Người về thăm và chúc Tết đồng bào và bộ đội, Tết Đinh Mùi (2.1967)

Nhớ mùa xuân của 81 năm về trước, xuân Canh Ngọ năm 1930, Bác Hồ khai xuân chính là khai hội thành lập Đảng. Xuân Canh Ngọ năm đó đối với Bác Hồ thật đặc biệt. Sau bao nhiêu năm cách mạng Việt Nam chìm trong bóng đêm nô lệ, các phong trào yêu nước lần lượt thất bại, bằng nhiệt huyết của tuổi trẻ, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước. Người đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin và tìm thấy ở học thuyết khoa học cách mạng này con đường cách mạng giải phóng dân tộc. Ngày 3.2.1930, Người đã triệu tập Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhiệm vụ cách mạng được Người cụ thể hóa trong Chánh cương vắn tắt nhấn mạnh tới chủ trương chiến lược: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản… Làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, nhân dân được tự do…” Mùa xuân năm đó đi vào lịch sử của dân tộc.

Mùa xuân năm 1941, sau 30 năm bôn ba hoạt động cách mạng tìm con đường cứu nước cứu dân cho dân tộc Việt Nam, Người trở về Tổ quốc. Trở về đến cột mốc 108, Người không khỏi xúc động bồi hồi. Sau mấy chục năm xa Tổ quốc Bác lại được trở về lãnh đạo con thuyền cách mạng dân tộc vượt qua những cơn sóng gió đi đến những bến bờ hạnh phúc. Đặc biệt, tháng 5.1941, Bác Hồ đã chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ Tám của Đảng, phát triển hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.

4 mùa xuân sau, Cách mạng tháng Tám thành công, sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Ước mơ độc lập, tự do cũng trở thành hiện thực, nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do và lịch sử vẫn nhắc đến mùa xuân đó là “Tết độc lập”. Tối 30 Tết năm đó, Bác Hồ bí mật đi thăm mấy gia đình ở phố Sinh Từ, Hà Nội. Bác đi không báo trước. Người muốn trực tiếp thấy đồng bào đón Tết. Bác đến một gia đình nghèo, khi mà không khí Tết đã rộn ràng khắp nơi thì gia đình đó chưa có Tết. Người suy nghĩ nhiều, nước nhà độc lập, dân còn nghèo thì độc lập đó dân chưa được hưởng trọn vẹn. Sáng hôm sau, mồng 1 Tết, Bác cho gọi Chủ tịch Ủy ban Hà Nội, đề nghị ủy ban cùng các đoàn thể vận động bà con san sẻ của ít lòng nhiều giúp đỡ những gia đình nghèo để mọi người ai ai cũng được hưởng Tết độc lập.

Đầu xuân Tết năm đó, khi trả lời phỏng vấn các nhà báo nước ngoài, Bác nói nguyện vọng thiết tha là mong sao “đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Mong muốn đầu xuân của Bác cũng là lời chúc năm mới của những người dân khi gặp nhau, cầu mong cho năm mới ấm no hạnh phúc, bởi vì cũng năm trước đó nạn đói đã cướp đi sinh mạng của 2 triệu người .

Xuân Tân Mão năm 1951 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng đã bầu Bác làm Chủ tịch Đảng. Sau 6 năm Đảng tuyên bố tự giải tán (11.11.1945), Đảng quyết định ra hoạt động công khai và lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam. Với Chính cương của Đảng Lao Động Việt Nam, lần đầu tiên, Đảng đã phát triển hoàn chỉnh lý luận cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, phấn đấu đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam đến thắng lợi hoàn toàn.

Đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành lại độc lập tự do cho dân tộc, nhưng người nông dân vẫn nghèo khi họ chưa làm chủ ruộng đất. Trong thư chúc Tết đầu năm 1954. Bác mong sao cho “người cày có ruộng, khỏi lo nghèo nàn”. Đầu xuân năm 1958, khi tình hình xây dựng đất nước đang trên đà phát triển mạnh Bác căn dặn phải chú trọng “phát triển kinh tế, văn hóa, nâng cao đời sống của người dân, trước hết là của nhân dân lao động”.

