Archive | Tháng Ba 2012

VN đạt nhiều thành tựu bảo đảm quyền con người

Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lương Thanh Nghị.
(Ảnh: Thể thao Văn hóa)

Theo Vụ Thông tin Báo chí, Bộ Ngoại giao, ngày 8/3, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước việc Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Hoa Kỳ đã thông qua “Dự luật Nhân quyền Việt Nam,” Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lương Thanh Nghị nói, dự luật này đã đưa ra những thông tin sai trái, thiếu khách quan về tình hình thực thi quyền con người ở Việt Nam.

Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc bảo đảm quyền con người trên mọi lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, và được cộng đồng quốc tế ghi nhận.

Ông Lương Thanh Nghị nhấn mạnh: “Chúng tôi cho rằng mọi khác biệt về vấn đề quyền con người cần được trao đổi thẳng thắn trên tinh thần xây dựng và tôn trọng lẫn nhau nhằm tăng cường hiểu biết và góp phần thúc đẩy quan hệ giữa các quốc gia. Trên tinh thần đó, Việt Nam đã tiến hành đối thoại với Hoa Kỳ về vấn đề quyền con người.”/.

(Vietnam+)
vietnamplus.vn

Bác Hồ với sự nghiệp giải phóng phụ nữ

Trong Di chúc, Bác viết: “Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, phụ nữ vô cùng đảm đang, đã đóng góp rất nhiều trong chiến đấu và sán xuất. Đảng, Chính phủ cần có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng thêm nhiều phụ nữ phụ trách nhiều công việc kể cả lãnh đạo. Phụ nữ phải phấn đấu vươn lên, đây là thực sự là một cuộc cách mạng”

GS, TS Nguyễn Lân Dũng

Trong một lần trả lời phỏng vấn Đài phát thanh BBC (Anh) nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã nói: Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi xướng con đường giải phóng phụ nữ tại Việt Nam. Người đã thức tỉnh phụ nữ tham gia giải phóng dân tộc, nhân loại và từ đó giải phóng chính mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cảm thông sâu sắc với nỗi thống khổ của người phụ nữ Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai. Người xác định rõ, bất bình đẳng nam nữ không đơn thuần là bị ảnh hưởng bởi các tư tưởng lạc hậu mà chủ yếu là do chế độ kinh tế xã hội. Hồ Chí Minh là lãnh tụ Việt Nam đầu tiên kêu gọi “Thực hiện nam nữ bình quyền”, coi sự nghiệp giải phóng phụ nữ là mọt mục tiêu của cách mạng.

Đồng chí Vũ Kỳ nhớ lại: “Một lần, tới dự Hội nghị, nhìn dọc Hội trường Bác hỏi: này các chú, phụ nữ đâu không thấy ngồi hàng đầu ? Bác hỏi tiếp: Các cô có đấy không ? Có ạ. Vậy mời lên đây ngồi. Ngay việc ngồi cũng không bình đẳng. Phụ nữ muốn bình đẳng không phải bảo Đảng, Chính phủ hay nam giới mời ngồi mà phải tự đấu tranh để giành lấy.

Đó là lời dặn mà cũng là mong muốn của Bác. Bác thường nhắc: Lực lượng phụ nữ không nhỏ, có khi còn đông hơn nam giới. Ở Việt Nam nói riêng và Châu Á, Châu Phi nói chung, sự bất bình đẳng giữa nam và nữ rất rõ rệt. Do ý thức hệ phong kiến đã đè nặng lên tư tưởng phụ nữ từ bao đời nay. Vì thế, mọi đường lối, chính sách của Đảng, Chính phủ bao giờ cũng phải chú ý đến phụ nữ…

Bác còn trực tiếp đào tạo nhiều người trở thành cán bộ cách mạng. Hãy đọc lại hồi ký của bà Nông Thị Trưng viết về Bác: “Về Pắc Bó đã nửa đêm, anh Đại Lâm, người giữ trạm đầu nguồn đưa chúng tôi đến gặp ông Ké. Đến nơi, anh Đại Lâm thổi sáo, từ trên thác có thang tre thả xuống. Bên bờ suối có một cái lán, trong lán, một ông cụ đang ngồi đọc sách. Tôi chấp tay: Cháu chào cụ ạ. Ông cụ nhìn lên hai mắt rất sáng, ân cần bảo: Cháu đến rồi à, cháu ngồi xuống đây nói chuyện. Cụ bảo 2 lần tôi mới dám ngồi. Cụ tỉ mỉ hỏi gia cảnh, rồi khuyên: “Từ nay cháu đã có gia đình lớn là cách mạng, đừng nên luyến tiếc gia đình nhỏ nữa. Cháu có cặm cụi làm ăn cũng không đủ nộp sưu thuế. Mình lấy lại được nước rồi sẽ khác”. Bác đặt cho tôi tên Trưng cũng là vì muốn tôi noi theo gương của bà Trưng khi xưa.

Từ đấy, tôi ở lại lán anh Đại Lâm, mỗi ngày vào lán của Bác một giờ học tập Bác dạy cho tôi từ chuyện thế giới, chuyện cộng sản đến cả những cách ứng xử hàng ngày: Đừng làm việc gì khiến dân mất lòng tin. Mượn 1 cái kim, 1 con dao, một buổi là phải đem trả. Trong ba lô nếu có màn, phải để ở ngoài cửa, chủ nhà có bằng lòng mới đem vào. Cháu là nữ, trước bàn thờ có cái giường để các cụ ngồi ăn cỗ, cháu không được ngồi… Tám tháng được Bác chỉ dạy, tôi học được nhiều hơn mấy chục năm học lý luận tập trung sau này”.

Khi bàn về việc bầu Chủ nhiệm HTX nông nghiệp, Bác đề nghị bầu nhiều phụ nữ vào cương vị này bởi: “Phụ nữ làm chủ nhiệm đâu có đánh chén. Chủ nhiệm nữ thật thà, phải đưa nhiều phụ nữ tham gia làm chủ nhiệm”.

Trong Di chúc, Bác viết: “Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, phụ nữ vô cùng đảm đang, đã đóng góp rất nhiều trong chiến đấu và sán xuất. Đảng, Chính phủ cần có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng thêm nhiều phụ nữ phụ trách nhiều công việc kể cả lãnh đạo. Phụ nữ phải phấn đấu vươn lên, đây là thực sự là một cuộc cách mạng”.

Theo Nhịp cầu đầu tư
Người đưa tin: NBC

haugiang.gov.vn

Nguyễn Ái Quốc với Ngày Quốc tế Phụ nữ 8-3

Cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phát triển tột bậc, nhất là ở Mỹ và các nước Tây Âu, nhiều phụ nữ và trẻ em phải làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp, bị chủ tư bản bóc lột và trả lương rẻ mạt, đời sống vô cùng cực khổ, khó khăn. Căm phẫn trước sự áp bức đó, ngày 8-3-1899, tại hai thành phố Chi-ca-gô và Niu-óoc (Mỹ) một cuộc đấu tranh mạnh mẽ của nữ công nhân ngành dệt may đã nổ ra đòi tăng lương, giảm giờ làm và cuối cùng buộc bọn chủ tư sản phải nhượng bộ.

Tháng 2-1909, lần đầu tiên phụ nữ khắp nơi trên nước Mỹ tổ chức mít tinh “Ngày Phụ nữ”, biểu tình rầm rộ đòi quyền bình đẳng. Những cuộc đấu tranh đầu tiên của nữ công nhân Mỹ đã có tiếng vang lớn, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của phụ nữ lao động trên toàn thế giới. Trong phong trào đấu tranh lúc bấy giờ, xuất hiện nữ chiến sĩ cách mạng lỗi lạc người Ðức là bà Cơ-la-ra Det-kin. Cơ-la-ra Det-kin sinh ra trong một gia đình nhà giáo ở vùng nông thôn Ai-xuê nước Đức, lớn lên Cơ-la-ra học tại một trường tư thục ở Lai-xích.

Cơ-la-ra Det-kin

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Cơ-la-ra Zet-kin hoạt động trong phong trào công nhân và sau đó gia nhập Đảng xã hội dân chủ Đức. Vì bị khủng bố và truy lùng, từ năm 24 tuổi, Cơ-la-ra sang nước ngoài hoạt động, trở thành một chiến sĩ cộng sản, chủ bút của tạp chí Bình đẳng do chính bà sáng lập năm 1890.

Năm 1907, Đại hội Phụ nữ quốc tế được triệu tập theo đề nghị của Cơ-la-ra Det-kin, sau đó một tổ chức quốc tế của phụ nữ ra đời và Cơ-la-ra được bầu làm Bí thư đầu tiên. Năm 1910, theo sáng kiến của bà, Hội nghị Phụ nữ quốc tế họp tại Cô-pen-ha-ghen (Đan Mạch) đã lấy ngày 8-3 hằng năm làm ngày đấu tranh cho quyền tự do, bình đẳng của phụ nữ trên toàn thế giới.

Trong thời kỳ diễn ra nhiều hoạt động đấu tranh sôi nổi của phụ nữ thế giới nhằm giành quyền bình đẳng, Nguyễn Tất Thành đang bôn ba ở hải ngoại tìm đường cứu nước, Người phải làm thuê nhiều công việc nặng nhọc để kiếm sống ở các nước Mỹ, Anh, Pháp.

Tháng 10-1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội Tua và gia nhập Đảng Cộng sản Pháp. Tại Đại hội này, Cơ-la-ra Det-kin với cương vị là Ủy viên Đoàn Chủ tịch của Quốc tế Cộng sản đã đọc một bài diễn văn quan trọng. Bài diễn văn của Cơ-la-ra đã làm cho Nguyễn Ái Quốc hiểu thêm về Lê-nin và Cách mạng Tháng Mười Nga, cũng như mối hiểm họa mà bọn cơ hội đang rắp tâm gây ra cho giai cấp vô sản thế giới; đồng thời cũng giúp Người biết thêm tình hình thế giới, phong trào phụ nữ quốc tế và những thành quả sau mười năm thành lập. Tại đây, Nguyễn Ái Quốc đã làm quen với Cơ-la-ra. Với tình hữu ái vô sản và nhất là sự cảm phục tấm lòng yêu nước của Người, bà đã giúp Nguyễn Ái Quốc học tiếng Đức và trao đổi nhiều vấn đề về tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa của giai cấp công nhân và nhân dân hai nước Đức, Việt.

Năm 1913, Nguyễn Ái Quốc gặp lại Cơ-la-ra tại Mát-xcơ-va, hai chiến sĩ cộng sản đã kể cho nhau nghe chặng đường hoạt động cách mạng đầy gian khó nhưng vinh quang của mình, càng thêm gắn bó hơn về trách nhiệm của mỗi người đối với Quốc tế Cộng sản và phong trào công nhân thế giới. Giữa thập niên 20 của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc sang hoạt động cách mạng ở Liên Xô, Trung Quốc, từ những trao đổi cùng Cơ-la-ra, Người đã tích lũy được nhiều tư liệu quý để viết bài về “Phụ nữ quốc tế” với 3 nội dung: Vì sao lập ra Phụ nữ quốc tế? Lịch sử Phụ nữ quốc tế thế nào? Cách tổ chức của Phụ nữ quốc tế ra sao?

Phần đầu của bài “Phụ nữ quốc tế”, Người đã viết những lời thật giản dị mà thấm thía:

“Ông Các Mác nói rằng: Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào, thì chắc không làm nổi. Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái thì biết xã hội tấn bộ ra thế nào”.

