Archive | Tháng Ba 2012

Học cách đi cơ sở, tiếp xúc với nhân dân của Bác Hồ

QĐND – Tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, trong bài phát biểu kết luận, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Để chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chúng ta phải tiến hành đồng bộ các giải pháp, nhưng có một việc mà mọi cán bộ, đảng viên có thể làm ngay, không tốn kém đầu tư chút công sức, của cải nào, càng không phải chờ kế hoạch của Bộ Chính trị, đó là việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đồng chí Tổng Bí thư chỉ rõ: Làm theo phải toàn diện, nhưng trước hết, từng đồng chí cán bộ cấp cao phải học tập cách đi cơ sở, gặp gỡ, tiếp xúc, lắng nghe ý kiến nhân dân của Bác Hồ. Hiện nay, nhiều đồng chí trong Bộ Chính trị đề nghị các địa phương không căng khẩu hiệu “nhiệt liệt chào mừng” mỗi khi có lãnh đạo Trung ương về thăm và làm việc, nhưng các đồng chí chấp hành chưa nghiêm…

Bác Hồ đi công tác ở chiến khu Việt Bắc/Ảnh tư liệu

Sinh thời, mỗi khi Bác Hồ về thăm địa phương nào, thấy địa phương chăng đèn, kết hoa, căng khẩu hiệu chào mừng, Bác đều góp ý: Bác là “công bộc” về thăm, kiểm tra, nắm tình hình nhân dân chứ không phải ông vua, ông quan. Sau những lần như vậy, các địa phương đều sửa được bệnh “hình thức” đó. Tuy nhiên, để nắm được thực chất đời sống của người dân, Bác Hồ còn tự tổ chức những chuyến đi bí mật, trực tiếp gặp gỡ những người nghèo khổ, những hoàn cảnh éo le. Câu chuyện “Bác không đến thăm thím thì thăm ai” do một chiến sĩ bảo vệ kể về lần Người giao cho các đồng chí thư ký, bảo vệ phải tìm cho Bác một gia đình nghèo nhất Hà Nội để Bác đến thăm vào đêm Giao thừa, đã phản ánh tư tưởng, tác phong gần dân, trọng dân và hiểu dân sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người luôn xác định, với từng đối tượng người dân phải có cách tiếp cận phù hợp thì người dân mới nói hết tâm tư, tình cảm với cán bộ, nhất là cán bộ cấp cao.

Trong nhiều bài viết, bài nói để lại cho đời sau, Bác Hồ luôn nhấn mạnh: Cán bộ cấp Trung ương về địa phương làm việc, đó là trách nhiệm. Các địa phương cứ chăng đèn, kết hoa, hô khẩu hiệu sẽ khiến cho buổi làm việc trở nên lễ nghi, nặng tính hình thức, vừa tốn kém, vừa khiến lãnh đạo thêm xa dân. Quan liêu, xa rời thực tế là căn bệnh nguy hại nhất đối với cán bộ, nhất là cán bộ cấp Trung ương. Thực tế đã có rất nhiều bài học về việc cấp trực thuộc Trung ương báo cáo một đằng, làm một nẻo khiến lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước đánh giá không sát tình hình, đưa ra quyết sách không phù hợp, gây hậu quả xấu. Chẳng hạn như chuyện những vấn đề tiêu cực ở Thái Bình trước đây: Cấp cơ sở có vấn đề, cấp huyện, cấp tỉnh “nhùng nhằng” mãi không giải quyết được nhưng ngay cả khi có cán bộ cấp Trung ương về kiểm tra, tỉnh vẫn không báo cáo đầy đủ, thực chất vấn đề khiến những vụ việc nhỏ kéo dài, thành ra chuyện lớn.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong cách gặp gỡ nhân dân, khắc phục tình trạng “nhiệt liệt chào mừng” hiện nay, không chỉ là trách nhiệm của địa phương mà còn của chính các đồng chí lãnh đạo cấp cao. Thứ nhất, khi thấy địa phương phô trương, hình thức thì tự đồng chí đó phải chấn chỉnh, góp ý cho địa phương ngay. Thứ hai, trong điều kiện truyền thông phát triển như hiện nay, Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư cần có quy định về việc cán bộ cấp cao phải trực tiếp đi gặp dân, nghe dân phản ánh bao nhiêu buổi; buổi nào cho phép báo chí đi theo tuyên truyền, buổi nào phải hạn chế tối đa số lượng người đi theo… Ngay như việc ăn uống, sinh hoạt khi đi thăm, làm việc với địa phương cũng vậy, cần quy định rõ hoàn cảnh nào cán bộ phải tự túc, hoàn cảnh nào thì gặp gỡ, ăn uống, sinh hoạt thân mật với địa phương, cấp dưới… Nghiêm khắc với cán bộ cấp cao như vậy thì địa phương, cấp dưới mới có cơ sở thực hiện. Hiệu quả của những quy định như vậy sẽ rất lớn.

Khắc phục được bệnh phô trương, hình thức sẽ góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ – một công việc cấp bách hàng đầu mà Nghị quyết Trung ương 4 đã chỉ ra./.

HỒNG HẢI

qdnd.vn

Tư tưởng độc lập tự do với chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh

Việt Nam là một quốc gia dân tộc có một nền văn hóa đặc sắc đ­ược hình thành và phát triển trên một nghìn năm lịch sử. Dân Việt Nam có tinh thần cố kết, đùm bọc lẫn nhau, đoàn kết chặt chẽ thành một khối thống nhất ngày càng bền vững, có ý chí độc lập và khát vọng tự do, có ý thức về chủ quyền, thống nhất đất nư­ớc.

Độc lập tự do là quyền vô cùng thiêng liêng của dân tộc Việt Nam. Chủ nghĩa dân tộc, ý chí độc lập, tự do là dòng chủ l­ưu xuyên suốt của lịch sử, là nền tảng tinh thần của sự trư­ờng tồn và phát triển, là động lực vô địch của Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là sức mạnh để chiến đấu đánh bại quân xâm l­ược ngoại bang.  Nghiên cứu tiến trình lịch sử Việt Nam, Hồ Chí Minh đã viết: nhờ ý chí độc lập và lòng khát khao tự do hơn là nhờ quân đông sức mạnh, n­ước Nam đã thắng” quân phong kiến Trung Quốc đến xâm l­ược nước ta. Từ lịch sử Việt Nam và thế giới, Ng­ười đã nêu một luận điểm về quyền thiêng liêng nhất của các n­ước trên thế giới rằng: “Tự do độc lập là quyền trời cho của mỗi dân tộc…Hễ một dân tộc đã đứng lên kiên quyết tranh đấu cho Tổ quốc họ thì không ai, không lực l­ượng gì chiến thắng đư­ợc họ”.

Từ giữa thế kỷ XIX, nư­ớc ta bị thực dân Pháp xâm lược và thống trị. Việt Nam từ một n­ước độc lập đã biến thành một n­ước thuộc địa. Mâu thuẫn giai cấp của xã hội Việt Nam có sự chuyển biến lớn. Sự xung đột về quyền lợi giai cấp trong nội bộ dân tộc vốn không diễn ra giống như­ các n­ước phương Tây. Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp trở thành mâu thuẫn chủ yếu và diễn ra ngày càng gay gắt. Dựa trên động lực của chủ nghĩa dân tộc truyền thống, nhân dân Việt Nam đã liên tiếp nổi dậy đấu tranh, song vì thiếu một định hư­ớng chiến l­ược cách mạng khoa học phù hợp với yêu cầu phát triển mới của dân tộc nên ch­a thể thành công. Trong bối cảnh lịch sử đó, ng­ười thanh niên yêu nư­ớc và cấp tiến Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh đã dấn thân trên các nẻo đường của thế giới để khảo sát, học hỏi, suy ngẫm về con đư­ờng cứu n­ước, giải phóng dân tộc phù hợp với điều kiện đất nư­ớc lịch sử và con ng­ời Việt Nam.

Bằng thiên tài trí tuệ, với phẩm chất, nhân cách và bằng hoạt động thực tiễn của mình, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, kế thừa và nâng lên tầm cao mới của thời đại nguồn giá trị văn hóa tư­ tư­ởng truyền thống, trong đó chủ nghĩa dân tộc chân chính, sự cố kết dân tộc, ý chí độc lập tự do là dòng chủ lư­u xuyên suốt lịch sử Việt Nam để kết hợp, tiếp biến và tổng hòa, phát triển biện chứng tinh hoa văn hóa ph­ơng Đông và tư­ tư­ởng các cuộc cách mạng ở châu âu, ở Mỹ thế kỷ XVII, XVIII, đặc biệt là học thuyết cách mạng của C.Mác, V.I.Lênin, để đề ra một hệ tư­ tư­ởng cách mạng toàn diện sáng tạo mang tầm vóc một học thuyết cách mạng khoa học về giải phóng và phát triển dân tộc vì độc lập, tự do.

Cùng với việc xây dựng lý luận cách mạng, Hồ Chí Minh đã tổ chức đào tạo những chiến sĩ tiên phong cách mạng, truyền bá lý luận giải phóng dân tộc vào Việt Nam và tổ chức nhân dân.

Học thuyết cách mạng giải phóng và phát triển dân tộc của Hồ Chí Minh đ­ược truyền vào Việt Nam đã đáp ứng khát vọng thiêng liêng và nóng bỏng của nhân dân Việt Nam, trư­ớc hết là tầng lớp học sinh, sinh viên, trí thức yêu nư­ớc và cấp tiến. Họ đã dấn thân đi vào quần chúng để tuyên truyền, vận động, tổ chức họ đấu tranh, làm dấy lên trong cả n­ước một phong trào dân tộc dân chủ ngày càng mạnh mẽ. Điều đó phản ánh khá rõ sự tr­ưởng thành về chính trị, ý thức giác ngộ của phong trào quần chúng. Nhu cầu lập “Đảng cách mệnh” đã chín muồi, đ­a đến sự ra đời của các Đảng Cộng sản ở Việt Nam vào mùa Thu năm 1929.

Thực hiện trọng trách lịch sử của mình đối với dân tộc và là phái viên của Quốc tế Cộng sản có đầy đủ quyền trực tiếp quyết định mọi vấn đề liên quan đến phong trào cách mạng ở Đông D­ương, Hồ Chí Minh đã triệu tập đại biểu của An Nam Cộng sản Đảng và Đông D­ương Cộng sản Đảng họp từ ngày 6-1-1930 tại Cửu Long, Hồng Kông để hợp nhất thành một đảng thống nhất.

Không chỉ bằng uy tín của một ng­ười mở đ­ường xây dựng học thuyết cách mạng và với tư­ cách phái viên của Quốc tế Cộng sản, mà còn bằng thái độ chân thành và sức thuyết phục lớn, Hồ Chí Minh đã chỉ cho đại diện của hai đảng rõ về những sai lầm của họ và những việc họ phải thực hiện đã đ­a đến sự đồng thuận, thống nhất cả hai đảng thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị đã nhất trí thông qua Chính cư­ơng vắn tắt, Sách lư­ợc vắn tắt – đó là C­ương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng và các văn kiện quan trọng khác. Hồ Chí Minh cũng đã quyết định phải tổ chức một Ban Chấp hành Trung ­ương lâm thời.

Do chư­a có thông tin về sự ra đời của Đông D­ương Cộng sản Liên đoàn nên Hồ Chí Minh không mời đại diện của Đảng này đến dự hội nghị hợp nhất. Vì vậy, theo yêu cầu của Đông D­ương Cộng sản Liên đoàn, ngày 24-2-1930 Đảng này đã đư­ợc hợp nhất vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự hợp nhất cả ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam đã hoàn tất.

Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp học thuyết cách mạng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác-lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu n­ước Việt Nam trong những năm 20 của thế kỷ XX. Đây là một đặc trư­ng của sự hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời thông qua thử thách sàng lọc, chọn lựa lịch sử, là sự hiện thực hóa trong cuộc đấu tranh của dân tộc theo “con đư­ờng cách mệnh” của Hồ Chí Minh.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã tạo ra một b­ước ngoặt trên con đường phát triển của cách mạng Việt Nam. Cư­ơng lĩnh cách mạng của Đảng do Hồ Chí Minh soạn thảo đư­ợc Hội nghị hợp nhất Đảng nhất trí thông qua đã đề ra chủ trương chiến lư­ợc t­ư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản; phải huy động sức mạnh của các giai cấp, tầng lớp xã hội gồm công nhân, nông dân, liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, trung tiểu địa chủ và t­ư sản bản xứ nhằm thực hiện nhiệm vụ đánh đuổi chủ nghĩa đế quốc Pháp và phong kiến làm cho nư­ớc Việt Nam đ­ược độc lập, tự do.

Cư­ơng lĩnh đầu tiên của Đảng đã kết hợp biện chứng yếu tố dân tộc và giai cấp trong đó nổi bật lên như­ một điểm son sáng chói là yếu tố dân tộc, tư­ tưởng độc lập, tự do. Đó là yếu tố chủ yếu quyết định tính độc đáo về t­ư tư­ởng và chủ trư­ơng chiến lư­ợc của Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam chứ không phải là điều “sai lầm chánh trị rất lớn và rất nguy hiểm cho cách mạng”!(3) . Giương cao ngọn cờ độc lập tự do là cơ sở t­ư tư­ởng chính trị, động lực lớn để thực hiện chiến lư­ợc đại đoàn kết dân tộc, thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất một trong những nhân tố cơ bản quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Ngay tại Hội nghị thống nhất Đảng, Hồ Chí Minh đã quyết định, sau khi thành lập Ban Chấp hành Trung ư­ơng lâm thời, ngoài công tác hàng ngày, phải tổ chức ngay Hội phản đế– tức là mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc.

Ban Chấp hành Trung ương ch­ưa kịp thành lập Hội phản đế để tập hợp và tổ chức quần chúng đấu tranh, song với ngọn cờ độc lập tự do của Hồ Chí Minh, ngay từ năm 1930 phong trào cách mạng có tính quần chúng rộng rãi đã nổ ra ở nhiều địa phư­ơng, tiêu biểu là các địa ph­ương có phong trào lên đến đỉnh cao nh­ư ở Nghệ An, Hà Tĩnh. Ở hai tỉnh này đã phát huy được sức mạnh đoàn kết dân tộc, không chỉ có công nông, mà còn có các tầng lớp trí thức, một số sĩ phu, phú nông, trung tiểu địa chủ và một số quan lại nhỏ ở nông thôn cũng tham gia hoặc ủng hộ phong trào. Ngay cả khi phong trào cách mạng bị thực dân Pháp và tay sai khủng bố, đàn áp dã man, các tầng lớp từ trí thức, trung tiểu địa chủ có xu hướng cách mạng cũng vẫn kính phục Đảng Cộng sản, phong trào công nông và âm thầm ủng hộ cách mạng (4).

Tư­ tư­ởng độc lập tự do của Hồ Chí Minh ngày càng thấm đ­ợm trong đường lối, chủ tr­ương, chính sách và tổ chức của Đảng – nhất là từ sau khi Ngư­ời về nước trực tiếp lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.

Từ thực tiễn phong trào cách mạng những năm 1930- 1935 và sau sự chuyển hư­ớng chính trị của Đại hội lần thứ bảy của Quốc tế Cộng sản, Ban Chấp hành Trung ­ương Đảng đã có nhận thức ngày càng đúng hơn quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc và giai cấp, giữa vấn đề chống đế quốc và chống phong kiến, trong đó vấn đề dân tộc là vấn đề chủ yếu xuyên suốt lịch sử của Việt Nam. Văn kiện Chung quanh vấn đề chiến sách mới của Đảng công bố tháng 10-1936 đã nêu rõ: “Đông D­ương là xứ thuộc địa…, nhiệm vụ của Đảng Cộng sản ở đó không những phải thâu phục đa số thợ thuyền, mà còn cần phải thâu phục quảng lại quần chúng nông dân và tiểu tư­ sản ở thành thi. Đồng thời trong lúc lập mặt trận rộng rãi chúng ta lại phải thâu phục hết các lớp trong nhân dân” (5). Đảng Cộng sản Đông D­ương, những chiến sĩ cộng sản của Đảng chính là con cháu của các dân tộc ở Đông Dương phải bênh vực anh em đồng bào bị áp bức, chiến đấu với khẩu hiệu tất cả vì Tổ quốc, Đảng phải là “Đảng của dân chúng bị áp bức, đội tiên phong cho cuộc dân tộc giải phóng” (6).

Từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Pháp – Nhật cấu kết với nhau, nhân dân các dân tộc Đông D­ương sống trong nỗi nhục một cổ hai tròng áp bức, càng làm cho mâu thuẫn giữa các dân tộc ở Đông Dư­ơng với Pháp – Nhật trở nên sâu sắc và gay gắt hơn bao giờ hết. Lúc này, Nhân dân Việt Nam “… ai cũng chán ghét cuộc đời nô lệ, ai cũng muốn độc lập, tự do, và đang trong t­ư thế một ng­ười lên tiếng vạn ng­ời ủng hộ” (7).

Giữa lúc đó, tháng 5- 1941 , Hội nghị lần thứ tám, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp do Hồ Chí Minh chủ trì đã quyết định thay đổi chiến lư­ợc cách mạng giải phóng dân tộc, thực hiện nhiệm vụ cần kíp là đánh đuổi Pháp và Nhật, giành lại quyền độc lập, tự do. Để làm tròn nhiệm vụ thiên liêng đó đối với đất nước phải thực hiện đại đoàn kết dân tộc trong một mặt trận có tính chất dân tộc rộng rãi hơn với tên gọi là Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh. Sau khi đánh đuổi đư­ợc Pháp – Nhật sẽ thành lập một nhá nư­ớc dân chủ mới theo thể chế dân chủ cộng hòa, là một nhà nư­ớc chung của toàn dân tộc chứ không phải của riêng một đảng phái, của một giai cấp nào cả. Chính phủ nư­ớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lấy lá cờ đỏ ngôi sao vàng năm cánh làm cờ của toàn quốc. Chính phủ ấy do Quốc dân đại hội cử ra.

Ngày 2 5- 1 0- 194 1 , Việt Nam độc lập đồng minh – Việt Minh tuyên bố ra đời. “Việt Minh chủ trư­ơng liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau m­ưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn” (8).

Bản Ch­ương trình cứu n­ước của Việt Minh gồm 44 chính sách lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và những chính sách cụ thể đối với các tầng lớp nhân dân cốt để thực hiện hai điều mà toàn thể đồng bào trong cả nư­ớc mong ước là:

1 – Làm cho n­ước Việt Nam đ­ược hoàn toàn độc lập;

2 – Làm cho dân Việt Nam được sung sư­ớng, tự do.

Sự thay đổi chiến lư­ợc cách mạng t­ư sản dân quyền thành chiến lư­ợc cách mạng giải phóng dân tộc, vì độc lập tự do là một chủ trư­ơng đúng đắn, sáng tạo của Hồ Chí Minh. Đó là cơ sở chính trì để thành lập Việt Minh, một mặt trận đại đoàn kết dân tộc tiêu biểu, hoàn chỉnh về chính trị và tổ chức, trên đ­ờng hình thành và phát triển Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam. Hồ Chí Minh là Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Mặt trận, là hiện thân của khối đại đoàn kết dân tộc.

Sự ra đời và hoạt động của Việt Minh đã động viên và tập hợp đ­ược sức mạnh của dân tộc trong toàn quốc đứng lên đánh Pháp, đuổi Nhật, xóa bỏ bộ máy của Nhật bằng cuộc khởi nghĩa dân tộc tháng 8- 1945, thành lập Chính phủ lâm thời nư­ớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Đây là một điển hình thành công về chiến lư­ợc, ph­ương thức và nghệ thuật khởi nghĩa dân tộc, đ­ưa t­ư t­ưởng độc lập tự do của Hồ Chí Minh thành hiện thực của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Ở Việt Nam.

Vào giữa tháng 8-1945, thời cơ khởi nghĩa đã chín muồi. Cơ hội ngàn năm có một của dân tộc đã đến. Theo quyết định của Đảng và Tổng bộ Việt Minh, và Quốc dân đại hội mang tính chất và tầm vóc lịch sử một tổ chức tiền thân của Quốc hội nư­ớc Việt Nam dân chủ mới – Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nhất trí quyết tâm đem sức mạnh của toàn dân tộc để chuyển xoay vận n­ước bằng cuộc khởi nghĩa dân tộc, xóa bỏ bộ máy thống trị của Nhật, thành lập chính quyền cách mạng của toàn dân Việt Nam.

Cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 là sự vùng dậy mãnh liệt với một tinh thần dũng cảm của khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam trong cả nư­ớc. Lực l­ượng quần chúng đư­ợc tổ chức từ trư­ớc hoặc mới đ­ược tham gia vào tổ chức Cứu quốc ngay trong đêm tr­ớc cuộc khởi nghĩa và cả đông đảo quần chúng chư­a tham gia vào tổ chức Việt Minh, theo mệnh lệnh của trái tim yêu nước, lòng khát khao độc lập tự do đã xuống đư­ờng đồng hành với khối quần chúng đấu tranh giành chính quyền. Ngay cả Bảo Đại cũng đã ra tuyên cáo thoái vị, để Chính phủ Dân chủ Cộng hòa thực hiện quyền điều khiển quốc dân Việt Nam và từ nay đ­ược làm dân tự do của một n­ước độc lập. Việc Bảo Đại thoái vị và 8 ngày sau lễ tuyên bố độc lập, Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 23/SL (10-9- 1945 ) cử làm Cố vấn Chính phủ lâm thời là một sự kiện có ý nghĩa về cả tinh thần và tính “hợp pháp hóa” truyền thống đã đư­ợc thừa nhận trên thế giới.

Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời nư­ớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – đại biểu cho toàn dân Việt Nam, long trọng công bố Bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân đồng bào và thế giới rằng: “N­ước Việt Nam có quyền h­ưởng tự do và độc lập, và thực sự đã thành một n­ước tự do độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” (9)

Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam phát triển đến đỉnh cao thắng lợi bằng cuộc khởi nghĩa dân tộc tháng 8-1945. Chính phủ n­ước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Chính phủ đại diện cho toàn dân Việt Nam chứ không phải của riêng thuộc về một đảng phái hoặc một giai cấp nào khác. Nghị quyết của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hanh Trung ­ương Đảng do Hồ Chí Minh đã chỉ rõ như­ vậy để chỉ đạo cho toàn dân đấu tranh giải phóng dân tộc.

Khởi nghĩa dân tộc hay chiến tranh giải phóng dân tộc là phư­ơng thức đấu tranh cơ bản của nhân dân các n­ước thuộc địa để giành lại quyền độc lập của dân tộc. V.I.Lênin đã từng đề cập đến những lò lửa khởi nghĩa dân tộc xuất hiện gắn liền với cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa đế quốc, đã bùng cháy ở các thuộc địa, ở cả châu Âu và “đã có những mư­u đồ khởi nghĩa ở An-nam thuộc Pháp” (10). Cũng theo V.I.Lênin, khởi nghĩa dân tộc là: “một cuộc khởi nghĩa nhằm thiết lập quyền độc lập chinh trị của dân tộc bị áp bức, nghĩa là nhằm tạo ra một quốc gia dân tộc riêng biệt” (11). Và cần thấy rằng: “cuộc khởi nghĩa dân tộc cũnglà “bảo vệ Tổ quốc!”. Như­ng ai chịu khó suy nghĩ một chút thì cũng đều nhận thấy đúng nh­ư thế, vì bất cứ “một dân tộc nào nổi dậy” cũng tự “bảo vệ” chống lại dân tộc đi áp bức, bảo vệ ngôn ngữ của mình, đất đai của mình, Tổ quốc của mình. Bất cứ một sự áp bức dân tộc nào cũng gây ra sự phản kháng trong quảng đại quần chúng, và xu h­ướng của bất cứ một sự phản kháng nào của dân c­ư bị áp bức về mặt dân tộc cũng là khởi nghĩa dân tộc” (12) .

