Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Đảng ta: Đạo đức – Trí tuệ – Văn hóa đảng – Văn hóa Hồ Chí Minh

Đảng ta là đạo đức, là văn minh
Là thống nhất, độc lập, là hòa bình, ấm no.

Đó là hai câu thơ kết thúc Lời khai mạc lễ kỷ niệm lần thứ 30 ngày thành lập Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hai câu thơ trên nói lên những nội dung thuộc về bản chất cách mạng và văn hóa, về sức mạnh của tinh thần, trí tuệ, văn hóa của Đảng, mục tiêu và thành tựu mà Đảng ta lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong 30 năm đầu tiên cùng chặng đường phía trước. 30 năm đầu tiên ấy, cách mạng Việt Nam đã đạt được hai thành tựu vĩ đại: Làm cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, đánh đổ đế quốc thực dân Pháp, Phát-xít quân phiệt Nhật và chế độ thực dân nửa phong kiến, khai sinh một nước Việt Nam mới, một Nhà nước của dân, do dân, vì dân; Tổ chức cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện chống thực dân Pháp, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, xây dựng miền Bắc tiến lên Chủ nghĩa xã hội, trở thành hậu phương lớn vững chắc cho kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Thành tựu của những cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa đó đã làm biến đổi cực kỳ sâu sắc số phận dân tộc cũng như mọi giai cấp, tầng lớp xã hội Việt Nam, mọi gia đình, các thế hệ người Việt Nam, cùng mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa Việt Nam. Chính vì vậy, trên ý nghĩa bao quát, sâu rộng của văn hóa, Đảng Cộng sản Việt Nam chính là đạo đức, là văn minh – là hiện thân tiêu biểu của các giá trị tinh thần – văn hóa Việt Nam trong thời đại mới.

Từ sau mốc kỷ niệm 30 năm thành lập, 45 năm qua thực hiện cương lĩnh, mục tiêu của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam đã tiếp tục đạt được hai thành tựu vĩ đại nữa là “đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc và thực hiện thành công công cuộc Đổi Mới, giữ vững ổn định chính trị – xã hội, tiến bước vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Bốn thành tựu vĩ đại trong 75 năm qua của Đảng Cộng sản Việt Nam, của dân tộc Việt Nam đồng thời cũng là bốn hiện tượng, bốn đóng góp độc đáo và lớn lao vào cách mạng, sự tiến bộ, văn hóa và văn minh thế giới thời hiện đại để dân tộc Việt Nam trở thành dân tộc anh hùng, “lương tâm của thời đại” trong lòng nhân loại hòa bình, tiến bộ. Điểm xuất phát của những thành tựu vĩ đại đó chính là bản chất cách mạng, văn hóa của Đảng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng ta vĩ đại vì ngoài lợi ích của giai cấp, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác”.

Ra đời như một tất yếu lịch sử từ phong trào công nhân, phong trào yêu nước của nhân dân ta, phong trào cộng sản quốc tế, tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trải qua rèn luyện, đấu tranh, Đảng ta luôn luôn gắn bó gốc rễ và máu thịt, một cách tự nhiên và tự giác với đời sống, với tâm tư nguyện vọng, quyền lợi mọi mặt của các giai cấp, tầng lớp nhân dân đưa lại hạnh phúc và những quyền lợi cơ bản cho nhân dân, kế thừa và phát huy tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại, nên Đảng Cộng sản Việt Nam từ chỗ là một tổ chức chính trị đã trở thành một giá trị, một sức mạnh văn hóa.

Nắm vững và tuân thủ các quy luật đấu tranh, phát triển, vượt qua bao hy sinh, gian khổ, sóng gió của thời cuộc, vượt qua bao cuộc tiến công “khủng bố đỏ” hủy diệt cùng những âm mưu hiểm độc của kẻ thù, vượt lên sự trì trệ, hạn chế của một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, bản thân tổ chức Đảng đã luôn luôn được đổi mới, không ngừng tăng cường tính khoa học và cách mạng để trở thành một Đảng giàu sức chiến đấu, sáng tạo, một Đảng chính trị mang giá trị văn hóa cao – Văn hóa Đảng Cộng sản Việt Nam.

Là người sáng lập tổ chức và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn chăm lo xây dựng Đảng theo những chuẩn mực cách mạng, khoa học, tiên tiến trong đó có nội dung giá trị tinh thần và tinh hoa văn hóa Việt Nam và thế giới, làm cho văn hóa trở thành nhân tố nội sinh của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người Việt Nam đẹp nhất – Danh nhân văn hóa thế giới luôn tự mình nêu tấm gương sáng và xây dựng, rèn luyện Đảng ta, các tổ chức Đảng và mọi đảng viên thường xuyên rèn luyện nêu gương cho quần chúng nhân dân về văn hóa.

Nếu như:

“Bác ơi tim Bác mênh mông thế
Ôm cả non sông mọi kiếp người”

thì trong mỗi con người Việt Nam mà trước hết mỗi đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam đều cần phải và đã lấp lánh ánh sáng văn hóa của Người. Văn hóa Đảng-Văn hóa Hồ Chí Minh gắn làm một và là một bộ phận của văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, Văn hóa Đảng – Văn hóa Hồ Chí Minh không đồng nhất với văn hóa dân tộc. Văn hóa Đảng – Văn hóa Hồ Chí Minh là hạt nhân của Văn hóa Chính trị Việt Nam, là văn hóa cao, văn hóa chỉ đường, dẫn đường, là văn hóa nêu gương, có khả năng chi phối các phạm trù văn hóa khác của xã hội.

Văn hóa Đảng – Văn hóa Hồ Chí Minh không phải là một khái niệm, một vấn đề mới nhưng những cuộc thảo luận gần đây nhất đã nêu rõ những biểu hiện tập trung của giá trị Văn hóa Đảng – Văn hóa Hồ Chí Minh ở những nội dung lớn: Thứ nhất: Nền tảng tư tưởng là Chủ nghĩa Mác-Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; Thứ hai: Bản lĩnh chính trị thể hiện qua các đường lối, quyết sách lãnh đạo thành công cách mạng Việt Nam qua các giai đoạn, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc – Chủ nghĩa xã hội; Thứ ba: Tính tiên phong chiến đấu với tinh thần trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì lý tưởng cao đẹp của Chủ nghĩa xã hội, vươn tầm tri thức, gương mẫu trong tư tưởng, đạo đức và lối sống, gắn bó mật thiết với nhân dân; đấu tranh chống các tệ nạn quan liêu, cửa quyền, tham nhũng; Thứ tư: Truyền thống đoàn kết: Đoàn kết, thống nhất trong Đảng, làm hạt nhân lãnh đạo và đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân, vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Trong bối cảnh tình hình trong nước và thế giới đang có nhiều biến động mạnh mẽ, Đảng ta và đất nước ta đang phải đối phó với những thách thức mới, vấn đề xây dựng Đảng, xây dựng văn hóa Đảng, học tập và làm theo tư tưởng – Văn hóa Hồ Chí Minh càng được đặt ra như một đòi hỏi mạnh mẽ, tha thiết từ trong Đảng, trong dân. Khi phong trào cộng sản và công nhân quốc tế lâm vào thoái trào, sự khủng hoảng niềm tin và đường lối của nhiều Đảng Cộng sản ở các nước cộng với cuộc tiến công nham hiểm, tinh vi nhiều mặt của các thế lực thù địch đã làm một số người hoài nghi, dao động. Tuy nhiên, những luận điệu, âm mưu chuyển hóa Đảng xa rời khỏi bản chất giai cấp, tách rời Đảng với nhân dân, dân tộc không thể làm suy yếu được vai trò, vị trí của Đảng trong lòng dân tộc bởi Đảng Cộng sản Việt Nam đã và vẫn luôn luôn là sức mạnh của giá trị tinh thần-văn hóa của dân tộc Việt Nam.

Trong bước phát triển mới, Đảng ta đã và đang lãnh đạo, đi tiên phong trong công cuộc Đổi Mới, tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng quan hệ quốc tế, hội nhập kinh tế thế giới.

Quá trình cách mạng mới đã nảy sinh nhiều vấn đề mới, đặc biệt là sự phai nhạt lý tưởng, sự sa sút về tư tưởng, phẩm chất đạo đức và lối sống của một số đảng viên. Căn bệnh quan liêu, xa dân, cửa quyền, tham nhũng trong xã hội đã lây nhiễm vào một số đảng viên có chức, có quyền. Tất cả những căn bệnh này đã và đang là những tác động tiêu cực từ bên trong làm suy yếu, làm tổn hại nghiêm trọng đến uy tín, sức chiến đấu, sức thuyết phục của Đảng, văn hoá Đảng. Nhận thức rõ về sự tồn tại có tính nguy cơ này, Đảng ta đã có những chủ trương, biện pháp lớn để chỉnh đốn, củng cố Đảng, tiêu biểu là Nghị quyết BCH Trung ương lần thứ 6 (lần 2-khóa 8) và kết luận của Hội nghị Trung ương lần thứ 10 (khóa 9) đều khẳng định phải đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh, nhất là trong tổ chức Đảng và Nhà nước, trong cán bộ, đảng viên. Những Nghị quyết, giải pháp và những công việc đã và đang triển khai trong những năm qua, với nhiều biện pháp thực tế, kiên quyết, trong đó có việc thi hành kỷ luật nghiêm minh đối với nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước đã và đang được toàn Đảng, toàn dân ta ủng hộ, tiếp sức. Những chủ trương, biện pháp đó là sự đấu tranh tiếp tục duy trì nguyên tắc xây dựng Đảng, để Đảng ta luôn luôn “là đạo đức, là văn minh”, để Văn hóa Đảng – Văn hóa Hồ Chí Minh luôn luôn tỏa sáng.

Thực hiện Văn hóa Đảng – Văn hóa Hồ Chí Minh trong bối cảnh, tình hình mới, Đảng ta đề cao việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, cơ chế Đảng lãnh đạo – Nhà nước quản lý – Nhân dân làm chủ, thực hiện “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, thực hiện văn hóa phê bình, tự phê bình. Văn hóa Đảng – Văn hóa Hồ Chí Minh như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn và chăm lo vun đắp đòi hỏi người cán bộ, đảng viên phải “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”, “mỗi người phải soi gương”, phải nêu “tấm gương sống”. Văn hóa phê bình của Đảng cần phải thực hiện trên tinh thần đồng chí trong sáng, tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau, thấu tình đạt lý, tự nguyện tự giác và trung thực, phải “có tình có nghĩa”.

Trong sự nghiệp Đổi mới hiện nay, Đảng ta đã xác định ba trụ cột phải gắn bó chặt chẽ là nhiệm vụ trung tâm xây dựng, phát triển kinh tế, nhiệm vụ then chốt xây dựng, chỉnh đốn Đảng và nhiệm vụ xây dựng nền tảng tinh thần – văn hóa. Xây dựng Văn hóa Đảng – Văn hóa Hồ Chí Minh là làm giàu thêm sức sống, sức mạnh chiến đấu, sức mạnh văn hóa, sức thuyết phục của Đảng ta, thực hiện trọng trách lớn lao có tính chất đột phá trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của đất nước ta, nhân dân ta trong thời kỳ mới.

