Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Những trận đánh quyết định tiến về Sài Gòn

Có thể nói, để tiến vào giải phóng Sài Gòn ngày 30.4.1975, đòn quyết định là chiến thắng ở 2 mặt trận Phan Rang và Xuân Lộc.

Kể từ sau chiến dịch Tây Nguyên tháng 3.1975, quân ta giải phóng Buôn Ma Thuột, đánh tan toàn bộ Quân đoàn 2 của ngụy. Trên đà thắng lợi, quân ta thần tốc mở cuộc tấn công Huế, Đà Nẵng. Ngày 29.3, chỉ sau 18 ngày địch bị thất thủ tại Buôn Ma Thuột, toàn bộ Huế, Đà Nẵng đã được giải phóng, 10 vạn sỹ quan và binh lính địch ra hàng. Đây là hai đòn giáng cực mạnh vào tinh thần binh lính Sài Gòn.

Hòng cứu vãn tình thế, quân ngụy lập 2 phòng tuyến: Phan Rang và Xuân Lộc. Phòng tuyến Phan Rang giao cho Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi chỉ huy. Phan Rang cách Sài Gòn 361km về phía đông bắc, có Quốc lộ 1 và đường sắt xuyên Việt đi qua. Đây là lá chắn phía đông, hỗ trợ phòng ngự cho cụm cứ điểm Xuân Lộc và che chở từ xa cho Sài Gòn. Bọn chúng tập trung ở đây một lực lượng khá đông, gồm Sư đoàn 2 bộ binh, Lữ đoàn 2 lính dù và 3 tiểu đoàn dù được điều từ Sài Gòn ra. Mấy ngày sau, chúng còn được tăng cường 1 tiểu đoàn dù nữa. Về hỏa lực, 2 tiểu đoàn pháo binh và một số pháo do Quân đoàn 3 ngụy điều động đến. Phòng tuyến Phan Rang còn rất mạnh với Sư đoàn 6 không quân gồm hơn 150 máy bay.


Bản đồ trận Xuân Lộc

Ngày 16.4.1975, quân ta tấn công vào căn cứ không quân Phan Rang và trung tâm thị xã. Pháo lớn của ta bắn cấp tập vào các vị trí phòng ngự vòng quanh căn cứ không quân, đồng thời bắn phá dồn dập vào khu vực máy bay của địch đậu và đường băng để không cho máy bay chiến đấu của ngụy cất cánh. Cùng lúc đó, quân ta tấn công mạnh vào thị xã Phan Rang bằng ba hướng. Lần lượt các tuyến phòng thủ của ngụy bị chiếm. Một trung đoàn quân ta được lệnh cắt đứt đường giao thông trên Quốc lộ 1 ở khu vực Cà Ná cách thị xã Phan Rang khoảng 48km về hướng tây nam nhằm chặn đường rút của tàn quân ngụy.

Ngay từ những loạt đạn đầu tiên của quân ta, bọn ngụy vô cùng hoảng hốt, Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi vội vã họp với Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang, Tư lệnh Sư đoàn 6 Không quân và Chuẩn tướng Trần Văn Nhật, Tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ binh để bàn kế hoạch rút quân. Hệ thống truyền tin của địch bị pháo ta bắn trúng nên quân ngụy không liên lạc được với Bộ Tư lệnh chính của Quân đoàn 3 đóng tại Biên Hòa, cũng như Bộ Tổng tham mưu ở Sài Gòn. Đến trưa ngày 16.4.1975, quân ta hoàn toàn làm chủ thị xã Phan Rang. Phòng tuyến Phan Rang mà bọn ngụy hy vọng sẽ chặn đứng bước tiến của quân ta đã bị đập tan chỉ trong một ngày. Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang không kịp lên máy bay trực thăng, bị quân ta bắt sống. Riêng Chuẩn tướng Trần Văn Nhật đượåc trực thăng chở đỗ xuống tàu Hải quân, ông dùng máy truyền tin của Hải quân báo cáo về Sài Gòn, khi ấy bọn ngụy quyền chóp bu ở Sài Gòn mới biết tin Phan Rang thất thủ.

Ở Xuân Lộc, thuộc tỉnh Đồng Nai ngày nay, cách Sài Gòn 60km về phía đông bắc, bọn ngụy tập trung Sư đoàn 18 bộ binh còn nguyên vẹn, Lữ đoàn 5 tăng thiết giáp, 4 tiểu đoàn bảo an, 2 tiểu đoàn pháo binh với 42 khẩu pháo các loại, trong đó có 2 khẩu M107 175mm, 2 liên đoàn dân vệ. Tổng số quân phòng thủ Xuân Lộc khoảng 25.000 người. Chính quyền Sài Gòn giao cho Chuẩn tướng Lê Minh Đảo chỉ huy. Quân ta tấn công Xuân Lộc ngày 9.4.1975, những ngày đầu gặp bất lợi do địa hình Xuân Lộc tiện cho việc phòng thủ, ngoài ra địch lại tập trung rất đông quân ở đây. Bọn ngụy còn dùng cả bom CBU-55, một trong những loại vũ khí có sức hủy diệt hàng loạt, ném xuống xã Xuân Vinh, sát thị xã Xuân Lộc, gây thương vong hơn 200 quân ta và dân thường. Sau 4 ngày chiến đấu, quân ta tạm ngừng tấn công Xuân Lộc để củng cố lực lượng, đánh giá tình hình và thay đổi chiến thuật. Bọn ngụy mừng rỡ, tưởng rằng đã bẻ gãy được cuộc tiến công của ta, chúng huênh hoang tuyên bố, “khả năng chiến đấu của quân lực Việt Nam cộng hòa đã phục hồi” và “đủ mạnh để giữ vững chế độ”.

Tuy nhiên, đến ngày 15.4.1975, quân ta pháo kích mạnh vào sân bay Biên Hòa khiến quân ngụy không tổ chức được cuộc không kích nào. Trong ngày, quân ta đánh tan Chiến đoàn 52 và Chi đoàn thiết giáp số 13 của ngụy, phá vỡ tuyến phòng thủ phía tây Xuân Lộc. Toàn bộ chiến đoàn chỉ còn hơn 200 người sống sót. Hai ngày tiếp theo, bọn ngụy điên cuồng phản kích, sử dụng Lữ đoàn thiết giáp số 3 và Chiến đoàn 8 (sư đoàn 5) với sự yểm hộ của gần 200 phi vụ ném bom và hơn 100 khẩu pháo tại các căn cứ Nước Trong, Bà Thức, Long Bình, Đại An nhằm giải tỏa ngã ba Dầu Giây nhưng đều bị quân ta đẩy lui, tiêu hao lớn. Đến ngày 18.4.1975, khi phòng tuyến Phan Rang đã bị phá, các cánh quân ta ồ ạt tiến về bổ sung cho mặt trận Xuân Lộc, các trục lộ giao thông quan trọng nối Xuân Lộc với địa bàn xung quanh đều bị cắt đứt. Trước nguy cơ bị bao vây và tiêu diệt hoàn toàn, ngày 20.4.1975, quân ngụy bí mật rút khỏi Xuân Lộc. Vậy là “Cánh cửa thép” Xuân Lộc bị đập vỡ hoàn toàn.