Mùa xuân năm 1960 nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng, Bác Hồ kêu gọi “Tết trồng cây” cũng vì một mục đích làm cho dân giàu, nước mạnh. Tết trồng cây do Bác phát động cho đến hôm nay trở thành một truyền thống đẹp trong nhân dân những ngày đầu xuân. Nhớ kỷ niệm ngày đầu xuân, khi về Chu Mật – Sơn Tây, đứng trên đồi trọc, Bác nhắc nhở đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, đại ý Bác đã 3 lần đến đây, lần đầu cây còn tốt xum xuê, lần thứ 2 cây còn lưa thưa, lần này chỉ còn là đồi trọc. Vì vậy, Bác đề nghị tỉnh nhà phải phát động toàn dân trồng cây phủ xanh đồi trọc. Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy hứa với Bác sẽ quyết tâm trồng cây để phủ xanh đất trống đồi trọc để lần sau được đón Bác tới thăm. Bác cười hiền từ và nói: “Quyết tâm trồng cây tốt, phủ xanh đồi là ích nước lợi dân, chứ đâu phải thành tích để Bác khen, Bác về thăm mới quyết tâm trồng cây”.

Trọn cuộc đời 79 mùa xuân, Bác lo cho dân, cho nước.

Hoa Đình Nghĩa
daibieunhandan.vn

Gặp người phổ nhạc thơ chúc Tết của Bác Hồ

Bác Hồ chúc Tết(Congannghean.vn)-Ca khúc mà Đại tá Huy Thục viết nhanh và hay nhất là tác phẩm mà ông phổ thơ Bác Hồ chúc xuân đồng bào chiến sĩ Xuân Mậu Thân 1968 và Xuân 1969; 2 mùa xuân cuối cùng trước khi Bác Hồ đi xa.

Nhạc sĩ Huy Thục là một trong những chiến sĩ lão thành của thế hệ nhạc sĩ quân đội trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ông đã hầu như có mặt khắp mọi chiến trường miền Nam, có mặt trong mọi điểm chốt, chiến hào, lăn lộn cùng chiến sĩ để sáng tác và làm báo giải phóng.

Tác phẩm hay và nổi tiếng của ông là bản nhạc viết cho đàn bầu và dàn nhạc là “Vì miền Nam”. Song ca khúc mà Đại tá Huy Thục viết nhanh và hay nhất là tác phẩm mà ông phổ thơ Bác Hồ chúc xuân đồng bào chiến sĩ Xuân Mậu Thân 1968 và Xuân 1969; 2 mùa xuân cuối cùng trước khi Bác Hồ đi xa.

Trong một đợt đi tập huấn nghiệp vụ với tư cách là đoàn phó đoàn văn công Tỉnh đội Bình Trị Thiên ở Ba Vì – Hà Tây, tôi may mắn được nghe nhạc sĩ Huy Thục kể chuyện về kỷ niệm phổ nhạc thơ Bác. Ông kể, năm 1967 ông ở chiến trường Nam sông Thạch Hãn, Quảng Trị. Gian khổ, hy sinh ác liệt của bộ đội đã cho ông nhiều cảm xúc mãnh liệt để ra đời một số ca khúc về người lính.

Ngày 19/12/1967, qua máy 2 oát ông nhận được điện của Tổng cục Chính trị gửi từ Hà Nội kèm theo bài thơ chúc Tết năm Mậu Thân 1968 mà Bác Hồ sắp đọc trong dịp giao thừa. Tổng cục nhắc ông: “Sau khi Bác chúc Tết xong thì nhanh chóng phổ nhạc để khích lệ tinh thần đồng bào, chiến sĩ”. Tôi đọc bài thơ một lần mà xúc động đến nghẹt thở, tôi đọc cho các đồng chí ở Trung đoàn bộ E9F341 Quân khu 4 nghe ai cũng bồi hồi rưng rưng nước mắt như nuốt từng lời, từng câu thơ Bác:

“Xuân này hơn hẳn
mấy xuân qua
Thắng trận tin vui
khắp nước nhà
Nam Bắc thi đua
đánh giặc Mỹ
Tiến lên toàn thắng ắt về ta”.

