Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Người châu Phi rước chân dung Bác Hồ

Thủ đô Bradavin của nước Cộng hoà Nhân dân Công Gô (nay là Cộng – hoà Công Gô) tuy nhỏ, nhưng đẹp và rất trật tự. Vào những năm 1988 đến năm 1992, nơi đây thường diễn ra các cuộc Hội nghị, Hội thảo, các cuộc gặp gỡ quốc tế của các nước á, Phi và Mỹ La tinh. Khi chúng tôi, những người Việt Nam làm việc ở Bradavin có dịp tiếp xúc với các bạn ấy, họ thường hỏi thăm về Bác Hồ, về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, về anh Nguyễn Văn Trỗi…

Năm 1988, bạn tổ chức ngày Lễ Quốc tế Lao động (1-5) rất long trọng, có diễu hành lớn qua Quảng trường Marien N’gouabi (tên vị Tống thống đầu tiên của CHND Công Gô) và các đường phố lớn ở Thủ đô Bradavin. Công việc chuẩn bị tiến hành từ giữa tháng 4-1988 khi ấy tôi làm việc tại Bộ Giáo dục Công Gô với tư cách chuyên gia Hội hoạ; Bộ này tham gia diễu hành ngày Quốc tế Lao động bằng đội ngũ các thấy, cô giáo dạy giỏi và đội ngũ các học sinh xuất sắc mang các biểu ngữ, panô trình bày thành tích giáo dục. Tôi được mời đến gặp Bà Bernadette Bayol, Bộ trưởng Bộ Giáo dục.

Bà Bayol yêu cầu tôi vẽ 2 bức chân dung cỡ lớn để đi diễu hành ngày 1 tháng 5: một là vẽ cố Tổng thống Marien N’gouABI, phía dưới kẻ dòng chữ “Trường học thoải mái” tiếng Pháp: “Ecole àgréablel” đó là phương châm của Cố Tổng thống đề ra cho ngành Giáo dục, ý nói: “Học hành phải vui vẻ thoải mái mới đạt kết quả cao”, hai là vẽ chân dung đương kim Tổng thống: Đại tá Denis Sassou N’guesso, phía dưới kẻ dòng chữ “Môi trường học là một cánh đồng” – “Chaque Ecole, un Champ” ý Tổng thống nói: “Dạy và học đều phải tích cực, cần mẫn như công việc đồng áng”. Chân dung 2 vị Tổng thống đều có kẻ khẩu hiệu ở phía dưới bằng tiếng Pháp vì nước Công Gô nói tiếng Pháp.

Tôi vui vẻ nhận vẽ hai bức chân dung nói trên và nói với Bà Bộ trưởng và các vị trợ lý rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh có lời dạy bảo rất hay. Các bạn Công Gô hỏi: “Lời dạy bảo của Bác Hồ thế nào?”. Tôi có dụng ý dùng từ Chủ tịch Hồ Chí Minh. (président Hồ Chí Minh) sau đó tôi chú ý thấy bà Bộ trưởng dùng từ bác Hồ”. (Uncle Hồ) khiến tôi cảm động và thấy tình cảm càng thân thiết với Công Gô. Tôi giới thiệu câu nói của văn học “Vì lợi ích mười năm trồng cây. Vì lợi ích trăm năm trồng người” tiếng Pháp: “Pour leo inte’zêtrắng de dix ans, on plante larbre, pour ceux de cent ans, on cultive l’homme”. Nghe xong câu ấy, từ bà Bộ trưởng Bernadette Bayol, ông Đổng lý Văn phòng D’Nimina – Gilbert đến các vị trợ lý Bộ Giáo dục đều đứng cả dậy vỗ tay reo: – “Thật là lời dạy của một vị đại triết gia”. Ông Touloulon ghi vào văn bản.

Vậy là bà Bộ trưởng chỉ thị cho tôi vẽ 3 bức chân dung. Chủ tịch Hồ Chí Minh – Tổng thống Marien N’gouabi – Tổng thống Denis Sassou N’guesso với các phương châm như đã nói ở trên. Ông Đổng lý văn phòng điều ngay thợ mộc đen đóng khung panô, căng vải để vẽ bằng sơn dầu và mang đến cơ man nào là bia, rượu vang đường, sữa, bơ, pho mát, xúc xích… để bồi dưỡng cho hoạ sĩ. Các chuyên gia Việt Nam đang làm việc ở Công Gô thời gian ấy cũng được nghỉ 10 ngày để phục vụ cho việc thể hiện 3 tranh chân dung cỡ lớn (3mx2m), đó là kỹ sư Đặng Vũ Tường và 2 bác sĩ khoa Nhi: Trịnh Thị Mai Anh và Nguyễn Văn Lai. Họ đem sữa, pha chè, nấu ăn rửa bát… phục vụ chu đáo cho anh em thể hiện các bức chân dung.

Và thế là trong Ngày hội Quốc tế Lao động năm ấy, đoàn người diễu hành trùng điệp trong tiếng nhạc Quốc tế ca hùng tráng – Những hàng người đi đầu giương cao các bức chân dung các nhà lãnh đạo cách mạng trong đó có chân dung Bác Hồ với dòng chữ ” Vì lợi ích mười năm trồng cây. Vì lợi ích trăm năm trồng người”. Ông Matoundp Albert, một trung sĩ trong Quân đội viễn chinh Pháp Cefeo (Corps expédi tionnaire franctas en Extrême-Orint) đã chạy sang hàng ngũ Việt Minh năm 1953 rồi ở lại Việt Nam đến năm 1973 mới hồi hương, nắm lấy tay tôi, vẻ hồ hởi cảm động. Ông nói tiếng Việt rất thạo:

– Trông thấy chân dung Bác Hồ trong đoàn diễu hành, tôi nhớ da diết Thủ đô Hà nội.

Báo Văn Nghệ 18/5/2002
cpv.org.vn

Mấy quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa và thực tế hiện nay

Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát triển văn hóa và xây dựng con người là một chủ đề rộng lớn.

1. Về vai trò của văn hóaĐã có hàng trăm định nghĩa về văn hóa. Dù không có điều kiện và thời gian để đi sâu tìm hiểu các định nghĩa “hàn lâm” đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã tự tìm ra một định nghĩa về văn hóa rất gần với cách hiểu văn hóa mà hàng chục năm sau, năm 1982, tại Mexico, UNESCO mới nêu lên.

Trong mục Đọc sách ở phần cuối tập Nhật ký trong tù (1942-1943), Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra những ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó, mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.

Chính văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng như vậy mới có thể đóng góp được vai trò “là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội”.

Vị trí rất cao của văn hóa trong đời sống xã hội, vai trò tối quan trọng của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra một cách rành rẽ ngay từ những ngày đầu của chính quyền nhân dân non trẻ.

Ngay đầu tháng 9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định thành lập Ủy ban Văn hóa lâm thời Bắc Bộ. Ngày 7/9/1945, khi tiếp các đại biểu của ủy ban đó, Hồ Chủ tịch đã nói: “Tôi mong rằng các ngài trong giới văn hóa nhận thấy rõ nhiệm vụ của các ngài trong lúc này là củng cố nền độc lập của Việt Nam, sửa soạn gây dựng cho đất nước một nền văn hóa mới…Bổn phận của các ngài là lãnh đạo tư tưởng của quốc dân, đấu tranh cho nền độc lập và kiến thiết một nền văn hóa mới” (Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, tập 3, tr.13). Thật quả là một kỳ vọng to lớn mà Người đã trông đợi ở các nhà văn hóa!

Hơn một năm sau, khi tiếng súng kháng chiến đã nổ ở Nam Bộ, ở Hải Phòng, tình hình đất nước hết sức nguy cấp, ngày 24/11/1946, Hồ Chủ tịch vẫn dành thì giờ tới đọc diễn văn khai mạc Hội nghị Văn hóa toàn quốc với lời lẽ đã đi vào lịch sử như một hàng chữ vàng: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”.

Sau này, Hồ Chủ tịch còn nhiều lần nhắc lại vai trò, vị trí của văn hóa trong sự nghiệp chung. Đáng tiếc là nơi này, nơi khác, lúc này, lúc khác một số cán bộ, cấp ủy còn chưa đặt đúng văn hóa vào vị trí của nó, thậm chí còn coi nó như một lĩnh vực “ăn theo” kinh tế, một “cái đuôi” của sự phát triển. Để đáp ứng được những yêu cầu, kỳ vọng của Người đối với văn hóa, chúng ta còn phải nỗ lực tìm ra những chính sách, những giải pháp hiệu quả sao cho vai trò to lớn của văn hóa được khẳng định trong hiện thực.

2. Về một khía cạnh quan trọng trong văn hóa chính trị

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần chỉ rõ rằng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước ta bốn lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa gắn bó mật thiết với nhau, cần được coi trọng như nhau.

Ở đây cần đặc biệt lưu ý tới kiến giải của Người về sự tác động qua lại giữa các lĩnh vực đó và văn hóa không đứng ngoài, đứng trên mà phải hiện diện ở mọi lĩnh vực của đời sống.

Từ thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra luận điểm “Văn hóa nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị”.

Chúng tôi xin điểm lại một ứng xử của Người thể hiện rõ nét văn hóa đã lồng ghép, đã thấm sâu như thế nào vào hoạt động chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

“Cả cuộc đời vì nước, vì dân…” – câu hát quen thuộc đã nói lên mục tiêu chính trị của Người là vì độc lập, tự do của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân. Và để đạt được mục tiêu ấy phải lấy dân làm gốc, người cán bộ phải thực sự là đầy tớ của nhân dân, không thể là một thứ “quan cách mạng” như Người đã nhiều lần nhắc nhở.

Trên thực tế, không ít cán bộ của chúng ta chỉ mới nói mà chưa làm được như mình nói, còn để dân sợ, dân ghét, dân không tin. Nguyên nhân là từ trong nhận thức, tình cảm đến biểu hiện công việc hàng ngày của họ chưa thực sự kính trọng dân, chưa thực coi dân là gốc.