Không giữ được Xuân Lộc, Sài Gòn hốt hoảng, tướng Nguyễn Cao Kỳ viết trong hồi ký: “Sỹ quan thì miệng kêu gọi lính tử chiến, nhưng lại thúc giục gia đình di tản. Tiếp theo đó là một tuần lễ cuối cùng kinh hoàng và hỗn loạn. Đến ngày 26.4, quân đội Bắc Việt đã cắt đứt Sài Gòn với đồng bằng sông Cửu Long – nơi cung cấp nguồn lương thực, thực phẩm chính và nằm trong kế hoạch quân đội Sài Gòn sẽ lui về giữ đồng bằng miền Tây một khi Sài Gòn thất thủ. Thế là Sài Gòn bị cô lập”.

Chính quyền Sài Gòn khủng hoảng trầm trọng, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức (ngày 21.4). Phó tổng thống Trần Văn Hương lên nắm quyền nhưng cũng nhanh chóng phải nhường vị trí cho Dương Văn Minh – người được Mỹ hy vọng có thể đàm phán với quân đội Bắc Việt. Đến chiều 28.4, quân ta đã dùng máy bay phản lực A37 của Mỹ dội bom vào căn cứ Tân Sơn Nhất, gây hoang mang tột độ cho quân địch. Sang ngày 29.4, quân ta lại nã pháo dữ dội vào đường băng chính của sân bay Tân Sơn Nhất, kho nhiên liệu bùng cháy, nhiều máy bay trên đường băng nổ tung. Cũng theo hồi ký của tướng Nguyễn Cao Kỳ, khi ông ta đến Bộ Tổng tham mưu thì viên tướng ba sao Đồng Văn Khuyên – Tổng tham mưu trưởng chính thức vừa được Dương Văn Minh bổ nhiệm đã bỏ nhiệm sở tháo chạy và rời Sài Gòn ít giờ trước đó. Cả ngày 29.4 và sáng sớm 30.4, bầu trời Sài Gòn, trực thăng Mỹ lao vào, lao ra như con thoi để chở quan chức Mỹ di tản.

Đến 9h sáng ngày 30.4.1975, Tổng thống Chính quyền Sài Gòn Dương Văn Minh đã ra lệnh cho quân đội ngừng bắn để chờ quân giải phóng vào tiếp quản. Quân ta tiến vào Sài Gòn chỉ gặp vài kháng cự nhỏ lẻ của những kẻ ngoan cố. Đến 11h30 ngày 30.4, Sài Gòn giải phóng, non sông thu về một mối, chấm dứt 30 năm chiến tranh dằng dặc.

Duy Anh
daibieunhandan.vn

Trần Mai Hạnh và ký ức tháng 4

(VOV) – Mỗi khi nhớ về những giờ phút lịch sử trưa 30/4/1975 ở Dinh Độc lập tôi lại nghĩ về đêm 29/4, đêm cuối cùng của chiến tranh.

Buổi thời sự đặc biệt trưa 1/5/1975, Đài TNVN đọc trang trọng bài tường thuật đầu tiên của báo chí Việt Nam về giờ phút lịch sử giải phóng Sài Gòn trưa 30/4/1975 với đầu đề “Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng” của đặc phái viên Việt Nam Thông tấn xã Trần Mai Hạnh từ Sài Gòn điện ra, bài báo đồng thời được đăng trên Báo Nhân dân với đầu đề “Tiến vào Phủ tổng thống Ngụy”.

Như một cơ duyên, 21 năm sau (1996) nhà báo Trần Mai Hạnh trở thành Tổng Giám đốc Đài TNVN. Sáu năm may mắn làm việc dưới quyền ông, gặp lại ông giữa những ngày tháng Tư trong cuộc trò chuyện cởi mở, chân tình tôi đã hỏi ông nhiều điều mà dư luận quan tâm.

Tổng Giám đốc TTXVN Đào Tùng (giữa) cùng hai nhà báo Trần Mai Hạnh (phải) và Văn Bảo tại cửa rừng Tây Ninh sáng sớm 29/4/1975.

Hơn một thập kỷ, kể từ “tai họa” nghề nghiệp kinh hoàng với bao hệ lụy phải gánh chịu, đây là lần đầu tiên ông tiếp xúc và trả lời phỏng vấn của một nhà báo. Được sự đồng ý của ông, nhân dịp kỷ niệm 38 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2013) xin chuyển đến bạn đọc cuộc trò chuyện này…

** Đầu tiên xin hỏi, giờ phút lịch sử giải phóng Sài Gòn trưa 30/4/1975 may mắn được chứng kiến và bài báo được viết ngay tại Sài Gòn vào thời khắc lịch sử ấy giữ vị trí thế nào trong đời sống tâm hồn ông?

– Đã 38 năm. Bao sự kiện diễn ra, bao biến cố đã đến với mỗi cuộc đời trong quãng thời gian không ngắn ấy. Riêng với tôi, không chỉ có những giây phút vinh quang và thời khắc huy hoàng được chứng kiến, mà còn có cả những “tai họa”, những bi thảm tột cùng phải gánh chịu. Trong những thời điểm khắc nghiệt của số phận khi vướng vòng lao lý, chính thời khắc huy hoàng trưa 30/4/1975 được chứng kiến và bài tường thuật đầu tiên của tôi về phút giây lịch sử tại Dinh Độc Lập đã giúp tôi bình tâm lại, giúp tôi đứng vững với niềm tin không gì lay chuyển về lý tưởng cao đẹp của người cộng sản mà mình đã theo đuổi để tiếp tục sống có ý nghĩa trong cuộc đời này.

** Hình ảnh đậm nét nhất trong tâm trí ông khi hồi ức về thời khắc lịch sử huy hoàng 30/4/1975 là gì?

– Mỗi khi nhớ về những giờ phút lịch sử trưa 30/4/1975 ở Dinh Độc lập mà tôi may mắn có mặt, không hiểu sao, bao giờ hình ảnh đầu tiên hiện lên trong ký ức tôi cũng là khung cảnh đêm 29/4, đêm cuối cùng của chiến tranh.

Khi tôi cột xong chiếc võng dù ở bãi trú quân dã chiến trên đường từ Tây Ninh về, ngay trước cửa ngõ Sài Gòn thì đã gần 12 giờ đêm. Tôi và anh Văn Bảo, phóng viên nhiếp ảnh của Việt Nam Thông tấn xã bị bỏ lại quá xa vì xe máy thủng lốp, không tìm đâu ra chỗ vá săm.

Cả nghìn cây số dọc đường chiến tranh, bom rơi đạn nổ, bao hiểm nguy rình rập, bao tình huống tưởng không thể khắc phục rồi cũng vượt qua. Chúng tôi đã từng chạy bộ đẩy xe cả chục cây số dưới trời trưa nắng như đổ lửa để giúp lái xe vượt qua những trảng cát ngút ngàn. Chúng tôi đã từng vào làng mượn thuyền của dân buộc ghép lại thành chiếc phà tự tạo có một không hai, cho ô tô bò lên rồi bơi đẩy cả thuyền và xe chòng chành vượt sông khi cầu bị địch phá hủy.

Chúng tôi từng hút chết giữa đêm trên “đường số 7 kinh hoàng” ngổn ngang xác địch rút chạy từ Tây Nguyên về đồng bằng, khi quả bom sót lại bên đường phát nổ, khói bụi trùm phủ tất cả.