BTS-(QĐND)

cpv.org.vn

Ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại của sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước

ĐBP – Từ tuổi 13, Nguyễn Tất Thành đã khát vọng muốn ”xem cho rõ” sự “làm ăn ra sao” của những cường quốc mà các nhà yêu nước Việt Nam đương thời kì vọng có thể giúp đất nước mình thoát khỏi ách thống trị thực dân; và để rồi “sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”.

Mang chung hành trang là chủ nghĩa yêu nước – nhân văn Việt Nam và cùng mục đích, nhưng Nguyễn Tất Thành và hai cụ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh có những nét khác nhau về cơ bản. Một bên là tìm, học cái mới mà dân tộc chưa có và xem đó như một chỗ dựa, một cứu cánh; một bên là muốn tìm hiểu giá trị thật của cái mới và cả cái ẩn giấu đằng sau nó; bên này chỉ mới tiến đến ở sự tiếp nhận, còn bên kia là đến tận nơi và xem cho rõ cách làm. Hay nói cách khác, cho dù có cùng hành trang, cùng mục đích, nhưng có sự khác nhau về tầm nhìn và phương pháp, nên giữa Nguyễn Tất Thành và hai cụ Phan đã tạo ra kết quả khác biệt. Cụ thể: bên này là tiếp nhận và đưa về cái mới mà dân tộc chưa có nhưng không biết nó đã bắt đầu trở nên lỗi thời so với sự phát triển của lịch sử nhân loại. Bên kia với sự khảo sát trực tiếp, phân tích, so sánh giữa lý thuyết với kết quả thực tế của các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới (đã có đến thời điểm đó) để lựa chọn nhằm tiếp nhận những giá trị chung và mới của nhân loại, nhằm tìm ra con đường cứu nước, cứu dân thích hợp với hoàn cảnh cụ thể của nước nhà và tương thích với sự vận động, xu thế phát triển mới trong quá trình tiến hóa của loài người. Chính vì vậy, nên những cố gắng cao nhất của hai cụ Phan cũng chỉ là làm bùng phát một phong trào dân tộc, nuôi dưỡng ngọn lửa yêu nước trong nhân dân, bởi những cái được cho là chưa có và được xem là mới đối với dân tộc mà hai cụ đưa về đã bị lịch sử nhân loại và chính phong trào cách mạng dân tộc vượt qua. Còn với Nguyễn Tất Thành, bằng lao động và hòa vào dòng chảy của các sự kiện trên thế giới, nên cuộc hành trình của Nguyễn Tất Thành trong ba thập kỷ trải nghiệm, thực hành ở nước ngoài không chỉ để biết thế giới mà chính là quá trình học tập, khảo sát, nghiên cứu kỹ lưỡng nhằm thấu hiểu để chọn lọc và tiếp thu những giá trị văn hóa – văn minh của nhân loại.

Cuộc hành trình vĩ đại qua ba đại dương, bốn châu lục và gần ba mươi quốc gia, đặc biệt là trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng ở một số nước có nền dân chủ, cách mạng đã nâng cao trí tuệ, làm giàu văn hóa và mở rộng thế giới quan cho Người – từ tầm mức dân tộc đến nhân loại. Đó là cơ sở giúp cho Nguyễn Tất Thành thấu hiểu được sự tương đồng và khác biệt giữa triết lý phương Đông và phương Tây. Đồng thời Người cũng đã nhận thấy nguồn gốc trực tiếp nỗi khổ đau chung của các dân tộc thuộc địa và những người lao động, không phân biệt chủng tộc, màu da, trên hành tinh này và đi tới khẳng định: “Vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng con người không chỉ là nhu cầu của dân tộc và con người Việt Nam mà là của các dân tộc bị áp bức và nhân dân cần lao trên thế giới”.

Bằng sự trực tiếp khảo sát tại quê hương của các cuộc cách mạng tư sản điển hình (Pháp, Anh và Mỹ), với trí tuệ thiên tài của mình, Nguyễn Tất Thành đã phát hiện và tiếp nhận những lời bất hủ mang giá trị chung của nhân loại về quyền dân tộc và quyền con người được ghi trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của nước Pháp. Đồng thời, Người cũng thấy rõ hạn chế giữa lý thuyết và thực tế mà nổi bật là tính chất “không đến nơi” của các cuộc cách mạng này. Chỉ với tầm trí tuệ không ngừng được nâng cao, trên cơ sở được làm giàu về các giá trị văn hóa – văn minh nhân loại và với một tầm nhìn thế giới trong phân tích lý luận và kiểm nghiệm thực tiễn, Nguyễn Tất Thành mới có thể đúc rút thành những kết luận khoa học đúng đắn có giá trị quan trọng như vậy. Do đó, Người không chỉ dừng lại ở phân tích lý luận và thực tiễn để chọn lọc và thâu thái các giá trị văn hóa – văn minh nhân loại, mà còn trên cơ sở các kết luận đó, tìm lời giải đáp những vấn đề đang được đặt ra trong lịch sử tiến hóa của loài người. Đây chính là sự chuẩn bị – cả trên phương diện lý luận và thực tiễn để Người, không chỉ đi từ dân tộc đến nhân loại trong nhận thức các giá trị văn hóa – văn minh mà còn tiến tới năng lực phát hiện và nắm bắt được quy luật tiến hóa của lịch sử nhân loại, xu thế của thời đại bằng thế giới quan khoa học và cách mạng của Chủ nghĩa Mác – Lênin.

Đi từ dân tộc đến nhân loại, tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin là quá trình từ nhận thức cảm tính đến khoa học. Với thế giới quan khoa học và cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã phát hiện và nhận thức được quy luật tiến hóa, xu thế phát triển trong tiến trình đi lên của loài người và đi tới khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Do đó, Nguyễn Tất Thành đã đặt cách mạng giải phóng dân tộc trong quỹ đạo của cách mạng vô sản và chỉ rõ “cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”. Người đã chỉ rõ: cách mạng giải phóng dân tộc phải hướng đích tới sự giải phóng triệt để đối với con người theo quy luật tiến hóa tự nhiên của lịch sử nhân loại. Độc lập – Dân tộc phải đưa tới Tự do – Hạnh phúc cho con người.

Với con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã chỉ ra, cách mạng Việt Nam hàm chứa sâu sắc các nội dung Dân tộc  Nhân loại và Thời đại, và do đó, với đường lối đúng đắn thuận theo quy luật tiến hóa của nhân loại, được sự ủng hộ của toàn dân và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, cách mạng Việt Nam đã hội đủ các yếu tố “Thiên thời – Địa lợi – Nhân hòa” đảm bảo cho sự thắng lợi.

Với tất cả các ý nghĩa đó, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà nội dung là giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng con người là triết lý phát triển Việt Nam. Đây là nội dung căn bản nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, chi phối mọi hoạt động lý luận và thực tiễn của cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa, đem lại tự do, hạnh phúc cho con người. Tìm ra con đường cứu nước đúng đắn là công lao vĩ đại đầu tiên, là cống hiến lý luận sáng tạo hàng đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh và là di sản có giá trị vĩnh hằng đối với cách mạng Việt Nam.

Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với các giá trị trên đây, sự kiện lịch sử Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước càng có ý nghĩa thực tiễn. Với đường lối đổi mới của Đảng, trên thực tế, sự hội nhập quốc tế của Việt Nam cũng là tiếp tục quá trình dân tộc ta đi ra thế giới trong điều kiện lịch sử mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh để thâu nhận các giá trị văn hóa – văn minh nhân loại và nắm bắt xu thế phát triển của loài người, nhằm vận dụng và tiến hành thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, tạo ra các điều kiện để thực hiện ngày một hoàn chỉnh các nội dung của tiêu chí Độc lập – Tự do – Hạnh phúc cho dân tộc và con người Việt Nam. Bởi vậy, cần phải nắm vững thế giới quan, phương pháp Hồ Chí Minh để không chỉ thâu nhận được các giá trị văn hóa – văn minh, nắm bắt được xu thế phát triển của loài người, mà còn vận dụng phù hợp với thực tiễn của đất nước. Chỉ có như vậy mới giải quyết tốt các mối quan hệ dân tộc – giai cấp, quốc gia – quốc tế, dân tộc – thời đại, phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với thời đại, liên tục tạo lập lực – thế – thời mới, đưa đất nước phát triển vững chắc thực hiện các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.

Một thế kỷ đã trôi qua, nhưng sự kiện Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân vẫn còn nguyên ý nghĩa lịch sử và ý nghĩa thời đại. Ngày nay, trong hành trình hội nhập cùng nhân loại đi đến tương lai, chúng ta càng tin tưởng và kiên trì phấn đấu trên con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã chỉ ra, quyết tâm đưa ngọn cờ của Người đến đích thắng lợi hoàn toàn.

Nguyễn Vân Chương

baodienbienphu.info.vn

Tư tưởng vì nhân dân, vì con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Bộ đội Cụ Hồ”

Sáu mươi năm đã trôi qua, kể từ ngày Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh tại khu rừng Sam Cao thuộc tổng Hoàng Hoa Thám, châu Nguyên Bình (nay thuộc xã Cẩm Lý, huyện Hòa An), tỉnh Cao Bằng.

”Bộ đội Cụ Hồ” đã trở thành một biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của nhân cách và tâm hồn Việt Nam, sống mãi trong trái tim khối óc mỗi con người Việt Nam, vĩnh hằng cùng lịch sử dân tộc. ”Bộ đội Cụ Hồ” trong phẩm chất nhân cách của mình, trong sâu thẳm tâm hồn mình, luôn luôn quán triệt và thấm nhuần sâu sắc tư tưởng vì nhân dân, vì con người trong văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh.

Trong những ngày này, dân tộc ta, mỗi con người Việt Nam chúng ta rất tự hào và xúc động khi từ các diễn đàn trong cả nước đang vang lên những lời ngợi ca về hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, những con người mang đậm cốt cách tư tưởng, tác phong, đạo đức, văn hóa Hồ Chí Minh.

Càng tự hào và xúc động, chúng ta càng thấm thía công ơn trời biển của Bác Hồ, bởi chính Người đã sáng lập, giáo dục và rèn luyện bộ đội ấy, để bộ đội ấy thực sự là bộ đội vì nhân dân, vì con người, bộ đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà hy sinh chiến đấu không ngừng, không mệt mỏi. Có thể nói, sự thấm nhuần tư tưởng vì nhân dân, vì con ngưới trong văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh của ”Bộ đội Cụ Hồ” được thể hiện sâu sắc và phong phú trên nhiều phương diện, trong đó không thể không kể đến một số phương diện độc đáo và nổi bật.

Tư tưởng chỉ đạo thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân của lãnh tụ Hồ Chí Minh là tư tưởng vì nhân dân, vì con người, thể hiện sâu sắc trong ”Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân” do Người trực tiếp khởi thảo. Ngay trong mục ”Tên và phương châm hoạt động” của Đội, Người đã nêu rõ: Tên, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền. Đây là tư tưởng rất cơ bản về vận động, giác ngộ quần chúng, vận động nhân dân trong quá trình tiến hành cách mạng. Ngay từ tháng 12 năm 1944, Người đã xác định: Cuộc kháng chiến của ta là kháng chiến toàn dân, động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, nên khi tập trung xây dựng đội chủ lực vẫn cần duy trì lực lượng vũ trang các địa phương, cùng phối hợp hành động và giúp đỡ nhau về mọi mặt. Đội chủ lực có nhiệm vụ dìu dắt các đội vũ trang địa phương, giúp đỡ về huấn luyện, vũ khí làm cho lực lượng địa phương không ngừng trưởng thành.