Một việc tưởng như là nhỏ, như là chuyện hình thức – việc cán bộ tiếp dân thế nào trong thực tiễn hàng ngày, tiếc thay còn gây bao phiền toái, bực bội cho người dân! (Đấy là còn chưa nói đến thái độ không hiếm gặp “bịt tai, làm ngơ” coi như “không nghe, không thấy, không biết” trước bao điều thắc mắc, thỉnh cầu của người dân !…).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu một tấm gương sáng trong công việc này. Ngay sau ngày đọc bản Tuyên ngôn Độc lập (2/9/1945), Người đã cho thông báo Về việc tiếp chuyện các đoàn thể. Ở cương vị cao nhất đất nước, bận trăm công ngàn việc, giữa thời điểm nước sôi lửa bỏng, vô cùng phức tạp ở trong nước và thế giới khi nhà nước non trẻ mới ra đời được tính bằng giờ, Người đã nghĩ ngay đến việc tiếp dân. Người thông báo rành rẽ:

1. Gửi thư nói trước để tôi sắp thì giờ, rồi trả lời cho bà con, như vậy thì khỏi phải chờ đợi mất công.

2. Mỗi đoàn đại biểu, xin chớ quá 10 vị.

3. Mỗi lần tiếp chuyện, xin chớ quá 1 tiếng đồng hồ”.

(Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, tập 3, tr.11)

Từ thái độ ân cần, chu đáo, lời nói bình dị, khiêm nhường, việc tiếp dân đối với Người đã là một hành xử văn hóa mang đậm tư tưởng chính trị chủ đạo (“lấy dân làm gốc”), hay cũng có thể nói là một động thái chính trị thấm nhuần sâu sắc tinh thần văn hóa – yêu dân, tôn trọng từng người dân, nghe và thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của mỗi người dân để có thể làm được một việc tối thiểu là trả lời kịp thời những câu hỏi chính đáng của họ.

3. Cốt cách văn hóa trong con người Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chúng ta đều biết Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất thân trong một gia đình Nho học uyên thâm của một vùng đất học truyền thống – vùng xứ Nghệ. Những tinh hoa trong tư tưởng, tình cảm của các hiền triết đời xưa – từ Khổng Tử, Lão Tử, Mạnh Tử, Trang Tử… đến Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm… đã thấm sâu vào tâm hồn, trí tuệ của chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành qua sự truyền thụ của người cha, cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, của người thầy khả kính Vương Thúc Quý và từ những cuốn sách vỡ lòng như Sơ học vấn tân, Ấu học ngữ ngôn, Minh tâm bảo giám đến những tác phẩm đã trở thành “khuôn vàng thước ngọc” của Nho giáo như Tứ thư, Ngũ kinh.

Sau này, khi bước chân xuống tàu để sang châu Âu, có thể nói Nguyễn Tất Thành đã là một người phụ bếp khác thường – một trí thức Nho giáo với khát vọng tiếp cận với thế giới phương Tây, tìm đường cứu dân, cứu nước.

Nguyễn Tất Thành đã trở thành Nguyễn Ái Quốc rồi là Hồ Chí Minh với bao kiến thức phong phú, sâu sắc thu nhận được từ cuộc dấn thân của Người vào đời sống chính trị – xã hội thế giới, nhưng tựu trung, ở chính cội nguồn của mình, Người vẫn mang đậm cốt cách văn hóa phương Đông, văn hóa dân tộc Việt Nam với sự bổ sung sáng tạo của Người và sự hòa hợp với tinh hoa của văn hóa phương Tây.

Khát vọng cao đẹp, dù không tưởng, của các bậc hiền triết cổ đại phương Đông về một thế giới đại đồng, khi mọi người được sống trong tình thương yêu, trong hạnh phúc, có thể nói đã chiếm một vị trí quan trọng trong suy nghĩ, tình cảm của Người. Từ năm 1921, trên tạp chí Cộng sản, cơ quan của Quốc tế thứ III, Hồ Chí Minh đã viết: “Khổng Tử vĩ đại từng đề xướng chủ nghĩa quốc tế và từng hô hào quyền bình đẳng về của cải. Ngài nói tóm tắt là: Nền hòa bình trên thế giới chỉ nảy nở từ một nền đại đồng thiên hạ… Người ta không sợ thiếu mà chỉ sợ không công bằng…”. Ít năm sau, trong cuốn sách nổi tiếng Đường kách mệnh (1927), Người lại viết: “Làm cho thiên hạ đại đồng, ấy là thế giới cách mạng”.

Cũng giống như trong Nho giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nêu cao vai trò của đạo đức như là yếu tố quan trọng bậc nhất của văn hóa dân tộc, văn hóa từng cá nhân. Người nhắc nhở: “Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo… Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” (Sửa đổi lối làm việc, 1947). Con người có đạo đức trong quan niệm của văn hóa phương Đông mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tâm đắc nhấn mạnh nhiều lần là con người “chí công vô tư”, “cần kiệm liêm chính”, con người “giàu sang không thể chuyển lay, uy lực không thể khuất phục” (Lời bế mạc Lễ ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam, 1951). Đó là con người “trung với Tổ quốc, hiếu với nhân dân”, đầy đủ những phẩm chất “trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung”.

Chăm lo xây dựng con người có đủ đức tài là mối quan tâm suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Câu nói nổi tiếng của vị tể tướng nước Tề thời Chiến quốc Quản Di Ngô “Thập niên thụ mộc, bách niên thụ nhân” đã được Người diễn giải nôm na: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”.

Có thể thấy tư tưởng văn hóa của các hiền triết phương Đông xưa được ghi nhận và phát triển trong các phát biểu của Người. Điều đặc biệt đáng lưu ý là tinh hoa văn hóa phương Đông không chỉ dừng lại ở lời nói của Người, mà đã toát ra từ cốt cách con người, từ cuộc đời của chính vị lãnh tụ Hồ Chí Minh, một cốt cách khoan hòa, ung dung, tự tại, luôn luôn làm chủ được bản thân mình, làm chủ được mọi hoàn cảnh. Nhờ thoát khỏi – thoát khỏi một cách “tự nhiên nhi nhiên”, không cần một sự “ráng sức” nào! – mọi sự ràng buộc của danh lợi cá nhân, chỉ suốt đời theo đuổi một “ham muốn tột bậc” là làm sao cho “nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”, mà Người đã có được cái phong thái sống ung dung, tự tại đó.

Những kẻ hậu sinh chúng ta đều nhớ lời tâm sự chân thành của Người từ những ngày đầu mới ở cương vị cao nhất đất nước: ngoài “ham muốn tột bậc” nói trên, Người chỉ ao ước cho riêng mình “một căn nhà nhỏ, nơi có non xanh nước biếc, để câu cá trồng rau, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, trẻ em chăn trâu, không dính líu gì tới vòng danh lợi”. Phong thái sống tránh xa “vòng danh lợi” ấy phải chăng Người đã thừa hưởng từ tiếng suối chảy rì rào bên rừng thông, rừng trúc Côn Sơn của Nguyễn Trãi, từ “ngôi nhà nhỏ mây trắng”, “thu ăn măng trúc, đông ăn giá; xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” của Nguyễn Bỉnh Khiêm?…

Ngôi nhà sàn giữa vườn cây, bên ao cá của Người mãi mãi còn là biểu tượng sống động cho cốt cách văn hóa Hồ Chí Minh.

Khi mà không ít quan chức đủ các cấp bị rơi vào tình trạng “phai nhạt lý tưởng”, bị cầm tù bởi “vòng danh lợi”, xa rời dân, vô cảm trước những bức xúc của dân, chỉ lo “vinh thân phì gia”, hễ có dịp là bòn rút, ăn cắp của công… thì bài học về cốt cách văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn giữ nguyên tính thời sự nóng hổi.

 4. Về xây dựng đời sống văn hóa

Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đã chỉ rõ việc phát động một cách thực chất phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa là một trong những giải pháp quan trọng nhất để thúc đẩy sự nghiệp văn hóa phát triển. Có thể nói chủ trương này đã bắt nguồn từ những suy nghĩ và việc làm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống văn hóa ngay từ những ngày đầu tiên sau khi Nhà nước dân chủ nhân dân vừa mới ra đời. Thời kỳ đó Người đã dùng khái niệm “Đời sống mới”.

Tháng 1/1946, Người phát động phong trào “Đời sống mới”. Ba tháng sau, Người cho thành lập Ủy ban Trung ương vận động “Đời sống mới”. Khi cuộc kháng chiến chống Pháp vừa bắt đầu được ít lâu, giữa lúc vận mệnh chính quyền cách mạng tưởng chừng như đang ở thế “ngàn cân treo sợi tóc”, với một tinh thần lạc quan, niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi tất yếu của cuộc kháng chiến, Người đã bình tâm viết cuốn sách Đời sống mới (3/1947) để hướng dẫn cụ thể mọi người tích cực tham gia xây dựng “Đời sống mới”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong cuốn sách của mình, đã làm rõ khái niệm “Đời sống mới” trên cơ sở xác định vị trí nền tảng của đạo đức và sự thể hiện của đạo đức đó trong lối sống, nếp sống hàng ngày.

Người viết: “Thực hành đời sống mới là cần, kiệm, liêm, chính; nếu không giữ đúng cần, kiệm, liêm, chính thì sẽ trở thành hủ bại, biến thành sâu mọt của dân; nêu cao và thực hành cần, kiệm, liêm, chính là nhen lửa cho đời sống mới”.

Người chỉ rõ việc xây dựng đời sống mới phải bắt đầu từ việc “sửa đổi những việc rất cần thiết, rất phổ thông trong đời sống của mọi người, tức là sửa đổi cách ăn, cách mặc, cách ở, cách đi lại, cách làm việc”. Năm cách đó chính là cái mà hôm nay chúng ta thường gọi là lối sống.

Người viết thật giản dị về những gì làm nên đời sống mới: “Đời sống mới không phải những gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ. Thí dụ: ta phải bỏ hết tính lười biếng, tham lam. Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý. Thí dụ: đơm cúng, cưới hỏi quá xa xỉ, ta phải giảm bớt đi”…

Khái niệm thường gặp hiện nay về “làng văn hóa” đã được Người nêu lên với chữ dùng là “làng phong thuần tục mỹ”: “Về phong tục, phải cấm hẳn say sưa, cờ bạc, hút xách, bợm bãi, trộm cắp. Phải tìm cách làm cho không có đánh chửi nhau, kiện cáo nhau, làm cho làng mình thành một làng phong thuần, tục mỹ”. Người dặn dò mọi người dân phải chú ý đến những việc tưởng chừng như rất nhỏ trong đời sống hàng ngày như giữ vệ sinh trong nhà, ngoài ngõ; sao cho đường sá, ao hồ, nước ăn, nước rửa đều thật sạch sẽ; lễ hội, giỗ tết, ma chay, cưới xin, phải thật trang trọng mà giản dị, tiết kiệm…

Để xây dựng được đời sống mới, Người chỉ ra sự cần thiết phải bắt đầu từ mỗi con người, mỗi gia đình. Người viết: “Do nhiều người nhóm lại thành làng. Do nhiều làng nhóm lại thành nước. Nếu người này xấu, người kia cũng xấu thì thành làng xấu, nước hèn. Nếu mọi người đều tốt thì thành làng tốt, nước mạnh. Nếu mọi người đều cố gắng làm đúng đời sống mới thì dân tộc ta nhất định sẽ phú cường”. “Ai cũng làm như thế thì tự nhiên nước Việt Nam ta trở thành một nước mới, một nước văn minh”.