Chúng tôi đã có những giờ phút cực kỳ hoành tráng khi các chiến sĩ pháo binh bất ngờ đón bằng xe bộ đàm đi trước, xe tiểu đội bảo vệ súng đạn đầy mình đi ngay phía trước và phía sau hai chiếc U-oát của chúng tôi. Các chiến sĩ đã đón nhầm anh Đào Tùng, Tổng Giám đốc Thông tấn xã vì cứ ngờ anh là Trung tướng Doãn Tuế, Tư lệnh pháo binh của mình…

Đêm cuối cùng của chiến tranh, tôi đã ở ngay cửa ngõ Sài Gòn. Mặt đất ầm vang tiếng rền của đủ loại vũ khí. Tiếng súng liên thanh rộ lên phía Trảng Bàng, Tây Ninh. Tiếng trọng pháo gầm, chớp lửa rực sáng bầu trời hướng đông nam trước mặt. Nơi đấy là Sài Gòn. Chúng tôi được lệnh sáng mai sẽ bám theo các binh đoàn chủ lực tiến thẳng vào Sài Gòn trong trận đánh cuối cùng. Ai trong số hàng trăm phóng viên các cơ quan thông tấn báo chí may mắn có mặt đầu tiên để bấm máy và viết bài tường thuật về Sài Gòn trong những phút giây lịch sử? Tôi thao thức, xúc động và hy vọng…

Như vậy, ông may mắn được tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử từ đầu với tư cách là đặc phái viên của Việt Nam Thông tấn xã?

Tôi đi trong đoàn công tác đặc biệt của Việt Nam Thông tấn xã được thành lập ngay sau chiến thắng Buôn Mê Thuột do đích thân Tổng Giám đốc Đào Tùng dẫn đầu. Đoàn rời Hà Nội sáng ngày 2/4/1975, sau các mũi phóng viên đã xuất phát trước đó một tuần, trên 2 chiếc xe U-oát của Liên Xô mới tinh, màu nòng súng. Trước giờ xe nổ máy, ông Đỗ Phượng, Phó Tổng Giám đốc Việt Nam Thông tấn xã, người trực tiếp tuyển chọn, ký quyết định cử tôi đi trong đoàn anh Đào Tùng, xiết chặt tay tôi dặn dò: “Mai Hạnh cố gắng dọc đường viết thật nhiều tin, bài gửi về. Nhưng cố gắng viết được bài tường thuật đầu tiên về giờ phút lịch sử trọng đại của dân tộc, mà tôi tin rằng sẽ không còn xa nữa”.

Bài tường thuật đầu tiên ông viết, “ra đời” như thế nào?

5 giờ sáng ngày 30/4, lệnh lên đường, bằng mọi cách vượt lên bám sát các lữ đoàn xe tăng tiến thẳng vào Dinh Độc Lập. Xe máy tăng ga, đồng hồ báo tới 50km/giờ. Văn Bảo đèo tôi vượt lên dòng thác người và xe cộ nườm nượp trên đường…

Khoảng 11 giờ 45 phút trưa 30/4, tôi tới được Dinh Độc Lập. Sự kiện lịch sử vừa diễn ra. Cờ chiến thắng vừa được cắm trên nóc Dinh Độc Lập. Trần Mai Hưởng em ruột tôi, Vũ Tạo, Ngọc Đản, Hoàng Thiểm, Đinh Quang Thành… đi theo Sư đoàn 304 và Lữ đoàn xe tăng 203 của Quân đoàn 2 đã có mặt trước chúng tôi ít phút, các anh đã kịp ghi lại nhiều hình ảnh về những phút giây lịch sử, trong đó có bức ảnh “xe tăng Quân Giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập 30/4/1975” Trần Mai Hưởng chụp, được sử dụng rộng rãi như một trong những biểu tượng của ngày chiến thắng. Tôi tìm hiểu ngay các dữ kiện không thể thiếu của bài tường thuật: Mấy giờ chiếc xe tăng đầu tiên húc tung cánh cửa chính Dinh Độc Lập? Mấy giờ cờ chiến thắng được cắm trên nóc Dinh Độc Lập? Chiến sĩ cắm cờ tên là gì? Tổng thống Ngụy quyền Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng như thế nào, ta tuyên bố chiến thắng như thế nào?… rồi lao lên ngay tầng 2. Toàn bộ nội các của chính quyền Sài Gòn vừa tuyên bố đầu hàng còn ngồi ở đó. Tôi lập tức hỏi và ghi lại cuộc đối thoại lịch sử giữa Tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh và cán bộ chỉ huy Quân Giải phóng đánh chiếm Dinh Độc Lập (sau này tôi được biết đó là đại úy Phạm Xuân Thệ, Trung đoàn phó Trung đoàn 66 của Quân đoàn 2 cùng với Lữ đoàn xe tăng 203 của quân đoàn được lệnh đột kích, thọc sâu đánh chiếm Dinh Độc Lập)… Sau khi viết xong bài tường thuật, tôi loay hoay không biết chuyển về Hà Nội bằng cách nào, cứ loanh quanh ở Viết tấn xã nóng chờ xe chở điện đài và các điện báo viên của Thông tấn xã Giải phóng. Mãi chiều tối các anh mới tới. Sau khi các điện báo viên tìm chỗ đặt  máy, căng ăng-ten bắt được liên lạc, tôi liền đưa bài tường thuật để các đồng chí điện về, không phải điện về Hà Nội mà là điện về trụ sở Thông tấn xã Giải phóng trên rừng Tây Ninh.

Sau này tôi được biết, tối đó anh Phạm Vỵ, cán Phòng thư ký Bộ biên tập cùng đi trong đoàn đã trực canh điện đài, xé từng đoạn bài tường thuật của tôi đang được điện về để anh Đào Tùng duyệt lại trước khi điện báo viên dung điện đài công suất lớn điện tiếp về Hà Nội. Vì điện báo viên phải đánh móoc từng chữ, chữ “a”, chữ “b”, chữ “c”… nên rất mất thì giờ. Bài tường thuật được đăng trên bản tin Đấu tranh thống nhất của Việt Nam Thông tấn xã phát báo ngay trong đêm 30/4 cũng với đầu đề “Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng”, nhưng do quá khuya nên Báo Nhân dân ra sáng 1/5 không đăng kịp. Báo Nhân dân ngày 2/5/1975 đã đăng toàn văn bài tường thuật này nhưng đặt lại đầu đề là “Tiến vào Phủ Tổng thống ngụy”.

Ông ký tên thế nào dưới bài tường thuật?

Như những tin, bài viết cho Việt Nam Thông tấn xã, theo quy định, tôi chỉ ghi hai chữ: “Mai Hạnh” ở cuối bài. Nhưng khi trực tiếp duyệt lại, trước khi điện chuyển tiếp về Hà Nội, Tổng Giám đốc Đào Tùng đã ghi rõ ngay dưới tít bài báo: Bài của Trần Mai Hạnh, phóng viên Việt Nam Thông tấn xã tại Sài Gòn. Vì vậy, bài đọc trên Đài TNVN cũng như đăng trên Báo Nhân dân đều ghi tên tác giả đầy đủ như vậy.

Sau khi điện báo viên chuyển bài tường thuật, ông làm gì?

Tối 30/4/1975, sau khi điện được bài tường thuật về Hà Nội, trên chiếc com-măng-ca cắm cờ giải phóng tôi đi khắp Sài Gòn. Tôi cứ trên ô tô đi hết đường này tới khu khác, say sưa ngắm Sài Gòn trong đêm đầu tiên nguyên vẹn trở về. Khi về tới trụ sở Việt tấn xã thì đã quá nửa đêm. Sáng sớm 1/5, việc đầu tiên tôi làm và kết quả thật nhanh chóng. Đó là “Giấy công tác đặc biệt” của Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn – Gia Định cấp, cho phép tôi với tư cách phóng viên được phép hoạt động nghiệp vụ trên toàn thành phố và yêu cầu các đơn vị và chính quyền các cấp giúp đỡ tôi hoàn thành nhiệm vụ. “Giấy công tác đặc biệt” ghi cả số khẩu sung ngắn K54 mà tôi được cấp từ Hà Nội. Đó có lẽ là chiếc “thẻ nhà báo” đầu tiên được chính quyền cách mạng (Ủy ban Quân Quản thành phố Sài Gòn – Gia Định) cấp tại Sài Gòn trong buổi bình minh của lịch sử thành phố.

