Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

“Hình ảnh Bác Hồ là niềm tin đưa tôi đến với đam mê hội họa”

Dù chưa một lần được gặp Bác Hồ nhưng Trần Hòa Bình dành cho Bác một tình cảm đặc biệt bằng tấm lòng của người đam mê hội họa. Sau 40 năm gắn bó với nghệ thuật, ông đã vẽ hơn 500 bức tranh về Bác Hồ.

Căn phòng vẽ tranh sơn dầu của họa sỹ Trần Hòa Bình khá nhỏ và đơn sơ, nằm ở một góc nơi thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Lúc chúng tôi ghé thăm, ông vẫn đang say sưa với những nét vẽ Bác Hồ trong thời gian Người đang làm việc tại nước Nga.

Hơn 40 năm vẽ tranh về Bác Hồ

Sinh năm 1955 trong một gia đình có truyền thống lâu đời về vẽ tranh và chép tranh truyền thần, từ bé Trần Hòa Bình đã được làm quen với công việc vẽ tranh. Cha ông, cố họa sỹ Nam Phong (sinh năm 1917) vốn nổi tiếng đất Bắc là họa sỹ vẽ tranh truyền thần, trong đó phải kể đến bức tranh “Đức mẹ Việt Nam” mà hiện nay đang được trưng bày tại Italia.

Họa sỹ Trần Hòa Bình đang vẽ bức tranh Bác Hồ khi Người đang làm việc ở nước Nga

Ngay từ khi mới lên 8 tuổi, Trần Hòa Bình đã thể hiện rõ sự đam mê hội họa. Cứ mỗi buổi tối khi cha vẽ tranh xong, ông thường gom nhặt những mảnh giấy và mực màu cũ không dùng nữa để tập vẽ. Ban đầu, những nét vẽ của ông nguệch ngoạc, tay cứng đờ, vẽ cả ngày mà bức tranh nhìn không ra chủ thể gì. Không nản chí, ông vẫn kiên trì tập vẽ tranh và có thể vẽ ở bất cứ thời điểm nào nếu có thể, đặc biệt ông yêu thích những bức tranh về Bác Hồ và dành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu và vẽ tranh truyền thần về Bác.

Sau nhiều năm khổ luyện, cố gắng với không ít lần thất bại, Trần Hòa Bình bắt đầu cho ra đời những bức tranh truyền thần độc đáo. Những bức tranh chân dung về Bác Hồ của ông rất đẹp và không hề thua kém tranh của cha mình. Dấu ấn đầu tiên trong sự nghiệp hội họa là năm ông 16 tuổi, tác phẩm “Bác Hồ đang làm việc” của ông được gửi tặng đến huyện Kim Sơn để trưng bày trong tiền sảnh UBND.

Bức tranh về Bác Hồ đã hoàn thiện, giống hệt một bức ảnh Bác Hồ đã chụp trước đây

Thời gian đó, Trần Hòa Bình đứng trước nhiều nguy cơ phải nghỉ nghề do kinh tế gia đình khó khăn, bốn con nhỏ đang tuổi đến trường mà nghề hội họa chỉ là niềm đam mê chứ không thể làm giàu được. Gánh nặng “cơm áo gạo tiền” khiến ông nhiều đêm mất ngủ. Những tưởng ông sẽ bỏ công việc vẽ tranh để đi làm kinh tế, nhưng ông đã biết khắc phục khó khăn bằng cách ban ngày vẫn đi làm việc và tối về lại tiếp tục cống hiến cho nghệ thuật. Có hôm, ông thức cả đêm để hoàn thiện bức tranh Bác Hồ, khi bức tranh hoàn thiện, một niềm tin, sức sống mới lại bừng sáng trong ông, xua tan đi mọi mệt nhọc.

Cha mất, họa sỹ Trần Hòa Bình được kế thừa căn phòng tranh cổ kính truyền thống của gia đình cùng kho tàng ảnh tư liệu quý báu về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nhiều họa sỹ khác cho rằng Trần Hòa Bình mang nặng cái duyên với Người. Bởi lẽ, những hình ảnh về phẩm chất, nghị lực phi thường của vị lãnh tụ vĩ đại đã đưa ông đến với con đường hội họa. Vẽ tranh về Bác Hồ rất khó nên ít người theo mảng tranh này, bức tranh về Bác Hồ phải thể hiện được cái thần của người lãnh tụ yêu nước cũng như phong thái, nụ cười ung dung của Người với nhân dân.

“Hình ảnh Bác Hồ là niềm tin, sự đam mê đưa tôi đến với hội họa”

Vẽ tranh cũng cần có sự tâm huyết, lòng đam mê và tấm lòng của người cầm bút mực, chính vì thế nhân vật trong tranh cũng trở nên sinh động và có thần thái hơn. Hơn 40 năm gắn bó với nghề, Trần Hòa Bình đã nổi tiếng cùng những bức tranh truyền thần về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Kỷ lục vẽ 520 bức tranh truyền thần về Bác Hồ

Đã hơn nửa cuộc đời gắn bó với duyên nghề hội họa, họa sỹ Trần Hòa Bình không thể nhớ hết được bao nhiêu bức tranh ông đã vẽ, riêng tranh về Bác Hồ thì ông nhớ như in. Tính đến tháng 10/2010 ông đã vẽ 520 bức tranh về Bác ở nhiều thời kỳ cách mạng đã được công nhận. Từ đó đến nay, con số những bức tranh truyền thần về Bác Hồ đã lên đến gần 600 bức vẽ.

Họa sỹ Trần Hòa Bình cho biết: “Nhìn bức tranh Bác Hồ đơn giản nhưng vẽ thì rất khó, khó đến từng chi tiết nhỏ. Khi vẽ phải nhập tâm để thể hiện được thần thái của Người, đôi mắt phải sáng, bộ râu mềm mại và nụ cười nhẹ nhàng ấm áp như tình yêu thương của Bác dành cho nhân dân. Bức tranh truyền thần về chân dung Bác Hồ chỉ cần sai sót một chi tiết nhỏ thì coi như bỏ đi, phải vẽ lại bức khác”.

Căn phòng vẽ tranh của ông khá đơn sơ nhưng có truyền thống hàng trăm năm về hội họa

Trong căn phòng vẽ tranh có truyền thồng lâu đời của gia đình họa sỹ Trần Hòa Bình vẫn còn lưu giữ khá nhiều bức tranh truyền thần cổ kính, có bức tranh đã gần thế kỷ nhưng màu sắc không bị phai nhạt. Riêng tranh sơn dầu về Bác Hồ thì trong xưởng vẽ tranh của ông chỉ còn duy nhất 1 bức và 1 bức ông đang vẽ. Ông tâm sự: “Tranh sơn dầu về Bác Hồ được rất nhiều người yêu thích, đặc biệt các văn phòng, công sở Nhà nước thường mua về trưng bày lấy Bác làm tấm gương học tập. Chính vì thế ngoài những bức tranh khách đặt hàng, mình vẽ xong bức nào về Bác là vài ngày sau lại có người đến xin mua lại để làm kỷ niệm hoặc làm quà biếu người thân”.

Những bức tranh truyền thần về chủ tịch Hồ Chí Minh của họa sỹ Trần Hòa Bình được nhiều người biết đến, từ Nam ra Bắc. Có người ở tận Cần thơ, Cà Mau vẫn tìm ra Bắc đặt tranh của ông. Mấy năm trước, đã có người đặt ông vẽ 5 bức tranh truyền thần Bác Hồ để đưa sang Pháp tặng người thân.

Họa sỹ Trần Hòa Bình bên bức tranh mới nhất về Bác Hồ

Họa sỹ Trần Hòa Bình có bốn người con và đều nối nghiệp gia đình theo nghề hội họa. Thế nhưng điều khiến họa sỹ Trần Hòa Bình trăn trở nhất là số họa sỹ có thể vẽ tranh, chép tranh về Bác Hồ còn rất ít, thế hệ trẻ thì càng khó thành công ở lĩnh vực này.

“Tôi đặt hy vọng nhiều ở người con trai cả Thế Anh, hiện cháu đang vẽ tranh cho một Trung tâm thương mại ở Hà Nội. Tôi mong sẽ truyền lại được sự đam mê, tình yêu thương với những bức tranh truyền thần về Bác Hồ để cháu nối nghiệp. Còn bây giờ tôi vẫn tiếp tục vẽ tranh về Bác, chỉ mong sao con cháu thế hệ sau mãi biết đến, học tập và làm theo tấm gương Bác – vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc”, họa sỹ Trần Hòa Bình bày tỏ.

Theo Báo Dân Trí Trực tuyến

hcmpc.com.vn

Nâng niu tất cả chỉ quyên mình (Phần 3)

Chân dung Hồ Chủ tịch

Có lần Bác đến dự cuộc họp cán bộ cấp cao, khi nghỉ giải lao các đồng chí vào phòng giải khát riêng, còn anh em khác không thuộc diện tiêu chuẩn đứng ngoài uống nước trà, thấy vậy Bác ra mời anh em vào hết, Bác bảo: “Ai đến họp đều có phần như nhau”. Cứ mỗi lần chiêu đãi khách khi tan tiệc Bác bảo “Theo tục lệ Việt Nam, khi đi ǎn cỗ thì phải có phần mang về, các chú nhớ lấy phần về chia cho người ở nhà cho các cháu, người được ǎn phải nhớ người ở nhà” . Việc đó thành nếp mãi về sau. Ai được Bác chiêu đãi đều có phần mang về cho người ở nhà.

Về tặng thưởng của Bác thì có nhiều với mọi đối tượng. Hồi mới đầu kháng chiến có một phóng viên nước ngoài gửi tặng Bác mấv bức ảnh, Người không quên gửi tặng lại ảnh có tựa đề thân thiện, Ai có thành tích kháng chiến Bác gửi thư khen ngợi gửi tặng quà là chiếc áo mà đồng bào tặng Bác Khi cấp dướí ốm đau Bác biết, Bác đến tận giường bệnh hỏi thǎm Người yêu thơ gửi thơ tặng Bác, Bác gửi tặng lại thơ những bài thơ đó thường là thơ tức cảnh, là cảm xúc thực, dung dị, xuất phát từ hoàn cảnh thực mà ai nhận được cũng cảm thấy gần gũi, xúc động bởi trái tim và tấm lòng Bác quá bao la, soi rõi tận tâm can xúc cảm của con người. Những ngày cuối cuộc kháng chiến, Bác nhận được thơ của hai cháu thân quen là Hà, Hạnh (con gái nhà vǎn Đặng Thai Mai). Bác viết thư trả lời và gửi kèm “Bài thơ tức cảnh khi thức giấc”:

Kìa bãi cát, nọ rừng thông,
Nước nước, non non, khéo một vùng,
Đang đợi người thơ cùng bạn vẽ,
Đến chơi cảnh trí với rừng sông.
Tay đàn, cặp sách, ông đầu bạc.
Hồ rượu, xâu nem, ả má hồng.
Được phép ngao du cùng tuế nguyệt
Vì rằng kháng chiến đã thành công.

Khi biết tin chị Hà có thai, Bác viết thư cǎn dặn. “Phải cẩn thận, nếu không cần kíp lắm thì không nên cưỡi ngựa, lội suối trèo đèo và làm gì nặng nề mệt nhọc quá. Bao giờ có dịp Bác sẽ đến thǎm cháu…”. Có lẽ món quà quý nhất đối với người nhận là mấy lời Bác dặn dò chân tình, là câu thơ, bài thơ được Bác viết tặng với một nỗi niềm tâm sự, một cảm xúc tràn đầy tình người, một niềm hy vọng về tương lai tươi sáng cho người nhận cho tất cả đất trời, nhân loại. Khi biết tin cụ già ở Hải Phòng tuổi đã trên trǎm, vẫn cùng con cháu cầm bút cắp sách đi “diệt giặc dốt”, Bác viết thư khen ngợi “Cụ đã nêu tấm gương sáng cho con cháu noi theo…”. Đọc báo Bác biết tin đội dân quân gái, đội lão dân quân có thành tích bắn rơi máy bay Mỹ, Bác gửi thư, tặng cờ khen thành tích. Giặc Mỹ ném bom ra miền Bắc? Bác tặng cờ thưởng luân lưu cho quân và dân Quân khu IV, cho các tỉnh tuyến đầu “Cờ thưởng luân lưu” của Bác dành thưởng cho những đơn vị bắn rơi nhiều máy bay nhất trong ngày, trong tháng, trong nǎm, Cho nên cờ được chuyền tay nhau đi đến các trận địa nơi nóng bỏng nhất như thêm sức mạnh cho các chiến sĩ “nhằm thẳng quân thù mà bắn”, quyết vít cổ “thần sấm”, “con ma” thật nhiều dâng Bác, dâng Tổ quốc.

Hàng tháng Bác dặn đồng chí Vượng phụ trách khen thưởng Phủ Thủ Tướng, tổng kết lại trong tháng mỗi tỉnh, mỗi ngành, mỗi bộ, mỗi trường học, đoàn thể được Bác thưởng bao nhiêu huy hiệu. Có con số cụ thể để điều tra xem xét. Vì sao nơi này nhiều nơi kia ít Vì sao ít, có phải vì phong trào kém hay vì chưa có báo cáo kịp thời, để nhắc nhở những nơi đó. Hàng ngày Bác đọc báo, có tin người tốt việc tốt Bác thấy thưởng được huy hiệu là Người vòng tròn bên cạnh, đồng chí giúp việc Bác dựa trên những dánh dấu đó mà gửi tặng huy hiệu. Đặc biệt khi thưởng huy hiệu Bác chú ý nhất là những người đi đầu khởi xướng phong trào, còn khi đã thành phong trào thì phải có thành tích cao và liên tục. Chị Phạm Thị Vách người đi đầu trong phong trào thuỷ lợi của tỉnh Hải Hưng Bác gửi thưởng huy hiệu cho chị Vách, còn sau đó đã thành phong trào có người đạt thành tích cao hơn chị Vách nhưng Bác chưa thưởng. Lúc đầu chuyên gia nước bạn sang giúp ta còn ít, Bác tặng huy hiệu của Người. Về sau sang đông, nhiều nước khác nhau, ta chủ trương tặng huy hiệu hữu nghị. Họ không thích, họ bảo huy hiệu Bác Hồ quý hơn. Đi xuống địa phương để khuyến khích phong trào trồng cây, Bác chỉ cây đa to ngoài đồng với các đồng chí cán bộ địa phương: “Các chú biết không khi xưa các cụ ta trồng cây đa ngoài đồng là để khi làm mệt, trời nóng người ta tránh nóng, hồi xưa các cụ đã làm được thế, ngày nay chẳng lẽ con cháu không biết noi theo, trồng nhiều cây hơn để khi đi trên đường đâu cũng có bóng mát. Khi biết những nơi chưa có phong trào trồng cây tốt có nơi trồng nhiều nhưng không chǎm sóc để cây chết và bị hỏng nhiều, nên hiệu quả thấp, thấy vậy Bác phát động phong trào “Các cụ trồng, các cháu chǎm”, Từ đó miền Bắc phong trào trồng cây phát triển vững chắc hơn.