Sự nghiệp xây dựng đời sống mới, đời sống văn hóa có thành công hay không một phần quan trọng là phụ thuộc vào vai trò gương mẫu của các cán bộ. Người viết: “Đời sống mới cũng cần có những người làm gương, những nhà làm gương. Khi trông thấy có hiệu quả tốt tươi thì chắc những nơi khác cũng hăng hái làm theo. Nếu miệng thì tuyên truyền bảo người ta siêng làm, mà tự mình thì ăn trưa, ngủ trễ; bảo người ta tiết kiệm, mà tự mình thì xa xỉ, lung tung, thì tuyên truyền một trăm năm cũng vô ích!”.

Đối chiếu với những mặt sa sút, yếu kém hiện nay trong đời sống văn hóa ở nước ta (mê tín dị đoan, cúng bái tùm lum, cán bộ thiếu gương mẫu, ma chay cưới hỏi linh đình, cờ bạc, số đề, nghiện hút, trộm cắp của công và của riêng, văng tục, chửi bậy, va chạm một chút là gây gổ đánh nhau…), chúng ta càng thấy việc đọc lại, suy ngẫm về những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống mới là một việc làm cần thiết, cấp bách.

5. Về vấn đề xây dựng con người

Có thể nói xây dựng con người đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp phát triển đất nước là mối quan tâm hàng đầu trong suốt cuộc đời hoạt động lâu dài của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ bài giảng đầu tiên cho lớp huấn luyện những người được kết nạp vào Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội (1925), Người đã nhấn mạnh đến nhiệm vụ thường xuyên trau dồi “Tư cách một người cách mệnh”. Trên báo Thanh Niên tháng 9/1926, một lần nữa Người lại đề ra những yêu cầu cụ thể của “một người cách mệnh mẫu mực”. Đó chính là những con người tiên tiến, đi đầu dẫn dắt quần chúng nhân dân cùng phấn đấu thực hiện mục tiêu cao cả giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội.

Sau ngày cách mạng thành công, Người đã phát triển, mở rộng vấn đề nêu trên thành vấn đề xây dựng con người mới như một phạm trù của lĩnh vực văn hóa.

Tháng 2/1951, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, trong Báo cáo chính trị, Người đã lần đầu tiên chỉ ra sự cần thiết phải “xúc tiến công tác văn hóa để đào tạo con người mới và cán bộ mới cho công cuộc kháng chiến kiến quốc”.

Để xây dựng được con người mới, một nguyên tắc hết sức quan trọng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhấn mạnh đó là vừa phải tu dưỡng đạo đức thường xuyên, vừa phải kiên quyết chống những biểu hiện thoái hóa đạo đức.

Phải nói rằng Người không chỉ quan tâm đề cao những gương sáng đạo đức, những “người tốt, việc tốt” mà còn vạch ra một cách sắc sảo từ rất sớm những căn bệnh tệ hại của sự suy thoái đạo đức, trước tiên là trong hàng ngũ cán bộ. Chỉ hai tháng sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, trong Thư gửi Ủy ban Nhân dân các cấp, Người đã nhìn thấy rõ các khuyết điểm nghiêm trọng của các cán bộ đảng viên: trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo.

Những điều xấu xa đó, hơn một năm sau, trong Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ (3/1947) lại được Người nhận dạng kỹ càng hơn: Người nêu đúng bản chất của các thói xấu đó là “địa phương chủ nghĩa, bè phái, quân phiệt, quan liêu, hách dịch, hoạnh họe với dân, coi thường cấp trên, lấn át cấp dưới, hẹp hòi, ham chuộng hình thức, làm việc lối bàn giấy, vô kỷ luật, ích kỷ, hủ hóa, tranh giành địa vị, chỉ chăm lo ăn ngon mặc đẹp, chiếm của công làm của tư, lợi dụng địa vị để buôn bán phát tài v.v…”.

Những bệnh trầm kha trên còn có dịp được Người nhắc lại trong cuốn Sửa đổi lối làm việc (10/1947), trong rất nhiều phát biểu sau này của Người, khi Người gọi đó là “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng”, nguy hiểm không kém gì “Việt gian, mật thám”!… Thật là chí lý!

Một trong những bài viết cuối cùng của Người là bài Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân (công bố vào dịp kỷ niệm 39 năm thành lập Đảng, 3/2/1969). Người chân thành dặn dò: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không còn trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân. Cho nên trong khi ta kiên trì và đẩy mạnh cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước, làm cho văn minh chiến thắng tàn bạo thì đồng thời phải loại trừ những cái xấu xa do chế độ cũ để lại trong xã hội và trong mỗi con người”.

Trong thực tiễn cuộc sống hôm nay, bên cạnh bao điều tốt đẹp, vẫn còn tồn tại nhức nhối những “điều xấu xa” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã “chỉ mặt đặt tên” từ hàng chục năm về trước. Những điều xấu xa ấy không còn chỉ là của “xã hội cũ để lại” mà nó nảy sinh, đâm thêm nhành ngọn chính là từ trong những kẽ hở, những lỗ hổng, những yếu kém của cơ chế quản lý và vận hành xã hội hôm nay.

Từ những bất cập về cơ chế sở hữu, chính sách tài chính, những biểu hiện mất dân chủ, thiếu công khai , minh bạch trong việc thực hiện các quyền cơ bản của người dân… đến tình trạng thủ tục hành chính nhiêu khê, sự thiếu hụt các chế định luật pháp và thực thi luật pháp không nghiêm… tất cả những khiếm khuyết có tính hệ thống đó là môi trường hoàn toàn không thuận lợi cho việc xây dựng con người mới, nếu không nói là mảnh đất màu mỡ cho đủ các thói hư tật xấu phát triển, làm sa ngã không ít cán bộ vốn trước đây là tốt…

Một câu hỏi nhức nhối đặt ra là: Vì sao những lời hay, ý đẹp, mong muốn cháy bỏng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng con người sau mấy chục năm, sau bao cuộc vận động sống và làm theo gương Bác vẫn chưa thành hiện thực, nếu không nói là có lúc, có nơi cái xấu xa còn trầm trọng hơn thêm, ngang nhiên thách thức sự kiên nhẫn của đông đảo những người dân lương thiện đang ngày ngày nhọc nhằn mưu sinh trên ruộng đồng, trong nhà máy?…

Hiệu quả từ cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh” chỉ có thể đạt tới một cách rõ ràng và thực chất nếu chúng ta, song song với việc tuyên truyền, cổ vũ, phải cương quyết đẩy nhanh những thay đổi mạnh mẽ, rộng lớn và sâu sắc để có thể hoàn thiện trên thực tế theo hướng dân chủ hóa, minh bạch hóa cơ chế quản lý xã hội, quản lý kinh tế, văn hóa, coi đó như một điều kiện tiên quyết để xuất hiện ngày càng nhiều hơn những con người tử tế, trung thực, giỏi giang đáp ứng được yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước trong nỗ lực đồng hành cùng nhân loại.

Theo Honviet.

Created by lethithutrang
archives.gov.vn

UNESCO khẳng định sự tôn vinh với Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đại hội đồng UNESCO coi Người là một biểu tượng nổi bật về tinh thần quả cảm của dân tộc, bởi Người đã cống hiến cả đời mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước và dân tộc Việt Nam, qua đó góp phần vào cuộc đấu tranh chung của toàn nhân loại vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đại hội đồng cũng cho rằng những đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Người trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật kết tinh truyền thống văn hóa của người Việt Nam, một truyền thống có từ nhiều nghìn năm trước, và những lý tưởng của Người tiêu biểu cho khát vọng của các dân tộc khác trên thế giới bởi họ đấu tranh nhằm khẳng định bản sắc văn hóa của mình và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau…

Bà C.Ma-rin (Katherine Muller-Marin), Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Hà Nội, đã dành những lời tốt đẹp này để nói về Chủ tịch Hồ Chí Minh, tại Hội thảo khoa học quốc tế về Người, được tổ chức hôm qua tại Hà Nội.

Khẳng định sự tôn vinh của UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc) với Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà C.Ma-rin nói: “Tôi có mặt tại đây ngày hôm nay để hoàn thành sứ mệnh của nghị quyết được Đại hội đồng UNESCO thông qua tại khóa họp lần thứ 24 của cơ quan này tại Pa-ri năm 1987, về việc kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Anh hùng dân tộc và nhà văn hóa lớn… Đại hội đồng UNESCO cho rằng, việc thế giới kỷ niệm ngày sinh của những nhà văn hóa và trí thức kiệt xuất sẽ góp phần đạt được những mục tiêu của UNESCO và thúc đẩy sự hiểu biết giữa các quốc gia.

Để tôn vinh những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lĩnh vực văn hóa, khoa học, giáo dục của Việt Nam và thế giới… bà C.Ma-rin nhấn mạnh: “Đại hội đồng đã khuyến nghị các quốc gia thành viên tham gia vào việc kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh thông qua việc tổ chức các sự kiện thể hiện tưởng nhớ về Người, nhằm phổ biến tầm vóc lớn lao của lý tưởng và sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người. Đại hội đồng cũng đề nghị Tổng giám đốc UNESCO có những biện pháp thích hợp để kỷ niệm ngày sinh của Người và hỗ trợ các hoạt động kỷ niệm được tổ chức trong dịp này, đặc biệt những sự kiện diễn ra tại Việt Nam”.

Bà C.Ma-rin (bên phải) trao đổi với các đại biểu dự Hội thảo

Để nhấn mạnh thêm công lao, sự đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trao đổi với phóng viên bên lề Hội thảo khoa học quốc tế “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay”, bà C.Ma-rin xúc động nói: “Chủ tịch Hồ Chí Minh có rất nhiều điều làm tôi ấn tượng, bản thân tôi đã nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh xem tại sao người dân Việt Nam lại ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh đến như thế, và tôi đã hiểu được tình cảm và lý tưởng của Người. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh được tôn vinh là biểu tượng của dân tộc thì chắc hẳn phải có điều gì đó và  điều quan trọng nhất ở Chủ tịch Hồ Chí Minh là khả năng đoàn kết và tập hợp mọi người. Làm thế nào Người làm được điều đó? Người đã đoàn kết và tập hợp được nhiều người vì Người làm cho mọi người tự tin vào bản thân mình, tự hiểu mình nhiều hơn và làm cho mọi người có thể hợp tác và sống hòa thuận với nhau, đoàn kết với nhau… Một trong những điều tôi ấn tượng nhất ở Chủ tịch Hồ Chí Minh đó là người luôn quan tâm, giáo dục cho người dân biết đọc, viết… và đấy cũng là ý tưởng của UNESCO. Để người dân biết đọc biết viết, Người còn quan tâm xem làm thế nào để người dân có sách để đọc, có bút để viết… Ngoài ra, tôi rất thích những nỗ lực của Người trong bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, điều thú vị là tất cả các lĩnh vực Người làm đều thuộc những thẩm quyền UNESCO quan tâm”.

