Tag Archive | Việt Nam – Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao trình độ của cán bộ, đảng viên

Mục đích học tập

Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc học tập nâng cao trình độ của cán bộ, đảng viên. Người đã chỉ rõ mục đích của việc học tập và những biện pháp cơ bản để đạt mục đích đó: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, “giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”. Muốn đạt mục đích, thì phải cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư”. Từ nhận thức đúng đắn mục đích của việc học tập mà cán bộ, đảng viên phấn đấu không ngừng trong học tập rèn luyện để hoàn thành nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao cho.

Nội dung học tập

Hồ Chí Minh cho rằng học tập của cán bộ, đảng viên phải xuất phát từ yêu cầu thực tế thiết thực, không phô trương, hình thức. Phải học cặn kẽ, thấu đáo, cụ thể và sâu sắc đến tận bản chất vấn đề. Theo Bác, mỗi người phải biết một nghề, làm việc gì học việc ấy và làm nghề gì phải thạo nghề ấy. Nếu là cán bộ lãnh đạo, thì lãnh đạo ngành nào phải biết chuyên môn về ngành ấy. Mọi cán bộ, đảng viên đều phải nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối, chính sách của Đảng, văn hoá, kỹ thuật, lao động sản xuất… Những nội dung đó là hết sức cơ bản và gắn bó chặt chẽ với nhau. Trong đó, Người nhấn mạnh học tập chủ nghĩa Mác – Lênin nhằm trang bị cho mỗi người thế giới quan, phương pháp luận cách mạng và khoa học để nhận thức và hành động đúng đắn, kiên quyết, sáng tạo và hiệu quả.

Theo Hồ Chí Minh, nội dung học tập phải toàn diện, “ra sức học tập nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học, kỹ thuật và quân sự để cống hiến ngày càng nhiều cho Tổ quốc, cho nhân dân”(2). Người cán bộ cách mạng phải được đào tạo rèn luyện về phẩm chất và năng lực để hoàn thiện nhân cách trong tình hình mới. Người xác định nội dung học tập gắn với thực hiện nhiệm vụ mà mỗi cán bộ, đảng viên đảm nhiệm. Đối với cán bộ quân đội, Người đặt ra yêu cầu phải tích cực học tập nâng cao trình độ chính trị, quân sự, lòng trung thành với Đảng với Tổ quốc, nhân dân… Theo Bác, quân đội ta trước hết phải là đội quân tuyên truyền vận động nhân dân làm cách mạng, do vậy, mỗi quân nhân phải thấm nhuần chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối, chính sách của Đảng, vận động nhân dân để nhân dân tin theo Đảng, thực hiện sự nghiệp cách mạng vẻ vang.

Học tập suốt đời, lấy tự học làm cốt

Theo Bác, mỗi cán bộ, đảng viên có vị trí nhất định trong bộ máy nhà nước, do đó phải không ngừng học tập để nâng cao trình độ hiểu biết mọi mặt, có tư duy độc lập và sáng tạo, cải tiến phương pháp làm việc, nâng cao chất lượng công tác. Theo Người, vấn đề học tập là “suốt đời” chứ không phải chỉ là lớp học, khoá học hoặc mang tính “thời vụ”, rồi sau đó lại “đâu vào đấy”. Người chống thói qua loa đại khái, lười học, lười suy nghĩ dẫn đến tình trạng khi giải quyết công việc thì “được chăng hay chớ”, “gặp đâu làm đấy”, chất lượng công việc thấp, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Người chỉ rõ: “Cán bộ và đảng viên ta, vì bận việc hành chính hoặc quân sự, mà xao nhãng việc học tập. Đó là một khuyết điểm rất to. Khác nào người thày thuốc chỉ đi chữa người khác, mà bệnh nặng trong mình thì quên chữa”(3). Do đó, Người yêu cầu cán bộ, đảng viên phải “ham học tập để nâng cao trình độ của mình”(4)vàcoi đây là một tiêu chuẩn, một giá trị đạo đức của người cán bộ, đảng viên.Từ đó,Người vạch rõ phương hướng, nhiệm vụ đối với cán bộ, đảng viên là không được nhãng việc học tập, phải tu dưỡng không ngừng, đối với người cán bộ “chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”(5). Người đặt lên hàng đầu “lấy tự học làm cốt”(6), cán bộ, đảng viên phải biết “tự động học tập”, phải xác định tư tưởng cho đúng. Học tập phải trở thành nhu cầu, thói quen, hành vi hàng ngày của cán bộ, đảng viên. Cán bộ nào lười học, lười suy nghĩ, không thường xuyên tiếp nhận, cập nhật thông tin mới, những hiểu biết mới cũng là một biểu hiện suy thoái về đạo đức.

Học tập mọi lúc, mọi nơi

Cán bộ, đảng viên phải tận dụng thời gian, dành công sức, tranh thủ học tập, học ở trường, lớp, sách vở và học ở nhân dân. Bác nhấn mạnh: nhân dân ta rất cần cù và sáng tạo, những giá trị văn hoá, tinh thần do nhân dân sáng tạo là nguồn tri thức, là những kinh nghiệm rất phong phú, là “những bài học quý”, do đó, cán bộ, đảng viên phải chịu khó học hỏi ở nhân dân “Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân, không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn”(7).Và chính thông qua học tập,tiếp xúc với nhân dân mà cán bộ, đảng viên có điều kiện gần gũi, nắm được tâm tư nguyện vọng của nhân dân, từ đó tổng kết được tình hình, nguyện vọng của dân. Từ đó, tham mưu, đề xuất tiếp tục bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, tạo niềm tin, đồng thuận của dân và toàn xã hội tiến hành sự nghiệp cách mạng. Người kiên quyết chống thói quan liêu, xa dân, không chịu học hỏi nhân dân, coi khinh dân và coi đây là những quan niệm, hành vi đối lập với phẩm chất của người cán bộ cách mạng cần phải được lên án, xử lý.

Gắn học tập và làm việc

Tư tưởng của Người về học tập nâng cao trình độ của cán bộ, đảng viên là phải thiết thực, bổ ích, hiệu quả, sát với với công việc của mỗi người; nếu không đạt được như vậy là “phí công, phí của, vô ích”. Bác nhấn mạnh “học để vận dụng chứ không phải học lý luận vì lý luận(8). Tri thức, lý luận của cán bộ, đảng viên tích lũy được trong học tập phải nhằm giải quyết nhiệm vụ thực tiễn, làm cho hoạt động thực tiễn ngày càng đạt hiệu quả và chính thông qua hoạt động thực tiễn để sáng tạo, khái quát, tổng kết kinh nghiệm, phát hiện, bổ sung hoàn thiện đường lối cách mạng của Đảng. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, trong học tập người học phải sáng tạo, biết kế thừa tinh hoa tri thức của dân tộc và nhân loại. Phương pháp học tập là kết hợp chặt chẽ giữa học với hành, lý luận gắn liền với thực tế, tích luỹ tri thức với rèn luyện đạo đức cách mạng. Đối với nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin là học tập “phương pháp biện chứng” chứ không rập khuôn, máy móc. Người còn cho rằng trong học tập của cán bộ, đảng viên là khó khăn, lâu dài nhưng nếu có quyết tâm cao, phương pháp học tập tốt thì mọi việc đều có thể làm được “Không có việc gì khó. Chỉ e ta không siêng… siêng học tập thì mau biết”(9).

Thấm nhuần tư tưởng của Hồ Chí Minh, Đảng ta khẳng định “học tập là công việc suốt đời của cán bộ, đảng viên”. Mọi cán bộ, đảng viên phải có kế hoạch thường xuyên để học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn. Học tập vừa là quyền lợi vừa là nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi cán bộ, đảng viên và phải được quy định thành nền nếp, chế độ. Thực tiễn cho thấy còn không ít cán bộ, đảng viên còn “học vì bằng cấp”, “cốt để tiêu chuẩn hoá chức danh”… Những biểu hiện đó là trái với tư tưởng của Bác về mục đích học tập cần được phê bình, sửa chữa, để mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng thực sự là tấm gương về học tập cho quần chúng noi theo, góp phần đưa cả nước trở thành một “xã hội học tập”, phấn đấu vì Việt Nam giàu đẹp, văn minh, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H.2000, tr. 684.
2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 11, Nxb CTQG, H.2000, tr. 505.
3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H.2000, tr. 231.
4 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H.2000, tr. 251.
5 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H.2000, tr. 252.
6 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H.2000, tr. 273.
7 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 6, Nxb CTQG, H.2000, tr. 50.
8 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 8, Nxb CTQG, H.2000, tr. 497.
9 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H.2000, tr. 632.

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng
Tâm Trang (st)
bqllang.gov.vn

Diễn vǎn chào mừng Chủ tịch Hátgi Lêsi tại sân bay Gia Lâm (12-6-1960)

Thưa đồng chí Chủ tịch Lêsi thân mến,

Thưa đồng chí Bí thư Liri thân mến,

Thưa các đồng chí trong Đoàn đại biểu Anbani thân mến,

Thưa các bạn và các đồng chí,

Mùa Thu nǎm 1957, chúng tôi sung sướng được đến thǎm đất nước tươi đẹp Anbani anh em. Đồng chí Chủ tịch Lêsi, các đồng chí lãnh tụ Đảng và Chính phủ cùng toàn thể nhân dân Anbani, đều tiếp đãi chúng tôi như những người thân thích, ruột thịt. Tôi xin nêu một ví dụ rất cảm động: Đồng chí Liri tuy rất bận việc Đảng, việc nước, lại bận các cháu bé, nhưng vẫn cố gắng tranh thủ thời gian để ân cần sǎn sóc đồng chí Bác Hồ.