Tôi ngẫm từng ý thơ Người và nhanh chóng nhập tâm, thuộc lòng, tôi nhìn ra đường mòn chiến lược từng đoàn xe pháo, quân lương trùng trùng tiến vào Nam với khí thế cả nước lên đường xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Nguồn cảm hứng trong tôi đến bất ngờ và bật thành nhịp, phách đều đều.

“Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua…”

Và thế là những vần thơ Bác lôi cuốn thức dậy tư duy âm nhạc của tôi đến cao trào, đỉnh điểm. Cứ thế cả tứ thơ thành bản nhạc ấm áp mà hùng hồn như nghe cả tiếng quân reo, xe chạy giữa bước chân thần tốc có cả cờ bay và khúc khải hoàn ca dân tộc trong mùa xuân chiến thắng.
Những nốt nhạc, tiết tấu bài hát đã có sự cộng hưởng với tần số rung động của Bác, của cả dân tộc, của triệu con tim người Việt Nam nên tôi mạnh dạn mở rộng khúc thức đoạn cuối: “Tiến lên toàn thắng ắt về ta”.

Có điệp khúc sáng tác xong tôi lại hát đi hát lại, sửa nhanh từ láy và từ hoa mỹ để phù hợp với lời thơ, ý thơ xuân của Bác. Tôi vui mừng quá và cầm bản nhạc sang hầm chỉ huy gửi 1 bản về Tổng cục và yêu cầu đoàn Văn công Tổng cục thể hiện, 1 bản tôi gửi cho đoàn văn công giải phóng đang đóng ở sông Ba Lòng. Tôi gọi anh em ở Trung đoàn bộ cùng nghe và cùng hát bài phổ thơ của tôi vài lần rồi ai cũng thuộc và nhanh chóng đi vào lòng, vào tâm thức các chiến sĩ Trường Sơn. Bài hát của tôi như tiếp thêm sức mạnh cho các chiến sĩ ở mặt trận B4, B5…

Đến một thời gian sau đó có nhiều bạn lính cùng thời hỏi: Được biết nhiều nhạc sĩ phổ nhạc thơ Bác Xuân 1968 và 1969, sao ông lại thành danh nhất vậy?

Ông cười để lộ những nếp nhăn thời gian, thời binh nghiệp “Cả xuân này hơn hẳn mấy xuân qua” và “Năm qua thắng lợi vẻ vang”. Tôi sử dụng cả chất chèo Kinh Bắc có pha chút dân ca Nghệ Tĩnh, dân ca Nam Trung bộ. Bác thích, Bác yêu, Bác giản dị là thế, thơ Bác gần gũi đại chúng nên nhạc tôi cũng gần thực như hạt lúa, củ khoai nên đọc xong hát một lần thì ai cũng thuộc, nam, phụ lão, ấu là người Việt Nam ai cũng thích.

Có thể nói bài thơ phổ nhạc, thơ chúc Tết của Bác Hồ như một lời hịch tướng sĩ, là bản hùng ca thôi thúc quân và dân cả nước xông lên đánh cho Mỹ cút ngụy nhào. Mỗi lần nghe bài hát ta lại càng nhớ Bác khôn nguôi và cảm phục nhạc sĩ tài ba, nhạc sĩ Huy Thục.

(Theo lời kể của nhạc sĩ – Đại tá Huy Thục)

Thy Ngọc
chinhphu.vn

“Đại đoàn kết”, “Đại thành công” trong thơ chúc Tết của Bác Hồ

Đoàn kết vốn là truyền thống quý báu trong lịch sử giữ nước của nhân dân ta. Ngay trong tác phẩm “Đường cách mệnh” của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc được “Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức” xuất bản mùa xuân năm Đinh Mão 1927 tại Quảng Châu, Người đã khẳng định:

“Đoàn kết là nhân tố đảm bảo thắng lợi của cách mạng. Đoàn kết công nông Việt Nam với công nhân Pháp cùng làm cách mạng thì mau thành công”.

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công, đại thành công”.

Từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, khẩu hiệu 14 chữ “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công, đại thành công” đầy ý nghĩa chiến lược đã được các thế hệ của 54 dân tộc anh em thuộc lòng và làm theo.