Bà C.Ma-rin tâm sự: “Điều quan trọng nhất tôi thấy từ di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh là việc Người đã chỉ cho dân tộc Việt Nam biết cách sống hòa thuận và xây dựng mối quan hệ bang giao hòa hiếu với các dân tộc khác như thế nào, biết đóng góp vào sự nghiệp chung cho nhân loại… Những gì tôi cảm nhận được từ Người thực sự mang những phẩm chất của một con người anh hùng”.

Bài và ảnh: HOA VINH
qdnd.vn

Điểm chung từ ba danh nhân văn hóa vĩ đại của dân tộc Việt Nam

(GD&TĐ) – Đến nay dân tộc Việt Nam có ba nhân vật lịch sử được UNESSCO vinh danh là danh nhân văn hóa vĩ đại đó là Nguyễn Trãi, Nguyễn Du và Hồ Chí Minh.

Nguyễn Trãi cùng Hồ Chí Minh được tri ân Anh hùng dân tộc  Nguyễn Du được người Việt kính trọng tôn xưng là Đại thi hào dân tộc.

Hiển nhiên đã là danh nhân văn hóa vĩ đại thì điểm chung là cả ba danh nhân đó đều có những đóng góp lớn lao cho nền văn hóa nhân loại. Bên cạnh đó, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du và Hồ Chí Minh cùng gặp gỡ ở một điểm chung đó là trong cuộc đời và sự nghiệp của mình, họ đều đề cao cái Tâm. Tuy ba danh nhân sống ở những không gian và thời gian khác nhau, có những biểu hiện cụ thể khác nhau trong hành động, việc làm nhưng cái cốt lõi của mỗi hành động, việc làm của họ đều là cái Tâm – là tấm lòng, gốc của đạo đức. Và, điều thú vị là cả ba danh nhân văn hóa trong những hoàn cảnh nhất định, đã đặt sự so sánh giữa Tài và Đức, để rồi cả ba đều đề cao Đức, tức là đề cao cái Tâm và họ cùng lập ngôn về điều đó.

Với Nguyễn Trãi, các tài liệu đều thống nhất ghi nhận: ông là một anh hùng dân tộc vĩ đại, là nhà chính trị lỗi lạc, nhà chiến lược thiên tài, nhà ngoại giao kiệt xuất, đồng thời là một nhà văn lớn, nhà thơ lớn, nhà sử học, nhà địa lý học, nhà làm luật pháp và âm nhạc xuất sắc. Chính nhờ những đóng góp lớn lao trên các lĩnh vực đó, năm 1980 ông được UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa vĩ đại nhân dịp kỉ niệm 600 năm ngày sinh của ông. Nguyễn Trãi là một người tài năng nhưng ông lại là người đề cao cái Tâm, tất cả các sự nghiệp của Nguyễn Trãi đều dựa trên cơ sở gốc là đề cao cái Tâm. Cái Tâm đối với đất nước, đối với nhân dân xuyên suốt trong cuộc đời, sự nghiệp Nguyễn Trãi, và luôn bàng bạc trong thơ ông. Chính Nguyễn Trãi đã hơn một lần đề cập đến trong thơ khi đối sánh giữa Tài và Đức, lúc thì ông nói:

Tài Đức thì cho lại có nhân
Tài thì kém Đức một hai phần.

(Bảo kính cảnh giới, bài LVII) [1]

và có khi ông răn:

Khó khăn, phú quý, học Tô Tần
Miễn Đức hơn Tài được mỗ phần.

(Bảo kính cảnh giới, bài LX)

Cách Nguyễn Trãi gần 500 năm, Nguyễn Du – Đại thi hào dân tộc, cũng trưởng thành từ cửa Khổng sân Trình, thấm nhuần tâm nhân nghĩa của thời đại. Cái Tâm của Nguyễn Du còn được kết tinh từ nhân dân, cả cái Tâm của Lão – Trang và đặc biệt là cái Tâm Phật giáo.

Tượng Nguyễn Du trong khu di tích Nguyễn DuTượng Nguyễn Du trong khu di tích Nguyễn Du

Trong cuộc đời của một con người xuất thân từ gia đình “đại thế gia”, Nguyễn Du đã được học hành, được thừa hưởng từ gia đình những điều kiện nhất định. Tài năng của Nguyễn Du được nảy nở và chí hướng theo gia đình, nhập thế lập công danh đã thôi thúc chàng trai trẻ Nguyễn Du cùng với những con người khác trong thời đại muốn trổ tài kinh bang tế thế. Thế nhưng công không thành, danh không toại, lý tưởng không đạt, tài năng không có chỗ dùng, một đời thông minh thiệt thòi, ngắm thanh gươm bên mình mà thẹn phận trai không ích gì cho nước. Nguyễn Du đến với văn chương, ý thức được tài năng văn chương của mình. Thế nhưng văn chương là biểu hiện của tài năng cũng chẳng mang lại gì cho chính nhà thơ:

Bách niên cùng tử văn chương lý [2]

(Mạn hứng I)

(Cuộc đời trăm năm chết xác với văn chương)

Nguyễn Du là người từng phải nếm trải cảnh “mười năm gió bụi”, phải trôi nổi trong cuộc đời như ngọn cỏ bồng trốc gốc, thấm thía nỗi đau của bản thân, trở về dưới chân núi Hồng, tâm trạng của nhà thơ u uất, chán nản. Cuộc đời bất hạnh đã đưa nhà thơ trở về gần gũi với cuộc sống gian khổ của nhân dân mà chính nhà thơ viết:

Thôn ca sơ học tang ma ngữ,
Dã khốc thời văn chiến phạt thanh.

(Thanh minh ngẫu hứng)

(Câu hát nơi thôn dã giúp ta biết những tiếng nói trong nghề dâu gai,
Ngoài đồng nội thỉnh thoảng có người khóc còn nghe tiếng chiến tranh).

Chứng kiến cảnh “bình địa ba đào”, “thương hải biến tang điền” của thời đại, suy ngẫm về chuyện của cuộc đời mình, Nguyễn Du còn mở rộng mối quan tâm của mình ra tất cả mọi kiếp người. Trong đó có những kiếp người dưới đáy xã hội. Với tấm lòng nhân ái, cái tâm trách nhiệm, nhà thơ đã thể hiện một tình cảm xót thương trước sự nghèo đói, khổ sở của họ, tìm ra nguyên nhân, chỉ trích, phê phán thói phung phí, xa hoa của quan lại. Và, đặc biệt, trong những kiếp người đau khổ, Nguyễn Du quan tâm tới những con người tài hoa mà bạc mệnh. Từ cảnh ngộ, cuộc đời mình – một con người tài hoa, Nguyễn Du đã đồng cảm, liên tài đối với những người đồng cảnh. Nhà thơ nhận thấy rằng, cái “tài”, từ trong… bản thể của nó ẩn chứa nguyên nhân tai hoạ, vì người tài khó tránh khỏi bị đố kỵ, ghen ghét. Ông cho rằng:

Phàm sinh phụ kỳ khí
Thiên địa phi sở dung

(Điệu khuyển)

(Phàm sinh ra có khí phách khác thường
Thì trời đất không có chỗ dung thân).

Ngày trước, để tránh đi hoặc vượt qua cái “tai”, Lão Tử đưa ra một cách xử thế sâu kín, khôn khéo để tránh tai hoạ: “Thông minh duệ trí thủ chi dĩ ngu, dũng lực chấn thế thủ chi dĩ khiếp” [3], nghĩa là người thông minh phải biết giữ mình bằng cách khiêm nhường, coi mình như người ngu, bậc anh hào có sức mạnh chấn động thế giới phải biết giữ mình bằng cách làm như người nhát sợ. Thế nhưng Nguyễn Du không tìm hướng giải quyết như Lão Tử, mà ông tìm đến Phật giáo, bằng con đường tu Tâm. Bởi vậy trong tập đại thành Truyện Kiều nổi tiếng của mình, sau khi đã trải qua những thăng trầm trong cuộc đời, nhà thơ cảm khái: “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài [4]”.

Đến thời đại Hồ Chí Minh, nhiều nhà nghiên cứu đều nhận thấy: có lẽ trong lịch sử thế giới về các danh nhân văn hóa, các nguyên thủ chưa có ai lại đặt ra vấn đề lý luận về Tài và Đức như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người học trò xuất sắc và người cộng sự gần gũi  với Bác Hồ đã nói: “Ở gần Bác, tôi thấy một nét nổi bật của Bác là rất coi trọng phẩm chất con người, suốt đời chăm lo bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ và nhân dân”.

sdChủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa

Hồ Chí Minh là một lãnh tụ bàn nhiều đến đạo đức và vai trò của đạo đức trong đấu tranh cách mạng. Người nói: “Đạo đức là cái gốc của người cách mạng”. “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”. Vì vậy suốt đời mình Người kiên trì giáo dục phẩm chất đạo đức cho cán bộ, đảng viên, nhấn mạnh không ngừng “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, và bản thân Người là một tấm gương trọn vẹn của đạo đức mới: Suốt đời phấn đấu, hy sinh vì lợi ích của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.” [5]. Hồ Chí Minh nói: “Có Tài mà không có Đức là người vô dụng, có Đức mà không có Tài thì làm việc gì cũng khó”. Cũng đặt trong tương quan so sánh giữa Tài và Đức, ở trong thời đại mới, Hồ Chí Minh đề cao cái Tài nhưng dĩ nhiên cái Đức mới là yếu tố quan trọng hơn. “Có Đức mà không có Tài thì làm việc gì cũng khó”, khó chứ không phải là không làm được, khác hẳn với vô dụng. Qua đó mới thấy Tài tuy quan trọng nhưng Đức còn cần thiết hơn bởi lẽ người có Tài mà sống vị kỉ, chỉ dùng tài năng để phục vụ cho bản thân mình không thôi thì chẳng có ý nghĩa gì, thậm chí với lối sống cá nhân và làm việc như vậy có thể gây hại cho tập thể. Tài năng chỉ được xem trọng khi nó gắn với quá trình cống hiến, người có Tài đem khả năng của mình phục vụ tập thể, phục vụ đất nước trước khi nghĩ tới những quyền lợi cho bản thân. Trong bài nói chuyện tại Đại hội sinh viên lần thứ hai, ngày 7 tháng 5 năm 1958, Bác nói: “Thanh niên bây giờ là thế hệ vẻ vang, vì vậy cho nên phải tự giác tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình. Tức là thanh niên phải có Đức, có Tài. Có Tài mà không có Đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi, nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có Đức mà không có Tài ví như ông bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi gì cho loài người…” [6].