Về quan hệ giữa đội chủ lực với các đội vũ trang địa phương, Người chỉ rõ: Đưa cán bộ địa phương về huấn luyện, tung các cán bộ đã huấn luyện đi các địa phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến. Về chiến thuật, Người nhấn mạnh: Vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, ẩn hiện bất thường, làm cho kẻ địch luôn bị bất ngờ, khó truy tìm và chịu thất bại. Khi xác định vai trò của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ”là đội quân đàn anh”, là đội chủ lực, Người cũng đã chỉ ra tiền đồ phát triển của Đội: ”Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”. Để thực hiện được vai trò và tiền đồ đó, Người đã căn dặn cán bộ và chiến sĩ của Đội: Phải dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ địch không thể nào tiêu diệt được, tổ chức của Đội phải lấy chi bộ Đảng làm hạt nhân lãnh đạo.

Quán triệt tư tưởng vì nhân dân, vì sự nghiệp giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến trong ”Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân” của lãnh tụ Hồ Chí Minh, tại buổi lễ thành lập Đội, trước đại diện của Liên tỉnh ủy Cao – Bắc Lạng, đại biểu nhân dân các dân tộc Tày, Nùng, Dao… và 34 cán bộ, đội viên được chọn lọc từ các đội du kích địa phương, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã đọc diễn từ nêu bật ý nghĩa thành lập Đội và khẳng định: ”Nhiệm vụ mà đoàn thể ủy thác cho chúng ta là một nhiệm vụ quan trọng nặng nề. Chính trị trọng hơn quân sự tuyên truyền trọng hơn tác chiến, nhiệm vụ ấy có tính chất là một nhiệm vụ giao thời…, để kêu gọi toàn dân đứng dậy, chuẩn bị cơ sở cnính trị và quân sự cho cuộc khởi nghĩa sau này… Thế là từ giở phút này trở đi, chúng ta cùng nhau tiến lên trên con đường vũ trang tranh đấu. Chúng ta… quyết tiến tới để làm tròn nhiệm vụ. Bao nhiêu oán hờn của dân tộc, bao nhiêu sự tàn khốc thê thảm đang chờ một cuộc thanh toán. Chúng ta nguyện đem xương và máu để làm việc đó. Chúng ta sẽ vạch rõ cho toàn dân rằng con đường sống duy nhất là con đường đoàn kết để vũ trang đứng dậy, Quân giải phóng sẽ tỏ rằng mình là một đội quân của dân, của nước, đi tiên phong trên con đường giải phóng dân tộc… Từ giờ phút này, các đồng chí sẽ noi theo ngọn cờ mà tiến lên trên con đường máu. Chúng ta tiến tiến mãi cho đến ngày giải phóng của toàn dân”.

Hồi tưởng lại những ngày đầu quân đội ta mới ra đời cách đây tròn sáu mươi năm, chúng ta càng thấm thía sâu sắc rằng: Bác Hồ quan tâm chăm sóc quân đội với một trái tim thương yêu vô bờ bến ngay từ những ngày quân đội mới chập chững vào đời. Đấy chính là cội rễ kiến tạo nên một quân đội ngay từ khi ra đời đã là quân đội của nhân dân, một quân đội vì dân, vì con người trong cả tâm hồn, tình cảm, lý tưởng, đạo đức, văn hóa và cả mọi mặt hoạt động chiến đấu, công tác và lao động sản xuất.

Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử văn hóa nhân loại và trở thành một danh nhân văn hóa thế giới. Ngôi sao văn hóa Hồ Chí Minh trong bầu trời văn hóa nhân loại toả chiếu khắp các châu lục và rọi chiếu cả đến nền văn hoá tương lai. Bởi văn hóa Hồ Chí Minh là văn hóa vì dân, vì con người. Vì văn hóa xét đến cùng là do con người và vì con người. Mà Hồ Chí Minh là một con người cả tâm hồn và cuộc sống vốn lúc nào và bao giờ cũng vì nhân dân, vì con người. Đạo đức Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo cao cả, sáng ngời lòng nhân ái, sự quên mình, luôn luôn sống vì đồng loại, vì đồng bào và vì nhân dân. Được tắm mình trong ánh sáng văn hóa, đạo đức đó, được học tập, rèn luyện và noi theo tấm gương văn hóa, đạo đức đó, ”Bộ đội Cụ Hồ” trong sáu mươi năm qua đã mang đậm nét cốt cách, phong thái, tâm hồn Hồ Chí Minh. Đạo đức, văn hóa Hồ Chí Minh được kết tinh sâu đậm trong những đức tính, phẩm chất tốt đẹp của «Bộ đội Cụ Hồ”.

Ngày nay, trong khi nền văn hóa vật chất của thế giới đang đạt được những bước phát triển phi thường, thì loài người lại đang lo ngại cho nền văn hóa của mình, bởi nguy cơ suy thoái về tinh thần có chiều hướng phát triển gia tăng ở quy mô thế giới. Ở nước ta, trước tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường, trước sự tấn công thâm độc và xảo quyệt của các thế lực thù địch trên mọi mặt đời sống xã hội, nhất là trên lĩnh vực văn hóa, đạo đức, lối sống, nền văn hóa, đạo đức của chúng ta cũng đang đứng trước những thách thức nghiêm trọng. Người ta hồ nghi một nền văn hóa lành mạnh, mang bản sắc dân tộc sâu sắc sẽ không có khả năng chiếm lĩnh trận địa tư tưởng – văn hóa, không thể mang tính trội trong đời sống xã hội trước sự xâm thực của các loại ấn phẩm văn hóa xấu độc. Bao nhiêu lo toan, trăn trở trước lối sống thực dụng chỉ biết bản thân mình, chỉ sống cho mình mà không mảy may chăm lo đến lợi ích của cộng đồng, của xã hội đang thường trực trong suy nghĩ của những người đã từng hiến dâng cả quãng đời thanh xuân tươi đẹp của mình cho lý tưởng của Đảng và hạnh phúc của nhân dân.

Bao nhiêu hệ thống giá trị đang bị đảo lộn, lẫn lộn và mơ hồ. Bao nhiêu vấn đề trớ trêu về đạo đức, lối sống đang nảy nở tràn lan tha hóa về nhân phẩm, trống rỗng về tâm hồn, cạn kiệt về lý tưởng bởi sự tác động của xu hướng phi chính trị hóa, phi lý tưởng, sự quay trở về lợi ích cá nhân ích kỷ tầm thường nhỏ nhen.

Làm sống lại hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” thấm nhuần tư tưởng vì nhân dân, vì con người trong văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sẽ có ý nghĩa to lớn và tác dụng thiết thực! Ngày nay, trong bối cảnh mới, trước yêu cầu mới của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, ”Bộ đội Cụ Hồ” không chỉ phát huy và phát triển bản chất, truyền thống vẻ vang của quân đội lên một trình độ mới, làm cho tư tưởng vì nhân dân, vì con người trong văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh ngày càng nở rộ trong cán bộ, chiến sĩ quân đội, mà còn phải tuyên truyền, vận động mọi người quán triệt sâu sắc tư tưởng đó để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần đẩy lùi những tác nhân làm vẩn đục hay hoen ố nền văn hóa, đạo đức dân tộc. Đó là một nhiệm vụ to lớn và vẻ vang của quân đội ta trong tình hình hiện nay.

Tư tưởng vì nhân dân, vì con người trong văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh thấm nhuần trong ”Bộ đội Cụ Hồ” còn được thể hiện ở phương diện ”Bộ đội Cụ Hồ” luôn luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, luôn luôn được nhân dân nuôi nấng, chở che, đùm bọc.

Hồ Chí Minh là một con người vĩ đại nhưng không bao giờ Người tách mình ra khỏi nhân dân. Người khiêm tốn, giản dị, gắn bó, hoà mình cùng mọi người, bất cứ lúc nào cũng đến với đồng bào, đồng chí, đến với nhân dân như một người bạn, người thân, người ruột thịt. Trong sự bình dị ấy, Người nâng mọi người lên ngang tầm cái thiện, cái cao cả: ”Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta. Ta bỗng lớn ở bên Người một chút”. Với Hồ Chí Minh:

”Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân.

Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân
Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân.
“Trong ba yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa thì nhân hoà là hơn tất cả”.
”Hết lòng hết sức phục sự nhân dân, bất kỳ việc to việc nhỏ cũng nhằm mục đích ấy”.

Đó là tư tưởng vì nhân dân nhất quán trong văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh. Qua sáu mươi năm lịch sử, tư tưởng đó thấm vào máu thịt ”Bộ đội Cụ Hồ”, trở thành nét đặc trưng tiêu biểu cho phẩm chất nhân cách ”Bộ đội Cụ Hồ”. Và cũng chính vì vậy mà ”Bộ đội Cụ Hồ” trở thành một bộ đội vì dân, thực sự của dân. Bởi “Bộ đội Cụ Hồ” là bộ đội được giáo dục, rèn luyện theo văn hóa, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh. Phẩm chất hàng đầu của bộ đội ấy là tính nhân dân sâu sắc. Đó là cội nguồn làm nên sức mạnh bách chiến bách thắng của quân đội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cho quân đội ta một sự ưu ái đặc biệt, nhất là đối với người chiến sĩ. Người chiến sĩ chính là hình ảnh nhân dân trong ”Bộ đội Cụ Hồ”. Vì vậy, kỷ niệm sáu mươi năm Ngày thành lập quân đội, chúng ta không thể không coi trọng xây dựng ngày càng tốt hơn mối quan hệ giữa cán bộ và chiến sĩ, nhất là ở các phân đội. Chúng ta phải nghiên cứu tìm hiểu thật sự sâu sắc và đầy đủ hơn nữa về người chiến sĩ hiện đại, để đổi mới toàn diện công tác đối với chiến sĩ. Phải đến với chiến sĩ bằng văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh. Phải nâng tầm người chiến sĩ hiện đại lên ngang tầm văn hoá, đạo đức Hồ Chí Minh. Phải làm sao cho nhân dân nhìn vào chiến sĩ thấy mình, thấy dân tộc và thấy được cả tương lai của quân đội. Phát huy nhân tố con người – người chiến sĩ ”Bộ đội Cụ Hồ”, đang trở thành một vấn đề cấp bách, nóng hổi trong xây dựng quân đội hiện nay. Đó là nhiệm vụ nặng nề và hệ trọng của công tác đảng, công tác chính trị của quân đội trong những năm tới.