Trong lúc tôi xin “Giấy công tác đặc biệt”, thì theo chỉ thị của anh Đào Tùng, anh Văn Bảo đã kiếm được địa điểm làm trụ sở cho Phân viện Việt Nam Thông tấn xã tại Sài Gòn. Anh cắm cờ Mặt trận vào cổng ngôi nhà đó và kiếm miếng bìa treo lên với dòng chữ viết tay của anh: “Cơ quan Việt Nam Thông tấn xã tại Sài Gòn”. Nhờ biết lái ô tô, anh Văn Bảo đánh mấy chiếc ô tô cực xịn vứt bỏ quanh khu vực Dinh Độc Lập, trong đó có chiếc xe Zep mới tinh, màu trắng chuyên làm nhiệm vụ hộ tống “Tổng thống” ngụy về ngôi biệt thự mà anh vừa kiếm được và nhanh chóng “tuyên bố chủ quyền”. Cũng tại đây, ngày 1/5, tôi đã gửi một bức điện về căn cứ Thông tấn xã Giải phóng trên rừng Tây Ninh báo cáo công việc với anh Đào Tùng.

Mới 32 tuổi ông đã chứng kiến và viết bài tường thuật đầu tiên về giờ phút lịch sử trưa 30/4/1975 ở Dinh Độc Lập, ngay sáng hôm sau đã nghĩ tới việc xin “Giấy công tác đặc biệt” của Ủy ban Quân quản, rồi kiếm trụ sở và ngay chiều 1/5/1975 đã điện đi từ Sài Gòn bức điện cũng rất đặc biệt. Ông có còn lưu và có thể cho biết nội dung bức điện đó?

Bức điện này, anh Phạm Vỵ, cán bộ Phòng thư ký Bộ biên tập Việt Nam Thông tấn xã cùng đi trong đoàn được “Điện anh Hai Đào Tùng. Báo cáo anh đã tìm được trụ sở ở 126 Phan Đình Phùng và xin được 3 xe ôtô. Đề nghị anh cho anh Phạm Vỵ (thư ký) và các anh Vĩnh, Sửu (lái xe) xuống ngay, sớm giờ nào hay giờ ấy. Cánh Lâm Hồng Long, Hứa Kiểm… về ở cả đây nên sinh hoạt, kinh phí có nhiều khó khăn. Đề nghị anh cho chỉ thị gấp. Nếu anh không xuống được trong 1,2 ngày tới thì xin anh có thư trao đổi với anh Năm Xuân. Sài Gòn 1/5/1975. Mai Hạnh”.

Ông biết bài tường thuật của mình được báo, đài sử dụng thời điểm nào, và trong bối cảnh nào?

Trưa 1/5/1975, tôi và Văn Bảo với chiếc đài bán dẫn mang theo, đang trên ô tô giữa đường phố Sài Gòn sôi động, nườm nượp dòng người của ngày hội lớn thì nghe được buổi thời sự đặc biệt của Đài TNVN. Sau bản tin đặc biệt của Thông tấn xã Giải phóng: “từ sáng 1/5/1975, toàn bộ miền Nam nước ta đã hoàn toàn giải phóng”, Đài đã đọc trang trọng bài tường thuật “Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng” của tôi. Âm thanh radio được mở hết cỡ, bài tường thuật vang lên giữa biển người và cờ hoa chào đón của Sài Gòn giữa trưa nắng đẹp chan hòa của ngày Quốc tế Lao động 1/5 đầu tiên đất nước thống nhất.

Sau giải phóng, ông ở lại Sài Gòn bao lâu?

Chỉ hơn một tháng, ngày 6/6/1975, tôi đã tạm biệt Sài Gòn về Hà Nội.

Thời điểm ấy mọi người háo hức tìm cách vào Sài Gòn, chuyển hẳn gia đình vào đó sinh sống, sao ông lại vội vã ra Hà Nội?

Phân xã Việt Nam Thông tấn xã tại Sài Gòn được thành lập ngay sau ngày giải phóng. Anh Phạm Vỵ cùng đi trong đoàn anh Đào Tùng với tôi được cử làm Trưởng phân xã. Tôi và Trần Mai Hưởng, em ruột, cùng là phóng viên Việt Nam Thông tấn xã, cùng tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, cùng có mặt tại Dinh Độc Lập trưa 30/4/1975 nên Bộ biên tập quyết định Mai Hưởng khi đó mới 24 tuổi, chưa lập gia đình, ở lại làm phóng viên Phân xã Việt Nam Thông tấn xã tại Sài Gòn, còn tôi ra nhận nhiệm vụ mới ở Tổng xã Hà Nội.

Ông trở ra Hà Nội bằng đường không hay đường bộ? Chuyến đi có gì đáng nhớ?

Không, tôi trở ra bằng đường biển, trên tàu Đồng Nai, và đó là chuyến tàu biển đầu tiên chạy từ cảng Sài Gòn ra cảng Hải Phòng. Sở dĩ ra đường biển vì khi đó anh Đào Tùng muốn chở chiếc xe Zeep màu trắng, mới tinh của phủ “Tổng thống” ngụy mà anh Văn Bảo thu được về Hà Nội vừa để phục vụ cơ quan vừa lưu lại một kỷ vật đáng nhớ của chiến dịch lịch sử này. Mọi thủ tục an ninh và hải quan tại Thương cảng Sài Gòn đã hoàn tất, nhưng trong văn bản cuối cùng xác nhận những thiết bị, phương tiện tôi được phép mang theo do Phó Chánh Văn phòng Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn – Gia Định Phạm Kim Thảo ký ngày 30/5/1975, chiếc xe Zeep bị gạch khỏi danh mục. Những giấy tờ liên quan ngày ấy, hiện tôi vẫn lưu giữ. Trong bản kê khai hải quan đồ dùng cá nhân của tôi ngày ấy ghi rõ và chi tiết đến mức: “1 đài bán dẫn HITACHI, 1 máy ghi âm SONY, 1 máy chữ xách tay ROYAL, 2 áo trẻ con, 4 quần lót phụ nữ…”. Hồ sơ, tài liệu thu thập được trong chiến dịch, trong đó có cả nghìn lá thư để đầy một ba lô.

Ông có thể nói thêm về chiếc máy chữ và tài liệu thu thập được trong chiến dịch?