Trong Bài nói tại lớp học chính trị của giáo viên, Người lại nói đến mối quan hệ giữa chuyên môn và chính trị bằng sự so sánh giữa Tài và Đức: “Ta là cán bộ chuyên môn, có chuyên môn mà không có chính trị giỏi thì dù học giỏi mấy dạy trẻ con cũng hỏng. Chính trị là linh hồn, chuyên môn là cái xác. Có chuyên môn mà không có chính trị thì chỉ còn cái xác không hồn. Phải có chính trị trước rồi có chuyên môn. Nếu thầy giáo, cô giáo bàng quan thì lại đúc ra một số công dân không tốt, cán bộ không tốt. Nói tóm lại, chính trị là Đức, chuyên môn là Tài. Có Tài mà không có Đức là hỏng. Có Đức mà chỉ i, tờ thì dạy thế nào? Đức phải có trước Tài. Trước hết phải dạy trẻ yêu Tổ quốc, yêu lao động, yêu đồng bào và yêu chủ nghĩa xã hội” [7]. Người luôn tâm niệm: Làm bất cứ cái gì có lợi cho dân, có lợi cho cách mạng thì làm.

Như vậy, có thể nói rằng từ Nguyễn Trãi, đến Nguyễn Du và Hồ Chí Minh cả ba danh nhân văn hóa vĩ đại đều đề cao cái Tâm, cái đạo đức trong sự so sánh với cái Tài. Đó là điểm chung rất quan trọng của ba danh nhân văn hóa. Thế đấy, có những điều tưởng như bình dị, ai cũng biết đến, nhưng để thực hiện thật không phải là dễ. Phải có một thực Tâm đối với dân, với nước, và một định hướng thường trực trong mỗi hành động, việc làm trong suốt cuộc đời. Chính điều đó mới là cái gốc làm nên nhân cách của ba danh nhân văn hóa vĩ đại của dân tộc Việt Nam.


[1] Các bài thơ Nôm của Nguyễn Trãi được trích dẫn từ Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, tập 3, Nxb. Văn học, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học.
[2] Các bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du và lời dịch được trích dẫn từ Nguyễn Du toàn tập, tập 1, Nxb. Văn học, Trung tâm nghiên cứu Quốc học, 1996.
[3] Dẫn theo: http://sachhiem.net/NGHOAN/NgHoan02.php
[4] Truyện Kiều, câu thứ 3252.
[5] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. XVIII.
[6] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 9, Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 172.
[7] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 9, Nxb. Chính trị Quốc gia, H., 2000, tr. 492.

Nguyễn Cảnh Chương
gdtd.vn

Di sản Hồ Chí Minh về Đạo đức, Văn hóa

(GD&TĐ) – “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người Anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”. Chân lý đó đã làm rung động con tim mỗi người dân Việt Nam khi nhắc đến tên Người, Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta!

bìa sách

Bìa sách

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm tới tất cả các lĩnh vực của đời sống từ kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, giáo dục, tôn giáo, tín ngưỡng…, song lĩnh vực mà Người đề cập nhiều nhất chính là tư tưởng, đạo đức, lối sống. Hiếm có một lãnh tụ nào mà cả cuộc đời lại là tấm gương sáng về tư tưởng, đạo đức và lối sống như Bác của chúng ta. Đó chính là một di sản tinh thần vô giá của dân tộc trong hành trình đấu tranh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ở Hồ Chí Minh, văn hóa và đạo đức có sự gắn quyện, hài hòa, đã đạt tới sự thống nhất cao độ giữa công và tư, giữa đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường. Chính vì thế, Người đã trở thành “tinh hoa và khí phách, lương tâm và vinh dự”, thành biểu tượng của đạo đức, văn minh, không chỉ của Đảng ta, dân tộc ta, mà còn là biểu tượng của đạo đức, văn minh nhân loại. Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một tấm gương đạo đức của một vĩ nhân, một lãnh tụ cách mạng vĩ đại, một người cộng sản chân chính và cũng là tấm gương đạo đức bình dị cho mọi người, để ai cũng có thể học tập và làm theo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiến dâng cả cuộc đời và sự nghiệp để cứu nước, cứu dân, cho ước vọng cao cả là đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, mọi người sống chan hòa, nhân ái và hạnh phúc. Nặng lòng vì dân, tin ở dân, lo hạnh phúc cho muôn dân, đó là tư tưởng nhân văn cao cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó, giai cấp, dân tộc và nhân loại, cá nhân và xã hội, xã hội và tự nhiên luôn thống nhất trên lập trường của Chủ nghĩa Mác – Lênin. Đến khi trái tim lớn ngừng đập, tư tưởng cao đẹp đó vẫn tỏa sáng cho muôn thế hệ mai sau.

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã được toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta tham gia và hưởng ứng rộng rãi. Việc cùng nhau học lại những giá trị tư tưởng và đạo đức của Người có ý nghĩa vô cùng to lớn, sâu sắc trong việc tự hoàn thiện của mỗi chúng ta.

Hà Châu (St)
gdtd.vn

HỒ CHÍ MINH – Danh nhân văn hóa kiệt xuất

(GD&TĐ) – Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất. Sự tôn vinh này của UNESCO khẳng định những đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh cho dân tộc Việt Nam cũng như cho nhân loại. Tìm hiểu về Hồ Chí Minh với tư cách là danh nhân văn hóa kiệt xuất, có thể thấy rất rõvăn hóa Hồ Chí Minh là sự kết tinh tinh hoa văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, đồng thời Người cũng là nhà sáng tạo văn hóa lớn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh

Văn hóa Hồ Chí Minh được hình thành trong cái nôi văn hóa dân tộc và nhất là trong quá trình Người tìm đường cứu nước và lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Quá trình này nằm trong bối cảnh văn hóa Việt Nam có sự giao lưu và tiếp biến văn hóa mạnh mẽ với văn hóa nhân loại. Có thể nói văn hóa Hồ Chí Minh đã được hình thành từ quá trình Hồ Chí Minh, với tư cách là chủ thể văn hóa, tiếp nhận tinh hoa văn hóa dân tộc Việt Nam và tinh hoa văn hóa nhân loại.

Văn hóa Hồ Chí Minh đã kết tinh được những gì tinh túy nhất của văn hóa Việt Nam, trong đó nổi bật nhất là chủ nghĩa yêu nước và lòng nhân ái. Hồ Chí Minh đã viết những dòng đầy tâm huyết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn. Nó lướt qua mọi nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. Yêu nước gắn liền với thương dân là đạo lý truyền thống của dân tộc. Đạo lý này đã được Hồ Chí Minh kế thừa và phát huy. Trước cảnh nước mất, người dân lầm than nô lệ, Hồ Chí Minh đã quyết tâm đi theo con đường cứu nước và trở thành nhà ái quốc vĩ đại với “một sự ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Ra đi tìm đường cứu nước, Người đã lấy tên là Nguyễn Ái Quốc. Khi nước nhà giành được độc lập, đứng trên Lễ đài đọc Tuyên ngôn Độc lập, Người đã ân cần, thân thiết hỏi quốc dân đồng bào: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Yêu nước, thương dân đã thành điều tâm niệm thiêng liêng nằm sâu trong tâm thức và tâm cảm của nhà cách mạng – nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh luôn coi trọng tìm tòi, chắt lọc những tinh hoa, những yếu tố tích cực của văn hóa Phương Đông, nhất là của Nho giáo, Phật giáo. Trong các tác phẩm của mình, Người nhiều lần vận dụng các khái niệm, phạm trù, luận điểm của Nho giáo nhưng gắn vào đấy những nội dung cách mạng của thời đại. Chẳng hạn Người vận dụng các khái niệm “trung”, “hiếu” của Nho giáo và phát triển thành “trung với nước, hiếu với dân”. Hồ Chí Minh tiếp thu tư tưởng đại từ, đại bi, cứu khổ cứu nạn của Phật giáo và hướng cho mọi người “làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải của nô lệ”. Hồ Chí Minh đã được tiếp xúc với văn hóa phương Tây ngay từ thuở thiếu thời khi theo học lớp dự bị trường tiểu học Pháp. Những tư tưởng của văn hóa phương Tây như tự do, bình đẳng, bác ái đã sớm có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành văn hóa Hồ Chí Minh. Sau này, khi bôn ba qua Pháp và nhiều nước khác, Hồ Chí Minh còn được tiếp cận với các giá trị văn hóa nổi bật khác của phương Tây như chủ nghĩa nhân văn, tinh thần duy lý và văn hóa dân chủ. Những giá trị văn hóa như vậy đã được hợp dung trong văn hóa Hồ Chí Minh và được Người vận dụng sáng tạo vào việc lãnh đạo sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc cũng như công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa sau này.

Trong quá trình hình thành văn hóa Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác – Lênin có một vị trí đặc biệt quan trọng. Chủ nghĩa Mác – Lênin như ngọn hải đăng soi đường chỉ lối cho cách mạng Việt Nam. Đến với chủ nghĩa Mác – Lênin cũng có nghĩa là Hồ Chí Minh đã tìm được con đường cứu nước đúng đắn nhất. Người đã khẳng định dứt khoát chủ nghĩa Mác – Lênin là “Chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất”. Chủ nghĩa Mác – Lênin đã được Hồ Chí Minh tiếp thu và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Những giá trị của nó đã trở thành một nền tảng cơ bản của văn hóa Hồ Chí Minh.

Như vậy, có thể thấy văn hóa Hồ Chí Minh là sự kết tinh tinh hoa văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, từ đó hình thành một văn hóa tiên tiến, cách mạng, có tính nhân văn sâu sắc. Có được điều này bởi Hồ Chí Minh đã không ngừng học hỏi. Những điểm đặc sắc của văn hóa nhân loại đã ghi dấu ấn sâu đậm trong tư tưởng Hồ Chí Minh, hòa quyện nhuần nhị trong văn hóa Hồ Chí Minh để từ đó tỏa sáng thông qua lăng kính tư duy sắc sảo và minh triết của Người. Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng:

“Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân.

– Tôn giáo của Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả.

– Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng.

– Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta”.