Theo Nguyễn Quang Hoài, Tạp chí Dân vận, tháng 12/2004

cpv.org.vn

Tầm nhìn thời đại của Hồ Chí Minh về văn hoá giáo dục

Năm 1945, cùng với thắng lợi chính trị, nhân dân ta đã xóa đi một nên giáo dục đồi bại, xảo trá của thực dân Pháp: Chỉ dạy cho nhân dân sùng bái những kẻ mạnh hơn mình; dạy cho thanh niên yêu một Tổ quốc không phải là Tổ quốc của mình; dạy cho thanh niên khinh rẻ nguồn gốc, dòng giống mình…Đó là một nền giáo dục nguy hiểm hơn cả sự dốt nát. Chế độ mới ra đời, cùng với việc thiết lập nền cộng hòa dân chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc giải quyết nạn dốt là một tronh những nhiệm vụ cấp bách. Bởi vì “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, “Yếu thì dại, dại thì hèn”. Nói như Lênin : mù se đứng ngoài chính trị. Quan điểm của Hồ Chí Minh là phải làm cho nhân dân biết đọc, biết viết, từng bước nâng cao dân trí. Bởi vì nước ta là một nước dân chủ, dân là chủ và dân làm chủ. Công việc kháng chiến kiến quốc, đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Chúng ta phải đem tài dân, sức dân, của dân để làm lợi cho dân. Muốn làm được điều đó, cần phải có giáo dục và giáo dục lại nhân dân.

Giáo dục theo quan điểm của Hồ Chí Minh sẽ tạo ra tính liên tục của cách mạng. Bởi vì với việc nâng cao dân trí, nhân dân sẽ biết quyền lợi, bổn phận, có kiến thức mới để tham gia vào công việc xây dựng. Sự thành công của cả nước, không có yếu tố nào quan trọng hơn giáo dục.

Giáo dục sẽ tạo ra những nguyên liệu không có sẵn trong tự nhiên như kĩ sư, chuyên gia, bác học… Giáo dục sẽ góp phần quyết định làm cho non sông Việt Nam trở nên tươi đẹp, dân tộc bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu. Giáo dục tạo ra nhân cách và từng bước hoàn thiện con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh:

“Ngủ thì ai cũng như lương thiện
Tỉnh dậy sinh ra kẻ dữ hiền;
Hiền, dữ đâu phải là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên”

Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, giáo dục là yếu tố quyết định trực tiếp nâng cao trình độ học vấn, trình độ khoa học kĩ thuật, chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, trình độ chuyên môn quản lý. Giáo dục sẽ giúp cho người học có một vốn liếng về lịch sử, văn hóa của dân tộc Việt Nam và thế giới, mà nếu không có nó sẽ không giữ được độc lập, không thể tham gia vào công vjiệc kiến thiết xây dựng nước nhà dân giàu, nước mạnh. Giáo dục sẽ giúp cho mỗi người dân có kiến thức mới để “biến mỗi nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui, hạnh phúc”.

Với tầm nhìn thời đại, Hồ Chí Minh-người sáng lập nền giáo dục mới, nền giáo dục cách mạng Việt Nam đã đưa ra những mục tiêu của giáo dục là “đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam”, làm “Phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em. Học để làm việc, làm người , làm cán bộ. Học để phục vụ đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”. Đồng thời “Học để sữa chữa tư tưởng” “Học để tu dưỡng đạo đức cách mạng”… Theo quan điểm của Người, những mục tiêu đó của giáo dục có quan hệ biện chứng với nhau. Có phẩm chất chính trị và chuyên môn, mà thiếu phẩm chất đạo đức với ý nghĩa là gốc, là nguồn thì cũng vô dụng. Người dạy “Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thi còn làm nổi việc gì ?”. (Hồ Chí Minh toàn tập-T5-Tr 253).

Muốn đạt được mục tiêu đó thì nội dung giáo dục phải toàn diện, bao gồm cả văn hóa, chuyên môn nghề ngiệp, các nghành nghề liên quan trực tiếp tới công nghiệp, nông nghiệp, nông thôn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Theo quan điểm của Người, các nội dung giáo dục có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nếu không có trình độ học vấn thì không học tập được kĩ thuật, không học được kĩ thuật thì không theo kịp thời đại mà cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật, công nghệ đang phát triển mạnh mẽ, và như vậy ngày càng tụt hậu xa hơn so với các nước. Nhưng điều đặc biệt là phải học tập chính trị. Bởi nếu chỉ học tập văn hóa, kĩ thụât, chuyên môn mà không chính trị thì như người nhắm mắt mà đi. Giáo dục chính trị là nền tảng, trên cơ sở đó nâng cao chất lượng văn hóa và chuyên môn. Chính trị nói ở đây là Chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối quan điểm của Đảng. Học chính trị không phải là thuộc sách Mác-Lênin làu làu, không phải học một cách giáo điều, mà là “Học cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình”.

Giáo dục chỉ phát huy hết vai trò, sức mạnh của mình khi thực hiện đúng đắn phương châm, phương pháp giáo dục. Đây là nội dung được Bác Hồ đặc biệt quan tâm, vì nó sẽ tạo ra sự khác biệt về chất so với nền giáo dục phong kiến xa rời thực tế, và nền giáo dục thực dân đồi bại, xảo trá.
Theo Hồ Chí Minh, phải luôn luôn gắn nội dung giáo dục với thực tiễn Việt Nam, học đi đôi với hầnh, lí luận đi đôi với thực tế, học tập phải kết hợp với lao động sản xuất.

Theo Người, cần có một thái độ hiếu học, cầu tiến, ý thức chủ động, học tập không mệt mỏi, học suốt đời, học mọi lúc mọi nơi, học mọi người. Bác Hồ rất quan tâm tới việc học tập bạn bè, đồng chí, đồng nghiệp, đặc biệt là nhân dân. Bởi vì “không học nhân dân thì không lãnh đạo được nhân dân” và có “Biết làm học trò dân thì mới làm được thầy của dân”.

Một phương pháp quan trọng là phải giúp đỡ lẫn nhau, đoàn kết với nhau, tự phê bình và phê bình trong học tập. Người nói “Càng học càng thấy dôt”, có nghĩa là không ai co thể tự cho mình là biết hết mọi điều. Kho tàng tri thức Việt Nam và nhân loại là vô tận. Chúng ta đang sống trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang tiến như vũ bão. Khoa học Xã hội-Nhân văn, khoa học tự nhiên đang có những bước tiến vượt bậc. Bởi thế, nếu tự mình-dù tài giỏi đến mấy-cũng không thể am hiểu mọi lĩnh vực. Khẩu hiệu điều kiện không chỉ có giá trị bền vững trong chính trị mà còn có ý nghĩa to lớn trong giáo dục.

Một vấn đề lớn thuộc phương châm giáo dục là giáo dục phải phù hợp với lứa tuổi và điều kiện thực tế. Đây thực sự là một khoa học phù hợp với lứa tuổi cả nội dung và phương pháp. Và điều kiện này liên quan đến nhiệm vụ của mỗi cấp giáo dục “Đại học thì cần kết hợp lý luận khoa học với thực hành… Trong học thì cần đảm bảo cho học trò những tri thức phổ thông chắc chắn thiết thực…Tiểu học thì cần giáo dục cho các cháu thiếu nhi: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của công…”. (HCM toàn tập, NXB CTQG, HN, 1995. T8. Tr81.

Để có một nền giáo dục đạt chất lượng, hiệu quả cao, thể hiện bản chất tốt đẹp của nền giáo dục xã hội xã hội chủ nghĩa chủ nghĩa, thì phải thật sự dân chủ, bình đẳng trong giáo dục; phải gắn liền với thi đua và phương pháp nêu gương. Dân chủ thể hiện ở thảo luận, bàn bạc, phát biểu ý kiến, ở quan hệ đoàn kết chặt chẽ giữa những người làm công tác giáo dục, giữa thầy giáo với học sinh.

Vấn đề then chốt quy định chất lượng giao dục là xây dựng đội ngũ những người thầy giáo. Bởi vì “ Nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục”. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, phải xây dựng những người thầy giáo tốt – yêu nghề, yêu trường, luôn tất cả vì học sinh thân yêu, không ngừng trao dồi đạo đức cách mạng. Phải thường xuyên tự bồi dưỡng, nâng cao tay nghề, trình độ chuyên môn, phương pháp sư phạm để thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo.

Những nội dung nêu trên trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục không chỉ có ý nghĩa đối với dân tộc mà còn hoàn toàn phù hợp với những nguyên lý giáo dục trong thế kỉ XX. Trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế tri thức, nhân loại đã có sự lựa chọn “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để làm người, tự khẳng định mình”. Loài người đang quan tâm tới vấn đề giáo dục thường xuyên, suốt đời. Giáo dục được xác định cho tất cả và tất cả giáo dục, tức là mọi người được học tập, một xã hội học tập.

Tác giả : Ngô Thị Vân – Gv khoa Xây dựng Đảng

truongchinhtrina.gov.vn

Những giá trị văn hoá Hồ Chí Minh

Năm 1923, lần đầu tiên Nguyễn Ái Quốc đến nước Nga, quê hương của V.I. Lê-nin, của Cách mạng Tháng Mười vĩ đại. Tại đây, Người đã gặp nhà thơ xô-viết tên là Ô-Xíp Man-đen-xtam. Và ngay từ lúc ấy, chính nhà thơ đã phát hiện: ”Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa, không phải là văn hóa châu Âu, mà có lẽ là nền văn hóa của tương lai”.

Thế rồi, gần 70 năm sau – năm l990, khi Hồ Chí Minh đã đi xa, giữa lúc trên thế giới có những biến động to lớn, chủ nghĩa xã hội lâm vào khủng hoảng sâu sắc, phong trào cách mạng quốc tế đứng trước những thử thách nghiêm trọng, chính trong thời điểm ấy, chúng ta lại được chứng kiến một sự kiện quan trọng. Đó là lần đầu tiên Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) quyết định tổ chức kỷ niệm trọng thể trên thế giới một lãnh tụ cách mạng với tư cách là người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất của nhân loại. Và đó chính là Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Nghị quyết của UNESCO nêu rõ: ”Sự đóng góp về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống ngàn năm của nhân dân Việt Nam. Và những tư tưởng của Người là hiện thân của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình, tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”.

Tìm hiểu về nhà văn hóa Hồ Chí Minh, chúng ta thấy luôn hội tụ những gì đẹp nhất, trong sáng nhất, vinh quang nhất suốt hàng nghìn năm văn hiến của dân tộc, trong tiến trình lịch sử của đất nước. Vì vậy, mỗi người Việt Nam chúng ta đến với văn hóa Hồ Chí Minh đều cảm thấy rất gần gũi. Tiến sĩ M. Át-mét, Giám đốc UNESCO khu vực châu Á – Thái Bình Dương, nhận xét: ”Cuộc đời của Người mang ảnh hưởng của những giá trị truyền thống dân tộc, có những đóng góp vào việc tạo nên một nền văn hóa Việt Nam hiện đại và điều đó cũng được khẳng định trong bài Điếu văn truy điệu Người ở Hà Nội (năm 1969): ”Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta”.

Đồng thời, ở Hồ Chí Minh còn thể hiện một cách tiêu biểu và nổi bật sự kết hợp hài hòa giữa những giá trị nhân văn của dân tộc, những đạo lý của con người Việt Nam với chủ nghĩa Mác – Lê-nin – chân lý của thời đại và tinh hoa văn hóa nhân loại bao gồm cổ, kim, Đông, Tây. Chính từ lòng yêu nước sâu sắc và ham học hỏi, từ thực tiễn hoạt động cách mạng phong phú, sôi nổi, liên tục, không mệt mỏi mà Người đã tiếp thu, chắt lọc, chuyển hóa những giá trị và tinh hoa ấy bằng một trí tuệ mẫn tiệp, óc nhạy cảm, sự sáng tạo. Đây là nét đặc sắc, nổi bật nhất của tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh. Vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh đã và còn đem đến cho Việt Nam cũng như thế giới những giá trị và tầm vóc văn hóa mới.