Ông Lênin nói: “Đảng cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu ăn cũng biết làm việc nước, như thế cách mệnh mới gọi là thành công”…

Xem trong lịch sử cách mệnh chẳng có lần nào là không có đàn bà con gái tham gia. Cách mệnh Pháp có những người như cô học trò Sác-lốt Coóc-đây rút dao đâm chết người tể tướng hung bạo, bà Luy Mi-sen ra giúp tổ chức Pa-ri Công xã. Khi Nga cách mệnh, đàn bà ra tình nguyện đi lính; sau tính lại lính cách mệnh đàn bà chết hết 1.854 người. Nay cách mệnh Nga thành công mau như thế, đứng vững như thế cũng vì đàn bà con gái hết sức giùm vào. Vậy nên muốn thế giới cách mệnh thành công, thì phải vận động đàn bà con gái công nông các nước”.(*)

Tại Đại hội Phụ nữ Quốc tế lần thứ 3 ở Mát-xcơ-va năm 1924, với tư cách là đại biểu của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đến dự, đại diện cho ý chí và nguyện vọng quần chúng lao động xứ Đông Dương, Người đã gặp lại Cơ-la-ra Dét-kin và nhiệt liệt chúc mừng bà được bầu làm Tổng Bí thư của Phụ nữ quốc tế. Bà Cơ-la-ra còn được Hội nghị lần thứ nhất của Hội quốc tế Cứu tế đỏ bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương của Hội, ngoài việc cứu tế nạn nhân chiến tranh, thiên tai, Hội còn bênh vực cho các chiến sĩ cách mạng từ nhiều nước khác nhau. Sau này, chính Hội quốc tế Cứu tế đỏ do Cơ-la-ra đứng đầu đã đóng vai trò rất quan trọng trong việc cứu Nguyễn Ái Quốc thoát khỏi nhà tù đế quốc Anh ở Hương Cảng.

Sau những năm tháng đấu tranh không biết mệt mỏi, năm 1933, Cơ-la-ra Dét-kin, người sáng lập ra Ngày quốc tế Phụ nữ 8-3 đã trút hơi thở cuối cùng trên quê hương Xô-viết anh hùng. Năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm các nước Đông Âu, trong buổi gặp đồng chí Vin-hem Pích, Chủ tịch Đảng Xã hội thống nhất Đức, Người đã kể lại với tấm lòng khâm phục vô hạn về tinh thần chiến đấu kiên cường vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng phụ nữ của bà Cơ-la-ra Dét-kin, người phụ nữ Đức dũng cảm đã dành trọn cuộc đời tranh đấu vì nhân loại cần lao.

——

(*) HCM toàn tập, NXBCTQG-ST, Hà Nội 2002, tập 2, tr 288.

Nguyễn Thanh Hoàng
Ban Tuyên giáo Thành ủy Cần Thơ

xaydungdang.org.vn

Hồ Chủ tịch và quyền bình đẳng của phái nữ

“Mỗi một người và tất cả phụ nữ phải hăng hái nhận lấy trách nhiệm của người làm chủ đất nước, tức là phải ra sức thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội”.

Hồ Chí Minh

Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập đã đánh dấu một bước chuyển biến cơ bản trong đời sống của người phụ nữ. Từ nay chị em thực sự trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh mình cùng nam giới chung lo bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Như vậy, họ đẫ bình đẳng với nam giới trên cả hai mặt: nghĩa vụ và quyền lợi.

Cuộc đấu tranh thực hiện quyền bình đẳng nam nữ

Tháng 10-1946 bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chính thức được ban hành, quyền bình đẳng giữa nam và nữ được công nhận. Hồ Chủ tịch nói: “Bản Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới: dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới phụ nữ Việt Nam đã đứng ngang hàng với đàn ông để hưởng mọi quyền công dân”.

Khi quyền nam nữ bình đẳng được công bố và thừa nhận, có người lầm tưởng rằng việc giải phóng phụ nữ như vậy đã được giải quýet, do đó thi hành luật pháp có thể là dễ dàng, thuận lợi. Hồ chủ tịch đã sáng suốt chỉ ra rằng, con đường đấu tranh để thực hiện quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ khó khăn và lâu dài.

“Nhiều người lầm tưởng đó là việc dễ chỉ: hôm nay anh nấu cơm, rửa bát, quét nhà, hôm sau em quét nhà, nấu cơm, rửa bát, thế là bình đẳng, bình quyền. Lầm to!

Đó là một cuộc cách mạng to và khó”.

Vì vấn đề giải phóng phụ nữ là một vấn đề xã hội to lớn đòi hỏi về mặt quan tâm của tất cả mọi người. Đây không chỉ là giải quyết những mâu thuẩn tranh chấp giữa hai giới nam và nữ, cành không phải là việc riêng của phụ nữ.

Hồ Chí Minh chỉ rõ: Muốn giải phóng người phụ nữ không chỉ thực hiện một sự phân công mới, bình đẳng giữa vợ và chồng trong những công việc gia đình, mà cái căn bản là phải có sự phân công, sắp xếp lại lao động của toàn xã hội,đưa phụ nữ tham gia vào nhiều ngành nghề như nam giới. Cần tổ chức lại đời sống công nông cũng như sinh hoạt gia đình để phụ nữ giảm nhẹ công việc bếp núc, chăm lo con cái, có điều kiện tham gia sản xuất, học tập nâng cao trình độ mọi mặt. Từ đó, chị em mới có đủ khả năng làm nhiều công việc chuyên môn và đảm nhiệm được những chức vụ công tác ngang hàng với nam giới. Đó là một cuộc cách mạng thực sự lớn.

“Vì không thể dùng vũ lực mà tranh đấu…vũ lực của cuộc cách mạng này là sự tiến bộ về chính trị, kinh tế, văn hóa, pháp luật. Phải cách mạng từng người, từng gia đình đến toàn dân. Dù to và khó phải nhất định thành công”.

Trước đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phụ nữ đã cùng toàn dân đứng lên lật đỗ chính quyềt đế quốc và phong kiến tay sai, giành lại độc lập, tự do và thiết lập chính quyền dân chủ nhân dân. Chính quyền mới do nhân dân lập ra, bảo đảm quyền tự do, dân chủ cho người lao động và bảo vệ quyền bình đẳng cho phụ nữ. Vì vậy, ngày nay chị em hết sức ủng hộ chính quyền cách mạng là lẽ tất nhiên.

Những muốn biến quyền bình đẳng giữa nam nữ, từ một luật lệ trở thành hiện thực sinh động trong cuộc sống, biến ý thức tôn trọng phụ nữ thành nếp sống đạo đức của mọi người thì đòi hỏi sự nỗ lực hết sức to lớn của toàn dân, của tất cả phụ nữ để xây dựng một xã hội mới, một kiểu người mới xã hội chủ nghĩa. Hồ Chủ tịch nêu rõ: Muốn thực hiện tốt quyền bình đẳng của phụ nữ phải có sự tiến bộ về kinh tế, chính trị, văn hóa, pháp luật của nước ta. Phụ nữ phải hi sinh xương máu, lao động gian khổ, góp phần đẩy mạnh sự phát triển công nghiệp và nông nghiệp, giáo dục và y tế, xây dựng một đất nước giàu mạnh, phồn vinh, một nền văn hóa, khoa học tiên tiến.

Đấu tranh giải phóng phụ nữ cũng là cuộc đấu tranh tư tưởng lâu dài, khó khăn để xóa bỏ những tư tưởng lạc hậu, bảo thủ còn tồn tại dai dẳng trong nhân dân ta.

“Vì trọng trai, khinh gái là một thói quen mấy nghìn năm để lại, vì nó ăn sâu trong đầu óc mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội”

Chính từ những nhận định sáng suốt trên, khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mới được thành lập, Hồ chủ tịch đã kêu gọi phụ nữ hăng hái cùng toàn dân tham gia ba phong trào cách mạng lớn là: diệt giặc dốt, giặc đói và giặc xâm lăng.

Để khắc phục hậu quả ghê gớm do thực dân Pháp và phát xít Nhật để lại, Hồ Chủ tịch phát động phong trào toàn dân tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Người đã nhắc nhở tất cả mọi người, trong đó lực lượng chính là phụ nữ thi đua sản xuất “tấc đất, tấc vàng” thực hành tiết kiệm để đảm bảo lương thực cho gia đình và đóng góp nuôi quân.

Suốt thời gian kháng chiến chống Pháp, phụ nữ Việt Nam đặc biệt là phụ nữ công nông, đã nhiệt liệt hưởng ứng lời Bác Hồ dạy. Đảm đang việc sản xuất, chăm lo việc gia đình để chồng con đi chiến đấu. Chị em hàng ngày còn chú ý tiết kiệm lương thực, lập ra những hủ gạo nuôi quân để tiếp tế cho bộ độ. Phụ nữ ra sức thâm canh, tăng năng suất, tăng sản lượng để làm nghĩa vụ bán thóc cho Nhà nước. Những hạt thóc vàng do mồi hôi công sức phụ nữ làm ra, đóng góp cho Tổ quốc để góp phần tạo nên chiến thắng thực dân Pháp và củng cố Nhà nước dân chủ nhân dân.

Về nhiệm vụ diệt giặc dốt, nhằm xóa bỏ tình trạng dốt nát của nhân dân ta do chính sách ngu dân của thực dân Pháp để lại, Hồ Chủ tịch rất quan tâm đến phụ nữ, Người đã khuyến khích chị em chịu khó học tập để có khả năng làm chủ đất nước đảm nhiệm những công việc như nam giới. Trong Lời kêu gọi chống nạn thất học tháng 10-1945, Người đã nói: “Mọi người Việt Nam phải hiểu hết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Phụ nữ lại càng cần phải học, đã lâu chị em bị kìm hãm. Đây là lúc các chị em phải cố gắng để kịp nam giới, để xứng đáng mình là một phần tử trong nước, có quyền bầu và ứng cử”.

Người rất vui mừng khi thấy phong trào Bình dân học vụ, phụ nữ đã tham gia tích cực làm người dạy học cũng như làm học trò. Người đặc biệt khen ngợi các cụ bà ham học đã làm gương, khuyến khích cho thanh niên noi theo: “Nhiều cụ, tuy tuổi tác đã cao, vẫn cố gắng học chữ, học làm tính. Thật là đáng kính, đáng quý”.

Hồ Chủ tịch đã đánh giá cao vai trò của phụ nữ trong cuộc trường kỳ kháng chiến chống đế quốc Pháp, người động viên chị em phát huy truyền thống chiến đấu dũng cảm của Bà trưng, Bà Triệu, Người tỏ lòng kính trọng các nữ liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc, luôn luôn gởi lời thăm hỏi các bà mẹ bộ đội, các gia đình liệt sĩ.

Trong bức thư gửi phụ nữ nhân dịp kỷ niệm Hai Bà Trưng và Quốc tế Phụ nữ 8-3-1952, Hồ Chủ tịch đã viết:

“Nhân dịp 8-3 tôi kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các nữ liệt sỹ đã hi sinh cho Tổ quốc. Tôi kính chúc các bà mẹ có con trong bộ đội và các bà mẹ cùng vợ con của các liệt sĩ. Trong cuộc kháng chiến to lớn của dân tộc, phụ nữ ta đang gánh một phần quan trọng”.

Người rất xúc động trước tinh thần yêu thương chiến sĩ của các bà, các cụ trong các Hội chiến sĩ ở các địa phương. Người tỏ lòng biết ơn và nhắc nhở các chiến sĩ phải hiếu với mẹ nuôi bằng cách giết giặc lập công.

Trong thư gửi các Hội mẹ chiến sĩ, Người viết: “Các chiến sĩ thì sẵn sàng hy sinh gia đình, hy sinh tính mệnh đi giết giặc cứu nước, bảo vệ đồng bào. Các cụ, các bà thì thương yêu săn sóc chiến sĩ như con cháu ruột thịt. Thế là các cụ, các bà cũng trực tiếp tham gia kháng chiến… Chẳng những các chiến sĩ mà tôi và Chính phủ cũng biết cám ơn các cụ, các bà”.

Người động viên, ca ngợi tinh thần dũng cảm chiến đấu không quản nguy hiểm khó khăn của các nữ du kích, cũng như thành tích của hàng vạn phụ nữ Kinh, Tày, Nùng, Mán, Mèo, tạm gác việc nhà xung phong đi dân công, xông pha lửa đạn để giúp đỡ bộ đội trong mọi việc. Người nhắc đến câu chuyện nhỏ, nhưng có ý nghĩa rất to lớn: “Bà cụ Nam (Cao Bằng), 83 tuổi xung phong sửa đường. Cán bộ khuyên bà cụ nghỉ thì bà cụ nói: “Càng già càng phải giúp kháng chiến, sửa đường cho bộ đội đi cho mau, giết cho nhiều giặc, thắng cho nhiều trận”.