Đó là chiếc máy chữ xách tay xinh xắn còn mới nguyên, hiệu ROYAL của Mỹ tại Văn phòng Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn tôi đã dùng để đánh tin, bài những ngày ấy, kể cả việc giúp Tổng Giám đốc Đào Tùng khởi thảo Diễn văn khai mạc và bế mạc của Thượng tướng Trần Văn Trà, Chủ tịch Ủy ban Quân quán thành phố Sài Gòn – Gia Định đọc tại Lễ mít tinh và diễu binh lịch sử mừng chiến thắng ngày 15/5/1975 tại Sài Gòn. Ngày ấy, máy chữ xách tay cực hiếm và là mơ ước của những người làm báo, viết văn. Giấy chứng nhận của Bộ biên tập Việt Nam Thông tấn xã cho phép tôi mang ra Hà Nội và sử dụng chiếc máy ROYAL, số máy NC 8053843 tôi còn giữ, nhưng chiếc máy chữ hiện không còn. Nguyên do năm 1981, do hàng xóm bất cẩn làm can xăng hơn 20 lít bốc cháy, hỏa hoạn thiêu rụi nhà tôi, đồ đạc cháy sạch, trong đó có cả bản thảo tôi viết tay bài tường thuật đầu tiên hoàn thành lúc 14 giờ chiều 30/4/1975 và hơn 1000 lá thư của binh lính Sài Gòn và nhiều gia đình trong các thành thị miền Nam viết ngay trong những ngày đó mà suốt chặng đường chiến dịch bám sát các binh đoàn chủ lực từ Huế vào tận Sài Gòn tôi đã sục sạo, thu thập được. Họa vô đơn chí, đúng lúc ấy vợ chồng tôi mất cắp cả hai chiếc xe đạp, tôi đành bán chiếc máy chữ ROYAl kỷ vật của mình mà chỉ đủ tiền mua chiếc xe đạp Thống Nhất.

Tài liệu thu thập, chỉ riêng những bức thư tên thật, người thật phản ảnh cả nghìn số phận, tâm trạng thật của con người trước một biến cố trọng đại của lịch sử, nếu không bị thiêu cháy thì tập hợp, chọn lọc và biên tập đã được một cuốn tiểu thuyết giá trị. Một số tác phẩm văn học của tôi đã xuất bản: “Tình yêu và án tử hình” (NXB Thanh niên), “Sụp đổ và tự thú”, “Ngày tận thế” (NXB QĐND). Cuốn tiểu thuyết tư liệu lịch sử “Những ngày cuối cùng của Việt Nam cộng hòa” tôi đã cơ bản hoàn thành, năm 2000, được báo Văn nghệ đăng nhiều kỳ và Đài TNVN đọc dài kỳ trên chương trình đọc truyện đêm khuya. Lẽ ra cuốn sách được xuất bản từ năm 2002, nhưng không may ở thời điểm đó, tôi bị vướng vào vòng lao lý, chương cuối cùng chưa xong, chưa kịp nộp nhà xuất bản theo hợp đồng, đành gác lại.

Hai anh em ruột cùng là phóng viên Việt Nam Thông tấn xã tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, ông từng đảm nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch – Tổng Thư ký Hội Nhà báo Việt Nam, Tổng Giám đốc Đài TNVN, Trần Mai Hưởng em ruột ông trước khi nghỉ hưu là Tổng Giám đốc TTXVN – hãng thông tấn chiến lược của Nhà nước. Nghề báo mang lại cho ông và gia đình nhiều vinh quang?

Nhiều vinh quang nhưng cũng không ít cay đắng. Sau “tai họa” năm 2002, trong những cuộc gặp mặt, giao lưu với các phóng viên từng tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, ngoài lời kể của anh Văn Bảo về chuyến đi của hai anh em tôi, không ai nhắc đến số phận của bài tường thuật đầu tiên về những giờ phút trọng đại vào trưa 30/4/1975 ở Dinh Độc Lập nữa. Nhân tình, thế thái và xã hội đã nhiều đổi thay. Có những thời điểm, con người không chỉ cần phải im lặng mà còn cần phải biết cách im lặng thế nào, và có những điều phải im lặng đến suốt đời.

Gần đây, trong bài viết của mình, một Tổng Biên tập công khai bày tỏ sự trân trọng và ngưỡng mộ về tài năng viết báo cũng như làm báo của ông và nói từ lâu nung nấu ý định viết về ông. Nhưng chưa thấy bài báo đó?

Tôi rất cảm động cảm ơn đồng chí Tổng Biên tập đó, nhưng nghĩ rằng cần phải biết chờ đợi thêm nữa.

Như vậy, đây là lần đầu tiên ông trả lời phỏng vấn báo chí?

Đúng vậy, mười năm qua tôi lặng lẽ sống, làm việc với chức phận và tâm thế của một cán bộ hưu trí.

Ông vẫn viết báo, viết văn?

Sau tai họa 2002, tôi viết báo với bút danh Trần Nhật Thi. Nhiều bài được dư luận quan tâm: “Day dứt chuyện Nông trường Sông Hậu” (Lao Động); “Nụ cười, nước mắt nông dân”, “Cảm động một dòng chảy thong tin”, “Hãy xử sự vì lợi ích xã hội” và nhiều bài khác trên Báo Tiếng nói Việt Nam, nay là Báo VOV… Tên “Trần Mai Hạnh” ký dưới các bài báo và sáng tác văn học được tôi dùng lại từ 2010.

Trải nhiều sóng gió thăm trầm, điều ông chiêm nghiệm là gì?

Cái còn lại mãi mãi là sự tử tế và tình người. Giữa những ngày Tháng Tư, lại ngồi trò chuyện với anh về thời khắc huy hoàng 38 năm trước, tôi không khỏi bùi ngùi. Anh Đào Tùng, thủ trưởng kính mến của tôi, anh Văn Bảo, anh Lâm Hồng Phong, anh Lam Thanh và nhiều phóng viên Việt Nam Thông tấn xã từng cùng tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 nay không còn nữa. Con gái đầu lòng mới 2 tuổi khi tiễn tôi đi chiến dịch ngày ấy, giờ đã là một nữ nhà báo trưởng thành được Chủ tịch nước gửi Thư khen và được vinh danh “Công dân Thủ đô ưu tú” nhân Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Vợ tôi khi ấy là một nữ sinh văn khoa Hà Nội mới ra trường, nay đã là cô giáo về hưu, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Thời gian trôi chảy, tàn phai, không ai níu kéo mãi được. Những sự kiện lịch sử chỉ diễn ra một lần, cũng như đời mỗi con người chỉ sống có một lần. Nhưng để hiểu hết chân giá trị của lịch sử, để hiểu đúng một con người lại cần có thời gian, nhiều khi không thể chỉ đánh giá một lần. Lịch sử và cuộc sống luôn là một dòng chảy liên tục, bất tận. Trong cuộc sống hiện tại ngày hôm nay có nền tảng và những giá trị tinh thần vô giá của quá khứ, đồng thời nó cũng chứa đựng mầm mống và sức sống mãnh liệt của tương lai…

Ông có thể nói đôi lời về “tai họa” đã qua, cũng như về Báo Tiếng nói Việt Nam năm nay tròn 15 tuổi mà ông là người sáng lập?

Xin anh vui lòng để câu chuyện này tới một dịp thích hợp khác.

TTXVN gắn bó với đời làm báo của ông. Kỷ niệm nào sâu nặng nhất, thưa ông?