Cuộc khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 là một điển hình thành công về nghệ thuật khởi nghĩa dân tộc, phản ánh rõ tiềm năng sáng tạo của Đảng, của dân tộc mà trư­ớc hết là của Hồ Chí Minh, Ng­ười đã vạch ra một hệ t­ư tưởng cách mạng Việt Nam mang tầm vóc một học thuyết giải phóng và phát triển dân tộc vì độc lập tự do. Trên cơ sở học thuyết đó, Ngư­ời đã lãnh đạo Đảng vạch ra đ­ường lối chính trị, tổ chức lực l­ượng của dân tộc theo chiến l­ược đại đoàn kết dân tộc, thực hiện ph­ương thức khởi nghĩa sáng tạo, đã dẫn đến thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng, đánh đuổi đ­ược Pháp – Nhật, giành lại quyền làm chủ đất n­ước, và nguồn giá trị văn hóa hơn ngàn năm lịch sử.

Cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một điển hình thành công về sự thức tỉnh ý thức dân tộc vì độc lập, tự do, về sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc. Ngày 6-10- 1945 , khi nói chuyện với đại biểu các báo chí về nội trị, ngoại giao nhà n­ước, Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Có một điều chúng ta đáng mừng là cách mạng Việt Nam đã có một ưu điểm so với cách mạng các n­ước Nga, Tàu, Pháp. Cách mạng ở đâu thành công cũng phải đổ máu nhiều. Có nư­ớc phải chặt đầu vua. Có nước đồng bào chia đảng phái, chém giết nhau liên tiếp trong bao nhiêu năm. Nư­ớc ta, vua tự thoái vị, các đảng phái không có mấy. Trong một thời gian ngắn, các giai cấp đoàn kết thành một khối, muôn dân đoàn kết để m­ưu hạnh phúc chung là n­ước được hoàn toàn độc lập và chống được giặc xâm lăng, đuổi bọn thực dân tham ác ra ngoài bờ cõi” (13). Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên n­ước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đư­a Đảng ta từ một đảng hoạt động bí mật bất hợp pháp trở thành một đảng cầm quyền trong cả nư­ớc là một minh chứng về giá trị sáng tạo của học thuyết giải phóng và phát triển vì độc lập tự do và chiến l­ược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh.

Gi­ương cao ngọn cờ độc lập tự do, phát huy mạnh mẽ động lực dân tộc, thực hiện chiến l­ược: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”, lấy khối liên minh công nông và trí thức làm cơ sở, đoàn kết chân thành với mọi lực l­ượng yêu nư­ớc và tiến bộ của dân tộc trong cuộc Cách mạng Tháng Tám đư­ợc Hồ Chí Minh và Đảng tiếp tục phát triển trong điều kiện mới đã đ­ưa đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (l945 – 1954) và kháng chiến chồng Mỹ ( 1954- 1975), hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất đất n­ước.

PGS Lê Mậu Hãn (*)

(*) Bài tham luận tại Hội thảo “Đảng Cộng sản Việt Nam- 80 năm xây dựng và phát triển” do Học viện Chính trị- Hành chính quốc ra tổ chức ngày 26/1/2010, nhân dịp kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930- 3/2/2010).

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H 2002, t1, tr 80
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H 2002, t5, tr 7
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia. H. 1998, t2, tr 236
(4) Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia. H. 1998, t2, tr229
(5), (6) Đảng Cộng sản Việt Nam: văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia. H. 2005, t5, tr155, 150
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H 2002, t3, tr 174
(8) Đảng Cộng sản Việt Nam: văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia. H. 2000, t7, tr 461
(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H 2002, t4, tr 4
(10), (11), (12) V.I.Lênin: toàn tập, Nxb,. Tiến bộ, M. 1981, t30, tr67, 150, 147
(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H 2002, t4, tr 43-44

tuyengiao.vn

“Cuộc chiến đấu khổng lồ” sau ngày thống nhất

Hồ Chủ tịch gọi công cuộc tái thiết đất nước sau chiến tranh là “cuộc chiến đấu khổng lồ” và “việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”!

Tư tưởng đổi mới của Đảng mở đường cho những thành quả to lớn trong xây dựng, phát triển đất nước.Trong ảnh: Hai cựu chiến binh ở quận 1, TP.HCM tự hào ngắm nhìn sự phát triển của TP.HCM qua triển lãm ảnh “40 năm son sắt lời thề” tại Công trường Lam Sơn. Ảnh: HTD

“Tại sao Bác lại “trước tiên nói về Đảng”? Mỗi câu chữ trong Di chúc, Bác cân nhắc rất kỹ, vì vậy khi đặt bút viết như thế thì có nghĩa vấn đề đó là nỗi quan tâm, trăn trở lớn nhất cuối đời Hồ Chủ tịch”. PGS-TS Nguyễn Trọng Phúc (ảnh), Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Lịch sử Đảng, nói trong cuộc trò chuyện về 40 năm thực hiện Di chúc Hồ Chủ tịch.

Không nên rập khuôn theo nước ngoài

* Nói về công việc tái thiết đất nước sau cuộc kháng chiến chống Mỹ, Bác hai lần nhắc đến chữ “to lớn”, “phức tạp” và Bác gọi nó là “cuộc chiến đấu khổng lồ”. Ông bình luận gì về nội dung này trong Di chúc?

PGS-TS Nguyễn Trọng Phúc

– PGS-TS Nguyễn Trọng Phúc: Quả thật đó là vấn đề rất lớn lao và phức tạp, được Bác nhìn thấy từ trước. Chúng ta xây dựng CNXH chưa có tiền lệ mà lại rập khuôn mô hình Xô-viết. Ta cũng có nhiều khuyết điểm như duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, các chính sách, chỉ tiêu kinh tế đặt ra chưa phù hợp… Quan trọng là tư duy đổi mới chậm thành ra phát triển kinh tế của mình không những khó khăn mà từ năm 1979 bị lâm vào khủng hoảng (lạm phát, giá cả tăng, hàng hóa thiếu, đời sống nhân dân khó khăn…).

Thật may là Đảng ta đã sớm nhận ra và đến Đại hội VI (1986) thì định ra đường lối đổi mới. Đấy tôi muốn nói là xây dựng đất nước phải từ đường lối chứ đường lối sai là gay go. Trước đó, Bác cũng đã nói phải tổng kết kinh nghiệm của mình chứ không nên rập khuôn theo nước ngoài. Phải tìm ra quy luật riêng của cách mạng Việt Nam. Tôi cho rằng tư tưởng đổi mới đến nay đã đạt được những thành quả to lớn, là thực hiện đúng Di chúc Bác Hồ.

* Để khủng hoảng xảy ra, có nguyên nhân khách quan và chủ quan. Không ít người nhìn nhận rằng một trong những yếu tố chủ quan là sau cuộc kháng chiến rất vĩ đại, chúng ta đã quá kiêu hãnh nên sinh ra tư tưởng chủ quan, duy ý chí. Ông nghĩ sao?

– Đúng. Bây giờ chúng ta kết luận là đất nước bước vào khủng hoảng từ 1979, đến năm 1996 mới bước ra khỏi khủng hoảng. Nguyên nhân: Về khách quan thì trước hết là hậu quả của 30 năm chiến tranh rất nặng nề mà lúc đầu mình chưa hình dung hết. Khi kết thúc chiến tranh, mình phấn khởi lắm, lúc đầu cứ tưởng sẽ tiến rất nhanh. Nhưng dần dần những hậu quả về kinh tế, xã hội, nhận thức, tư tưởng… mới bộc lộ hết ra. Hai là sự bao vây, cấm vận của Mỹ. Ba là các cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam, phía Bắc.

Nhưng trong các loại nguyên nhân, sau này Đảng ta vẫn nhận định chủ quan là chính. Đó là trong đường lối chính sách chúng ta duy trì quá lâu cơ chế cũ không còn phù hợp. Rồi trong tư duy, nhận thức, lý luận lại mắc bệnh chủ quan, duy ý chí, nóng vội. Có cái thì nóng vội, có cái thì trì trệ. Trì trệ trong việc sửa đổi cơ chế, cách thức quản lý nhưng nóng vội trong cải tạo XHCN, muốn quốc doanh, tập thể nhanh, trái với quy luật khách quan.

Năm 1947, Bác đã dùng từ “chỉnh đốn Đảng”

* Nói về tái thiết đất nước sau chiến tranh, Người đề cập “việc trước tiên cần phải làm là chỉnh đốn lại Đảng”. Như vậy, Người coi chỉnh đốn Đảng là tiền đề để phát triển đất nước?

– Đúng thế. Đường lối của Đảng mà sai thì đất nước làm sao phát triển được. Chỉ mới một chặng mà trục trặc một chút thì đất nước đã lâm vào khủng hoảng rồi…

* Thưa, toàn văn Di chúc được công bố năm 1989 bởi Bộ Chính trị Ban Chấp hành TƯ khóa VI, lúc đó mới có đoạn nói về “chỉnh đốn Đảng” và đến năm 1992 thì từ “chỉnh đốn” mới chính thức được viết trong một văn kiện của Đảng. Phải chăng nhận thức của Đảng về vấn đề này chậm hơn so với mong muốn của Bác?

– Thực ra xây dựng Đảng là công việc thường xuyên và trước đổi mới cũng có nhiều nghị quyết về xây dựng Đảng. Từ năm 1974, Nghị quyết TƯ 23 khóa III đã nêu rất cụ thể về vấn đề này tuy không dùng từ “chỉnh đốn”.

Nhân đây tôi cũng phải nói từ ngữ một chút là khi dùng từ “xây dựng” thì người ta thấy bình thường hơn. Nhưng dùng chữ “chỉnh đốn” thì lại nghĩ rằng chắc có chuyện gì mới phải “chỉnh đốn”.

* Nhưng Bác đã dùng từ “chỉnh đốn”…

– Đúng vậy. Trước đây mình cứ ngại về câu chữ, cứ sợ người ngoài không hiểu. Thực ra từ năm 1947, trong tác phẩm Sửa đổi lề lối làm việc Bác dùng từ này rồi. Bác còn nói rằng chỉnh đốn sẽ làm cho Đảng đúng đắn, trong sạch, không chệch choạc…

Đến năm 1992, Đảng ta mới dùng từ “đổi mới và chỉnh đốn”. Nhưng sau này có lúc lại ngại từ “đổi mới” nên có giai đoạn lại dùng từ “xây dựng và chỉnh đốn”. Sau đó đến Đại hội X lại dùng từ “đổi mới”. Đó là cả một quá trình nhận thức.

* Và đổi mới là đúng!

– Phải đổi mới Đảng từ công tác tổ chức, cán bộ, công tác lý luận, cả cương lĩnh, đường lối.

“Chưa đạt yêu cầu”

* Nhiều người rất băn khoăn về sự thoái hóa, biến chất trong nội bộ Đảng dường như ngày càng gia tăng, các văn kiện của Đảng cũng cho thấy rằng trước đây là “một bộ phận đảng viên” đến “một bộ phận không nhỏ”, từ “thoái hóa, biến chất” đến “trầm trọng”, thậm chí là “sống còn đối với sự tồn vong của chế độ”… Phải chăng việc chỉnh đốn Đảng chưa làm được như ý nguyện của Bác Hồ?

– Như trên tôi đã nói là Đảng ta đã rất cố gắng. Nhưng nếu chỉ cố gắng theo kiểu hạ quyết tâm thôi thì chưa đủ. Và cần phải có những giải pháp mạnh mẽ hơn thì mới có hiệu quả hơn.

Vậy nên vừa rồi Đảng ta mới quan tâm đến mấy vấn đề thế này: Một là về lý luận được coi trọng, đặc biệt là lý luận về con đường đi lên CNXH thế nào thì bây giờ nhận thức rõ hơn. Đấy chính là chỉnh đốn chứ nếu lý luận mà sai, mà thấp kém thì cách mạng chệch choạc ngay. Hai là chú ý đến cương lĩnh, năm 1992 đã có cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH.

