Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Kỳ 1: Thắng lợi cống hiến cho hòa bình

Hiệp định Pa-ri và sự vớt vát danh dự của Mỹ

QĐND – Sự kiện Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết giữa Việt Nam và Mỹ được nhắc tới khá nhiều trong hồi ký của các tướng lĩnh Mỹ, những người trực tiếp tham chiến. Đây cũng là sự kiện làm tốn khá nhiều giấy mực của các học giả nước ngoài trong các công trình nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam. Đặc biệt là có nhiều bài báo, dư luận tại Mỹ và các nước phương Tây với những cách nhìn đa dạng về bản Hiệp định lịch sử này.

Trong khi phần lớn các ý kiến đều cho rằng, Hiệp định Pa-ri là một thất bại của Mỹ tại Việt Nam, thì Bộ Chỉ huy không quân chiến lược Mỹ (SAC) và Lầu Năm Góc vẫn cố tình bào chữa và lảng tránh thất bại này. Nhưng các tài liệu được giải mật tại Trung tâm lưu trữ của Mỹ đã phơi bày sự thật. Dù Mỹ có bao biện thế nào đi nữa cũng không lừa bịp được sự thật và dư luận quốc tế.

Chữ ký của Bộ trưởng Ngoại giao 12 nước trong bản Định ước của Hội nghị quốc tế về Việt Nam tại Pa-ri, ngày 2-3-1973. Ảnh tư liệu

Ngày 2-3-1973, Hội nghị quốc tế về Việt Nam, gồm đại biểu các nước Liên Xô, Trung Quốc, Anh, Pháp, bốn bên tham gia ký Hiệp định Pa-ri cùng bốn nước trong Ủy ban giám sát và kiểm soát quốc tế (Ba Lan, Ca-na-đa, Hung-ga-ri, In-đô-nê-xi-a) được triệu tập tại Pa-ri. Đặc biệt, Hội nghị còn có sự tham gia của Tổng thư ký LHQ. Hội nghị đã thông qua Định ước quốc tế trong đó ghi nhận tính pháp lý của Hiệp định và khẳng định đây là “cống hiến to lớn đối với hòa bình, quyền tự quyết, độc lập dân tộc và việc cải thiện quan hệ giữa các nước. Hiệp định và các Nghị định thư phải được tôn trọng triệt để và phải thi hành nghiêm chỉnh”.

Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, báo chí, đài phát thanh và truyền hình ở Pa-ri cũng như trên thế giới đều liên tiếp đưa tin về Hội nghị và bản Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Đảng Cộng sản Pháp liên tục có những bài phát biểu trên truyền hình lên tiếng ủng hộ mạnh mẽ chiến thắng của Việt Nam. Xã luận báo Nhân đạo (Pháp) đăng tải trên trang nhất số ra ngày 5-2-1973 không chỉ ca ngợi cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam mà còn tập trung vạch trần sự cản trở của Mỹ đối với Hiệp định. Tổng thống Pháp G.Pông-pi-đu đã gửi điện mừng Việt Nam, trong đó khẳng định rằng: “Hiệp định Pa-ri có nghĩa là chấm dứt cảnh đau khổ, tàn phá, tang tóc ngày càng chồng chất”.

Tổng bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô Brê-giơ-nhép (Brejnev) khẳng định: “Thắng lợi quan trọng trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc là bằng chứng hùng hồn cho thấy trong thời đại chúng ta không lực lượng nào có thể bẻ gãy được ý chí của một dân tộc đấu tranh cho những quyền không thể tước đoạt được của mình và được tất cả các lực lượng tiến bộ trên thế giới ủng hộ”. Tại Mát-xcơ-va, nhà văn Liên Xô Gam-da-tốp (Gamzatov) đã bày tỏ niềm xúc động mạnh mẽ: “Sau khi nghe tin vui này, tôi muốn ôm hôn tất cả mọi người Việt Nam. Đó là những con người tuyệt vời. Họ đã tiến hành chiến tranh không chỉ vì độc lập và tự do của Tổ quốc mình, mà còn bảo vệ chân lý, vẻ đẹp của hành tinh chúng ta”.

Không chỉ ở Liên Xô, nhiều báo chí tiến bộ phương Tây cũng liên tục đưa ra bình luận về thắng lợi này. Báo Người công nhân (Anh) ca ngợi: “Nhân dân Việt Nam là vô địch, vì sự nghiệp của họ là chính nghĩa, vì cuộc chiến đấu tuyệt vời của họ đã được tiến hành dưới sự lãnh đạo chính trị đúng đắn và vì họ có lòng dũng cảm, sự hiểu biết và quyết tâm giành thắng lợi”.

Đảng Cộng sản Ca-na-đa ra tuyên bố: “Sau cuộc chiến tranh tàn bạo và lâu dài chống nhân dân Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc Mỹ đã buộc phải chấm dứt xâm lược, chấp nhận rút toàn bộ quân đội Mỹ ra khỏi Việt Nam và ký kết Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Đây là thắng lợi của Việt Nam dân chủ cộng hòa, của Mặt trận Dân tộc giải phóng và của Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam”.

Có thể thấy, thắng lợi của Hiệp định Pa-ri đã làm nức lòng bạn bè khắp năm châu, đặc biệt là những người yêu chuộng tự do, hòa bình. Báo Thế giới công nhân – cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Tây Ban Nha, trong những năm Việt Nam kháng chiến chống đế quốc Mỹ đã hết lòng ca ngợi cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân Việt Nam, con người Việt Nam. Khi nhận được tin Hiệp định Pa-ri được ký kết, tờ báo đã có bài viết chia vui cùng Việt Nam, trong đó nêu rõ: “Chúng tôi vui mừng nhận tin thắng lợi của các bạn. Không chỉ nhân dân Tây Ban Nha mà tất cả những người lao động trên thế giới đều muốn ca ngợi các bạn”.

Ở phía bên kia cuộc chiến, phản ánh tâm lý của người dân Mỹ khi Tổng thống Ních-xơn tuyên bố Hiệp định hòa bình được ký kết ngày 27-1-1973, Uy-li-am Côn-bai (William Colby) – nhân viên cao cấp của Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) hoạt động ở Việt Nam lúc đó đã đưa ra nhận xét: “Người dân Hoa Kỳ cảm thấy nhẹ nhõm trong lòng và đối với họ, vấn đề Việt Nam chìm vào quên lãng”. Đối với Đảng Cộng sản Mỹ, trước ngày chính thức ký kết Hiệp định, đã ra tuyên bố khẳng định rõ ràng: “Thất bại của cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài và tàn bạo của đế quốc Mỹ trước hết là do kết quả đấu tranh giành tự do của nhân dân Việt Nam, được sự ủng hộ của tất cả các dân tộc yêu chuộng hòa bình”.

Mai Hương – Minh Nam
qdnd.vn

(Còn nữa)

Ân tình hội ngộ

Giao lưu Hiệp định Pa-ri và tấm lòng bè bạn Ân tình hội ngộ

QĐND – Ngày 26-1, tại Hà Nội đã diễn ra cuộc Giao lưu “Hiệp định Pa-ri và tấm lòng bè bạn” giữa những cựu thành viên đoàn đàm phán Việt Nam tại Pa-ri và những người bạn quốc tế từng ủng hộ hết lòng cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam. Tại cuộc hội ngộ hiếm có sau 40 năm, những người đồng chí năm xưa đã xúc động cùng nhau ôn lại những kỷ niệm đẹp đẽ và hào hùng của một thời sôi nổi chung tay đấu tranh vì hòa bình và chính nghĩa.

Những chiến sĩ trên mặt trận “Thế giới vì Việt Nam”

40 năm trước, tại Pa-ri, Việt Nam đã giành được thắng lợi vang dội khi buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam. Thắng lợi này không chỉ là thắng lợi của Việt Nam mà còn là thắng lợi của tình đoàn kết quốc tế trong sáng. Sẽ không bao giờ có thể quên sự ủng hộ chí tình, chí nghĩa, sự giúp đỡ to lớn của nhân dân khắp nơi trên thế giới đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam.

Quang cảnh cuộc Giao lưu “Hiệp định Pa-ri và tấm lòng bè bạn”. Ảnh: Ngọc Thư

30 vị khách quốc tế có mặt tại buổi giao lưu chỉ là một số rất ít trong số hàng triệu con tim luôn hướng về Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh gian khổ giành độc lập dân tộc. Họ chính là những “chiến sĩ” trên mặt trận nhân dân thế giới sát cánh cùng Việt Nam trong thời kỳ đó. Họ cũng chính là những người đã góp phần hình thành nên phong trào phản chiến và tổ chức đoàn kết với Việt Nam, từ đó từng bước hình thành “mặt trận” rộng lớn ủng hộ Việt Nam, lan rộng khắp Âu, Á, Phi, Mỹ La-tinh.

Đặc biệt, có cả những người bạn đến từ phía bên kia của cuộc chiến, những người bạn Mỹ chấp nhận mang tội phản bội Tổ quốc để ủng hộ Việt Nam. Đó là cựu Bộ trưởng Tư pháp Mỹ Rem-xi Cờ-lác (Ramsey Clark), người từng trừng phạt những người Mỹ vì tội hoạt động chống chiến tranh, để rồi cuối cùng, khi biết những sự thật kinh hoàng mà Mỹ đã gây ra cho Việt Nam trong cuộc chiến, bất bình vì sự lừa dối của chính phủ đối với nhân dân Mỹ, ông lại tham gia vào những hoạt động phản đối chiến tranh. Đó là bà Mơn Rát-nơ (Merle E. Ratner), người phụ nữ bé nhỏ từng tham gia phong trào phản chiến ở Mỹ khi mới 13 tuổi. Bà nổi tiếng với hành động dũng cảm dám leo lên tượng Nữ thần Tự do để phất lá cờ của Việt Nam… Tại cuộc giao lưu, bà Mơn Rát-nơ đã hát lại bài hát quen thuộc năm nào, bài hát cổ vũ Việt Nam mà bà và những người bạn từng hát vang khi sát cánh với nhau tham gia phong trào phản chiến.

Trong số những người bạn quốc tế tới thăm Việt Nam vào dịp này, có 11 người từng bị bắt giam vì các hành động phản chiến hoặc ủng hộ Việt Nam ở nước mình. Ông Rê-na-tô Đa-xi (Renato Darsie), thủ lĩnh của phong trào ủng hộ Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ và đàm phán ở Pa-ri tại I-ta-li-a, là một trong số đó. Năm lần bị bắt vì tham gia biểu tình chống chiến tranh, vì hiến máu gửi tới Việt Nam… ông không hề nhụt chí. Ông kể, ở I-ta-li-a từng có phong trào hiến máu gửi tặng Việt Nam. Nhiều người cộng sản I-ta-li-a đã sang Nam Tư để hiến máu, rồi từ đó gửi sang Việt Nam, vì một số nơi ở I-ta-li-a không cho phép hành động này. Những người ủng hộ Việt Nam ở I-ta-li-a như ông Đa-xi còn tham gia hoạt động chặn không cho Mỹ chất hàng lên tàu trong những lần tàu Mỹ cập cảng ở I-ta-li-a để tiếp tế cho hành động chiến tranh ở Việt Nam… Khi nghe tin chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ II của Mỹ tàn phá các bệnh viện ở Hà Nội, ông đã cùng những người I-ta-li-a phản chiến đã phát động phong trào quyên góp gửi quà sang ủng hộ Việt Nam.

“Phản ứng từ trái tim”

Tại buổi giao lưu, các đại biểu đã kể về những tấm gương xả thân, quên mình, thậm chí hy sinh tính mạng vì phong trào phản chiến, vì Việt Nam. Đó là 11 người Mỹ đã tự thiêu để buộc chính phủ Mỹ phải chấm dứt cuộc chiến đẫm máu ở Việt Nam. Trong số họ có cậu thanh niên mới chỉ 20 tuổi, cũng có cụ già đã 80 tuổi. Đó là những người phụ nữ Mỹ đã tự xích tay mình vào hàng rào ở Nhà Trắng cho tới khi nào chính quyền thôi đàn áp những người phản đối chiến tranh…

Các hành động phản chiến mạnh mẽ theo nhiều cách khác nhau của những “chiến sĩ”, của các phong trào và tổ chức trên mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam đã tạo nên sức ép dư luận to lớn, buộc chính quyền Mỹ phải có những nhượng bộ ở bàn đàm phán Pa-ri, chấm dứt cuộc chiến phi nghĩa tại Việt Nam. Phong trào lan rộng khắp thế giới cũng góp phần buộc các chính phủ phải thay đổi thái độ và có cánh nhìn đúng đắn hơn đối với cuộc chiến ở Việt Nam.