Mấy nǎm nay, chúng tôi luôn luôn nhớ người, nhớ cảnh nước bạn. Và đồng bào Việt Nam chúng tôi thì luôn luôn mong chờ có dịp được đón tiếp các đồng chí lãnh tụ Anbani anh em.

Hôm nay, sự mong chờ ấy đã được thực hiện. Các đồng chí đã đến với chúng tôi. Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam rất sung sướng được đón tiếp các đồng chí với tất cả tấm lòng thân ái nhất và nhiệt liệt nhất.

Chúng tôi tin chắc rằng các đồng chí sẽ coi ở đây cũng như ở nhà và cuộc đến thǎm của các đồng chí sẽ thắt chặt hơn nữa khối đoàn kết anh em giữa nhân dân hai nước chúng ta.

Tình hữu nghị bền vững giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Anbani muôn nǎm!

Khối đoàn kết chặt chẽ trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xô vĩ đại muôn nǎm!

Hoà bình thế giới muôn nǎm!

——————————-

Nói ngày 12-6-1960.
Báo Nhân dân, số 2277, ngày 13-6-1960
cpv.org.vn

Câu chuyện về tấm gương gương mẫu tôn trọng luật lệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ngay từ thuở còn ấu thơ tôi đã được nghe những lời ru ngọt ngào: “Tháp Mười đẹp nhất bông sen, Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”

Vâng! Chủ tịch Hồ Chí Minh – một con người sinh ra từ chân lí – người Việt Nam đẹp nhất. Người đã đi xa “Phòng lặng rèm buông tắt ánh đèn” nhưng cuộc đời, sự nghiệp và tấm gương đạo đức đã trở thành bất tử. Người là kết tinh và toả sáng những gì ưu tú nhất, tốt đẹp nhất của trí tuệ và đạo đức Việt Nam. Phẩm chất và đạo đức của Người mãi mãi là tấm gương sáng ngời cho dân tộc Việt Nam noi theo.

Trong suốt cuộc đời của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và việc tu dưỡng đạo đức của người cách mạng. Tư tưởng đạo đức của Người bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc đã được hình thành trong suốt chiều dài của lịch sử, kế thừa những tinh hoa đạo đức của nhân loại để lại. Đạo đức cách mạng do Hồ Chí Minh đề xướng và cùng Đảng ta dày công xây dựng bồi đắp đó chính là “Trung, Hiếu, Nhân, Nghĩa, Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư”. Người coi đạo đức là nền tảng của người cách mạng cũng như gốc của cây, ngọn nguồn của sông núi. Bởi lẽ con đường giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước không phải là một đại lộ thẳng tắp, nó đầy chông gai và gian khổ đòi hỏi sự phấn đấu không ngừng của mọi người, mọi thế hệ. Việc chăm lo cái gốc, cái nguồn, cái nền tảng là công việc làm thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, và toàn xã hội.

Ngạn ngữ có câu. “Mọi việc bắt đầu từ lời nói”. Đại thi hào Gớt lại viết: “Khởi thủy là hành động”. Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh lời nói luôn đi đôi với hành động, điều đó đã trở thành một nguyên tắc sống. Người không chỉ là nhà giáo dục đạo đức mà còn là biểu tượng cao đẹp của đạo đức. Gần nửa cuộc đời bôn ba tìm đường cứu nước, chịu bao đắng cay gian khổ Người vẫn một lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân, sống giản dị, thanh bạch, gần gũi yêu thương con người. Cuộc đời của Người, tấm lòng của Người với quê hương đất nước là câu chuyện sinh động nhất về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Trong vô vàn những mẩu chuyện về Người, tôi thực sự tâm đắc và thấm thía trước bài học đạo đức lớn về tấm lòng trung hiếu, nhân nghĩa của Người qua câu chuyện: “Tấm gương gương mẫu tôn trọng luật lệ của chủ tịch Hồ Chí Minh. Câu chuyện được kể theo lời kể của các đồng chí cảnh vệ của Bác gồm Phan Văn Xoàn – Hoàng Hữu Kháng – Hồng Nam in trong cuốn: “Những mẫu chuyện đạo đức của Bác Hồ”

Hàng ngày, Bác thường căn dặn anh em cảnh vệ chúng tôi (Phan Văn Xoàn – Hoàng Hữu Kháng – Hồng Nam) phải luôn có ý thức tổ chức, kỷ luật, triệt để tôn trọng nội quy chung. Bác bảo: “Khi bàn bạc công việc gì, đã quyết định thì phải triệt để thi hành. Nếu đã tự đặt ra cho mình những việc phải làm thì cương quyết thực hiện cho bằng được”.

Một hôm chúng tôi theo Bác đến thăm một ngôi chùa lịch sử. Hôm ấy là ngày lễ, các vị sư, khách nước ngoài và nhân dân đi lễ, tham quan chùa rất đông. Bác vừa vào chùa, vị sư cả liền ra đón Bác và khẩn khoản xin Người đừng cởi dép, nhưng Bác không đồng ý. Đến thềm chùa, Bác dừng lại để dép ở ngoài như mọi người, xong mới bước vào và giữ đúng mọi nghi thức như người dân đến lễ.

Trên đường từ chùa về nhà, xe đang bon bon bỗng đèn đỏ ở một ngã tư bật lên. Đường phố đang lúc đông người. Xe của Bác như các xe khác đều dừng lại cả. Chúng tôi lo lắng nhìn nhau. Nếu nhân dân trông thấy Bác, họ sẽ ùa ra ngã tư này thì chúng tôi không biết làm thế nào được. Nghĩ vậy, chúng tôi bàn cử một đồng chí cảnh vệ chạy đến bục yêu cầu công an giao thông bật đèn xanh mở đường cho xe Bác. Nhưng Bác đã hiểu ý. Người ngăn lại rồi bảo chúng tôi:

– Các chú không được làm như thế. Phải gương mẫu tôn trọng luật lệ giao thông, không nên bắt người khác nhường quyền ưu tiên cho mình.

Chúng tôi vừa ân hận, vừa xúc động, hồi hộp chờ người công an giao thông bật đèn xanh để xe qua.

(Lược trích theo tác phẩm những mẫu chuyện về tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí minh – Sưu tầm).

Một câu chuyện nhỏ nhưng lại là một bài học đạo đức lớn đã để lại trong tôi biết bao suy nghĩ và cảm xúc. Tôi chợt nhớ tới câu nói nổi tiếng của một nhà hiền triết phương đông: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” có nghĩa là Dân là qúy, Nhà nước là thứ yếu, Vua là không đáng kể. Tiếp thu tư tưởng dân là quý, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong bầu trời không gì qúy bằng nhân dân”. Có thể nói đó chính là tư tưởng dân chủ của Người, nó đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh. Dân chủ không chỉ là một phạm trù chính trị mà còn là một phạm trù đạo đức bởi nó gắn với lý tưởng nhân văn, tôn trọng con người, tất cả vì con người và do con người. Cả cuộc đời của Bác là một tấm gương mẫu mực về việc tôn trọng pháp luật. Từ công việc quốc gia đại sự đến những việc làm trong cuộc sống hàng ngày Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc tôn trọng luật lệ, tuân thủ nguyên tắc sống và làm việc theo pháp luật. Là Chủ tịch nước, là lãnh tụ cao nhất của Đảng ở cương vị đầy quyền lực nhưng Người không bao giờ nghĩ đến việc dùng quyền lực. Người luôn coi mình là nô bộc của dân và luôn tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, đặc biệt là quyền dân chủ chính trị được thể hiện rõ trong tổng tuyển cử. Không đặt mình ở cương vị là Chủ tịch nước mà hơn tất cả với tư cách là một công dân có quyền bầu cử, ứng cử. Người nói: “Tôi là công dân của một Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà nên tôi không thể vượt khỏi thể lệ của tổng tuyển cử đã định. Tôi đã ra ứng cử ở Hà Nội nên cũng không thể ra ứng cử ở nơi nào nữa” và Người yêu cầu nhân dân hãy thực hiện quyền công dân của mình để đảm bảo tự do dân chủ thực sự.

Trong tư tưởng dân chủ của mình Bác cho rằng dân chủ phải gắn với quyền hạn. Quyền hạn đi đôi với nghĩa vụ cũng có nghĩa là dân chủ phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật. Sống trong một xã hội dân chủ ai cũng phải tuân theo những quy tắc chung. Xã hội dân chủ là một đất nước có trật tự kỷ cương đảm bảo cho mọi người cùng có quyền tự do dân chủ như nhau. Đứng đầu Nhà nước, Người rất nghiêm khắc đòi hỏi mọi tổ chức Đảng cùng tuân thủ pháp luật, không ai được đứng trên hay ngoài pháp luật. Đó chính là tư tưởng “phụng công thủ pháp”. Sự thi hành pháp luật còn quan trọng hơn là tạo ra nó, chính vì thế là một lãnh tụ được dân qúy dân yêu nhưng không bao giờ Người cho phép mình đứng trên nhân dân, không bao giờ Người đòi hỏi cho mình bất cứ một ngoại lệ nào có tính chất đặc quyền đặc lợi. Bước chân vào ngôi chùa cổ Người đã tuân theo đúng quy định với khách thập phương: cởi dép vào lễ chùa. Đó là một cử chỉ giản dị mà vô cùng cao đẹp thể hiện cái tâm trong sáng thành kính của Người trước sự linh thiêng chốn chùa chiền. Đứng trước một ngã tư đèn đỏ, Người đã nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ giao thông như bao người dân khác. Chỉ vậy thôi cũng đủ cho ta thấy cái lớn lao vĩ đại của một con người luôn tôn trọng kỷ cương phép nước không nhận bất cứ một ngoại lệ, một đặc quyền nào cho riêng mình.