Bác đặc biệt quan tâm đến ngành giáo dục, vì nước muốn mạnh dân trí phải cao. Đầu tư, quan tâm đến giáo dục là việc làm cho tương lai, sau khi cách mạng thành công Bác viết lá thư đầu tiên là lá thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam mới. Trong số lần đi thǎm các cơ quan đơn vị, địa phương… Bác dành nhiều lần, nhiều thời gian về thǎm các trường học. Bác quan tâm đến ngành giáo dục không chỉ trên giấy tờ mà ở những chính sách. Bác cǎn dặn các cán bộ từ Trung ương đến địa phương, các ngành, các đoàn thể phải xem giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội, thể hiện ở trong các chủ trương, chính sách phải được thực thi trong cơ chế thích hợp. Bác tặng thưởng cho giáo viên dạy giỏi, cho học sinh học giỏi. Giải thưởng là một cuốn sổ đặt tên là “Giải thưởng Bác Hồ”. Khi làm cuốn sổ thưởng Bác dặn, đây là giải thưởng nhưng nên có giấy cho các cháu dùng, sổ phải kẻ hàng cho các cháu dễ viết, in tên trường, lớp, tên học sinh. Trên trang đầu in 5 điều Bác Hồ dạy thiếu nhi. Những quyển sổ giải thưởng đó ra đời nǎm đầu tiên của chính quyền cách mạng, là nguồn động viên lớn lao cho thầy và trò lập thành tích trên mặt trận giáo dục. Sau này ngành giáo dục đề ra tiêu chuẩn đạt giải thưởng Bác Hồ” quá cao, các môn học phải đạt điểm 10 và đạo đức tốt. Bác có ý kiến đối với các cháu học sinh dân tộc ít người nên châm chước có thể có điểm 9 vẫn được thưởng. Từ khi phát động phong trào đến nǎm 1968 tổng kết lại ngành giáo dục đã nhận được 6210 giải thưởng của Bác Hồ, trong đó có 423, giải tặng cho giáo viên dạy giỏi có thành tích tốt.

Món quà Bác tặng, tuy nhỏ bé nhưng mang một ý nghĩa thiết thực, mà Bác gửi gắm vào đó một điều mong muốn, một lời khuyên chân tình. Có lần anh em trẻ mới bổ sung làm nhiệm vụ bảo vệ cơ quan, vì chưa quen một số nguyên tắc bảo vệ nên thường có mặt hạn chế. Khi thấy Bác có đôi đũa đẹp, anh em bànnhau dấu đi, mỗi người cắt một khúc giữ trong mình làm kỷ vật. Đồng chí phụ trách phê bình anh em gay gắt. Biết chuyện, Bác lấy tặng mỗi người một cuốn sổ với lời đề tặng. Anh em rất sung sướng và cuốn sổ ngày ngày được anh em dùng ghi những việc làm tốt, những suy nghĩ hay: Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam còn lưu giữ hai kỷ vật Bác tặng, đó là chiếc máy quay đĩa và ghi âm vào đĩa nhựa hiệu Wilox má bà con Việt kiều tặng Bác khi Bác sang Pháp nǎm 1946. Chiếc đồng hồ Rolex Royal do Việt kiều ở Thái Lan tặng Bác, Bác cũng tặng lại đài.

Bác viết hàng nghìn bài báo, khi có nhuận bút vǎn phòng đều gửi vào tiết kiệm, đến nǎm 1967, tổng số tiền lên đến 25.000 đồng (tương đương 60 cây vàng), khi biết, bộ đội pháo binh trực chiến dưới trời nóng, khát nước, Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ chuyển số tiền đó để mua nước uống cho các chiến sĩ trực phòng không. Bác lo cho con người từ cái nhỏ nhất đến việc lớn, Bác quan tâm từ người cán bộ đến anh em chiến sĩ, dù ở đâu, hoàn cảnh nào. Nhớ lần họp Hội đồng Chính phủ tại thôn Chúc Sơn đầu nǎm 1948, đồng chí Hoàng Hữu Nam nhờ cụ chủ nhà mua hộ cho 20 quả trứng luộc để anh em ǎn về đêm cho đỡ đói Giữa cuộc họp Bác đến, cùng lúc đó rổ trứng được mang đến, Bác biết số trứng không đủ cho số người họp, nhưng nhất định từ chối không được, Bác vờ lấy một quả như mọi người. Có lần nhân ngày sinh nhật Bác, ở chiến khu anh em phục vụ cố gắng cải thiện bữa ǎn tươi. Gần trưa Bác đứng hóng mát ở bóng cây thấy một đồng chí cán bộ đi công tác, phi ngựa qua, Bác cho gọi lại và mời vào ǎn cơm thân mật với Bác và anh em nhân ngày vui. Được biết bố đẻ liệt sỹ Lý Tự Trọng (thời kỳ Bác hoạt động ở Thái Lan, ông này thường mời Bác những món ǎn dân tộc mà Bác rất thích) ra Hà Nội, Bác cho mời vào nơi Bác, trong không khí hàn huyên nhớ thủa hàn vi, Bác mời ǎn những món ǎn xưa như để nhắc lúc nào cũng nhớ về nhau như đôi bạn tri kỷ. Hồi ở chiến khu, Bác tiếp anh hùng La Vǎn Cầu, khi anh qua một trận chíến đấu rất anh dũng. Đến bữa cơm Bác nói chân tình để anh ǎn được nhiều cơm: “Hôm nay Bác thết chú, chú ǎn đừng làm khách nhé, bởi toàn “cây nhà lá vườn” cả, này nhé rau xanh Bác trồng, gà Bác nuôi, trứng là trứng gà Bác nuôi đẻ đấy, chỉ có mǎng muối là phải mua thôi. Chú ǎn thật no đấy!”. Hai Bác cháu chuyện trò vui vẻ bữa ǎn anh Cầu ǎn được nhiều hơn bình thường. Tối đó Bác lưu anh Cầu ở lại ngủ qua đêm. Bác quý, Bác xem anh như con đẻ. Sau này về Hà Nội, tại cuộc họp Quốc hội, khi nghỉ giải lao, Bác gọi anh Cầu lại hỏi thǎm sức khoẻ, gia đình. Biết anh Cầu đã có vợ, con. Vợ anh, là chiến sỹ thi đua ngành công nghiệp giấy Trần Thị Thanh, Bác hỏi anh Cầu: “Thế cô ấy có lớn lên được tý nào không?”. Hôm sau Bác mời cả nhà anh vào thǎm Bác tại Phủ Chủ tịch. Bác ân cần, chu đáo quan tâm đến con người là vậy, nhớ lần Bác đến thǎm bệnh viện Khu tự trị Việt Bắc, Bác hỏi người phụ trách trong bệnh viện có bệnh nhân nào nặng nhất, cho Bác đến thǎm. Bác được dẫn đến chỗ chị cấp dưỡng khu gang thép Thái Nguyên, chị bị bỏng đến 80%, lúc đó chị đã qua cơn nguy kịch nhưng vẫn nằm bất động, Bác đến gần giường ân cần hỏi:”Cháu có đau lắm không?”. Biết bệnh tình nguy kịch Bác rất lo cho tính mạng chị Bác dặn y bác sĩ: “Bệnh nặng thế liệu có chữa khỏi không? Các cô các chú cố gắng cứu lấy chị”. Bác đến thǎm như thêm sức mạnh kỳ diệu cho chị và cả tập thể y bác sĩ, họ đã quyết tâm vượt qua được cơn bệnh hiểm nghèo.

Những chuyến đi xuống thǎm các cơ sở sản xuất, thǎm nhân dân, mặc dầu đã có chương trình bố trí cho Bác đi, nhưng Bác vẫn có cách tiếp xúc trực tiếp với dân. Một lần nhân đầu nǎm mới Bác lên Vĩnh Phú thǎm và chúc tết Các đồng chí cấp tỉnh đã chuẩn bị một số nơi cho Bác đến. Bác biết, nên Bác chưa đến những nơi đó trước. Bác vào thǎm một gia đình của một đồng chí dang chiến đấu ở miền Nam, Bác ân cần hỏi thǎm sức khoẻ gia đình việc học hành của các cháu và sự quan tâm của địa phương ra sao, chị chủ nhà nói những gì có thật, khác xa sự báo cáo của địa phương, Bác không vui, Bác phê bình thế là không tốt với dân, lừa dối cấp trên. Khi tập trung nói chuyện với nhân dân các đồng chí cán bộ thì ngồi gần Bác, còn các cụ thì ngồi phía sau chỗ xa Bác đứng. Bác trực tiếp sắp xếp lại, Bác mời các cụ lên ngồi gần Bác, rồi Bác mới bắt đầu nói chuyện. Bác rất biết những nhược điểm của một số cán bộ thường mắc bệnh hình thức chủ nghĩa, cho nên khi đi đâu thǎm dân, Bác dặn các đồng chí phục vụ, bảo vệ không được cho cán bộ địa phương biết trước. Một lần Bác xuống thǎm nhà trẻ, Bác đi vào cổng giữa trời nắng chang chang đã thấy hai dãy hàng các cháu, quần áo ǎn mặc chỉnh tề, cháu nào mặt cũng đỏ gay vì nắng. Thấy Bác các cháu rất vui, Bác cùng hoà trong niềm vui với trẻ thơ như để bớt đi nỗi vất vả mà các cháu phải chịu đựng khi chờ đợi Bác. Nhưng khi về Bác phê bình, vì sao “để lộ ra” , vì sao bắt các cháu đứng giữa nắng. Tết nǎm 1962, theo kế hoạch ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội bố trí Bác đi chúc tết một số gia dình, Bác dặn đồng chí phục vụ ngoài chương trình của thành phố bố trí cho Bác đi thǎm một số gia đình còn khó khǎn. Sau khi “hoàn thành” chương trình của thành phố, Bác vào phố hàng Hàng Chĩnh đến thǎm nhà chị Tín. Chị đi gánh nước thuê ra đến ngõ thì gặp Bác, cảm động quá đôi quai thùng rơi xuống đất. Bác đến gần ôn tồn động viên chị, hỏi thǎm sức khoẻ gia đình và học hành của các cháu. Được biết chồng mất sớm, một mình nuôi bốn con còn nhỏ, thiếu ǎn, thiếu mặc nên các cháu thất học. Nhìn trong nhà thấy không có gì cả, Bác hỏi; “Thế mẹ con cô ǎn tết thế nào?”. Chị trả lời trong nước mắt: “Dạ thưa Bác không có gì để đón tết cả, cả nhà chỉ còn một lon gạo để dành sáng mồng một tết nấu cháo cho các cháu ǎn, nên tuy nǎm hết tết đến cũng phải tranh thủ đi gánh nước thuê, kiếm ít tiền mua cái gì cho các cháu”. Nghe vậy, Bác rất cảm động. Bác tặng quà cho các cháu và dặn: “Cố gắng sǎn sóc các cháu”, Chị cảm động nói? “Không ngờ như gia đình cháu mà Bác cũng đến thǎm”. Bác ân cần bảo: “Bác không đến thǎm những gia đình như gia đình cô thì thǎm ai”. Khi xe đưa Bác về đến nhà thì gia đình một số đồng chí cán bộ vui mừng ra đón Bác, chúc tết Bác. Nhưng tất cả bỗng im lặng và đi chậm lại khi thấy Bác đi chúc Tết về mà không vui, vào nhà, Bác kể chuyện đến thǎm gia đình chị Tín cho mọi người nghe, và Bác nhấn mạnh: “Ta có chính quyền trong tay nhưng không sát dân, cho nên phục vụ nhân dân chưa tốt”. Sáng hôm sau mặc dầu mồng một Tết Bác cho gọi đồng chí Chủ tịch ủy ban Nhân dân thành phố lên và nói lại chuyện trên, Người nghiêm khắc nhắc nhở chung cán bộ thành phố chưa sâu sát dân, chưa biết cách tổ chức vận động nhân dân “lá lành đùm lá rách” có nhiều gia đình Tết đến mà không có Tết, đó là lỗi của cán bộ không gần dân, ta có chính quyền nhưng chưa gần và hiểu dân”. Bác đến thǎm dân, Bác tới những nơi cán bộ ít hoặc không bước chân đến, nơi đó người dân phải chịu đựng nỗi vất vả, gian nan.

Nhớ lần Bác đến thǎm một cơ quan Bác đi thẳng vào nhà ǎn, Bác bước xuống chỗ nhớp nháp, trơn, đồng chí cán bộ lãnh đạo cơ quan vội thưa Bác là chỗ đó bẩn, dễ ngã, đồng chí mời Bác đi hướng khác, nhưng Bác không nghe, Bác nói: “Bác đi lối này để chú biết lần sau dọn cho sạch sẽ”. Vào nhà ǎn Bác xem kỹ tường, trần nhà, nền nhà bàn ǎn, Bác chỉ vào chỗ ruồi đang bay, Bác bảo: Hình như có tiếng vè vè của máy bay “trực thǎng”. Bác phê bình, đại ý “hồi xưa thằng Tây nó to, ác như thế, nó có súng to súng nhỏ mà ta còn đánh được, thế mà bây giờ con ruồi nó không có súng, nó không to thế mà các cô các chú không đoàn kết tiêu diệt được nó”. Bác phê bình là vì sức khoẻ của anh em cán bộ, Bác mong mọi người cùng nhau tiến bộ không chỉ ở những công việc lớn lao mà ngay cả những việc tưởng tầm thường nhỏ nhặt. Có lần đến thǎm đơn vị, thấy một đồng chí có vết bẩn ở mặt mà đồng chí không chú ý nên không biết. Bác đến gần ân cần lấy khǎn mặt của mình lau cho đồng chí và phê bình nhẹ:”Lần sau chú phải chú ý hơn”. Tết nǎm 1956, Bác đến thǎm trường thương binh hỏng mắt, Bác vui vẻ nói chuyện với anh em thương binh. Bác rất khen ngợi tinh thần khắc phục khó khǎn, bệnh tật, luôn cố gắng phấn đấu vươn lên Bác rất vui lòng khi được biết số tiền Bác tặng đã được dùng vào trồng rau, nuôi lợn cải thiện bữa ǎn cho anh em. Bác ân cần động viên: Các chú được học chữ, học nghề sau này phục vụ nhân dân được tốt hơn, như vậy các chú “tàn nhưng không phế”. Thời kỳ kháng chiến ở chiến khu, khi nghe tin đôi trai gái Bác quen biết, tổ chức lễ cưới Bác bận không đến được, Bác gửi thiếp chúc mừng:

“Chúc Lương Thuận đoàn kết chặt chẽ. Ký tên Hồ Chí Minh” Lần sau nhân dịp đi công tác Bác ghé thǎm nhà, anh chị là cán bộ tài chính nhưng kinh tế cũng như mọi gia đình khác vào nhà không có bàn ghế ngồi Bác bảo ra ngồi ngoài thềm cho thoáng mát, Bác ngồi xuống vỉa hè bảo chị Thuận và mọi người cùng ngồi cạnh, Bác hỏi thǎm mọi mặt, Bác khuyên nên tích cực tǎng gia sản xuất, thấy cháu bé con chị ngồi trong xe cút kít làm bằng gỗ, Bác bế cháu âu yếm, dỗ dành bón từng thìa cơm cho cháu. Nhớ hồi ở Pác Bó, khi vào bản thǎm bà con thấy các cháu nhỏ nghịch dơ bẩn không tắm giặt, Bác bảo các đồng chí cùng đi tìm một cây gỗ lớn về làm một cái máng đựng nước rồi tắm cho các cháu. Thời kỳ Bác ở Trung Quốc, có lần đến tuyên truyền cách mạng trong anh em công nhân đường sắt Bác ở tạm trong một cơ sở tin cậy, thời gian rỗi Bác thường tham gia lao động giúp gia đình, như chặt củi, hái rau, nấu cơm. Thấy chị chủ nhà vất vả, lo toan mọi việc, Bác không nề hà giúp chị trong những công việc của người phụ nữ. Gia đình có cháu bé hay khóc, Bác dỗ rất khéo tắm giặt sạch sẽ, khéo vỗ về nên khi Bác cho ǎn cháu thường ǎn được nhiều, từ đó, cháu ít khóc, chóng lớn, không những chỉ chủ nhà mà mọi người ai cũng khen và phục tài cúa Bác. Có lần Bác gặp gỡ các anh hùng lực lượng vũ trang, thấy cô gái nhỏ bé, Bác đến gần và hỏi:

“Cháu là gì”, cô gái thưa với Bác: “Dạ thưa Bác, cháu là dân quân” Bác vui vẻ nói: “Là dân quân, cháu vừa là dân, vừa là quân, hai nhiệm vụ nặng nề cháu có vất vả lắm không?”.