Những người bạn Việt Nam có chung cách giải thích cho các hành động phản chiến quyết liệt của mình. Đó là lòng yêu chuộng hòa bình. Nhưng trên hết, đó là sự bất bình trước cuộc chiến phi nghĩa và đẫm máu cướp đi sinh mạng của hàng triệu con người. Như lý giải của ông An-đrê Men-rát (Andre Menras) người Pháp thì đó chính là “phản ứng từ trái tim”. “Tôi cũng tự hỏi vì sao mình không thể tự kiềm chế. Hằng ngày chứng kiến cảnh tượng chiến tranh ở miền Nam Việt Nam, lại là một thầy giáo giảng dạy về tự do, bình đẳng, bác ái… làm sao chúng tôi chịu được. Điều đó thôi thúc chúng tôi phải chống lại chiến tranh. Đó là phản ứng từ trái tim vì lúc đó tôi chưa hiểu nhiều về chính trị”, ông Men-rát chia sẻ. Ông Men-rát từng là thầy giáo người Pháp ở miền Nam Việt Nam thời ngụy quyền. Ông chính là người đã “liều lĩnh” leo lên đầu tượng đài hai tên lính thủy đánh bộ trước trụ sở quốc hội chính quyền ngụy Sài Gòn để phất cao lá cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, tung truyền đơn đòi quân đội Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam.

Câu chuyện của cựu du kích quân Ca-ra-cát Các-lốt Rây Gô-mết (Carlos Rey Gomez), thành viên nhóm du kích Vê-nê-xu-ê-la tham gia vụ bắt cóc sĩ quan Mỹ Mai-cơn Xmo-len (Michael Smolen) để đánh đổi chiến sĩ biệt động Nguyễn Văn Trỗi bị chính quyền ngụy bắt giữ, đã gây nhiều thu hút. Ông kể thời đó, những du kích quân Ca-ra-cát hành động táo bạo như vậy nhằm để bày tỏ tình đoàn kết với nhân dân Việt Nam, với cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam.

Những tấm gương điển hình trong phong trào phản chiến ấy, những hành động ủng hộ hết mình vì Việt Nam ấy càng chứng tỏ “cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam là lương tri của loài người, là trái tim của nhân loại” như bà Xa-ra Lít-man, một nữ văn sĩ người Thụy Điển đã đúc kết. Điều đó cũng lý giải cho lời đánh giá của ai đó rằng, “cuộc chiến ở Việt Nam đã làm thức tỉnh lương tri thế giới”.

Tại buổi giao lưu, các cựu thành viên đoàn đàm phán của ta ở Pa-ri có dịp gặp lại những người bạn Pháp đã trực tiếp giúp đỡ phái đoàn tận tình trong những năm tháng đấu tranh trên mặt trận cam go ở Pa-ri. Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên trưởng đoàn đàm phán Chính phủ cách mạng lâm thời không giấu được xúc động khi gặp lại người lái xe cho mình năm xưa – một đồng chí Pháp đã tận tình phục vụ đoàn đàm phán CPCMLT ở Verriere-le-Buisson. Cả những người bạn Pháp từ Choisy-le-Roi, thị trấn nơi đoàn đàm phán VNDCCH từng ở và đã nhận được sự giúp đỡ chí tình của họ cũng có mặt. Chính sự giúp đỡ về hậu cần của những người bạn Pháp cho hai đoàn ta cùng với phong trào Việt kiều yêu nước, phong trào phản chiến, ủng hộ trên khắp nước Pháp, đã tạo thành “hậu phương” vững chắc cho hai đoàn đàm phán ta đấu tranh trên mặt trận ngoại giao ở Pa-ri.

Mãi mãi khắc ghi tấm lòng bè bạn

Tấm lòng của bè bạn năm châu chính là nguồn cổ vũ, tạo sức mạnh tinh thần to lớn đối với Việt Nam đang trong cuộc đấu tranh chống xâm lược để đi tới thắng lợi cuối cùng. Nhiều người trong số họ từng ủng hộ Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh, nay lại tiếp tục tích cực hoạt động ủng hộ Việt Nam trong thời bình và tham gia các hoạt động thúc đẩy tình hữu nghị, phát triển mối quan hệ, khắc phục hậu quả chiến tranh… Tại buổi giao lưu, nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao, trưởng đoàn đàm phán Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị Pa-ri đã bày tỏ xúc động khi được nghe những câu chuyện từ chính những người bạn của Việt Nam trực tiếp kể lại, dù trước đó bà đã nghe đâu đó nhiều lần. Bà khẳng định, Việt Nam luôn đánh giá phong trào đoàn kết quốc tế là một nhân tố hết sức quan trọng góp phần vào thắng lợi của Việt Nam. Bà thay mặt nhân dân Việt Nam bày tỏ lòng biết ơn các bạn bè quốc tế, nhấn mạnh Việt Nam mãi mãi khắc ghi những gì mà họ đã dành cho Việt Nam.

Chủ tịch Liên hiệp các Tổ chức hữu nghị Việt Nam Vũ Xuân Hồng khẳng định, cuộc giao lưu hôm nay chỉ là một hoạt động tri ân rất nhỏ so với những gì mà Việt Nam muốn nói với hàng triệu nhân dân trên thế giới – những người đã dành cho Việt Nam sự ủng hộ lớn lao. Sẽ còn ngàn vạn lời tri ân từ hàng triệu trái tim của người dân Việt Nam gửi tới những bạn bè quốc tế. Phần ân tình đã nhận được trong những năm tháng đấu tranh vì độc lập dân tộc, Việt Nam luôn sẽ mãi khắc ghi trong những năm xây dựng và phát triển đất nước sau này.

Ông I-ra-cơ-li-xơ Xáp-đa-ri-đi-xơ (Iraklis Tsavdaridis), Thư ký thường trực Hội đồng Hòa bình Thế giới:

Nguồn cổ vũ cho phong trào đấu tranh thế giới

Cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam được nhân dân thế giới ủng hộ vì đây là cuộc đấu tranh chính nghĩa vì công lý. Cuộc đấu tranh của các bạn đã trở thành điểm hội tụ của tình đoàn kết quốc tế và hữu nghị giữa các dân tộc. Chiến thắng của Việt Nam cũng trở thành chiến thắng của nhân dân các nước, là nguồn cổ vũ động viên lớn lao với cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân nhiều nước tại châu Á, châu Phi và Mỹ La-tinh.

Ông Ép-ghê-ni Pa-vơ-lô-vích Gla-du-nốp, nguyên Chủ tịch Hội hữu nghị Nga-Việt (Evgheni Pavlovich Glaxunov):

Thắng lợi của loài người tiến bộ

Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam không chỉ là thắng lợi của nhân dân Việt Nam mà còn là thắng lợi của toàn thể loài người tiến bộ. Nhiều hoạt động kỷ niệm nhân ngày ký Hiệp định Pa-ri sẽ góp phần giáo dục và tuyên truyền rộng rãi cho các thế hệ trẻ ngày nay hiểu biết về cuộc chiến đấu của cha ông bảo vệ độc lập, tự do cho dân tộc.

Bà Gien-ni Mi-rơ (Jeanne Mirer), Chủ tịch Hiệp hội Luật sư dân chủ quốc tế:

Luôn sát cánh cùng Việt Nam!

Nhiều luật sư của chúng tôi đã trực tiếp biểu tình chống lại cuộc chiến tranh phi nghĩa mà Mỹ tiến hành trên đất nước Việt Nam và nhiều người cũng đã bị bắt giam. Tuy nhiên, không vì thế mà chúng tôi từ bỏ mà ngược lại, chúng tôi vẫn luôn sát cánh ủng hộ nhân dân và chính phủ Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Và ngày nay, chúng tôi cũng sẽ tiếp tục sát cánh với các bạn trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

HẠNH – TOÀN – THƯ
qdnd.vn

Đoàn đại biểu kiều bào dự Xuân quê hương 2013 đặt hoa tưởng niệm và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Cứ mỗi độ xuân về, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài (thuộc Bộ Ngoại giao) lại tổ chức chương trình Xuân quê hương, một điểm hẹn cho bà con kiều bào ở khắp nơi trên thế giới trở về Việt Nam đón Tết Nguyên đán. Chương trình “Xuân quê hương” năm nay diễn ra đúng vào 23 Tháng Chạp với chủ đề “Đất Tổ rạng ngời” tập trung chào mừng sự kiện Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương vừa được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của nhân loại, là niềm tự hào của gần 90 triệu người dân Việt Nam cũng như khoảng 4,5 triệu kiều bào ta đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài.

Xuan que huongĐoàn đại biểu kiều bào đặt hoa tưởng niệm và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong khuôn khổ các hoạt động của Đoàn, sáng ngày 03/02/2013, tức ngày 23 Tháng Chạp, 100 kiều bào – tượng trưng cho 100 người con của mẹ Âu Cơ – thay mặt bà con Việt kiều về dự lễ đã đến đặt hoa tưởng niệm và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Đoàn đại biểu kiều bào dự Xuân quê hương 2013 kính viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Trong nhiều năm qua, công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận quan trọng trong chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng và Nhà nước. Sau khi Bộ Chính trị (Khóa X) ban hành Nghị quyết 36-NQ/TƯ (ngày 26/3/2004), công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài đã đạt được những kết quả và nhiều bước đột phá quan trọng, nhiều kiều bào đã tìm về quê hương với quyết tâm chung tay với bà con trong nước xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh hơn. Thời gian gần đây, Việt Nam đã có rất nhiều cải cách, đổi mới để kiều bào đóng góp nhiều hơn cho đất nước. Ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc đang thấm dần vào từng tầng lớp, từng gia đình trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Trong các cuộc tiếp xúc với nhiều đối tượng kiều bào, từ trí thức, sinh viên, doanh nhân…, ai cũng mong muốn được trở về quê hương để cùng xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh.

Ông Lê Văn Duyên, kiều bào từ Hoa Kỳ (83 tuổi) trở về Việt Nam tâm sự: Mỗi dịp Tết đến xuân về, tôi lại trở về quê hương để ôn lại những kỷ niệm nơi mình được sinh ra, hưởng không khí ấm cúng, hạnh phúc khi gặp mặt người thân trong gia đình, dòng họ. Xuân Quê hương năm 2013 với chủ đề “Đất Tổ rạng ngời” thật sự có ý nghĩa và đi vào lòng người. Đã là người Việt Nam thì ai cũng biết và hiểu rõ về lịch sử các vua Hùng. Tôi luôn ghi nhớ câu nói của Bác Hồ: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Ông Trần Văn Hùng – Phó Chủ tịch Hội người Việt Nam ở Cộng hòa Séc chia sẻ: “Năm vừa qua đã có rất nhiều hoạt động giao lưu ở Séc. Được ngắm nhìn lá cờ Tổ quốc tung bay giữa Thủ đô Praha, tà áo dài tha thướt hay làn điệu dân ca quan họ được các bạn quốc tế đánh giá cao trong các chương trình Tuần văn hóa Việt Nam ở Séc, là niềm sung sướng tự hào không gì tả nổi.”