Không chỉ vậy Người còn luôn tôn trọng và đề cao quyền tự do dân chủ của con người. Trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945, Người đã nhắc lại lời tuyên bố trong Tuyên ngôn Nhân quyền – Dân quyền 1791 của Pháp: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do bình đẳng về quyền lợi” và Người khẳng định : “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Lẽ phải đó đã được Người thực hiện bằng chính cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của mình. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh không theo một tôn giáo nào, nhưng không vì thế mà Người không coi trọng vấn đề tôn giáo. Người chủ trương thực hiện dân chủ nhân quyền và tự do tôn giáo. Dù theo đạo Phật hay đạo Thiên chúa hay bất cứ một tôn giáo nào đều giáo dục con người ta hướng tới cái thiện cái đẹp. Chính vì thế khi bước chân vào ngôi chùa cổ Người thực sự như một phật tử thành tâm hướng thiện. Trước con mắt của du khách nước ngoài, của các vị tăng ni phật tử và bà con, một vị Chủ tịch nước gần gũi hoà mình với nhân dân, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng đã khiến họ vô cùng cảm phục.

Đất nước ta đã hội nhập và đang trên đà phát triển. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được chúng ta không thể phủ nhận những tồn tại yếu kém cũng như những khó khăn thử thách ở phía trước. Vẫn còn đó một số ít cán bộ chưa thực sự gương mẫu, tham ô tham nhũng tài sản của nhà nước, quan liêu hách dịch, cậy thế ỷ quyền nhũng nhiễu nhân dân, coi thường pháp luật . Mặt khác các thế lực thù địch trong và ngoài nước với những âm mưu “diễn biến hoà bình” nhằm hạ thấp uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng ta đối với sự nghiệp cách mạng, luôn đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta thực hiện vấn đề dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo. Đứng trước các con số khổng lồ về số vụ tai nạn giao thông ở nước ta hiện nay, tôi thiết nghĩ câu chuyện trên sẽ là bài học đạo đức lớn cho chúng ta noi theo. Vào những năm đầu khi đất nước ta mới giành được độc lập, tuy là một nhà nước còn non trẻ nhưng Bác đã rất chú trọng đến các vấn đề thiết thực trong đời sống như dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo và an toàn giao thông.Việc Bác gương mẫu thực hiện đúng những quy định về bầu cử, về luật lệ giao thông đã thể hiện được cái tâm và cái tầm của một người lãnh đạo hết lòng lo cho dân cho nước.

Những mẩu chuyện không xa vời, huyễn hoặc mà rất gần gũi thiết thực đã trở thành một di sản tinh thần quý báu của dân tộc. Đó chính là nhân cách Hồ Chí Minh mà ngày nay đã trở thành nhân cách dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam trong thời đại mới. Vượt qua lửa đạn của chiến tranh, vượt qua quy luật khắc nghiệt của thời gian, những bài học đạo đức của Người đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Mọi thế hệ người Việt Nam đã và đang nguyện suốt đời học tập rèn luyện theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Có biết bao con người đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, nêu gương đạo đức Hồ Chí Minh cho tất cả chúng ta học tập. Trong vô vàn những con người ấy phải kể đến vị trí thức yêu nước ( luôn là thần tượng của Tôi trong những ngày còn ngồi ở giảng đường trường Đại học luật TP.HCM người học trò xuất sắc của Hồ Chí Minh: Luật sư Nguyễn Hữu Thọ .Con người ấy, cuộc đời ấy đã làm xúc động hàng triệu trái tim người Việt Nam nói chung và những người là luật gia, luật sư như chúng tôi nói chung bằng tấm gương đạo đức, bằng sự cống hiến cho sự nghiệp xây dựng nền pháp luật non trẻ của nước CHXHCN Việt Nam .

Tiếp nối truyền thống đạo đức của dân tộc và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh- Người thầy vĩ đại của mọi thời đại – là một người cán bộ pháp chế của Tổng Công ty Điện lực TP.HCM, một luật gia của Chi hội luật gia EVNHCMC, luật sư của Đòan Luật sư TP.HCM tôi luôn tâm niệm và đang không ngừng rèn luyện để có được những phẩm chất đạo đức cách mạng không thể thiếu của một người cán bộ làm công tác pháp luật. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi tôn chỉ sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật được xem là chủ trương quan trọng nhất trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền tại Việt Nam, với vai trò vừa là cán bộ pháp chế, vừa là thành viên chi hội luật gia Tổng công ty Điện lực TP.HCM, tôi sẽ luôn đi đầu trong công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật cho cán bộ CNV trong Tổng Công ty Điện lực TP.HCM nói chung và Công ty Điện lực Gia Định nói riêng và sẽ không ngừng trau dồi đạo đức cách mạng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để trở thành một tấm gương đạo đức và tự học. Là luật gia chúng tôi không chỉ phổ biến tuyên truyền pháp luật, chính sách của Đảng và nhà nước và người lao động mà còn phải đi đầu trong công tác chống lại mọi hành vi tham nhũng lãng phí, các lọai tội phạm đi ngược lại sự phát triển của đất nước, khai phá mọi rào cản sự phát triển của xã hội hướng tới mục tiêu công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là một nhiệm vụ vô cùng cao cả và thiêng liêng, chính vì thế tôi luôn cố gắng rèn mình, sửa mình từ lời nói, cử chỉ, hành động của minh trong công việc hàng ngày, trong họat động của Hội luật gia và trong những vụ việc do Đòan luật sư TP.HCM phân công, tôi nguyện suốt đời sống, chiến đấu, học tập theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, hướng dẫn cho đồng nghiệp, nhân viên dưới quyền có thể kế tục sự nghiệp quang vinh mà Người để lại.

Từ những bài học đạo đức của Người, đặc biệt qua câu chuyện tôi vừa kể trên đây, tôi thực sự xúc động và kính phục trước cuộc đời của một vị lãnh tụ vĩ đại, một tấm gương mẫu mực của mọi thời đại. Tôi luôn thầm hứa và nhắc nhở mình phải sống xứng đáng với nghề nghiệp chân chính của mình : Người luật sư của nhân dân.

Có thể nói cuộc đời và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử và đời sống tâm hồn dân tộc Việt Nam. Đó chính là chất người cộng sản toả ánh hào quang soi đường chỉ lối cho mọi thế hệ người Việt, cho bạn, cho tôi và cho tất cả chúng ta. Qua những câu chuyện kể về Người có thể mỗi người sẽ có những cảm nhận khác nhau nhưng bao trùm lên tất cả là tình cảm trân trọng biết ơn.

Luật gia Khương Kim Tuấn – PCGĐ
hcmpc.com.vn

Lời giới thiệu Tập 11

Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 11, bao gồm những bài viết, bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ tháng 1-1963 đến tháng 12-1965.

Các tác phẩm trong tập này phản ánh đầy đủ và sinh động tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn Người cùng với Ban Chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng là xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa và hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện mục tiêu chung là hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

Trước hết, những bài viết, bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian này thể hiện tư tưởng chỉ đạo của Người về cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Người nhắc nhở: chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh một nuớc nông nghiệp lạc hậu, lại bị chiến tranh xâm lược tàn phá. Chúng ta quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội không trải qua con đường phát triển tư bản chủ nghĩa, lại trong hoàn cảnh đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền, phải tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược khác nhau.

Hoàn cảnh đó gây ra cho chúng ta không ít khó khǎn. Vì vậy, nhân dân ta phải “dũng cảm phấn đấu, vượt mọi khó khǎn, để xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần… chẳng những là vì hạnh phúc của đồng bào ta ở miền Bắc mà còn vì cuộc đấu tranh thần thánh của toàn dân ta để hoà bình thống nhất nước nhà”(tr. 21).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những khó khǎn, nhược điểm và yếu kém trong nền kinh tế của nước ta, nhất là về tổ chức và quản lý kinh tế. Vì vậy, Người đã cùng Trung ương Đảng đề ra ba cuộc vận động lớn: cuộc vận động cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật trong nông nghiệp; cuộc vận động nâng cao ý thức trách nhiệm, tǎng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu, gọi tắt là cuộc vận động “3 xây, 3 chống” và cuộc vận động đồng bào miền xuôi lên tham gia phát triển kinh tế và vǎn hoá miền núi. Người nói: “chúng ta phải thật thà nhận rõ những khuyết điểm và nhược điểm, để kiên quyết sửa chữa: như ý thức làm chủ nước nhà và tinh thần trách nhiệm còn kém. Chế độ và phương pháp quản lý kinh tế tài chính của chúng ta còn nhiều thiếu sót và lỏng lẻo. Kỷ luật lao động chưa được thật nghiêm túc, Sử dụng lao động chưa được hợp lý. Khả nǎng thiết bị máy móc tuy có khá nhiều nhưng chưa được sử dụng đầy đủ” (tr.109). Vì vậy “mà nǎng suất lao động bình quân tǎng rất chậm, sản xuất phát triển chưa được mạnh mẽ, vững chắc và cân đối…, đời sống vật chất của nhân dân chưđược cải thiện nhiều” (tr. 109). Dưới sự chỉ đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, các cuộc vận động trên đã lôi cuốn hàng triệu người sôi nổi tham gia bàn định phương hướng và kế hoạch sản xuất, cải tiến kỹ thuật, tạo ra một sự chuyển biến mạnh mẽ trong nền kinh tế quốc dân, góp phần quan trọng vào việc nâng cao đời sống của nhân dân.