Sự hoạt động hăng hái của các tầng lớp phụ nữ khắp toàn quốc trên các mặt trận sản xuất, chiến đấu, văn hóa xã hội trong cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp đã xứng đáng với lời ca ngợi của Hồ Chủ tịch:

“Non sông gấm vóc Việt Nam, do phụ nữ ta trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”.

Quá trình phụ nữ nước ta tham gia tích cực vào ba phong trào diệt giặc đói, giặc dốt, giặc xâm lăng cũng là quá trình chị em đứng lên làm chủ đất nước, làm chủ bản thân mình, phụ nữ ngày càng khẳng định rõ vai trò, khả năng của mình.

Cùng với sự phát triển của công cuộc kháng chiến và kiến quốc, quyền bình đẳng của phụ nữ trên nhiều mặt được dần dần thực hiện. Trong cải cách ruộng đất, phụ nữ nông dân đã được chia ruộng đất như nam giới; trong các xí nghiệp, cơ quan Nhà nước, phụ nữ làm việc ngày càng đông và được hưởng quyền lợi ngang hàng nam giới; trong các ngành y tế, văn hóa, giáo dục, khoa học phụ nữ được học tập, đào tạo bồi dưỡng rộng rãi, không có sự hạn chế nào ngăn cản việc phát triển tài năng của chị em. Nhưng cũng phải thấy rằng phụ nữ còn gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện quyền bình đẳng của chị em do trình độ phát triển chung của cách mạng Việt Nam.

Trích “Bác Hồ với phong trào phụ nữ Việt Nam”, NXB Phụ nữ

haugiang.gov.vn

Bác Hồ nói về công tác phụ nữ

Phát biểu tại lễ kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (19-10-1966), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc đến truyền thống yêu nước đầy tự hào của người phụ nữ Việt Nam: “Từ đầu thế kỷ thứ nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc, cứu dân cho đến ngày nay mỗi khi nước nhà gặp nguy nan, thì phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên, góp phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Do đó ta có câu tục ngữ rất hùng hồn: “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”.

Nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ cả hai miền Nam, Bắc đã sinh đẻ và nuôi dạy những thế hệ anh hùng của nước ta”.(1) Nói chuyện tại đại hội liên hoan phụ nữ “Năm Tốt” vào ngày 30-4-1964, Bác Hồ đã giúp phụ nữ nhận thức rõ: “Dưới chế độ thực dân và phong kiến, nhân dân ta bị áp bức, bóc lột, thì phụ nữ ta bị áp bức, bóc lột càng nặng nề hơn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phụ nữ ta đã góp phần khá lớn làm cho cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi vẻ vang. Ngay từ lúc đầu, Đảng và Nhà nước ta đã thi hành chính sách đối với phụ nữ cũng được bình quyền, bình đẳng với đàn ông”.(2)

Bác không chỉ quan tâm đến quyền bình đẳng của nữ giới trong mọi quan hệ xã hội mà còn lo cho hạnh phúc của nữ giới trong quan hệ vợ chồng, khuyên giới nữ ý thức được quyền lợi và trách nhiệm của mình để tự đấu tranh giải phóng mình khỏi những ràng buộc phi lý kiểu “chồng chúa vợ tôi”. Trong dịp gặp gỡ với cán bộ tỉnh Hà Tây vào ngày 10-2-1967, Bác phê phán tình trạng chồng đánh vợ và khẳng định đây là tệ nạn về mặt đạo đức và vi phạm pháp luật: ”Đàn ông là người công dân, đàn bà cũng là người công dân, dù là vợ chồng, người công dân này đánh người công dân khác tức là phạm pháp”.(3)

Tại buổi nói chuyện với lớp bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp huyện vào ngày 18-1-1967, Bác đã nghiêm khắc phê phán những thành kiến hẹp hòi ở một số cán bộ: “Nhiều người còn đánh giá không đúng khả năng của phụ nữ, hay thành kiến, hẹp hòi. Như vậy là rất sai… Bác mong rằng các đồng chí hãy thật sự sửa chữa bệnh thành kiến, hẹp hòi đối với phụ nữ…”. (4) Bác đã chỉ ra cho chúng ta thấy, phụ nữ không thua kém nam giới khi được tạo mọi điều kiện thuận lợi: “Trong hàng ngũ vẻ vang những anh hùng quân đội, anh hùng lao động, chiến sĩ thi đua và lao động tiên tiến đều có phụ nữ. Phụ nữ ta tham gia ngày càng đông và càng đắc lực trong các ngành kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Thế là dưới chế độ tốt đẹp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, phụ nữ đã thật sự làm chủ Nhà nước”.(5)

Bác đã biểu dương những đóng góp to lớn của phụ nữ trong công cuộc kháng chiến đánh đuổi giặc ngoại xâm: “Miền Nam anh hùng có đội quân đấu tranh chính trị gồm hàng vạn chiến sĩ toàn là phụ nữ. Họ rất mưu trí và dũng cảm làm cho địch phải khiếp sợ và gọi họ là “đội quân tóc dài”. Phó Tổng Tư lệnh Quân giải phóng là cô Nguyễn Thị Định. Cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật vẻ vang cho miền Nam, cho cả dân tộc ta”.(6) Phụ nữ nước ta còn được Bác khen tặng bởi những thành tích trong học tập, rèn luyện và đóng góp trong mọi lĩnh vực… “Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hàng vạn phụ nữ đã trở thành cán bộ chuyên môn các ngành và cán bộ lãnh đạo… Theo gương các bà, các mẹ và các chị anh hùng, nhiều cháu thiếu niên nhi đồng gái cũng rất ngoan… Như thế là từ xưa đến nay, từ Nam đến Bắc, từ trẻ đến già, phụ nữ Việt Nam ta thật là anh hùng…”.(7)

Bác khuyên giới nữ phải tự đấu tranh với bản thân mình, tự mình phải biết tôn trọng mình mới làm nên mọi việc. Bác đã nói: “Phụ nữ phải nâng cao tinh thần làm chủ, cố gắng học tập và phấn đấu; phải xóa bỏ tư tưởng bảo thủ, tự ti; phải phát triển chí khí tự cường, tự lập. (8) Bác đã nhắc nhở Đảng, Nhà nước phải quan tâm đến công tác phụ nữ. Di chúc thiêng liêng của Người ghi rõ: “Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên.

Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ.(9) Ngày nay, phụ nữ nhận thức được vai trò trách nhiệm của mình, không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ chính trị, năng lực chuyên môn để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Họ không chỉ là người mẹ hiền đảm đang giữ gìn hạnh phúc gia đình, mà còn là những nhà khoa học, những vị lãnh đạo tài năng có những cương vị cao trong các cơ quan Đảng và Nhà nước từ cơ sở đến Trung ương, xứng đáng với sự quan tâm và tin tưởng của Bác Hồ.

(1.2.3.4.5.6.7.8.9: Theo Hồ Chí Minh toàn tập)
MAI BỬU MINH

haugiang.gov.vn

Vượt qua bến Thượng Hải

Vẫn còn nhiều hạn chế trong cách xây dựng, song bộ phim điện ảnh mới nhất về Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có sự sáng tạo về thể loại và trau chuốt hơn về mặt hình ảnh, âm thanh.

NhocStylePro764

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội theo Tư tưởng Hồ Chí Minh

Tư tưởng về Đảng lãnh đạo quân đội là một bộ phận hợp thành, giữ vai trò trọng yếu trong tư tưởng quân sự của Hồ Chí Minh. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng của Người về tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Ngay từ đầu năm 1930, trong Chánh cương vắn tắt của Đảng, Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề “tổ chức ra quân đội công nông”(1) và trong suốt quá trình xây dựng, giáo dục và rèn luyện Quân đội ta, Người đã yêu cầu “Xây dựng quân đội – một quân đội nhân dân thật mạnh, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và của Đảng”(2). Người nói: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”(3). Người nhiều lần nhắc nhở “Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội”(4), bởi theo Người đó là nhân tố quyết định bản chất cách mạng, sức chiến đấu và chiến thắng của Quân đội ta.

Để thực hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, Hồ Chí Minh đã chỉ đạo việc thiết lập hệ thống tổ chức đảng trong quân đội từ Quân uỷ Trung ương đến các tổ chức đảng ở cơ sở; đồng thời tổ chức quân đội theo những nguyên tắc tổ chức phù hợp với đường lối chính trị, quân sự và tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngay từ đội vũ trang đầu tiên – Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Người đã trực tiếp chỉ đạo xây dựng theo mô hình lấy chi bộ đảng làm hạt nhân lãnh đạo, có đại diện của Đảng (chính trị viên) bên cạnh người chỉ huy quân sự để chăm lo công tác chính trị. Bằng công tác tư tưởng, Hồ Chí Minh yêu cầu phải thường xuyên giáo dục cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội lòng trung thành với Đảng. Sự trung thành ấy thể hiện trước hết ở chỗ phải trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, phải làm cho mọi quân nhân sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; phải lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho các hoạt động của quân đội. Hồ Chí Minh yêu cầu sự trung thành của quân đội đối với Đảng phải được thể hiện ở việc hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ giao cho, mà trước hết là hoàn thành thật tốt chức năng chiến đấu, đánh thắng mọi kẻ thù. Trong lần về thăm Trường Chính trị trung cấp quân đội (tháng 10-1951), Người nói: “Riêng về các chú, chính trị biểu hiện ra trong lúc đánh giặc. Học chính cương, chính sách rồi thì phải thực hiện. Nếu thuộc lầu mà không biết đánh giặc thì vô dụng”(5). Trong buổi chiêu đãi mừng Quân đội ta 20 tuổi, Người đã khen ngợi: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”(6). Đó vừa là sự khẳng định bản chất, truyền thống và mục tiêu chiến đấu của Quân đội, vừa là yêu cầu có tính nguyên tắc của Hồ Chí Minh đối với mọi hoạt động của Quân đội.

Lịch sử hơn 60 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta đã chứng tỏ tư tưởng của Hồ Chí Minh về Đảng lãnh đạo quân đội luôn luôn được quán triệt sâu sắc. Quân đội nhân dân Việt Nam luôn thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, thực sự là công cụ sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy của Đảng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong giai đoạn hiện nay, việc xây dựng Quân đội ta theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại đang đứng trước nhiều thuận lợi và thách thức to lớn. Mục tiêu bảo vệ Tổ quốc thời kỳ hậu gia nhập WTO có nhiều nội dung mới, đòi hỏi quân đội phải thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, đủ sức làm nòng cốt cho toàn dân bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và chế độ XHCN trong mọi tình huống. Đồng thời, những biến đổi kinh tế-xã hội to lớn ở trong nước gắn liền với tính chất phức tạp của cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp đang tác động đa chiều đến việc giữ vững bản chất cách mạng và sức mạnh chiến đấu của Quân đội; trong đó phải kể đến những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch hòng “phi chính trị hóa” quân đội, tước bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội ta. Những vấn đề đó đang đòi hỏi việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội theo Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục được đặt lên hàng đầu.

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong giai đoạn hiện nay, cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp về tổ chức, tư tưởng và chính sách, mà trước hết là đẩy mạnh công tác xây dựng đảng, để Đảng ta thật sự “là đạo đức, là văn minh”, đủ sức lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, lãnh đạo Quân đội trong thời kỳ mới, bởi theo Hồ Chí Minh “Đảng có vững, cách mệnh mới thành công”. Vì vậy, một mặt, cần tiếp tục đi sâu, thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng với những yêu cầu, biện pháp mới, phù hợp; đồng thời tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí”; mặt khác, cần tiếp tục thực hiện nghiêm túc các Quy định số 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115-QĐ/TW ngày 20-8-2004 về chức năng, nhiệm vụ của 8 loại hình tổ chức đảng trong Quân đội và “Xây dựng, bổ sung cơ chế lãnh đạo của Đảng và quản lý nhà nước đối với hoạt động quốc phòng, an ninh”(7), chỉ đạo tốt việc thực hiện Nghị quyết số 51-NQ/TW ngày 20-7-2005 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”; đồng thời đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, làm thấu triệt trong toàn xã hội nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội.