Năm Quý Tỵ 2013 đang đến, Việt Nam còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, song với bản lĩnh, trí tuệ và truyền thống quật cường của dân tộc, đồng bào ta ở trong nước cũng như ở nước ngoài luôn nêu cao tinh thần đoàn kết một lòng, cùng quyết tâm xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh. Đó cũng là tâm niệm của mỗi người con đất Việt./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Vàng là ở hai bàn tay

Bác Hồ vào Phan Thiết dạy học ở Trường Dục Thanh của Hội Liên Thành. Bác sĩ Nguyễn Kinh Chi ở Bộ Y tế là học trò của thầy Thành kể lại:

– Thầy giáo Thành dạy lớp ba, thầy thường mặc áo vải, chân đi guốc. Trong giờ địa lý, thầy giáo Thành dạy tiếng Pháp, tôi còn nhớ mãi buổi học đầu tiên của thầy Thành:

“Montagne” là núi, “rivière” là sông

Núi kia là núi của ai
Sông xanh nước biếc chảy dài đi đâu ?

Chuyện kể về NgườiThầy giáo Thành bảo núi thì có rừng. Trên rừng rất nhiều gỗ quí như lim, trai, sến, táu, vàng tâm, v.v.. . Có nhiều cây thuốc quí, có nhiều muông thú như hổ, báo, hươu, nai, voi… Trong núi có nhiều khoáng sản như vàng, bạc, châu báu, dưới sông có nhiều cá ngon, nước sông có nhiều phù sa, nên ngǎn nước ấy lại tưới cho đồng ruộng thì màu mỡ tươi tắn. Tổ tiên ta kiên cường, giang sơn ta gấm vóc: Thầy giáo Thành dạy chúng tôi như vậy?

Ông thắc mắc tại sao thầy giáo Nguyễn Tất Thành dạy rừng núi, sông ngòi, đất đai là của ta. Thế mà bây giờ Tây nó lại lấy. Đời sống của người lao động thì khổ cực, nghèo đói. Ngày ngày làm nghề thuốc tiếp xúc với người bệnh, bao nhiêu câu hỏi đã gieo vào đầu óc ông: Tại sao người đàn bà làm ǎn vất vả, sớm tối ngày đêm sương gió, thế mà chỉ có một cái yếm bằng vải và chiếc khố tải che thân? Người đàn ông cũng chỉ có cái quần đùi? Các em bé tám chín tuổi vẫn trần truồng chưa có áo quần mặc? Ông Chi suy nghĩ và càng thấm thía những lời giảng của thầy giáo Thành gieo vào lòng tuổi trẻ nhiều ý nghĩa. Ông và các bạn ở Trường Dục Thanh cũ dần dần ghét Tây. Từ đó ông bắt đầu đi tìm cách mạng và ông cũng như nhiều bạn bè khác trở nên người Cộng sản.

Rời Phan Thiết, Bác Hồ đi vào Sài Gòn học nghề. Ngày ngày, lúc học xong, Bác thường xuống xem cảng Sài Gòn. Bác đi để biết tình hình. Ở cảng này, Bác Hồ làm quen với ông Mai, được ông giới thiệu xuống làm ở chiếc tàu của hãng “Vận tải hợp nhất” của Pháp. Tàu Đô đốc Latútsơ Trêvin chuyên chở thực phẩm cho Pháp ở thuộc địa. Ông Mai người ở An Dương (Hải Phòng), gặp Bác lần đầu đã thấy mến. Bác Hồ ngỏ ý muốn xin làm ở dưới tàu. Ông Mai vui vẻ nhận lời giới thiệu giúp Bác. Ông đưa Bác đến gặp thuyền trưởng người Pháp. Người thuyền trưởng nói:

– Nếu cần làm việc ở đây, tám giờ sáng mai đến?

Tối hôm ấy về chỗ ở, Bác rủ thêm một người bạn cùng đi Pháp. Người bạn thân đó nói:

Ta đi Pháp sẽ chết đói thôi, bởi vì chúng ta không có tiền để ǎn.

Bác đã giơ tay ra và nói:

– Tiền là ở đây, vàng là ở đây. Chúng ta còn trai trẻ. Chúng ta sẽ làm lụng để sống.

Sáng hôm sau, người bạn ấy ngần ngại từ chối, không đi. Bác chia tay anh ta. Ông Mai đưa Bác xuống tàu gặp người thuyền trưởng. Nhìn Bác một lát, người thuyền trưởng Pháp nói:

– Ở đây không có việc gì nhẹ cho anh làm cả. Chỉ có những việc nặng thôi, trông anh gầy yếu thế kia. Làm sao nổi?!

Bác trả lời:

– Vâng, tôi gầy yếu thật, nhưng tôi còn trai trẻ, tôi có nghị lực, tôi có thể làm được tất cả!

Người thuyền trưởng thấy Bác nhanh nhẹn giỏi tiếng Pháp nên cho làm phụ bếp. Bác nhận lời làm việc ở đây và lấy tên là Vǎn Ba.

Qua những ngày làm việc đầu tắt mặt tối ở dưới tàu, Bác nhận thấy ở đây có hai hạng người: Người bị bóc lột và người đi bóc lột. Hai thái cực đó thật là rõ ràng. Công việc mà Bác phải làm hàng ngày thật là cực nhọc: Hết bưng những sọt khoai tây lên mặt bàn để gọt rửa, lại bê những thùng rượu để phục vụ các bữa ǎn, rồi rửa bát, nồi, xoong, giặt giũ, lau bàn ghế, đánh bóng boong tàu. Suốt ngày Bác nhễ nhại mồ hôi và mình đầy than bụi. Công việc vất vả thật nhưng khi được nghỉ tay là Bác tranh thủ dạy ông Mai chữ quốc ngữ.

Trong phong trào Đông Du do cụ Phan đề xướng, cụ chủ trương “Gương Nhật Bản, đất Á Đông”. Cụ mong nhờ vào bọn Nhật cô lập giặc Pháp thì thật khác nào “đưa hổ cửa trước, rước hùm cửa sau”. Cụ Phan Chu Trinh lúc này đã bị bắt và theo quan niệm của cụ thì “Học Pháp càng nhiều; làm bồi càng to”.

Vậy tại sao Bác Hồ lại đi Pháp? Vừa rồi chúng ta tìm được cuốn lược dịch “Binh thư Tôn Tử” của Bác, Bác nói là lược dịch, nhưng khi đọc chúng ta nhận thấy là chiến lược của Bác. Qua sự giáo dục của gia đình và cuốn lược dịch “Binh thư Tôn Tử”, qua trao đổi với một số cụ đương thời có học với Bác và ngay cụ thân sinh ra Bác vẫn thường dạy học trò là “biết địch biết ta, trǎm trận trǎm thắng”, chúng ta càng thấy rõ việc Bác đi Pháp là Bác có suy nghĩ chín chắn. Với lại hồi ấy, những từ Pháp “Tự do, bình đẳng, bác ái rất hay, Bác muốn biết đằng sau nhừng từ ấy ẩn giấu cái gì…”

Bác lĩnh được mười quan, dần dà sau này được nǎm mươi quan (trong khi đó mỗi nhân viên người Việt Nam ít nhất cũng phải lĩnh đến một trǎm quan). Lên đất pháp, vì tiền ít Bác thường phải thuê chỗ ngủ đứng. ở nước Pháp lúc này có hai loại tiệm ngủ. Một loại ngủ giường đệm, màn và lò sưởi. Một loại là lấy vé vào ngủ đứng. Ở Pháp ít lâu, Bác đi châu Phi, rồi Bác lại trở về Pháp. Lúc rời châu Phi, Bác có nói:

– Người ta nói ở Châu Phi có nhiều ác thú, nhưng ác thú ở đây mà ác hơn cả, chính lại là lũ thực dân. Sau này, các đồng chí cộng sản quốc tế sang dự Lễ tang Bác có cho biết:

Bác đi Châu Phi trên một chiếc tàu buôn. Chiếc tàu buôn này rời cảng Lơ Havơrơ đỗ tại Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Angiêri, Tuynidi và các cửa biển phía đông Châu Phi cho đến Công gô. Mỗi khi tàu cập bến, Bác tìm cách lên thǎm thành phố, khi chiếc tàu này trở về Pháp sửa chữa, người thuyền trưởng thấy anh Ba làm được việc, bèn giới thiệu đi làm bồi ở một chiếc tàu chở sĩ quan Pháp đi Anh nghỉ mát. Đến nước Anh, Bác không đi làm bồi tàu nữa. Lên Thủ đô nước Anh, Bác tìm đến một Trường Trung học. Bác rất thích cuộc đời học sinh. Bác ngồi xem các em học và Bác làm quen được với một người gác cổng. Bác xin làm việc quét tuyết ở Trường học này. Làm được một tuần lễ, vì lao động cực nhọc quá trời lại rét buốt nên Bác bị cảm lạnh và sưng phổi phải thôi việc.

Khi khỏi bệnh Bác xin làm ở tiệm ǎn Cáclơtông, một khách sạn lớn nhất nước Anh lúc bấy giờ. Khách sạn có một người Pháp tên là ÊcÔpphie làm bếp nổi tiếng, được người ta đặt tên là “Vua bếp”. Những tiệc lớn của Nữ hoàng Anh đều do ông ta đứng ra đảm nhận.

Một hôm anh Ba đang rửa bát. Vua bếp đi qua hỏi:

– Anh Ba, anh đổ các thứ thừa đi, chứ anh để lại làm gì?

– Ở đây thừa đổ đi – anh Ba trả lời – nhưng ngoài kia những người đói lại đang cần, tôi để lại lát nữa cho người ta.

Vua bếp ra chiều cảm động thấy một thanh niên Châu Á lòng nhân hậu như vậy nên rất có cảm tình. Nhân đấy Bác lại nói:

– Xin ông cho tôi làm công việc gì có nhiều tiền để tôi chi trả tiền học tiếng Anh. Tôi học nǎm bài đã mất nǎm đồng, trong khi đó tôi chỉ được trả có sáu đồng, còn lại không đủ ǎn trong một tuần lễ.

Vua bếp cười bảo:

– Tôi là người Pháp mà không học được tiếng Anh, còn anh là người Châu Á mà dám học tiếng Anh cơ à? Tôi ở đây hai nǎm rồi mà chỉ biết có vài ba tiếng “vâng” và “không. Nói vậy, ông này vẫn giúp Bác, Bác được bố trí đốt lò.

Thế là từ nǎm giờ sáng đến tám giờ tối Bác phải nặng nhọc đưới hầm lò. Tuy tiền công có được nhiều hơn, nhưng không được học hành, vì đêm về mệt lả làm sao đi học được nữa.

Do đó Bác tìm gặp Vua bếp yêu cầu cho Bác làm một nghề khác. Vua bếp xếp cho Bác làm bánh ga tô, đỡ nặng nhọc hơn và có thêm tiền để học. Thời kỳ này Bác tranh thủ học nhiều ngoại ngữ: Nǎm 1913 – 1914, ở Anh, Bác học tiếng Anh do một giáo sư người Ý dạy. Thầy giáo này biết tiếng Đức, cho nên Bác học cả tiếng Đức và Ý của giáo sư này. Hàng ngày, Bác ra ngồi ở vườn hoa Hayđơ để học. Lúc này, Bác có quan hệ với các nhà yêu nước ở Ấn Độ như Gǎngđi. Nhà sử học Thụy Điển, trong một cuốn sử viết về Bác, cho biết: Nǎm 1915, Bác ở khu vực người da đen Háclem (nước Mỹ) và làm nghề chụp ảnh. Nǎm 1916 sang Đức, trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Bác trở lại Pháp và ở nhà cụ Phan Chu Trinh. Ở Pháp, Bác tham gia phong trào của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Pháp. Bác tổ chức nhóm Việt kiều. Bác đã gặp Sác lông ghê (Charles Longuet), chủ bút Báo “Dân chúng” là cháu ngoại của Các Mác. Ông này đã giúp đỡ Bác viết báo. Lúc đầu Bác viết nǎm dòng rồi sửa hết, rồi lại viết. Bài báo đầu tiên của Bác là bài báo nǎm dòng đǎng ở Báo “Đời sống thợ thuyền”, nǎm 1917. Sau đó Bác viết cho nhiều tờ báo ở Pháp như Báo “Nhân đạo và “Dân chúng”… hồi đó Bác ở nhà số 9 ngõ hẻm Công poǎng (compoint). Đạo diễn Phạm Kỳ Nam đi Pa-ri làm phim về Bác cung cấp thêm nhiều tư liệu: Nhà số 9 Công poǎng tầng dưới là quán cà phê, tầng trên, Bác thuê ở, Bác làm nghề rửa ảnh. Nhà Bác kê vừa một cái giường, hai cái ghế một cái bàn con. Trên bàn có cái chậu thau, trong thau có một xô nước. Khi viết, Bác phải đút thau và xô xuống gầm giường. Hàng ngày, Bác nấu một nồi cơm (gọi là nồi nhưng thật ra nó là cái hộp bích qui vuông thấp). Khi thổi cơm, Bác hấp vào đó một con cá khô, Bác ǎn một nửa, còn một nửa lấy giấy báo gói mang đi, làm việc xong, Bác mang ra ǎn nốt suất cơm còn lại. Bác làm việc rất khẩn trương để có đủ tiền sống, để có nhiều thời gian vào thư viện đọc sách. Bác còn tranh thủ đi nghe người ta giảng thuyết để học tập. Khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, Bác rất vui mừng, phấn khởi. Bác vào Đảng Xã hội Pháp. Tháng 3 nǎm 1919, Quốc tế thứ ba (tức quốc tế Cộng Sản) thành lập, Lênin có đọc bản Luận cương về cách mạng thuộc địa. Khi tiếp thu bản Luận cương ấy, Bác đã nói:

– Luận cương của Lênin đã làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Tôi vui mừng phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng, mà tôi nói to, như đang nói trước quần chúng đông đảo. Hỡi đồng bào bị đọa đày đây là cái cần thiết cho chúng ta?