Thường thường trước ngày duyệt binh kỷ niệm Quốc khánh 2-9, Bác đến thǎm các lực lượng tham gia duyệt binh thử, Bác nói đại ý, hôm nay Bác đến để các cô các chú nhìn thấy Bác trước, ngày mai tại quảng trường Ba Đình trước toàn dân và khách quốc tế các cô các chú lo làm cho đúng động tác, khỏi ảnh hưởng đến quân thể và uy tín của các lực lượng vũ trang.

Bác Hồ gần với dân là vậy. Không chỉ xuất phát từ nỗi lo toan của vị Chủ tịch nước với dân mà còn là tình thương yêu con người với con người. Bác lo lắng giáo dục đội ngũ cán bộ vừa có tài nhưng phải có đức. Bác theo dõi sự tiến bộ của cán bộ từ học hành, công tác đến các mối quan hệ với dân. Bác thương yêu giúp đỡ những người yếu, những hoàn cảnh khó. Nỗi lo, tình thương ở Bác đã trở thành tâm linh của một vĩ nhân, một bậc thánh hiền.

sites.google.com

Nâng niu tất cả chỉ quyên mình (Phần 2)

Chân dung Hồ Chủ tịch

Nhiều lúc Bác muốn đi dã ngoại bí mật vừa thǎm dân được lâu, rõ hơn và thay đổi không khí. Bác bảo đồng chí phục vụ chuẩn bị thức ǎn, không nói với ai, sáng đi sớm không mang theo bảo vệ và quay phim, chụp ảnh. Hành trình Bác định trước đến đâu thǎm nơi nào, nghỉ ǎn cơm ở đâu, mấy giờ về… Bác thấy đi như vậy thoải mái, thích thú lại đỡ tốn thời gian và tiền bạc. Vì một lần Bác về thǎm một tỉnh nghèo cán bộ tỉnh tổ chức liên hoan linh đình đón Bác, Bác bảo: “Các chú làm thế này thì lần sau dân không ai mong Bác về nữa các chú cho công an, bộ đội đứng gác khắp nơi làm dân họ sợ không dám đến gần Bác. Mà dân có đến cũng là do các chú sắp đặt nên không tự nhiên vui vẻ” . Đến thǎm vào mùa rét Bác đội mũ lông, quấn khǎn kín, hôm đó các đồng chí quay phim nhiếp ảnh đông Bác nói vui, hôm nay Bác không biểu diễn đâu, các chú chẳng có làm ǎn được gì. Hôm đó vui kể chuyện đồng chí bác sĩ người Cửu Long kể ở trong đó có những con tôm to bằng bắp tay, đồng chí Vũ Kỳ không tin, Bác cười góp vui nghe nói Đồng Tháp mười có muỗi to lắm, muỗi đậu ngoài màn người nằm trong màn nắm được chân nó, nó dẫy hai cánh đập như hai cái quạt máy mát lắm, mọi người được phen cười vui vẻ.
Tết nǎm 1966, Bác về thǎm tỉnh Thái Bình. Ngày 30 Tết Bác đi thǎm và nói chuyện một số nơi. Đêm 30 Tết; Bác tranh thủ làm việc, liên quan đến chương trình mồng Một Tết, Gần đến Giao thừa, đồng chí phục vụ mời Bác đi nghỉ. Bác bảo “Còn ít phút nữa bước sang nǎm mới, cộng việc của nǎm cũ không nên để lại”. Xong công việc thời gian đã chuyển sang nǎm mới, biết phòng bên có nhiều người thức dậy đón nǎm mới, Bác xách đèn bão sang thǎm và chúc tết mọi người, sau đó Bác trở về làm việc tiếp. Bác về thǎm tỉnh lần thứ 5, Bác bảo Thái Bình là tỉnh 5 tấn, Bác đã về 5 lần, nếu thêm nhiều tấn nùa Bác sẽ về nhiều nữa.

Lòng tin ở nhân dân trong Bác là tuyệt đối, Bác bảo nếu trong dân còn người xấu, họ chưa yêu cách mạng thì cách mạng phải tỏ rõ lòng khoan dung, thuyết phục chứ tuyệt đối không bắt ép. Có lần Bác về thǎm tỉnh Yên Bái, các đồng chí bố trí mít tinh đón Bác trong doanh trại tỉnh đội Bác không đồng ý, Bác nói mít tinh đón Bác không nên làm trong đơn vị bộ đội, các chú canh gác cẩn mật thì ai dám vào, vả lại nếu mọi người vào được thì còn đâu là cẩn mật. Theo ý Bác nên chọn chỗ nào thuận tiện để mọi người đến được, thành phần đến tham dự là toàn dân. Các đồng chí bảo vệ cứ bǎn khoǎn sợ kẻ xấu lẫn vào, biết được ý nghĩ đó, Bác nói: “Những người xấu cũng cho họ vào, nếu không cho họ nghe chuyện thì làm sao họ giác ngộ được, họ sẽ không làm điều gì xấu đâu”. Lần về thǎm mỏ Quảng Ninh công nhân phấn khởi chạy ào ra đón Bác, có chị cũng vội bế con chạy ra đón Bác, vì vội quá nên không kịp thấy trong tay con mình cầm vật gì. Thấy hai mẹ con chạy vội, Bác ôn tồn: “Đi từ từ kẻo ngã” Bác tiến lại gần hai mẹ con, Bác nhẹ nhàng gỡ con dao nhỏ trên tay đứa bé rồi đưa cho chị và ân cần dặn: “Đừng cho trẻ con chơi dao, nguy hiểm” , lúc đó mọi người mới nhận ra. Bác đi thǎm đảo Vạn Hoa, Bác hỏi các chiến sỹ có được xem phim, xem vǎn nghệ thường xuyên không, các chiến sĩ trả lời Bác là 6 tháng được xem phim một lần, còn vǎn nghệ thì chưa lần nào. Bác quay sang đồng chí Lê Trọng Tấn nói: “Hôm nay có ông tướng đi cùng đây “ông” nghĩ thế nào?”. Đồng chí hứa với Bác là sẽ sửa chữa khuyết điểm, Bác nói ngay: “Chú hứa chung chung quá” đồng chí hứa với Bác là 6 tháng một lần xem vǎn công còn 3 tháng một lần xem phim, Bác gật đầu, cười đồng ý.
Ban Việt kiều đưa lên Bác kế hoạch đón Việt kiều ở Thái Lan về nước Bác phê bình, là chỉ chú trọng đến lễ đón tiếp chứ không chú ý bố trí công ǎn việc làm, nơi ǎn ở cho người về nước, Bác chỉ thị, phải có biện pháp cụ thể cho tương lai của kiều bào, sử dụng hợp lý khả nǎng chuyên môn, công việc của họ, và trường học cho con em Việt Kiều.

Bác giáo dục cán bộ đối với nhân dân không được phân biệt, cách biệt, không được có thái độ cho dân vùng này tốt nơi kia xấu, ở đâu, người nào cũng phải bình đảng, tôn trọng yêu quý nhân dân thì họ mới yêu quý cán bộ. Đối với dân tộc ít người, tôn giáo hay Việt kiều về nước, tinh thần đại đoàn kết của Bác luôn luôn được mọi tầng lớp mọi giới ủng hộ.

Bác đến thǎm huyện Mường Tè, nơi xa xôi của tỉnh Lai Châu, khi thấy nhân dân còn cực khổ lạc hậu, Bác đi bộ xuống tận bản làng nơi nhân dân đang sống theo tập quán cũ, Bác bảo, chúng ta có Đảng, có Chính quyền nhưng chưa mang ánh sáng vǎn minh đến những vùng cao như ở đây, chúng ta còn có lỗi với dân, rồi Bác chỉ thị cho cán bộ địa phương phải có biện pháp cụ thể giúp đỡ đồng bào cải thiện đời sống, lối sống, để họ dần dần tiến kịp miền xuôi, có như vậy cách mạng mới thực sự của toàn dân, công bằng với mọi nơi. Nǎm 1957 , Bác về thǎm Đồng Hới, khi được biết nguyện vọng của đại biểu Phật giáo thiên chúa giáo xin được thǎm Bác. Mặc dầu chương trình rất nhiều, Bác bảo, gặp cán bộ cốt cán, đảng viên thì lúc nào cũng được, bây giờ các chú để Bác được gặp các Cụ. Bác đi bộ đến chỗ các cụ đã tập trung đông đủ, lúc đó có một bà cụ thay mặt mọi người mang bó hoa lên tặng Bác. Bác sung sướng cầm bó hoa và cảm ơn, rồi nhanh nhẹn tách bó hoa làm đôi đi đến tặng cho sư Phổ Minh và cha cố Thông. Những người có mặt lúc đó ai cũng cảm động và quý phục phong cách linh hoạt tài tình của Bác. Một biểu hiện đoàn kết tôn giáo cao quý đẹp đẽ cử chỉ đó của Bác đã nói bao điều mà ai cũng hiểu, ghi nhớ sâu sắc Hai lần về thǎm quê hương Nghệ An, Bác đều đến thǎm Hội Phật giáo, sư bà Thích Dlệu Niệm tặng Bác lẵng hoa làm theo 5 cánh “5 chân lý hợp nhất” và một bài thơ, Bác trân trọng nhận hoa và đọc thơ, xong Bác lấy bút đề tặng lại thơ cho nhà sư nữ và cho cả tǎng ni phật tử Nghệ An. Đến nǎm 1962, Bác đến thǎm trường Hội Phật giáo, lúc đó sư nữ Thích Diệu Niệm cũng ra học, từ xa Bác đã nhận ra, Bác đến nói chuyện hỏi han công việc Hội Phật giáo Nghệ An, nhà sư tặng Bác bài thơ, ý trong bài thơ là làm tốt những điều Bác dặn khi hai lần về thǎm quê, Bác vui vẻ bảo: “Như ri thì sư nhớ lời Bác dặn”.

Bác quý trọng nhân cách con người. dù người đó là ai, tầng lớp nào, bên Bác dẫu một lần ai cũng cảm thấy giá trị của cuộc đời được nâng lên. Bác không bao giờ nói “cho” mà chỉ nói “biếu cô”, “biếu chú”, “tặng cô”, tặng chú”… Bác không ngồi nghe khi người khác đứng nói, sẵn có ghế Bác mời cùng ngồi, nếu không có ghế thì cùng đứng có lần đến thǎm bà con nông dân, có các cụ già đến nghe Bác nói chuyện không có ghế phải ngồi xuống đất, Bác bảo tìm ghế cho các cụ rồi Bác mới bắt đầu nói chuyện với mọi người.

Khi có chút quà ngon, Bác không dành riêng cho mình, mà dẫu ít Bác cũng chia đều cho anh em phục vụ. Bác không quan niệm “lộc bất tận hưởng” một cách máy móc, mà xuất phát từ tấm lòng quý trọng con người. Có đồng chí đi họp ở Pari về, mang biếu Bác gói kẹo mà ở bên Pháp Bác rất thích. Có kẹo ngon, lạl hiếm, Bác đem chia đều cho mọi người, có người thấy kẹo của Bác chỉ có ít, muốn để dành cho Bác ǎn, nên từ chối không dám nhận, Bác bảo, ít cũng phải chia đều, mỗi người hưởng một ít. ở nhà sàn, buổi trưa xung quanh mọi người ngủ trưa yên tĩnh, có việc lên xuống, Bác ghì quả chuông treo ở cầu thang lên xuống cho nó khỏi kêu, làm anh hưởng đến giấc ngủ mọi người. Bác bận nhiều việc lớn của Đảng, của Nhà nước nhưng việc nhỏ Bác không quên, khi có anh em phục vụ đi phép, Bác đến gửi quà và gửi lời thǎm sức khoẻ gia đình, khi trả phép Bác đến hỏi han tình hình gia đình. Có đồng chí vì bận công tác không về thǎm quê và gia đình được, khi người nhà lên thǎm, Bác biết bao giờ Bác cũng gặp, nếu gặp vào đúng tối thứ bảy có phim, Bác mời xem phim. Có một lần trong buổi xem phim, Bác thấy một cụ già ngồi xem, lúc đó hỏi thǎm không tiện, sau Bác hỏi đồng chí Vũ Kỳ cụ già xem phim là ai mà không báo để Bác biết tiếp chuyện, được biết là bố của bác sĩ Mẫn (người bảo vệ sức khoẻ riêng của Bác ) lúc đó cụ già đã lên đường về quê, vì không gặp được cụ, Bác gửi bác sĩ Mẫn một chai mật ong nhờ chuyển về làm quà biếu cụ. Cụ già ở quê rất cảm động khi đón nhận món quà quý giá của Chủ tịch nước gửi. Hàng nǎm đến tối 30 Tết, anh em không về quê đón Tết. Bác tổ chức gặp mặt tất niên. Bác thường bố trí Bác ngồi một bên bàn còn Thủ tướng Phạm Vǎn Đồng ngồi đối diện, anh em ngồi quây quần xung quanh, đêm giao thừa có hai Bác và anh em nên không khí trong Phủ Chủ tịch thêm ấm cúng không khí gia đình. Khi mọi người yên chỗ ngồi, Bác đi một vòng xung quanh kiểm tra xem còn thiếu ai. Nếu thiếu Bác dặn đồng chí cấp dưỡng để phần lại cho anh em đi vắng. Những anh em ngồi cạnh Bác lúc đầu thường e dè, không tự nhiên tay cầm đũa cứ lóng ngóng. Bác chủ động gắp thức ǎn và động viên, có khi Bác pha trò một câu gì đó tạo không khí vui vẻ những lúc đó Bác hiện thân một người Cha bên đàn con yêu quý trong giờ phút thiêng liêng chuyển nǎm cũ sang nǎm mới. Xong buổi liên hoan Bác cùng anh em chụp ảnh lưu niệm và vui vǎn nghệ “cây nhà lá vườn” Bác đi thǎm nước ngoài nhiều lần, họ biếu Bác nhiều tiền và quà , Bác cho vào công quý hết, cái nào chia được Bác chia cho anh em. Mỗi lần đi nước ngoài về Bác thường mua quà kỷ niệm cho anh em phục vụ, khi đôi bít tất lúc chiếc khǎn hay gói kẹo.

Bác sống cuộc đời một vị Chủ tịch nước, nhưng mỗi người chúng ta đều thấy một phần cuộc đời mình trong đó, bởi vì Bác là hiện thân cốt cách dân tộc, là cái chung trong mỗi cái riêng.
Bác chu tất với mọi người, mọi việc, có lần Bác đi qua nhà ǎn thấy đồng chí Lơ người nấu ǎn cho Bác đang dùng cát để đánh xoong cho sạch, Bác rẽ vào bày cách đánh xoong nồi chóng sạch lại không bị xước mòn. Hồi ở chiến khu khi đi trong rừng gặp trời mưa vắt nhiều, Bác bày cho cách dùng tàn thuốc lá để chống vắt rất hiệu quả Bác thường xuyên khuyên bác sĩ học cách chữa bệnh bằng thuốc nam, ta là người nam hợp với thuốc nam vì cha ông tổ tiên đã để lại kinh nghiệm quý báu đó ta nên phát huy thêm. Bác kể chuyện hồi xưa Bác đi bộ từ Nghệ An vào Huế. Dọc đường chân bị sưng lên đau không đi được nhờ xoa bóp bằng nước tiểu đỡ đau mới đi tiếp được. Khi về già có lần Bác đau ở bả vai, bác sĩ cho chạy vật lý trị liệu mãi không khỏi, Bác lấy lá ngải cứu vò với nước tiểu xoa vào chỗ đau, chỉ mấy lần làm thấy giảm hẳn.