Tháng 3-1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt nhằm tǎng cường hơn nữa sự đoàn kết nhất trí trong toàn dân trước âm mưu tǎng cường và mở rộng chiến tranh của đế quốc Mỹ. Bản báo cáo của Người tại Hội nghị là một vǎn kiện rất quan trọng, tổng kết những thành tích xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và thắng lợi của quân, dân ta đánh Mỹ – ngụy ở miền Nam trong l0 nǎm, từ 1954 đến 1964. Về những thành quả trong mười nǎm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Trong 10 nǎm qua, miền Bắc nuớc ta đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Đất nước,xã hội và con người đều đổi mới” (tr. 224).“Làng xóm ta xưa kia lam lũ quanh nǎm mà vẫn quanh nǎm đói rách. Làng xóm ta ngày nay bốn mùa nhộn nhịp cảnh làm ǎn tập thể. Đâu đâu cũng có trường học, nhà gửi trẻ, nhà hộ sinh, câu lạc bộ, sân và kho của hợp tác xã, nhà mới của xã viên. Đời sống vật chất ngày càng ấm no, đời sống tinh thần ngày càng tiến bộ” (tr. 225). Đồng thời, trong báo cáo Người cũng đề ra những nhiệm vụ trước mắt cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta phải phấn đấu hoàn thành để đưa sự nghiệp cách mạng nước ta tiến lên giành những thắng lợi mới. Tại Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi “mỗi người chúng ta phải làm việc bằng hai để đền đáp lại cho đồng bào miền Nam ruột thịt” (tr.227)

Thắng lợi của Hội nghị đã đem lại một không khí phấn khởi trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, làm cho mọi người thêm tin tưởng, hǎng hái vươn lên làm tròn nhiệm vụ, trước hết là hoàn thành thắng lợi kế hoạch Nhà nước nǎm 1964 và kế hoạch 5 nǎm lần thứ nhất.

Các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn này còn cho thấy mối quan tâm của Người đến đời sống vǎn hoá – tinh thần của nhân dân. Theo Người, chủ nghĩa xã hội không chỉ làm cho mọi người dân có đời sống vật chất ấm no, mà còn phải có đời sống vǎn hoá – tinh thần phong phú. Các bài : Bài nói tại Hội nghị tổng kết phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt” của ngành giáo dục phổ thông và sư phạm; Bài nói tại Hội nghị Tuyên giáo miền núi; Bài nói tại Đại hội thanh niên Thủ đô; Bài nói tại Trường đại học Sư phạm Hà Nội, v.v. đã thể hiện những quan điểm của Người về cách mạng tư tưởng và vǎn hoá diễn ra đồng thời với cách mạng về quan hệ sản xuất và cách mạng khoa học – kỹ thuật, nhằm xoá bỏ những tàn dư tư tưởng, thói hư tật xấu do xã hội cũ để lại, xây dựng một nền vǎn hoá mới với nội dung xã hội chủ nghĩa và đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người mới, lối sống mới và đạo đức mới xã hội chủ nghĩa. Người viết: “Muốn xây dựng một xã hội mới và tốt đẹp, thì cần phải tiêu diệt những thói hư, tật xấu của xã hội cũ còn sót lại. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải bồi dưỡng con người xã hội chủ nghĩa. Con người xã hội chủ nghĩa là con người có đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng” (tr. 110).

Trải qua hơn l0 nǎm xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Bắc đã có những bước phát triển hết sức to lớn trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trở thành cǎn cứ địa vững chắc cho cách mạng cả nước, hoàn thành được nhiệm vụ của hậu phương lớn là không ngừng chi viện sức người, sức của cho miền Nam ruột thịt.

Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nhân dân ta ở miền Nam đã vượt qua muôn vàn khó khǎn thử thách và liên tiếp giành được những thắng lợi to lớn trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai, đưa sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam tiến lên từng bước vững chắc.

Trong thời gian này, Người đã viết nhiều vǎn kiện quan trọng, phân tích một cách chính xác tình hình và triển vọng của cách mạng miền Nam, vạch trần bản chất xâm lược của cuộc chiến tranh mà đế quốc Mỹ đã gây ra ở miền Nam, đồng thời chỉ ra phương hướng, nhiệm vụ cho nhân dân ta tiến lên giành những thắng lợi mới, to lớn hơn nữa. Trả lời một nhà báo Mỹ, Người nói: “Đã mười nǎm nay, tất cả các Chính phủ Mỹ và tất cả bọn tay sai của chúng muốn dùng sức mạnh tàn bạo của chúng hòng đè bẹp sức kháng chiến của nhân dân một dân tộc anh hùng. Chúng muốn biến 14 triệu đồng bào miền Nam chúng tôi thành những người nô lệ, biến miền Nam đất nước chúng tôi thành thuộc địa kiểu mới, một cǎn cứ quân sự, để uy hiếp nền độc lập của các nước ở Đông Dương và Đông – Nam áđể tiến công miền Bắc chúng tôi” (tr. 273). Nhưng “Nhân dân miền Nam anh dũng quyết không lùi bước trước mũi súng của kẻ xâm lược và lũ bán nước. Đồng bào chúng tôi thà hy sinh hết thảy, nhưng quyết không chịu làm nô lệ” (tr.274).

Sau thất bại thảm hại của kế hoạch Xtalây – Taylo, tháng 3-1964, đế quốc Mỹ thực hiện kế hoạch Giônxơn – Mắc Namara nhằm bình định miền Nam trong vòng hai nǎm (1964-1965). Song, mọi âm mưu của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đã vấp phải sức kháng cự vô cùng mãnh liệt của các tầng lớp nhân dân cả nước, trực tiếp là nhân dân miền Nam. Những chiến thắng Bình Giã, Plây Cu, Ba Gia, Đồng Xoài… của nhân dân miền Nam đã làm phá sản hoàn toàn chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ, tạo ra những lực lượng rất lớn về vật chất và tinh thần để tiến lên đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cuộc”chiến tranh đặc biệt” mà chúng đang thí nghiệm ở miền Nam Việt Nam đã thất bại, thì chúng cũng sẽ thất bại ở bất kỳ nơi nào khác. Đó là ý nghĩa quốc tế của cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam ta đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới” (tr.228).

Thất bại trong chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ ồ ạt đưa thêm hàng chục vạn quân Mỹ vào miền Nam, đồng thời cho hàng trǎm máy bay và tàu chiến tǎng cường đánh phá miền Bắc. Phân tích thế bị động về chiến lược này, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Bị thua to và sa lầy ở miền Nam, chúng muốn mở rộng chiến tranh đến miền Bắc hòng gỡ thế bí. Như thế khác nào con chó sói hai chân sau đã bị kẹt vào cạm bẫy, muốn thò cả hai chân trước vào cạm bẫy nữa để giải thoát cho hai chân sau! Thật là ngu xuẩn!” (tr. 404). Người khẳng định: “Kế hoạch Taylo đã tiêu tan. Kế hoạch Mắc Namara cũng phá sản. Kế hoạch “leo thang” mà hiện nay đế quốc Mỹ đang cố thực hiện ở miền Bắc cũng nhất định sẽ thất bại. Dù Mỹ đưa thêm mấy chục vạn binh sĩ Mỹ và cố lôi kéo thêm quân đội các nước chư hầu vào cuộc chiến tranh tội ác này, thì quân và dân ta cũng quyết đánh thắng chúng” (tr.432). Người kêu gọi: “Lúc này chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước”(tr. 434), “dù phải chiến đấu 5nǎm, 10 nǎm, 20 nǎm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn” (tr. 470).

“Chống lại và làm thất bại những hành động xâm lược của đế quốc Mỹ để bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ quyền sống, đó là quyền thiêng liêng của mọi người dân Việt Nam ở miền Bắc cũng như ở miền Nam. Bọn đế quốc Mỹ dù có hành động điên cuồng liều lĩnh đến đâu, cũng không thể nào ngǎn cản nổi nhân dân Việt Nam tiếp tục cuộc chiến đấu yêu nước cho đến thắng lợicuối cùng” (tr. 428).

Bị thua đau về quân sự lại bị nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới lên án, Tổng thống Mỹ đã đối phó bằng luận điệu “hoà bình” dối trá, tuyên bố “sẵn sàng thảo luận không điều kiện”. Vạch trần thủ đoạn lừa bịp đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Để lập lại hoà bình, chỉ có một con đường đúng đắn, là Mỹ phải làm đúng Hiệp định Giơnevơ nǎm 1954 về Việt Nam và cuốn gói rút lui có trật tự”(tr. 439), “Nếu đế quốc Mỹ khôn hồn theo con đường thứ hai, nhân dân Việt Nam sẽ sẵn sàng hoan tống họ một cách lịch sự ” (tr. 405).