Bác tiếp thu điều này rất sâu sắc. Báo Gramma Cuba đã viết: “Nhân loại tiến bộ trên thế giới đời đời mắc nợ nhân dân Việt Nam”.

Dư luận nhiều nước trên thế giới nêu rõ: Các Mác đề ra chủ nghĩa xã hội khoa học, Lênin là người tổ chức thực hiện. Lênin là người đề ra cách mạng ở các nước thuộc địa, Hồ Chí Minh là người tổ chức thực hiện và rút những kinh nghiệm quí báu.

Vâng lời Bác dạy:

Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và nấp biển
Quyết chí ắt làm nên

Bác chỉ có hai bàn tay trắng mà Bác xây dựng cả sơn hà. Vàng là ở đôi bàn tay lao động, như thế đấy?

Theo bacho.camau.gov.vn/
Thúy Hằng (st)

bqllang.gov.vn

Món đặc biệt

37
Ảnh Tư liệu

Hồi đầu kháng chiến, ở Việt Bắc đời sống cán bộ rất kham khổ. Nhiều khi không đủ gạo nói gì đến thức ăn. Bác Hồ cũng vui vẻ chịu đựng như mọi người.

Mỗi lần có họp hành, cán bộ nhân viên thường phải chia nhau đi câu cá, săn bẫy thú nhỏ để kiếm thêm chút chất tươi.

Lần ấy, vào năm 1949, Ban thường vụ Trung ương họp ở Tân Trào. Anh em vệ binh cùng rủ nhau đi tìm, nhưng những người đi săn đều về không, những người đi câu cũng vậy, vì trời mưa to quá, cá không cắn mồi.

Đến bữa ăn, các đồng chí thường vụ cùng anh em làm việc ở cơ quan cùng quây quần quanh những chiếc “bàn” tre (cắm cọc xuống đất, trên đặt cái liếp). Trong rá thì chỉ toàn lá sắn do cơ quan tăng gia, loáng thoáng mới có vài hạt cơm. Còn món thức ăn duy nhất là măng rừng chấm muối. Thế mà  mọi người vẫn ăn ngon lành, chuyện trò rôm rả.

Như sực nhớ ra điều gì, Bác Hồ gọi đồng chí Thư ký ngồi bàn bên bảo:

– Hôm nay có khách; chú lấy món “đặc biệt” ra.

Mọi người chưa hiểu “món đặc biệt” là gì, thì người Thư ký đã đưa ra một cái ống tre, nút chặt…Bác mở nắp ống, chia cho mỗi người một ít thức ăn mầu đỏ, thơm nức. Đó là thứ “thịt hộp Việt Minh”, Bác thường dùng khi đi công tác xa, chế biến bằng một cân thịt lợn thái nhỏ vụn, kho với một cân muối và một cân ớt tươi, bỏ vào ống tre, đậy kín, có thể để rất lâu.

Bác bảo:

– Chú nào không ăn được cay nhiều thì đừng dùng món này lẫn với măng. Các chú nên tập ăn ớt vì ớt có rất nhiều sinh tố.

Kháng chiến gian khổ, thiếu thốn, nhưng mỗi lần về quây quần bên Bác như thế này, ai cũng cảm thấy đầm ấm, vui vẻ…

(Theo “Chiến đấu trong vòng vây”của Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

Kim Yến (st)
bqllang.gov.vn

Những câu chuyện đời thường của Bác Hồ với phụ nữ

c1

Không có chỗ cho “Bác gái” đứng à?

Ngày 26 tháng 12 năm 1956, Bác Hồ đã tiếp hơn 300 đại biểu phụ nữ Thủ đô tại Phủ Chủ tịch. Họ là những phụ nữ ưu tú, gồm đủ các thành phần: Công nhân, nông dân, trí thức, tiểu thương, học sinh, các tôn giáo, phụ nữ miền Nam tập kết ra Bắc và các gia đình có công với cách mạng. Được đi gặp Bác, ai cũng tươi cười hớn hở, diện những bộ quần áo đẹp nhất.

Sau khi nói chuyện và căn dặn các đại biểu phụ nữ, Bác vui vẻ chỉ vào những đĩa bánh, những đĩa kẹo bày trên bàn và bảo:

– Các cô ăn bánh, ăn kẹo đi. Cô nào có cháu bé thì mang về cho cháu; có chồng thì mang về cho chồng; có người yêu thì mang về cho người yêu, nói là quà của Bác Hồ.

Được lời của Bác, mọi người phấn khởi chia nhau bánh, kẹo.

Nào bây giờ Bác cháu ta ra chụp ảnh.

Mọi người cùng kéo cả ra thềm Phủ Chủ tịch. Chị nào, cô nào cũng muốn được đến gần Bác để chụp ảnh. Bác bảo:

– Ai cũng muốn đứng gần Bác cả thì không có chỗ cho “bác gái” đứng à?

Mọi người còn chưa hiểu “bác gái” nào Bác đã kéo bác sĩ Trần Duy Hưng, Chủ tịch thành phố Hà Nội lại bảo: “Bác gái đây!”.

Tất cả mọi người cười vui vẻ. Bác nói tiếp:

– Bây giờ những cô nào đứng phía trước thì ngồi xuống, để những người đứng phía sau được rõ mặt hơn.

Mọi người răm rắp vâng theo lời Bác.

Nhà nhiếp ảnh bấm liền mấy “pô” ảnh. Ai cũng nghĩ: Chụp ảnh xong sẽ được chào Bác ra về. Nhưng đến khi quay lại, Bác đã không đứng đó nữa làm mọi người vô cùng luyến tiếc.

Các chú ấy nói có đúng không?

Chủ nhật trước ngày 2 tháng 9 năm 1958, một số chị em trong cơ quan Thành hội Phụ nữ đã đi phố sắm sửa cho ngày lễ. Nhưng khu tập thể vẫn đông vui vì hôm đấy không chỉ có các ông chồng về chơi, mà nhiều chị em còn đón cả bố mẹ ở quê ra dự ngày hội lớn ở Thủ đô. Mọi người không ngờ đã được Bác Hồ đến thăm. Xe vừa đỗ, Bác nhanh nhẹn bước xuống. Các chị trong cơ quan mừng quá, ùa ra đón, mời Bác vào phòng khách, nhưng Bác không vào mà nói:

– Không, Bác chưa vào phòng khách. Các cô cứ để Bác đi xem các cô ăn ở thế nào đã.

Bác đi qua sân, qua dãy nhà tập thể xuống thẳng bếp, hỏi thăm việc nấu nướng và khen ngợi chị em cấp dưỡng giữ gìn bếp núc sạch sẽ. Đến thăm nhà trẻ nhưng là ngày nghỉ, các cháu ở nhà, Bác nhìn qua cửa thấy nhà trẻ sạch bong, Bác gật đầu tỏ ý hài lòng. Bác thấy ngoài sân có một số cán bộ nam giới, Bác hỏi anh em:

– Cơ quan phụ nữ sao lại có các chú ở đây?

– Thưa Bác, hôm nay là Chủ nhật, chúng cháu về thăm gia đình ạ!

Bác hỏi lại:

– Các chú chỉ về thăm thôi à? Các chú về phải giúp đỡ các cô ấy việc gì chứ!

– Thưa Bác, chúng cháu có giặt giũ, bế con, dọn dẹp nhà cửa đấy ạ!

Bác quay lại hỏi các chị em:

Thế nào, các chú ấy nói có đúng không?

– Thưa Bác, đúng ạ!

Tất cả vui vẻ cười rộ lên sung sướng theo cái gật đầu, bằng lòng của Bác. Lúc ấy Bác mới đi vào phòng khách và hỏi thăm sức khỏe, tuổi tác của mấy cụ già, rồi căn dặn các chị em làm việc tốt, riêng với các cô giữ trẻ, Bác nhắc nhở:

– Các cháu là mầm non của Tổ quốc, là tương lai của xã hội, các cô phải trông nom dạy dỗ các cháu cho chu đáo.

Eo ơi, tướng giặc, sợ quá!

Trong đời mình, nghệ sĩ ưu tú Lệ Thanh đã nhiều lần vinh dự được vào Phủ Chủ tịch hát và cũng đồng nghiệp biểu diễn phục vụ Bác. Đầu năm 1967, Đoàn Kim Phụng đã biểu diễn vở Kiều Nguyệt Nga để Bác xem. Về lần biểu diện này nghệ sĩ Lệ Thanh kể:

“Chúng tôi chọn màn đầu của vở Kiều Nguyệt Nga vì muốn để Bác được nghe nhiều làn điệu và vui. Tôi đóng vai Lục Vân Tiên. Các vai khác cũng do toàn nữ diễn viên đóng. Anh Ngọc vai Kim Liên, Liên Phương vai quân hầu và chị Tốn đóng vai tướng giặc Phong Lai.

Trong khi chúng tôi đang hóa trang, đột nhiên Bác bước vào, tay cầm mảnh giấy đọc:

– Hồng Trang: Bà bầu.

Chị Hồng Trang lúc đấy là Trưởng đoàn Kim Phụng vội thưa:

– Thưa Bác, cháu đây ạ!

Bác gọi tiếp:

– Lệ Thanh, Lục Vân Tiên.

Tôi vội đứng lên:

– Thưa Bác, cháu ạ!

Bác cười:

– Con gái đóng con trai à?

Tôi thưa :

– Vâng ạ!

Bác lại gọi:

– Tướng giặc Phong Lai đâu?

Chị Tốn đang vẽ mặt, đeo râu, vội bước ra.

Bác giơ hai bàn tay, lắc đầu nói vui:

– Eo ơi, Tướng giặc, sợ quá!

Tất cả Bác cháu đều cười rộ lên rất vui vẻ. Khi biểu diễn xong, các diễn viên đứng ra chào, được Bác lên tặng hoa và bắt tay từng người. Lúc đến trước mặt tôi vẫn trong trang phục Lục Vân Tiên – Bác nói vui:

– Dại thế, lúc nãy Kiều Nguyệt Nga tặng trâm sao không lấy?

Tôi cũng cười, mạnh dạn thưa:

– Thưa Bác, vì Vân Tiên là một tráng sĩ gặp người bị nạn giữa đường thì cứu giúp, vì việc nghĩa chứ không vì vàng bạc ạ.

Bác cười gật đầu…

Bác đến thăm và nói chuyện với Đại hội Ba đảm đang của phụ nữ Thủ đô

cac co co bi chong danh khong a1Ảnh Tư liệu

Đại hội Ba đảm đang của phụ nữ Thủ đô lần thứ nhất, khai mạc rất trọng thể vào tối 1-12-1965 tại hội trường Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc. Chiều 2-12-1065 (ngày họp thứ 2) vào khoảng 16 giờ, Đại hội vô cùng sung sướng, phấn khởi được đón Bác. Cùng đi với Người có Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Anh hùng miền Nam Tạ Thị Kiều. Vừa thấy Bác, cả Hội trường đứng bật dậy, vỗ tay ran như sấm lẫn với tiếng reo vô cùng phấn khởi.