Và Người nhấn mạnh:” Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội… Tôi cố gắng làm học trò nhỏ của các vị ấy”. Cũng cần nói thêm rằng tinh thần học tập suốt đời cũng là một nét đặc sắc trong văn hóa Hồ Chí Minh. Không chỉ ở giai đoạn đầu mà ở cả những giai đoạn sau cho đến cuối đời, Hồ Chí Minh đều không ngừng học tập để làm giàu vốn văn hóa của mình. Người đã nêu tấm gương sáng về học tập.

Khi tìm hiểu Hồ Chí Minh – nhà văn hóa kiệt xuất, cùng với việc khẳng định văn hóa Hồ Chí Minh là sự kết tinh những tinh túy của văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại, cũng cần thấy rõ Hồ Chí Minh là mộtnhà sáng tạo văn hóa lớn.

Có thể thấy Hồ Chí Minh là một nhà văn hóa đa tài. Người là nhà thơ, nhà báo, nghệ sĩ nhiếp ảnh, nhà điêu khắc vv… Nhưng sự nghiệp văn hóa lớn nhất, quan trọng nhất của Hồ Chí Minh là đã tìm được con đường cứu nước đúng đắn và lãnh đạo thành công sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho đất nước, hạnh phúc cho nhân dân. Sự nghiệp giải phóng dân tộc do Hồ Chí Minh lãnh đạo đã đem lại địa vị xứng đáng cho văn hóa dân tộc Việt Nam. Không chỉ vậy, sự nghiệp này còn có ý nghĩa to lớn đối với nền văn hóa thế giới, chỉ ra cho nhân dân các nước thuộc địa con đường đứng lên đập tan xích xiềng nô lệ, giành độc lập tự do cho đất nước của mình, từ đó góp phần vào việc xóa bỏ chế độ thuộc địa trên thế giới. Có thể nói Hồ Chí Minh với tư cách là nhà văn hóa kiệt xuất đã góp phần không chỉ tạo ra một chế độ mới, một thời đại mới mà còn tạo ra một nền văn hóa mới trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng góp phần to lớn vào sự phát triển của nhân loại nói chung và sự phát triển văn hóa nhân loại nói riêng. Không phải là ngẫu nhiên mà bằng sự linh cảm và khả năng trực giác, ngay từ năm 1923, khi tiếp xúc với Người, nhà thơ Xô – Viết Ôxip Mandextam đã tiên đoán: “Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa, không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hóa của tương lai… Qua cử chỉ cao thượng, tiếng nói trầm lắng của Nguyễn Ái Quốc, tôi như thấy được ngày mai, như thấy được viễn cảnh trời yên bể lặng của tình hữu ái toàn thế giới bao la như đại dương”.

N. D. B
gdtd.vn

Bác Hồ trong lòng dân Tây Đô

QĐND Online – Bác Hồ đã đi xa hơn 40 năm, nhưng hình ảnh giản dị, đầy cao quý về vị cha già dân tộc vẫn không phai mờ trong lòng người dân Việt Nam. Với người dân thành phố Cần Thơ – đất Tây Đô, Bác vẫn còn ở đâu đó, rất gần gũi, thân thương trong cuộc sống hàng ngày như để dõi theo sự phát triển đi lên của đất nước nói chung và mảnh đất Tây Đô nói riêng.

Treo ảnh Bác để học tập Bác

Hòa thượng Lý Sân, Ủy viên Trung ương giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hội trưởng hội Đoàn kết sư sãi yêu nước TP Cần Thơ, trụ trì chùa Săn- vor- Pô-thi, phường Châu Văn Liêm, quận Ô Môn tâm sự: tôi coi Bác như đức Phật. Việc tôi và các phật tử rước ảnh Bác, thờ Bác là niềm vui, niềm tự hào của chúng tôi. Một con người cả đời hy sinh, cống hiến thân mình vì hạnh phúc của dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam, đất nước Việt Nam, một Danh nhân Văn hóa thế giới như Người chẳng khác nào Phật vậy. Hòa thượng Lý Sân kể: “Tôi có may mắn được ra thăm Hà Nội, được viếng lăng Bác 4 lần. Lần nào tôi cũng rất xúc động. Tôi nhớ nhất lần đầu tiên được tận mắt nhìn căn nhà sàn của Bác đơn sơ, giản dị khiến tôi rất bất ngờ. Vị lãnh tụ của đất nước của dân tộc mà sống giản dị như thế trên thế giới có lẽ chỉ có một- Bác Hồ. Tôi vẫn thường khuyên các phật tử sống tiết kiệm, siêng năng lao động đó cũng là cách học tập Bác thiết thực nhất, góp phần xóa đói, giảm nghèo cho mỗi gia đình, xây dựng quê hương đất nước giàu mạnh. Đến nay, có 250 hộ đồng bào Khơ-me phường Châu Văn Liêm, Ô Môn treo ảnh Bác. Hòa thượng Lý Sân kể: “Hôm tổ chức rước ảnh Bác vui và trang trọng lắm, có tổ chức biểu diễn văn nghệ để phục vụ đồng bào nhưng chỉ tiếc hôm đó thiếu ảnh để trao cho đồng bào…”.

Anh Lý Phiên (người Khơ- me, phường Châu Văn Liêm, Ô Môn, Cần Thơ) bên ảnh Bác

Ông Bùi Xuân Mỹ, Chủ tịch hội Cựu chiến binh quận Ô Môn cho biết thêm: Việc rước ảnh Bác, treo ảnh Bác là hoàn toàn tự nguyện, thể hiện lòng kính yêu đối với Bác Hồ.

Ông Nguyễn Văn Hồng, Trưởng ban trị sự phật giáo Hòa Hảo, phường Thuận Hưng, quận Thốt Nốt đã xúc động phát biểu trong buổi lễ trao ảnh Bác Hồ nhân kỷ niệm 121 năm sinh nhật Bác: Mọi người dân Việt Nam đều hiểu và ghi nhớ công ơn to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng tôi rất mừng khi có ảnh Bác treo trang trọng trong nhà mình.

Bà Võ Thị Út, 65 tuổi ở ấp Mỹ Phụng, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền phấn khởi: “Tôi đã sửa sang lại nhà cửa, chuẩn bị một chỗ trang trọng nhất trong nhà để hôm nay rước ảnh Bác Hồ về treo. Bác là vị cha già kính yêu đã hy sinh cả cuộc đời vì dân tộc. Ngày nay, đất nước thanh bình, người dân có cơm no áo ấm, đưa ảnh Bác về treo trong nhà là cách bà con ghi nhớ công ơn trời biển của Bác”.

Treo ảnh Bác-nét đẹp văn hoá

Ông Trần Thành Nghiệp, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh TP Cần Thơ xúc động: Người đã đi vào cõi vinh hằng hơn 40 năm nhưng hình ảnh của người vẫn rất gần gũi, thân thương đối với người dân Cần Thơ. Vì thế, từ năm 2008, chúng tôi đã quyết định phát động phong trào vận động các hội viên cựu chiến binh rước ảnh Bác về thờ ở vị trí trang trọng nhất trong mỗi gia đình. Đến nay, tại các gia đình các hội viên cựu chiến binh thành phố Cần Thơ đều treo ảnh Bác. Năm 2010, phong trào rước ảnh Bác về gia đình được đông đảo quần chúng nhân dân hưởng ứng. Đây là cách thể hiện tình cảm của người dân đất Tây Đô với Bác kính yêu!

Chỉ tính từ đầu năm 2011 đến nay, TP Cần Thơ đã có hơn 60.000 hộ gia đình rước ảnh Bác về thờ tại gia đình. Toàn thành phố hiện có 160.000 ảnh Bác được thờ tại các gia đình. Các buổi lễ trao ảnh Bác đều được lãnh đạo Hội Cựu chiến binh, UBND, Uỷ ban MTTQ các xã tổ chức trang trọng.

Phong trào rước ảnh Bác ở Cần Thơ đã được đông đảo người dân hưởng ứng nhiệt tình. Đăc biệt, xã Đông Thắng, huyện Cờ Đỏ có đông đồng bào dân tộc Khơ me, lễ rước ảnh Bác Hồ ngay trong chùa Kinh Số 5 và mời sãi cả thay mặt lãnh đạo trao ảnh Bác Hồ cho nhân dân. Ở Nhà thờ ấp Bờ Bao thị trấn Vĩnh Thạnh, huyện Vĩnh Thạnh có gần 100% hộ treo ảnh Bác Hồ. Hình ảnh người dân xứ đạo nhận ảnh Bác do chính vị Linh mục trao cho khiến những người chứng kiến không khỏi xúc động.

Cựu chiến binh Lê Quang Tuấn, xã Trường Long, huyện Phong Điền cho biết: có ảnh Bác thờ trong gia đình là dịp để chúng tôi chiêm nghiệm lại mình, học tập Bác để sống tốt hơn. Chúng tôi xin hứa với Bác quyết tâm thi đua lao động sản xuất, thắt chặt tình làng nghĩa xóm, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền thật sự trong sạch, vững mạnh và xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, xứng đáng với sự hy sinh lớn lao của Bác cho đất nước cho dân tộc Việt Nam.

Phong trào rước ảnh, treo ảnh Bác tại mỗi gia đình không chỉ thể hiện tình cảm của người dân đất Tây Đô với vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc mà còn là nét đẹp văn hóa mới của người dân nơi đây.

Bài và ảnh: NGUYỄN KIỂM
qdnd.vn

Chỉ có một nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa của Bác Hồ

QĐND Online- Hiệp định Paris về “chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam” được ký kết, nhân dân Việt Nam đã “đánh cho Mỹ cút” giành thắng lợi quyết định. Bước tiếp theo là “đánh cho ngụy nhào” giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, đó là quá trình đấu tranh quyết liệt và phức tạp trên các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao. Trong đấu tranh ngoại giao và các hoạt động quốc tế để buộc Nguyễn Văn Thiệu phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Paris của các lực lượng, diễn ra mạnh mẽ, phong phú và đa dạng. Tiêu biểu là Đại sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pháp đã có các hoạt động vận động các nước công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho đấu tranh thống nhất đất nước. Quá trình đó, có một câu chuyện thú vị tại Pháp đã nói lên một chân lý sáng ngời.