Có một chuyện thật ngoài đời, bây giờ được nghe, nhiều người coi như huyền thoại của lịch sử: Sau Tết Đinh Hợi năm 1947, cuộc kháng chiến chống Pháp diễn ra trong phạm vi cả nước, các cơ quan Trung ương đã chuyển lên A.T.K Việt Bắc làm việc ở lán trong rừng, cán bộ, bộ đội sống xen với bà con dân tộc, ngôn ngữ bất đồng, phong tục tập quán chẳng giống nhau, đôi khi phát sinh một số va chạm nhỏ.

Để giáo dục cán bộ, bộ đội, công nhân và cả bà con từ tứ phương tản cư đến, trong vườn rau của Bác, Người đã trồng một giàn bầu, bí cùng “leo chung một giàn”, dây nào cũng đơm hoa, kết trái, ai đi qua cũng thích mắt, dừng chân ngắm nhìn. Một cán bộ nông vận thấy lạ, mạnh dạn hỏi Bác tại sao Bác không trồng mỗi loại cây ở một giàn khác nhau? Bác mỉm cười nói: “Chú có nhớ câu ca dao: “Bầu ơi thương lấy bí cùng/Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” không? Bác trồng như thế để mọi người phải nhớ “đoàn kết” với nhau mà làm việc, ai cũng phải đoàn kết dân tộc, đoàn kết ngược xuôi, đoàn kết công nông, quân dân đoàn kết tạo nên sức mạnh vô địch để vừa kháng chiến, vừa kiến quốc thành công”.

Không lâu sau đó, lời dạy bất hủ của Hồ Chủ tịch qua giàn bầu bí chung sống một giàn lan truyền khắp nơi, mọi người thấm thía, thi đua làm theo lời dạy của Bác Hồ.

Vấn đề “đoàn kết” không chỉ được Bác nêu ra trong các hội nghị, trên các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Chính phủ mà trong nhiều bài thơ chúc mừng tân xuân, Bác cũng đề cập vấn đề có ý nghĩa sống còn này.

Bài thơ chúc Tết Nhâm Ngọ 1942 ở căn cứ địa Cao Bằng, Người viết: “… Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong/Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi/ Chúc đồng bào ta “đoàn kết” mau/Chúc Việt Minh ta càng tiến tới/Chúc toàn quân ta trong năm này/Cờ đỏ ngôi sao bay phấp phới/Năm này là năm ăn Tết vẻ vang/Cách mệnh thành công khắp thế giới”.

Mừng Xuân Mậu Tý 1948, sau chiến thắng Việt Bắc ít lâu, Bác viết:

“Gửi lời chúc đồng bào.
Kháng chiến được thắng lợi.
Toàn dân “Đại đoàn kết”, cả nước dốc một lòng.
Thống nhất chắc chắn được.
Độc lập quyết thành công”.

Năm năm sau, chiến dịch giải phóng Tây Bắc kết thúc thắng lợi, chuẩn bị giảm tô và cải cách ruộng đất, Bác viết trong thơ mừng Xuân Quý Tỵ 1953: “Mừng năm Thìn vừa qua/Mừng năm Tỵ vừa tới/Mừng phát động nông dân/Mừng hậu phương phấn khởi/Mừng tiền tuyến toàn quân/Thi đua chiến thắng mới/Mừng toàn dân “Kết đoàn”/Mừng kháng chiến thắng lợi…”.

Năm Giáp Ngọ 1954, ta mở chiến dịch Điện Biên, giai cấp địa chủ bước đầu bị đánh đổ, Bác chúc quân dân cả nước một bài dài:

“Năm mới, quân dân ta có hai nhiệm vụ rành rành
Đẩy mạnh kháng chiến để giành độc lập tự do,
Cải cách ruộng đất là công việc rất to,
Dần dần làm cho người cày có ruộng khỏi lo nghèo nàn,
Quân và dân ta nhất trí “Kết đoàn”
Kháng chiến kiến quốc nhất định hoàn toàn thành công…”.

Đón Xuân Bính Thân 1956, Bác đã chúc: “Toàn dân “Đoàn kết” một lòng/Miền Bắc thi đua xây dựng/Miền Nam giữ vững thành đồng…”.