– Bác! Bác đến! Bác đến!… Hồ Chủ tịch muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!

Sau mấy phút vô cùng sôi nổi, Bác giơ tay ra hiệu (một cử chỉ thường có của Bác) cho Đại hội im lặng, rồi Bác tươi cười chỉ vào chị Kiều và nói:

– Hôm nay, Bác dẫn “cô bé này” đến với Đại hội, các cô, các chú(Đại hội có một số đại biểu là nam giới) có phấn khởi không?

Cả Đại hội vỗ tay rầm rầm xen lẫn tiếng:

– Thưa Bác, có ạ!

Không khí Đại hội thật vô cùng náo nhiệt, sôi nổi. Bác đã kể cho Đại hội nghe về những gương anh hùng của phụ nữ ta trong thời kỳ bí mật, trong cuộc kháng chiến chống Pháp và sự hy sinh anh dũng của chị em miền Nam trong chống Mỹ.

Thật bất ngờ, Bác rút trong túi ra một cột báo của Báo Thủ đô ngày hôm đó, đọc tên bảy bà và chị, xong Bác hỏi:

– Các cô ấy có mặt ở Đại  hội này không?

Hội trường lại vang lên:

– Thưa Bác, có ạ!

Bác tươi cười nói:

– Hôm nay, Bác đọc báo thấy có đăng thành tích của bảy cô là công nhân, là nông dân, là giáo viên… Bác rất vui, Bác có mấy chiếc huy hiệu để tặng các cô ấy.

Mọi người sung sướng vỗ tay tưởng làm vỡ phòng họp.

Sau cùng Bác hỏi:

– Các cô có muốn được Bác thưởng Huy hiệu của Bác không?

Cả Hội trường lại phấn khởi trả lời vang lên:

– Thưa Bác, có ạ, có ạ!

Vậy các cô về làm công tác cho tốt, Bác sẽ thưởng!

Cả Hội trường lại vang lên như sấm.

Vào nhầm nhà trẻ

Ở chiến khu Việt Bắc, một lần Bác đến thăm nhà nữ đồng chí Loan, người đã kéo cờ ở Quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945. Vào đến nhà, thấy đông con nhỏ, Bác nói vui:

– Ồ tưởng đây là nhà cô Loan, hóa ra mình vào nhầm nhà trẻ!

Biết Bác phê bình khéo, chị gượng cười và báo cáo:

– Thưa Bác đây là tiểu đội của vợ chồng cháu đấy ạ!

Bác vui vẻ bảo chị tập trung “tiểu đội” cứ lần lượt, bé nhất đứng trước Bác chia kẹo. Chị đang loay hoay sắp xếp đội hình, Bác bảo:

– Tiểu đội trưởng cũng đứng vào hàng chứ!

Bác chia kẹo cho các cháu và chị nữa. Khi đến lượt chị, Bác nói vui:

– Bác khen là cô đã có công nuôi dạy các cháu ngoan.

Bác “Chấm bài” cho một cô giáo

c3Ảnh Tư liệu

Sáng 17 tháng 9 năm 1958, Bác đến thăm ngót 3.000 thầy giáo, cô giáo của toàn miền Bắc được tập trung về Trường Bổ túc Công nông Trung ương để nghiên cứu tình hình nhiệm vụ của cách mạng và nhiệm vụ của ngành giáo dục.

Bác nói chuyện với các thầy giáo, cô giáo về nghề dạy học, nghề “trồng người”.

Tại buổi nói chuyện này, có một chuyện làm mọi người nhớ mãi và trở thành một kỷ niệm không thể quên. Lúc Bác nói chuyện xong một cô giáo của Trường Lương Ngọc Quyến – Liên khu Việt Bắc lên tặng Bác một món quà nhỏ. Mọi người thấy cô giáo trân trọng tặng Bác một chiếc cặp ba dây. Bác mở ra: Trong cặp có 4 chiếc khăn mùi soa. Bác cầm một chiếc và đọc to những dòng chữ thêu trên khăn. Đó là một bài thơ ngắn. Đọc xong Bác trích ra hai câu và “chấm bài” ngay tại chỗ. Câu thứ nhất: “Bác là ánh sáng quang vinh”, Bác sửa: “Bác là Hồ Chí Minh” ; và câu thứ hai: “Chúng con quyết trí hy sinh” lại được Bác sửa: “Chúng tôi quyết chí hy sinh”. Bác vui vẻ nói: “Quyết chí” mà cô giáo viết sai chính tả thành “Quyết trí”. Cả Hội trường cười vui, làm không khí thân mật, đầm ấm, tình cảm giữa lãnh tụ với nhân dân mà ấm áp như cha con trong nhà.

Gái mà làm anh nuôi à?

Đến thăm một đơn vị bộ đội phòng không, đang giữa câu chuyện với ngót 500 cán bộ, chiến sĩ, Bác hỏi:

– Có anh nuôi ở đây không?

– Có ạ!

– Các cháu lên đây.

Các cô gái ngày thường lấm lem than nồi, thế mà giờ đây lại được Bác Hồ quan tâm, cảm động quá cứ ôm lấy Bác Hồ mà khóc. Bác hỏi vui:

– Các cháu làm gì?

– Chúng cháu làm anh nuôi ạ!

– Gái mà làm anh nuôi à?

Bác cháu bật cười vui vẻ.

Tâm Trang (Tổng hợp)
bqllang.gov.vn

Người lái xe tận tụy của “Nữ hoàng Việt cộng”

QĐND – Ông là Mi-sen Xtra-si-ne-xquy (Michel Strachinescu), người lái xe cho Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Bình, trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời (CPCMLT) tại Hội nghị Pa-ri. Chúng tôi đã tìm gặp Mi-sen khi ông vừa tới Hà Nội, với tư cách là khách mời quốc tế nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pa-ri.

Công việc ủng hộ chính nghĩa

Ông hồ hởi kể về những người đồng chí Việt Nam, về công việc ông đã làm trong suốt 3 năm phục vụ đoàn CPCMLT. Câu chuyện diễn ra nhiều chục năm về trước mà cách kể nhiệt tình, sôi nổi của ông như thể mới chỉ vừa diễn ra. Bởi đó là những ký ức ông không thể nào quên. Ông vui vẻ nói: “Bà Bình đúng là một “nữ hoàng”, một người phụ nữ tuyệt vời mà tôi rất kính trọng!”.

Mi-sen mô tả lại cuộc đối đáp giữa người phát ngôn Lý Văn Sáu và tay nhà báo Mỹ. Ảnh: Mai Nguyên

Hồi đó, báo chí tại Pa-ri đã phong tặng bà danh hiệu “Nữ hoàng Việt cộng” với hình ảnh đẹp đẽ của người phụ nữ Việt Nam, mang bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần quật khởi của người miền Nam. Sự xuất hiện của bà đã đập tan những luận điệu xuyên tạc của đối phương về những người chiến sĩ cộng sản Việt Nam thời ấy. Bà Bình thường hỏi chuyện ông bằng tiếng Pháp với âm điệu rất chuẩn xác, chủ yếu hỏi thăm gia đình và con cái ông ở nhà ra sao. Trong suốt 3 năm (từ năm 1970 đến 1973), vì nhà xa không thể đi về thường xuyên, ông đã để lại gia đình, vợ con để tới Verriere-le-Buisson phục vụ đoàn đàm phán CPCMLT.

Tuy được giao nhiệm vụ trực tiếp lái xe phục vụ bà Nguyễn Thị Bình, nhưng nhiều lúc ông cũng lái xe cho các đồng chí khác, trong đó có đồng chí Lý Văn Sáu, người phát ngôn của đoàn CPCMLT. Đang nói chuyện, bỗng Mi-sen đứng bật dậy, làm điệu bộ chỉ tay và quay người. Thì ra ông đang mô tả cuộc đối đáp của ông Lý Văn Sáu với một tay nhà báo Mỹ, người đã giơ tấm bản đồ và hỏi vùng giải phóng của miền Nam Việt Nam ở đâu tại một cuộc họp báo. Mi-sen còn nhớ khi đó, ông Lý Văn Sáu đã đáp rằng, “máy bay Mỹ ném bom nơi nào ở miền Nam Việt Nam thì những nơi ấy chính là vùng giải phóng của chúng tôi”. Mi-sen kể ông đã được người phát ngôn Lý Văn Sáu giải thích cho rất nhiều về ý nghĩa cuộc chiến tranh chống Mỹ của dân tộc Việt Nam. Nhờ đó, từ lúc ban đầu chỉ biết qua báo chí, dần dần ông đã hiểu hơn về cuộc chiến đấu của dân tộc Việt Nam.

Khi mới được bộ phận chuyên trách của Đảng Cộng sản Pháp đề xuất giao nhiệm vụ lái xe phục vụ đoàn CPCMLT, ông thực sự vẫn còn mơ hồ về công việc mình sẽ làm. Khi ấy, Mi-sen là một đảng viên trẻ, mới 24 tuổi của Đảng Cộng sản Pháp. Nhưng càng tiếp xúc lâu và gần gũi với những đồng chí Việt Nam, với công việc của đoàn đàm phán, ông Mi-sen càng hiểu hơn những gì mình đang làm là một nhiệm vụ chính trị, chứ không chỉ là công việc đơn thuần. Ông hiểu đó là công việc vì chính nghĩa, giúp đỡ một đất nước chống lại chiến tranh xâm lược.

Bức ảnh chụp bà Nguyễn Thị Bình mà ông Mi-sen lưu giữ. Ảnh tư liệu

“Nếu là công việc thì sẽ bắt đầu lúc 8 giờ và kết thúc vào 17 giờ. Còn chúng tôi làm việc bất kể giờ giấc, có lúc chờ đoàn họp xong đến 2, 3 giờ đêm là chuyện bình thường”, ông kể lại. Nhiệm vụ cũng khá căng thẳng vì ngoài việc lái xe, ông còn kiêm luôn nhiệm vụ bảo vệ cho bà Bình khi di chuyển trên đường. Ông luôn phải cảnh giác quan sát vì đề phòng phía đối phương sẽ có những hành động bất lợi, gây nguy hiểm cho các thành viên trong đoàn.

Một lần Mi-sen đang lái xe trên đường cao tốc chở đồng chí Lý Văn Sáu và một số thành viên khác trong đoàn thì phát hiện lá cờ nhỏ của CPCMLT cắm trên ô tô gãy và rơi xuống đất. Dường như có ai đó đã cố tình bẻ gãy chiếc đế cắm cờ. Khi đó, xe đã chạy được khoảng 200m rồi. Lúc ấy trong đầu Mi-sen chỉ kịp nghĩ rằng không thể để lá cờ nằm đó mà phải nhặt bằng được mang về. Vậy là bất chấp nguy hiểm, ông ra các dấu hiệu khẩn cấp, rồi dừng xe, bước xuống quay lại nhặt lá cờ trong tiếng hò hét, quát tháo của những người lái xe khác. Lúc đó họ tưởng ông bị điên vì có hành động quá nguy hiểm có thể tai nạn chết người.

Mi-sen cũng chia sẻ thật, công việc bận rộn, lại kéo dài nhiều năm nên thật sự cũng không phải dễ dàng gì cho vợ ông. “Nhưng các đồng chí Việt Nam đã tới tận nhà gặp Giắc-cơ-lin (Jacquelines) và giải thích nên cô ấy cũng rất thông cảm với công việc của chồng”, Mi-sen nhớ lại.