Đối với khách là người nước ngoài nếu là người quen biết từ trước, Bác tiếp không những trên cương vị Chủ tịch nước mà còn trên tình cảm anh em gần gũi, khách đến tuy là lần đầu Bác cũng rất chu tất, truớc khi khách về nước, Bác đến thǎm, gửi quà… hôm sau Bác lại đến chia tay. Bác bảo họ là khách, mình là chủ làm thế mới có tình có nghĩa. Rời Việt Nam, nhưng khách không quên Việt Nam có Bác Hồ, con người của mọi người. Một lần có vị quan chức của một nước đi thǎm các nước láng giềng quanh ta, người này có cảm tình với Việt Nam. Lúc đó nước ta đang có chiến tranh, có người đến bàn với Bác, ta lấy cớ không có điều kiện tiếp nên không mời, Bác bảo “Khi người anh em đi qua trước ngõ không mời vào nhà chơi là không lịch sự” Bác đích danh mời vị đó vào thǎm. Khi về nước vị khách hết lòng ca ngợi Việt Nam và tích cực ủng hộ nhân dân Việt Nam chiến đấu.

Bác quan tâm con người không chung chung, mà rất cụ thể, không những đối với những người gần gũi bên Bác, những người Bác gặp mà còn đến những người có thể Bác không gặp. Khi đi qua chiếc cầu gập ghềnh hay gặp hòn đá khập khiễng Bác dừng lại cùng anh em sửa sang cho chắc để người đi sau khỏi gặp nguy hiểm. Lội qua suối gặp hòn đá trơn Bác cúi xuống nhặt ném đi xa để người đi sau không bị ngã. Có lần đi chiến dịch, đường đi nhiều ổ gà, phía trước có hòn đá to, đồng chí lái xe cứ cho xe vượt, không ngờ xe va vào hòn đá bị hỏng, Bác xuống xe, chiếu đèn pin giúp cho các đồng chi sửa xe, Bác động viên cứ bình tĩnh chữa cho cẩn thận. Khi xe sửa chữa xong tiếp tục lên đường, bấy giờ Bác mới nói: “Đáng ra lúc nãy chú cho xe dừng lại lǎn hòn đá xuống vực rồi mới đi, có lâu cũng chỉ dǎm phút, không phải dừng sửa chữa mất hơn nửa tiếng, mà lại giúp các xe sau không bị nạn, chú đã “tham đĩa bỏ mâm”.

Trên đường ra trận Bác cùng lǎn lộn với anh em, cùng đổ mồ hôi cùng sôi khí thế. Khi đi chỗ đường trơn, suối đá trơn gập ghềnh, anh em bảo vệ muốn giúp Bác kảo ngã, Bác bảo tự Bác đi dễ hơn, hơn nữa Bác đi nhanh và khéo hơn các chú đấy. Có lần mùa mưa, gặp con suối nước chảy xiết, việc cần gấp phải qua, các đồng chí đang lúng túng không biết làm sao qua được. Bác bảo tìm sợi dây rừng thật chắc buộc chặt vào người rồi dìu dắt nhau qua, Nhớ lần Đại Hội Đảng lần thứ II ở Tuyên Quang, Bác biết chị Quý nhân viên phục vụ Đại hội mới sinh cháu bé được 5 tháng, Bác bảo, Bác sẽ đến thǎm, vì ngại nơi ở xa và chưa chu tất, gia đình muốn bế cháu đến thǎm Bác. Bác bảo, ông phải đến thǎm cháu chứ. Thế rồi Bác tranh thủ thời gian đến thǎm, cho quà và chụp ảnh với cháu. Nhạc sỹ Phong Nhã lên báo cáo với Bác về tình hình thiếu nhi. Nhạc sĩ chuẩn bị nhiều nội dung lớn, nhưng khi lên Bác chỉ hỏi kỹ về việc các cháu con nhà nghèo vào đội ra sao, việc ǎn ở, học hành, vui chơi thế nào, Bác chǎm chú lắng nghe nhạc sĩ kể về các cháu tham gia mít tinh, tuần hành., cổ động. Bác đǎm chiêu nhìn ra trời. nắng nóng và nói, nhưng nhớ đừng để các cháu đi đầu trần dưới nắng dễ bị ốm. Mùa rét Bác chỉ thị cho Bộ Giáo dục khi nhiệt độ xuống 10 độ C thì cho các cháu học sinh cấp I nghỉ học, xuống dưới 10 độ C cho các cấp các trường nghỉ học.

sites.google.com

Nâng niu tất cả chỉ quyên mình (Phần 1)

Chân dung Hồ Chủ tịch

Một lần một người bạn nước ngoài hỏi Bác về tài sản riêng Bác vui vẻ chỉ đàn cá Bác đang cho ǎn và nói. “Đây là tài sản của tôi”. Bác sống trọn cuộc đời cống hiến, ra đi không để lại chút gì riêng tư, từ nguồn vui gia đình sản phẩm tinh thần quý giá của con người bình thường, đến tài sản vật chất.

Suốt cuộc đời Bác chỉ nghĩ đến giải phóng những người lao động cần lao, nghĩ đến nhân dân mình, dân tộc mình. Lo từ việc nhỏ bình thường đến đại sự quốc gia. Quan tâm từ miếng ǎn cho người nghèo đến sự thái bình cho dân tộc. Nhớ hồi làm phụ bếp bên Anh, khi rửa bát đĩa, Bác để riêng những thức ǎn thừa còn lại, gói vào một gói, khi về mang ra cho những người nghèo khổ ǎn xin ngoài đường. Khi dự tiệc chiêu đãi ở Pari, ra về Bác dành quả táo cho em nhỏ. Khi mùa hè đến? mồ hôi thấm áo, Người nghĩ đến những chiến sỹ phòng không trên trận địa nóng bỏng. Khi đi công tác ở nước ngoài được biết có loại cây lá xanh quanh nǎm không rụng lá, Bác nghĩ tới chị lao công đêm đêm vất vả quét lá nên Bác khuyên tìm cách đưa loại cây ấy về nước. Khi đi thǎm hồ Suối Hai thấy nhà nghỉ của Tỉnh ủy xây to đẹp, Bác bảo phải lo xây nhà cho nhân dân lao động trước. Lúc đi công tác xa lâu ngày Bác nghĩ đến những người phục vụ mình ở nhà, Bác dặn những ngày Bác đi xa các chú tranh thủ về thǎm quê hương gia đình. Đối với người phục vụ, Bác quý trọng xem như những người thân thiết nhất, Bác không có gia đình riêng, họ là những người gần gũi với Bác như những người ruột thịt. Đầu tháng 5- 1948, đồng chí Lộc, người nấu ǎn cho Bác không may bị sót rét ác tính mất. Bác thương xót, và đã khóc như mất đi một người ruột thịt. Đến ngày kỷ niệm sinh nhật Bác, anh em tìm một bó hoa rừng chúc mừng sinh nhật Người. Trong phút giây xúc động, Bác rơm rớm nước mắt:

– Cảm ơn các chú, nhưng bó hoa này ta mang ra đặt lên mộ đồng chí Lộc.

Và Bác kể cho mọi người nghe về cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Lộc. Đồng chí vốn là Việt kiều ở Thái Lan, gặp Bác bên đó, đồng chí đã đi theo giúp việc Bác. Hai người thường quẩy hai bồ thuốc giả làm người đi bán thuốc rong, đi đến nơi có bà con Việt kiều để tuyên truyền cách mạng. Bác sang Trung Quốc đồng chí Lộc cũng theo sang, rồi cùng về nước với Bác. Đồng chí lo công việc ǎn uống cho Bác. Hồi đó sinh hoạt khó khǎn, có lúc phải ǎn ngô bung, hoặc cơm độn ngô, đồng chí Lộc bao giờ cũng dành phần nhiều cơm cho Bác. Bữa nào đồng chí cũng chắt lấy nước cơm đặc, nài nỷ Bác uống cho kỳ được. Cách mạng tháng Tám thành công: đồng chí xung phong ở lại xây dựng công binh xưởng cho cách mạng. Theo Bác hoat động cách mạng ở nước ngoài, tới khi cách mạng thành công đồng chí Lộc vẫn an tâm vui vẻ làm một công việc hết sức bình thường – nấu cơm cho Bác.

Phục vụ Bác có nhiều anh em dân tộc ở Cao Bằng. Có đồng chí được một thời gian nhớ nhà và cũng vì hoàn cảnh gia đình nên xin Bác cho về giúp gia đình. Bác rất muốn đồng chí cùng ở lại nhưng vì hoàn cảnh gia đình và ý nguyện của họ, Bác đồng ý. Khi có ai đi công tác lên vùng đó Bác nhờ ghé vào thǎm, nhắc nhở địa phương giúp đỡ đồng chí khi gặp khó khǎn. Thời gian ở Pắc Bó có lần Bác nhận được gói quà có đường và lạc. Bác cho làm kẹo và báo đồng chí Cáp mang vào trong bản phân phát cho các cháu. Mọi người rất muốn để lại cho Bác bồi dưỡng, biết ý Bác nói: “Người già nên để kẹo cho các cháu” trước lý lẽ của Bác, đồng chí Cáp Phải mang kẹo vào cho các cháu. Hồi ở Tân Trào, đồng chí Thắng mới được cử về phục vụ Bác. Đồng chí chí có một: bộ quần áo vải mộc. Khi làm việc với Bác đồng chí cố nén không ho, nhưng vừa ra khỏi nhà đồng chí ho rũ rượi, thấy vậy Bảc bảo: “Chú Thắng ốm à”. “Sao trông người chú khác thế”. Nói rồi Bác đứng dậy lấy chiếc áo trấn thủ của mình đưa cho đồng chí và dặn: “Chú mặc tạm cho đỡ lạnh, mùa đông cốt nhất phải giữ ngực cho ấm”. Đồng chí Tháng ngần ngại không dám cầm, vì thấy Bác không có áo ấm tốt mà Bác cũng phải mặc độn nhiều áo. Thấy vậy Bác giục, rồi Bác hiền từ giúp đồng chí cài từng chiếc nút áo. Có lần Bác đến thǎm đồng chí Lê Trọng Tấn, gia đình làm bánh mời Bác, Bác ǎn một miếng thấy ngon, Bác xin một ít mang về cho anh em phục vụ. Hồi ở Việt Bắc, kỹ sư Trần Đại Nghĩa dồn hết trí tuệ tâm huyết để nghiên cứu vũ khí mới cho quân đội. Biết kỹ sư thường làm việc ban đêm, có khi làm việc suốt sáng, lại nghiện thuốc lá Bác dành một phần thuốc của mình đến biếu kỹ sư. Sau đó Bác chỉ thị cho hậu cần dù khó khǎn cũng cố tìm thuốc lá đủ hút cho kỹ sư. Có lần về ban đêm đồng chí bảo vệ đứng gác nơi ở của Bác không may trượt chân rơi xuống hầm tránh máy bay. Nghe tiếng động Bác vội chạy ra không kịp đi dép và mặc áo ấm Bác giúp đồng chí lên khỏi miệng hầm, Bác nắn bóp chân cho đồng chí ấy rồi ân cần bảo: “Chú cứ ngồi yên cho đỡ đau, để Bác gác cho”. Đồng chí cảm động nói không nên lời, chỉ biết làm theo. Về mùa đông Bác ở gác hai trên nhà sàn nên gió lạnh, cơ quan tìm cho Bác chiếc lò sưởi điện. Một lần nửa đêm gió lạnh, Bác thức giấc dậy nghe tiếng người gác ho phía dưới. Bác cầm chiếc lò sưởi điện và tự tay nối dây điện từ trên gác hai xuống cho đồng chí bảo vệ, và nói: “Bác nằm trên nhà đã có chǎn đắp ấm rồil”. Một buổi trưa, thấy đã quá giờ đổi gác bình thường, Bác mang chuối xuống mời, đồng chí bảo vệ thưa với Bác đang bận gác không đặt súng xuống được, xin Bác lúc khác. Bác bảo đưa súng Bác cầm gác cho: “ǎn đi kẻo đói, cốt là ǎn lúc này”. Đồng chí Tùng vừa được chuyển từ một đơn vị ở chiến trường về làm nhiệm vụ bảo vệ Bác. Một hôm Bác đang cho cá ǎn đồng chí đứng gác từ xa. Bác gọi lại hỏi thǎm sức khoẻ gia đình vợ con… Bác nói” Thế là chú về chỗ Bác được 3 tháng rồi đấy nhỉ? Dạo nàv chú đã hết sốt rét chưa” đồng chí Tùng không cầm được nước mắt không ngờ Bác bận trǎm công nghìn việc mà vẫn chú ý đến một chiến sĩ bình thường như mình. Bác không những nhớ mặt, nhớ tên từng người mà còn hiểu rõ hoàn cảnh gia đình, tâm tư tình cảm của họ. Bác không những quan sát đến đời sống sinh hoạt hàng ngày mà còn lo lắng tới sự tiến bộ trong công tác của từng người – Bác thường nhắc nhở mỗi người mỗi việc cố gắng tiến bộ không ngừng. Bác ân cần hỏi dồng chí Tùng:”Chú về đây đã khá lâu, thế chú có biết cầu thang lên xuống nơi cạnh chú đứng có mấy bậc?” Những việc tưởng bình thường nhưng đối với người công an, bảo vệ càng cần phải tỷ mỉ, sâu sát cụ thể. Một đêm, lúc khoảng hai giờ mưa phùn gió bấc, Bác thức giấc đi xuống cầu thang đến cạnh đồng chí bảo vệ, Bác hỏi: “Chú gác từ mấy giờ?”,”Chú mặc thế có đủ ấm không?”, Bác đến gần sửa lại vành mũ và kéo lại cổ áo cho kín và bảo: “Lần sau chú gác đêm giá lạnh nhớ đi giày, nếu đi dép phải có tất cho đủ ấm, đi dép chân không đêm sương giá lạnh dễ bị ốm”.