Sắp tới, Đại hội XI sẽ bổ sung cương lĩnh. Thứ ba là thể chế hóa đường lối của Đảng thành pháp luật, chính sách của nhà nước pháp quyền. Đấy cũng là nội dung cầm quyền của Đảng. Thứ tư là xây dựng cơ cấu, tổ chức của Đảng, như vừa rồi Hội nghị TƯ 4, khóa X đã sắp xếp gọn lại bộ máy của Đảng. Như vậy, về khoa học tổ chức đã có bước tiến. Cạnh đó là công tác cán bộ: đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng, luân chuyển… làm bài bản hơn, bước đầu dân chủ hóa công tác này. Tiếp đó là vấn đề đạo đức.

Rất cố gắng như vậy nhưng Đại hội X cũng khẳng định là “chưa đạt yêu cầu”. Tôi tin sắp tới đại hội Đảng các cấp thì mình sẽ có thêm kinh nghiệm mới, khí thế mới.

Đổi mới chính trị là xây dựng nhà nước pháp quyền

* Khi bắt đầu đổi mới, chúng ta khẳng định lấy đổi mới kinh tế làm trung tâm và trước tiên. Sau một quãng thời gian khá dài đổi mới kinh tế và thu được những thành quả nhất định, có nhiều người cho rằng kinh tế vẫn cần phải đổi mới hơn nữa và cùng với đó là đổi mới chính trị. Đã đến lúc chúng ta mạnh dạn nói đến “đổi mới chính trị” và cần phải làm như thế nào, thưa ông?

– Đổi mới kinh tế và chính trị có quan hệ mật thiết với nhau. Nếu anh chỉ nói đổi mới kinh tế mà không nói đổi mới chính trị thì không đúng. Mà xét cho đến cùng là phải đổi mới chính trị. Phải từ sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước như thế nào thì nó mới ra các chính sách kinh tế được chứ. Có phải tự nhiên mà có đổi mới kinh tế đâu.

Theo tôi, đổi mới về hệ thống chính trị thì có đổi mới lãnh đạo của Đảng, đổi mới nhà nước mà hay nhất là xây dựng nhà nước pháp quyền. Vấn đề này Bác Hồ đã đề cập đến từ năm 1918 khi tìm đường cứu nước. Đến sau Cách mạng Tháng Tám, nhất là Hiến pháp 1946 thể hiện rõ tinh thần nhà nước pháp quyền…

Tôi nghĩ, thực sự đổi mới thì phải quản lý đất nước bằng pháp luật chứ không phải bằng mệnh lệnh và đạo lý.

LÊ KIÊN thực hiện
Theo Pháp Luật TP.HCM

tuoitre.vn

Điện mừng sinh nhật Tổng thống nước Cộng hoà Cuba (16-4-1969)

Kính gửi đồng chí Ôxvanđô Đoócticốt Tôrađô,Tổng thống nướcCộng hoà Cuba, La Havan.

Nhân dịp mừng lần thứ 50 ngày sinh của đồng chí, thay mặt nhân dân Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhân danh cá nhân, tôi xin gửi đến đồng chí lời chúc mừng thân ái và nhiệt liệt nhất.

Tôi chân thành chúc đồng chí dồi dào sức khoẻ để cùng với các đông chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước Cuba hoàn thành thắng lợi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh chống mọi âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ, bảo vệ nền độc lập và chủ quyền dân tộc của nước Cuba xã hội chủ nghĩa.

Chúc tình đoàn kết chiến đấu và sự hợp tác anh em giữa hai nước chúng ta ngày càng củng cố và phát triển.

Hà Nội, ngày 16 tháng 4 nǎm 1969
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Hồ Chí Minh

———————–

Báo Nhân dân, số 5482, ngày 17-4-1969.
cpv.org.vn

Phải thật lòng thương yêu đồng bào

Bác Hồ với nhân dân ở chiến khu Việt Bắc

TTCT – Khi mới giành được chính quyền về tay nhân dân, Đảng và Chính phủ phát động phong trào toàn dân tham gia diệt giặc đói. Hũ gạo tình thương (hũ gạo cứu đói) ra đời và được mọi gia đình hưởng ứng; khi chuẩn bị bữa ăn, trước khi cho gạo vào nồi nấu, người nấu tự bốc bớt một phần gạo cho vào hũ. Gạo trong hũ được định kỳ gửi đến chính quyền cách mạng để ủng hộ (cứu đói) những người dân thiếu đói.

Bác cũng tự nguyện thực hiện bằng việc mỗi tuần Bác báo cho bộ phận hậu cần cắt khẩu phần ăn không nấu, để Bác nhịn ăn một bữa, Bác thực hiện rất đều đặn và thường nhịn ăn vào bữa trưa. Biết chuyện, nhiều đồng chí Trung ương khuyên Bác làm như vậy ảnh hưởng đến sức khỏe, Bác cười hiền hậu nói: “Mình có đói mới hiểu nỗi khổ của người đói” và Bác kiên quyết thực hiện. Tiêu chuẩn khẩu phần ấy hằng tháng được chuyển đến cơ sở cứu đói của địa phương.

Năm 1946, khi dẫn đầu đoàn Chính phủ của ta sang Pháp đàm phán, biết người dân Pháp cũng còn rất nhiều người đói khổ, kể cả những nhân viên phục vụ nhà hàng cũng gom nhặt đồ ăn thừa của thực khách. Đoàn ta được đón tiếp và chiêu đãi trọng thị, đến bữa ăn Bác nhắc các thành viên trong đoàn: Ăn món nào thì ăn cho hết, thấy ăn không hết thì nên để lại nguyên món ăn đó, để cho người đói như thế cũng là một cách tự tôn trọng mình. Biết được thành tâm của Bác, không chỉ cán bộ trong đoàn ta xúc động mà các nhân viên phục vụ của Pháp rất cảm kích. Những việc như trên chính là đạo đức cách mạng, Bác luôn làm gương tiêu biểu nhất.

Đất nước ta trong những năm qua đã cơ bản giúp người dân xóa được nạn đói, giảm bớt nghèo, đây là thành tựu của toàn Đảng, toàn dân ta, các nước nghèo khác đang phải học tập cách làm của ta. Tuy nhiên người dân ta còn nghèo, nhiều gia đình còn rất khó khăn, rất cần những tấm lòng thương yêu, chia sẻ của những người có cuộc sống đầy đủ. Dân tộc ta có câu ngạn ngữ “Miếng khi đói bằng gói khi no”, sự giúp đỡ, ủng hộ dành cho người nghèo rất đáng trân trọng ghi nhận, nhưng phải thật lòng, không nên mang tính bố thí. Đồng thời với thực hành tiết kiệm, phải cùng chống lãng phí, chống ở tất cả mọi nơi, mọi việc làm, mọi sinh hoạt. Làm được như thế là góp phần giúp dân ta bớt nghèo, đó chính là hành động học tập và làm theo tấm gương đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

NGUYỄN KHẮC LUÂN (xã Suối Đá, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh)

tuoitre.vn

Giữ cái phúc của dân

TTO – Bác coi người cán bộ là đầy tớ của dân. Dân có phúc khi gặp người cán bộ biết lo cho dân. Còn cán bộ mà tha hóa về đạo đức thì đó là cái họa cho dân.

Bác Hồ là một tấm gương sáng về thực hành tiết kiệm. Với Bác tiết kiệm không có nghĩa là kiệt sỉ. Tiết kiệm phải phù hợp với tình hình thực tế, chi tiêu phải đúng lúc, đúng chỗ, phải đạt được hiệu quả cao!

Trong thời kì hoạt động cách mạng ở Trung Quốc, Bác vẫn thường mặc chiếc áo len vừa cũ kĩ lại vừa bị rách. Bà Tống Khánh Linh khuyên Bác nên đổi chiếc áo khác nhưng Bác từ chối với lí do áo còn tốt. Cảm động quá, bằng bàn tay khéo léo của mình, bà Tống Khánh Linh đã mạng lại chiếc áo bị rách cho Bác.

Rõ ràng trong hoàn cảnh đó, tiết kiệm của Bác là đúng chỗ, và hiệu quả cao. Những người phục vụ khi thấy Bác vẫn mặc chiếc áo bông đã có nhiều miếng vá, ái ngại muốn Bác thay chiếc khác. Bác nói “Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mặc áo vá vai thế này là cái phúc của dân đấy, đừng bỏ cái phúc ấy đi”. Hội phụ nữ cứu quốc Hà Động tặng Bác tấm áo lụa, trên ngực có thêu dòng chữ “Kính dâng Hồ Chủ tịch”. Bác cất đi không dùng, để tặng cho người có công với Tổ quốc!

Đến thăm làng Lỗ Khê (Đông Anh – Hà Nội), nơi có phong trào thi đua sản xuất giỏi, Bác căn dặn đồng bào: “Làm giỏi nhưng phải tiết kiệm giỏi”. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta vẫn thấy hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh với bộ quần áo ka-ki màu sáng, cùng chiếc mũ cát-két và đôi dép cao su đã đi vào huyền thoại! Những người phục vụ vẫn thường thấy Bác mặc chiếc quần đùi cũ và chiếc áo may ô sờn vai…

Đề thi viết tháng thứ tư (từ 10-9 đến 10-10)

Sinh thời, Bác Hồ thường nhận được tặng phẩm như vải lụa, quần áo do các tầng lớp nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế gửi biếu, Bác đã dùng những tặng phẩm đó để tặng lại các cụ phụ lão, các anh em chiến sĩ, bộ đội, thương binh, bệnh binh và những người có nhiều thành tích trong học tập, lao động sản xuất, chiến đấu.

Trong khi đó, Bác vẫn mặc một chiếc áo bông đã được vá nhiều chỗ. Bác nói với các đồng chí phục vụ “Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước mặc áo vá vai thế này là cái phúc của dân đấy, đừng bỏ cái phúc ấy đi”.

Bạn hiểu thế nào về câu nói và về tấm gương cần kiệm liêm chính, chí công vô tư của Chủ tịch Hồ Chí Minh? Qua câu nói của Bác, bạn hãy viết lên những suy nghĩ của mình và liên hệ với thực tiễn ở địa phương, ngành mình… trong bối cảnh chúng ta đang thực hiện cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí?

Bài dự thi không quá 1.000 chữ, gửi e-mail: theoguongbac@tuoitre.com.vn, hoặc qua bưu điện đến địa chỉ: Báo Tuổi Trẻ, 60A Hoàng Văn Thụ, Q.Phú Nhuận, TP.HCM.

TTO

Sáng ngày 24/7/1957, lúc đó Bác đang ở thăm Ba Lan, tại phòng lễ tân vào khoảng 9 giờ sáng, khi mặt trời đã lên cao mà ba chùm đèn với hàng trăm ngọn sáng trưng, Bác Hồ đã yêu cầu gặp Vụ trưởng lễ tân. Bộ trưởng Bộ ngoại giao nước bạn liền có mặt. Bác hỏi: “Chỗ tắt điện ở đâu?”. Lập tức mấy chiến sĩ bảo vệ đi tắt điện. Chủ tịch Ba Lan Zawasdzki nói giọng nghiêm trang: “Xin cảm ơn đồng chí Hồ Chí Minh. Tôi thành thật nhận khuyết điểm chưa nghiêm túc thực hiện chỉ thị tiết kiệm của Lênin”.

Khi nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà J.Xtin-sơn, nhà sử học Mỹ đã viết: “Tôi xin ca ngợi lời ca đẹp nhất về Người, tôi ngưỡng mộ Người bằng cả đầu óc khoa học của tôi, đồng thời bằng cả trái tim của người con gái hậu thế…. Hồ Chí Minh là một người cộng sản vĩ đại, là một siêu nhân. Người càng vĩ đại hơn ở chỗ Người là một con người bình dị…”.

Soi tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vào thực tế hiện nay mà thấy chạnh lòng. Nhiều cơ quan đoàn thể thi nhau sắm xe hơi sang trọng đắt tiền, đập nhà cũ xây nhà mới. Nhiều lãnh đạo cũng thi “xem xe ai hơn xe ai” để bằng mọi cách mua xe đắt tiền, với tư tưởng “con gà tức nhau tiếng gáy”. Chính vì thế mới sinh ra tham ô, tham nhũng.

Có xe rồi phải biết ăn sang! Tôi từng chứng kiến nhiều hội nghị, tiệc tùng thấy có những vị lãnh đạo cứ nâng li liên tục, mồm hét lớn “Dzô! Dzô! Dzô!”. Họ uống rượu ngoại, bia hảo hạng, thứ ăn ê hề, thừa mứa… Như thế không chỉ là lãng phí mà còn thậm lãng phí.