Năm Kỷ Hợi 1959, miền Bắc đang sôi nổi thực hiện công cuộc khôi phục, phát triển kinh tế sau chiến tranh, thơ chúc Tết năm ấy ngắn gọn 4 câu, 24 chữ, Bác đã viết: “Chúc mừng đồng bào năm mới/“Đoàn kết” thi đua tiến tới/Hoàn thành kế hoạch ba năm/Thống nhất nước nhà thắng lợi”.

Năm Canh Tý 1960, năm nhà nước 15 xuân xanh, Đảng 30 tuổi trẻ, cả nước tràn ngập niềm vui mừng xuân và đón nghe, đọc thơ chúc Tết của Người:

“Mừng nhà nước ta 15 xuân xanh,
Mừng Đảng chúng ta 30 tuổi trẻ,
Chúc đồng bào ta “Đoàn kết” thi đua,
Xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa,
Chúc đồng bào ta bền bỉ đấu tranh,
Thành đồng miền Nam vững bền mạnh mẽ,
Cả nước một lòng hăng hái tiến lên,
Thống nhất nước nhà Bắc Nam vui vẻ”.

Qua năm Tân Sửu 1961, cả nước triển khai thực hiện kế hoạch 5 năm đầu tiên theo tinh thần Nghị quyết Đại hội III của Đảng họp lần đầu tiên ở thủ đô Hà Nội, Bác chúc: “Miền Bắc hăng hái thi đua/Chúc miền Nam “Đoàn kết” tiến tới/Chúc hòa bình thống nhất thành công/Chúc chủ nghĩa xã hội thắng lợi”.

Sang năm Bính Ngọ 1966, quân viễn chinh Mỹ đã rải khắp miền Nam, cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân ngày càng ác liệt, trong thơ chúc Tết năm ấy Bác đã viết:

“… Mừng miền Nam rực rỡ chiến công. Mừng miền Bắc chiến đấu anh hùng/Giặc Mỹ leo thang ngày càng thua nặng/Đồng bào cả nước “Đoàn kết” một lòng/Tiền tuyến, hậu phương toàn dân cố gắng. Thi đua sản xuất chiến đấu xung phong/Chống Mỹ, cứu nước ta nhất định thắng”.

Thơ chúc Tết các năm khác, tuy Người không nói “Đoàn kết, kết đoàn”, nhưng Người đã nêu những thực tế của lịch sử cách mạng chỉ có kết đoàn, đoàn kết mới có được, như thơ chúc Tết Mậu Thân 1968: “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta”. Bác khẳng định như thế là có cơ sở, và thực tế đã chứng minh rằng nhờ “Đoàn kết” mà chúng ta đã phát huy được sức mạnh toàn dân chiến đấu.

Đoàn kết là truyền thống vĩnh cửu trong hàng nghìn năm giữ nước của dân tộc ta, giúp dân tộc Việt Nam không bị đồng hóa, thôn tính sau một thiên niên kỷ “Bắc thuộc”. Trong thời đại Hồ Chí Minh, cũng chính nhờ chiến lược đoàn kết kháng chiến của Đảng, Bác Hồ đề ra mà chúng ta đã đánh thắng hai đế quốc là Pháp và Mỹ.

Thái Sơn
baotintuc.vn

Xuân về nhớ Bác Hồ

Lời của Bác - Lời của non sông(NTO) Mùa xuân là khoảng thời gian khởi đầu của một năm, thiên nhiên giao hòa sinh sôi nảy nở trong không gian ngọt ngào, ấm áp và lòng người cũng rạo rực những niềm vui, chứa chan bao ước mơ, hy vọng. Đối với dân tộc Việt Nam ta, mùa xuân về lại càng thiêng liêng, ý nghĩa hơn bởi chúng ta có Bác. Bác đã mang về những mùa xuân ấm no, hạnh phúc cho Đảng, cho dân và chính Người cũng là mùa xuân trường tồn tươi đẹp nhất trong trái tim dân tộc.