Quảng Trường Ba Đình, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập

Từ năm 1973 đến đầu năm 1975, Đại sứ quán Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã tổ chức nhiều cuộc vận động một số nước ở châu Phi có quan hệ với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đại sứ ta tại Pháp có nhiều cuộc gỡ với đại sứ các nước ở Paris và đi đến các nước để chuẩn bị cho việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với các nước đó. Quá trình đó, Đại sứ ta luôn tranh thủ vận động họ công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Những hoạt động đó đã đạt kết quả tốt đối với một số nước như Bê Nanh, Công Gô, Angola,… ở châu Phi và Bồ Đào Nha ở Tây Âu. Đối với một số nước khác mặc dù chưa có kết quả ngay do điều kiện của họ, nhưng hầu hết đều đã bày tỏ tình cảm với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Với nước Mađagatca có câu chuyện khá thú vị như sau: Nhân dịp ông Ratsiraca Ngoại trưởng nước Mađagatca (sau này trở thành Tổng thống Mađagatca) có chuyến công tác qua Paris, đồng chí Võ Văn Sung, Đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pháp xin gặp và đặt vấn đề Mađagatca công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Với cách nói thân thiết của một người bạn, ông cho biết không bao giờ công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đồng chí Võ Văn Sung hỏi lý do vì sao? Ông Ratsiraca trả lời “vì Mađagatca đã có quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và không có quan hệ với chính quyền Sài Gòn”1. Ông Ngoại trưởng còn khẳng định: “Đối với chúng tôi thì nước Việt Nam là một, chỉ có nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của “Bác Hồ”2. Vì vậy, “nếu công nhận bất kỳ một chính phủ nào khác là trái với nguyên tắc mà chúng tôi tôn trọng: nước Việt Nam là một! Chúng tôi đã từ chối việc công nhận bọn bù nhìn ở Sài Gòn”3. Đồng chí Võ Văn Sung giải thích lại tình hình miền Nam và chính sách của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; vai trò của Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam; những điều khoản của Hiệp định Paris và những vấn đề thuộc về quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ miền Nam Việt Nam, ở đó có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát,… Thấy ông Ratsiraca còn phân vân, đồng chí Võ Văn Sung đã phải nói rằng: “Chính phủ Cách mạng lâm thời cũng là anh em chúng tôi cả” và “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Chính phủ Cách mạng lâm thời tuy hai cũng như một, nhưng tuy một mà cho đến khi Việt Nam tái thống nhất thì vẫn phải là hai”4. Khi hiểu ra vấn đề, ông Ratsiraca hứa sẽ báo cáo về Chính phủ. Hơn một tuần sau đó, Đại sứ quán Mađagatca ở Paris báo cho Đại sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Pháp biết là Mađagatca đồng ý công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam.

———————-

1,2. Võ Văn Sung (2005), Chiến dịch Hồ Chí Minh giữa lòng Paris, Nxb QĐND, tr.88.
3, 4. SĐD, tr.88-89.

TS Nguyễn Văn Bạo
qdnd.vn

Trở lại đất nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Vũ Mai Hoàng
Đình Song Linh

Dải đất nhỏ hình chữ S nằm bên bờ Thái Bình Dương trở nên gần gũi, thân thương đối với Bờ-ra tự khi nào, ông không còn nhớ nữa, nhưng những kỷ niệm đẹp tại đất nước này đã và sẽ mãi theo ông suốt cuộc đời.

Năm 1955, Bờ-ra, cậu bé chín tuổi người ấn Độ lần đầu theo cha là Chủ tịch ủy ban giám sát quốc tế về việc thực hiện Hiệp đinh Giơ-ne-vơ sang Việt Nam. Đất nước Việt Nam bấy giờ tạm thời bị chia cắt nhưng vì theo cha cho nên cậu bé có điều kiện đến những thành phố như: Hải Phòng, Vinh, Đà Nẵng, Sài Gòn (TP Hồ Chí Minh ngày nay)… Phong cảnh và con người Việt Nam dần cuốn hút cậu. Từ đấy, mỗi dịp nghỉ học dài ngày tại ấn Độ, cậu lại thu xếp thời gian sang thăm cha, đất nước Việt Nam mến yêu. ấn tượng lớn với Bờ-ra là Hà Nội, một thành phố đẹp mang dáng vẻ thâm trầm và cổ kính. Cha con Bờ-ra ở trong một khách sạn lớn kiến trúc kiểu Pháp, nằm bên một con phố yên bình. Ngày đó, trên đường phố chỉ có những người đạp xe qua lại, những người bán hàng rong với những món hàng trĩu nặng trên vai hoặc trên đầu. Mỗi khi cha đi làm, cậu bé thường thơ thẩn đi dạo dưới những tán cây xanh của phố phường Hà Nội, tìm bắt những chú bướm đủ sắc mầu cất vào bộ sưu tập, hoặc tìm cách trò chuyện với những người Việt Nam. Bờ-ra từ lâu ấp ủ một ước mơ thầm kín là được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ được nhân dân Việt Nam gọi là Bác Hồ, dù cậu biết đó là điều rất khó. Thật bất ngờ, mơ ước ấy trở thành hiện thực vào ngày 1-1-1957, năm cậu 11 tuổi. Nhân Tết dương lịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh mới các đại sứ, đại diện các phái đoàn ngoại giao và tổ chức quốc tế tại Việt Nam dự buổi gặp thân mật tại Phủ Chủ tịch. Cha Bờ-ra đưa cậu theo. Bờ-ra còn nhớ mãi hình ảnh một cụ già tóc bạc, đôi mắt sáng ngời, ăn mặc giản dị ở ghế chủ tọa. Thật may mắn, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhìn thấy cậu trong số các quan khách và trìu mến gọi cậu bé đến ngồi cạnh Người. Bằng giọng nói hiền từ, Người ân cần thăm hỏi Bờ-ra về chuyện học hành, về gia đình, về những ấn tượng đối với Hà Nội, Việt Nam và cả những ước mơ… Đó là những phút giây hồi hộp nhất trong cuộc đời Bờ-ra. Cậu không nhớ đã trả lời những gì, chỉ nhớ không khí lúc đó thật ấm áp, gần gũi và xúc động. Bác Hồ tặng Bờ-ra con chim bồ câu bằng đá, biểu tượng cho hòa bình cùng một quả quýt và căn dặn mang về làm quà cho mẹ. Bờ-ra theo cha trở về ấn Độ và mang theo món quà quý giá của Chủ tich Hồ Chí Minh. Còn bức ảnh chụp cậu ngồi bên Bác Hồ được Bờ-ra và cả gia đình trân trọng giữ gìn trong an-bum như một bảo vật. Nhiều năm sau đó, mỗi lần khách đến chơi nhà, đặc biệt là khách từ Việt Nam sang, Bờ-ra đều tự hào kể lại kỷ niệm ấy và cho mọi người xem ảnh.

Sau gần nửa thế kỷ, Bờ-ra mới có dịp trở lại Việt Nam theo lời mới của Ban Bí thư T.ư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với danh nghĩa là Thiếu tướng, Phó Tổng giám đốc Hiệp hội giáo dục quốc phòng cho học sinh ấn Độ (NCC) – một tổ chức thanh niên quy mô-lớn nhất ấn Độ với khoảng 1,4 triệu thành viên là học sinh, sinh viên tuổi từ 13 đến 22, được tuyển chọn từ các trường phổ thông, cao đẳng và đại học cả nước. Việc trở thành một thành viên hay còn gọi là thiếu sinh quân của NCC là niềm tự hào đối với thanh, thiếu niên ấn Độ. Chuyến thăm Việt Nam của Thiếu tướng nhằm giao lưu, học hỏi và tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa thanh niên và nhân dân hai nước. Chúng tôi gặp ông tại Hà Nội vào thời điểm cả nước kỷ niệm lần thứ 112 Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thiếu tướng Bờ-ra cho biết những chuyến thăm và giao lưu giữa Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và NCC mang lại kết quả thiết thực và bổ ích. Trong thời gian tới, tổ chức đoàn hai nước sẽ tiếp tục thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác thông qua các chuyến thăm và giao lưu.

Có lẽ nhờ những hoạt động hữu nghị ấy, các cán bộ Đoàn Việt Nam mới được biết câu chuyện cảm động về lần đầu và là lần duy nhất cậu bé Bờ-ra được gặp Báo Hồ. Anh Trần Đắc Lợi, Trưởng ban Quốc tế T.ư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, cho biết, trong dịp công tác tại ấn Độ, đã tận mắt nhìn thấy bức ảnh gốc chụp từ năm 1957, được gia đình Thiếu tướng bảo quản rất cẩn thận. Thiếu tướng Bờ-ra tâm sự, suốt 45 năm qua, mỗi lần nhìn bức ảnh Bác, trong ông lại rộn lên ao ước được trở lại Việt Nam, nơi ông gửi gắm bao kỷ niệm, không chỉ để tăng thêm tình đoàn kết, gắn bó giữa thanh niên và nhân dân Việt nam – ấn Độ mà còn thực hiện tâm nguyện đến thăm vị lãnh tụ kính yêu Hồ Chí Minh- người bạn lớn của nhân dân ấn Độ. Vì thế, khi đặt chân tới Việt Nam sau nhiều năm xa cách, điểm đến đầu tiên của ông là Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Khu di tích Phủ Chủ tịch. Với ông, Hà Nội giờ đây dù hiện đại, nhộn nhịp hơn xưa nhưng không làm giảm nét đẹp tự nghìn xưa còn lắng đọng. Người Việt Nam năng động hơn nhưng tình cảm của người Việt Nam vẫn như thuở nào, chân tình và nồng ấm.

Báo Nhân dân, ngày 20/5/2002
cpv.org.vn

Nhớ mãi bài thơ chúc Tết của Bác Hồ năm Nhâm Thìn 1952

QĐND – Cách đây đúng 60 năm, ngày Mồng Một Tết năm Nhâm Thìn (1952), chúng tôi làm việc tại Đài Tiếng nói Miền Nam, Liên khu V. Qua làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam, chúng tôi thu được bài thơ chúc Tết của Bác Hồ. Bài thơ viết:

“Xuân này, Xuân năm Thìn
Kháng chiến vừa 6 năm
Trường kỳ và gian khổ
Chắc thắng trăm phần trăm.
Chiến sĩ thi giết giặc
Đồng bào thi tăng gia
Năm mới thi đua mới
Thắng lợi ắt về ta.
Mấy câu thành thật nôm na
Vừa là kêu gọi vừa là mừng Xuân”.

Chúng tôi vô cùng phấn khởi vội báo cáo lên Liên khu ủy, họp toàn đài phát động đợt thi đua mới làm theo lời Bác và bàn cách phổ biến rộng lời Bác kêu gọi và mừng Xuân qua làn sóng Đài Tiếng nói Miền Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc thơ chúc Tết (1967). Ảnh tư liệu

Đài chúng tôi thời gian ấy đóng tại một vùng quê nghèo, hẻo lánh, bên bờ sông Lại Giang, thuộc xóm Vạn Tín, xã Ân Hảo, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, được đồng bào thương yêu, đùm bọc và bảo vệ tuyệt đối.