Phối hợp với mặt trận quân sự, Người mở rộng mặt trận đấu tranh ngoại giao. Trong các bài trả lời phỏng vấn của phóng viên thông tấn, báo chí nước ngoài, Người đã nêu cao lập trường chính nghĩa và thiện chí hoà bình của nhân dân ta, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của các nước anh em và bè bạn, của các tổ chức quốc tế và nhân dân yêu chuộng hoà bình, công lý trên thế giới, bao gồm cả nhân dân tiến bộ Mỹ. Người quan tâm củng cố khối đoàn kết truyền thống giữa nhân dân ba nước Đông Dương trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung. Người cũng chǎm lo cho việc hình thành trong thực tế một Mặt trận thống nhất phản đế giữa nhân dân Việt – Mỹ, để“Nhân dân Mỹ đánh từ trong ra,nhân dân ta đánh từ ngoài vào. Hai bên giáp công mạnh mẽ, thì đế quốc Mỹ nhất định sẽ thua, nhân dân Việt- Mỹ nhất định sẽ thắng” (tr. 524).

Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đang dâng cao thì trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế diễn ra cuộc khủng hoảng về đường lối, dẫn đến nguy cơ phân liệt. Trong tình hình đó, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn giương cao ngọn cờ đoàn kết, chủ trương giải quyết mọi bất đồng giữa các đảng và các nước anh em trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản. Trả lời phỏng vấn của một nhà báo nước ngoài về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Lịch sử phong trào cách mạng thường có những mâu thuẫn, có những cuộc đấu tranh về tư tưởng, nhưng kết quả là chủ nghĩa Mác – Lênin thắng lợi, cách mạng ngày càng phát triển.

Chúng tôi tin rằng cuộc đấu tranh tư tưởng trong phe xã hội chủ nghĩa, tuy còn khó khǎn, nhưng sẽ được giải quyết tốt đẹp. Trong cuộc đấu tranh ấy, chúng tôi luôn luôn giữ thái độ kiên trì đoàn kết trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, bảo vệnhững nguyên tắc cách mạng của hai bản Tuyên bố Mátxcơva 1957 và 1960″ (tr.313). Thực tiễn cách mạng Việt Nam những nǎm qua, chứng tỏ đường lối nói trên là đúng đắn, ngày nay, vẫn giữ nguyên ý nghĩa chỉ đạo đối với chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.

Trong tập này, bạn đọc cũng tìm thấy những quan điểm và những biện pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác xây dựng Đảng. Các tác phẩm như: Đoàn kết tiến lên giành thắng lợi mớiBài nói tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Nam Định; Những chi bộ tốt; Bài nói tại Hội nghị bồi dưỡng chỉnh huấn do Trung ương triệu tập, v.v. đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến việc nâng cao trình độ tư tưởng và lý luận của cán bộ, đảng viên; kiện toàn các cấp uỷ đảng địa phương và các tổ chức cơ sở đảng; cải tiến công tác lãnh đạo và lề lối làm việc, chống các tệ quan liêu mệnh lệnh, tǎng cường mối quan hệ với quần chúng. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên phải thường xuyên nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực tự cường, đề cao tinh thần trách nhiệm, chống mọi ảnh hưởng của chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa giáo điều, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, bảo vệ sự đoàn kết nhất trí trong Đảng. Người viết: “Mỗi chi bộ của Đảng phải là một hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên hệ mật thiết với quần chúng, phát huy được trí tuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng. Mỗi cấp bộ của Đảng phải là một cơ quan lãnh đạo vững chắc ở địa phương, theo đúng đường lối, chính sách của Trung ương” (tr.23). Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhắc nhở: “Đảng ta là một Đảng phấn đấu hy sinh vì lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, của giai cấp vô sản, chứ không vì lợi ích nào khác. Nhưng số người đó coi Đảng như một cái cầu thang để thǎng quan phát tài. Họ không quan tâm đến đời sống của nhân dân mà chỉ lo nghĩ đến lợi ích của riêng mình. Họ quên rằng mỗi đồng tiền, hạt gạo đều là mồ hôi nước mắt của nhân dân, do đó mà sinh ra phô trương, lãng phí. Họ tự cho mình có quyền sống xa hoa hưởng lạc, từ đó mà đi đến tham ô, trụy lạc, thậm chí sa vào tội lỗi” (tr.374). Hơn 30 nǎm đã trôi qua, song những quan điểm nêu trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng vẫn còn ý nghĩa thời sự trong công cuộc đổi mới hiện nay ở nước ta.

Tập 11 của bộ Hồ Chí Minh Toàn tập, xuất bản lần thứ hai, gồm có 227 bài. So với lần xuất bản trước, lần này được bổ sung thêm 45 bài, trong đó có 13 bài lần đầu tiên được công bố. Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong sưu tầm, đối chiếu, xác minh, song do hạn chế về thời gian, chắc chắn tập sách này vẫn không tránh khỏi còn thiếu sót. Chúng tôi mong được sự góp ý của bạn đọc gần xa.

VIỆN NGHIÊN CỨU CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

cpv.org.vn


Bạn muốn download trọn bộ Hồ Chí Minh toàn tập
Tập 11 (1963 – 1965) hãy nhấn vào đây Down load

Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa

Trong xu thế toàn cầu hóa như hiện nay, quan điểm và ý đồ đồng nhất hóa các giá trị văn hóa, các chuẩn mực xã hội theo một mô hình nào đó tự cho là kiểu mẫu đối với toàn bộ thế giới đang tồn tại và trở thành vấn đề tập trung chú ý của nhiều quốc gia, với những phản ứng khác nhau.

Tại hội nghị của Đại hội đồng UNESCO lần thứ 31 diễn ra từ ngày 13-10 đến 3-11-2001 tại Pari, vấn đề tôn trọng sự đa dạng văn hóa với lòng khoan dung, tránh tư tưởng áp đặt do UNESCO đề xuất đã thu hút sự quan tâm của toàn thể đại hội đồng. Điều này cho thấy tất cả các dân tộc đều ý thức khá sâu sắc rằng tôn trọng bản sắc của từng nền văn hóa là vấn đề cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong khi phấn đấu vì một thế giới chung sống hòa bình. Tuy nhiên, cũng từ đây lại đặt ra vấn đề có ý nghĩa không kém phần quan trọng nữa là, để thực hiện tốt quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa, tạo cơ sở cho việc xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, thì trước hết nền văn hóa của mỗi dân tộc phải mang dấu ấn và sức sống riêng, vì thực tế “sự linh hoạt chỉ mang lại hiệu quả khi nó được tiến hành trên cái ổn định”.

Hồ Chí Minh với tư cách là một nhà nhân văn chân chính, nhà văn hóa kiệt xuất ngay từ rất sớm đã nắm bắt được quy luật hình thành, vận động và phát triển của một nền văn hóa. Trong nhận thức của Người, “Văn hóa Việt Nam chứa đựng sự kỳ diệu giữa cái ổn định và cái linh hoạt” bởi lẽ nền văn hóa này có sợi dây liên hệ bền chặt với cuộc sống. Và, một trong những nội dung cơ bản trong tư tưởng của Người về văn hóa đó là “Văn hóa phải gắn liền với cuộc sống”. Tư tưởng cốt lõi này trở thành nội dung xuyên suốt được quán triệt sâu sắc góp phần mang lại nét độc đáo riêng có trong hầu hết các giá trị văn hóa mà Hồ Chí Minh để lại.

Qua nghiên cứu nhận thức của Hồ Chí Minh về văn hóa, chúng ta nhận thấy Người đã xuất phát từ phạm trù “sinh tồn” để kiến giải phạm trù văn hóa.

Người coi văn hóa là kết quả tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt của loài người thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa là một bộ phận hợp thành toàn bộ đời sống xã hội. Từ sự nhận thức đó, Hồ Chí Minh chỉ ra: kiến thiết xã hội phải có bốn lĩnh vực (kinh tế – chính trị – văn hóa – xã hội) cùng được coi trọng. Trong đó, văn hóa ở vào vị trí trung tâm, có vai trò điều tiết xã hội. Theo Người muốn xác định vai trò đó, mọi hoạt động văn hóa phải thực sự hòa quyện, thâm nhập vào cuộc sống muôn màu, muôn vẻ của đông đảo quần chúng nhân dân với đầy đủ những mảng tối sáng đầy góc cạnh của nó làm đối tượng phản ánh và phục vụ. Quan trọng hơn, văn hóa phải “thiết thực phục vụ nhân dân, góp phần vào việc nâng cao đời sống vui tươi lành mạnh của quần chúng” (Hồ Chí Minh toàn tập, Tr. 10, Tr. 59) góp phần “soi đường cho quốc dân đi”, tạo sức mạnh dời non lấp bể như gốc của cây, nguồn của sông. Theo lôgíc của lập luận này, Hồ Chí Minh khẳng định chính đời sống hiện thực là “kho tài nguyên vô tận” để khơi đậy những mạch nguồn sáng tạo. Nếu người cán bộ văn hóa xa rời cuộc sống, đứng ngoài cuộc sống, không theo kịp mạch đập của cuộc sống tất sẽ phải đối diện với sự khô héo, cằn cỗi, nghèo nàn và nhàm chán trong chính sáng tạo của mình. Ngược lại, nếu biết bắt nhịp với cuộc sống đời thường vốn trần trụi, gai góc và đang hối hả trào tuôn thì khi đó văn hóa sẽ được sống bằng nguồn năng lượng vô cùng mà đời sống trao cho.

Gắn văn hóa với đời sống, Hồ Chí Minh xác định cơ chế vận hành của nền văn hóa trên trục trung tâm là các hoạt động của con người. Từ chỗ đặt các vấn đề văn hóa của con người vào vị trí những dự kiến quan trọng nhất, Người cho rằng con người với tư cách là chủ thể sáng tạo văn hóa – chủ thể cuộc sống, chủ thể của quá trình lao động sản xuất phải được bồi dưỡng, vun đắp.