Trong quá trình hoạt động cách mạng, vì sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người và giải phóng nhân loại, Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với nhiều nền văn hóa ở nhiều châu lục, nhiều vùng, nhiều quốc gia; ở phương Đông và phương Tây; ở chính quốc và thuộc địa; ở các dân tộc da trắng, da vàng cũng như da đen. Ít có một lãnh tụ cách mạng, một nhà văn hóa nào trên thế giời từng đi nhiều nơi, đến nhiều nước, làm nhiều nghề, am hiểu nhiều về các dân tộc và các nền văn hóa khác nhau như Hồ Chí Minh. Do đó, những người phương Tây có thể tìm thấy trong tư tưởng Hồ Chí Minh tinh thần của chủ nghĩa nhân đạo thời kỳ Phục Hưng, tư tưởng dân chủ của Thế kỷ Ánh sáng, tinh thần độc lập và nhân quyền của cách mạng Mỹ, tư tưởng tự do – bình đẳng – bác ái của cách mạng Pháp và tinh thần cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Còn những người ở phương Đông lại thấy trong tư tưởng Hồ Chí Minh những nét gần gũi, phù hợp với “chủ nghĩa tam dân” của Tôn Trung Sơn, tinh thần yêu nước, khắc khổ hy sinh vì dân của M. Găng-đi, cũng như sự tu dưỡng đạo đức của học thuyết Khổng Tử, đức từ bi của Phật Thích Ca, tinh thần bác ái của Chúa Giê-su. Rồi khi đọc một áng văn chương chính trị, một bài báo, hoặc một lời phát biểu của Người, ta lại phát hiện ra những điều lý thú và kinh ngạc về sự kết hợp giữa tính hài hước của văn chương Pháp; chất hàm xúc, thanh cao của thơ Đường; tính hiện thực của M. Goóc-ki, cùng sự sắc nhọn của ngòi bút Lỗ Tấn, sự gần gũi, trong sáng của Nguyễn Du…Ông T.N. Ca-un, Chủ tịch Trung tâm Ấn Độ nghiên cứu về Đông Dương nhận xét: các bài thơ, tiểu luận và điền văn của Người phản ánh một sự hiểu biết sâu sắc về lịch sử và văn minh nhân loại và một niềm tin chung thủy đối với bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc và quốc gia, kể cả dân tộc mình và các dân tộc khác trên thế giới. Nhưng điều kỳ lạ là, những nền văn hóa cả phương Đông lẫn phương Tây, từ cổ đại đến cận đại và hiện đại, khi thể hiện ở Hồ Chí Minh luôn mang một phong cách rất Việt Nam, đầy tính nhân văn, rất bình dị, gần gũi nhưng cũng rất sâu sắc, mới mẻ, hiện đại và cách mạng.

Ở Hồ Chí Minh, những giá trị tinh thần cao cả, bền vững và tốt đẹp của văn hóa dân tộc được hình thành, phát triển trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, trong lao động sản xuất như: truyền thống yêu nước, lòng nhân ái, tinh thần dân chủ, chủ nghĩa anh hùng cách mạng… luôn được đề cao, củng cố và phát huy. Song chúng không dừng lại ở những giá trị truyền thống mà thông qua tư tưởng, đạo đức, lối sống và những lời dạy của Người mà được lồng ý nghĩa sâu sắc, giá trị cao cả; tạo nên sức mạnh, niềm tin ở mỗi con người, ở các dân tộc và của cả cộng đồng. Ở đây hàm chứa một nền văn hóa mới: Văn hóa cách mạng với những giá trị truyền thống, vừa có nội dung yêu nước, tiến bộ và nhân văn cao đẹp; vừa thể hiện được chức năng nhận thức, giáo dục và thẩm mỹ. Hồ Chí Minh là một con người vĩ đại, nhưng lại gần gũi với mọi người, với nhân dân lao động. Ở Người, cái vĩ đại, cao cả được thể hiện thông qua cái bình thường, giản dị. Nhưng cần hiểu rằng, sự giản dị của Bác không phải là giản đơn mà là sự giản dị, trong sáng xuất phát từ một lý tưởng đạo đức cao đẹp, một nếp sống văn hóa hợp với khoa học, với thẩm mỹ mới; giản dị mà phong phú, văn minh. Sự giản dị của Hồ Chí Minh không chỉ biểu hiện của văn hóa, của đạo đức mà còn là một tinh thần dân chủ và quan điểm quần chúng cao đẹp. Bác bao giờ cũng nghĩ đến dân, chăm lo tới lợi ích chính đáng và không ngừng đấu tranh cho tự do, độc lập của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân. Bác luôn yêu thương, tin tưởng, kính trọng và hòa mình vào nhân dân. Có thể nói, lối sống giản dị, gần gũi với mọi người phản ánh cái cốt lõi tâm hồn của Bác, tấm lòng của Bác đối với hạnh phúc của con người, với tương lai của dân tộc và nhân loại. Đồng chí Phạm Văn Đồng nói: Hồ Chí Minh cao mà không xa, mới mà không lạ, lớn mà không làm ra vĩ đại, soi sáng mà không làm choáng ngợp.

Có một nét đẹp nữa trong văn hóa Hồ Chí Minh mà chúng ta cần nói tới. Đó là sự khiêm tốn. Giáo sư X. Mau-roi (Ấn Độ) cho rằng, tình thương nhân dân, sự khiêm tốn và giản dị trong lối sống của Người là sâu sắc và hồn nhiên. ”Sự khiêm tốn của Người là nổi tiếng” . Nếu như khiêm tốn là phẩm chất của những người cách mạng chân chính, của nhà văn hóa lớn, thì điều đó được thể hiện một cách đầy đủ, tập trung nhất ở con người Hồ Chí Minh. Người không bao giờ đặt mình cao hơn dân tộc và sự nghiệp cách mạng của Đảng, cho dù Bác là người tiêu biểu cho tinh hoa, khí phách của dân tộc, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta. Đối với Hồ Chí Minh, khiêm tốn vừa là văn hóa, vừa là đạo đức, đòi hỏi mỗi người, dù bất kỳ ai, cũng phải thường xuyên học tập, rèn luyện và thể hiện trong cuộc sống hằng ngày. Khiêm tốn gắn liền với tự chủ, tự tin; tin ở bản thân, ở tập thể, ở tiền đồ tươi sáng của dân tộc, ở mục tiêu, lý tưởng và con đường cách mạng mà Đảng ta, nhân dân ta lựa chọn.

(Tạp chí Cộng sản)

cpv.org.vn

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với vấn đề xây dựng văn hóa trong Đảng hiện nay

Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như việc vận dụng tư tưởng của Người trong mọi lĩnh vực của sự nghiệp cách mạng Việt Nam, với sự đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cách mạng cũng như những con người Việt Nam mới luôn là vấn đề thời sự, thể hiện tính cần thiết, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải tiếp tục đào sâu suy nghĩ, kiên trì phấn đấu và noi theo. Đó là sự nghiệp của toàn Đảng, của hệ thống chính trị, nhằm góp phần xây dựng thành công một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

1 – Vị trí của vấn đề đạo đức trong văn hóa nói chung

Văn hóa, theo định nghĩa chung nhất, là những giá trị vật chất và tinh thần mà loài người sáng tạo nên trong tiến trình lịch sử. Còn theo cách hiểu thông thường nhất, đó là toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội, bao gồm cả tư tưởng xã hội, tri thức xã hội, đạo đức xã hội, đời sống và lối sống xã hội…

Không phải đến bây giờ, mà ngay từ lâu, khi Đảng ta mới thành lập và khi nhà nước cách mạng mới ra đời, Bác Hồ đã khẳng định rằng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, “văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Có nghĩa, đạo đức chỉ là một bộ phận của văn hóa chứ không phải là toàn bộ nền văn hóa. Tuy nhiên, đó là bộ phận có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Bởi lẽ, khi xem xét trình độ văn hóa của một xã hội, người ta không thể không nói đến con người trong xã hội, mà nói đến con người thì không thể không nói đến đạo đức. Tư tưởng xã hội và đạo đức xã hội đều có vai trò quyết định đối với hành vi của con người trong xã hội. Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc sống và hành động được dư luận xã hội thừa nhận. Những tiêu chuẩn, nguyên tắc đó quy định, điều chỉnh hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội. Như vậy, đạo đức cũng chính là phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đó mà có. Trong các quan hệ xã hội, những vấn đề thuộc về dân tâm, dân ý, dân trí, dân quyền, và dân sinh …, đều thuộc về và là sự biểu hiện của văn hóa một xã hội, mà mức độ biểu hiện cao hay thấp tùy thuộc một phần quan trọng vào đạo đức.

2 – Vị trí của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh

Đại hội IX của Đảng ta đã đưa ra một mệnh đề cấu thành định nghĩa rất chuẩn xác về tư tưởng Hồ Chí Minh, rằng “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam”. Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh cần được nghiên cứu không phải dưới góc độ những ý kiến, những suy nghĩ riêng lẻ, cụ thể, mà trong sự tổng hợp có tính hệ thống, tức là nghiên cứu dưới góc độ một học thuyết chính trị – cách mạng. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một bộ phận của tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh. Nói cách khác, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là một bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa lại là một bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương tiêu biểu, một mẫu mực tuyệt vời về đạo đức, không chỉ đạo đức của con người xã hội mà còn là đạo đức của một lãnh tụ cách mạng, suốt đời hy sinh, phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Tuy nhiên, nghiên cứu tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ là nghiên cứu những phẩm chất cao quý thể hiện trong cuộc sống của Người, mà còn là nghiên cứu những quan điểm của Người về đạo đức, những quan điểm đó đã, đang và sẽ còn chỉ đạo dài lâu cho sự nghiệp của Đảng ta xây dựng văn hóa dân tộc nói chung và xây dựng văn hóa trong Đảng nói riêng.

Xuyên suốt các tác phẩm của Người, từ “Đường Cách mệnh” (1927), “Sửa đổi lối làm việc” (1947), “Cần, kiệm, liêm, chính” (1949) cho đến “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (1969) và bản Di chúc của Người (1969), ta thấy toát lên tinh thần và những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức.

Khái niệm đạo đức, được Hồ Chí Minh tập trung đề cập trong các tác phẩm của Người là đạo đức của xã hội mới, cao hơn nữa là đạo đức cách mạng, đạo đức của cán bộ, đảng viên. Những phẩm chất đạo đức cao quý chung nhất, cơ bản nhất mà Người nêu lên đối với cán bộ cách mạng:

Một là: trung với nước, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Không phải một lần mà rất nhiều lần, không phải đối với một số đối tượng nhất định mà đối với rất nhiều đối tượng khác nhau, Người luôn luôn nhắc nhở rằng, điều chủ chốt nhất của đạo đức cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, là trung với nước, hiếu với dân.