Bánh ga-tô chúc mừng Việt Nam

Ba năm phục vụ đoàn đàm phán CPCMLT, trong ký ức Mi-sen đầy ắp những kỷ niệm đẹp với những người mà ông vẫn gọi là các “đồng chí Việt Nam”. Ông vui với niềm vui của các “đồng chí Việt Nam” mỗi lần đón đoàn đi họp về có kết quả tích cực. Và cũng buồn lây sau mỗi cuộc họp căng thẳng, mệt mỏi và kéo dài của họ. Tự tay Mi-sen đã làm một chiếc bánh ga-tô nhiều tầng kiểu Pháp để chúc mừng các đồng chí Việt Nam sau khi Hiệp định Pa-ri được ký tắt. Trên tầng cao nhất của chiếc bánh còn có hình một lá cờ đỏ sao vàng của Việt Nam. Ông cũng nhớ cả người đầu bếp Việt Nam mà các ông vẫn gọi là “papa” (nghĩa là “bố”) đã nhiệt tình nấu cho các đồng chí người Pháp phục vụ đoàn thưởng thức các món ăn Việt Nam.

“Trong ngày Hiệp định Pa-ri chính thức được ký, 27-1-1973, niềm vui vỡ òa của các đồng chí Việt Nam cũng chính là niềm hạnh phúc của chúng tôi”, Mi-sen còn nhớ. Nhưng chính lúc đó, Mi-sen cũng hiểu rằng cuộc chiến ở Việt Nam còn chưa kết thúc. Vì sau khi Mỹ rút quân về nước theo Hiệp định Pa-ri thì vẫn còn lại chính quyền ngụy tay sai.

Cầm xấp ảnh tư liệu trên tay, ông đọc vanh vách tên những đồng chí Việt Nam trong đoàn mà ông có dịp chụp ảnh kỷ niệm cùng. Ông cũng trân trọng lưu giữ bức ảnh chân dung của “Nữ hoàng Việt cộng” ở Pa-ri với chữ ký tặng của bà. Sau giải phóng, năm 1976, bà Bình đã mời Mi-sen sang thăm Việt Nam để tỏ lòng cảm ơn. Đó là lần đặt chân đầu tiên của Mi-sen tới đất nước của những người “đồng chí Việt Nam” mà ông từng một thời gắn bó.

MỸ HẠNH
qdnd.vn

Những người lính thầm lặng

Kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris (27.1.1973 – 27.1.2013)

Đóng góp vào thắng lợi của cuộc đấu tranh ngoại giao lâu dài nhất, cam go nhất trong lịch sử ngoại giao cách mạng Việt Nam là những người chịu trách nhiệm bảo vệ an toàn tuyệt đối cho thành viên các đoàn cũng như tài liệu, địa điểm Hội nghị.

Dù hơn 40 năm đã đi qua, nhưng với ông Lê Việt Hưng, những ngày bảo vệ các đoàn Việt Nam tại Hội nghị Paris vẫn chưa phai mờ. Cuối tháng 4.1968, ông Lê Việt Hưng là một trong 5 đồng chí (với 5 bí danh: Bắc, Trung, Nam, Thống, Nhất) được Cục Cảnh vệ, nay là Bộ Tư lệnh cảnh vệ, Bộ Công an, giao nhiệm vụ bảo vệ đoàn đàm phán Hiệp định Paris. Ông Lê Việt Hưng được mang bí danh Lê Việt Bắc. Ngày 9.5.1968, đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do đồng chí Xuân Thủy làm trưởng đoàn đến Paris. Những ngày mới sang, đoàn ở khách sạn Lutestia, số 45 Đại lộ Raspail, quận 16, Paris, về sau để bảo đảm an toàn tuyệt đối, đoàn chuyển đến Trường Đảng Choisy Le Roi, ngoại ô Paris. Nhằm tránh sự nhòm ngó của các thế lực phản động, trong thời gian diễn ra các cuộc đàm phán, trường vẫn tổ chức chiêu sinh bình thường. Ông Lê Việt Hưng nhớ lại: “suốt gần 5 năm trên đất Paris, chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ khi không để xảy ra sơ suất nào dù nhỏ nhất về người, về tài liệu, về địa điểm. Căn phòng của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Trưởng đoàn Xuân Thủy ở luôn được canh gác suốt ngày đêm, cùng với sự giúp sức của Đảng Cộng sản Pháp và cảnh sát Chính phủ Pháp gác vòng ngoài. Khi Trưởng đoàn Xuân Thủy và Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ cần ra ngoài, lại có một lượng cảnh sát hộ tống. Tất cả chuyến đi, từ công khai đến bí mật của đoàn đàm phán đều tuyệt đối an toàn. Dĩ nhiên, lúc bấy giờ không ai biết đó là nơi ở và làm việc của phái đoàn Việt Nam”.

Trong số 42 cán bộ cảnh vệ được lựa chọn đi bảo vệ tại Hội nghị Paris, hiện chỉ còn 27 người, 15 người đã mất. Mỗi cán bộ, chiến sỹ khi đó đều nhận thức đây là một nhiệm vụ nặng nề, nhưng cũng là vinh dự lớn lao mà Đảng và nhân dân tin cậy giao phó, ai nấy đều quyết tâm với hết khả năng của mình để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Ông Trần Hữu Diệt, nguyên Trưởng phòng Hậu cần, Bộ Công an, thành viên Đội bảo vệ Đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam, kể: “Công việc của tôi lúc bấy giờ là bảo đảm an toàn cho lãnh đạo khi tiếp xúc các đoàn, trước khi ra hội trường, kiểm tra bảo quản an toàn thực phẩm… Hiểu rõ công việc của mình, chúng tôi luôn nỗ lực và cố gắng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, chủ động thực hiện tốt các phương án đấu tranh với địch trong cũng như ngoài hội nghị. Ngoài bảo đảm an toàn chính trị của 2 đoàn, các tài liệu quan trọng cũng được bảo vệ tuyệt đối. Suốt thời gian tôi và đồng đội làm nhiệm vụ, hơn 200 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, 500 buổi họp báo, gần 1.000 cuộc phỏng vấn diễn ra nhưng không một thông tin, một địa điểm bí mật nào bị tiết lộ”.

Cùng nhận nhiệm vụ bảo vệ đoàn tại Paris, ông Tăng Văn Soát, chia sẻ thêm: để hoàn thành nhiệm vụ, tôi luôn khắc sâu lời Bác Hồ căn dặn và xác định rõ phương châm hành động: “Khi không có địch phải coi như có địch, khi có địch phải bình tĩnh như không có địch”.

Kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris, được xem lại các hình ảnh cũ, nhớ lại những câu chuyện năm xưa, những người từng làm công tác bảo vệ 2 đoàn đàm phán của Việt Nam như được sống lại một giai đoạn lịch sử không thể nào quên. Mặc dù đã cao tuổi nhưng ai cũng tâm niệm sẽ tiếp tục đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hương Sen
daibieunhandan.vn

Đỉnh cao thắng lợi ngoại giao Việt Nam

Kỷ niệm 40 năm ký Hiệp định Paris, Đài Tiếng nói Việt Nam sẽ thực hiện chương trình phát thanh đặc biệt Đỉnh cao thắng lợi ngoại giao Việt Nam từ 7h – 13h ngày 27.1 trên hệ VOV1. Chương trình chia làm ba phần: từ 7h-9h với chủ đề Con đường dẫn tới hòa đàm; từ 9h-11h là Đấu trí trên bàn đàm phán và từ 11h – 13h là Bài học đối thoại, hòa bình và hòa hợp.

Chương trình nhằm giúp khán thính giả hiểu rõ về ý nghĩa của Hiệp định Paris, mốc son trong hoạt động ngoại giao, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, thống nhất đất nước của dân tộc ta; bài học “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong đấu tranh ngoại giao của dân tộc Việt Nam. Khách mời trong phần 1 là GS, NGND Vũ Dương Ninh, nguyên Trưởng khoa Quốc tế học, Đại học KHXH&NV, nhà nghiên cứu lịch sử quan hệ quốc tế và Đại tá, PGS, TS Nguyễn Mạnh Hà, Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng. Họ sẽ phân tích, nêu rõ ý nghĩa, hoàn cảnh lịch sử của Hiệp định Paris, tác động của Hiệp định Paris với đại thắng mùa xuân năm 1975, sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam. Thính giả cũng sẽ được nghe những bài viết về những bài học đánh giặc ngoại xâm từ thời Vua Lê Lợi, Nguyễn Trãi; nghệ thuật binh vận, bước nối dài từ Hội nghị Fontainebleau; Hội nghị Đà Lạt… cho tới Hiệp định Geneve, và tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh… để khẳng định: dân tộc ta biết cách tìm lối ra hòa bình cho cuộc chiến tranh chống ngoại xâm.

Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nguyễn Duy Trinh ký Hiệp định Paris

Trong phần II, nhà ngoại giao Phan Doãn Nam, nguyên Trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, nguyên chuyên viên Đoàn; nhà ngoại giao Phạm Ngạc, nguyên Đại sứ, nguyên chuyên viên Đoàn kể lại những câu chuyện trong thời gian diễn ra cuộc đấu trí trên bàn đàm phán; bối cảnh trước cuộc đàm phán lịch sử tại Paris; phân tích về tác động của sự kiện lịch sử ký Hiệp định Paris với việc buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán tại thủ đô Paris (Pháp), nhằm rút lui trong danh dự; thế của ta khi bước vào đàm phán thực chất; sự ủng hộ mạnh mẽ hơn của dư luận quốc tế đối với ta; bối cảnh chính trị Mỹ khiến Tổng thống Nixon phải xuống thang…

Phần III Bài học đối thoại, các khách mời đồng hành cùng chương trình sẽ là ông Lưu Văn Lợi, cố vấn của ông Lê Đức Thọ tham gia đàm phán Hiệp định Paris; ông Vũ Dương Huân, nguyên Trưởng ban Nghiên cứu lịch sử ngoại giao. Các khách mời sẽ chia sẻ về ý nghĩa lịch sử Hiệp định Paris…

VOV
daibieunhandan.vn

Sự tiếc nuối của một người Mỹ

QĐND – Có mặt trong đoàn đại biểu quốc tế được mời tới Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Pa-ri, linh mục Thô-mát Găm-bơ-tơn (Thomas J. Gumbleton) đã chia sẻ những tâm sự với tư cách một người Mỹ từng tham gia phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam ở chính nước Mỹ.

Linh mục Thô-mát Găm-bơ-tơn. Ảnh: Mạnh Lâm

Ông Thô-mát Găm-bơ-tơn, 83 tuổi, đã tham gia phong trào chống chiến tranh tại Việt Nam từ cuối những năm 60 của thế kỷ trước khi Hội đồng Giám mục Mỹ chính thức công khai đặt vấn đề nghi vấn về cuộc chiến tranh này. Ông cũng chính là người có công lớn trong việc thúc đẩy Hội đồng Giám mục Mỹ thông qua một nghị quyết lên án cuộc chiến tranh tại Việt Nam vào năm 1971. “Theo tôi, các quyền cơ bản của con người cần phải được bảo vệ. Người dân Việt Nam có khát vọng được độc lập, tự do và họ có quyền được như vậy”, ông lý giải cho hành động phản chiến của mình.

Muốn buộc chính quyền Mỹ phải dập “ngọn lửa” chiến tranh do chính mình “châm ngòi”, đòi hỏi phải có sức ép từ chính người dân Mỹ. Nhận thức điều đó, linh mục Thô-mát Găm-bơ-tơn đã lăn lộn nhiều nơi trên khắp đất Mỹ, trình bày những bài thuyết giảng nhằm nâng cao nhận thức, thức tỉnh lương tri, kêu gọi người dân lên tiếng phản đối hành động phi nghĩa của chính quyền. Mọi chuyện hóa ra lại không hề đơn giản bởi khi ấy không phải người Mỹ nào cũng hiểu rõ vấn đề. “Có người còn la ó, phản đối, chỉ thẳng vào mặt tôi mà gọi là “đồ Cộng sản”, ông bộc bạch. Tuy nhiên, không vì thế mà ông nản lòng, bỏ cuộc bởi vì ông không hề đơn độc, sát cánh cùng ông còn có nhiều vị giám mục khác.