Thực chất của những tư tưởng này là, Hồ Chí Minh không chỉ coi trình độ, các giá trị nhân bản là “chất liệu”, là “sự nghiệp trăm năm của văn hóa”, mà văn hóa phải là động lực cho sự phát triển. Vì vậy quan điểm này không chỉ có ý nghĩa định hướng cho việc xây dựng một nền văn hóa thuộc về con người, quan trọng hơn còn chỉ ra cơ sở mang lại sức sống mãnh liệt cho văn hóa.

Công cuộc đổi mới, xây dựng CNXH ở nước ta hiện nay thực sự là cuộc hành trình đến những giá trị văn hóa đích thực nhất. Bởi lẽ, CNXH chính là biểu trưng giá trị cao đẹp nhất, sáng tạo nhất mà dân tộc Việt Nam có thể xem là một chủ thể xứng đáng. Tuy nhiên, hành trình đến CNXH không là con đường bằng phẳng trơn tru. Thực tiễn đang có nhiều vấn đề mới nảy sinh, trong đó xu hướng toàn cầu hóa với việc mở cửa, hội nhập đang đòi hỏi mỗi dân tộc cần thiết phải khẳng định bản lĩnh của mình. Trong tất cả những sức mạnh cần khẳng định, sức mạnh văn hóa cần thiết phải đặt vào vị trí hàng đầu, vì “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là tầm cao, chiều sâu về trình độ phát triển của dân tộc, kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa người với người, người với xã hội, với thiên nhiên. Văn hóa là động lực, mục tiêu của sự nghiệp cách mạng”.

Nói như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, “Văn hóa là đổi mới, đổi mới là văn hóa”. Vì vậy trong sự nghiệp đổi mới đầy khó khăn, văn hóa phải đóng vai trò là nguồn động lực quan trọng. Nguồn động lực ấy sẽ trở nên dồi dào nếu nền văn hóa được xây dựng, giữ gìn và phát huy đúng hướng. Muốn thế, phương châm của mọi hoạt động văn hóa phải xuất phát từ cuộc sống, đi sâu phản ánh những cơ tầng đa diện, sâu sắc của cuộc sống và hướng đến phục vụ cuộc sống.

THI AN
baobinhdinh.com.vn

Về bên Bác

Đại tá Trần Ngọc Bích (người đứng giữa hàng thứ nhất) hội ngộ cùng các cựu chiến binh Trung đoàn Không quân 916

Đã công tác ở Ban Đón tiếp nhiều năm, đã chứng kiến không ít những câu chuyện cảm động về tình cảm của nhân dân Việt Nam đối với Bác kính yêu, nhưng cuộc hội ngộ của ba người phi công già, ở tuổi thất thập cổ lai hy, đã từng lái trực thăng chuyên cơ phục vụ Bác Hồ giữa Quảng trường Ba Đình ngày 17/3/2012 đã thực sự gây xúc động cho những người phục vụ tại Lăng Bác ngày hôm đó, trong đó có tôi.

Trong đoàn người vào xem phim, nghe giới thiệu tại Khu tập kết số 8 Hùng Vương của Đoàn Cựu chiến binh Trung đoàn Không quân 916 hôm ấy có ba người phi công già cứ đứng lặng ôm nhau hồi lâu. Đó là Đại tá Trần Ngọc Bích – người lái trực thăng chuyên cơ của Bác Hồ, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 916; ông Hoàng Cần, nguyên Trưởng phòng Dẫn đường Quân chủng Phòng không – Không quân, người dẫn đường trong đội chuyên cơ của Bác Hồ; Anh hùng lực lượng vũ trang, Đại tá Nguyễn Đình Khoa, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn Không quân 916, ông cũng là học trò của thầy giáo Trần Ngọc Bích. Họ có một điểm chung là cùng được phục vụ Bác Hồ lúc sinh thời. Gặp nhau tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi người trong số họ đều nhớ lại những kỷ niệm riêng của mình đối với vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu – Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đại tá Trần Ngọc Bích đã có hơn 32 năm với số lượng giờ bay kỉ lục là hơn 8.000 giờ ngồi sau cần lái trực thăng. Ông được đồng đội gọi với cái tên trìu mến “Anh cả của làng trực thăng Việt Nam”. Hạnh phúc nhất của đời ông là khoảng thời gian đặc biệt 9 năm thực hiện các chuyến bay phục vụ Bác Hồ. Năm 1958, Liên Xô tặng Việt Nam một chiếc máy bay Mi-4 và cử ba chuyên gia phụ trách. Năm 1960, tổ lái của Trần Ngọc Bích, Hoàng Trọng Khai đã tiếp nhận nhiệm vụ thay chuyên gia nước bạn, đảm nhận việc chuyên chở lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các chuyến công vụ ngoại giao trong nước.

Khi tôi hỏi về những kỷ niệm trong 9 năm (1960-1969) được chở Bác Hồ đi công tác, Đại tá Trần Ngọc Bích đang sôi nổi trở nên sâu lắng: Học Cụ Hồ khó lắm. Vì cụ quá giản dị trong cương vị của một bậc lãnh tụ. Trí tuệ cụ cao siêu, tài giỏi, song lại gần gũi, chân tình như một người thân của mỗi người. Tôi đã rất cố gắng, song chỉ học được ở Cụ vài phần. Hình ảnh Bác Hồ luôn nằm trong sâu thẳm trái tim những người lính bay.

Đại tá Trần Ngọc Bích nhớ lại lần đầu tiên được gặp Bác. Người ân cần hỏi thăm quê quán, hoàn cảnh gia đình và dặn dò cố gắng công tác cho tốt. Một số lần, thường là vào sáng Chủ Nhật, tốp bay của ông Trần Ngọc Bích nhận nhiệm vụ chở Bác Hồ đến khu vực Đá Chông thuộc huyện Ba Vì, Hà Tây cũ (nay là Hà Nội), được đặt biệt danh là K9 làm việc. Ông kể: Bác thường ăn cơm với mọi người. Bác ăn chậm rãi, rất ít và Bác thường ăn xong trước. Đồng chí Vũ Kỳ nháy mắt: Nào anh em, ta “chiến đấu tiếp”. Có lần ông Trần Ngọc Bích nói vui với đồng chí Vũ Kỳ: Cho phi công ăn riêng, chứ ăn với Bác, hôm nào cũng ngồi lại sau, xấu hổ lắm, ăn không no. Tưởng nói cho vui, ai ngờ trong bữa ăn, đồng chí Vũ Kỳ thưa lại với Bác, Trần Ngọc Bích “chết đứng như Từ Hải”. Bác cười: “Đúng rồi. Các cháu phi công phải ăn cho no mới có sức khoẻ để làm việc”. Rồi Người bảo mang thêm một đĩa cơm to đến cho anh em.

Ngoài nhiều lần được ăn cơm cùng Bác khi đi công tác, trong thời gian phục vụ Bác, ông Trần Ngọc Bích cùng tổ bay được Bác mời đến nơi ở và làm việc của Người ở Hà Nội dùng cơm hai lần. Một lần, Bác mời riêng tổ bay của Trần Ngọc Bích và một lần khác, trong buổi chia tay ba chuyên gia Liên Xô hoàn thành nhiệm vụ trở về nước. Sau bữa cơm, ông Trần Ngọc Bích và tốp bay được Bác mời xem bộ phim tài liệu “Đoàn cán bộ miền Nam ra thăm miền Bắc”.

Phi công Trần Ngọc Bích còn nhớ mãi chuyến bay vào tháng 3 năm 1969, nhận nhiệm vụ chở Bác từ sân bay Nội Bài về Bạch Mai. Ông có ngờ đâu đó là chuyến bay cuối cùng được phục vụ Bác Hồ. Trong nhà, Đại tá Trần Ngọc Bích dành một nơi trang trọng nhất để thờ Bác Hồ. Phía dưới chân dung Bác là một bức ảnh đặc biệt do đồng đội tặng: 5 chiếc máy bay trực thăng Mi-8 mang theo cờ Tổ quốc diễu hành trên Lăng Bác. Trần Ngọc Bích là một trong 5 phi công lái chính của tốp bay đặc biệt đó.

Đoàn Cựu chiến binh Trung đoàn Không quân 916 vào Lăng viếng Bác

Cùng hội tụ về bên Bác hôm nay, các cựu chiến binh anh dũng năm xưa đều không nén nổi xúc động khi được gắn Huy hiệu của Người, phần thưởng dành riêng cho các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, các Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động. Thay mặt đoàn, Đại tá Trần Ngọc Bích đã viết trong sổ cảm tưởng của Lăng: Hôm nay, chúng cháu là phi công của Trung đoàn Không quân 916 được về viếng Bác. Trước đây chúng cháu được phục vụ Bác lúc sinh thời, chúng cháu vô cùng tự hào. Nay trở về viếng Bác chúng cháu vô cùng cảm kích, vô cùng xúc động. Chúng cháu xin hứa với Bác sẽ tiếp tục phát huy truyền thống người chiến sỹ không quân và các thế hệ phi công nguyện suốt đời phục vụ Đảng, Nhà nước, rèn luyện học tập theo tấm gương của Người. Chúng cháu sẽ làm mọi nhiệm vụ cho Tổ quốc Việt Nam./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Người Việt duy nhất từng phiên dịch trong sứ quán TQ

– Ông Vũ Thuần chậm rãi nhớ lại: “Phải gần nửa thế kỷ sau, trong một dịp vào thăm Bảo tàng Cách mạng, lần đầu tiên tôi được nhìn thấy tấm ảnh chụp ngày đó. Lặng đi một lúc vì xúc động và ngỡ ngàng, không thể ngờ mình lại có cái vinh hạnh lớn như thế!”. Câu chuyện của một Thiếu sinh quân nhiều lần được gặp Bác Hồ.