Hai là: nhân, nghĩa, trí, dũng. Nhân là thật thà yêu thương, giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân. Vì thế mà sẵn sàng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà không ham giàu sang, không ngại cực khổ, không sợ uy quyền. Nghĩa là ngay thẳng, không có tà tâm, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Đảng. Trí là đầu óc trong sạch, sáng suốt, dễ hiểu lý luận, dễ tìm phương hướng, biết xem người, xét việc,… Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm, thấy khuyết điểm có gan sửa chữa; cực khổ khó khăn có gan chịu đựng; có gan chống lại vinh hoa phú quý không chính đáng; nếu cần, có gan hy sinh cả tính mạng mình…

Ba là: cần, kiệm, liêm, chính. Cần là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm; thấy rõ lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta… Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tiền của của nhân dân, của nước, của bản thân mình, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi; không phô trương hình thức, không liên hoan chè chén lu bù… Liêm là luôn luôn tôn trọng, gìn giữ của công và của dân; phải trong sạch, không tham lam; không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng, không ham người tâng bốc mình… Chính “nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn”. Đối với mình thì không tự cao, tự đại, luôn luôn chịu khó học tập, cầu tiến bộ, luôn luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa chữa điều dở… Đối với người thì không nịnh hót cấp trên, không xem khinh người dưới; luôn luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc. Đối với việc thì để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà… Cần, kiệm, liêm, chính luôn luôn đi liền với chí công, vô tư, tức là hết lòng chăm lo công việc chung, không tơ hào, tư lợi.

Trung, hiếu, nhân, nghĩa, trí, dũng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư đều là những khái niệm vốn có từ Nho học và đạo đức từ lâu đời của ông cha ta, song đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đổi mới và phát triển, thậm chí có những khái niệm đổi mới hẳn về nội dung, như xưa kia là trung với vua, hiếu với cha mẹ, nay là trung với nước, hiếu với dân. Do đó, những phẩm chất đạo đức được Người nêu lên chính là những phẩm chất của đạo đức mới, của con người mới và nền văn hóa mới. Nó là sự kết hợp tinh thần cách mạng của giai cấp công nhân với truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc và những tinh hoa đạo đức của nhân loại.

Đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh còn có tầm sâu rộng hơn, vượt qua khuôn khổ quốc gia để tạo nên sự kết hợp hài hòa và nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, xem “bốn phương vô sản đều là anh em”…

3 – Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với vấn đề xây dựng văn hóa trong Đảng hiện nay

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) của Đảng ta nêu rõ rằng, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong những nội dung cơ bản của việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng yêu cầu: đưa các nhân tố văn hóa, tinh thần thấm sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII, ghi rõ: “Để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng về văn hóa, phải xây dựng văn hóa từ trong Đảng, trong bộ máy nhà nước…” và khẳng định rằng: “Từ nay đến năm 2000, đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết là trong các tổ chức đảng và nhà nước, trong các đoàn thể quần chúng và trong từng gia đình”. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng một lần nữa yêu cầu: “Nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân”. Kết luận của Hội nghị Trung ương 10, khóa IX, nhấn mạnh: Tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống lành mạnh trong xã hội, trước hết là trong các tổ chức đảng và nhà nước. Trong Diễn văn đọc tại Lễ kỷ niệm 75 năm Ngày thành lập Đảng vừa qua, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cũng yêu cầu phải phấn đấu để mỗi tổ chức đảng và đoàn thể, mỗi cơ quan nhà nước đều là “một tấm gương văn hóa trong xã hội”.

Nhắc lại các nghị quyết nói trên để thấy rõ tính bức bách của nhiệm vụ xây dựng văn hóa trong Đảng hiện nay; cũng là để thấy rõ rằng muốn xây dựng được tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết phải xây dựng được các phẩm chất đó trong các tổ chức của Đảng và bộ máy của Nhà nước…

Đối chiếu với tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức mà chúng tôi vừa đề cập, ta càng thấy rõ vai trò quan trọng biết dường nào của đạo đức cách mạng trong việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nói chung, và xây dựng văn hóa trong Đảng nói riêng. Không phải ngẫu nhiên trong Di chúc Người nói về Đảng và đặc biệt nhấn mạnh vấn đề đạo đức: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.

Những lời dạy của Bác Hồ về đạo đức cách mạng, đối với Đảng ta, đối với mỗi cán bộ, đảng viên, ngày nay vẫn còn mang tính thời sự nóng hổi; nhất là những phẩm chất trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân, về cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, về nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, về đảng viên đi trước, làng nước theo sau… là không bao giờ cũ. Nếu có cái gì gọi là cũ thì đó chính là nhận thức của chúng ta về các lời dạy của Bác không đến nơi, đến chốn, không thật đầy đủ và nhuần nhuyễn, nhất là chúng ta nói mà không đi đôi với làm, hoặc nói nhiều làm ít, khiến cho đời sống văn hóa trong Đảng, nhất là đời sống về đạo đức, có những biểu hiện suy thoái nghiêm trọng. Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (lần 2), khóa VIII, đòi hỏi phải khắc phục bằng được tình trạng suy thoái về tư tưởng, đạo đức và lối sống trong cán bộ, đảng viên, đặc biệt là tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, một căn bệnh nguy hiểm đang đục khoét cơ thể sống của Đảng ta. Trong cuộc chiến đấu sinh tử này, mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta càng phải đề cao trách nhiệm tu dưỡng và thực hành tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.

Theo Hà Đăng, Tạp chí Cộng sản tháng 8/2005

cpv.org.vn

Văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh – giá trị và ý nghĩa

1. Cả dân tộc và nhân loại tôn vinh Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hóa thế giới. Kết tinh trong mình những tinh hoa của truyền thống dân tộc, thâu thái và chắt lọc những giá trị đặc sắc của hai nền văn hóa Đông – Tây qua các thời đại lịch sử, lại được ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin soi đường với sức cổ vũ của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã được lịch sử chuẩn bị và đào luyện để trở thành vĩ nhân.

Song những nhân tố khách quan đó mới chỉ là những điều kiện cần chứ chưa đủ. Nhờ những nỗ lực đặc biệt và nghị lực phi thường trong trường đời lao động, học tập và tranh đấu, với năng lực tư duy độc lập và sáng tạo, Hồ Chí Minh đã sớm hình thành tư chất của một triết gia, nhà tư tưởng lớn sau này của Việt Nam và thế giới.

Tư chất ấy biểu hiện ở sự nhạy cảm, mẫn cảm sâu sắc của trái tim yêu nước, thương dân, thương nhân loại khổ đau, dù khác màu da, tiếng nói nhưng cùng chung tình cảnh nô lệ dưới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân tàn bạo, phi nhân. Tư chất ấy còn biểu hiện ở động cơ cao thượng thấm nhuần tính nhân bản – quan tâm tới số phận con người thì phải tìm đường tranh đấu, giải phóng dân tộc mình và các dân tộc khác ra khỏi xiềng xích nô lệ, làm cho họ có cuộc sống xứng đáng với con người trong độc lập – tự do – hạnh phúc. Đây là hoài bão, khát vọng của cả cuộc đời Người. Chúng ta bắt gặp ở đây, trong những khái niệm trên mà Người từng nói, một sự quy tụ tất cả những gì Người mong muốn và hiểu biết: sự gặp gỡ giữa mục tiêu chính trị và hệ giá trị văn hóa. Đó là chính trị đầy tính nhân đạo của chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là văn hóa của người cộng sản giác ngộ khoa học để nắm vững quy luật, sẵn sàng hành động, hiến dâng, hy sinh, hóa thân trọn vẹn và toàn vẹn bản thân mình vào dân tộc và nhân loại. Cái triệt để và nhất quán ấy lại là biểu hiện chân chính, đích thực nhất của bản chất giai cấp công nhân cách mạng mà lúc nào và ở đâu Người cũng bền bỉ thực hành lời nói đi đôi với việc làm, trau dồi bốn đức cần kiệm liêm chính, nghiêm khắc với mình, rộng lòng khoan thứ với người, kiên trì “giữ chủ nghĩa cho vững” và “ít lòng ham muốn về vật chất”, bởi cách mạng chân chính thì suốt một đời phải thân dân và chính tâm, đoàn kết và thanh khiết. Với Hồ Chí Minh, đó không chỉ là tư tưởng, chính kiến và chủ thuyết mà còn là hành động, lối sống, hành vi ứng xử hằng ngày. Tất cả đều thống nhất trong sự hài hòa thấu lý, đạt tình, giản dị và sâu sắc, chân thực và tự nhiên, trở thành cốt cách và bản lĩnh của Người ấy là một bản lĩnh văn hóa.

2 – Ở Hồ Chí Minh, cuộc đời và sự nghiệp, tư tưởng và phương pháp, trí tuệ và đạo đức, lối sống và phong cách, tất cả đều hòa quyện và chung đúc lại thành nhân cách của Người ấy là một nhân cách văn hóa, và văn hóa Hồ Chí Minh thực sự là một kiểu mẫu hiếm thấy của văn hóa làm người, văn hóa nhân cách trong thời đại ngày nay. Chiều sâu nhân bản và tầm cao nhân đạo của triết lý và tư tưởng Hồ Chí Minh từ cội nguồn dân tộc đã đến cùng thời đại, nâng văn hóa của Người lên, sinh thành các giá trị nhân văn. Bao nhiêu học giả uyên bác và thông thái trên thế giới từ bấy lâu nay vẫn miệt mài trong cuộc tìm kiếm không bao giờ dứt định nghĩa về văn hóa. Song suy đến cùng, văn hóa là nhân văn, là sự không ngừng phát triển, bồi đắp để hoàn thiện nhân tính. Đặt niềm tin nơi con người, tôn trọng nhân cách và nâng niu giá trị con người, rằng con người phải trở nên tốt đẹp trong một thế giới có tính người nhiều hơn như C. Mác nói, đó là sức mạnh của nhân văn, là lực đẩy của phát triển và tính hướng đích của mọi tiến bộ xã hội.

Nhân văn trong triết lý nhân sinh và triết học hành động của Hồ Chí Minh làm cho tư tưởng thâm thúy, sâu sắc kiểu hiền triết Á Đông của Người luôn hướng tới và gắn liền với hoạt động thực tiễn vì con người và cuộc sống của nó. Coi dân là chủ thể làm nên mọi giá trị ở đời nên Người trọng dân và tin dân. Lấy dân làm đối tượng phục vụ, nên Người yêu dân, thương dân, gần dân, thấu hiểu dân tình, chăm lo dân sinh, nâng cao dân trí để thực hành dân chủ. Người đã cùng với Đảng và bộ máy công quyền do Người lãnh đạo làm tất cả những gì có thể làm để bồi dưỡng sức dân, chăm lo, phát triển sức dân, đồng thời hết sức tiết kiệm sức dân. Người căn dặn: mỗi đồng tiền, bát gạo mà chúng ta tiêu dùng đều là mồ hôi, nước mắt của dân. Thương dân thì phải tiết kiệm. Lãng phí là không thương dân. Tham ô là có tội với dân. Phải diệt trừ tội ác đó. Trong điều giản dị ấy, sự cảm động từ một tấm lòng đã có sức cảm hóa mọi tấm lòng khác. Ấy là lòng nhân ái. Đây là một trong những điểm tựa vững chắc, trở thành nguyên tắc ứng xử của Người.