30 năm gắn bó, kể từ ngày rời mái trường Đại học Tổng hợp văn, TTXVN với tôi có quá nhiều kỷ niệm. Trong Lời cuối cuốn tiểu thuyết lịch sử “Những ngày cuối cùng của Việt Nam cộng hòa” đã hoàn thành đăng Báo Nhà báo & Công luận tháng 4/2011, tôi đã bày tỏ tới cố Tổng Giám đốc TTXVN Đào Tùng và nguyên Tổng Giám đốc TTXVN Đỗ Phượng – thủ trưởng kính mến trực tiếp, vừa là người anh vừa là người thầy trong nghề báo của tôi, lòng biết ơn sâu sắc nhất. Tháng 7/2011, khi tìm lại được Giấy giới thiệu sinh hoạt Đảng và Giấy giới thiệu công tác của tôi do đích thân đồng chí Hồ Hữu Phước, Bí thư Đặc khu ủy Quảng Nam – Đà Nẵng ký ngày 7/12/1969 gửi Bộ Biên tập Việt Nam Thông tấn xã được lưu giữ và bảo quản vĩnh viễn tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia III, tôi đã chạy thẳng tới báo cáo ông Đỗ Phượng và ông Đinh Trọng Quyền, Bí thư Chi bộ Đảng Tổ phóng viên Việt Nam Thông tấn xã tại chiến trường Quảng Đà thời ấy. Ông Quyền là người giới thiệu và đọc quyết định kết nạp tôi vào Đảng. Ông Đỗ Phượng, ông Đinh Trọng Quyền đã ôm tôi rất chặt, những giọt nước mắt tôi tưởng mình không bao giờ khóc được nữa đã lặng lẽ rơi.

Ông có thể nói kỹ hơn về câu chuyện đáng quan tâm này?

Trong bài “Máu và nước mắt còn đây” đăng trên Báo Văn nghệ tháng 9/2012, được Đài TNVN phát lại và Báo Nhà báo & Công luận giới thiệu trong mục “Bài báo được dư luận quan tâm”, tôi đã viết về câu chuyện này. Tôi nghĩ, nói như vậy là đủ.

Ông là sinh viên Đại học Tổng hợp văn, với gần 50 năm làm báo nhiều sóng gió thăng trầm, đọc nhiều, trải nghiệm nhiều, xin hỏi ông: Danh ngôn nào của các nhà tư tưởng – văn hóa ông tâm đắc nhất?

Tôi nghĩ, sự thật là tài sản quý giá nhất. José Hérnandez, nhà thơ lớn của Achentina nói rằng: “Ngay cả một sợi tóc gầy guộc cũng để lại bóng dâm của mình trên mặt đất”. Điều đó hàm ý sâu xa rằng, sự thật dù có bé nhỏ, mảnh mai như một sợi tóc, cũng không dễ xóa bỏ.

Xin cảm ơn ông đã mở lòng trọng cuộc trò chuyện thân tình này./.

Đoàn Quang/Báo TNVN
vov.vn

Chiến thắng 30-4 và những bài ca không quên

(VOV) – Song hành cùng chiến thắng vang dội của quân dân ta, những bài ca hào hùng góp phần làm nên Mùa xuân đại thắng.

30 tháng 4 – ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc gợi nhớ  những bài hát của một thời chiến đấu đầy hy sinh gian khổ, nhưng cũng hào hùng, oanh liệt biết bao!

Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam, chúng ta đã trải qua hai trận quyết chiến chiến lược, giải phóng Tây Nguyên và giải phóng Huế – Đà Nẵng. Qua từng chiến dịch, từng trận thắng lại ra đời những bài hát làm nức lòng người, theo nhịp bước của những đoàn quân đầy khí thế chiến thắng.

Bài hát “Tây Nguyên giải phóng”, sáng tác: Kpapúi và Tôn Thy, trình bày: Kim Nhớ – Tốp ca đài TNVN

Với tinh thần “Kịp thời nhất, nhanh chóng nhất, táo bạo nhất…”, các nhạc sĩ trong và ngoài quân đội lúc bấy giờ đã dõi theo từng bước tiến quân, từng trận đánh để “kịp thời nhất, nhanh chóng nhất” có những bài hát hừng hực khí thế chuyển ra mặt trận, phát trên làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), cổ vũ, động viên kịp thời quân và dân trên từng chặng đường chiến dịch. Cho đến nay, đó vẫn là những ký ức đẹp về một thời đã qua và còn sống mãi trong tâm hồn của nhiều thế hệ.

Ngày 11/3/1975, quân đội ta giải phóng Buôn Ma Thuột. Đến ngày 24/3, toàn bộ vùng Tây Nguyên rộng lớn với hơn 60 vạn dân được giải phóng. Hàng loạt bài hát đã ra đời, như: Những tiếng ca vang trên đất này (Nguyễn Đức Toàn), Tây Nguyên giải phóng (Kpapúi và Tôn Thy), Hát mừng Tây Nguyên giải phóng (Cầm Phong), Tây Nguyên lại bừng lên tiếng hát (Nguyễn Mạnh Thường), Sông Đăkrông mùa xuân về (Tố Hải)… Những bài hát với âm thanh rộn ràng, hùng tráng, vang vọng như tiếng cồng chiêng trong những ngày lễ hội của đồng bào các dân tộc vùng cao nguyên đất đỏ.

Giải phóng Buôn Ma Thuột – Đắk Lắk (10/3/1975) mở đầu chiến dịch giải phóng Tây Nguyên (ảnh tư liệu)

Ngày 25/3, Bộ Chính Trị Trung ương Đảng hạ quyết tâm giải phóng Sài Gòn và toàn miền Nam trước mùa mưa (trước tháng 5/1975). Quân và dân ta triển khai chiến dịch Huế – Đà Nẵng, và đến ngày 26/3 sư đoàn 1 lính ngụy bị ta  tiêu diệt, thành phố Huế và toàn bộ tỉnh Thừa Thiên được giải phóng. Thời điểm này lại vang lên những bài hát mới sáng tác kịp thời: Gửi Huế giải phóng (Nguyễn Văn Thương), Huế của ta ơi (Thanh Phúc), Mùa xuân trên thành phố Huế (Nguyễn Viêm). Tiếp đó là: Các anh về giữa Huế thân yêu (Vũ Thanh), Gió sông Hồng gọi nắng sông Hương (Văn An)…với những âm điệu mang đậm sắc dân ca – dân nhạc của Trị Thiên Huế, dịu ngọt, da diết, nhưng thúc giục lòng người lập chiến công, xây chiến thắng.

Tiếp đến ngày 28/3, quân ta chia làm 5 cánh, đồng loạt tiến công vào Đà Nẵng phối hợp với các lực lượng tiến công và nổi dậy từ trong lòng địch và đến 15h ngày 29/3/75, Đà Nẵng – một căn cứ quân sự liên hợp lớn nhất của Mỹ đã bị tiêu diệt, thành phố được hoàn toàn giải phóng.

Cùng với chiến thắng vang dội ấy, hàng loạt ca khúc đã ra đời, giàu sức cổ vũ, động viên: Chào Đà Nẵng giải phóng (Phạm Tuyên), Đà Nẵng ơi! Chúng con lại về (Phan Huỳnh Điểu), Hát về Đà Nẵng kiên cường (Cao Việt Bách), Đà Nẵng quê ta giải phóng rồi (Nguyễn Đức Toàn), Chào Đà Nẵng, dũng sĩ bên bờ biển Đông (Nguyễn An), Sông Hàn vang tiếng hát (Huy Du)…Các bài hát vào thời điểm sôi động này có sức mạnh thông tấn lớn, là tiếng kèn xung trận có tiếng vang mạnh mẽ trong trái tim từng người dân, từng chiến sĩ.