Thời gian sau ngày giải phóng, mới về Hà Nội nhân ngày Tết cổ truyền, các đồng chí bảo vệ, phục vụ mang bó hoa đến chúc Tết Bác. Bác rất vui mừng và nói:”Các chú khéo vẽ chuyện, Bác và các chú sống bên nhau hàng ngày, việc gì phải hoa. Từ nay các chú tǎng gia được rau, xu hào, bắp cải, Tết đến chọn mấy cây đẹp cho vào chậu cảnh mang tới biếu Bác, Bác sẽ để trước cửa phòng khách, khách đến Bác sẽ giới thiệu của các chú biếu Bác, thế là Bác có quà tặng, các chú lại được Bác tuyên tryền cho. Hết Tết các chú lại mang về chén, như vậy chẳng mất gì cả”. Từ đó thành thông lệ, hàng nǎm Tết đến anh em chọn 4 cây bắp cải, 4 cây xu hào loại to đẹp nhất tới chúc Tết Bác. Những cây xu hào bắp cải xen lẫn với gốc quất, gốc đào góp thêm thi vị bên ngôi nhà Bác ở. Nhớ lại đầu nǎm 1946, nơi nghỉ của anh em bảo vệ Bác ở Bắc Bộ phủ, về mùa hè nóng ẩm vì ở nhà kho cũ, chật chội. Thấy thế, Bác cho lên phòng khách ngủ cho thoáng mát. ở phòng khách anh em sơ ý làm vỡ mặt đá của chiếc bàn lớn. Đồng chí cán bộ phụ trách cáu gắt nặng nề và không cho anh em lên đó ngủ nữa. Bác nghiêm khắc bảo:”Cái bàn quý hơn hay anh em chiến sỹ quý hơn. Vỡ sau ta tìm cái khác, chỉ cần giáo dục anh em có ý thức bảo vệ của công. Chú mở cửa cho anh em vào ngủ tiếp”. Tuy bận nhưng Bác vẫn thường xuyên xuống nhà bếp, khu vệ sinh để kiểm tra xem có sạch sẽ không. Bữa ǎn có những món gì phải mua, món gì tǎng gia cải thiện được. Nhớ ngày Tết cuối cùng của Bác, Bác và Bác Tôn chụp ảnh chung với anh em trong đội bảo vệ có đồng chí Cương ít tuổi nhất được Bác rất quý. Trước khi chụp ảnh Bác gọi:”Viên kim cương của Bác đâu, lại đây đứng bên Bác”- Bác quan tâm từ cái lớn, sâu sát từ cái nhỏ đời thường của anh em. ở chiến khu việt Bắc, tối ngủ anh em thường để dép lộn xộn khi báo động hoặc sáng dậy, lẫn dép lung tung. Trước khi ngủ Bác đi kiểm tra một vòng, sắp xếp lại gọn gàng đôi nào đôi nấy sáng ra ai cũng ngạc nhiên, sau mới biết tối qua Bác kiểm tra và xếp lại. Từ đó trở đi nội vụ từ đôi dép đến đồ dùng cá nhân anh em đều sắp xếp ngǎn nắp. Bác đi thǎm nhiều nơi, nhưng không qua loa đại khái, Bác quan tâm đến tập thể nhưng không quên cái nhỏ nhất của người dân. Bác không những rất ghét tội tham ô ǎn cắp của dân mà còn phê bình gay gắt bệnh hình thức dối cấp trên lừa dân. Bác đến thǎm một cơ quan thấy đèn trang trí từ cổng vào nhà hội trường sáng trưng, xung quanh khẩu hiệu đèn xanh đèn đỏ loè loẹt, Bác đi thẳng vào nơi ǎn ở khu vệ sinh của cán bộ thấy tối tǎm chật chội. Bác cho tập trung cán bộ chủ chốt trong cơ quan, Bác chỉ nói: “Các chú không thương quần chúng”. Khi duyệt các chủ trương, chỉ thị Bác sửa chữa nhiều nhất chú ý nhiều nhất ở chỗ có quan tâm đến lợi ích, đời sống sinh hoạt của quần chúng hay không. Có lần đồng chí Nguyễn Tạo lên báo cáo Bác về phong trào trồng cây. Khi nghe xong được biết các cụ có thành tích rất lớn, Bác hỏi: “Thế công sá đối với các cụ thế nào”, Đồng chí Tạo trả lời Bác: “Thưa Bác các Cụ ǎn theo công diểm của hợp tác xã ạ” Bác hỏi cụ thể và được biết các loại cây như nhãn, vải, cam, quít. Khi thu hoạch các Cụ không được hưởng phần nào, Bác phê bình, đồng chí thưa với Bác sẽ về nhắc các địa phương dành một phần thu hoạch biếu các cụ Bác nói ngay: “Không phải biếu mà các Cụ có quyền hưởng, người nào làm nhiều hưởng nhiều, hợp tác xã chia cho các Cụ như vậy là không công bằng, không theo nguyên tắc phân phối lao động xã hội chủ nghĩa – ai làm nhiều hưởng nhiều, ai làm ít hưởng ít”, Nǎm 1963, Bác về thǎm tỉnh Vĩnh Phú, trên đường Bác rẽ vào một gia đình nông dân. Gặp bà cụ già, Bác hỏi thǎm sức khoẻ và kinh tế, Cụ thưa gia đình có 5 người được chia 3 tạ thóc. Bác hói: “Thế có đủ ǎn không?”, Cụ già chưa kịp trả lời thì một đồng chí trong tỉnh uỷ trả lời: ‘Thưa Bác, đấy mới là hợp tác xã chia tạm chưa phải chính thức”. Bác phê bình ngay: “Bác có hỏi chú đâu mà chú trả lời”. Như được thêm chỗ dựa lòng tin, Cụ già thưa thật với Bác hằng nǎm, nếu ǎn uống theo định lượng tằn tiện, độn thêm ngô sắn thì cũng tạm đủ”. Rồi Bác bảo đồng chí có trách nhiệm nghe nói để tính toán lại cho sát đừng để dân quá vất vả thiệt thòi. Nhà nước phải lấy phục vụ dân làm chính. Nǎm 1960, Bác ra thǎm đảo Tuần Châu (Vịnh Hạ Long) khi ca nô vừa rời bến thì trong bờ có tiếng vọng ra: “Sao các ông không cho tôi gặp Cụ Hồ”. Biết chuyện Bác cho ca nô quay lại, trên bờ một cụ già trên 70 tuổi bị mù, Bác vội chạy đến chỗ cụ và nói: “Thưa cụ, tôi đây, Cụ có khoẻ không”. Nghe tiếng Bác, cụ già đứng không vững nữa, khuỵ xuống trên cánh tay nâng đỡ của Bác: “Bác đây ư Bác Hồ, tôi được gặp Bác thật ư! “. Đôi bàn tay xương xẩu của cụ già vuốt trên cánh tay, trên vai Bác, hai dòng nước mắt trào ra từ đôi mắt mù loà của cụ chảy xuống hai gò má nhǎn nheo. Bác đứng lặng hồi lâu, xúc động. Mọi người đứng lặng cảm động trước tình cảm của hai con người. Một lần đến thǎm bệnh viện Bạch Mai mọi người ra đón và tặng hoa, Bác nhận bó hoa rồi đên tặng một cụ già đang trông xe đạp ở cổng bệnh viện. Bác bảo với cụ và mọi người: “Cụ trông xe đạp cũng rất quan trọng, nếu mà trông không cẩn thận mất xe đạp của các cô các chú, hỏi có ai an tâm công tác không?” Một lần đến thǎm một nhà máy thấy cô công nhân đang chạy máy để bộ tóc dài, Bác ra hiệu dừng máy đến gần ân cần nhắc: “Cháu là gái khi lao động vấn tóc lên và đội mũ bảo hiểm để bảo đảm an toàn, bộ tóc là góc con gái”. Lần đi thǎm Vĩnh Phú, trên đường thấy hai chị em ǎn mặc rách rưới, dắt tay nhau đi, Bác cho dừng xe hỏi chuyện hai chị em về hoàn cảnh gia đình, bố mẹ, được biết bố hai em đi bộ đội, Bác hỏi ǎn có đủ không, trưa, sáng ǎn gì, cùng lúc đó có đồng chí tự xưng là cán bộ xã nhanh nhẩu trả lời thay hai em, Bác nhắc nhở: “Bác có hỏi chú đâu, nếu chú là cán bộ xã thì tại sao lại để con cái người đi bộ đội phải ǎn mặc, đói rách thế này”. Dọc đường, thấy cột số Km chỉ ghi rõ chữ số 65 còn chữ địa danh bị mờ, Bác nhắc nhở cán bộ giao thông phải chú ý để sửa lại. Đi qua Cổ Nhuế, thấy dân bón rau phân tươi, Bác nhắc phải đề phòng ruồi, bệnh tật vệ sinh. Đến trạm bơm Chèm, thấy chân đê bị sụt lở, Bác nhắc trồng tre để bảo vệ đê. Khi giải quyết các vụ tranh chấp đất đai nhà cửa, các đồng chí phân tích người này sai, người kia có khuyết điểm. Bác kết luận, do chỗ ở quá chật chội nên mới sinh ra tranh chấp, chứ phải người ta ghét bỏ nhau đâu. Khi đến thǎm nhà dân nơi chật chội, ổ chuột, bẩn thỉu, Bác phê bình gay gắt cán bộ không sâu sát dân, quan liêu, không thương dân, phải tìm mọi cách vận động, tổ chức bà con dọn vệ sinh, sửa sang nhà cửa, lối ra vào và phối hợp với cơ quan chức nǎng lo nhà cho dân. Khi về hợp tác xã thǎm nông dân, Bác xuống tận các gia đình để biết mức sống của dân chứ không nghe hoàn toàn các báo cáo. Thǎm xã Nam Chính, Bác vào nhà anh Giao một nông dân lao động cần cù, đứng ngoài sân, Bác hỏi mấy câu chuyện làm ǎn sinh hoạt đời sống rồi vào nhà xem vại gạo, cót thóc, vòng ra phía sau xem chuồng lợn, nhà vệ sinh, thấy hai con lợn đang án. Bác khen lợn đẹp, giống lợn thẳng lưng mông to chắc chóng lớn, rồi Bác xem giếng nước, nhà tắm, Bác nhìn xuống giếng và bảo: “Giếng nên có nắp đậy, vừa sạch vừa đề phòng tai nạn”. Xem nhà tắm Bác khen xây thế này là tốt nhưng nên đơn giản hơn trong lúc ít gạch, nhà nào không có gạch nên làm bằng cót, trồng cây dâm bụt xung quanh, khi cót hỏng thì dâm bụt đã tạo thành nhà tắm kín đáo mà đẹp.

sites.google.com

Nhân kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước: Tìm về chân lý Mác – Lê Nin trên con đường cứu nước của Bác

Ngày 5/6/1911, trên tàu Đô đốc Latouche Tréville, từ bến cảng Nhà Rồng (thành phố Sài Gòn), người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh) đã ra đi tìm đường cứu nước.

Gần 10 năm bôn ba, vừa lao động kiếm sống vừa tìm hiểu thực tiễn nhiều nước tư bản và nước thuộc địa, nghiên cứu các cuộc cách mạng tư sản ở các nước Pháp, Anh, Mỹ…Nguyễn Tất Thành đã có nhận thức quan trọng: Cách mạng tư sản là những cuộc cách mạng vĩ đại nhưng là những cuộc cách mạng chưa đến nơi; nó đã phá tan gông xiềng của chế độ phong kiến để giải phóng sức lao động của con người, xây dựng chế độ xã hội mới tiến bộ hơn chế độ xã hội phong kiến, nhưng cách mạng xong rồi dân chúng vẫn khổ cực, vẫn bị áp bức, bóc lột và vẫn toan tính làm cách mạng. Nguyễn Tất Thành đã nhận thấy những mặt trái của xã hội phương Tây, thấy được “ở đâu cũng có người nghèo khổ như xứ sở mình” do ách áp bức bóc lột dã man, vô nhân đạo của tầng lớp thống trị. Điều đó giúp cho Người nhận thức rằng: Nhân dân lao động trên toàn thế giới cần đoàn kết lại để đấu tranh chống kẻ thù chung là giai cấp thống trị; cùng nhau thực hiện nguyện vọng chung là độc lập, tự do.

Từ những hoạt động thực tiễn phong phú và đọc “Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin (đăng trên báo L’Humanité tháng 7/1920), Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin. Luận cương đã giúp cho Người tìm thấy con đường đấu tranh cách mạng để giành độc lập, tự do cho dân tộc; trả lời câu hỏi ai là người lãnh đạo cách mạng, lực lượng tham gia cách mạng, mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc… Luận cương có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành thế giới quan cộng sản của Nguyễn Ái Quốc.

Việc tìm ra con đường cứu nước, con đường phát triển dân tộc của Nguyễn Ái Quốc có ý nghĩa lịch sử to lớn. Thứ nhất, đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, với học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học, Nguyễn Ái Quốc đặt nền móng cho lý luận cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới, chấm dứt tình trạng khủng hoảng đường lối cứu nước kéo dài từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX; tìm ra con đường phát triển đúng đắn cho dân tộc, phù hợp với trào lưu phát triển chung của nhân loại và xu thế của thời đại. Thứ hai, Nguyễn Ái Quốc đã đem ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin soi đường cho phong trào đấu tranh cách mạng ở trong nước, làm cho chủ nghĩa yêu nước vươn lên tầm thời đại và trở thành chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh. Thứ ba, tìm ra con đường cứu nước và phát triển cho dân tộc Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã có những đóng góp to lớn, chuẩn bị cho việc mở ra một giai đoạn phát triển mới của phong trào cách mạng vô sản nói chung, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới nói riêng.

Trong hơn 80 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; luôn tìm tòi, làm sáng tỏ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

Hiện nay, các thế lực thù địch đang tấn công vào chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Người với ý đồ đen tối “lật đổ thần tượng Hồ Chí Minh”, đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta, phủ nhận con đường cách mạng Việt Nam. Trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là bảo vệ những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên quyết đấu tranh bác bỏ mọi luận điệu thâm hiểm của các thế lực thù địch, phản động; tiếp tục nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới; vững bước đi theo con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Quang Lợi (Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy)

snv.binhdinh.gov.vn

Tư tưởng “Vì con người” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Kỷ niệm 40 năm di chúc của Bác Hồ:

Bác Hồ đã đi xa 40 năm song giá trị tư tưởng và đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn sống mãi trong lòng mỗi người dân Việt Nam.

Từ khi ra đi tìm đường cứu nước đến những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời, Người luôn đau đáu vì nền độc lập tự do của dân tộc, hạnh phúc ấm no của mỗi con người. Tư tưởng, tình cảm của Bác đối với giai cấp nông dân, đối với nền nông nghiệp nước nhà là một phần tư tưởng lớn, vĩ đại bậc nhất của Bác: Vì con người.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đến mọi tầng lớp xã hội, trong đó Người đặc biệt quan tâm đến nông dân. Những việc của nghề nông đối với Bác không có gì xa lạ. Người đã để lại một di sản có một không hai trong lịch sử loài người: Chân dung một lãnh tụ bên người nông dân. Người bôn ba chân trời góc biển vì nền độc lập của dân tộc, để “người cày có ruộng”, để “ruộng đất về tay dân cày”, để “mọi người ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ái cũng được học hành”. Trong con đường đi đến hạnh phúc ấm no, người nông dân Việt Nam luôn có Bác đi cùng.

Trước khi đi xa, người để lại muôn vàn tình thương yêu cho đồng chí, đồng bào. Bản di chúc kết tinh tư tưởng, tình cảm vì con người của Người ngắn gọn, súc tích nhưng dung dị, chứa đựng tình cảm bao la như trời biển. Bản di chúc được Người viết, bổ sung, sửa chữa nhiều lần, lần nào cũng có những dòng, những đoạn dành cho nông dân. Trong phần bổ sung Di chúc được Bác viết tháng 05/1968, Bác dành một đoạn nói về giai cấp nông dân Việt Nam.

Người dùng từ “đồng bào nông dân” rất gần gũi, rất riêng để tuyên dương công lao to lớn và lòng trung thành vô hạn đối với Đảng và Chính phủ trong kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mỹ. Người căn dặn miễn thuế nông nghiệp cho nông dân. Người viết: “Trong bao năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta, ra sức góp của, góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn gian khổ. Nay ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho các HTX nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”.

Người đã nhìn đến tận cùng gốc rễ sâu xa của kế sách an dân sâu rễ bền gốc mà ông cha ta ngàn năm trước vẫn dùng. Đó là sau chiến tranh phải chú ý chính sách vỗ về, an dân để nông dân từng đóng góp nhiều sức người, sức của cho kháng chiến, chịu nhiều thiệt thòi, mất mát trong chiến tranh có cơ thoát khỏi cơ hàn mà thêm hỉ hả, trung thành với chế độ.