Người tin rằng, đã là người thì ai cũng có tình người. Thức tỉnh điều tốt đẹp ấy, làm cho nó nảy nở, phát triển, đó là phương pháp, nghệ thuật giáo dục con người của Hồ Chí Minh. Yêu thương vì không bao giờ mất đi niềm tin cậy và vị tha nên phải bao dung, phải có lòng độ lượng, độ lượng vĩ đại. Người đưa ra một tổng kết từ sự trải nghiệm trực tiếp của mình: sông sâu, bể rộng bao nhiêu nước cũng vừa, cái đĩa cạn, cái chén nhỏ thì chỉ một giọt nước cũng tràn đầy. Chỉ sợ mình không có lòng bao dung nhân ái chứ không sợ người ta không theo mình. Sự chân thành và hết mình ấy trong ứng xử để giáo dục, cảm hóa con người, thuyết phục và thu phục nhân tâm ở Hồ Chí Minh thực sự là một kiểu mẫu, một tấm gương soi cho đương thời và hậu thế. Người tiêu biểu cho văn hóa ứng xử, trong đó kết hợp làm một sức mạnh của khoa học – đạo đức với nét đẹp tinh tế của văn hóa. Người là một nhà văn hóa lớn, trong đó nhà tư tưởng và nhà giáo dục hiện ra không phải với tính hàn lâm, sách vở, với sự cao đạo xa cách mà trái lại, dung dị như đời thường, rất mực gần gũi với con người đời thường, ai ai cũng cảm nhận trực tiếp được. Người truyền bá tư tưởng như một sự thực hành, chỉ dẫn trực tiếp cho mọi người cách nghĩ, cách viết, cách nói mà cao sâu hơn tất cả là cách sống làm người và ở đời. Người nói ít, làm nhiều, chủ yếu là hành động, chỉ nói và viết khi cần thiết, đã nói thì phải làm, phải thật thà nhúng tay vào việc. Người giáo dục đạo lý, tình thương bằng sự nêu gương, bằng chăm sóc việc “trồng người” tỷ mỷ, chu đáo như người làm vườn vậy. Triết lý, triết học Hồ Chí Minh là triết lý, triết học về văn hóa; ở đó, trực quan, biểu cảm sinh động nhất được thể hiện trong văn hóa ứng xử của Người. Sinh thời, dù trong nhiều năm ở cương vị người đứng đầu Đảng và Nhà nước, dù đã trở thành lãnh tụ của dân tộc, nhà hoạt động lỗi lạc trong phong trào cách mạng thế giới, được mọi người tôn kính và ngưỡng mộ, nhưng Hồ Chí Minh luôn luôn tự ý thức mình chỉ là một con người bình thường giữa muôn người. Người từ chối mọi danh hiệu, huân chương, phần thưởng dành cho riêng mình. Người chỉ nhận mình là nhà hoạt động chính trị chuyên nghiệp và ham muốn tột bậc của Người chỉ là làm cho nước nhà được độc lập, dân ta có tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, được học hành, được sống no đủ, hạnh phúc.

Theo Hồ Chí Minh, phục vụ nhân dân, suốt đời làm đầy tớ trung thành của nhân dân, làm công bộc tận tụy hết lòng vì nhân dân, đó là phục tùng chân lý cao nhất và là thực hành một lẽ sống cao thượng nhất. Cuộc đời của Người và tất cả những gì Người đã làm, từ lúc ra đi tìm đường cứu nước cho đến giây phút cuối cùng, khi trái tim ngừng đập, khối óc ngừng suy nghĩ, đã minh chứng một cách thuyết phục và cảm động nhất cho văn hóa làm người của Người. Bởi Người cũng quan niệm như C. Mác: Hạnh phúc là đấu tranh. Ai đấu tranh đem lại hạnh phúc nhiều nhất cho người khác thì người ấy có hạnh phúc nhất.

Không chỉ mọi người Việt Nam mà cả bạn bè quốc tế đã gọi Người một cách trìu mến nhất: Bác Hồ! Cả một buôn làng của đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng Trị Thiên – Huế đều lấy họ Hồ làm họ của mình để ghi nhớ công ơn của Người và tâm niệm: hãy sống như Người đã sống.

Không có khái quát nào đầy đủ, chân thực hơn về Hồ Chí Minh – một con người, một cuộc đời, một sự nghiệp đã hiến dâng trọn vẹn cho dân tộc mình, cho thời đại và cho nhân loại, như chính câu thơ của Tố Hữu: “Nâng niu tất cả chỉ quên mình”. Cũng như vậy, Phạm Văn Đồng, một trong những học trò xuất sắc của Người, từng là nhà lãnh đạo nổi tiếng của Đảng và Nhà nước ta trước đây đã viết về Người: “Đời Hồ Chủ tịch trong như ánh sáng”. Ánh sáng tư tưởng, trí tuệ, đạo đức Hồ Chí Minh có nguồn sáng từ những chân lý lớn của lịch sử và thời đại, từ quy luật của muôn đời, kết tinh lại thành những giá trị văn hóa. Nó phản chiếu vào Hồ Chí Minh – Con người ở tầm vóc Đại Trí, Đại Nhân, Đại Dũng, Con người mang giá trị Chân – Thiện – Mỹ, gắn bó máu thịt với nhân dân, hóa thân vào nhân dân nên đã sống trong lòng nhân dân bền chặt, vĩnh hằng.

Lý tưởng đã trở thành hiện thực và hiện thực đã vươn tới lý tưởng. Dân tộc và non sông đất nước đã sinh ra Người và chính Người đã làm rạng rỡ non sông đất nước và dân tộc như một sự thăng hoa.

Hồ Chí Minh là hiện tượng văn hóa độc đáo ấy, bởi Người là một trong số hiếm hoi các lãnh tụ đã trở thành huyền thoại ngay từ khi còn sống.

3 – Theo giáo sư Trần Văn Giàu, tầm cỡ của một hiền triết chưa chắc ở chỗ giải đáp mối tương quan giữa tồn tại và tư tưởng, ở chỗ xác định thế giới là thực tại hay là ảo ảnh, khả tri hay bất khả tri, ở chỗ lựa chọn giáo điều quen thuộc hay sáng tạo mới lạ, mà chung quy lại là ở mức quan tâm đến Con người, con người thật đang sống trên quả đất này và chắc chắn còn sống lâu dài đến vô tận thời gian, lấy đó làm trung tâm của mọi suy tư và chủ đích của mọi hành động. Cụ Hồ thuộc loại hiền triết đó, vì thế mà Cụ lớn..

Đọc lại nhận xét tinh tế và sâu sắc trên đây, rất tự nhiên, ta nhớ tới một câu trong Di chúc của Người: “Đầu tiên là công việc đối với con người.

Bản thân Người cũng từng khẳng định: lòng thương yêu của tôi đối với nhân dân và nhân loại không bao giờ thay đổi.

Một học giả nước ngoài đã viết về Người: Cụ Hồ là một người xây dựng lương tri, xây dựng khi nó thiếu, tái tạo khi nó mất. Cụ thức tỉnh kẻ u mê, ân cần đỡ dậy người trượt ngã, biến vạn ức người bình thường thành anh hùng vô danh và hữu danh trong lao động, trên chiến trường, trong ngục tối, trước máy chém .

Lật lại các trang sử liệu, chúng ta không thể bỏ qua chi tiết này: Ét-mông Mi-sơ-lê, Bộ trưởng Các quân chủng Pháp, người được ủy nhiệm tiếp Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946 ở Pa-ri đã nhận xét về Người: Đó là một người cộng sản theo lý tưởng. Ông đã chọn chủ nghĩa cộng sản, đúng thế, nhưng có một chủ nghĩa nhân văn sâu sắc. Đó là một chủ nghĩa cộng sản có tình người, một chủ nghĩa cộng sản tôn trọng cá nhân, biết khóc, biết cười, biết ngâm vịnh.

Là một chính khách tư sản, Ét-mông Mi-sơ-lê, dĩ nhiên không thể hiểu được bản chất của chủ nghĩa cộng sản. Ở bên trong cái rào chắn của thế giới quan tư sản, ông chỉ có thể nhìn nhận chủ nghĩa cộng sản với những thiên kiến, lệch lạc. Nhưng điều đáng nói là ở chỗ, ông ta đã hiểu đúng Hồ Chí Minh, nói lên được chủ nghĩa nhân văn sâu sắc của Người. Có thể nói, văn hóa Hồ Chí Minh, đặc biệt là văn hóa ứng xử của Người thể hiện sâu đậm chất nhân văn ấy. Nếu lao động – đấu tranh và tình thương là bản chất con người, nơi biểu hiện và khẳng định nhân tính, thì Hồ Chí Minh mang bản chất ấy hơn ai hết. Người nêu lên một luận đề tư tưởng và phương pháp có giá trị và ý nghĩa như một tuyên ngôn, một cương lĩnh về giáo dục: Con người chứ không phải thánh thần nên ai cũng có cái hay và cái dở, cái tốt và cái xấu, ở trong lòng. Phải làm cho cái hay, cái tốt nảy nở như hoa mùa xuân, còn cái xấu, cái dở thì mất dần đi rồi tới chỗ mất hẳn.

4 – Văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh là văn hóa giáo dục, kết hợp giáo dục bằng lời (giảng giải, tuyên truyền, thuyết phục) với thực hành bằng công việc thực tế hằng ngày và bằng sự nêu gương. Tất cả những điều đó phải xuất phát từ lòng chân thành, khiêm tốn, giản dị, nhân ái, vị tha. Đó là sức mạnh bền bỉ để con người vượt qua mọi khó khăn, giữ vững được niềm tin, làm chủ chính mình và hoàn cảnh nhằm để đi tới mục đích của cuộc đời và sự nghiệp.

Điều gợi ý sâu sắc từ tư tưởng và thực tiễn sống động Hồ Chí Minh là ở chỗ, văn hóa ứng xử trước hết là văn hóa tự ứng xử. Trau dồi học vấn để từng bước đạt tới sự trưởng thành văn hóa; rèn luyện đạo đức, đặc biệt là các đức tính để rèn luyện nhân cách – những nội dung giáo dục ấy phải thấm sâu vào tình cảm con người, tăng cường được năng lực trí tuệ, tự giác trở thành nhu cầu và lối sống. Và như vậy, giáo dục trở thành tự giáo dục. Bởi thế, biết hướng thiện và phục thiện là một khởi nguồn quan trọng để mỗi con người tự hoàn thiện nhân cách của chính mình. Phải tự mình trở nên tốt đẹp – đó là một nhu cầu cao quý của đời sống tinh thần và thế giới nội tâm của con người; đó là động lực để con người tự mình học tập, noi gương những điều tốt đẹp ở người khác, biết tôn trọng những giá trị ở đời, biết yêu thương và tin cậy con người.

Đủ hiểu vì sao, suốt cuộc đời mình, Hồ Chí Minh luôn chú trọng giáo dục cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ mà Người rất mực thương yêu, về phương pháp và dùng phương pháp để thực hành chân lý, dùng những tấm gương trong thực tế và tự mình nêu gương để giáo dục con người trở nên tốt đẹp. Phương châm mà Người nêu lên và căn dặn chúng ta là, bất cứ việc gì, dù to hay nhỏ, muốn thực hiện được, muốn mọi người cùng làm thì phải có phương pháp cho đúng và dùng phương pháp cho khéo. Người là bậc thầy của phương pháp, và ở tầm triết học, Người là nhà biện chứng thực hành xuất sắc nhất của cách mạng Việt Nam, của dân tộc ta trong thế kỷ XX. “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” là sự cô đúc tất cả tư tưởng, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh, là bản chất văn hóa Hồ Chí Minh. Đó cũng là nguyên tắc và chuẩn mực của Người trong văn hóa ứng xử mà chúng ta cần học tập, vận dụng hiện nay.