Anh Võ Bài, nhạc sĩ của đài nhanh chóng phổ nhạc bài thơ của Bác theo làn điệu dân ca Liên khu V và họp anh chị em chúng tôi lại học hát. Ngay tối hôm ấy, Mồng Một Tết, trong chương trình phát thanh đầu Xuân, sau lời giới thiệu của phát thanh viên Minh Lý, “toàn ban nam nữ” của đài đã chen nhau trong “lều phát thanh” (làm bằng tranh tre) hát bài ca chúc Tết của Bác, trong bầu không khí trang nghiêm và niềm xúc động không sao tả xiết. Giọng nữ chính là chị Bích Hường. “Dàn nhạc đệm” có Võ Bài đàn băng-giô, anh Liêng đàn măng-đô-lin và anh Phú đàn ác-coóc-đê-ông – chiếc đàn này là chiến lợi phẩm bộ đội ta thu được trong trận diệt đồn Túy Loan và Ban chỉ huy Mặt trận Quảng-Đà gửi tặng đài. Liên tiếp hai ngày, Mồng Hai và Mồng Ba Tết, Đài Tiếng nói Miền Nam lại phát chương trình đặc biệt này, mỗi lần lại huy động “toàn ban nam nữ”, vì chúng tôi ngày ấy không có máy ghi âm. Cũng xin được nói rằng, Tiếng nói Miền Nam ngày ấy chỉ là “một đài nhỏ xíu ở miền Trung, mà phát sóng lên phủ khắp vùng”, tận Việt Bắc, các đô thị và cả một số nước Đông Nam Á cũng nghe được. Tiền thân của đài là Tiếng nói Nam Bộ, “Tiếng nói căm hờn, tiếng nói chiến đấu”.

Sau Tết, chúng tôi được Liên khu ủy khen ngợi; anh Trần Lâm, Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, từ Chiến khu Việt Bắc gửi điện khen các chương trình Tết của đài và khen bản nhạc lời chúc Tết của Bác là kịp thời và hay. Trong xóm nhỏ đã có vài em bé, nhà gần “lều phát sóng”, nghêu ngao hát bài này.

Sáu mươi năm đã qua, nhưng chúng tôi, những người trong cuộc còn sống đến hôm nay, mãi không quên mùa Xuân Nhâm Thìn năm ấy với lời chúc Tết “vừa là kêu gọi vừa là mừng Xuân” của vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu.

Lý Văn Sáu
Nguyên Phó giám đốc Đài Tiếng nói Miền Nam
qdnd.vn

Điện thǎm hỏi đồng bào miền Nam bị bão lụt (16-9-1968)

Thưa Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ và các vị trong Uỷ ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam,

Tôi vừa được tin về những trận bão và lụt đã gây nhiều thiệt hại cho đồng bào ta ở miền Trung và Nam Trung Bộ, trong lúc quân thù càng thua càng điên cuồng đánh phá miền Nam nước ta. Tin ấy làm cho tôi rất thương xót.

Tôi nhờ Chủ tịch và các vị chuyển đến đồng bào, chiến sĩ và cán bộ ta ở những vùng bị bão lụt lời thǎm hỏi thân thiết nhất của tôi và của toàn thể đồng bào miền Bắc. Tôi tin rằng, để giải quyết tình hình khó khǎn đó, đồng bào, chiến sĩ và cán bộ ta đoàn kết chặt chẽ, đùm bọc lấy nhau, giúp đỡ lẫn nhau, cố gắng tǎng gia sản xuất, thì nhất định sẽ đánh thắng thiên tai đó cũng như đánh thắng địch hoạ.

Tôi tin chắc rằng, mặc dù tạm thời gặp khó khǎn, đồng bào, chiến sĩ và cán bộ ta vẫn kiên quyết vươn lên chiến đấu và chiến thắng.

Chào thân ái và quyết thắng

Hà Nội, ngày 16 tháng 9 nǎm 1968
BácHồ

Báo Nhân dân, số 5270, ngày 17-9-1968.
cpv.org.vn

Vững bước trên con đường Người đã chọn

Bí thư Thành ủy TPHCM Lê Thanh Hải cho biết trong suốt hơn 80 năm qua, Đảng bộ và nhân dân TP luôn tâm nguyện và vững bước trên con đường Bác Hồ đã chọn

Sáng 5-6, TPHCM đã long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5.6.1911-5.6.2011). Dự lễ kỷ niệm có ông Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư; nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải; các vị lãnh đạo TPHCM, lão thành cách mạng, mẹ Việt Nam anh hùng cùng đông đảo nhân dân TP.

Tìm đường cứu dân, cứu nước

Đọc diễn văn tại lễ kỷ niệm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TPHCM Lê Thanh Hải ôn lại sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc, cách nay tròn 100 năm, ngày 5-6-1911, Sài Gòn – Gia Định đã tiễn người thanh niên Việt Nam 21 tuổi Nguyễn Tất Thành, với tên Văn Ba, rời cảng Sài Gòn đi ra nước ngoài để thực hiện khát vọng tìm đường cứu dân, cứu nước. Đó là một ý định cách mạng và táo bạo, thể hiện tư tưởng đổi mới, cả tầm nhìn và hành động, báo hiệu sự xuất hiện của bậc vĩ nhân Nguyễn Ái Quốc – Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Diễn văn nêu rõ: Từ chủ nghĩa yêu nước chân chính, Bác đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, chân lý của thời đại; từ người yêu nước trở thành chiến sĩ cộng sản, tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo, phát triển học thuyết Mác – Lênin phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của đất nước ta, xác lập đường lối cứu nước đúng đắn để thực hiện.

Các đại biểu tham dự lễ kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước vào sáng 5-6 tại TPHCM

Đó là cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân do Đảng Cộng sản, đội tiên phong của giai cấp công nhân, lãnh đạo nhằm đánh đổ đế quốc và phong kiến tay sai, giành độc lập dân tộc. Cuộc hành trình tìm đường cứu nước của Bác đã tạo nên những bước ngoặt lớn của cách mạng Việt Nam, đã làm thay đổi chiều hướng phát triển của lịch sử, thay đổi số phận của cả dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX, đồng thời in dấu ấn không thể phai mờ trong lịch sử thế giới hiện đại.

Tạo chuyển biến mới, thắng lợi mới

Trong niềm tự hào TPHCM là nơi Bác Hồ khởi đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước và là TP được vinh dự mang tên Người, ông Lê Thanh Hải kêu gọi Đảng bộ và nhân dân TP phát huy cao độ truyền thống cách mạng kiên cường, đoàn kết, năng động, sáng tạo; ra sức phấn đấu thực hiện đường lối, quyết sách của Đảng đã đề ra, tạo những chuyển biến mới, thắng lợi mới.

Ông Lê Thanh Hải chỉ đạo TP cần tập trung cao độ trong việc thực hiện có hiệu quả kết luận số 02-KL/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, góp phần thúc đẩy sản xuất – kinh doanh phát triển, giữ vững ổn định chính trị, cải thiện đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân.

“Trong suốt hơn 80 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ và nhân dân TP luôn tâm nguyện và vững bước trên con đường Người đã chọn… Trong mỗi tấm lòng của người dân Sài Gòn – Gia Định – TPHCM luôn có Bác Hồ kính yêu”- ông Lê Thanh Hải bày tỏ.

Sau lễ kỷ niệm, các đại biểu đã tham gia nghi thức động thổ xây dựng giai đoạn 2 dự án Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh TPHCM. Giai đoạn này có tổng mức đầu tư hơn 69 tỉ đồng, bao gồm việc xây mới nhà trưng bày chuyên đề với hội trường, phòng trưng bày và phòng chiếu phim tư liệu về Bác Hồ có tổng diện tích xây dựng khoảng 1.195 m2; đầu tư các trang thiết bị nhằm hiện đại hóa công tác bảo tồn, trưng bày; cải tạo, chỉnh trang một số hạng mục để tạo sự khang trang, điểm nhấn cho cảnh quan công trình và toàn bộ khu vực. Dự kiến công trình sẽ hoàn thành vào quý II/2012.

Chiều cùng ngày, các nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, Trẻ, Công an Nhân dân đã tổ chức buổi ra mắt những tác phẩm mới xuất bản về Bác Hồ. Một số tác phẩm được giới thiệu gồm: nghiên cứu, xác minh tư liệu và địa chỉ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống, làm việc ở nước ngoài từ năm 1911 – 1941; Theo chân Bác; Cận vệ Bác Hồ…

Khánh thành Đền thờ Bác tại Bạc Liêu

Sáng 5-6, ông Nguyễn Xuân Phúc, Bộ trưởng – Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, cùng các lãnh đạo Trung ương, các ban ngành và các tỉnh ĐBSCL đã cắt băng khánh thành công trình Đền thờ Bác Hồ tại xã Châu Thới, huyện Vĩnh Lợi – Bạc Liêu. Đây là công trình trùng tu, tôn tạo mở rộng di tích lịch sử Đền thờ Bác Hồ hoàn thành ở giai đoạn I với tổng kinh phí hơn 29 tỉ đồng.

Ông Nguyễn Xuân Phúc tuyên dương truyền thống đấu tranh cách mạng, truyền thống văn hóa và tình cảm của nhân dân Bạc Liêu đối với Bác. Ông Phúc động viên, khuyến khích nhân dân gìn giữ, phát huy hơn nữa truyền thống dân tộc và di tích lịch sử này để nơi đây mãi mãi là địa chỉ đỏ trong việc giáo dục truyền thống cho các thế hệ.

K.Châu

Ra sức thực hiện mong ước của Bác

Phát biểu trong chương trình cầu truyền hình “Hồ Chí Minh – Cuộc hành trình của thời đại” diễn ra tối 5-6, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại, người thầy của cách mạng Việt Nam.

Chủ tịch nước kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ra sức thực hiện mong ước cháy bỏng của Bác lúc sinh thời về xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, sánh vai cùng với bạn bè năm châu bằng các việc trọng tâm cần làm là giữ vững ổn định chính trị, xã hội của đất nước; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; ý thức đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ, lao động với năng suất và hiệu quả cao, ra sức học tập và rèn luyện theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh…

“Tôi tin rằng với ý chí, bản lĩnh và trí tuệ của dân tộc Việt Nam, truyền thống quý báu của dân tộc, truyền thống vẻ vang của Đảng thì toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta nhất định sẽ xây dựng thành công một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa sánh vai cùng với các cường quốc năm châu”- Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết khẳng định.

T.Nhàn

Bài và ảnh: THANH NHÀN
nld.com.vn