Thực hiện theo di chúc của Người, Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 7 đã ra Nghị quyết “Thực hiện miễn thuế nông nghiệp theo di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Miễn giảm thuế nông nghiệp tiến tới hạn chế và xoá bỏ dần những đóng góp ở khu vực nông thôn để người nông dân có điều kiện tái đầu tư sản xuất chính là chủ trương của Đảng và Nhà nước ta thực hiện theo đúng tinh thần và mong muốn của Người.

Bác Hồ luôn coi trọng mặt trận sản xuất nông nghiệp. Ngay trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng mong muốn mọi người khi đến thăm viếng đều có ý thức trồng cây, gây rừng để có lợi cho sản xuất nông nghiệp. Người từng nói: “Nông dân ta giàu, thì nước ta giàu – Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh”. Thực tế càng khẳng định vai trò của sản xuất nông nghiệp, nhất là trong thời điểm khủng hoảng kinh tế như hiện nay, thì sản xuất nông nghiệp chính là giá đỡ của nền kinh tế. Ngôi nhà kinh tế của đất nước sẽ nghiêng ngả khi nền móng sản xuất nông nghiệp không vững chắc.

Tư tưởng, tình cảm của Bác đối với giai cấp nông dân, đối với nền nông nghiệp nước nhà là một phần tư tưởng lớn, vĩ đại bậc nhất của Bác. Bác lập luận một cách nôm na, dễ hiểu: “ Dân lấy ăn làm trời, nếu không có ăn là không có trời”. Chính vì vậy, Người yêu cầu và chỉ rõ trách nhiệm của Đảng và Chính Phủ: “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm, Đảng và Chính phủ có lỗi”.

Hồ Chí Minh luôn đặt niềm tin vào sức mạnh, vị trí của nông dân trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và kiến thiết đất nước. Người cho đây là cuộc Cách mạng nông dân và sản xuất nông nghiệp là một mặt trận. Thắng lợi trên mặt trận nông nghiệp chính là thắng lợi của Cách mạng. Từ đây, vấn đề an ninh lương thực lại càng trở nên quan trọng.

Thực hiện di chúc của Bác, làm theo lời Bác, vấn đề nông nghiệp-nông thôn-nông dân đã được đặt lên bàn nghị sự và ngày 5/8/2008, Nghị quyết số 26- NQ/TW của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá 10 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ra đời, đã xác định rõ “Nông dân là chủ thể của quá trình phát triển”. Theo đó, một loạt vấn đề về nông nghiệp-nông thôn-nông dân trở thành những vấn đề thời sự, nóng hổi của đất nước.

Mới đây, Nghị định 69/CP về quy hoạch sử dụng đất, đền bù, hỗ trợ người dân sau thu hồi đất đã có nhiều quy định có lợi cho nông dân và nhiều chính sách như kích cầu cho khu vực nông thôn, bảo hiểm lúa gạo cho bà con nông dân ĐBSCL… Đó là những tin vui liên tiếp đến với nhà nông vào dịp kỷ niệm 64 năm Quốc khánh đất nước và kỷ niệm 40 năm Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh theo đúng như mong muốn của Người, để làm sao: “Người nghèo thì đủ ăn; người đủ ăn thì khá, giàu; người khá, giàu thì giàu thêm”./.

Tuyết Yến

phunu.hochiminhcity.gov.vn

Làm theo Bác bằng những việc cụ thể thường ngày

Ở xã Tam Tiến và các xã lân cận thuộc huyện Yên Thế (Bắc Giang), rất nhiều người biết và cảm phục chị Phan Thị Hạnh, sinh năm 1967, Bí thư Chi bộ bản Rừng Dài, từ một nông dân nghèo khó đã vươn lên làm giàu và trở thành một cán bộ năng nổ, gương mẫu. Chị Hạnh là điển hình trong phong trào thi đua yêu nước và tích cực học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Từ tỉnh lộ 265, con đường vào bản Rừng Dài vẫn là đường đất, nhưng hai bên đường là màu xanh mát của những ruộng lúa và vườn cây ăn quả. Ngôi nhà cao tầng khang trang của gia đình chị Hạnh nằm giữa vườn cây sum suê nào vải, nào hồng nhân hậu, đang hứa hẹn được mùa. Chị Hạnh người nhỏ nhắn, nước da bánh mật, nhanh nhẹn và cởi mở. Chị rất tự hào về thành quả đạt được sau bao năm vợ chồng chị đã khổ công, nỗ lực phấn đấu từ nghèo khó. Nhớ lại đầu những năm 1990, khi vợ chồng chị ra ở riêng, từ xã Tam Hiệp (cùng huyện) về đây, nhà ở còn tường trình và lợp lá, phải đào giếng lấy nước dùng, khu vườn đồi gần như hoang hóa. Rồi vợ chồng chị bỏ công cải tạo khu vườn trồng cây ăn quả, chăn nuôi để lấy vốn đầu tư trở lại vườn cây ăn quả, mở rộng thêm diện tích trồng cây lấy gỗ và tăng dần quy mô chăn nuôi. Cứ thế đầu tư quay vòng, kinh tế gia đình ngày càng đi lên. Hiện khu vườn đồi đang mở rộng khoảng 2 ha và những khu vườn đồi khác của gia đình có tổng diện tích gần 10 ha, chủ yếu trồng vải, bạch đàn và hồng nhân hậu. Gia đình chị còn thường xuyên nuôi khoảng 7.000 con gà thịt/lứa (khoảng hơn 2 vạn con/năm). Năm 2010, gia đình chị thu lãi hơn 350 triệu đồng từ trồng trọt và chăn nuôi, riêng nuôi gà lãi hơn 280 triệu đồng.

Không chỉ làm kinh tế giỏi, chị Hạnh đã nhiều năm làm Chi hội trưởng Chi hội phụ nữ, Trưởng ban công tác mặt trận của bản; từ năm 2006-2009 làm Trưởng bản và từ đầu năm 2010 đến nay là Bí thư Chi bộ của bản Rừng Dài. Chị Hạnh tâm sự: Là phụ nữ, chỉ riêng việc gia đình đã rất bận, nên phải năng động, có kế hoạch sắp xếp hài hòa giữa việc nhà với việc chung sao cho chu đáo, vẹn toàn. Là cán bộ mình phải luôn gần dân, sát dân, lắng nghe ý kiến bà con để hiểu thấu, xem họ cần gì rồi cùng tập thể lãnh đạo bàn bạc cách giải quyết thấu tình, đạt lý và tuyên truyền, vận động bà con thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, tạo được sự đoàn kết, thống nhất trong Chi bộ để tập trung lãnh đạo, giải quyết những khó khăn thực tế đặt ra. Muốn bà con trong bản tin và làm theo thì trước hết bản thân, gia đình, anh em, họ hàng mình phải gương mẫu làm trước. Mình làm có kết quả rồi thì vận động, giúp đỡ, hướng dẫn bà con làm theo cho được. Vì vậy, trong số hơn 220 hộ của bản đến nay đã có 180 hộ chăn nuôi từ 500-2000 con gà/lứa/hộ, hơn 60 hộ trồng hồng cho thu hoạch từ 5-7 tấn quả/vụ.

Theo chị Hạnh, cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” có ý nghĩa rất thiết thực, giúp mỗi người nhìn lại mình mà cố gắng hơn. Làm theo Bác trước hết là làm theo những việc thường ngày, mà nếu cố gắng ai cũng có thể làm được, qua đó rèn cho mình nền nếp tốt ở mỗi việc làm, lời nói; người cán bộ bớt quan liêu, sách nhiễu, vi phạm và có chuyển biến tốt hơn trong lề lối làm việc. Học tập và làm theo tư tưởng đạo đức của Bác là học mãi, học suốt đời.

Ông Vũ Văn Kháng, Thường trực Đảng ủy xã Tam Tiến, khẳng định: Là một trong 2 nữ Bí thư Chi bộ của xã, chị Hạnh là một đảng viên vững vàng, năng nổ, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Chị sống hòa nhã, giản dị, gần gũi bà con và được bà con tin yêu, nể phục. Bản Rừng Dài là bản đông dân nhất xã nhưng luôn trong danh sách các bản dẫn đầu về các phong trào thi đua. Chi bộ Đảng bản Rừng Dài nhiều năm liền đạt trong sạch, vững mạnh; bản Rừng Dài nhiều năm liền là Làng văn hóa cấp huyện.

Với những thành tích đạt được, chị Hạnh đã được tặng Bằng khen của UBND tỉnh Bắc Giang năm 2007, của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2008 và được Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Giang tặng Bằng khen về thành tích xuất sắc thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh “ trong 4 năm 2007-2010./.

Theo dangcongsan.vn

hcmpc.com.vn

Bác Hồ nêu gương nói phải đi đôi với làm

Ông Lê Bá Cải – Ủy viên Ban Liên lạc những người trực tiếp phục vụ Bác Hồ hiện ở khu tập thể Văn phòng Chính phủ phường Phương Mai (Hà Nội) còn giữ được tấm ảnh quý giá và kể những bài học Bác dạy ông còn nhớ mãi.

Bac Ho neu guong noi phai di doi voi lamBác Hồ hỏi chuyện anh Nguyễn Văn Nuôi – đang chống que chọc lò rèn lưỡi cày.
Ảnh: Đinh Đăng Định

Cưa cây phải để hở mạch

Đầu năm 1953, ông Cải cùng nhiều thanh niên quê Thanh Hóa được tuyển chọn điều lên chiến khu Việt Bắc, bổ sung vào Đội Xây dựng thuộc Ban kiểm tra 12 – bí danh của Chủ tịch Phủ – Thủ tướng phủ tại An toàn khu (ATK) Sơn Dương, Tuyên Quang.

Cuối năm đó, một đêm cả vùng bị cơn lốc mạnh làm đổ nhiều cây chắn ngang đường. Đội được lệnh phân làm nhiều tổ đi giải tỏa các con đường mòn khi trời sáng.

Tổ ông Cải có 6 người: Nguyễn Văn Chừng, Nguyễn Văn Quang, Lê Văn Tước, Phạm Văn Chi và Nguyễn Văn Sách. Anh em chia từng cặp, đang chăm chú cưa từng đoạn cây thì bỗng thấy Bác đi ngựa cùng bốn người nữa đi tới.

Anh em vội đứng lên chào Bác, luống cuống quên cả việc đang làm. Bác xuống ngựa, rồi tiến tới chỗ mọi người đang bối rối. Bác bảo: – Các chú chào Bác xong lại tiếp tục công việc, khẩn trương lên chứ, sao còn đứng đấy! Lúc bấy giờ ai nấy mới vội chạy về vị trí đang làm, cầm cưa.

Nhưng luống cuống cưa mắc kẹt, kéo đẩy đều không được. Bác bảo cặp cưa Cải – Quang: – Các chú phải một chân giữ cây, một chân đè lên thân cây hai bên cho nó hở mạch thì cưa mới nhanh được.

Bác nhìn sang cặp Tước – Chi, lưỡi cưa cũng đang mắc kẹt giữa thân cây dài vắt qua đường. Người nói vui, thân mật: – Mấy chú này chắc chưa quen cầm cưa. Cây này dài, đè chân lên mạch càng ngậm chặt, các chú phải kê đỡ dưới mạch hoặc một người nâng mạch cưa lên.

Một người đi cùng Bác cũng đứng hướng dẫn thêm. Anh vừa nói, vừa chỉ tay ra hiệu. Bác đến bên vỗ vai: – Chú nói đúng. Nhưng miệng nói tay làm giúp các chú cho nhanh, càng đúng hơn.

Mọi người cùng cười vui vẻ và Bác cũng giúp một tay dọn dẹp rất nhanh một lối đi nhỏ.

May mà Bác ra sớm

Tác phong làm việc của Bác Hồ rất sâu sát và đặc biệt, giao việc cho ai, dù tin vẫn phải kiểm tra. Lần ấy, hè năm 1957, Bác tiếp Đoàn văn công Trung Quốc sang biểu diễn.

Ông Trần Quý Kiên – Phó Văn phòng được Chánh văn phòng Phan Mỹ giao nhiệm vụ trực tiếp bày bàn ghế để Chủ tịch nước tiếp khách.

Ông Cải cùng anh em được phân công xếp bàn ghế hình chữ T phủ khăn trắng và sắp ghế hai bên. Trước 8 giờ 15 phút, Bác ra xem liền hỏi: – Chú Mỹ, chú Kiên đâu? Anh em nhớn nhác nhìn nhau, vội tìm hai ông. Bác chỉ dãy bàn vội hỏi:

– Các chú quên rồi sao? Hôm nay Bác tiếp khách hoa quả. Bày chữ T thế này khách đến họ lại tưởng được ăn tiệc mặn…

Nói rồi, Bác tự tay ra hiệu mọi người xúm vào kê lại bàn ghế hình chữ U khách ngồi quanh. May, vừa bày lại xong, nhìn ra cổng Phủ Chủ tịch, đoàn xe khách đang từ từ tiến vào sân.

Tinh thần thế là tốt

Năm 1962, trên khắp miền Bắc, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp phát triển mạnh. Đâu đâu cũng nêu cao khẩu hiệu tất cả để phục vụ nông nghiệp.

Chi đoàn Thanh niên cơ quan đề xuất, được Chánh Văn phòng Phan Mỹ ủng hộ, anh em xây một lò đúc lưỡi cày 51 ở phía sau đình Hội đồng (nay là phòng họp lớn của Chính phủ).

Hôm khai lò, anh em không ngờ Bác và Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến xem. Bác hỏi đoàn viên đứng lò Nguyễn Văn Nuôi: – Các chú đúc được bao nhiều lưỡi cày rồi?

– Dạ thưa Bác, chúng cháu mới đúc thử 10 chiếc ạ!

Bác lại hỏi: – Thế các chú đúc ra định đem bán hay làm gì?

Cả Bác cháu cùng cười ồ lên. Anh em chưa ai nghĩ ra nên trả lời Bác như thế nào thì Chánh Văn phòng Phan Mỹ đỡ lời: – Thưa Bác, chi đoàn báo cáo là lưỡi cày đúc được sẽ đem tặng các hợp tác xã làm ăn giỏi ạ.

Bác khen: – … Làm được cày 51 là “Tất cả cho nông nghiệp. Tinh thần của việc làm như thế là tốt…”

Trịnh Tố Long
Theo Việt Báo

hcmpc.com.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh – nhà báo vĩ đại

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhà báo (năm 1960) Ảnh - Tư liệu

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam mà tên tuổi cùng những phẩm chất cao đẹp của Người vang khắp năm Châu. Người là một nhà cách mạng lỗi lạc, nhà văn hóa lớn, một nhà báo vĩ đại. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê Nin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế – xã hội, trong đó có hoạt động báo chí.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam với tờ báo đầu tiên là tờ Thanh niên mà chính bản thân Người cũng là một cây bút tài ba. Người đã để lại một khối lượng tác phẩm báo chí đồ sộ, với trên 2000 bài báo thuộc nhiều thể loại như: kịch, phóng sự, bút ký… các tác phẩm của Người còn được viết bằng nhiều thứ tiếng khác nhau, đề cập đến toàn bộ các vấn đề rộng lớn của cách mạng cũng như đời sống xã hội Việt Nam.