Hai là, tăng cường xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh (TSVM); tập trung vào nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng. Trong giai đoạn hiện nay, cần hết sức quan tâm nâng cao năng lực của các cấp uỷ đảng trong việc quán triệt và tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng; nâng cao tính tiền phong gương mẫu của đảng viên, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, gắn chặt công tác rèn luyện, quản lý đảng viên với xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng đội ngũ cấp uỷ viên với xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì, xây dựng tổ chức đảng TSVM với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện; tích cực tìm các giải pháp tăng cường vững chắc số chi bộ đại đội có cấp uỷ, chăm lo xây dựng cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị để nâng cao tính hiệu lực và hiệu quả của công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội.

Ba là, làm tốt hơn nữa công tác giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng trong Quân đội, đặc biệt là ở cơ sở; làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội hiểu sâu sắc nguyên tắc Đảng lãnh đạo quân đội, cùng những nội dung mới trong tư duy của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc được Đại hội X của Đảng xác định. Đó là “Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh toàn diện; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế và an ninh xã hội; duy trì trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội; giữ vững ổn định chính trị của đất nước, ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, thù địch, không để bị động, bất ngờ”. Trên cơ sở đó, mọi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội tự giác rèn luyện, phấn đấu, góp phần cùng toàn quân hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng và Tổ quốc giao phó, tiếp tục xứng đáng là lực lượng chính trị tin cậy của Đảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

____

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 3, tr.1. (2) Sđd, tập 7, tr.220. (3,6) Sđd, tập 11, tr.350. (4) Sđd, tập 7, tr.14. (5) Sđd, tập 6, tr. 319. (7) Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ X, NXBCTQG, H.2006, tr.111.

THIẾU TƯỚNG, PGS, TS. NGUYỄN NGỌC HỒI
Phó tổng Biên tập Tạp chí Quốc phòng toàn dân

xaydungdang.org.vn

Suy nghĩ của một người lái xe về Đảng, về Bác Hồ

Tôi nghĩ, dù ai có cố tình nhắm mắt phủ định bằng bất cứ lý do gì thì Đảng và Bác vẫn có công lao vô cùng to lớn với dân tộc, Tổ quốc Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ, nhân dân ta phá tan ách thống trị thực dân, phong kiến, đánh Pháp, đuổi Nhật và thắng Mỹ, non sông thu về một mối, đất nước thái bình, nhân dân yên ổn làm ăn và phát triển, vị thế của nước ta ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Có thể nói, từ khi có Đảng, có Bác, đất nước Việt Nam đã hoàn toàn đổi mới. Chính vì thế người dân Việt Nam luôn nói: Ơn Đảng, ơn Bác…

Không biết từ bao giờ, Đảng và Bác Hồ luôn ở trong trái tim, khối óc, trong công việc và trong cuộc sống hằng ngày của tôi. Còn nhớ ngày đầu vào mạng In-tơ-net, vô tình vào một trang (tôi không còn nhớ) có những bài viết nói xấu Đảng, nói xấu Bác, tôi thấy như mình bị xúc phạm và lập tức gửi phản hồi “phản công” lại.

Tôi nghĩ, dù ai có cố tình nhắm mắt phủ định bằng bất cứ lý do gì thì Đảng và Bác vẫn có công lao vô cùng to lớn với dân tộc, Tổ quốc Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ, nhân dân ta phá tan ách thống trị thực dân, phong kiến, đánh Pháp, đuổi Nhật và thắng Mỹ, non sông thu về một mối, đất nước thái bình, nhân dân yên ổn làm ăn và phát triển, vị thế của nước ta ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Có thể nói, từ khi có Đảng, có Bác, đất nước Việt Nam đã hoàn toàn đổi mới. Chính vì thế người dân Việt Nam luôn nói: Ơn Đảng, ơn Bác…

Là một lái xe, tôi không quá thần tượng và ảo tưởng, tôi luôn hướng về Đảng, về Bác và có một niềm tin sắt đá về sự trường tồn của Đảng và tư tưởng, đạo đức của Bác. Tuy nhiên, nhìn vào thực trạng hiện nay, bên cạnh những mặt tích cực, Đảng muốn trường tồn, đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống, thiết nghĩ, Đảng cần phải quyết liệt với một số vấn đề đang gây bức xúc dư luận cả nước.

Về chống tham nhũng

Thực tế khẳng định, tham nhũng đã trở thành quốc nạn, là một trong bốn nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng. Có thể nói bọn sâu dân mọt nước, bọn cơ hội, những cán bộ, đảng viên biến chất, hư hỏng là “một bầy sâu” hằng ngày, hằng giờ đục khoét, moi móc của cải vật chất của Nhà nước, của nhân dân, làm mất uy tín của Đảng, mai một lòng tin của nhân dân vào Đảng. Nhiều kỳ đại hội đảng đã qua, nhiều giải pháp đã được đề cập tới, nhưng vấn nạn tham nhũng không giảm mà có xu hướng tăng lên với những thủ đoạn tinh vi hơn. Tham nhũng đã và đang có mặt ở khắp mọi nơi, khắp các ngành nghề, biến thái đủ các hình thức, nhiều góc độ… Làm thế nào để người dân thấy được công cuộc chống tham nhũng của Đảng không là hô khẩu hiệu? Không là “giơ cao đánh khẽ” ? Không để những vụ việc được báo chí, người dân phát hiện bị “chìm xuồng”…? Chỉ có thể là trừng trị thẳng tay như Bác đã từng làm trước đây, bất kể kẻ tham nhũng đó là ai.

Về cảnh sát giao thông

Là một lái xe, tôi tiếp xúc hằng ngày với cảnh sát giao thông. Với tôi, hình ảnh phản cảm, đau đớn nhất là hình ảnh những người công an mặc sắc phục, được Nhà nước trang bị mọi phương tiện để thi hành công vụ lại nhận hối lộ. Điều đó không chỉ bôi nhọ lực lượng công an vì nhân dân phục vụ mà còn ảnh hưởng to lớn đến uy tín của Đảng, của Nhà nước. Từ 30 đến mồng 5 Tết Nhâm Thìn, trên toàn quốc đã xảy ra hơn 3.000 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm nhiều người chết và bị thương. Những con số đó đã cho chúng ta thấy hiệu quả của việc tuần tra kiểm soát của lực lượng cảnh sát giao thông như thế nào.

Về giáo dục – đào tạo

Xã hội phát triển, các gia đình quan tâm hơn đến việc học hành của con em mình. Đồng thời việc chạy trường, chạy lớp đầu năm học, mua điểm, mua bằng, rồi phong bì biếu xén thấy cô giáo các ngày lễ, tết… cũng tăng theo nhưng chất lượng giáo dục không tăng. Năm ngoái dư luận được phen xôn xao với phát biểu của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cho rằng kết quả môn thi lịch sử hàng ngàn điểm 0 là bình thường (!). Tình trạng học sinh bỏ học, bạo lực học đường đang rung lên hồi chuông báo động với nền giáo dục Việt Nam. Thế nhưng, những đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong Ngành Giáo dục từ Trung ương xuống cơ sở trong các bản kiểm điểm đánh giá chất lượng đảng viên cuối năm có ai dám nhận trách nhiệm về mình và từ chối các khoản xét thưởng?

Với kiểm lâm
Nhà đày của thực dân Pháp xây dựng ngay tại Buôn Ông Thuột (nay là TP. Buôn Ma Thuột). Nhà đày xây nơi rừng thiêng nước độc, suốt ngày cọp hú, voi gầm, biết bao chiến sĩ cách mạng trung kiên đã bị những cai ngục ném ra ngoài tường rào để làm mồi cho thú dữ. Nói như vậy để biết ngày xưa rừng vào tận trung tâm thành phố bây giờ. Và đúng như nhà báo Đặng Bá Tiến trong bài “Nỗi nhớ đại ngàn” thì: “… không chỉ nhớ, tôi đã rơi nước mắt vì thương rừng, thương đại ngàn. Bởi rừng, bởi đại ngàn giờ đã tan tác, điêu linh !”. Thậm chí cả rừng đặc dụng như Vườn quốc gia Yốk Đôn, Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô… cũng chỉ còn cái mã ngoài, ruột gan bên trong thì đã bị moi móc băm vằm tan tác. Thật đau đớn, xót xa ! Sự thật là rừng đã và đang bị tàn phá… Tổng kết của ngành kiểm lâm có ai dám thừa nhận tiếp tay cho lâm tặc? Hay chỉ đến khi lật xe, gỗ đè chết người ở Con Cuông, Nghệ An thì mới rút kinh nghiệm, kiểm điểm ? Bây giờ nhân dân cả nước vẫn chưa biết kết quả xử lý cuối cùng vụ này ra sao ? Có ai dám nói đến sự yếu kém, sự bất lực trong công tác quản lý bảo vệ rừng ?

Về tệ nạn xã hội

Ở cơ sở có cả một hệ thống chính trị: Đảng ủy, UBND, HĐND, các hội: phụ nữ, cựu chiến binh, đoàn thanh niên… lực lượng công an phường, xã, dân quân tự vệ… Cả hệ thống đông đảo ấy nếu thật sự tận tụy với dân, tận lực làm việc thì tệ nạn ma tuý, mại dâm, trộm cướp, giết người, bạo lực xã hội, bạo hành gia đình, ngược đãi trẻ em… liệu có đất dung thân hay không? Các điểm vui chơi, quán nhậu, ka-ra-ô-kê đều phải đăng ký kinh doanh. Chỉ cần kiên quyết xử lý các sai phạm ngay từ đầu thì làm gì có đất cho tệ nạn hoạt động. Phải chăng tiếp tay, ăn chia, nhận đút lót rồi nhắm mắt làm ngơ thì tệ nạn xã hội mới có cơ hội hoành hành như vậy?

Trên đây là những vấn đề nhức nhối tôi phải chứng kiến hàng ngày khiến tôi lo lắng, băn khoăn về sự còn mất của Đảng. Phải làm thế nào đây? Tôi chỉ là một người dân bình thường, yêu Đảng, yêu Bác nhưng không thể chấp nhận việc những tiêu cực đó xảy ra hằng ngày mà chỗ nào cán bộ, đảng viên cũng nói học tập và làm theo Bác. Mỗi đảng viên, cán bộ hãy một lần đọc lại Di chúc của Bác, hãy nhớ kỹ: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân…”. Chỉ có như thế Đảng mới trường tồn, xứng đáng với Lãnh tụ kính yêu của Đảng – Bác Hồ vĩ đại.

Trương Long Vũ

xaydungdang.org.vn

Bình đẳng giới – điểm sáng về nhân quyền ở Việt Nam

Dự thảo Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XI diễn ra ở Hà Nội (tháng 3 – 2012) đã nêu: Việt Nam là một trong những quốc gia đạt thành tựu cao về thực hiện bình đẳng giới, được Liên hợp quốc đánh giá là điểm sáng trong thực hiện các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Kết quả đó là thực tiễn sinh động minh chứng sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với phụ nữ, cao hơn là trong việc bảo đảm nhân quyền.

altTrong Quốc hội, tỷ lệ nữ đại biểu nhiệm kỳ 2007 – 2011 là 25,76%, xếp thứ 31 trên thế giới; nhiệm kỳ 2011 – 2016 là 24,4%.

Vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam có sự chi phối từ những nguyên nhân của lịch sử và ở từng giai đoạn lịch sử khác nhau, cũng có những biểu hiện khác nhau. Đáng chú ý là, trong nhiều thế kỷ, dân tộc Việt Nam chịu sự đô hộ của phong kiến phương Bắc; nhất là khi đạo Khổng được truyền bá vào Việt Nam, thì vai trò của người phụ nữ trong xã hội trở nên hết sức thấp kém. Theo đó, sự bất bình đẳng giới cũng diễn ra phổ biến; các quyền cơ bản của phụ nữ không được bảo đảm, thậm chí bị tước đoạt một cách vô lý.