Mùa xuân năm 1930, ngày 3 tháng 2 (tức ngày mùng 5 tết Canh Ngọ), hoa Mộc Miên đua nhau khoe sắc, đỏ rực cả thành phố Cửu Long – Hương Cảng- Trung Quốc. Trong ngôi nhà cũ nhỏ bé của một đồng chí công nhân, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước ta để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Chiều ngày cuối cùng của hội nghị, Bác tổ chức một bữa liên hoan nhỏ ngay tại phòng ở của Người. Khi các đại biểu đã ngồi chung quanh bàn, Bác xúc động nói: “Các đồng chí, hôm nay, ngày lịch sử của chúng ta! Lê-nin vĩ đại đã nói, chỉ có đảng nào có được một lý luận tiên phong mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong. Bây giờ chúng ta đã có một đảng như thế rồi. Nhân dân ta từ xưa đã có truyền thống đấu tranh anh dũng nhưng suốt những năm ấy, nhân dân ta thiếu người cầm lái sáng suốt. Giờ đây, Đảng của chúng ta phải gánh lấy vai trò này và tôi tin rằng Đảng ta sẽ dẫn dắt nhân dân ta đi đến thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành độc lập và tự do cho Tổ quốc thân yêu”.

Mùa xuân năm 1930, đối với Bác là “mùa xuân sung sướng nhất của cuộc đời”, riêng với dân tộc ta, còn một mùa xuân kỳ diệu nữa đó ngày Người trở về Tổ quốc sau ba mươi năm xa cách mang theo sắc xuân bất diệt cho đất nước Việt Nam:

“Ôi, sáng xuân nay, xuân 41
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ
Bác về. Im lặng. Con chim hót
Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ”

                                                 (Tố Hữu)

Mùng 2 Tết Tân Tỵ ( ngày 28 tháng 1 năm 1941), sau ba mươi năm đón xuân nơi “đất khách, quê người”, Bác Hồ đã về đến Tổ quốc thân yêu. Sáng hôm đó, sau khi đi thăm, tặng quà và chúc tết bà con hai thôn Nậm Quang, Nậm Tẩy (Trung Quốc), Người lên đường về nước. Đến cột mốc biên giới 108, Bác dừng lại cúi đọc những dòng chữ khắc sâu trên đá rồi đứng lặng hồi lâu hướng tầm mắt nhìn về phía dải đất Tổ quốc điệp trùng. Đất trời đang vào xuân, hoa nở thắm núi rừng. Đất nước trải qua bao đau thương mà vẫn đẹp một cách kỳ lạ, vẫn hồng hào sức sống bất diệt của hàng ngàn năm lịch sử.

Và cũng chính mùa xuân đầu tiên ấy, từ nơi đầu nguồn thiêng liêng, Người đã cho ra đời bài thơ xuân tuyệt tác:

Non xa xa, nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là
Đây suối Lê-nin kia núi Mác
Hai tay xây dựng một sơn hà.

Đúng như lời khẳng định của Người, chỉ hơn bốn năm sau, giang sơn Tổ quốc đã thu về một mối. Ngày 2-9-1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời và Người chính là vị Chủ tịch nước đầu tiên. Mùa xuân năm 1946- xuân Bính Tuất là mùa xuân độc lập đầu tiên của toàn dân tộc Việt Nam. Lần đầu tiên nhân dân Hà Nội, nhân dân cả nước được hưởng một mùa xuân mới mẻ, trọn vẹn và ý nghĩa. Khắp mọi nơi người dân đều nghĩ đến Tết sớm hơn mọi năm. Đối với Bác, mặc dù bận trăm công nghìn việc của Chính phủ mới, nhưng Người vẫn không quên lo Tết cho đồng bào, chiến sĩ.

Sáng 20-1-1946, Bác viết thư kêu gọi đồng bào nhân dịp Tết sắp đến. “ Dân ta là một dân tộc giàu tình bác ái. Trong lúc này, toàn Tổ quốc, đồng bào ta, từ giàu đến nghèo, từ già đến trẻ, ai cũng sửa soạn ăn tết mừng xuân. Tôi kêu gọi đồng bào và các đoàn thể làm thế nào để chia sẻ cuộc vui Xuân mừng Tết với những chiến sĩ oanh liệt ở trước mặt trận, những gia quyến các chiến sĩ, những đồng bào nghèo nàn, sao cho mọi người đều được hưởng các thú vui về Tết Xuân đầu tiên của nước Việt Nam độc lập”.