Vốn là người am hiểu sâu sắc hoạt động báo chí, coi báo chí là một thứ vũ khí cách mạng sắc bén và đã sử dụng báo chí một cách tài tình để tuyên truyền cách mạng, để vận động nhân dân tham gia sự nghiệp cách mạng. Chính vì thế, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, người làm báo trước hết phải có tư tưởng chính trị vững vàng. Phát biểu tại Đại hội Hội nhà báo Việt Nam lần thứ II năm 1959, Người đã căn dặn: “Nhiệm vụ của người làm báo là quan trọng và vẻ vang. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản; phải nâng cao trình độ văn hóa, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình”. Đây cũng chính là tư tưởng lớn xuyên suốt toàn bộ đường lối thông tin đại chúng của Đảng ta trong nhiều thập kỷ, mặc dù cách diễn đạt của từng văn kiện lúc này, lúc khác không giống nhau.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của người làm báo: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng, “Cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa; chú trọng học tập chính trị để nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ; đi sâu vào thực tế, đi sâu vào quần chúng lao động”.

Cùng với lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, người làm báo phải có kiến thức sâu rộng, am hiểu thực tế. Theo tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà báo phải là người có trí thức rất rộng và rất sâu, đặc biệt là có trách nhiệm với công việc của mình, với sản phẩm của mình, với mọi hiệu quả, hệ quả của sản phẩm đó. Trong thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi lớp viết báo đầu tiên Huỳnh Thúc Kháng, Người đã chỉ ra rằng: “Muốn viết báo khá thì cần: Gần gũi dân chúng, cứ ngồi trong phòng giấy mà viết thi không thể viết thiết thực; ít nhất cũng phải biết một thứ tiếng nước ngoài để xem báo nước ngoài mà học kinh nghiệm của người; Khi viết xong một bài, tự mình phải xem lại ba bốn lần, sửa chữa lại cho cẩn thận. Tốt hơn nữa, là đưa nhờ một vài người ít văn hóa xem và hỏi họ những câu nào, chữ nào không hiểu thì sửa lại cho dễ hiểu; Luôn luôn gắng học hỏi, luôn luôn cầu tiến bộ…”.

Người có nhiều bài nói về công việc viết báo, chia sẻ kinh nghiệm viết báo với đồng nghiệp hoặc cán bộ cấp dưới. Trong bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam ngày 8-9-1962, Bác nói: “Kinh nghiệm của tôi là thế này: Mỗi khi viết một bài báo, thì đặt câu hỏi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì? Viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc? Khi viết xong, thì nhờ anh em xem và sửa giùm.”

Với Chủ tịch Minh, mỗi khi đặt bút viết, Người luôn xác định: viết cái gì? (nội dung),Viết cho ai? (đối tượng),Viết để làm gì? (mục đích), Viết thế nào? (hình thức)

Những kinh nghiệm làm báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành những nguyên tắc cơ bản không thể thiếu đối với những người cầm bút. Đây chính là những bài học vô cùng quý báu mà Người đã để lại cho các nhà báo, nhất là đối với những người mới chập chững bước vào nghề. Bởi lẽ, trước khi viết nhà báo cần xác định được đối tượng của báo chí thì để từ đó viết có nội dung, mục đích cũng như hình thức viết sao cho rõ ràng và đạt hiệu quả.

Ngoài những nguyên tắc trên, thông tin trong tác phẩm báo chí phải chân thực, chính xác. Tính chân thật luôn được xem là đạo đức của người làm báo cách mạng. Vì thế, báo chí cách mạng Việt Nam là tiếng nói của Đảng và là diễn đàn của nhân dân. Báo chí đã phản ánh những ý kiến xây dựng của nhân dân, nói lên tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị của dân đối với công cuộc xây dựng đất nước. Đồng thời báo chí cũng quyết liệt chống nạn tham nhũng, buôn lậu; chống lại tội ác và các tệ nạn xã hội; chống lại những biểu hiện tha hóa, sa sút về phẩm chất, đạo đức và lối sống. Với việc làm đó, báo chí đã đem đến cho công chúng niềm tin ở sự thật, tin ở sự nghiêm minh của pháp luật, đặc biệt tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tin vào truyền thống cách mạng và nhân văn của nhân dân ta.

Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà báo khi viết phải “chân thực” – chân thực là sức mạnh vì nó có lòng tin. Mỗi bài viết của phóng viên phải bắt nguồn từ thực tế cuộc sống với những con số, những sự kiện đã được xem xét kiểm tra, chọn lọc. Bài viết phải đem lại cho người đọc lượng thông tin cao và chính xác. Viết phải đúng sự thật, không được bịa ra, không nêu nói ẩu, chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết”.

Cùng với những nguyên tắc trên, theo tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh, bài báo phải có bố cục “ngắn gọn”; ngôn ngữ “trong sáng, giản dị, dể hiểu” Theo Người ngắn gọn không có nghĩa là cộc lốc mà ngắn gọn là gọn gàng, rõ ràng, có đầu, có đuôi, có nội dung thiết thực, thấm thía, chắc chắn. Còn muốn viết được trong sáng, giản dị, dễ hiểu, trước hết nhà báo phải học cách nói của quần chúng. Phải thực sự học quần chúng để có cách viết được quần chúng chấp nhận như những gì của chính họ. Sự trong sáng, giản dị, dễ hiểu là bắt nguồn từ sự hiểu biết thấu đáo, bản chất của sự vật, từ sự gắn bó với truyền thống dân tộc trong cách cảm, nếp nghĩ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không những am hiểu ngôn từ của nhiều dân tộc mà còn là bậc thầy về sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt. Người đề cao và khẳng định: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp. Của mình có mà không dùng, lại đi mượn của nước ngoài, đó chẳng phải là đầu óc quen ỷ lại hay sao?”.

Hiện nay, trên cả nước có khoảng 620 cơ quan báo chí, 1 hãng thông tấn, 1 đài phát thanh, 1 đài truyền hình quốc gia… Báo chí đã tích cực tuyên truyền, cổ vũ phong trào thi đua, lao động sản xuất, thực hiện các nhiệm vụ kinh tế – xã hội, động viên đồng bào cả nước vượt qua khó khăn, thử thách, khắc phục hậu quả nặng nề của thiên tai, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, kế hoạch đề ra.

Có thể thấy, sau 85 năm hình thành và phát triển, ở nước ta đã hình thành một hệ thống báo chí hoàn chỉnh với các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử, đảm nhiệm chức năng vừa là cơ quan ngôn luận của tổ chức Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã hội, vừa là diễn đàn của nhân dân.

Nhân kỷ niệm 85 năm ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, các thế hệ những người làm báo không thể không nhớ tới Chủ tịch Hồ Chí Minh – người đã khai sinh ra nền Báo chí cách mạng Việt Nam, người thầy của các thế hệ nhà báo Việt Nam. Tư tưởng cùng nhưng lời dạy của Người về báo chí mãi còn nguyên giá trị và đặc biệt đối với thế hệ những người cầm bút hôm nay và mai sau càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết trong việc dùng ngòi bút của mình đấu tranh cho sự tiến bộ, công bằng và dân chủ của nhân dân.

Theo tdtt.gov.vn

nhoNguoicha

Bác Hồ với Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Ngày 20-1-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 110 phong quân hàm Đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp. Đến ngày 28-5-1948, tại buổi lễ phong quân hàm cho vị Đại tướng đầu tiên của Quân đội ta, Hồ Chủ tịch long trọng tuyên bố: “Nhân danh Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trao cho chú chức vụ Đại tướng, để chú điều khiển binh sỹ, làm trọn sứ mệnh mà quốc dân phó thác”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25-8-1911, tại làng An Xá, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Thân sinh là cụ Võ Nguyên Thân – một nhà nho yêu nước và giàu chí khí. Cụ bị Pháp bắt ở Huế (khoảng 1946-1947). Chúng đánh cụ rất dã man và mắng: “Không biết dạy con, để con chống lại quân đội Pháp”. Cụ Thân cười bảo: “Tôi đẻ con ra, chưa kịp dạy thì nó đã bỏ nhà đi làm cách mạng. Chừ tôi muốn dạy con thì còn mô mà dạy? Vậy tôi nhờ quân đội Pháp hùng mạnh đi bắt giúp con tôi về đây để tôi dạy thử, coi con tôi có chịu nghe không”. Chúng lại càng điên cuồng tra tấn nhưng vẫn không moi được một lời khai nào, sau đó chúng đã thủ tiêu cụ.

Từ bé, Đại tướng đã được cụ thân sinh dạy học tại nhà và sau đó đi học ở trường làng. Đại tướng luôn được bố mẹ rèn cặp, hun đúc lòng yêu nước và tự hào dân tộc. Đến năm 13 tuổi, Đại tướng vào học ở trường Quốc học Huế, sau ra Hà Nội học tiếp và đã hăng hái tham gia các hoạt động yêu nước của sinh viên, học sinh. Năm 1929, Đại tướng tham gia cải tổ Tân Việt Cách mạng Đảng thành Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, sau đó tiếp tục hoạt động trên lĩnh vực văn hóa – giáo dục, làm thầy giáo dạy lịch sử tại Trường Tư thục Thăng Long và có nhiều bài viết cho các tờ báo ra công khai lúc bấy giờ như Tin Tức, Nhân Dân, Lao Động. Giai đoạn 1936-1939, Đại tướng là một trong những người sáng lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương và có nhiều hoạt động nổi bật về vấn đề đấu tranh đòi ruộng đất cho nông dân. Sau thời kỳ này, Đại tướng đã ra nước ngoài, hoạt động trong phong trào hải ngoại ở Trung Quốc.

Tháng 6-1940, Đại tướng được gặp Bác Hồ lần đầu tiên ở Thúy Hồ (Trung Quốc). Được sự dìu dắt của Bác, ngay trong năm 1940, Đại tướng được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ năm 1941, Đại tướng trở về nước hoạt động, tích cực tham gia thành lập Mặt trận Việt Minh và được giao phụ trách Ban Xung phong Nam tiến.

Cuối năm 1944, Bác Hồ tin tưởng giao cho Đại tướng chọn lựa những cán bộ, chiến sĩ anh dũng nhất với những vũ khí tốt nhất, lập thành một đội vũ trang mang tên là “Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân”. Bác đã nói: Việc quân sự thì giao cho chú Văn (Văn là bí danh của Đại tướng). Sau một thời gian chuẩn bị, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập vào ngày 22-12-1944, tại một khu rừng ở châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Sau này, khu rừng ấy được đặt tên là khu rừng Trần Hưng Đạo, còn Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân chính là tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trước khi thành lập, Bác nói với Đại tướng là trong vòng một tháng phải có hoạt động. Điều kỳ diệu là chỉ hai hôm sau, vào ngày 24 và 25-12-1944, Đội đã liên tiếp đánh thắng hai trận vang dội, diệt gọn hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần của địch.

Trong những ngày cả nước sục sôi khí thế cách mạng, khi chiến tranh thế giới lần thứ II đã dần ngã ngũ với thắng lợi thuộc về phe đồng minh thì ở căn cứ Việt Bắc, Bác bị ốm rất nặng. Lúc này, cán bộ Trung ương ở bên cạnh Bác chỉ có Đại tướng. Bác sốt liên tục, hễ tỉnh lại lúc nào là nói chuyện tình hình và nhiệm vụ cách mạng như có ý dặn lại mọi việc với Đại tướng. Trong những điều Bác dặn dò ấy, có một câu nói đã mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc: “Lúc này, thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh đến đâu, dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng kiên quyết giành cho được độc lập!”.

Cách mạng Tháng Tám vừa thành công thì thù trong giặc ngoài ráo riết chống phá, hòng bóp chết Nhà nước Cộng hòa non trẻ. Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo ra sức chèo lái vận mệnh sơn hà và đã phải nhân nhượng với kẻ thù nhiều điều nhằm kéo dài thời gian hòa hoãn, chuẩn bị cho công cuộc kháng chiến. Song những nhân nhượng ấy cũng có một số cán bộ chưa đồng tình. Để thông suốt chủ trương, trong một cuộc họp, Bác đã hỏi: “Mình đứng đây, cái bục ở đây – Bác chỉ vào cái bục ở ngay trước ngực – Mình có thể nhảy qua cái bục này được không?”. Mọi người ngạc nhiên, chưa biết Bác định nói gì, thì Bác chỉ tay vào Đại tướng: “Chú Giáp! Chú là người giỏi văn, giỏi võ, chú thấy có thể nhảy qua được không?”. Đại tướng từ tốn trả lời: “Thưa Bác! Có thể nhảy qua được với một điều kiện”. Bác hỏi tiếp: “Điều kiện gì?”. Đại tướng bình tĩnh đáp: “Thưa Bác! Mình phải lùi lại một khoảng để lấy đà”. Bác liền khen: “Chú nói đúng! Chúng ta nhân nhượng với giặc chính là đang lùi lại để lấy đà đấy!”.

Đến một cuộc họp Hội đồng Chính phủ sau đó, Bác Hồ hỏi Đại tướng: “Nếu địch mở rộng chiến tranh trên miền Bắc, Hà Nội có thể giữ được bao lâu?”, Đại tướng trả lời: “Thưa Bác! Có thể giữ được một tháng”. Bác lại hỏi: “Các thành phố khác thì sao?”, Đại tướng trả lời: “Các thành phố khác thì ít khó khăn hơn”. Bác hỏi tiếp: “Còn vùng nông thôn?”, Đại tướng trả lời: “Vùng nông thôn ta nhất định giữ được”.  Sự trả lời vững vàng của Đại tướng làm cho Bác nhanh chóng quyết định “Ta lại trở về Tân Trào”,  chọn căn cứ địa Việt Bắc làm Thủ đô kháng chiến. (Thực tế khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, chúng ta đã giữ được Hà Nội hơn 2 tháng).

Xuân Mậu Tý 1948, tại chiến khu Việt Bắc, Bác Hồ đã ra một vế đối: “Giáp phải giải pháp”, ý nói Đại tướng Võ Nguyên Giáp phải chỉ huy quân đội đánh thắng giặc Pháp, nhưng vế đối khó ở chỗ 2 chữ Giáp phải khi nói lái sẽ trở thành giải pháp. Mọi người còn đang đăm chiêu suy nghĩ thì ông Tôn Quang Phiệt đứng lên xin đối là: “Hiến tài hái tiền”. Hiến chỉ Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến và Hiến tài  nói lái sẽ trở thành hái tiền. Thật là hay! Vế xướng nói về kháng chiến, vế đối nói về kiến quốc, chính là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng nước ta trong thời kỳ này.

Cuối năm 1953, Đại tướng được giao nhiệm vụ ra mặt trận làm Tổng tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ Chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ. Trước khi Đại tướng lên đường, Bác Hồ đã căn dặn: “Chú ra mặt trận, tướng quân tại ngoại, có toàn quyền quyết định. Trận này rất quan trọng. Các chú nhất định phải thắng. Chắc thắng thì đánh. Không chắc thắng, không đánh”. Nhớ lời căn dặn của Bác, khi đến Điện Biên Phủ, trực tiếp theo dõi tình hình địch suốt 11 ngày đêm, thấy địch đã xây dựng hệ thống phòng thủ kiên cố, Đại tướng xét thấy phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh” không bảo đảm chắc thắng. Từ đó, Đại tướng đã quyết định thay đổi phương châm từ đánh nhanh, giải quyết nhanh thành đánh chắc, tiến chắc. Thực tế đã chứng minh sự thay đổi ấy là một yếu tố cực kỳ quan trọng để làm nên Chiến thắng  lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu và Bác Hồ đã gọi đó là “cây cột mốc bằng vàng”.