Có thủ trưởng đứng trước cơ quan thì nói hay lắm, “tiết kiệm” lắm, nhưng thực tế là một người lãng phí có hạng. Lãng phí về sức khoẻ do chơi bời nhậu nhẹt; lãng phí về thì giờ do nói nhiều, bởi vì không có chuẩn bị trước; lãng phí tiền bạc của cơ quan vì “ tiếp khách”… Cán bộ xa hoa lãng phí, chắc chắn là phải phải dính tới gian trá, tham ô … Vậy, lớp trẻ, người dân học gì ở họ ? Hy vọng gì ở họ?

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đặc biệt về thực hành tiết kiệm thật đáng để mọi người (trong đó có tôi) phải suy ngẫm…

ĐÀO SỸ QUANG
GV Trường Cao đẳng nghề Đồng Nai, P. Thống Nhất, TP. Biên Hòa

tuoitre.vn

Từ bài học đầu tiên

Cách đây đúng 65 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng,toàn thể dân tộc Việt Nam đã tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công. Cách mạng Tháng Tám, như tên gọi, là một cuộc cách mạng. Xét về ý nghĩa của một cuộc cách mạng, chúng ta đã rút ra nhiều bài học vô cùng quý báu. Và bài học đầu tiên trong những bài học đó là: Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Để lãnh đạo cách mạng thành công, Đảng phải dựa vào nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu và phục vụ, luôn luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, phát huy cao độ sức mạnh của nhân dân.

Khi phát động cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, chúng ta chỉ có ít vũ khí thô sơ, Đảng ta cũng chỉ có khoảng 5.000 đảng viên – một con số rất nhỏ bé so với tổng số dân nước ta lúc đó là khoảng 20 triệu người. Nhưng nhiều hơn như vậy và mạnh mẽ hơn như vậy chính là sức mạnh bão táp của cả dân tộc, sức mạnh được tổ chức và tập hợp dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản vì khát vọng độc lập, tự do.

Với đường lối đúng đắn của Đảng tiên phong cách mạng, Đảng ta đã gắn liền mục tiêu độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội và những quyền lợi thiết thực của tất cả các tầng lớp nhân dân, từ đó động viên được hàng chục triệu người tham gia vào dòng thác của một cuộc cách mạng toàn dân để chỉ trong vòng nửa tháng đã xác lập chính quyền nhân dân trong cả nước. Trong những ngày tháng ấy, Đảng đã làm tất cả những gì cần phải làm và có thể làm để quần chúng nhân dân ý thức về quyền lợi và sức mạnh của mình, để nhân dân tin rằng Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của mình, đồng lòng theo Đảng làm nên cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Dù thời cuộc trải qua bao biến động, song bài học về sức mạnh to lớn của nhân dân và sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân từ Cách mạng Tháng Tám vẫn luôn có ý nghĩa thời sự, sâu sắc. 65 năm qua, Đảng ta đã luôn phát huy bài học của Cách mạng Tháng Tám trong việc huy động lực lượng quần chúng tham gia các phong trào cách mạng, phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động lớn trong toàn xã hội, quan tâm đến lợi ích chính đáng, trực tiếp của nhân dân, dựa vào dân, phát huy vai trò sáng tạo của nhân dân để thực hiện mục tiêu bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đang được thể chế hóa, hệ thống pháp luật, chính sách ngày càng được hoàn thiện, đồng bộ, tạo điều kiện khơi dậy sức mạnh nội lực, tranh thủ ngoại lực cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Bên cạnh những thành tựu, chúng ta cũng nhận rõ những khó khăn, thách thức không nhỏ, đặc biệt là khi đất nước đang chủ động hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay. Năm nay, chúng ta kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám trong bối cảnh cả nước đang tiến hành đại hội Đảng các cấp tiến tới đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Thấm thía bài học lịch sử từ Cách mạng Tháng Tám, chúng ta cũng thấy rõ hơn những điều mới mẻ, gần gũi với thực tế và vận mệnh đất nước đang diễn ra hôm nay.

Thực tế tình hình đòi hỏi chúng ta phải đẩy mạnh sự đổi mới trong xây dựng Đảng, kiện toàn bộ máy Nhà nước, kiên quyết chống tệ nạn tham nhũng đang làm xói mòn niềm tin và quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, củng cố niềm tin trong nhân dân, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nên bước đột phá của đất nước trong thời kỳ mới là cách thiết thực nhất kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám.

Theo: SGGP online

hcmpc.com.vn

Những lời Bác dạy đầu tiên

Mùa thu năm 1946, tôi và ba đồng chí nữa được vinh dự theo Bác về nước trên chiếc tàu Đuymông Đuếvin. Tàu này là một chiếc tàu chiến đã cũ, chạy lừ đừ chậm chạp. Lúc bấy giờ, tình hình ở trong nước đang căng thẳng ai nấy đều sốt ruột mong về sớm, nhưng giờ đây nghĩ lại, đối với chúng tôi, đó là một dịp may hiếm có để được kéo dài những ngày chung sống với Bác.

Trên chuyến xe lửa từ Pari đi Macxây, Bác nói:

– Nước ta còn nghèo vì 80 năm bị đế quốc bóc lột, chiếm đóng. Đồng bào Nam bộ giờ đây còn đổ máu. Chúng ta còn gian khổ chiến đấu nhiều chứ chưa được sung sướng ngay đâu. Các chú về nước chính là để phục vụ Tổ quốc, phục vụ đồng bào…

Lên tàu rồi, một hôm Bác dặn:

– Ở nhà không có gì đâu. Nước ta thiếu máy móc, nguyên liệu, thiếu cả thợ lành nghề, tiền của ta lại ít. Song nước ta giàu về rừng núi, sông biển, đồng bào ta giàu về quyết tâm, dũng cảm và sáng tạo. Các chú về phải chịu thương, chịu khó làm ăn, đưa những cái đã học ở nước ngoài về áp dụng thiết thực vào trong nước, giúp đỡ và hướng dẫn anh em trong nước cùng làm.

Tôi còn nhớ lúc đi tàu, thỉnh thoảng có những hôm tên đại tá chỉ huy tàu tổ chức tập trận trên giữa biển cả mênh mông, tiếng súng đại bác, súng máy các loại thi nhau gầm thét, khói mịt mù, nước biển tung toé ngoài khơi. Trong chúng tôi, thoạt tiên cũng có người hồi hộp, nhưng riêng Bác vẫn điềm nhiên, ung dung hút thuốc lá, đứng xem. Bác mỉm cười bảo chúng tôi:

– Đấy, người ta thử kiểm tra tinh thần của các chú. Các chú có sợ không?

Nhân đó, Bác chỉ cho chúng tôi thấy bọn đế quốc thường hay phô trương, khoe khoang về sức mạnh vật chất, còn nhân dân cách mạng tuy nghèo nhưng hàng triệu người đoàn kết thành một khối, có tinh thần dũng cảm và mưu trí, nhất định đánh bại được bọn chúng…

Tại Đại hội liên hoan anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất, tôi được Bác khen…

Vinh dự đó thuộc về anh em ngành quân giới trong đó tôi nhờ sự chỉ bảo, dẫn dắt của Bác đã đóng góp một phần.

Những lời dạy của Bác như bức cẩm nang quyết định mọi thắng lợi trong công tác của tôi.

Theo dayhocintel.net

hcmpc.com.vn

Những chuyện ít biết về công tác bảo vệ Bác Hồ: Kỳ 2

Người cận vệ đầu tiên của Bác Hồ

Giadinh.net – Ông là người cận vệ đã bảo vệ Bác Hồ khi từ Côn Minh (Trung Quốc) về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Ông vinh dự và tự hào được Bác Hồ đặt tên, từng là Tư lệnh đầu tiên của Quân chủng Phòng không – Không quân và 23 năm liền giữ cương vị Phó Tổng tham mưu trưởng.

>> Kế hoạch bảo vệ an toàn đón Bác Hồ về nước

Ông là Thượng tướng Phùng Thế Tài, nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Từ đứa trẻ lang lang ở Côn Minh

Tên thật của ông là Phùng Văn Thụ, sinh ra trong một gia đình nghèo tại xã Văn Nhân, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây (cũ). Nhà đông anh em nên làm ruộng quanh năm mà không đủ ăn. Thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên mấy bà con đi buôn bán bên Trung Quốc bảo ông sang xin việc làm để kiếm sống.

Thượng tướng Phùng Thế Tài.

Năm 1933, khi đó mới 13 tuổi, ông theo một người làng đi kiếm sống. Điểm dừng chân đầu tiên của ông là thị trấn Chỉ Thôn, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Thị trấn này là một trạm hoả xa trung chuyển tất cả đầu máy từ Vân Nam về, từ Lào Cai của Việt Nam sang. Vì nhỏ tuổi nên ông không xin được việc của người lớn. Một gia đình bản địa nhận ông về làm giúp việc nhà.

Nhưng ở được một thời gian, vì không chịu được cảnh hống hách bắt nạt của con chủ nhà nên ông bỏ lên Côn Minh, thủ phủ của tỉnh Vân Nam. Suốt một tuần lễ không xin được việc gì. Giữa trời đông lạnh giá, bụng đói meo, quần áo tơi tả không có một bộ mang theo, ông lang thang rồi mệt ngủ luôn trên ghế đá công viên Hạ Lầu, ngoại thành Côn Minh. Đang thiu thiu, có một người đàn ông đánh thức dậy và nói bằng tiếng Việt: “Em từ đâu đến mà nằm ngủ ở đây?”

Sau khi trình bày hoàn cảnh của bản thân, ông được người đàn ông này đưa về hãng dầu cù là Nhị Thiên Đường. Qua một thời gian thử thách và được giác ngộ, ông được tham gia các đoàn thể và đi theo cách mạng.

Người gặp ông buổi tối ở công viên Hạ Lầu chính là đồng chí Vũ Anh (bí danh Trịnh Đông Hải). Thời gian đó đồng chí Vũ Anh được Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương cử sang Trung Quốc hoạt động cách mạng, làm Biện sự sứ, xây dựng cơ sở trong công nhân lao động. Năm 1939, chính đồng chí Vũ Anh đã dìu dắt, giúp đỡ và giới thiệu kết nạp ông vào Đảng Cộng sản Đông Dương (đồng chí Vũ Anh đã nhận ông làm con nuôi). Người thứ hai giới thiệu kết nạp ông là đồng chí Thanh Bình (sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đồng chí Thanh Bình là thứ trưởng Bộ Nội Vụ).

Thành cận vệ đầu tiên của Bác Hồ

Một buổi sáng đầu năm 1940, có người khách đến hãng Nhị Thiên Đường tìm gặp đồng chí Vũ Anh. Hai người đến địa điểm khác trao đổi công việc. Đến chiều, đồng chí Vũ Anh cho biết người đến tìm gặp là ông Trần và giao Phùng Thế Tài bảo vệ người này. Nhìn thái độ và nghe đồng chí Vũ Anh dặn dò cẩn thận, ông biết đây là một người rất quan trọng. Sau này, ông mới biết ông Trần chính là bí danh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Và ông đã trở thành cận vệ đầu tiên của Bác Hồ từ thời khắc ấy. Sau này ông được Bác đặt tên là Phùng Hữu Tài (một thời gian sau ông xin Bác cho đổi tên là Phùng Thế Tài).

Bác Hồ tặng quà Tết và nói chuyện với các chiến sỹ Đoàn không quân Sao Vàng.

Về kỷ niệm ngày đầu bảo vệ Bác Hồ, Thượng tướng Phùng Thế Tài kể: “Sau khi đồng chí Vũ Anh giới thiệu tôi là cận vệ, ông Trần nhìn tôi tỏ ý hài lòng. Tuần lễ đầu, ông Trần và tôi nói chuyện với nhau bằng tiếng Trung Quốc, sau mới dùng tiếng Việt. Do nguyên tắc hoạt động bí mật nên cả ông Trần và tôi làm như không quen biết nhau. Gọi là đi bảo vệ nhưng thực ra tôi có súng ống gì đâu. Tôi vốn hiếu động, dạo trước đã làm một quả đấm sắt, một con dao. Vậy là giờ đây nó hữu ích. Tôi không được phép vào nhà ở của ông Trần, mà chỉ được đứng chếch ở bên phải hoặc bên trái lề đường để quan sát. Thấy ông Trần đi là tôi đi theo cách 5 đến 10 mét”.