Nhận rõ tầm quan trọng và thể hiện trọng trách trước nhân dân và cộng đồng quốc tế, ngay trong Cương lĩnh 1930 của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: nam, nữ bình quyền là một trong mười nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam. Điều đó cũng được ghi nhận trong Hiến pháp đầu tiên (năm 1946) của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và được khẳng định rõ ở Điều 63, Hiến pháp sửa đổi (năm 1992) của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam. Cho tới nay, Việt Nam đã tham gia nhiều công ước quốc tế, trong đó có: Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW, năm 1981), Công ước Quyền trẻ em (CRC, năm 1990) và tích cực thực hiện Cương lĩnh Hành động Bắc Kinh (năm 1995) vì bình đẳng, hòa bình và phát triển. Bên cạnh đó, nhiều luật pháp, chính sách đã được ban hành, sửa đổi, bổ sung, tạo điều kiện thuận lợi cho thực hiện bình đẳng giới và bảo vệ quyền phụ nữ. Nổi bật là: Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống (cả về vật chất và tinh thần) của phụ nữ, cũng như tạo điều kiện cần thiết để phụ nữ được hưởng quyền cơ bản của mình, tham gia và hưởng thụ một cách bình đẳng, đầy đủ trong mọi khía cạnh của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Bộ luật Lao động (năm 2002) đã sửa đổi, bổ sung những nội dung liên quan đến chính sách đối với lao động nữ, bao gồm: bảo hiểm xã hội, tiền lương, bảo hộ lao động, đào tạo nghề. Ngoài ra, Việt Nam đã ký các hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý với 12 nước, trong đó có Lào, Trung Quốc và Cam-pu-chia; đã tham gia các thoả thuận và tuyên bố quốc tế về phòng, chống mua bán người, đồng thời là thành viên tích cực của các diễn đàn đa phương, như: Tiến trình Tư vấn khu vực châu Á – Thái Bình Dương; Tiến trình Ba-li về phòng, chống mua bán người và tội phạm xuyên quốc gia; Tuyên bố chung ASEAN về phòng, chống mua bán người;… Cùng với những chủ trương, chính sách về các lĩnh vực cơ bản nhất, Nhà nước ta cũng quan tâm tới các lĩnh vực đặc thù, như: ban hành Pháp lệnh về phòng, chống mại dâm (năm 2003); Chương trình hành động, phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em; đồng thời, xử lý nghiêm tội phạm và có những biện pháp hỗ trợ các nạn nhân. Nhà nước ta cũng đã ban hành Luật Bình đẳng giới (2006), Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (2007); đặc biệt là, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá X) đã ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TW về Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước (2007); Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới (2011 – 2020),… Quốc hội thường xuyên thực hiện tốt công tác giám sát về bình đẳng giới. Hằng năm, Chính phủ đều có báo cáo kết quả thực hiện pháp luật về bình đẳng giới,… Những nỗ lực trong việc hoạch định chủ trương, chính sách mang tính chiến lược lâu dài của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã tạo bước chuyển mạnh mẽ trong thực hiện bình đẳng giới, bảo đảm tốt các quyền bình đẳng giữa nam và nữ; quyền được làm việc, được hưởng lương như nhau; quyền sở hữu, thừa kế và quyền lựa chọn bạn đời khi kết hôn hoặc ly hôn,… đều được pháp luật bảo vệ.

Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam luôn tỏ rõ vai trò nòng cốt, tiên phong trong các hoạt động bình đẳng giới. Hội đã tập hợp rộng rãi các tầng lớp phụ nữ Việt Nam, thực hiện tốt vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ; đồng thời, bám sát tình hình thực tiễn và yêu cầu công tác phụ nữ trong từng thời kỳ để không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới. Với phương châm “ở đâu có phụ nữ, ở đó có tổ chức Hội”, các cấp hội đã chú trọng gắn kết chặt chẽ công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, năng lực hoạt động cho phụ nữ với việc đẩy mạnh các chương trình hành động vì sự phát triển, tiến bộ của phụ nữ; tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, khu vực. Qua đó, xây dựng mối quan hệ tình cảm gắn bó mật thiết giữa phụ nữ Việt Nam với phụ nữ các nước trên thế giới, vì mục tiêu hoà bình, hữu nghị, bình đẳng và phát triển. Hoạt động hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, góp phần xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc cũng được các cấp hội hết sức quan tâm; trong đó, chương trình xoá đói, giảm nghèo, hỗ trợ phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn vươn lên ổn định cuộc sống,… đã thu hút được sự quan tâm, ủng hộ của các tổ chức chính trị – xã hội, các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm trong và ngoài nước; động viên được tinh thần hợp tác, tương thân, tương ái của đông đảo chị em phụ nữ trong cả nước. Đến nay, Hội đã tín chấp và nhận ủy thác được hơn 48 nghìn tỷ đồng, giúp trên 17 triệu lượt phụ nữ vay vốn để sản xuất, kinh doanh; tạo việc làm, ổn định cuộc sống, xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc… góp phần nâng cao vị thế của phụ nữ Việt Nam trên trường quốc tế.

Cùng với những nỗ lực trên, Hội luôn chú trọng thực hiện tốt chức năng tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước trong xây dựng, ban hành pháp luật và các chủ trương, chính sách về những vấn đề có ý nghĩa chiến lược thực hiện bình đẳng giới, như: Luật Bình đẳng giới; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình,… Hội cũng đã tích cực nghiên cứu, xây dựng và tham gia xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn thi hành Luật Bình đẳng giới; tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Luật Bình đẳng giới cho các đối tượng; chia sẻ kinh nghiệm xây dựng Luật Bình đẳng giới trong và ngoài nước;… Sự tham gia tích cực của Hội đã góp phần tạo cơ sở pháp lý quan trọng để phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân trong đấu tranh, ngăn chặn các hành vi phân biệt đối xử về giới, tạo bước chuyển mạnh mẽ trong việc bảo đảm nam, nữ bình quyền và dân tộc bình đẳng ở Việt Nam.

Trong lĩnh vực kinh tế, mục tiêu bình đẳng giới đã đạt những kết quả thiết thực và bền vững. Hiện nay, phụ nữ chiếm 50% lực lượng lao động; tỷ lệ nam giới và nữ giới tham gia hoạt động kinh tế ở mức gần bằng nhau (nữ: 83%, nam: 85%). Lực lượng phụ nữ có vai trò tương đương với nam giới trong việc tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất. Hầu hết các ngành nghề đều có sự tham gia của phụ nữ; nhiều ngành, phụ nữ chiếm tỷ lệ cao hơn nam giới1. Vị thế của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội đã không ngừng được nâng cao. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, Việt Nam là một trong những nước dẫn đầu thế giới về tỷ lệ phụ nữ tham gia các hoạt động kinh tế và là quốc gia đạt được sự thay đổi nhanh nhất về xóa bỏ khoảng cách giới ở khu vực Đông Á (mục tiêu thứ 3 trong 8 Mục tiêu Thiên niên kỷ).

Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, tỷ lệ phụ nữ biết đọc, biết viết tăng từ 82,3% (năm 1993) lên 90,5% (năm 2011). Tỷ lệ biết chữ của nam từ 10 tuổi trở lên chỉ cao hơn nữ 6%. Khoảng cách nhập học của học sinh nam, nữ ở các cấp học, bậc học trong những năm gần đây đã được thu hẹp gần như tương đương. Hiện tượng bỏ học sớm của trẻ em gái được cải thiện đáng kể. Tính trung bình trong các năm học, tỷ lệ tốt nghiệp của học sinh nữ cao hơn nam. 100% trẻ em gái từ 11 tuổi đến 14 tuổi tốt nghiệp chương trình tiểu học và được vào lớp 6. Kết quả đó đã tăng tỷ lệ đi học chung của nữ ở cấp trung học cơ sở lên trên 90%, trung học phổ thông lên trên 50%.

Trong lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khoẻ, Việt Nam đã tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiều chính sách khám, chữa bệnh cho các đối tượng; huy động mạnh mẽ các nguồn lực trong xã hội, góp phần đưa tỷ lệ phụ nữ được tiếp cận với các dịch vụ y tế lên hơn 90%; đưa tuổi thọ bình quân của người Việt Nam đạt 72,8 tuổi, trong đó phụ nữ đạt 75,6 tuổi và nam giới đạt 70,2 tuổi (nữ tăng 5,5 tuổi, nam tăng 3,7 tuổi so với năm 1999). Tỷ lệ phụ nữ khám thai và được chăm sóc y tế khi mang thai hằng năm đều tăng. Riêng năm 2007, tỷ lệ phụ nữ được khám thai từ 03 lần trở lên, tăng 2% so với năm 2005.

Trong lĩnh vực chính trị, phụ nữ tham gia công tác trong hệ thống Đảng, cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp và các cơ quan dân cử ngày càng tăng, nhất là ở những vị trí cấp cao, như: ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, bộ trưởng, thứ trưởng và trong các uỷ ban nhân dân, hội đồng nhân dân các cấp,… Trong Quốc hội, tỷ lệ nữ đại biểu nhiệm kỳ 2007 – 2011 là 25,76%, xếp thứ 31 trên thế giới. Riêng nhiệm kỳ 2011 – 2016 là 24,4%; tuy có giảm so với nhiệm kỳ trước, nhưng Việt Nam vẫn là một trong những nước của khu vực châu Á – Thái Bình Dương có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao. 

Trong gia đình, tiếng nói của phụ nữ khi quyết định các vấn đề lớn, quan niệm về con trai, con gái đã có nhiều thay đổi tích cực. Mức độ sở hữu và kiểm soát các tài sản quan trọng của phụ nữ Việt Nam hiện nay đã được pháp luật bảo vệ…

Những kết quả đạt được trong các lĩnh vực trên đây đã góp phần quan trọng nâng cao chất lượng cuộc sống và chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời là minh chứng thuyết phục nhất khi cho rằng: Việt Nam là một quốc gia tiên phong trong đấu tranh vì bình đẳng giới và bảo vệ nhân quyền. Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn tìm mọi cách để phủ nhận những thành tựu đó, nhằm phục vụ cho mưu đồ chống phá CNXH của chúng. Song, những thủ đoạn đó cũng không thể đánh lừa được ai, bởi thực tiễn công cuộc đổi mới nói chung, cũng như những thành tựu đã đạt được trên lĩnh vực bình đẳng giới của Việt Nam nói riêng, là một thực tế mà nhân dân ta và nhiều tổ chức trên thế giới thừa nhận, không một thế lực nào có thể phủ nhận được.v.v.

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhưng sự nghiệp phấn đấu vì mục tiêu bình đẳng giới và phát triển của phụ nữ ở Việt Nam hiện vẫn còn nhiều thách thức. Bởi, xuất phát điểm của Việt Nam là một nước nông nghiệp, trải qua hàng nghìn năm Bắc thuộc, chịu ảnh hưởng của định kiến giới nặng nề, nên tư tưởng trọng nam, khinh nữ vẫn còn tồn tại khá phổ biến trong các đối tượng. Ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, phụ nữ còn bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán lạc hậu; tỷ lệ phụ nữ nghèo, mù chữ còn cao; bạo lực gia đình, tệ nạn mại dâm, buôn bán phụ nữ, trẻ em, lấy chồng người nước ngoài còn diễn biến phức tạp.v.v.

Để khắc phục có hiệu quả tình trạng trên và triển khai thực hiện tốt vấn đề bình đẳng giới, nhằm phát huy quyền con người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Nhà nước ta đang tiếp tục thực hiện những chủ trương, chính sách, với sự tham gia của cả cộng đồng; trong đó, tập trung đẩy mạnh và đa dạng hoá các hình thức tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về giới, bình đẳng giới. Trong thời gian tới, cần coi trọng mở rộng đối tượng tuyên truyền, từ nam giới đến nữ giới; tăng cường mở các lớp tập huấn về kỹ năng lồng ghép giới cho cán bộ lãnh đạo, quản lý và đại diện người sử dụng lao động; đưa vấn đề giới vào kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch cán bộ; nâng cao chất lượng xây dựng hệ thống chính sách, pháp luật theo hướng nâng tỷ lệ nữ tham gia trong các tổ chức, bộ máy của cơ quan, đơn vị nói chung, nâng tỷ lệ nam trong các hoạt động về giới nói riêng. Các bộ, ban, ngành liên quan, cần có sự phối hợp chặt chẽ trong công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới và các chính sách liên quan đến lao động nữ; đồng thời, tranh thủ sự ủng hộ của các tổ chức quốc tế để tăng cường việc học tập, trao đổi kinh nghiệm với bạn bè quốc tế về các hoạt động bình đẳng giới… Thực hiện có hiệu quả những nội dung này, sẽ làm cho vấn đề bình đẳng giới và bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam ngày càng tốt hơn.