Những chiến công của quân đội ta trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ luôn gắn liền với tên tuổi của Đại tướng. Là một vị tướng lừng danh thế giới, nhưng Đại tướng luôn coi mình là người học trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hiện nay, Đại tướng là Chủ tịch danh dự Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Đại tướng thường kể lại với mọi người về những ấn tượng sâu sắc trong lần đầu tiên được gặp Bác Hồ: “Ngay từ đầu, tôi đã cảm thấy như mình được ở rất gần Bác, được quen biết Bác từ lâu rồi! ở Bác toát ra một cái gì đó rất trong sáng, gần gũi. Một điều làm tôi  hết sức cảm phục là khi nói chuyện với tôi, Bác nói rất nhiều tiếng địa phương. Tôi không ngờ một người xa đất nước lâu năm như Bác mà vẫn giữ được nguyên vẹn tiếng nói của quê hương…”

Theo Báo Bắc Ninh

hcmpc.com.vn

Học và làm theo Bác từ điều bình dị

Bí thư Thành đoàn TP.HCM Nguyễn Văn Hiếu cho biết: Năm năm qua đã có nhiều mô hình, chương trình để việc thực hiện “Tuổi trẻ VN học tập và làm theo lời Bác” lan tỏa trong đời sống của tuổi trẻ TP.Hồ Chí Minh.

Có những tư tưởng, việc làm của Bác mang tầm vóc vĩ đại nhưng cũng có không ít suy nghĩ, việc làm rất đỗi bình dị, dễ tiếp thu, dễ học và làm theo trong cuộc sống hằng ngày. Vì vậy, chúng ta có thể khai thác di sản vô giá đó từ nhiều góc độ, tùy vào đặc điểm, tính chất và công việc của mỗi người. Khi đề cập đến tấm gương đạo đức của Bác, chúng ta thấy lối sống giản dị và thực hành tiết kiệm là hai phẩm chất mà người trẻ nào cũng có thể học và làm theo.

* TP.HCM có cách làm đa dạng với nhiều mô hình để triển khai cuộc vận động “Tuổi trẻ VN học và làm theo lời Bác”. Đâu là điểm nổi bật và sức lan tỏa của cuộc vận động trong tuổi trẻ TP thế nào, thưa anh?

– Gắn với từng đối tượng cụ thể, tuổi trẻ TP có nhiều phương thức triển khai cuộc vận động. Đơn cử như với đội viên là tập trung thực hiện “năm điều Bác Hồ dạy”; cán bộ, công chức trẻ là tham gia cải cách hành chính gắn với phong trào “ba trách nhiệm” (trách nhiệm với bản thân, với công việc, với nhân dân); thanh niên trên địa bàn dân cư là xây dựng nếp sống văn minh đô thị, khu phố, ấp “An toàn – sạch đẹp – văn minh – nghĩa tình”; thanh niên công nhân tập trung chương trình “Thanh niên đồng hành cùng hàng Việt”; học sinh, sinh viên, thầy cô giáo trẻ thực hiện các cuộc vận động “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, “Sinh viên năm tốt”, “Tuổi trẻ sáng tạo”, “Nhà giáo trẻ tiêu biểu”, “Học sinh ba tích cực”…

Tôi cho rằng điểm nổi bật chính là tuổi trẻ TP đã lựa chọn đúng phong trào, phát huy thế mạnh vốn có và sự chỉ đạo sát sao của Ban thường vụ Thành đoàn với cơ sở. Chọn lựa phong trào và chú trọng hiệu quả tổ chức nên cuộc vận động đã thật sự lan tỏa, tác động tích cực đến số đông, góp phần nâng cao nhận thức và rèn luyện đạo đức, tác phong, lối sống của các bạn trẻ.

Anh Nguyễn Văn Hiếu - Ảnh: Q.NGUYÊN

Nhưng thực tế một số nơi chưa thật chủ động, còn hình thức và đối phó khi triển khai cuộc vận động. Điều này sẽ được khắc phục ra sao?

– Đúng là có lúc, có nơi tại cơ sở vẫn còn tình trạng hình thức, đối phó. Chúng tôi thường xuyên kiểm điểm và tự phê bình nghiêm túc lẫn nhau đối với những cách làm hời hợt, thiếu trách nhiệm này. Tuy nhiên trên bình diện chung, tôi cho rằng các nội dung học tập và làm theo lời Bác đã được cơ sở Đoàn, các bạn đoàn viên, thanh thiếu nhi nhiệt tình hưởng ứng.

Mục tiêu là từng bước tác động sâu vào suy nghĩ và hành động trong cuộc sống hằng ngày của thanh thiếu niên. Chúng tôi luôn yêu cầu đội ngũ cán bộ Đoàn – Hội – Đội phải là lực lượng nòng cốt, tích cực đi đầu để thể hiện vai trò gương mẫu. Đây là hướng đi đúng và sẽ được tiếp tục phát huy để thực hiện có hiệu quả các quan điểm chỉ đạo mới đây của Thành ủy TP.HCM thời gian tới, làm sao để mỗi bạn trẻ nhận ra việc học và làm theo lời Bác như một nhu cầu thường xuyên, cần thiết trong đời sống.

* Yêu cầu xuyên suốt cuộc vận động là chuyển từ “học” sang “làm theo” lời Bác. Thành đoàn TP.HCM đã có chủ trương gì để thực hiện trọng tâm này thời gian tới?

– Việc học tập tư tưởng, tấm gương đạo đức và phong cách của Bác Hồ tiếp tục được duy trì như một yêu cầu hết sức quan trọng để giáo dục đạo đức, lối sống cho đoàn viên, thanh thiếu nhi trong hệ thống tổ chức Đoàn – Hội – Đội. Đồng thời việc “làm theo lời Bác” sẽ được tăng cường theo hướng khuyến khích sự năng động, sáng tạo của mỗi cán bộ Đoàn, đoàn viên, thanh niên tại cơ sở để việc học tập và làm theo lời Bác gắn với nhiệm vụ chuyên môn, quá trình học tập và rèn luyện đạo đức, lối sống của mỗi bạn trẻ.

Giải pháp chính là kịp thời phát hiện và nhân rộng các nhân tố điển hình, những mô hình tích cực, hiệu quả. Song song đó sẽ tạo môi trường rèn luyện để người trẻ có điều kiện tham gia các công trình, sản phẩm, phần việc thanh niên làm theo lời Bác. Mà phải là tham gia trực tiếp, sâu rộng vào các dự án phát triển kinh tế, an sinh xã hội của TP và đất nước. Đặc biệt là các dự án tại chính địa phương, đơn vị, vừa phục vụ nhu cầu của thanh thiếu nhi, vừa phục vụ nhu cầu của cộng đồng xã hội một cách thiết thực, hiệu quả.

Theo Tạp chí Tuyên Giáo

hcmpc.com.vn

Di chúc Bác Hồ và trăn trở của Người về quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ

Tài liệu “Tuyệt đối bí mật”- bản Di chúc thiêng liêng, đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu viết lúc 9 giờ sáng ngày 10/5/1965 đúng dịp sinh nhật lần thứ 75 của Người. Từ ngày 10 đến 14/5/1965, mỗi ngày Người dành một giờ đồng hồ để viết. Những năm sau đó, cũng vào dịp tháng 5, Người lại dành thời gian để đọc lại hoặc viết thêm vào tài liệu ấy. 9 giờ sáng ngày 10/5/1968, khi xem lại tài liệu này, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy cần và Người đã viết thêm một số vấn đề nữa. Trong số những vấn đề đó, Người đã viết về phụ nữ như sau: “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”

Những lời tâm huyết này trước lúc đi xa, phải chăng là sự đúc kết ngắn gọn của sự trăn trở cả cuộc đời Người về vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng con người và giải phóng phụ nữ – thực hiện quyền bình đẳng cho mỗi dân tộc, mỗi con người và quyền bình đẳng thật sự của phụ nữ so với nam giới.

Từ những năm đầu thế kỷ XX, khi đang còn hoạt động ở nước ngoài (Pháp), Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã nhìn thấy rất rõ nỗi khổ nhục của người phụ nữ Việt Nam và đanh thép tố cáotội ác của thực dân Pháp đối với phụ nữ xứ thuộc địa An Nam lúc đó: “Không một chỗ nào người phụ nữ thoát khỏi những hành động bạo ngược, ngoài phố,trong nhà, giữa chợ, hay ở thôn quê, đâu đâu họ cũng vấp phải những hành động tàn nhẫn của bọn quan lại cai trị, sĩ quan, cảnh binh, nhân viên nhà đoan, nhà ga”. Người đã đưa ra những dẫn chứng rất cụ thể về những hành vi bạo ngược để minh hoạ cho lời tố cáo đó của mình và còn thấy rõ: Cùng với sự áp bức của thực dân Pháp thì lễ giáo phong kiến Việt Nam cũng coi người phụ nữ là những “đàn bà phải quanh quẩn bếp núc”, “trong xã hội và trong gia đình, người phụ nữ bị hạ thấp tột bậc và không được hưởng chút quyền gì”. “Dưới chế độ phong kiến và thực dân, phụ nữ bị áp bức tàn tệ. Ngoài xã hội thì phụ nữ bị xem khinh như nô lệ. Ở gia đình thì họ bị kìm hãm trong xiềng xích “tam tòng”. Trước sự khổ nhục của người phụ nữ An Nam như vậy, Người vẫn có niềm tin vào sức mạnh ở họ. Người đề cao vai trò, vị trí của giới phụ nữ nói chung và phụ nữ Việt Nam nói riêng. Người khẳng định:“muốn thế giới cách mệnh thành công thì phải vận động đàn bà con gái công nông các nước…An Nam cách mệnh cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công”. Từ đó, Người đã động viên, khích lệ, kêu gọi “Hỡi chị em! Vì sao chị em lại phải chịu sự áp bức bất công như vậy”, “… bây giờ hai chữ “nữ quyền” đã rầm rầm khắp thế giới, chị em ta lại gặp cảnh nước suy vi, nỡ lòng nào ngồi yên được! chị em ơi! Mau mau đoàn kết lại!”

Trong Chánh cương vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo năm 1930, Người đã đưa nội dung “Nam nữ bình quyền” thành một mục ngang bằng với các mục “Dân chúng được tự do tổ chức”, “Phổ thông giáo dục theo công nông hoá”…

Năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng, khi sáng lập Mặt trận Việt Minh (5/1941) để tập hợp lực lượng đánh thực dân Pháp giành độc lập dân tộc, Người đã đề ra 10 chính sách của Việt Minh, trong đó có chính sách về phụ nữ: “Đàn bà cũng được tự do, bất phân nam nữ đều cho bình quyền”. Trong Chương trình Việt Minh, Nguời viết: “Sau khi đánh đuổi đế quốc phát xít Nhật, sẽ lập nên Chính phủ nhân dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà…. Chính phủ nhân dân của nước VNDCCH do Quốc dân đại hội cử lên sẽ thi hành những chính sách Phổ thông đầu phiếu: hễ ai là người Việt Nam, vô luận nam, nữ từ 18 tuổi trở lên đều có quyền tuyển cử và ứng cử… Về chính trị: Nam nữ bình quyền. Về các phương diện kinh tế , chính trị,văn hoá: đàn bà đều được bình đẳng với đàn ông”

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, chỉ một ngày sau khi tuyên bố Việt Nam độc lập, ngày 3/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Người đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước VNDCCH. Trong đó, nhiệm vụ thứ ba, Người nêu: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử”[8][9]. Người còn chủ trương: “Trong cuộc tổng tuyển cử hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử. Không chia gái, trai… hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó”[9][10].Dưới sự lãnh đạo tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam độc lập đã giành thắng lợi lớn. Trong số 333 đại biểu Quốc hội, có 10 đại biểu là phụ nữ.

Là Trưởng ban dự thảo Hiến pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa vào bản Hiến pháp đầu tiên (1946) của nước ta những điều luật ngang tầm với nền chính trị tiên tiến của thế giới, trong đó, Điều 9 quy định: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”. Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử, người phụ nữ đã được quyền bình đẳng, ngang với đàn ông cả trong quy định pháp lý và cả trên thực tế.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò quan trọng của phụ nữ: Hàng vạn phụ nữ Kinh, Tày, Nùng, Mán, Mèo xung phong tham gia dân công, không quản trèo đèo lội suối, ăn gió nằm sương. Phụ nữ ở xí nghiệp, ở nông thôn, ở cơ quan, kể cả chị em tiểu tư sản đều hăng hái tham gia thi đua yêu nước, thành tích không kém đàn ông. “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”. Người còn chỉ ra nhiệm vụ chính trị của phụ nữ lúc bấy giờ: “Thắt chặt mối đoàn kết giữa các tầng lớp phụ nữ trong nước, giữa phụ nữ Việt Nam và phụ nữ các nước bạn cùng phụ nữ dân chủ thế giới. – Thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm, hăng hái tham gia phong trào chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu.- Hăng hái tham gia chính quyền…

Người cũng nhấn mạnh: Đóng góp của phụ nữ thì to lớn như vậy, nhưng để thực sự nam nữ bình đẳng – bình quyền là “một cuộc cách mạng to và khó”. Bởi vì, “ách áp bức dân tộc và bóc lột giai cấp của bọn thực dân Pháp và tay sai đã gây nên những nỗi đau khổ, cơ cực của người phụ nữ”. Và “vì trọng trai khinh gái là một thói quen mấy nghìn năm để lại. Vì nó ăn sâu trongđầu óc của mọi tầng lớp xã hội… phải cách mạng từng người, từng gia đình đến toàn dân dù to và khó nhưng nhất định thành công”. Người chỉ rõ về tầm quan trọng của cuộc cách mạng này: “Nói phụ nữ là nói phần nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội mới một nửa”. Tư tưởng về thực hiện quyền bình đẳng và giải phóng phụ nữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã được ghi trong Hiến pháp năm 1959, tại Điều 24. Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trươngxây dựng Luật Hôn nhân và gia đình, và ngày 13/1/1960, Người đã ký Lệnh số 02- LCT công bố đạo Luật này. Luật đã dành các Điều 3;12;13;18 để nói về quyền bình đẳng vợ chồng và phải yêu thương quý trọng nhau.

Trong công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các Bộ, các ngành, các cơ quan, đoàn thể, đơn vị phải chú ý đào tạo, bồi dưỡng, tạo điều kiện đưa phụ nữ tham gia vào công tác quản lý, lãnh đạo. Có như vậy, phụ nữ mới thực sự bình đẳng. Ngườithường xuyên quan tâm theo dõi từng bước tiến của phụ nữ. Người nhận xét “Thời kỳ thuộc Pháp, phụ nữ ta làm gì đựơc tham gia chính quyền. Nhưng đến nay, số phụ nữ hiện công tác ở các cơ quan Trung ương đã có trên 5.000 người, ở huyện, xã có hơn 16.000 người và các tỉnh có hơn 330 người, đặc biệt trong quốc hội khoá II này có 53 đại biểu phụ nữ”. Người còn động viên chị em noi gương phụ nữ thế giới…; phụ nữ trong nước… như “Phó tổng tư lệnh quân giải phónglà cô Nguyễn Thị Định. Cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật là vẻ vang cho miền Nam, cho cả dân tộc ta”

Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để phụ nữ Việt Nam được hưởng quyền bình đẳng thật sự thì không chỉ làm cách mạng giải phóng họ, chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của họ mà còn phải bồi dưỡng, giúp đỡ họ, đưa họ tham gia vào công tác quản lý, lãnh đạo Đảng và chính quyền. Đây là biểu hiện rõ nét nhất về việc thực hiện quyền bình đẳng đối với phụ nữ. Cả cuộc đời Người luôn trăn trở để đem lại quyền bình đẳng thật sự đó.

phunu.hochiminhcity.gov.vn