Trong dịp Tết Tân Tỵ (năm 1941), ông cũng nằm trong số những cán bộ đi cùng để bảo vệ Bác Hồ về nước. Khi về đến cột mốc 108, ông Phùng Thế Tài được tổ chức phân công ở lại Côn Minh hoạt động. Vì thạo tiếng Trung Quốc nên quân đội Tưởng tuyển ông làm cho cơ quan tình báo để chuẩn bị cho kế hoạch “ Hoa quân nhập Việt” và cho ông vào học lớp quân chính về nghiệp vụ tình báo của trường quân sự Hoàng Phố.

Là ngưòi thông minh, tiếp thu nhanh, chỉ sau khóa học ông được phong cấp Thiếu Hiệu (ngang với Thiếu Tá). Chúng cấp cho ông một số giấy chứng nhận đặc biệt, có đóng dấu Tưởng Thống chế. Giấy này cho phép được đi lại trong toàn quốc. Lợi dụng sự ưu đãi này, ông đã tranh thủ hoạt động có lợi cho phía ta. Những giấy tờ đó cũng đã thực sự trở thành “bảo bối” cứu nguy cho những chuyến công tác bảo vệ lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sang Trung Quốc sau này.

Đầu năm 1942, ông được tổ chức giao nhiệm vụ phụ trách đợt chuyển vũ khí về nước. Sau đó, được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và đồng chí Vũ Anh cho ở lại Pác Bó tiếp tục làm nhiệm vụ bảo vệ Bác. Dạo đó, tổ bảo vệ “Ké Thu” (bí danh của Bác Hồ ở Pác Bó) gồm có: Phùng Chí Kiên, Lê Quảng Ba, Đinh Đại Toàn, Đặng Văn Cáp, Dương Đại Lâm, Phùng Thế Tài… Thời gian này cuộc sống của Ké Thu và tổ bảo vệ rất thiếu thốn. Lúc rảnh rỗi anh em trong tổ bảo vệ đi mò cua bắt ốc, đào củ mài. Thấy lãnh tụ Nguyễn ái Quốc gầy yếu anh em ưu tiên dành gạo nấu riêng. Người không cho làm như vậy và bảo: “Các chú chịu khổ được, Bác cũng chịu được”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm và chúc Tết Đoàn không quân Sao Vàng và các đơn vị bảo đảm kỹ thuật đường băng thuộc quân chủng Phòng không Không quân vào sáng mồng 1 Tết Đinh Mùi (9/2/1967). Cùng đi có Thượng tướng Văn Tiến Dũng-Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (người đi bên trái Bác) và Đại tá Phùng Thế Tài-Tư lệnh quân chủng Phòng không Không quân (người đi bên phải Bác).

Một mình bảo vệ Bác trở lại Trung Quốc

Tháng 8/1944, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lấy tên là Hồ Chí Minh và quyết định sang Trung Quốc gặp đại diện quân đồng minh để tranh thủ sự giúp đỡ. Đồng chí Phùng Thế Tài được giao nhiệm vụ bảo vệ Bác trong chuyến đi này.

Thượng tướng Phùng Thế Tài kể: “Lần ấy chỉ có một mình tôi đi bảo vệ Bác. Tôi mặc bộ dạ sỹ quan Tưởng oai lắm, nói thạo tiếng Trung Quốc, lại có sẵn giấy thông hành đặc biệt của chính quyền Tưởng Giới Thạch cấp hồi còn học ở trường quân sự Hoàng Phố nên yên trí. Bác mặc bộ quần áo của quân đội Tưởng, người ngoài nhìn chẳng khác anh lính trẻ đi với ông lính già. Khi đến Tĩnh Tây, cơm nước xong, Bác vào làm việc tại trụ sở của Quốc dân đảng Trung Hoa và là tổng hành dinh của Trung tướng Trần Bảo Xương.

Tối hôm đó, Bác ngủ ngay ở chỗ làm việc. Tôi không rõ Bác liên lạc với Trần Bảo Xương để làm gì, không dám hỏi vì nguyên tắc bí mật. Trên đường về phòng nghỉ, Bác nói bỏ quên mũ ở phòng khách bảo tôi quay lại lấy. Nhờ thế, tôi vô tình nghe lỏm được bọn Trần Bảo Xương đang bàn trong phòng kín tìm cách bắt giữ hai Bác cháu tôi. Tôi nghe thế rất lo, vội quay báo ngay với Bác. Bác rất bình tĩnh, chỉ thoáng một chút đăm chiêu. Suy nghĩ một lúc, Bác quyết định quay về Việt Nam ngay trong đêm hôm đó”.

“Nhưng làm sao mà ra khỏi hai cánh cổng sắt có lính gác của tổng hành dinh Trần Bảo Xương được? Như hiểu được ý tôi, Bác khẽ nói: “Ta đi ngay, không mang hành lý gì, đi người không, giả bộ với lính gác ra ngoài mua bao thuốc lá!”. Thoát khỏi được tổng hành dinh của Trần Bảo Xương, hai Bác cháu quên cả mệt, đi như chạy ra khỏi Tĩnh Tây và cuốc bộ một mạch không nghỉ. Sáng hôm sau trông thấy Bác quá mệt, người phờ phạc, lòng tôi quặn lại”.

Thời gian sau thấy năng khiếu chỉ huy quân sự và nguyện vọng của ông Phùng Thế Tài được đi chiến đấu ngoài mặt trận, Bác đồng ý. Trước khi ra mặt trận, Bác dặn ông: “Chú sẵn sàng đi chiến đấu, thế là tốt, nhưng nhớ đừng có “hữu dũng, vô mưu” đó nhé…”. Những lời Bác dạy, ông luôn thấm thía và là hành trang luôn theo ông, giúp ông vượt qua mọi khó khăn, gian khổ trong suốt cuộc đời. Ông đã trở thành vị tướng mà nói đến ai cũng biết: “Tướng Tài”.

Nguyễn Đức Qúy

giadinh.net.vn

Những chuyện ít biết về công tác bảo vệ Bác Hồ: Kỳ 1

Kỳ 1: Kế hoạch bảo vệ an toàn đón Bác Hồ về nước

Giadinh.net – Cuối tháng 2/1940, được tin lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về đến Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc), Trung ương Đảng đã cử một số cán bộ như: Phạm Văn Đồng (bí danh là Lâm Bá Kiệt), Võ Nguyên Giáp (bí danh là Dương Hoài Nam), Đặng Văn Cáp (bí danh là Đặng Văn Linh), Hoàng Văn Lộc và một số đồng chí khác sang Trung Quốc để tìm gặp, báo cáo tình hình trong nước và xin chỉ thị của Người.

Sau gần 3 tháng, đến tháng 5/1940 đồng chí Phùng Chí Kiên dẫn đồng chí Đặng Văn Cáp đến Côn Minh gặp Bác.

Những người bảo vệ Bác về nước

Sau khi trao đổi, Bác đồng ý phương án về nước bằng đường Côn Minh – Lào Cai, qua huyện Khai Viễn. Bác phái đồng chí Bùi Thanh Bình, Hoàng Văn Lộc về Hồ Kiều (một thị trấn của tỉnh Vân Nam sát địa phận tỉnh Lào Cai nước ta) để thăm dò đường sá. Người chịu trách nhiệm nhóm công tác bảo vệ Bác trong thời gian chuẩn bị về nước là đồng chí Phùng Thế Tài.

Hưởng ứng cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và tiến tới kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Người, Báo GĐ&XH khởi đăng loạt tư liệu đặc biệt về công tác bảo vệ an ninh cho Bác.

Báo GĐ&XH cảm ơn Trung tá Nguyễn Đức Quý – Đội trưởng đội Nghiên cứu khoa học, Phòng Tham mưu, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ – người đã trực tiếp chắp bút cho loạt bài này. Chúng tôi cũng trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo và cán bộ, chiến sỹ Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đã giúp đỡ để hoàn thành loạt tư liệu này. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Nhưng bất ngờ cuối tháng 6/1940 đường giao thông Côn Minh- Lào Cai bị tắc nghẽn nên kế hoạch không thực hiện được. Bác chỉ thị cho đồng chí Hoàng Văn Lộc phải trở lại ngay Côn Minh.

Ngày 5/1/1941, đồng chí Hoàng Văn Thụ, Thường vụ Trung ương Đảng từ Việt Nam sang Tân Khư (Tĩnh Tây- Quảng Tây- Trung Quốc) gặp Bác để báo cáo kết quả thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng về xây dựng và củng cố an toàn khu Cao Bằng và việc tổ chức thành lập Ban Công tác đội cũng như phong trào cách mạng ở đây.

Sau khi báo cáo kết quả việc chuẩn bị Hội nghị Trung ương lần thứ 8, đồng chí Hoàng Văn Thụ nêu nguyện vọng của Trung ương Đảng, đề nghị Bác về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đồng chí cũng đề nghị Bác về qua ngả Cao Bằng, vì trình độ giác ngộ cách mạng của nhân dân dọc biên giới tương đối cao và cán bộ ở đây vững vàng.

Ngày 6/1/1941, Bác Hồ cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên, Đặng Văn Cáp… được đồng chí Hoàng Sâm dẫn đi qua Nậm Bo xuống Nậm Quang (Tĩnh Tây- Trung Quốc) để chuẩn bị lập kế hoạch cụ thể cho việc về nước. Tại đây, Bác Hồ đang mở lớp học và trực tiếp huấn luyện chính trị cho 43 đồng chí trong Ban công tác đội do Trung ương cử sang. Thời gian lớp học kéo dài khoảng 20 ngày, kết thúc vào dịp gần Tết Âm lịch năm 1941 (Tân Tỵ).

Bức họa bảo vệ Bác về đến cột mốc 108, ngày 28/1/1941 tại Pác Bó (Cao Bằng).

Sau khi kết thúc lớp học, Bác mới chỉ đạo kế hoạch về nước. Người quyết định qua cột mốc 108 về Pác Bó (Cao Bằng). Đoàn về nước được chia làm 3 nhóm. Nhóm thứ nhất do đồng chí Hoàng Sâm phụ trách về nước bằng đường Xuyên Sơn tới Pác Bó.

Nhóm thứ hai do đồng chí Phùng Chí Kiên phụ trách đi qua cột mốc 108, rồi theo đường 203 về Pác Bó. Hai nhóm này về trước nắm tình hình hoạt động của địch, và tổ chức khảo sát đường đi để Bác về nước. Ngay khi hai nhóm đầu lên đường về nước thì nhóm thứ ba, trực tiếp bảo vệ Bác cũng đi về bản Nậm Tẩy (Quảng Tây-Trung Quốc) để chờ tin trong nước, sẵn sàng xuất phát khi điều kiện thuận lợi. Khi về nước, hành lý mà Bác mang theo hầu như chẳng có gì. Chỉ có một chiếc vali nhỏ quần áo cũ và một chiếc máy chữ xách tay hiệu “Ba Bi”. Chiếc máy chữ này là vật dụng cá nhân quý giá mà Bác luôn mang theo bên mình.

Sau một thời gian nắm tình hình, thời cơ đến, Bác Hồ quyết định lên đường về nước. Nhóm bảo vệ trực tiếp và đi theo Bác Hồ lúc này ngoài đồng chí Phùng Thế Tài, còn có những người sau: Hoàng Văn Lộc- một cán bộ người dân tộc Tày, có kinh nghiệm hoạt động bí mật ở vùng Cao Bằng; Đặng Văn Cáp là thanh niên rất khoẻ, giỏi võ, bắn súng cũng rất giỏi và biết chữa bệnh bằng thuốc nam; Thế An cũng là một người dân tộc Tày, rất thông thạo đường rừng, đặc biệt là những đường đi tắt; Lê Quảng Ba cũng là một cán bộ người dân tộc Tày, rất am hiểu phong tục của đồng bào dân tộc ít người, thông thạo tiếng Dao, Mán, Nựng và tiếng Quan Hoả (Trung Quốc). Nhóm trực tiếp bảo vệ Bác Hồ do đồng chí Lê Quảng Ba phụ trách, tuy nhiên Bác Hồ chỉ đạo trực tiếp.