ThS. PHẠM HẠNH SÂM

Trưởng ban Tuyên giáo,

Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
tapchiqptd.vn

                  

1 – Giáo dục: 60,9%; Y tế: 57,52%; Công nghiệp: 50,32%; Thương nghiệp dịch vụ: 65,5%; Tài chính, tín dụng: 51,75%.

Triết lý giáo dục Hồ Chí Minh qua “Bài nói chuyện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội”

Ngày 21-10-1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Tổng thống Mali Môđibô Câyta đến thăm Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Người đã nói chuyện với các thầy cô giáo, sinh viên và cán bộ, công nhân viên của trường. Bài viết nêu một số kiến giải bước đầu về triết lý giáo dục Hồ Chí Minh từ “Bài nói chuyện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội” của Người và qua đó muốn khẳng định triết lý giáo dục Hồ Chí Minh không phải chỉ thể hiện ở lời nói mà là cơ sở định hướng cho hoạt động thực tiễn giáo dục và xây dựng con người.

chu-tich-ho-chi-minh-ve-tham-truong-dhsphn-lan-thu-nhat-19571.jpgChủ tịch Hồ Chí Minh trong một lần về thăm Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Ảnh tư liệu.

1. Trường Sư phạm phải là “trường mô phạm”

Trong thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành sự quan tâm rất lớn đối với đối với ngành Sư phạm và sự nghiệp phát triển giáo dục nước nhà.

Ngày 10 tháng 10 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 45 thành lập Ban Đại học Văn khoa tại Hà Nội – tiền thân trực tiếp của Trường ĐHSP Hà Nội. Trong đó, Chủ tịch Chính phủ khẳng định việc đào tạo giáo viên trung học là “rất nên cần thiết” để nâng cao nền văn hóa Việt Nam, “xứng danh với một nước độc lập và để theo kịp bước các nước tiên tiến trên hoàn cầu”. Sự kiện này đã hiện thực hóa triết lý “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Tiếp sau đó, Chính phủ cho thành lập ngành Sư phạm (1946) và Trường Sư phạm Cao cấp – Trường ĐHSP Hà Nội (1951).

Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều lần tới thăm và nói chuyện với cán bộ, giáo viên, sinh viên của Trường ĐHSP Hà Nội, thể hiện sự quan tâm tin tưởng đặc biệt của Người đối với trường sư phạm. Năm 1957, Người tới thăm và căn dặn cán bộ giáo viên về cách dạy dỗ phải xuất phát từ tình yêu thương, kiên nhẫn thuyết phục học trò,…. Năm 1960, tới thăm Trường, Người giáo dục sinh viên phát huy tinh thần phấn đấu trong học tập và cống hiến cho cách mạng. Năm 1964, Người tới thăm Trường cùng với Tổng thống Môđibô Câyta và phu nhân cùng đoàn đại biểu nhà nước Cộng hòa Mali. Sự kiện này cũng khẳng định được vị thế, vai trò của trường sư phạm trong chính sách giáo dục quan hệ ngoại giao, hợp tác quốc tế của Đảng và Nhà nước ta.

Mở đầu Bài nói chuyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh nghiêm khắc tự phê bình: “Vì bận nhiều việc, Bác ít đến thăm nhà trường”, sau đó, Người nêu lên những vấn đề mang tính triết lý giáo dục như sau:

– Giáo viên sư phạm cần phải xung phong gương mẫu đi đầu trong việc học tập cũng như trong mọi việc. Trong đó có nhiệm vụ phát triển giáo dục miền núi (“đưa cái hiểu biết văn hóa lên cho đồng bào”). Người khẳng định việc này đã có kết quả tốt và“đó đều là công lao của nhà trường, của các cô giáo, thầy giáo”.

– Sứ mệnh cao cả của trường sư phạm cần phải thực hiện là “làm thế nào để nhà trường này chẳng những là trường sư phạm mà còn là trường mô phạm của cả nước”. Từ “mô phạm” được hiểu là khuôn phép, mẫu mực, chuẩn mực để người khác tôn trọng và dựa vào đó mà noi theo. Khi Người nói “trường mô phạm” là nói đến con người – chủ thể – trong Nhà trường, đó chính là cán bộ, giáo viên, công nhân viên, học sinh, sinh viên. Điều này có nghĩa là Người đòi hỏi ở những chủ thể của Nhà trường phải (và phải phấn đấu để đạt được) là khuôn mẫu, chuẩn mực về cả đạo đức, tác phong, trình độ chuyên môn, tinh thần sáng tạo, tiên phong gương mẫu về mọi mặt. Đây là cái đích phấn đấu của tất cả mọi người trong Nhà trường. Bởi thế, đối với Trường ĐHSP Hà Nội, triết lý đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn được coi là di sản tinh thần to lớn, là “kim chỉ nam” cho mọi hoạt động của Nhà trường và thực tiễn phát triển 60 năm qua đã chứng minh “sự dẫn đường” bởi triết lý giáo dục đó của Người. Hiện nay, khẩu hiệu hành động của Trường ĐHSP Hà Nội là: “Mô phạm – Sáng tạo – Cống hiến”.

Triết lý giáo dục Hồ Chí Minh về trường sư phạm “phải là trường mô phạm” cần phải được coi là tuyên ngôn về ngành sư phạm Việt Nam và các trường sư phạm cần coi đó là “kim chỉ nam” cho mọi hoạt động của nhà trường. Đến nay triết lý còn nguyên giá trị lý luận và ý nghĩa thực tiễn mang tính thời đại. Trước yêu cầu của sự phát triển đất nước hiện nay, đề nghị Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo quan tâm hơn nữa đối với ngành sư phạm, đặc biệt tạo nhiều cơ chế đặc thù, mở ra những cơ hội phát triển thực sự mới cho mạng lưới các trường sư phạm, thúc đẩy hệ thống giáo dục quốc dân hội nhập quốc tế.

2. Phong trào thi đua phải thực chất, hiệu quả

Trong Bài nói chuyện, điều đầu tiên nói về ưu điểm của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Người đã khẳng định: “Một là tất cả mọi người, các cô giáo, thầy giáo, các cán bộ, công nhân viên cũng như các cháu học sinh đều có tinh thần khắc phục khó khăn làm tròn nhiệm vụ. Đó là một điều tốt… Một ưu điểm nữa là phong trào thi đua “Hai tốt” ở đây làm khá. Bác nói rằng khá, chứ chưa phải trăm phần trăm tốt đâu nhé”.

Sức sống của phong trào thi đua “Hai tốt” (dù được triển khai cách đây nửa thế kỷ – 1961) tự nó đã khẳng định tính hiệu quả trong toàn ngành giáo dục. “Hai tốt” đơn giản chỉ là “dạy tốt, học tốt” nhưng bao chứa tất cả ý chí quyết tâm, lòng nhiệt huyết, tận tụy, sự nỗ lực cố gắng, phấn đấu bền bỉ, sự hy sinh, năng lực sáng tạo, chủ động, và cả niềm tin, sự kỳ vọng,… của hai chủ thể chính đó là nhà giáo và học trò. “Hai tốt” không phải là một phong trào mang tính hình thức nảy sinh từ tư duy các nhà quản lý mà là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn giáo dục của toàn ngành mà trực tiếp được bắt đầu nhân rộng, phổ biến từ một mô hình thi đua đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn ở một trường học tại địa phương – Trường THCS Bắc Lý (huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam).

Sau này, trong bức thư cuối cùng gửi cho ngành giáo dục cả nước (10/1968), Người nhấn mạnh quyết tâm và kỳ vọng vào hiệu quả toàn diện của phong trào: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt. Trên nền tảng giáo dục chính trị và lãnh đạo tư tưởng tốt, phải phấn đấu nâng cao chất lượng văn hoá và chuyên môn nhằm thiết thực giải quyết các vấn đề do cách mạng nước ta đề ra và trong một thời gian không xa, đạt những đỉnh cao của khoa học và kỹ thuật”.

Từ kết quả của phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt” với sự định hướng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể nêu lên nội dung triết lý giáo dục của Người: Phong trào thi đua chỉ có sức lan tỏa và phát huy hiệu quả thiết thực khi nó được bắt đầu từ mô hình của thực tiễn, đối tượng thực hiện rõ ràng, mục tiêu có tính xuyên suốt, dễ hiểu, phương thức tổ chức thực hiện cụ thể, sáng tạo, sinh động và việc kiểm tra đánh giá, tổng kết đơn giản (bởi hiệu quả thực hiện phải dễ thấy qua người thực(Thầy – Trò), việc thực (Dạy – Học),…

Hầu hết các phong trào thi đua sau này được ngành giáo dục phát động thực chất là cụ thể hóa hoặc dưới hình thức khác cho phù hợp với điều kiện thực tiễn nhưng về bản chất vẫn nhằm mục đích cơ bản nhất là “dạy tốt, học tốt”.

3. Trường sư phạm phải là thành trì vững chắc của đạo đức xã hội

Trong Bài nói chuyện, Người nêu mục tiêu giáo dục phải đạt được là đào tạo con người phát triển toàn diện cả về tài và đức: “Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc, rất là quan trọng. Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng. Đạo đức cách mạng là triệt để trung thành với cách mạng, một lòng một dạ phục vụ nhân dân”.

– Khi Người nêu yêu cầu trong dạy và học “phải biết chú trọng cả tài lẫn đức” cũng có nghĩa đặt ra nhiệm vụ và mục tiêu giáo dục toàn diện. Tuy nhiên, việc Người đưa ra định nghĩa về “đức” và nhận định vai trò của đạo đức cách mạng thì không có nghĩa là hạ thấp vai trò của “tài”. Bởi trong mỗi thời điểm lịch sử nhất định, việc giáo dục toàn diện cho con người là nhiệm vụ cơ bản nhưng nhấn mạnh một mặt nào đó cũng là do xuất phát từ nhiệm vụ kinh tế – xã hội. Hồ Chí Minh dùng khái niệm “đạo đức cách mạng” để giải thích về “đức” và coi đó “là cái gốc, rất là quan trọng” nhằm phân biệt với đạo đức truyền thống được hình thành trong xã hội cũ. Theo Người, nhiệm vụ của giáo dục là xây dựng con người mới với đạo đức mới (có nội dung cốt lõi là “triệt để trung thành với cách mạng, một lòng một dạ phục vụ nhân dân”). Như thế, nhiệm vụ giáo dục phải gắn liền với thực tiễn đời sống xã hội, đào tạo con người phải nhằm mục đích phụng sự Tổ quốc và Nhân dân.

– Yêu cầu chú trọng giáo dục đạo đức cách mạng được Người nêu lên ở Trường ĐHSP Hà Nội cho chúng ta thấy tư tưởng cốt lõi về đào tạo ngành sư phạm phải đặc biệt chú trọng đến nội dung giáo dục đạo đức bởi nghề dạy học “rất là quan trọng, rất là vẻ vang”. Người khẳng định: “Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng”. Điều này không chỉ đặt ra ở phương diện triết lý giáo dục mà trong thực tiễn, đòi hỏi mỗi cán bộ, giáo viên, học sinh, sinh viên phải thấu triệt và không ngừng nỗ lực hiện thực hóa yêu cầu này.

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nêu lên những yêu cầu cụ thể:

– Yêu cầu về lý tưởng sống phụng sự Tổ quốc và Nhân dân, “quyết tâm phải làm tròn nhiệm vụ”, phải hòa mình vào thực tế sinh động đầy khó khăn, gian khổ để qua đó hiểu biết thêm thực tiễn giúp cho giáo dục thực chất.