Chiều hôm đó, Bác lại viết thư gửi các thanh niên và nhi đồng toàn quốc- những mầm non của Đảng, chủ nhân tương lai của đất nước. Bức thư ngắn gọn nhưng phơi phới sắc xuân, căng tràn sức trẻ :”Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội… Năm mới, chúng ta thực hành đời sống mới để trở nên những công dân mới, xứng đáng với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”.

Đêm 30 Tết, ngày 1-2-1946, khi đồng bào thủ đô quây quần đoàn tụ bên gia đình chuẩn bị đón giao thừa thì Bác kính yêu của chúng ta cũng “bí mật” đi đón tết với nhân dân. Người đã cùng các đồng chí cán bộ đến từng con phố, ngõ hẻm ở phố Sinh Từ, Hàng Lọng, Hàng Vải… để thăm và chúc tết đồng bào. Cũng chính trong đêm ba mươi đó Bác đã tận mắt chứng kiến cảnh một người đạp xích lô ngoại tỉnh không có tiền về quê ăn tết, trên bàn thờ chỉ có duy nhất một nén nhang đang cháy dở còn chủ nhà thì đắp chiếu nằm rên vì sốt cao mê mệt. Người lặng lẽ kéo chăn đắp cho anh, lau nước mắt và khẽ đóng cửa bước ra. Trên đường đi, Bác khẽ nói “Ba mươi Tết mà không có tết” như để tự nhắc nhở mình về trách nhiệm chăm lo tết cho những người nghèo. Người còn dặn đồng chí Vũ Kỳ nhớ ghi địa chỉ để ngày mai mang thuốc và quà tết đến thăm hỏi người bệnh.

Cũng chính trong thời khắc thiêng liêng chuyển giao giữa năm cũ và năm mới của Tết Độc lập đầu tiên ấy, có ai ngờ rằng khi Đài tiếng nói Việt Nam trang trọng truyền đi khắp đất nước lời chúc mừng năm mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì chính Người lại đang vui xuân cùng nhân dân ở đền Ngọc Sơn, trong vai một cụ già cùng cháu đi hái lộc.

Kể từ năm 1946 cho đến khi qua đời, trong suốt 24 năm giữ cương vị là người đứng đầu Đảng và Chính phủ, không một phút nào Người không nghĩ đến dân tộc, đến nhân dân. Người suốt ngày làm việc, suốt đời làm việc vì độc lập của dân tộc và hạnh phúc của đồng bào. Kể cả trong những ngày Tết, Bác cũng không ngơi nghỉ. Thường thì trước Tết ba tháng, Bác đã nhắc nhở các cơ quan, ban, ngành chuẩn bị Tết cho nhân dân. Riêng Bác cũng tự mình chuẩn bị sớm ba việc: tìm ý thơ cho bài thơ mừng năm mới; nhắc văn phòng chuẩn bị thiếp “Chúc mừng năm mới” để kịp gửi đến những nơi xa xôi nhất, kể cả bộ đội ở các vùng rừng núi, hải đảo và cán bộ công tác ở nước ngoài, và cuối cùng là một chương trình đi thăm hỏi, chúc tết nhân dân, các cơ quan, đơn vị, một chương trình riêng mà chỉ Bác và các đồng chí cảnh vệ biết.

Đối với Bác, việc đi thăm và chúc Tết đồng bào, chiến sĩ là một lẽ tự nhiên bởi Người luôn quan niệm nước Việt Nam là đại gia đình của Người. Người về với nhân dân cũng là về với gia đình ruột thịt của mình. Không chỉ có vậy, Bác còn luôn xác định việc đón tết cùng với đồng bào sẽ là cơ hội tốt để Người tận mắt chứng kiến những niềm vui, nỗi buồn cũng như trực tiếp lắng nghe những tâm tư, tình cảm, ước mơ, khát vọng của nhân dân trước thềm năm mới. Đó là một niềm vui, niềm hạnh phúc lớn của Người.