Cái Tết quê hương đầu tiên sau 30 năm xa Tổ quốc

Bác Hồ đã thống nhất kế hoạch hóa trang và phân công nhiệm vụ cho từng người. Về hóa trang, Bác phân tích: Vùng này có nhiều người dân tộc Nùng. Họ có phong tục, cứ đến Tết là các chàng rể (già cũng như trẻ) đều phải mang đồ lễ về “cúng ma” ở nhà bố mẹ vợ. Vì vậy, cả nhóm ăn mặc như những chàng rể người Nùng đang trên đường về nhà bố mẹ vợ. Bác Hồ cũng mặc một bộ quần áo đặc trưng của đàn ông Nùng thường mặc trong dịp Tết: quần áo chàm, đầu đội mũ kiểu bê-rê cũng may bằng vải màu chàm, chân đi đôi giày vải đen, quàng khăn để vừa ấm vừa che kín bộ râu.

Khu vực Bác làm việc trước đây.

Sáng sớm 28/1/1941, tức ngày mồng 2 Tết (Tân Tỵ), nhận được tin từ trong nước báo sang tình hình thuận lợi, cả đoàn xuất phát từ bản Nậm Quang từ rất sớm. Sau 8 giờ đi đường, khoảng 12h trưa thì cả đoàn đến dãy núi Phia Sum Khảo, nơi có cột mốc biên giới số 108 trên biên giới Việt – Trung, thuộc xã Trường Hà, châu Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.

Cùng lúc đó, nhóm được cử nhiệm vụ đi đón Bác do đồng chí Hoàng Sâm từ trong nước cũng có mặt tại cột mốc 108. Tất cả đều xúc động khi thấy Bác đứng lặng đi bên cột mốc số 108, ngắm nhìn núi rừng trùng điệp của tỉnh Cao Bằng- mảnh đất địa đầu của Tổ quốc. Sau 30 năm xa Tổ quốc, bôn ba đi tìm đường cứu nước, đúng vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã trở về đất nước. Người cúi xuống cầm nắm đất lên hôn. Sau đó Bác vui vẻ bắt tay chúc Tết mọi người.

Rời cột mốc 108, cả đoàn theo con đường mòn xuống thung lũng Pắc Bó. Tại đây đoàn công tác bảo vệ bố trí Bác ở gia đình nhà ông Máy Lỳ, dân tộc Nùng, một cơ sở cách mạng tin cậy. Gia đình ông Máy Lỳ chỉ có hai vợ chồng và một người con gái. Đây là địa điểm thường được Trung ương Đảng chọn làm nơi hội họp và trạm dừng chân cho cán bộ đi công tác qua lại. Gia đình ông Máy Lỳ rất nghèo nhưng lại có tinh thần yêu nước nồng nàn. Căn nhà của ông nằm độc lập ở dưới một quả đồi nhưng thoáng đãng. Từ sân nhà nhìn ra có thể thấy toàn cảnh thung lũng ở phía trước. Sau nhà là một con suối, kế đến là một khu rừng rậm rất tiện cho yêu cầu bảo vệ khi có tình huống bất trắc có thể xảy ra.

Gia đình ông Máy Lỳ hầu như đã quen mặt biết tên hết các cán bộ trong đoàn nhưng không biết Bác là ai. Khi đến nhà ông Máy Lỳ, Bác mặc áo chàm, đi dép rơm, tay cầm gậy. Mọi người gọi Bác là ông Ké và giới thiệu là cán bộ dưới xuôi lên. Ông Máy Lỳ gọi con gái mang ra một thau nước nóng, mời ông Ké rửa trước.

Nghỉ ngơi một lát, ông Máy Lỳ lại sai con gái bưng một mâm cỗ Tết ra mời ông Ké và đoàn cán bộ dùng. Bên mâm cỗ Tết, mọi người trò chuyện râm ran, riêng Bác cứ lặng yên, nét mặt rất xúc động. Ông Máy Lỳ nâng bát rượu mời Bác và anh em cán bộ cùng đi. Bác chúc sức khoẻ ông Máy Lỳ. Ông Máy Lỳ rất vui, gọi vợ và con gái ra tiếp khách để tỏ lòng mến khách.

Đến ngày 8/2/1941, đoàn cán bộ bảo vệ tiếp tục đưa Bác vào ở và làm việc trong hang Cốc Bó.

(Còn nữa)
Nguyễn Đức Quý

giadinh.net.vn

Bác dạy về vai trò, nhiệm vụ của thanh niên

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Bác Hồ luôn luôn coi trọng vai trò của thanh niên.

Trong thập kỷ thứ hai của thế kỷ 20, khi những cuộc đấu tranh vũ trang của nhân dân ta chống thực dân Pháp đều thất bại, những phong trào cứu nước do các sỹ phu đề xướng đã hiện rõ là những phương pháp ảo tưởng, Bác Hồ đã xuất hiện như một vì sao chói lọi đưa dân tộc ta đi vào con đường đấu tranh đúng đắn để cứu nước, cứu nhà. Khác với các sỹ phu yêu nước trước đó, Bác Hồ đã đặt vấn đề thanh niên lên một vị trí mới, xứng đáng. Bác cho rằng muốn cứu đất nước thì trước hết phải thức tỉnh dân tộc, muốn thức tỉnh được dân tộc thì trước hết phải thức tỉnh được thanh niên. Năm 1925, trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” Bác Hồ đã kêu gọi “Hỡi Đông Dương đáng thương hại người sẽ chết mất, nếu đám thanh niên sớm già của người không sớm hồi sinh”. Trong xã hội ta, Bác Hồ coi “Thanh niên là một bộ phận quan trọng của Dân tộc”. Ngay từ những buổi ban đầu sơ khai của cách mạng nước ta, Bác đã rất chú trọng đến vai trò của thanh niên. Năm 1925, tại Quảng Châu, Trung Quốc, Bác thành lập tổ chức cách mạng đầu tiên – tiền thân của Đảng cộng sản Việt nam – mang tên “Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội”. Tập hợp dưới ngọn cờ “Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội” đa số là các thanh niên, mang trong lòng mình một khát khao mãnh liệt – giải phóng dân tộc. Tên gọi của tổ chức cách mạng này thể hiện một tư tưởng chiến lược của Bác: Đảng ta phải trẻ như thanh niên, khỏe như thanh niên. Khi nói về Thanh niên trong lòng Dân tộc, trong cuộc cách mạng mà chúng ta tiến hành, Bác đã dùng một cách so sánh không thể nào hay hơn được nữa “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Bất cứ nơi đâu trên trái đất này, mùa xuân cũng đẹp nhất., tràn trề sức sống nhất. Tuổi trẻ chính là giai đoạn của đời người có khả năng cống hiến cho dân tộc mạnh mẽ nhất. Khả năng của tuổi trẻ là vô địch.

Trong chiến tranh, Bác Hồ xem Thanh niên có thể “dời núi và lấp biển”, là “đại biểu cho tinh thần tự tôn, tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại”. Trong công cuộc xây dựng đất nước Thanh niên cũng là lực lượng tiên phong đi đầu trong mọi phong trào thi đua kiến quốc. Thanh niên có khả năng tiếp thu nhanh kiến thức, “học kỹ thuật – chìa khóa để làm cho dân mạnh, nước giàu”. Bác căn dặn “Sau 80 năm trời nô lệ làm cho nước nhà yếu hèn, ngày nay chúng ta cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước trên hoàn cầu. Trong công cuộc kiến thiết đó nước nhà trông mong ở các cháu rất nhiều.”.

Thanh niên có vai trò quan trọng không những vì khả năng cách mạng to lớn, mà còn do vị trí thế hệ đặc biệt. Thanh niên là cầu nối giữa thế hệ đi trước và thế hệ mới lớn, đảm bảo tính kế thừa, “Thanh niên là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai – tức là các cháu nhi đồng”. Quan niệm xuyên suốt của Bác “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các thanh niên.”. Tư tưởng này đã được Bác phát biểu lần đầu trong “Thư gửi các thanh niên ngày 17 – 8 – 1947”, và sau đó được Bác khẳng định thường xuyên trong các bài viết, nói chuyện với thanh niên..

Bác đánh giá cao khả năng của thanh niên, đồng thời cũng chỉ cho chúng ta thấy thanh niên có nhiệm vụ to lớn và nặng nề. Không phải tự nhiên mà thanh niên ta có thể đảm đương được vai trò quan trọng của mình, mà “Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc chuẩn bị cái tương lai đó”. Trong các thời kỳ lịch sử khác nhau của đất nước, Bác đề ra cho thanh niên những nhiệm vụ cụ thể khác nhau, nhưng có có một nhiệm vụ mà khi nào Bác cũng nhắc tới đó là “nhiệm vụ chính của thanh niên là học tập. Muốn xứng đáng vai trò người chủ thì phải học tập”. Nền giáo dục nói chung và việc học tập của thanh niên nói riêng phải đảm bảo cho thế hệ trẻ thực sự có đủ nhân cách, kiến thức để “làm người chủ đất nước”.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, hòa bình lập lại ở Miền Bắc, Người dạy chúng ta những nội dung cần học là yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu đạo đức. Mục đích của việc học tập là để phụng sự cho nhân dân, cho Tổ quốc. Việc học tập cần phải tiến hành thường xuyên và ở mọi nơi, mọi lúc, “học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân”. Bác nhấn mạnh “không học ở nhân dân là một thiếu sót rất lớn”.

Trong chiến tranh giải phóng dân tộc, “khi mà quyền lợi dân tộc giải phóng là cao hơn hết” thanh niên phải hành động theo tinh thần“Đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên”.

Trong quan hệ giữa cái riêng và cái chung, giữa quyền lợi cá nhân và tập thể, giữa hưởng thụ và cống hiến…, Bác dạy “nhiệm vụ của thanh niên không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì? mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà”. Trong hoàn cảnh ngày nay, khi mà tư tưởng tự tư, tự lợi đang làm suy yếu nhiều lĩnh vực trong đời sống và đạo đức, thì lời dạy đó của Bác càng làm cho chúng ta phải suy nghĩ rất nhiều, và cũng không phải chỉ riêng thanh niên suy nghĩ….

Để đóng góp tốt hơn cho xã hội, thì thanh niên phải hoạt động có tổ chức, có kế hoạch. Hoạt động của phong trào thanh niên cần phải to lớn, mạnh mẽ nhưng thiết thực. Những lời dạy của Bác về cách tổ chức phong trào thật sâu sắc, Bác nói “…chớ đặt những chương trình, kế hoạch mênh mông, đọc nghe sướng tai nhưng không thực hiện được…việc gì cũng phải thiết thực…một chương trình nhỏ mà thực hiện được hẳn hoi, hơn là một trăm chương trình to tát mà làm không được”. Bác rất coi trọng yếu tố tổ chức trong trong hoạt động của phong trào thanh niên, mà nòng cốt là tố chức Đoàn. Trong việc xây dựng tổ chức Đoàn, Bác căn dặn “cần phát triển đoàn hơn nữa, nhưng phải chọn lọc cẩn thận, trọng chất lượng hơn số lượng”. Một nhiệm vụ lớn mà Bác trao cho thanh niên là “phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai, tức là các cháu nhi đồng”. Người còn lưu ý thanh niên nội dung và phương pháp dạy các cháu nhi đồng “phải giữ gìn toàn vẹn cái tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung của chúng”. Bác luôn lưu ý đến đặc điểm lứa tuổi của thế hệ trẻ khi giáo dục, không chỉ nói đến học tập, công tác mà còn dặn dò phải biết vui chơi, giải trí, đừng để cho thanh niên, nhi đồng biến thành những người “già sớm”.