– Yêu cầu đối với quan hệ xã hội trong Nhà trường trước hết “phải đoàn kết”: “Đoàn kết thật sự, giữa thầy và thầy, giữa thầy và trò, giữa trò và trò, giữa cán bộ và công nhân. Toàn thể nhà trường phải đoàn kết thành một khối, đoàn kết phải thật sự trăm phần trăm chứ không phải chỉ là đoàn kết miệng”. Trong mối quan hệ giữa trò với trò phải đảm bảo tinh thần bình đẳng, phải “thật sự coi nhau như anh em, chị em ruột thịt trong một nhà”, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, không được có ý ganh ghét, đố kỵ, hống hách,…

– Yêu cầu về phẩm chất Nhà giáo: Các cô giáo, thầy giáo cần “phải có chí khí cao thượng, phải “tiên ưu hậu lạc” nghĩa là khó khăn thì phải chịu trước thiên hạ, sung sướng thì hưởng sau thiên hạ. Đây là đạo đức cách mạng”, thường xuyên “thi đua phát triển ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm” để trở nên mẫu mực, chuẩn mực; “Thầy cũng như trò, cán bộ cũng như nhân viên, phải thật thà yêu nghề mình. … Người thầy giáo tốt – thầy giáo xứng đáng là thầy giáo – là người vẻ vang nhất. Dù là tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng”.

Thực tiễn đời sống xã hội hiện nay đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến đạo đức trong ngành giáo dục. Gần đây, tình trạng vi phạm đạo đức nhà giáo và bạo lực học đường ngày càng gia tăng và trở nên nghiêm trọng. Vấn đề giáo dục đạo đức hơn bao giờ hết trở thành mối quan tâm trước hết của toàn xã hội.

Từ những chỉ dẫn sâu sắc mang tính triết lý giáo dục trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài phát biểu tại chính ngôi trường đại học đầu tiên của ngành sư phạm, chúng tôi đề nghị, Bộ Giáo dục – Đào tạo cần đề cao hơn nữa về vai trò và sứ mệnh của các trường sư phạm, đặc biệt các trường Đại học Sư phạm phải được coi là thành trì vững chắc nhất bảo vệ, giữ gìn, giáo dục và phát huy nền tảng đạo đức xã hội.[2] Bởi trước đây, đã có thời kỳ, Trường ĐHSP Hà Nội được coi như “một loại trường Đảng”, có sứ mệnh như là “pháo đài bảo vệ chủ nghĩa xã hội” và thực tế thông qua những thành quả đào tạo đã phát huy tốt vai trò đó trong toàn ngành giáo dục và toàn xã hội.

Thay đổi nhận thức là một bước cơ bản để thay đổi hành động. Đạo đức nhà giáo đại diện cho nền tảng của đạo đức xã hội. Quan tâm tới sự phát triển toàn diện trong giáo dục, đặc biệt chú trọng giáo dục đạo đức với những chính sách ưu tiên cụ thể, kịp thời cho chủ thể giáo dục (thầy – trò) cũng như việc xử lý nghiêm minh những trường hợp vi phạm đạo đức nhà giáo sẽ là cơ sở thực sự tin cậy để xây dựng nền tảng đạo đức xã hội, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước.

4. Triết lý “trồng cây” – “trồng người” và tổ chức giáo dục trong nhà trường

Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động Tết trồng cây vào mùa xuân với ý nghĩa “làm cho đất nước càng ngày càng xuân”. Lợi ích của trồng cây thì ai cũng hiểu nhưng triết lý sâu xa trong việc trồng cây chính là sự nghiệp trồng người: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.

Trong bài nói chuyện, sau khi nhắc nhở về kết quả làm vệ sinh và trồng cây còn hạn chế, Người đặt yêu cầu: “Các cô, các chú và các cháu phải làm cho vườn của trường thành một vườn hoa, vườn cây tươi đẹp”.

Nếu hiểu việc trồng cây liên hệ tới sự nghiệp trồng người thì ở đây Hồ Chí Minh đã cho chúng ta những chỉ dẫn cụ thể, sinh động. Nếu “tham trồng cây nhiều, nhưng không chăm bón cho tốt” thì sao mà đạt kết quả tốt được. Điều đó cũng như trong công tác đào tạo, không phải cứ tham về số lượng, mà không đảm bảo về điều kiện đào tạo cho tốt, như về đội ngũ, về cơ sở vật chất, thiết bị,… thì không thể đảm bảo chất lượng được và đương nhiên không đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Chính vì thế, nhất định phải đảm bảo tốt về điều kiện để “trồng cây nào thì phải chăm bón cho tốt cây đó. Như thế, hơn là tham trồng nhiều mà kết quả ít”.

Từ triết lý “trồng cây” – “trồng người” của Hồ Chí Minh có thể nhận thấy rằng: Đối với việc trồng người (sự nghiệp giáo dục – điều kiện để tạo nên con người) thì không thể cho phép người ta tạo ra phế phẩm, dù chỉ ở trong suy nghĩ.

Điều đặc biệt, chỉ trong một đoạn ngắn nhắc nhở việc trồng cây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên 4 từ “phải”: “phải chăm bón cho tốt cây”, “phải làm cho vườn trường thành một vườn hoa, vườn cây tươi đẹp”, “phải làm”, “làm thì phải có tổ chức”. Triết lý sâu sắc của Người ở đây là: kể từ việc trồng cây đến việc trồng người, nhất định con người phải là chủ thể, phải chủ động thực hiện và khi thực hiện thì phải đảm bảo điều kiện, phải có trách nhiệm, phải đạt hiệu quả và có tác động thúc đẩy môi trường – xã hội phát triển. Điều này không chỉ khẳng định chân lý: Con người là chủ thể của lịch sử, của xã hội mà còn thể hiện rõ quan điểm của Hồ Chí Minh: “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”.

Về công tác tổ chức giáo dục trong nhà trường, Người chỉ rõ: “Làm thì phải có tổ chức… Có tổ chức thì nhất định làm được tốt”. Về phương pháp học tập, đối với người học “không nên học gạo, không nên học vẹt” mà “Học phải suy nghĩ, học phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành. Học với hành phải kết hợp với nhau” [4;331]. Để phương pháp dạy và học thực sự hiệu quả, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu đối với cả giáo viên và học sinh phải đảm bảo kỷ cương nền nếp: “Cần phải giữ gìn kỷ luật cho tốt, phải sạch sẽ, gọn gàng. Kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tự do, chống lề mề, luộm thuộm”.

Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục là một hệ thống quan điểm thể hiện tầm nhìn chiến lược sâu sắc về vai trò của giáo dục đối với sự phát triển của con người và toàn xã hội. Trong đó có những tư tưởng đi trước thế giới, trở thành chân lý được nhân loại tiến bộ thừa nhận và tiếp tục thực hiện tư tưởng của Người[3].Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục chứa đựng kho tàng triết lý sâu sắc, đó là kết quả của sự thẩm thấu và phát triển những tinh hoa, cốt lõi của nền văn hóa dân tộc cùng với những tri thức tiến bộ của văn minh nhân loại. Kho tàng triết lý ấy cần được tiếp tục khai thác nhằm xây dựng cơ sở lý luận có tính chất nền tảng, kim chỉ nam của triết lý giáo dục Việt Nam hiện đại, góp phần vào nội dung của chủ thuyết phát triển Việt Nam đang được đầu tư nghiên cứu. Hiện thực của triết lý giáo dục Hồ Chí Minh chính là ở cuộc đời và sự nghiệp của Người.

NCS. Nguyễn Bá Cường
Đại học Sư phạm Hà Nội

hochiminhhoc.com

Những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức (kỳ 11)

PHỤ NỮ

60. … Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người.

Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa.

… Về phần mình, chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình, mà tự mình phải tự cường, phải đấu tranh.

Bài nói tại Hội nghị cán bộ thảo luận Luật hôn nhân và gia đình
ngày 10-10-1959, sđd, t.9, tr 523, 524.

61. … Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã nêu rõ chính sách nam nữ bình đẳng, Hiến pháp ta đã xác định chính sách đó. Trong mọi việc, Đảng và Chính phủ ta luôn luôn quan tâm giúp đỡ phụ nữ. Vậy chị em phụ nữ ta phải nhận rõ địa vị làm người chủ và nhiệm vụ người làm chủ nước nhà; phải có quyết tâm mới, đạo đức mới, tác phong mới để làm trọn nghĩa vụ mới của mình là góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội…

Bài nói chuyện tại Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ III
ngày 9-3-1961, sđd, t.10, tr. 296.

62. … 2. Phụ nữ cũng là người chủ nước nhà. Để xứng đáng là người chủ thì chị em phải ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm…
3. Phụ nữ cần phải xung phong trong việc xây dựng đời sống mới. Ở miền núi đang còn những phong tục không tốt do bọn phong kiến để lại, như: ma chay, cúng bái rất tốn kém. Cưới vợ, gả chồng quá sớm. Vệ sinh phòng bệnh, v.v… còn kém. Đó là những mê tín và hủ tục nên xóa bỏ, để xây dựng mỹ tục thuần phong.

4. Đoàn kết là sức mạnh. Đồng bào miền núi, trước hết là chị em phụ nữ, cần phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Đoàn kết giữa dân tộc mình, đoàn kết giữa các dân tộc. Đoàn kết với đồng bào miền xuôi lên phát triển kinh tế miền núi…

5. Để làm tốt những việc nói trên, chị em phải cố gắng học tập. Học văn hóa, học chính trị, học nghề nghiệp. Nếu không học thì không tiến bộ. Có quyết tâm thì nhất định học được…

Nói chuyện Hội nghị cán bộ phụ nữ miền núi,
ngày 19-3-1964, sđd, t.11, tr. 215.

PHỤ LÃO

63. … Xưa nay, những người yêu nước không vì tên tuổi già mà chịu ngồi không. Nước ta có những người như Lý Thường Kiệt, càng già càng quắc thước, càng già càng anh hùng.

Thư gửi các vị phụ lão,
ngày 21- 9-1945, sđd, t.4, tr. 24.

64. Tuổi tác càng cao, lòng yêu nước càng lớn.

Càng già, càng dẻo lại càng dai,
Tinh thần gương mẫu chẳng nhường ai.
Đôn đốc con em làm nhiệm vụ,
Vuốt râu mừng xã hội tương lai.

Tuổi càng cao, lòng yêu nước càng lớn
ngày 1-10-1960, sđd, t.10, tr. 213-214.

65. … Các đồng chí già là rất quý, là gương bền bỉ đấu tranh, dìu dắt, bồi dưỡng, đào tạo thêm đồng chí trẻ Đồng chí già phải giúp đỡ cho đồng chí trẻ tiến bộ. Như thế đòi hỏi ở Đồng chí già phải có thái độ độ lượng, dìu dắt đồng chí trẻ. Đó cũng là một tiêu chuẩn đạo đức cộng sản chủ nghĩa.

Nói chuyện với cán bộ đảng viên hoạt động lâu năm,
ngày 9-12-1961, sđd, t.10, tr. 463.

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi dũng sĩ miền Nam

CÁC TẦNG LỚP KHÁC NHAU TRONG NHÂN DÂN

66. Đạo đức công dân

Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ. Nhân dân ta có quyền lợi làm chủ thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân, giữ đúng đạo đức công dân, tức là:

– Tuân theo pháp luật Nhà nước.
– Tuân theo kỷ luật lao động.
– Giữ gìn trật tự chung.
– Đóng góp (nộp thuế) đúng kỳ, đúng số để xây dựng lợi ích chung.
– Hăng hái tham gia công việc chung.
– Bảo vệ tài sản công cộng.
– Bảo vệ Tổ quốc.

Trong những năm kháng chiến, bộ đội ta anh dũng hy sinh xương máu, đồng bào ta hăng hái góp sức của sức người. Điều đó tỏ rằng đại đa số nhân dân ta đã tự giác tự động làm trọn nghĩa vụ của người chủ nước nhà.