Việc chính quyền Ních-xơn không muốn “mất mặt” vì thua Việt Nam nên đã lật lọng, tiến hành ném bom miền Bắc Việt Nam vào thời điểm Giáng sinh-cái dịp đáng lẽ nhiều người dân được sum họp, vui vầy bên gia đình và người thân, đã thôi thúc ông phải tìm mọi cách đến Việt Nam càng sớm càng tốt. “Tôi muốn tìm hiểu chính quyền Mỹ thực sự đã và đang làm gì trên mảnh đất này?”, ông chia sẻ. Tuy nhiên, vào thời điểm ông có thể đến được Việt Nam thì đã là tháng 4-1973, lúc đó Hiệp định Hòa bình Pa-ri đã được ký kết. Dù vậy, ông vẫn muốn đến, bởi trên thực tế, chiến tranh chưa thực sự chấm dứt.

Trong chuyến đi 10 ngày tại Sài Gòn năm ấy, ông đã có cơ hội gặp gỡ, tiếp xúc với một số tù nhân được chính quyền Sài Gòn phóng thích. Họ bị bắt vì phản đối chiến tranh, chống chính quyền. Họ kể cho ông về những chuồng cọp, nơi mà chính quyền ngụy Sài Gòn đã giam giữ họ. Ông cũng được gặp gỡ nhiều người dân Việt Nam khác, những con người mà theo ông là “bình dị nhưng dũng cảm, dám đứng lên đấu tranh vì tự do, độc lập”. Sau khi trở về Mỹ, ông viết báo kể về những gì mắt thấy tai nghe, sự tàn khốc mà chiến tranh đã gây ra với người dân Việt Nam nhằm thúc đẩy phong trào phản chiến.

Nói về cuộc chiến tranh Việt Nam, ông Thô-mát Găm-bơ-tơn thẳng thắn thừa nhận, trên thực tế, Mỹ không có quyền can thiệp quân sự vì Việt Nam đã là một quốc gia độc lập từ năm 1945. “Chính quyền miền Bắc Việt Nam muốn một Việt Nam độc lập, thống nhất nhưng chúng tôi, nước Mỹ lại hỗ trợ đào tạo, thành lập chính quyền Sài Gòn, rồi dùng bom na-pan, chất độc da cam để gây chiến ở Việt Nam”, giọng ông run lên, như tự trách mình.“Chúng tôi đã sai lầm”, ông nhấn mạnh, “và kết quả là phải nếm mùi thất bại nặng nề”.

Vị linh mục Mỹ vẫn còn nhớ như in một thước phim tài liệu ông đã xem, trong đó Cựu bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Rô-bớt Mắc Na-ma-ra (Robert McNamara), tại một cuộc gặp với các nhà lãnh đạo Việt Nam hồi những năm 80 của thế kỷ trước, thừa nhận cuộc chiến tranh tại Việt Nam là một sai lầm khủng khiếp của Mỹ. “Tiếc là ông ấy nhận ra điều đó quá muộn bởi hơn hai triệu người đã thiệt mạng và hàng triệu người khác mất nhà cửa vì cái sai lầm khủng khiếp ấy”, ông Thô-mát Găm-bơ-tơn tiếc nuối.

LÂM TOÀN
qdnd.vn

Nỗ lực tạo bước chuyển chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ *

Kỷ niệm 40 năm Hội nghị Pa-ri về Việt Nam

QĐND – Ngày 27N-1-1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (gọi tắt là Hiệp định Pa -ri) được ký kết, kết thúc thắng lợi Hội nghị Pa -ri – cuộc đấu tranh ngoại giao lâu dài nhất, cam go nhất trong lịch sử của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Kỷ niệm 40 năm ký kết Hiệp định Pa -ri là dịp để chúng ta ôn lại chiến công hào hùng của dân tộc, noi theo tấm gương sáng của những thế hệ cha anh, tri ân bạn bè quốc tế và vận dụng sáng tạo các bài học lịch sử để triển khai thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kỳ mới.

Di sản vĩ đại của phong trào giải phóng dân tộc

Kéo dài ròng rã 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, trải qua 202 phiên họp công khai và 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, Hội nghị Pa -ri là cuộc đấu trí, đấu bản lĩnh quyết liệt giữa nền ngoại giao non trẻ với nền ngoại giao lão luyện của một siêu cường hàng đầu thế giới. Để đi đến thắng lợi cuối cùng là bản Hiệp định lịch sử ngày 27-1-1973, chúng ta đã kiên định đường lối, chiến lược mà Đảng đề ra, đồng thời chuẩn bị kỹ càng, hết sức chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cả về bản lĩnh cách mạnh và kiến thức mọi mặt. Kế tục truyền thống đấu tranh ngoại giao của cha ông và trên cơ sở các bài học của Hiệp định Giơ -ne-vơ 1954, đội ngũ cán bộ ngoại giao đã không ngừng lớn mạnh thông qua các hoạt động tranh thủ dư luận quốc tế, hỗ trợ chiến trường chống “chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, góp phần đưa tới thắng lợi Tết Mậu Thân 1968, buộc Mỹ phải thay đổi chiến lược, xuống thang chiến tranh, đi vào đàm phán, kết thúc chiến tranh bằng một giải pháp chính trị.

Hiệp định Pa -ri có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng, thống nhất đất nước của dân tộc ta. Hiệp định là văn bản pháp lý toàn diện, đầy đủ nhất công nhận các quyền cơ bản của dân tộc ta, trong đó Mỹ buộc phải cam kết “tôn trọng độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”. Hội nghị Pa -ri và Hiệp định Pa -ri đã góp phần quan trọng vào nỗ lực tạo nên bước chuyển chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, từng bước buộc Mỹ phải đi vào giải pháp, chấm dứt ném bom miền Bắc, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam, hoàn thành mục tiêu chiến lược “đánh cho Mỹ cút”. Với việc buộc Mỹ phải rút hết trong khi ta duy trì được hoàn toàn lực lượng, Hiệp định mở ra một cục diện mới, so sánh lực lượng trên chiến trường nghiêng hẳn về ta để tiến lên “đánh cho ngụy nhào”. Hiệp định Pa -ri còn góp phần ngăn chặn mọi âm mưu can thiệp trở lại của Mỹ khi toàn quân, toàn dân ta tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 với đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Vượt lên trên mọi ý nghĩa thông thường, Hội nghị Pa -ri và Hiệp định Pa -ri là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, củng cố niềm tin của nhân dân các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới vào sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của mình. Cũng chính vì vậy, Hội nghị Pa -ri và Hiệp định Pa -ri đã góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình và công lý, là di sản vĩ đại của phong trào giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị và can thiệp của nước ngoài.

Những bài học quý giá

Hội nghị Pa -ri để lại những bài học vô cùng quý giá. Bài học thứ nhất và quan trọng nhất là tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Đây là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Trong suốt quá trình đàm phán, Bộ Chính trị đã luôn theo dõi và chỉ đạo sát sao cả về chiến lược và sách lược đối với hai đoàn đàm phán để đi đến thắng lợi cuối cùng. Thứ hai, giữ vững độc lập, tự chủ, coi đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong xử lý các vấn đề đối ngoại. Hội nghị Pa -ri một lần nữa khẳng định rằng, chỉ có giữ vững độc lập, tự chủ trong quyết định chiến lược, sách lược, ta mới có thể chủ động tiến công, chủ động tạo thời cơ và tranh thủ thời cơ để bảo vệ lợi ích dân tộc. Thứ ba, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp, các lĩnh vực là nhân tố quyết định đảm bảo thắng lợi. Trong suốt quá trình đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Pa -ri, sự phối hợp nhịp nhàng giữa ba mặt trận chính trị, quân sự và ngoại giao, giữa “đánh” và “đàm”, giữa các binh chủng hợp thành thế trận chiến tranh nhân dân, có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Ngay tại Pa -ri, sự phối hợp chặt chẽ và thực hiện phương châm “tuy hai mà một, tuy một mà hai” của hai đoàn đàm phán dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng ta cũng là nhân tố hết sức quan trọng để đi đến thắng lợi. Thứ tư, chủ động, sáng tạo là phương cách đảm bảo thắng lợi trong đấu tranh ngoại giao. Ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước mà đỉnh cao là Hội nghị Pa -ri thực sự đã trở thành một mặt trận chiến lược, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp của dân tộc. Trong suốt quá trình đàm phán tại Pa -ri, mặt trận ngoại giao đã chủ động tiến công, đồng thời tận dụng tối đa các thế mạnh đặc thù của mình để giành thắng lợi. Thứ năm, Hội nghị Pa -ri là bài học tiêu biểu về kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Trong suốt quá trình đàm phán tại Pa-ri, chúng ta đã có được sự ủng hộ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã tranh thủ được sự đồng tình của dư luận quốc tế, kể cả dư luận tiến bộ Mỹ, góp phần tạo nên một mặt trận nhân dân thế giới rộng lớn ủng hộ Việt Nam.

Kế tục và phát huy truyền thống vẻ vang của ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước, ngoại giao thời kỳ hội nhập quốc tế và phát triển đất nước tiếp tục là một “mặt trận”, trong đó các cán bộ ngoại giao là những “người lính“,không ngừng phấn đấu góp phần tích cực đưa đất nước vào vị thế có lợi nhất trong nền chính trịk, nền kinh tế và văn hóa khu vực và toàn cầu. Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ đối ngoại và vận dụng các bài học lịch sử của Hội nghị Pa -ri, ngành ngoại giao tiếp tục nỗ lực vượt bậc trong các hướng cụ thể sau:

Thứ nhất, tăng cường công tác chính trị tư tưởng, tuyệt đối tin tưởng vào con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, vững vàng bản lĩnh chính trị, kiên định đường lối đối ngoại “độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ”; nỗ lực quên mình vì lợi ích quốc gia dân tộc vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh.

Thứ hai, phát huy truyền thống chủ động, sáng tạo trong đối ngoại, đề xuất nhiều sáng kiến thiết thực để nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại trong quan hệ với các đối tác và trên các diễn đàn, tổ chức quốc tế; tăng cường công tác nghiên cứu dự báo, phát hiện thời cơ và kiến nghị các biện pháp tận dụng thời cơ, lường trước các thách thức và kiến nghị các biện pháp hóa giải hoặc giảm thiểu các thách thức đối với phát triển và an ninh của đất nước.

Thứ ba, hợp đồng chặt chẽ giữa ngoại giao với kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh… phối hợp nhịp nhàng với đối ngoại Đảng, ngoại giao nhân dân dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp của đất nước, kết hợp thành công sức mạnh của đất nước với sức mạnh của thời đại, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đối ngoại được Đảng giao phó.

Thứ tư, không ngừng học tập rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ và kiến thức mọi mặt, xây dựng đội ngũ cán bộ ngoại giao có trình độ và năng lực ngang tầm với các nước trong khu vực; đáp ứng yêu cầu triển khai thành công định hướng “triển khai đồng bộ và toàn diện các hoạt động đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” của đường lối đối ngoại Đại hội XI.

Kỷ niệm 40 năm ngày Hiệp định Pa -ri được ký kết, chúng ta bày tỏ lòng biết ơn đối với sự hy sinh của biết bao đồng bào và chiến sĩ cả nước, biết ơn Đảng và Bác Hồ vĩ đại, tri ân các thế hệ cha, anh đã trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh ngoại giao ở Pa -ri, tri ân các bạn bè quốc tế đã nhiệt tình ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. ôn lại các ý nghĩa trọng đại và bài học sâu sắc của Hội nghị Pa -ri, chúng ta thêm vững tin vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, quyết tâm phát huy tinh thần Hội nghị Pa -ri, vận dụng sáng tạo các bài học của Hội nghị trong bối cảnh tình hình và nhiệm vụ mới, quyết tâm góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

PHẠM BÌNH MINH
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao
qdnd.vn

* Đầu đề của Báo Quân đội nhân dân

Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bước phát triển mới của chủ nghĩa Mác – Lênin, được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Điều cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với giải quyết xã hội và giải phóng con người. Trong đó, vấn đề con người là vấn đề lớn, được đặt lên hàng đầu và là vấn đề trung tâm, xuyên suốt trong toàn bộ nội dung tư tưởng của Người.