Thanh niên không những phải học cái tốt trong sách vở, trong nhân dân mà còn có nhiệm vụ chống cái xấu ngay trong bản thân mình. Bác chỉ rõ những khuyết điểm mà thanh niên thường mắc phải là ham chuộng hình thức, thiếu thực tế, bệnh cá nhân, bệnh anh hùng v.v. chỉ khi nào chúng ta loại bỏ được “kẻ thù” ngay trong chính bản thân mình thì chừng đó chúng ta mới có thể trở thành con người chí công vô tư được.

Những lời dạy của Bác về vai trò, nhiệm vụ của thanh niên rất rộng lớn, từ cuộc sống, từ đạo đức, nhân cách đến tinh thần quốc tế vô sản v.v. Đó là một kho tàng vô giá vì đã được minh chứng bằng chính cuộc sống, bằng chính sự nghiệp của Người. Trong các lời dạy của Bác, chúng ta thấy  truyền thống, văn hóa của dân tộc, tinh hoa văn hóa của nhân loại. Trong các lời dạy của Người chúng ta thấy thực tiễn sinh động của cách mạng nước ta. Những lời dạy của Bác có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn, đã qua bao năm tháng nhưng vẫn còn mang tính thời sự, tưởng như Bác mới nói với chúng ta hôm qua, tưởng chừng như Bác mới nói với chúng ta hôm nay! Để làm theo lời Bác dạy, cần phải nghiên cứu tỷ mỷ, công phu, nhưng quan trọng hơn hết là phải biết áp dụng và dám áp dụng vào thực tiễn..

Niềm tin của Bác vào thế hệ trẻ Việt Nam đã truyền lại cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Chúng ta tin tưởng “tương lai của dân tộc ta vô cùng vững chắc và vẻ vang” vì có “một thế hệ thanh niên hăng hái kiên cường”. Thanh niên Việt Nam đã, đang và sẽ xứng đáng đáng với lòng tin của Bác.

Huỳnh Nam Yên
Bí thư chi bộ, Phó hiệu trưởng

thptphandangluu.edu.vn

Cuộc đời vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn liền với báo chí

Là một người học trò, một cộng sự gần gũi nhất và lâu năm nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết:

“Hồ Chí Minh là nhà chiến lược, nhà lãnh đạo, nhà tổ chức, đồng thời là nhà văn hóa, nhà báo, nhà thơ lớn, Người đã mở đầu và góp phần quan trọng hiện đại hóa ngôn ngữ và câu văn Việt Nam. Suốt đời Hồ Chí Minh là người cầm bút chiến đấu trên mặt trận văn hóa, báo chí, với một văn phong đa dạng, nhiều sắc thái, mà điểm nổi bật là tính quần chúng, cách suy nghĩ và diễn đạt dân gian, dễ hiểu, đi sâu vang vọng trong lòng người, gợi mở những tư tưởng lớn lao, thúc đẩy những việc làm tốt đẹp, bằng những lời lẽ giản dị, giàu hình tượng, nói lên được điều lớn bằng những chữ nhỏ”.

Là những người làm báo Việt Nam, con cháu của Bác, chúng ta có thể nói một cách tự hào: Suốt cả cuộc đời vĩ đại của Bác là gắn liền với báo chí.

Một lần, phóng viên của Báo Giôvanni Giécmanétto, một tờ báo của Đảng cộng sản Ý, hỏi Bác:

– Tại sao anh lại sang châu Âu? Bác trả lời:

– Trước đây, tôi có đọc một số tờ báo Pháp, do những người lính lê dương đưa cho, một vài tờ có tính chống đối ở An – Nam. Vì thế, tôi nảy ra ý muốn sang xem “mẫu quốc” ra sao, và thế là tôi đã tới Paris.

Ở một bài báo khác, Bác cũng viết, lúc đó đọc trên báo Pháp, thấy người ta nói đến những từ đẹp đẽ “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” thế là mình muốn tới đó xem sao?

Như vậy là, ngay từ những ngày đầu “Tìm đường” của Bác, đã có sự tác động của báo chí. Sau này, trong hành trình qua Pháp, qua Mỹ, Anh, rồi cuối năm 1917 trở lại nước Pháp, hòa mình vào cuộc đấu tranh của nhân dân lao động và trí thức Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khởi đầu sự nghiệp cách mạng của mình bằng những hoạt động của báo chí.

Anh Nguyễn hiểu rằng, cách mạng muốn thắng lợi thì quần chúng đông đảo phải được tuyên truyền, phải được giác ngộ, phải được tập hợp. Và phương tiện tốt nhất để làm việc đó, không có gì hữu hiệu và sắc bén hơn là báo chí. Sau này, khi đã trở thành người lãnh đạo của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nói: Báo chí là tờ hịch của cách mạng!

Những ngày đầu học viết báo của Bác như thế nào, thì chúng ta đã nghe kể nhiều lần. Nhưng điều làm chúng ta ngạc nhiên, mà không phải chỉ chúng ta, nhiều bạn bè trên thế giới cũng ngạc nhiên là anh Nguyễn vừa phải kiếm sống, vừa phải học tập, vừa phải né tránh sự theo dõi, bắt bớ của kẻ thù, thế mà anh vẫn trở thành một nhà báo quốc tế lớn.

Thời kỳ ở nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết báo bằng tiếng Pháp (1919 – 1923), tiếng Anh, tiếng Nga (1929 – 1925), tiếng Trung Quốc (1927 – 1935), tiếng Thái Lan (1928 – 1929).

Nhiều tờ báo lớn như báo “Nhân Đạo” của Đảng cộng sản Pháp, “Người Thợ” của Liên đoàn Lao động Pháp, “Thư Tín Quốc Tế”, “Ngọn lửa nhỏ”, “Sự Thật” của Đảng Cộng sản Nga và nhiều tờ báo khác của phụ nữ, nông dân, thanh niên quốc tế… đều in nhiều bài của Bác.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là người đã sáng lập và trực tiếp chỉ đạo, viết bài, kể cả phát hành những tờ báo cách mạng: “Người cùng khổ” (1922), “Thanh Niên” (1925), “Việt Nam Độc Lập” (1941), “Cứu Quốc” (1942), vv…

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, với 50 năm làm báo (1919 -1969) Bác Hồ đã viết hơn 2.000 bài báo với nhiều thể loại và hàng trăm bút danh khác nhau.

Trưởng đại diện văn phòng UNESCO tại Việt Nam tại Hội thảo quốc tế về Di sản Hồ Chí Minh vừa được tổ chức tại Hà Nội ngày 12 – 5 – 2010 đã phát biểu:

“Trong lĩnh vực truyền thông và thông tin, chúng ta thấy vai trò của Người trong việc phát triển báo chí. Ví dụ: như Người đã lập ra tờ báo riêng của mình, tờ Le Paria, có nghĩa là “Người cùng khổ” vào năm 1922, và sáng lập ra “Thanh niên” tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam vào năm 1925 và trở thành tổng biên tập đầu tiên của ấn phẩm này. Người cũng lập ra tờ báo “Nhân Dân” cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hồ Chí Minh đã đưa ra một phong cách làm báo mới ở Việt Nam, lấy dân tộc và nhân dân làm chủ đề thời sự chính… Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cho nền báo chí cách mạng Việt Nam… Suốt đời mình, Người là một nhà báo. Người viết nhiều thể loại văn chương và báo chí: Bút ký, truyện thời sự, xã luận, thơ cùng các thể loại khác. Các bài báo của Người đi thẳng vào vấn đề và được viết một cách giản dị, rõ ràng và súc tích, rất dễ hiểu với độc giả đông đảo của Người”.

Cũng tại Hội thảo quốc tế về Di sản Hồ Chí Minh, các nhà ngôn ngữ học đều nói, Hồ Chủ tịch rất chú trọng cách viết. Người rất cẩn trọng ngay đến cách dùng một từ nhỏ, một dấu chấm câu, cách bố cục một bài viết.

Nhà báo Phan Quang kể lại, vụ chiêm 1958 nắng hạn to, nông dân huyện Tiên Lữ, Hưng Yên ra sức đào một con sông nhỏ thì Bác Hồ về thăm. Bác đi bộ rất nhanh giữa cánh đồng khô hạn, thăm hỏi bà con. Mọi người hoan hô Bác. Bác xua tay: “Đừng hoan hô Hồ Chủ tịch, hãy hoan hô nước khi nào nước về!”. Nhìn trong đám đông, thấy có một cụ già đang làm cùng con cháu, Bác đi lại nắm chặt tay cụ: “Tôi cảm ơn cụ đã làm gương cho con cháu!”

Hôm ấy, được đi theo Bác, nhà báo đã viết ngay một bài tường thuật dài đăng trên Báo Nhân Dân. Hôm sau, văn phòng Phủ Chủ tịch điện cho nhà báo đến gặp Bác. Bác đang làm việc, ngẩng lên:

– Chú Quang à, Bác đã đọc bài báo của chú. Viết thế là được. Nhưng Bác hỏi chú, trong bài mấy lần chú nhắc đi nhắc lại chuyện Hồ Chủ tịch đi bộ giữa cánh đồng. Vậy ra từ trước tới nay, Bác Hồ toàn đi xe, chưa từng lội bộ bao giờ à? Bác Hồ đi bộ thì có cái gì mà viết lắm thế?

Nhà báo bối rối, cảm ơn Bác và hứa lần sau sẽ viết cố gắng hơn.

Một lần khác, Bác đi thăm bà con nông dân gặt lúa ở ngoại thành. Hôm ấy, nữ sinh Trường Trưng Vương về lao động giúp dân. Bác vui vẻ động viên: “Các cô tiểu thư Hà Nội lao động có thành tích thì chú nhà báo này (Bác chỉ phóng viên báo Thủ đô Hà Nội) sẽ viết bài đăng lên báo để Bác khen thưởng”. Song Bác quay sang dặn thêm nhà báo: “Chú nhớ viết cho đầy đủ, không được để sót. Nhưng Bác bảo chú viết đầy đủ, chứ không phải là viết dài đâu nhé!

Bác cũng thường dặn dò các nhà báo:

“Báo chí của ta đã có một địa vị quan trọng trong dư luận thế giới. Địch rất chú ý, bạn rất quan tâm đến báo chí ta. Cho nên làm báo phải hết sức cẩn thận về hình thức, về nội dung, về cách viết”.

“Tiếng nói là thứ của cải lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp”. Và Bác là người đã có đóng góp lớn cho sự phong phú của tiếng Việt. Nhiều từ ngữ mới mà các nhà báo chúng ta đang dùng là do Bác sáng tạo ra như: Giặc đói, giặc dốt, óc bè phái, óc hẹp hòi, thói ba hoa, bệnh quan liêu, nạn tham nhũng, tệ lãng phí, chữ thập đỏ, các dân tộc anh em, các nước bầu bạn, vv…

Nhiều lần Bác nói với các nhà báo:

Trong nghề làm báo, ta có những kinh nghiệm của ta, nhưng ta cũng cần phải học thêm kinh nghiệm của các nước anh em. Muốn thế thì những người làm báo ít nhất cũng cần biết một thứ tiếng nước ngoài”.

Bác Hồ của chúng ta, trong lý lịch ở Quốc tế cộng sản Bác ghi biết 6 ngoại ngữ. Nhưng một nhà văn Mỹ nghiên cứu về Bác thì nói Bác Hồ biết thành thạo 12 ngoại ngữ.

Trong bài “Sen của loài người”, nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:

“Cuộc đời của Bác đâu phải một cuộc đời, mà là tổng hợp nhiều cuộc đời. Người thủy thủ có lịch sử 10 năm đi biển, ngang dọc các đại dương trên thế giới. Người làm báo lỗi lạc ở những thủ đô văn hóa lớn. Nhà thơ, nhà hiền triết có cái hồn yên tĩnh, trầm mặc của những vòm trời màu mây phương Đông… Cuộc đời nào cũng đẹp, các văn phong của Người lối nào cũng tài năng. Nhưng cuối cùng, Người đã vì ta chỉ sống có một cuộc đời: Cuộc đời lãnh đạo chúng ta làm cách mạng. Chỉ viết có một lối văn, lối văn giản dị, thuần phác. Chỉ mang một cái tên: “Bác” mà con cháu ta sẽ nhớ đến muôn đời!”.

(baothanhhoa.vn)
Người đăng: hoa bovai

tuoitrethanhhoa.com