Xe tăng của quân giải phóng tiến vào Dinh Độc lập trong ngày 30/4/1975(ảnh tư liệu)

Các tỉnh Bình Định với thành phố Quy Nhơn, Phú Yên với thị xã Tuy Hòa, Khánh Hòa với thành phố Nha Trang và quân cảng Cam Ranh được giải phóng. Các địa danh này cũng kịp thời vang vọng trong các bài hát như: Bình Định quê ta (Trần Hữu Pháp), Mùa  xuân Quy Nhơn, Mùa xuân Bình Định (Dân Huyền), Quảng Ngãi quê em sáng xuân nay (Ánh Dương), Chào Nha Trang giải phóng (Hoàng Hà), Nha Trang mùa xuân nay biển hát (Thịnh Trường), Những thành phố bên bờ biển cả (Phạm Đình Sáu)…

Từ đầu tháng 4, khắp mọi miền đất nước, tin chiến thắng dồn dập, nhân dân ta đã sống những ngày hào hùng, sôi động chưa từng có. Cả dân tộc ra quân trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử với tinh thần “Đi nhanh đến, đánh nhanh thắng”, với khí thế “thần tốc, bất ngờ, táo bạo, chắc thắng” vượt qua mọi gian khổ, hy sinh đi đến ngày toàn thắng – 30/4.

Khi lá cờ cách mạng tung bay trên nóc Phủ Tổng Thống chính quyền ngụy, buộc Tổng Thống ngụy quyền Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện thì cũng là lúc quân cách mạng đã làm chủ thành phố. Cả dân tộc trong niềm vui chiến thắng mà trào nước mắt, nhớ lại những ngày máu lửa đã qua, nhớ những người thân, người đồng chí đã ngã xuống không được hưởng niềm vui trọn vẹn này.

Niềm vui lớn lao và vĩ đại ấy đã thành khúc nhạc lời ca vang khắp miền Tổ quốc như: Tiếng hát từ thành phố mang tên Người (Cao Việt Bách – Đăng Trung), Ta đã về Sài Gòn ơi (Văn Dung), Hát về Thành phố tên vàng (Cát Vận), Mùa xuân Việt Nam, mùa xuân toàn thắng (Lưu Cầu), Việt Nam ngày đại thắng (Vũ Thanh), Giữa Sài Gòn giải phóng (Hồ Bắc), Đất nước trọn niềm vui (Hoàng Hà), Đêm Sài Gòn nghe vọng cổ (Dân Huyền), Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh (Xuân Hồng)… Và còn nhiều, rất nhiều những ca khúc khác đã đi vào lòng người trong những ngày tháng 5 không thể nào quên cách đây 38 năm.

Những ngày ấy Đài TNVN tấp nập chưa từng thấy. Các bài hát được duyệt, tập và thu thanh luôn tại Phòng thu số 58 phố Quán Sứ. Nhiều người quên cả ăn cố gắng hoàn thành sớm sản phẩm văn nghệ. Một cuộc thi đua rất thầm lặng nhưng không kém phần hối hả để có chất lượng cao nhất.

Từ đầu buổi chiều ngày 30/4, nhạc sỹ Phạm Tuyên liên tục trả lời phỏng vấn báo chí về bài hát “Như có Bác Hồ trong ngày đại thắng”. Thấy ông Tuyên mệt quá, tôi cầm bản nhạc nâng cao lên và nói: Đây là một ca khúc ngắn gọn, dễ thuộc dễ nhớ, ai cũng hát được. Ca khúc này như một tấm  “pa nô, áp phích” với kích cỡ cực lớn bằng âm thanh. Bức tranh cổ động ấy chỉ vẽ những đường nét màu sắc hết sức đơn giản, nhưng hiệu quả cổ vũ rất lớn

Ca khúc này mang tính khái quát, cô đọng, hàm súc như một tuyên ngôn. Hát mà gần như nói, lại được tác giả khống chế trong một âm vực rất hẹp (quãng 9 – quãng này lứa tuổi thiếu nhi rất dễ hát). Điều quan trọng là tất cả mọi người đồng thanh hát ngay được. Hay hơn nữa là ý tứ của ca khúc đã nói lên được hình ảnh Bác Hồ trong ngày vui của toàn dân tộc, mà suốt đời Người hằng mơ ước và phấn đấu cho sự nghiệp thống nhất nước nhà – dù Người đi xa đã hơn 5 năm.

Đã 38 năm rồi tôi vẫn không quên buổi chiều ấy mà mỗi khi nghĩ đến lại “vui sao nước mắt lại trào”, như lời bài hát của nhạc sĩ Xuân Hồng./.

Nhạc sỹ Dân Huyền
vov.vn

Thắng lợi của một dân tộc yêu chuộng hòa bình

Chiến thắng lịch sử 30/4:

Những ngày này, cả nước đang sống trong không khí hào hùng của chiến thắng lịch sử 30/4. Chung cảm xúc đó, VIỆN TRƯỞNG (VT) VIỆN LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM VŨ QUANG ĐẠO chia sẻ: chiến thắng lịch sử 30/4 đã lùi xa 38 năm. Và khi có khi có “độ lùi” về thời gian thì sẽ có sự nhìn nhận bình tĩnh hơn, khách quan hơn. Có những sự kiện lịch sử, thời gian sẽ “phủ bụi”, nhưng cũng có những sự kiện càng có “độ lùi” thời gian thì càng “sáng” lên. 30/4 là một trong những sự kiện như vậy…

– Ba mươi tám năm đã trôi qua – đây là khoảng thời gian đủ dài để có thể khẳng định được những giá trị, ý nghĩa to lớn của chiến thắng 30/4, thưa Viện trưởng?

– VT Vũ Quang Đạo: Chiến thắng 30/4 đã đánh dấu sự thất bại của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trong việc xâm lược miền Nam Việt Nam. Sự kiện này cũng đồng nghĩa với việc dân tộc ta đã giành thắng lợi trọn vẹn trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc kéo dài tới 30 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chính Minh. Chiến thắng đó đã được ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng, một Đống Đa của thế kỷ XX, một mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới của thế kỷ XX. Đối với quân đội Việt Nam, đây là thắng lợi đỉnh cao của nghệ thuật quân sự, đỉnh cao của sức mạnh quân sự Việt Nam, của nhân dân Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Bởi vì, chỉ có chiến tranh nhân dân Việt Nam mới huy động được sức mạnh to lớn đến như vậy. Đó cũng là thắng lợi của một dân tộc yêu chuộng hòa bình, yêu chuộng tự do, với tinh thần không có gì quý hơn độc lập, tự do trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc và đặc biệt là trong thời đại Hồ Chí Minh.

Khát vọng hòa bình, độc lập tự do đã trở thành sức mạnh để dân tộc ta chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, trong đó có đế quốc Mỹ hùng mạnh. Điều đó khẳng định rằng, với ý chí, nghị lực ấy, thắng lợi này là tất yếu chứ không phải ngẫu nhiên. Ở đây, có yếu tố khách quan mang tính thời đại, nhưng tính khách quan, thời đại ấy chỉ được phát huy tác dụng khi có sức mạnh nội lực. Và ở Việt Nam, nhờ có sức mạnh nội lực ấy đã quy tụ được các lực lượng yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên toàn thế giới ủng hộ. Nhờ đó, dân tộc ta có đủ sức mạnh để chiến thắng đế quốc Mỹ, hoàn thành việc giải phóng hoàn toàn đất nước khỏi ách ngoại xâm, đưa đất nước sang kỷ nguyên mới là thống nhất, hòa bình, đi lên chủ nghĩa xã hội.