Có rất nhiều những câu chuyện cảm động kể việc niềm vui bất ngờ của những gia đình nghèo khổ khi được đón Bác đến vui xuân. Trong đó có câu chuyện của gia đình chị Tín, một người gánh nước thuê ở ngõ 16 phố Lý Thái Tổ, Hà Nội. Năm đó là tết Nhâm Dần (1962). Chồng chị mất sớm, một mình chị Tín gánh nước thuê lấy tiền nuôi bốn con còn nhỏ. Chính vì thế dù trong đêm 30 mưa phùn gió rét chị vẫn chưa được nghỉ. Với đôi thùng trên vai, chị vừa ra đến ngõ thì gặp Bác. Quá bất ngờ trước sự xuất hiện của Người, đôi thùng trên vai chị rơi xuống đất. Tay chị run run trong bàn tay ấm áp của Bác, chị nói trong tiếng nấc nghẹn ngào:“Có bao giờ Chủ tịch nước lại đến thăm mẹ con cháu!”.Bác cười hiền từ an ủi chị:“Bác không đến thăm những người như mẹ con cô thì còn thăm ai”.

Không chỉ đón tết cùng với các gia đình, Bác còn đến với các cơ quan, đơn vị vừa là để thăm hỏi, động viên, đồng thời Người cũng chỉ ra phương hướng, kế hoạch hành động, tiếp thêm sức mạnh, niềm tin cho một năm mới phát triển và thắng lợi. Những chuyến viếng thăm của Bác thường là không báo trước, có khi Người ghé thăm công nhân nhà máy điện Yên Phụ, nhà máy Cơ khí Trần Hưng Đạo, Dệt kim Đông Xuân; có lúc lại về vui tết cùng nông dân các Hợp tác xã Nông nghiệp vùng ngoại thành Hà Nội, Văn Phú (Hà Tây), hay vịnh thơ xuân cùng cán bộ và chiến sỹ bộ đội phòng không và không quân ở sân bay Bạch Mai…

Tết Kỷ Dậu (1969), có lẽ linh cảm đây là cái Tết cuối cùng của mình nên dù sức khỏe giảm sút nhiều, Bác Hồ vẫn đặt chương trình đi thăm, chúc Tết nhiều nơi và đi trồng cây. Để không ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của Bác, các đồng chí ở văn phòng phục vụ Bác đã khéo sắp xếp theo mong muốn của Người. Sáng ngày 16-2-1969 (tức ngày mùng 1 Tết Kỷ Dậu), Bác đi thăm bộ đội Quân chủng Phòng không – Không quân ở Bạch Mai. Tiếp đó, Người về thăm và trồng một cây đa ở xã Vật Lại, huyện Ba Vì, Hà Tây. Những người trực tiếp phục vụ Bác Hồ có kể lại rằng, hôm ấy, trồng cây xong đã gần trưa, đồng chí Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã đã xin mời bác ăn bữa cơm Tết cùng địa phương. Nhưng Bác bảo, Bác cảm ơn, vì những người giúp việc đã chuẩn bị cơm cho Bác rồi. Và Bác mời đồng chí Bí thư, Chủ tịch, chị Phó Chủ tịch xã sang ăn cơm cùng Bác. Đây cũng là lần cuối cùng và là cây cuối cùng Bác trồng để gieo mầm cho sự sống đời sau.

Thời gian thấm thoắt thoi đưa, cũng đã hơn 40 cái tết, đồng bào và chiến sĩ cả nước không được nghe thơ xuân của Bác, không được đón Bác đến thăm và chúc Tết. Nhưng trong trái tim và khối óc của triệu triệu người dân Việt Nam, lời nói trầm lắng, ánh mắt dịu hiền, nụ cười nhân hậu và những việc làm đầy ý nghĩa của Người từ những mùa xuân lịch sử vẫn sáng mãi, ấm mãi đến hôm nay và mãi mãi mai sau, tiếp thêm sức mạnh, nghị lực, niềm tin để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vững bước trên con đường xây dựng đất nước văn minh, giàu mạnh.

Bùi Thị Thủy
laodong.com.vn