Trào nước mắt vì thèm đứng bên Bác

Sinh năm 1933, khi mới 14 tuổi, Vũ Thuần được gia đình cho theo các anh bộ đội làm công tác tuyên truyền văn hoá. Vì là học sinh lại nhanh nhẹn nên cậu được gửi đi học Trường Thiếu sinh quân (TSQ) ở Việt Bắc.

Có một lần, Bác Hồ tới thăm trường nhưng không báo trước. Đang trong giờ học, vừa trông thấy Bác là thầy trò bỏ lớp chạy ra đón và hô vang: “Bác Hồ! Bác Hồ muôn năm!”. Toàn trường vây kín quanh Bác.

Mô tảVũ Thuần đứng bên trái Bác, bên phải Bác là Liễn, liệt sĩ chống Pháp.

Bác bảo tất cả trật tự ngồi xuống rồi ân cần nói chuyện. Khi Bác hỏi: “Các cháu ăn có no không?”. Toàn trường đồng thanh hô: “Có ạ!”. Bác lại hỏi: “Các cháu có nhớ bố mẹ không?”, “Có ạ!”. Bác còn hỏi các thầy về tình hình học tập, rèn luyện của học sinh. Cuối cùng Bác căn dặn:

– Cuộc kháng chiến đánh đuổi thực dân Pháp còn nhiều khó khăn, gian khổ. Trong tương lai các cháu sẽ là chủ nhân đất nước nên các cháu phải không ngừng học tập, rèn luyện để sau này kế tục sự nghiệp cách mạng của Cha ông, giành lại độc lập, tự do cho non sông gấm vóc.

Sau đó, Người nói với ông Đinh Đăng Định chụp vài kiểu ảnh kỉ niệm. Cũng là dịp hiếm có để có thể đứng gần Bác, các bạn chen nhau đứng sát Người. Thuần vì nhỏ người nên bị các bạn lớn đẩy ra tít tận xa, nhìn các bạn được đứng bên Bác mà thèm, tự dưng nước mắt trào ra. Đang buồn thì thấy Bác vẫy tay: “Cháu bé kia lại đây với Bác!”. Thật là bất ngờ và may mắn, Vũ Thuần đã được đứng sát ngay Bác. Cánh TSQ ríu rít bên Bác như bầy chim non ra ràng vây quanh mẹ chờ mồi.

Ông Vũ Thuần chậm rãi nhớ lại: “Phải gần nửa thế kỷ sau, trong một dịp vào thăm Bảo tàng Cách mạng, lần đầu tiên tôi được nhìn thấy tấm ảnh chụp ngày đó. Lặng đi một lúc vì xúc động và ngỡ ngàng, không thể ngờ mình lại có cái vinh hạnh lớn như thế!

Trong ảnh thấy Bác thật bình dị, hiền lành và thật gần gũi. Còn các bạn TSQ vẻ mặt rạng rỡ vui tươi. Những bạn đứng phía sau thì cố dướn người thật cao để có mặt mình trong ống kính. Có bạn còn lấy tay bá lên vai mà Bác không quở trách, vẫn bình thản, bao dung. Mãi về sau này tôi tự hỏi: Có vị lãnh tụ nào gần gũi với thiếu nhi hơn Bác?!

Cố hình dung lại từng khuôn mặt và tính cách của từng bạn. Bạn đội mũ ca-lô sẫm màu đứng sau lưng Bác chính là Mộng Lân, sau này trở thành nhạc sĩ nổi tiếng công tác tại Đài phát thanh Tiếng nói VN, anh có nhiều bài hát hay cho thiếu nhi. Mộng Lân đã mất năm 2000 tại Hà Nội. Còn bạn cổ quàng khăn đỏ, miệng cười tươi, đứng bên phải Bác, tên là Liễn. Anh đã hy sinh anh dũng trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Các bạn khác có lẽ do ảnh hưởng của lần ốm mà tôi không nhớ hết tên…”.

Làm phiên dịch trong sứ quán Trung Quốc

Năm 1951, khi Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Văn Huyên kí quyết định thành lập Khu học xá VN tại Trung Quốc thì lứa TSQ của Vũ Thuần được đưa sang học Sư phạm, sau đó một số được chọn vào học lớp Hoa ngữ.

Đến đầu năm 1953 ông cùng một số sinh viên tốt nghiệp giỏi được chọn đi phiên dịch cho đoàn 114 cán bộ quân đội gửi sang trường Sĩ quan pháo cao xạ Thẩm Dương (do đồng chí Văn Giang và Nguyễn Quang Bích phụ trách) học tập, nhận khí tài và chuẩn bị thành lập trung đoàn 367 pháo cao xạ phòng không đầu tiên của QĐNDVN về tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Sau khi các tiểu đoàn pháo cao xạ hành quân về nước, ông cùng 7 đồng chí được phân công về làm giáo viên Trường Thiếu nhi VN ở thành phố Lư Sơn (tỉnh Giang Tây), sau đó chuyển về Giáp Sơn (Quế Lâm, Quảng Tây). Đến năm 1954 thì về nước tiếp tục phiên dịch cho cố vấn quân sự TQ.

Sau ngày giải phóng Thủ đô 10/10/1954, Đại sứ quán TQ – sứ quán đầu tiên của các nước XHCN đóng ở Chiến khu Việt Bắc – chuyển về Hà Nội. Vũ Thuần được Đại sứ La Quý Ba đề nghị đích danh với Thủ tướng Phạm Văn Đồng cho về làm phiên dịch của sứ quán TQ (đây là vinh dự và cũng là một trường hợp đặc biệt trong lịch sử ngoại giao – người VN duy nhất được làm phiên dịch trong sứ quán TQ). Một năm sau, ông về làm việc tại Bộ Ngoại giao.

Nhớ lời dặn của Bác, ông tích cực học thêm tiếng Nga và đến năm 1963 được cử sang công tác tại Đại sứ quán VN tại Bắc Kinh, khi đó Thiếu tướng Trần Tử Bình là đại sứ. Rồi Vũ Thuần được chọn làm phiên dịch cho ông.

Trong những dịp Bác Hồ sang thăm chính thức và không chính thức, Vũ Thuần vinh dự được đón Bác. Mỗi lần tới Bắc Kinh, Trung ương ĐCS TQ mời Bác về nghỉ ở Điếu Ngư Đài (1). Lần đó Đại sứ  giao ông nhiệm vụ mang bản tin sớm từ trong nước gửi sang cho Bác. Biết Người nóng lòng chờ tin từ nhà gửi sang nên 4h30 sáng ông đã có mặt. Vì còn sớm, nghĩ Bác đang ngủ nên không dám làm Người thức giấc, Vũ Thuần ngồi xuống chiếc ghế đặt ngay cửa. Mới ngoài 30, đang còn trẻ nên ông thiu thiu lúc nào không hay.

Sáng ra dậy tập thể dục thấy chú phiên dịch trẻ ngồi tựa cửa đang ngon giấc, Bác không nỡ đánh thức. Khi đi tập về, Bác vỗ vai, Vũ Thuần vội choàng dậy xin lỗi. Bác cười: “Không việc gì, cháu đang tuổi ăn tuổi ngủ mà. Dậy rửa mặt cho tỉnh rồi điểm tin cho Bác!”. Sau đó Bác mời vào cùng ăn điểm tâm. Sợ rằng đi gặp Bác mà lại ngủ quên đã là sai, nay lại được gọi vào ăn cùng mâm, Vũ Thuần e ngại. Song Bác bảo cứ tự nhiên ngồi ăn mà không trách cứ điều gì. Một kỉ niệm và cũng là một bài học nhớ đời.

Tháng 3/2004, tiện về thành phố biển Vũng Tàu, chúng tôi tới thăm ông Vũ Thuần, cựu TSQ Việt Bắc năm 1948, nguyên vụ phó Vụ Á châu (Bộ Ngoại giao). Tuổi đã ngoài 70, tóc bạc trắng. Do di chứng của xuất huyết não mà tay trái hơi bị liệt nhưng ông vẫn không quên kỉ niệm những lần gặp Bác. Khi viết bài này thì ông Vũ Thuần mất đã tròn 1 năm. Xin thắp nén tâm nhang tưởng nhớ đến ông – 1 cựu TSQ VN đáng kính!

…  Ngay từ 23/9/1945, cùng các chiến sĩ, đồng bào Nam bộ chống giặc Pháp đã xuất hiện các chiến sĩ nhỏ, TSQ, đồng tử quân. Sau 19/12/1946, ở Thủ đô xuất hiện các Vệ út, em nuôi trung đoàn, những Ga-vơ-rốt… len lỏi giữa trận mạc đưa thư, đưa công văn, tham gia cứu thương và cả chiến đấu. Rồi trung đoàn nào cũng đào tạo TSQ tại chỗ, rồi các trường TSQ hình thành…

Trong bài viết của bác sĩ Nguyễn Trinh Cơ ở báo Vệ Quốc Đoàn ngày đó có chuyện cảm động: “Những năm đầu kháng chiến chống Pháp, ở trạm quân y tiền phương, tôi đã không cầm được nước mắt khi phải cưa cụt một cánh tay của em Ngọc, một thiếu sinh liên lạc 12 tuổi bị thương từ mặt trận chuyển về”.