Đứng trên bình diện quốc tế, chiến thắng này có ý nghĩa hết sức trọng đại. Bởi Mỹ là đế quốc hùng mạnh nhất thế kỷ XX. Cho đến ngày nay Mỹ vẫn là nước đầy sức mạnh, đặc biệt là sức mạnh quân sự và trong lịch sử của nước Mỹ, về cơ bản họ chưa bao giờ thua. Nhưng đến Việt Nam, Mỹ đã phải chấp nhận thất bại. Và nếu tính trong lịch sử, Việt Nam có quyền tự hào với thế giới là dân tộc Việt Nam đã rất nhiều lần trụ vững trước các cường quốc, những kẻ xâm lược hùng mạnh, từ phương Bắc đến phương Tây. Cho nên, với chiến thắng 30/4, sự thất bại của đế quốc Mỹ không phải chỉ là thất bại về mặt quân sự thuần túy. Chính cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert S. McNamara, người được coi là một trong những “kiến trúc sư” cuộc chiến tranh Việt Nam sau này khi nghiên cứu lại đã tự nhận rằng người Mỹ đã không hiểu lịch sử, văn hóa, con người Việt Nam, cho nên đã có những quyết định hết sức sai lầm.

Thắng lợi của Việt Nam còn là thắng lợi của các lực lượng yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Những người yêu chuộng hòa bình trên thế giới và ngay tại nước Mỹ đã xuống đường phản đối chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Như cách nói của người Mỹ thì chiến tranh Việt Nam đã xảy ra trên nước Mỹ, và Mỹ đã thua ngay trên đất mình. Có được chiến thắng 30/4, cũng cần phải ghi nhận sự ủng hộ hết sức to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa, mà tiêu biểu là Liên Xô, Trung Quốc và một số nước anh em khác. Nếu không có sự ủng hộ cả về tinh thần và vật chất to lớn ấy thì thắng lợi có thể giành được nhưng sẽ có sự hy sinh nhiều hơn.

Chiến thắng 30/4 tiếp tục khẳng định ý chí và sức mạnh bảo vệ độc lập dân tộc của người Việt Nam và như Lý Thường Kiệt đã từng khẳng định bên bờ sông Như Nguyệt trước kia: Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư/ Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/ Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư – nếu như kẻ nào xâm lược Việt Nam thì chắc chắn sẽ chuốc lấy thất bại. Đó là bài học lịch sử, ý nghĩa lớn nhất của sự kiện 30/4.

Ảnh: Tư liệu

– VT Vũ Quang Đạo: Đây là vấn đề của lịch sử. Một sự kiện lịch sử diễn ra thì không phải là công lao của riêng một cá nhân nào. Lịch sử là của nhân dân, nếu là lịch sử chiến tranh nhân dân thì đó là lịch sử của những người dân cầm vũ khí, lịch sử của những người giác ngộ trách nhiệm của mình đối với dân tộc. Trong quá trình đó, không phải một người có thể làm nên lịch sử, mà có rất nhiều người cùng tham gia một sự kiện. Tất nhiên, để đánh giá và ghi nhận đúng là một điều hết sức khó khăn. Thực tế cho thấy không ai có đủ khả năng để viết trung thực lịch sử ngay như nó vừa diễn ra. Chính vì vậy, khi sự kiện đã diễn ra rồi thì làm sao để ghi chép, phản ánh trung thực là trách nhiệm của những người nghiên cứu lịch sử nói riêng và nhân dân ta nói chung.

Không phải bao giờ chúng ta cũng có thể ghi nhận được tất cả mọi việc. Có những trường hợp hy sinh được biết đến, nhưng cũng nhiều trường hợp hy sinh hết sức thầm lặng, ngay tên trên bia mộ cũng không xác định được, nói gì đến vinh danh trước toàn thể dân tộc và thế giới. Do vậy, thời gian tới, cần tiếp tục làm rõ những vấn đề của lịch sử, để không có giọt máu nào đổ xuống mà không được ghi nhận, không có một công lao nào, dù là nhỏ nhất được phép lãng quên. Đó là yêu cầu khách quan của lịch sử. Nhưng để có thể làm được điều này cần có thời gian, phải có những điều kiện cần, điều kiện đủ. Cần có sự nhìn nhận một cách bình tâm, để xử lý và có cái nhìn đúng nhất về lịch sử.

– Có ý kiến cho rằng, hiện thế hệ trẻ ngày nay do không có ký ức chiến tranh, cũng không trải qua những ngày tháng khốc liệt của cuộc chiến nên ít cảm nhận được ý nghĩa to lớn của chiến thắng 30/4. Quan điểm của Viện trưởng về vấn đề này như thế nào?

– VT Vũ Quang Đạo: Thường về mặt tâm lý xã hội, người ta cho rằng, phải trải nghiệm qua thực tiễn thì mới có được sự trải nghiệm của chính mình và có như vậy thì mới có cảm nhận sâu sắc hơn. Điều này hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, muốn có được cảm nhận sâu sắc về chiến tranh mà phải gây chiến, đòi hỏi lớp thanh niên hiện nay phải trải qua chiến tranh là không nên và chúng ta cũng không bao giờ muốn bước vào chiến tranh một lần nữa. Quân sự, quốc phòng hiện nay với mục đích giữ gìn hòa bình lâu dài cho Tổ quốc, tạo nền tảng để xây dựng chũ nghĩa xã hội, xây dựng đất nước giàu mạnh, chứ không nhằm gây chiến tranh. Đó là tính nhân văn của lịch sử quân sự nước ta.

Để có được ý thức, có được cảm nhận chiến tranh có rất nhiều con đường, một trong những con đường đó là thông qua phục dựng, nghiên cứu, phổ biến lịch sử; đồng thời, bản thân thanh niên cũng phải có ý thức, trách nhiệm đối với lịch sử thông qua học tập, tìm tòi, nghiên cứu để có cái nhìn đúng hơn về lịch sử nói chung và lịch sử chiến tranh nói riêng.

Mặt khác, đây cũng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó có cả những cơ quan truyền thông. Bởi nếu không có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục về lịch sử thì dần dần vấn đề lịch sử sẽ trở thành xa lạ đối với thanh niên. Mà bất cứ ai, dù làm bất cứ việc gì, dù muốn hay không muốn thì đến lúc nào đó cũng đều buộc phải nhìn lại lịch sử. Vì vậy, những vấn đề của lịch sử trở thành nền tảng rất cơ bản của nhân cách một con người tạo nên bản sắc của dân tộc. Nếu ai đó coi thường lịch sử thì người đó sẽ không có tương lai. Do vậy, lớp thanh niên hiện nay hãy dành sự chú ý cần thiết, tùy theo công việc mà xem lại kiến thức lịch sử, để có cảm nhận đúng và sâu sắc hơn về những sự kiện lịch sử hào hùng của dân tộc và coi đó là hàng trang của chính mình khi bước vào cuộc sống.

– Và như vậy, đến thời điểm hiện nay, chiến thắng 30/4 vẫn chứa đựng nhiều giá trị quý báu, thưa Viện trưởng?

– VT Vũ Quang Đạo: Ý nghĩa của sự kiện 30/4 đối với đất nước ta hiện nay là nguồn cỗ vũ động viên cho đất nước, con người Việt Nam vững bước, tự tin trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tinh thần yêu nước đã làm nên chiến thắng và các thế hệ đi trước đã làm tròn sứ mệnh lịch sử đối với dân tộc, với đất nước. Vì vậy, thế hệ trẻ hiện nay, hãy bằng suy nghĩ và hành động cụ thể để chứng minh mình là người yêu nước, biến lòng yêu nước đó trở thành nhiệt huyết trong công việc, trong học tập và trong cuộc sống hàng ngày.

– Xin cám ơn Viện trưởng!

Hoa Lê thực hiện
daibieunhandan.vn