Tư tưởng Hồ Chí Minh đi tới mùa XuânTư tưởng Hồ Chí Minh là một bước phát triển mới của chủ nghĩa Mác – Lênin, được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Điều cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với giải quyết xã hội và giải phóng con người. Trong đó, vấn đề con người là vấn đề lớn, được đặt lên hàng đầu và là vấn đề trung tâm, xuyên suốt trong toàn bộ nội dung tư tưởng của Người. Tin ở dân, dựa vào dân, tổ chức và phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân, bồi dưỡng, đào tạo và phát huy mọi năng lực của dân (ở từng cá nhân riêng lẻ và của cả cộng đồng), đó là tư tưởng được Hồ Chí Minh vận dụng và phát triển trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộc cũng như xây dựng đất nước. Tư tưởng đó cũng chính là nội dung cơ bản của toàn bộ tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh.

Đối với Hồ Chí Minh, con người vừa tồn tại tư cách cá nhân, vừa là thành viên của gia đình và của cộng đồng, có cuộc sống tập thể và cuộc sống cá nhân hài hòa, phong phú. Người đã nêu một định nghĩa về con người: “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người”. Quan điểm đó thể hiện ở chỗ Người chưa bao giờ nhìn nhận con người một cách chung chung, trừu tượng. Khi bàn về chính sách xã hội, cũng như ở mọi nơi, mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh, Người luôn quan tâm đến nhu cầu, lợi ích của con người với tư cách nhu cầu chính đáng. Đem lại lợi ích cho con người chính là tạo ra động lực vô cùng lớn lao cho sự nghiệp chung, vì nếu như những nhu cầu, lợi ích của mỗi cá nhân không được quan tâm thỏa đáng thì tính tích cực của họ sẽ không thể phát huy được. Trong khi phê phán một cách nghiêm khắc chủ nghĩa cá nhân, Người viết: “Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình”. Trong quan điểm về thực hiện một nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, theo Người, phải là một nền dân chủ chân chính, không hình thức, không cực đoan, trong đó mỗi con người cụ thể phải được đảm bảo những quyền lợi và nghĩa vụ của mình theo hiến pháp và pháp luật. Con người, với tư cách là những cá nhân, không tồn tại biệt lập mà tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với cộng đồng dân tộc và với các loài người trên toàn thế giới.

Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không tồn tại như một phạm trù bản thể luận có tính trừu tượng hóa và khái quát hóa, mà được đề cập đến một cách cụ thể, đó là nhân dân Việt Nam, những con người lao động nghèo khổ bị áp bức cùng cực dưới ách thống trị của phong kiến, đế quốc; là dân tộc Việt Nam đang bị đô hộ bởi chủ nghĩa thực dân; và mở rộng hơn nữa là những “người nô lệ mất nước” và “người cùng khổ”. Lôgíc phát triển tư tưởng của Người là xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước để đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, đến với chủ nghĩa quốc tế chân chính. Theo lôgíc phát triển tư tưởng ấy, khái niệm “con người” của Hồ Chí Minh tiếp cận với khái niệm “giai cấp vô sản cách mạng”. Người đề cập đến giai cấp vô sản cách mạng và sự thống nhất về lợi ích căn bản của giai cấp đó với các tầng lớp nhân dân lao động khác (đặc biệt là nông dân). Người nhận thức một cách sâu sắc rằng, chỉ có cuộc cách mạng duy nhất và tất yếu đạt tới được mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự nô dịch, áp bức. Toàn bộ các tư tưởng, lý luận (chiếm một khối lượng lớn trong các tác phẩm của Người) bàn vềcách mạng (chiến lược giải pháp; bàn về người cách mạng và đạo đức cách mạng, về hoạch định và thực hiện các chính sách xã hội; về rèn luyện và giáo dục con người v.v…) về thực chất chỉ là sự cụ thể hóa bằng thực tiễn tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người được khái niệm vừa là mục tiêu của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, vừa là động lực của chính sự nghiệp đó. Tư tưởng đó được thể hiện rất triệt để và cụ thể trong lý luận chỉ đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Trong lý luận về xây dựng chế độ mới, Hồ Chủ tịch đã khẳng định xây dựng chế độ dân chủ nhân dân gắn liền với việc thực hiện bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong kháng chiến giải phóng dân tộc cần xây dựng chế độ dân chủ nhân dân để đẩy mạnh công cuộc kháng chiến, đồng thời tạo ra những tiền đề cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội; trong xây dựng chủ nghĩa xã hội cần phải thực hiện chế độ dân chủ nhân dân, vì như Người nói: “Đây là cuộc chiến đấu khổng lồ chống lại những cái gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”. Cuộc chiến đấu ấy sẽ không đi đến thắng lợi, nếu không “dựa vào lực lượng của toàn dân”. Về chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh không bao giờ quan niệm hình thái xã hội đó như một mô hình hoàn chỉnh, một công thức bất biến. Bao giờ Người cũng coi trọng những điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa khách quan. Người chỉ đề ra những mục tiêu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội với những bước đi thiết thực và những nội dung cơ bản nhất. Theo Người: “Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết là làm cho nhân dân lao động thoát khỏi bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và được sống đời hạnh phúc”; “Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân” xây dựng chủ nghĩa xã hội tức là làm cho nhân dân ta có một đời sống thật sung sướng, tốt đẹp. Người dạy xây dựng chủ nghĩa xã hội phải thiết thực, phù hợp với điều kiện khách quan, phải nắm được quy luật và phải biết vận dụng quy luật một cách sáng tạo trên cơ sở nắm vững tính đặc thù, tránh giáo điều, rập khuôn máy móc. Sự sáng tạo đó gần gũi, tương đồng, nhất quán với luận điểm của Ăngghen: “Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay”. Vì vậy, không chỉ trong lý luận về đấu tranh giành độc lập dân tộc mà cả trong lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội khi định ra những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, trước hết, “cần có con người xã hội chủ nghĩa”, Hồ Chí Minh đã thể hiện nhất quán quan điểm về con người: con người là mục tiêu, đồng thời vừa là động lực của sự nghiệp giải phóng xã hội và giải phóng chính bản thân con người.

Tấm lòng Hồ Chí Minh luôn hướng về con người. Người yêu thương con người, tin tưởng con người, tin và thương yêu nhân dân, trước hết là người lao động, nhân dân mình và nhân dân các nước. Với Hồ Chí Minh, “lòng thương yêu nhân dân, thương yêu nhân loại” là “không bao giờ thay đổi”. Người có một niềm tin lớn ở sức mạnh sáng tạo của con người. Lòng tin mãnh liệt và vô tận của Hồ Chí Minh vào nhân dân, vào những con người bình thường đã được hình thành rất sớm. Từ những năm tháng Người bôn ba tìm đường cứu nước, thâm nhập, lăn lộn, tìm hiểu thực tế cuộc sống và tâm tư của những người dân lao động trong nước và nước ngoài. Người đã khẳng định: “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương ẩn giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét, và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến”1. Tin vào quần chúng, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, đó là một trong những phẩm chất cơ bản của người cộng sản. Và đây cũng chính là chỗ khác căn bản, khác về chất, giữa quan điểm của Hồ Chí Minh với quan điểm của các nhà Nho yêu nước xưa kia (kể cả các bậc sĩ phu tiền bối gần thời với Hồ Chí Minh) về con người. Nếu như quan điểm của Hồ Chí Minh: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết toàn dân”, thì các nhà Nho phong kiến xưa kia mặc dù có những tư tưởng tích cực “lấy dân làm gốc”, mặc dù cũng chủ trương khoan thư sức dân”, nhưng quan điểm của họ mới chỉ dừng lại ở chỗ coi việc dựa vào dân cũng như một “kế sách”, một phương tiện để thực hiện mục đích “trị nước”, “bình thiên hạ”. Ngay cả những bậc sĩ phu tiền bối của Hồ Chí Minh, tuy là những người yêu nước một cách nhiệt thành, nhưng họ chưa có một quan điểm đúng đắn và đầy đủ về nhân dân, chưa có đủ niềm tin vào sức mạnh của quần chúng nhân dân. Quan điểm tin vào dân, vào nhân tố con người của Người thống nhất với quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin: “Quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử”.

Tin dân, đồng thời lại hết lòng thương dân, tình thương yêu nhân dân của Hồ Chí Minh có nguồn gốc sâu xa từ trong truyền thống dân tộc, truyền thống nhân ái ngàn đời của người Việt Nam. Cũng như bao nhà Nho yêu nước khác có cùng quan điểm “ái quốc là ái dân”, nhưng điểm khác cơ bản trong tư tưởng “ái dân” của Người là tình thương ấy không bao giờ dừng lại ở ý thức, tư tưởng mà đã trở thành ý chí, quyết tâm thực hiện đến cùng sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại cần lao, xóa bỏ đau khổ, áp bức bất công giành lại tự do, nhân phẩm và giá trị làm người cho con người. ở Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước gắn bó không tách rời với chủ nghĩa quốc tế chân chính. Tình thương yêu cũng như toàn bộ tư tưởng về nhân dân của Người không bị giới hạn trong chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi mà nó tồn tại trong mối quan hệ khăng khít giữa các vấn đề dân tộc và giai cấp, quốc gia với quốc tế. Yêu thương nhân dân Việt Nam, Người đồng thời yêu thương nhân dân các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Trong sự nghiệp lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh luôn coi trọng sức mạnh đoàn kết toàn dân và sự đồng tình ủng hộ to lớn của bè bạn khắp năm châu, của cả nhân loại tiến bộ. Người cũng xác định sự nghiệp cách mạng của nước ta là một bộ phận không thể tách rời trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh giải phóng nhân loại trên phạm vi toàn thế giới.

Tóm lại: Quan niệm về con người, coi con người là một thực thể thống nhất của “cái cá nhân” và “cái xã hội”, con người tồn tại trong mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân với cộng đồng, dân tộc, giai cấp, nhân loại; yêu thương con người, tin tưởng tuyệt đối ở con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp giải phóng xã hội và giải phóng chính bản thân con người, đó chính là những luận điểm cơ bản trong tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh. Xuất phát từ những luận điểm đúng đắn đó, trong khi lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, Hồ Chí Minh luôn tin ở dân, hết lòng thương yêu, quý trọng nhân dân, biết tổ chức và phát huy sức mạnh của nhân dân. Tư tưởng về con người của Người thông qua thực tiễn cách mạng của Người đã trở thành một sức mạnh vật chất to lớn và là nhân tố quyết định thắng lợi của chính sự nghiệp cách mạng ấy.

Tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh dựa trên thế giới quan duy vật triệt để của chủ nghĩa Mác – Lênin. Chính vì xuất phát từ thế giới quan duy vật triệt để ấy, nên khi nhìn nhận và đánh giá vai trò của bản thân mình (với tư cách là lãnh tụ), Người không bao giờ cho mình là người giải phóng nhân dân. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, người cán bộ (kể cả lãnh tụ) chỉ là “đầy tớ trung thành” có sứ mệnh phục vụ nhân dân, lãnh tụ chỉ là người góp phần vào sự nghiệp cách mạng của quần chúng. Tư tưởng này đã vượt xa và khác về chất so với tư tưởng “chăn dân” của những người cầm đầu nhà nước phong kiến có tư tưởng yêu nước xưa kia. Và đây, cũng chính là điều đã làm nên chủ nghĩa nhân văn cao cả ở Hồ Chí Minh, một chủ nghĩa nhân văn cộng sản trong cốt cách của một nhà hiền triết phương Đông.

Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Tư tưởng về con người của Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán với tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh. Sự nhất quán ấy được thể hiện qua đường lối lãnh đạo cách mạng và qua các chủ trương chính sách của Đảng trong suốt quá trình Đảng lãnh đạo công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, tư tưởng đó tiếp tục được Đảng ta quán triệt vận dụng và phát triển. Con người Việt Nam đang là trung tâm trong “chiến lược phát triển toàn diện”; đang là động lực của công cuộc xây dựng xã hội mới với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”.

Theo http://www.yenbai.gov.vn
Tâm Trang
(st)

bqllang.gov.vn