Nhưng vẫn có một số ít người không làm đúng như vậy. Họ muốn hưởng quyền lợi mà không muốn làm nghĩa vụ. Thậm chí có những người phá hoại pháp luật (như tham ô, buôn gian lậu thuế, trộm cắp, lưu manh…).

… Cho nên chúng ta cần phải có giáo dục đạo đức công dân để mọi người hiểu rõ: Lợi ích chung của nước nhà và lợi ích riêng của người dân là nhất trí; quyền lợi của công dân và nghĩa vụ của công dân là nhất trí; đã là người chủ nước nhà thì phải phụ trách đối với Tổ quốc. Giáo dục có nhiều cách: giúp quần chúng giáo dục quần chúng bằng cách tự phê bình và phê bình để dạy dỗ lẫn nhau. Cán bộ giáo dục quần chúng bằng cách vạch rõ âm mưu của địch, lấy sự thật mà giải thích cho quần chúng rõ địa vị cao quý của người chủ nước nhà, lực lượng xây dựng to lớn của ta, tương lai vẻ vang của dân tộc, nâng cao tinh thần yêu nước của mọi người. Giáo dục là chính, nhưng đối với những kẻ ngoan cố không chịu sửa đổi thì chính quyền phải dùng phép luật. Phép luật là phép luật của nhân dân, dùng để ngăn cản những hành động có hại cho nhân dân, để bảo vệ lợi ích chung của đại đa số nhân dân.

Đạo đức công dân
ngày 15-1-1955, sđd, t.7, tr. 452, 453.

67. Trong lúc các giới khác trong quốc dân ra sức hoạt động để giành lấy nền hoàn toàn độc lập của nước nhà, thì giới Công – Thương phải hoạt động để xây dựng một nền kinh tế và tài chính vững vàng và thịnh vượng. Chính phủ nhân dân và tôi sẽ tận tâm giúp giới Công – Thương trong công cuộc kiến thiết này.

Việc nước và việc nhà bao giờ cũng đi đôi với nhau. Nền kinh tế quốc dân thịnh vượng nghĩa là các sự kinh doanh của các nhà công nghiệp và thương nghiệp thịnh vượng. Vậy tôi mong giới Công – Thương nỗ lực và khuyên các nhà công nghiệp và thương nghiệp mau mau gia nhập “Công – Thương cứu quốc đoàn” cùng đem vốn vào làm những công cuộc ích quốc lợi dân.

Thư gửi các giới công thương Việt Nam,
ngày 13-10-1945, sđd, t. 4, tr. 49.

68. … Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn bức thư các vị đã gửi cho chúng tôi. Trong thư nói:

“Dù phải hy sinh xương máu để kiến thiết một nước nhà tự do hạnh phúc hoàn toàn, thì chúng tôi cũng sẵn sàng không ngần ngại”.

Câu nói nhiệt thành đó tỏ rằng các vị là những người chân chính yêu nước, đồng thời cũng là những chân chính tín đồ đức Giêsu. Đức Giêsu hy sinh vì muốn loài người được tự do hạnh phúc, đồng bào ta cả lương cả giáo cũng vì tự do hạnh phúc cho toàn dân mà hy sinh phấn đấu…

Lời cảm ơn đồng bào công giáo,
ngày 14-10-1945, sđd, t. 4, tr. 50.

69. … Hiện nay toàn quốc đồng bào ta, công giáo và ngoại công giáo, đều đoàn kết chặt chẽ, nhất trí đồng tâm như con một nhà, ra sức tranh đấu để giữ gìn nền độc lập của Tổ quốc! Ngoài sa trường thì xương máu của chiến sĩ công giáo và ngoại công giáo đã xây nên một bức thành kiên cố vĩ đại để ngăn cản kẻ thù chung là bọn thực dân Tây. Ở khắp nơi trong nước, thì đồng bào công giáo và ngoại công giáo đương đem cả lực lượng giúp vào cuộc kháng chiến và kiến quốc! Tinh thần hy sinh phấn đấu tức là noi theo tinh thần cao thượng của đức Chúa Giêsu.

Thư gửi các vị Linh mục và đồng bào công giáo Việt Nam
ngày 25-12-1945, sđd, t. 4, tr. 121.

70. … Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau.

Trước kia chúng ta xa cách nhau, một là vì thiếu dây liên lạc, hai là vì có kẻ xui giục để chia rẽ chúng ta.

Ngày nay Việt Nam là nước chung của chúng ta…

Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta.

Chúng ta phải thương yêu nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta.

Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta.

Thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Plâycu,
ngày 19-4-1946, sđd, t. 4, tr. 217-218.

dalat.gov.vn

Những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức (kỳ 10)

THANH, THIẾU NIÊN, NHI ĐỒNG

50. Trẻ em như búp trên cành,
Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan,
……

Trẻ con,
Tháng 9-1941, sđd, t.3, tr. 203.

51. … Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội.

Vậy qua năm mới, các cháu phải xung phong thực hành “đời sống mới”
Đời sống mới là:

– Hăng hái, kiên quyết, không sợ khó, không sợ khổ.

– Phải siêng học, phải siêng làm, phải tiết kiệm.

– Việc nên làm (như ủng hộ kháng chiến, tăng gia sản xuất) thì ta không chờ ai nhắc nhủ.

– Việc nên tránh (như tự tư tự lợi) thì ta không đợi ai ngăn ngừa.

Gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết sắp đến,
tháng 1-1946, sđd, t.4, tr. 167.

52. … Nay Bác viết mấy chữ, để cám ơn các cháu và khuyên các cháu:

1. Phải siêng học,
2. Phải giữ sạch sẽ,
3. Phải giữ kỷ luật,
4. Phải làm theo đời sống mới,
5. Phải thương yêu giúp đỡ cha mẹ anh em.

Thư gửi các cháu thiếu nhi,
năm 1946, sđd, t.4, tr. 421

53. … Người ta thường nói: Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm người chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc để chuẩn bị cái tương lai đó.

… mỗi thanh niên, nhất là mỗi cán bộ phải kiên quyết làm bằng được những điều sau này:

a) Các sự hy sinh khó nhọc thì mình làm trước người ta, còn sự sung sướng thanh nhàn thì mình nhường người ta hưởng trước (tiên thiên hạ ưu, hậu thiên hạ lạc).

b) Các việc đáng làm, thì có khó mấy cũng cố chịu quyết làm cho kỳ được.

c) Ham làm những việc ích quốc lợi dân. Không ham địa vị và công danh phú quý.

d) Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, đối với việc.

e) Quyết tâm làm gương về mặt: siêng năng, tiết kiệm, trong sạch.

f) Chớ kiêu ngạo, tự mãn, tự túc. Nói ít làm nhiều, thân ái đoàn kết… chớ đặt những chương trình, kế hoạch mênh mông, đọc nghe sướng tai nhưng không thực hiện được.

Việc gì cũng cần phải thiết thực, nói được, làm được. Việc gì cũng phải từ nhỏ dần dần đến to, từ dễ dần dần đến khó, từ thấp dần dần đến cao. Một chương trình nhỏ mà thực hiện được hẳn hoi, hơn một trăm chương trình to tát mà làm không được.

Thư gửi các bạn thanh niên,
ngày 17-8-1947, sđd, t.5, tr. 185-186.

54. … Cách dạy trẻ, cần làm cho chúng biết yêu Tổ quốc, thương đồng bào, yêu lao động, biết vệ sinh, giữ kỷ luật, học văn hóa.

Đồng thời phải giữ toàn vẹn tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động trẻ trung của chúng, chớ nên làm cho chúng hóa ra già cả. Nhiều thư của các cháu gửi cho Bác Hồ viết như người lớn viết, đó là một triệu chứng già sớm cần nên tránh.

Trong lúc học, cũng cần làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học. Ở trong nhà, trong trường, trong xã hội, chúng đều vui, đều học. Muốn vậy các ban phụ trách nhi đồng cần phải liên lạc với cha mẹ và thầy giáo của nhi đồng.

… Giáo dục nhi đồng là một khoa học. Các bạn hãy cố gắng học tập, nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm để tiến bộ mãi, nhất là phải làm kiểu mẫu trong mọi việc cho các em bắt chước.

Thư gửi Hội nghị cán bộ phụ trách nhi đồng toàn quốc,
ngày 25-8-1950, sđd, t.6, tr. 85.

55. Khuyên thanh niên
Không có việc gì khó,
Chỉ sợ lòng không bền,
Đào núi và lấp biển,
Quyết chí ắt làm nên.

Làm tặng một đơn vị Thanh niên xung phong,
Tháng 9-1950, sđd, t.6, tr.95.

56. … Điều gì phải, thì cố làm cho kỳ được, dù là việc nhỏ. Điều gì trái, thì hết sức tránh, dù là một điều trái nhỏ.

– Trước hết phải yêu Tổ quốc, yêu nhân dân. Phải có tinh thần dân tộc vững chắc và tinh thần quốc tế đúng đắn. Phải yêu và trọng lao động. Phải giữ gìn kỷ luật. Phải bảo vệ của công. Phải quan tâm đến đời sống của nhân dân. Phải chú ý đến tình hình thế giới, vì nước ta là một bộ phận của thế giới, mọi việc trong thế giới đều có quan hệ với nước ta, việc gì trong nước ta cũng quan hệ với thế giới…

… Nhiệm vụ của thanh niên không phải là đòi hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà? Mình phải làm thế nào cho ích lợi nước nhà nhiều hơn? Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hy sinh phấn đấu chừng nào?

– Thanh niên cần phải có tinh thần và gan dạ sáng tạo, cần phải có chí khí hăng hái và tinh thần tiến lên, vượt mọi khó khăn, gian khổ để tiến mãi không ngừng.

Cần phải trung thành, thật thà, chính trực.

Những điều nên chống: Thanh niên cần phải chống tâm lý tự tư tự lợi, chỉ lo lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình. Chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc. Chống thói xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay. Chống lười biếng, xa xỉ. Chống cách sinh hoạt ủy mị. Chống kiêu ngạo, giả dối, khoe khoang.

Nói chuyện tại buổi lễ khai mạc Trường Đại học nhân dân Việt Nam,
ngày 19-1-1955, sđd, t.7, tr. 454-455.

57. … Thanh niên bây giờ là thế hệ vẻ vang, vì vậy cho nên phải tự giác tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình. Tức là thanh niên phải có đức, có tài. Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi, nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi gì cho loài người…

Nói chuyện tại Đại hội sinh viên lần thứ hai
ngày 7-5-1958, sđd, t.9, tr. 172.

58. Người ta thường nói: Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Để thật xứng đáng là người chủ của một nước xã hội chủ nghĩa, thanh niên ta quyết tâm thực hiện mấy điều sau đây:

– Phải thấm nhuần đạo đức cách mạng tức là khiêm tốn, đoàn kết, thực hành chủ nghĩa tập thể, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, người tiên tiến thì giúp đỡ người kém, người kém phải cố gắng để tiến lên, ra sức cần kiệm xây dựng nước nhà.

– Phải nghiêm khắc chống chủ nghĩa cá nhân như tự tư tự lợi, tự kiêu, tự mãn, chỉ tham việc gì có danh tiếng, xem khinh những công việc bình thường. Phải chống tham ô, lãng phí.

– Phải cố gắng học hỏi để không ngừng nâng cao trình độ chính trị, văn hóa và kỹ thuật để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Bài nói tại Đại hội thanh niên tích cực lao động xã hội chủ nghĩa,
ngày 17-3-1960, sđd, t.10, tr. 106.

59. … Thanh niên ta có vinh dự to thì cũng có trách nhiệm lớn. Để làm tròn trách nhiệm, thanh niên ta phải nâng cao tinh thần làm chủ tập thể, trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân, chớ phô trương hình thức, chớ kiêu ngạo, tự mãn. Phải thấm nhuần đạo đức cách mạng tức là học tập, lao động, sinh hoạt theo đúng đạo đức của thanh niên xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa…

Nói tại Đại hội toàn quốc lần thứ II của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam,
ngày 20-12-1961, sđd, t. 10, tr. 489.
(Nguồn: Báo điện tử Cần Thơ)

dalat.gov.vn