Thấy các cháu hy sinh nhiều quá, lo cho đội ngũ kế cận,  Bác Hồ đã nói với Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Các cháu còn nhỏ, không nên để các cháu đi chiến đấu, chết uổng lắm. Tuổi các cháu phải được học hành”.  Vì thế ngày 10/11/1948, Đại tướng kí quyết định 425/TCH thống nhất các nhà trường TSQ trong cả nước.

Chú thích:

(1) Khu dành cho cán bộ cao cấp của Đảng và Chính phủ Trung Quốc ở Bắc Kinh.

  • Trần Kiến Quốc

bee.net.vn

Hồ Chí Minh – Một cuộc đời: Phần cuối

Nguyên tác: Ho Chi Minh: A Life

Người dịch: Nguyễn Thành Nam

——————————————————

Con người trở thành huyền thoại

Cái chết của HCM tạo nên một tiếng vang rộng lớn trên khắp thế giới. Hà nội nhận được hơn 22000 điện chia buồn từ 121 nước. Các nước XHCN đều tổ chức lễ viếng trọng thể. Tuyên bố chính thức từ Matxcova: “HCM là người con vĩ đại của nhân dân Việt nam anh hùng, nhà lãnh đạo nổi bật của phong trào cộng sản và giải phóng dân tộc, người bạn của nhân dân Xô viết”. Các nước thứ ba ca ngợi Hồ như người bảo vệ cho các dân tộc bị áp bức. Một bài báo Ấn độ viết:

Tiếp tục đọc

Hồ Chí Minh – Một cuộc đời: Phần 15

Nguyên tác: Ho Chi Minh: A Life

Người dịch: Nguyễn Thành Nam

——————————————————

Tất cả cho tiền tuyến

Hội nghị 15 đã xác nhận Đảng từ bỏ thái độ theo dõi đợi thời và đặt mục tiêu thống nhất đất nước lên ưu tiên cao nhất. Tuy nhiên chiến lược thực hiện thế nào thì chưa rõ ràng. Một số đề nghị kết hợp đấu tranh vũ trang và nổi dậy như thời cách mạng tháng Tám. Số khác lại tiên đoán, có lẽ phải chấp nhận đụng độ quân sự trực tiếp như giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp. Có nhiều câu hỏi đặt ra chưa được giải đáp: liệu chế độ Diệm có tự sụp đổ vì tham nhũng và dốt nát? Tiếp tục đọc

Hồ Chí Minh – Một cuộc đời: Phần 14

Nguyên tác: Ho Chi Minh: A Life

Người dịch: Nguyễn Thành Nam

——————————————————

Giữa hai cuộc chiến

Ngày 9/10/1954, những đơn vị quân Pháp cuối cùng do đại tá D’Argence chỉ huy lầm lũi bước qua cầu Paul Dume (nay là cầu Long biên), nhường lại quyền quản lý Hà nội cho trung đoàn thủ đô của Giáp. Suốt 2 tuần trước đó, thành phố như đã chết. Dòng người di tản để lại những đường phố vắng lặng, các nhà hàng, cửa hiệu đóng cửa im ỉm. Ngày hôm sau, cả thành phố bừng tỉnh chào đón những nhà cai trị mới. Các đoàn diễu hành mang theo cờ hoa đi trên đường phố. Tiếp tục đọc

“Điện Biên Phủ nhỏ và nhịp cầu vàng”

– Đó là tên một bài báo đăng trên tờ “Nhân Dân” số ra ngày 7/1/1965 ký tên “Chiến Sĩ” một trong những bút danh của Bác và được viết dưới hình thức một bức thư gửi cho “Cháu Xuân Oanh yêu quý”.

Bức thư phân tích tình hình cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước vào thời điểm Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc và trực tiếp đưa quân chiến đấu vào miền Nam.

Bác đến thăm nông dân Hưng Yên táng 1/1961Bác đến thăm nông dân Hưng Yên tháng 1/1961

Ý niệm về “Điện Biên Phủ nhỏ” là để nhắc đến những chiến thắng của quân và dân miền Nam được đánh dấu bằng các trận đánh ở Ấp Bắc, Bình Giã, An Lão, Tam Kỳ  và đặc biệt là ở Bình Giã mà đến thời điểm ấy được dư luận Mỹ đánh giá là “bị đánh đau nhất trong lịch sử ở Nam Việt Nam”.

Bài báo phân tích tình hình bi thảm trên mặt trận quân sự của Mỹ và nhắc đến bình luận của tờ “Luận đàm Nữu Ước” phàn nàn là “Cộng sản Bắc Việt đang chờ đợi một ngày mà Mỹ sẽ rút khỏi miền Nam, nhưng cộng sản không cho Mỹ một nhịp cầu vàng để họ rút lui…”.

Giải thích câu bình luận trên, bài báo cho rằng: “Ý nói là để Mỹ rút lui mà khỏi mất mặt. Trước kia thực dân Pháp rút khỏi Đông Dương và Angieri, bản thân Mỹ cút khỏi Trung Quốc và Triều Tiên đều không có “nhịp cầu vàng”.

Ngày nay, nếu nhận biết chiến tranh xâm lược là tội ác mà Mỹ hối hận và rút khỏi miền Nam, không chờ một Điện Biên Phủ mới thì mặt Mỹ vẫn còn, không mất đi đâu…Cương lĩnh Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam là… Mỹ chấm dứt ngay chiến tranh để nhân dân Việt Nam thực hiện Hiệp định Giơnevơ, thế cũng là “nhịp cầu vàng” cho Mỹ rút lui mà không mất mặt”.

Cuối năm 1965, tại cuộc họp của Bộ Chính trị (ngày 16/12), với việc Mỹ tuyên bố tạm ngừng ném bom miền Bắc, Bác căn dặn: “Ta nên có tuyên bố với Mỹ, nói thế nào cho cứng cỏi nhưng dễ nghe” và lưu ý “phải có cách giải quyết lịch sự…tóm tắt là Mỹ phải rút đi.

Mười ngày sau đó (26/12) phát biểu tại Hội nghị Trung ương lần thứ 12, sau khi khẳng định sẽ chiến đấu đến toàn thắng, Bác lại đưa ra giải pháp: “Nếu Mỹ thực sự xin ra, ta còn tặng hoa cho họ nữa”.

Điều đáng nói là văn kiện cuối cùng Bác viết trước khi từ trần lại là “Thư trả lời Tổng thống Mỹ Risơt Nixon” đề ngày 25/8/1969 kết thúc bằng câu: “Với thiện chí của Ngài và phía chúng tôi, chúng ta có thể đi tới những cố gắng chung để tìm một giải pháp đúng đắn cho vấn đề Việt Nam”.

Giải pháp ấy cũng được Bác gửi gắm trong lời Chúc Tết cuối cùng vào Mùa Xuân năm 1969: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào” như một thứ cẩm nang nhằm kết thúc thắng lợi sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Sau Điện Biên Phủ trên không (12/1972), đầu năm 1973, Mỹ ký Hiệp định Paris rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam và chỉ hơn hai năm sau ngày “Mỹ cút”, chế độ Sài Gòn cũng đổ nhào.

X&N
bee.net.vn

Mở rộng thành phố phải căn cứ vào…

– Mở rộng thành phố phải căn cứ vào thiên thời (mưa, gió, nắng…), địa lợi (địa chất, sông, hồ…) và nhân hoà (lợi ích của nhân dân, của Chính phủ) là ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về kế hoạch mở rộng Thủ đô tại cuộc họp của Bộ Chính trị, ngày 29/8/1958.

“Thân thể ở trong lao/ Tinh thần ở ngoài lao/  Muốn nên sự nghiệp lớn/ Tinh thần càng phải cao”.

Đó là khái quát tinh thần của tập thơ bằng chứ Hán “Ngục trung nhật ký”(Nhật ký trong tù) mà Hồ Chí Minh sáng tác trong thời gian bị giam tại các nhà tù của các lực lượng quân phiệt Trung Hoa tại Quảng Tây, Trung Quốc bắt đầu từ ngày 29/8/1942 khi bị giam ở nhà lao Tĩnh Tây và kéo dài cho đến 24/9/1942. Tổng cộng có 22 bài thơ bắt đầu từ bài có câu thơ trên.

Ngày 29/8/1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh với lưu học sinh VN tại CHDC Đức.Ngày 29/8/1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh với lưu học sinh VN tại CHDC Đức.

“Nhân dân ta sẵn sức, sẵn của, sẵn lòng/ Cán bộ tận tuỵ và trong sạch thì mười việc thành công cả mười”

Đó là lời kết của bài báo “Sẵn tiền sẵn lòng, tát Biển Đông cũng cạn” của Bác Hồ (với bút hiệu ĐX) đăng trên báo “Cứu Quốc” ngày 29/8/1952 khi nói về cuộc đấu tranh chống tham ô, lãng phí trong thời kỳ kháng chiến kiến quốc.

“Mở rộng thành phố phải căn cứ vào thiên thời (mưa, gió, nắng…), địa lợi (địa chất, sông, hồ…) và nhân hoà (lợi ích của nhân dân, của Chính phủ). Công tác quy hoach thành phố phải hợp lý, bảo đảm được cả về kinh tế, mỹ quan và quốc phòng, phải có kế hoạch vận động quần chúng tham gia, có ban phụ trách để chịu trách nhiệm, tránh lối làm đại khái, lãng phí”.

Đó là ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về kế hoạch mở rộng Thủ đô tại cuộc họp của Bộ Chính trị, ngày 29/8/1958.

X&N
bee.net.vn