5. Từ sự nghiệp lớn của Đảng và của dân tộc ta, đến cuộc sống riêng tư của mỗi người, bằng những trải nghiệm hằng ngày của chính mình, mỗi chúng ta đều cảm nhận rằng: Bác Hồ vẫn còn sống mãi với chúng ta, vẫn ở bên cạnh chúng ta, dẫn dắt chúng ta đi tới thắng lợi của Đổi mới, tới mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tới sự tốt đẹp của cuộc sống, sự hoàn thiện của nhân cách, văn hóa làm người. “Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn”. Có trí tuệ, tình thương, tấm lòng bao dung, nhân ái của Bác cổ vũ, thúc đẩy, những thế hệ người Việt Nam hôm nay và mãi mãi sau này sẽ làm nên nhiều điều tốt đẹp xứng đáng với lòng mong đợi của Người.

Đúng như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết về Người, về nhân cách Hồ Chí Minh, văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh: “Hồ Chí Minh cao mà không xa, mới mà không lạ, to lớn mà không làm ra vĩ đại, chói sáng mà không làm ai choáng ngợp, mới gặp lần đầu mà đã dường như thân thiết từ lâu”.

Theo GS,TS Hoàng Chí Bảo, Tạp chí Cộng sản tháng 5/2005

cpv.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh, những giá trị văn hóa dân tộc và thời đại

Giám đốc UNESCO khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Tiến sĩ Modagat Ahmed khẳng định, Hồ Chí Minh sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là một người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ, mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này.

Tư tưởng Hồ Chí Minh – theo cách nói của Cố Thủ tướng Phạm Văn Ðồng – là một kho tàng đầy của báu, là di sản chứa đựng biết bao giá trị, giá trị đó nói cho cùng là giá trị văn hóa mà chúng ta khai thác chưa được bao nhiêu.

Tổ chức UNESCO đánh giá Chủ tịch Hồ Chí Minh theo chức năng của một tổ chức giáo dục, khoa học, văn hóa thế giới: Người đã để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại, góp phần to lớn vào cuộc đấu tranh vì những mục tiêu cao cả và khát vọng lớn lao của nhân loại tiến bộ là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Hồ Chí Minh đã có sự đóng góp quan trọng về nhiều lĩnh vực: văn hóa, giáo dục, nghệ thuật. Người là hiện thân cho khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau.

Cố Thủ tướng Phạm Văn Ðồng đưa ra một cách lập luận để hiểu ý nghĩa của bản Nghị quyết của UNESCO: Tôi hình dung Hồ Chí Minh là người đem lại ánh sáng, ánh sáng văn hóa, ánh sáng cách mạng cho nhân dân ta và góp phần đem lại ánh sáng cho nhân dân nhiều nước khác, để xua tan bóng tối của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, của dốt nát, đói nghèo, bệnh tật đè nặng lên cuộc sống của các dân tộc bị áp bức.

Như vậy, văn hóa có tầm quan trọng to lớn và ý nghĩa cách mạng sâu xa đối với vận mệnh của nhân dân các nước.

Văn hóa còn được nhận thức là hiểu biết, hiểu biết làm người, hiểu biết xử sự, xử thế. Và xử sự, xử thế trong xã hội có áp bức, bóc lột giai cấp, dân tộc và con người là làm cách mạng. Hiểu sứ mệnh và sức mạnh của văn hóa như vậy – cái mà kẻ thù của loài người rất căm ghét – mới thấy hết tầm vóc, trí tuệ văn hóa Hồ Chí Minh – Người để lại cho hôm nay và muôn đời mai sau những giá trị văn hóa vĩnh hằng.

Trong lòng nhân loại tiến bộ, Hồ Chí Minh hiện thân cho nền văn hóa tương lai. Ðó là một nền văn hóa luôn có sự kết hợp chặt chẽ giữa văn hóa với cách mạng, cách mạng với văn hóa. Trong thế kỷ 20,
Hồ Chí Minh đủ trí tuệ và bản lĩnh, giương cao ngọn cờ chống chủ nghĩa thực dân, mà chống chủ nghĩa thực dân là đạt tới đỉnh cao giá trị nhân văn, giá trị văn hóa của loài người. Sự nghiệp văn hóa Hồ Chí Minh luôn có sự kết hợp giữa truyền thống với hiện đại, dân tộc với quốc tế, phương Ðông với phương Tây. Giờ đây người ta nói nhiều tới sự đối thoại và đa dạng văn hóa, điều mà cách đây sáu mươi năm Hồ Chí Minh đã từng đề cập một cách sâu sắc và giải quyết thành công. Người phủ nhận lời tiên tri nhuốm mầu huyền thoại của một trí thức người Anh là Kipling: Ðông là Ðông, Tây là Tây, hai bên không bao giờ gặp nhau. Theo Hồ Chí Minh, triết lý đạo Khổng cũng như triết lý phương Tây đều đề cao một nguyên tắc đạo đức: điều mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác.

Triết lý sống của Hồ Chí Minh là ở đời và làm người phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ, bị áp bức. Trong khi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đem quân xâm lược Việt Nam, Hồ Chí Minh nói với nhân dân các nước đó rằng máu nào cũng là máu, người nào cũng là người. Một thanh niên Pháp, Mỹ hy sinh, tôi cũng đau lòng như một thanh niên Việt Nam hy sinh. Hồ Chí Minh hiện thân cho một chủ nghĩa nhân văn cao cả – chủ nghĩa nhân văn cách mạng và hành động. Người cũng hiện thân cho khát vọng của loài người về tự do, hạnh phúc, hòa bình; về các giá trị chân – thiện – mỹ. Người trả lời rõ ràng, ngắn gọn, đầy đủ với các nhà báo: yêu nhất điều thiện, ghét nhất điều ác. Thiện ở đây là hòa bình, độc lập, dân chủ, công bằng, văn minh, tiến bộ, giàu mạnh.

Hồ Chí Minh hiện thân cho nền văn hóa hòa bình. Người chủ trương đối thoại thay cho đối đầu. Nhà ngoại giao Pháp Jean Sainteny là một người đối thoại chính của Hồ Chí Minh trong những cuộc đàm phán với Pháp đã phải thừa nhận trong tác phẩm mang tựa đề “Lịch sử một nền hòa bình bị bỏ lỡ” rằng Hồ Chí Minh có một sự hiểu biết văn hóa rộng lớn, thông minh, vô tư, tạo ra uy tín không có gì so sánh nổi. Một nền hòa bình bị bỏ lỡ vì Chính phủ Pháp không hiểu và đánh giá đúng nhân vật này.

Giám đốc UNESCO khu vực châu Á – Thái Bình Dương là Tiến sĩ Modagat Ahmed khẳng định Hồ Chí Minh sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là một người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ, mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này.

Chúng ta đang sống trong một thế giới đầy biến động. Nhưng nói như Tiến sĩ Thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô V.M Sonsev, trong mọi biến đổi cũng có một số điểm quan trọng không hề thay đổi. Ðó là lý tưởng xã hội chủ nghĩa, các tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa, tự do, dân chủ và công bằng xã hội, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà yêu nước vĩ đại, người theo chủ nghĩa quốc tế đã cống hiến trọn đời mình cho những lý tưởng đó.

Thế giới càng biến đổi càng phải nhìn nhận đúng vai trò của văn hóa và giá trị văn hóa. Bởi vì xét đến cùng thì “Sự thăng hoa của văn hóa là đỉnh cao nhất của sự phát triển”. Xét trên ý nghĩa đó, Hồ Chí Minh là một con người kỳ diệu cho tất cả mọi thời đại. Hồ Chí Minh là một nhà văn hóa chân chính. Bởi vì người làm cách mạng không chỉ giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, mà còn vì một khát vọng cao quý nhất là giải phóng con người thoát khỏi nền văn hóa nô dịch, chống lại sự tha hóa con người. Cuộc đời hoạt động và sự nghiệp vĩ đại của Người là tấm gương cao đẹp, trong sáng về một quan niệm nhân sinh về thế giới, tỏa sáng chủ nghĩa nhân văn mới, kết tinh những tư tưởng, tình cảm, những ước mơ lớn của nhân loại. Ðúng như lời phát biểu của Chủ tịch Hội đồng Hòa bình thế giới Romet Chandra: “Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập, tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ đâu, nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao”.

PGS, TS Bùi Ðình Phong

cpv.org.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài của Đảng ta, nhà tư tưởng lớn của thời đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống hoàn chỉnh những quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, đó là những quan điểm nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu từ con người và cũng trở lại về với con người. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng và vì quần chúng, trong đó, phụ nữ là một lực lượng quan trọng. Người viết “Xem trong lịch sử cách mệnh chẳng có lần nào là không có đàn bà, con gái tham gia” và “An Nam cách mạng cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công”.

Trong một lần trả lời phỏng vấn Đài Phát thanh BBC (Anh), nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã nói: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi xướng con đường giải phóng phụ nữ tại Việt Nam. Người đã thức tỉnh phụ nữ tham gia giải phóng dân tộc, nhân loại và từ đó giải phóng chính mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cảm thông sâu sắc với nỗi thống khổ của người phụ nữ Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai”.

Trong quá trình hoạt động của mình, Nguyễn Ái Quốc đã dành nhiều bài báo tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân, đồng thời vạch rõ tình cảnh bị áp bức, bóc lột và đàn áp thậm tệ của nhân dân các nước thuộc địa, đặc biệt Người đã nhấn mạnh rằng ở các nước thuộc địa, phụ nữ chính là những người bị bóc lột tàn bạo và bị áp bức dã man nhất và chiếm số đông nhất. Trong bài “Những kẻ đi khai hóa” (Le Paria, ngày 1-7-1922) và bài “Phụ nữ Việt Nam và chế độ thực dân Pháp” (Le Paria, ngày 1-8-1922), Nguyễn Ái Quốc đã dựng lên một bức tranh cho người đọc thấy tình cảnh của phụ nữ Việt Nam dưới chế độ thuộc địa của chủ nghĩa thực dân Pháp. Đó là hình ảnh về những người phụ nữ lao động nghèo khổ làm nghề gánh muối có thể bị giết chết, bị đánh đập dã man, hoặc chỉ vì một lý do rất nhỏ là làm mất giấc ngủ của một viên Nhà đoan hay dám bày tỏ bất công của mình với chủ. Đó là việc những người phụ nữ bất kể bà già, trẻ em, phụ nữ có thai hay đang cho con bú đều có thể bị hãm hiếp hoặc tra tấn một cách man rợ mà không một người có lương tri nào có thể hình dung nổi.

Nguyễn Ái Quốc cũng vạch trần tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam, và đặc biệt đối với phụ nữ trong nhiều bài viết khác. Người đã không chỉ nêu lên cho người đọc thấy phụ nữ Việt Nam dưới chế độ thuộc địa của thực dân Pháp bị áp bức rất dã man, mà còn vạch rõ sự bất công, không có công lý dưới chế độ thuộc địa. Do đó, phải giải phóng phụ nữ khỏi áp bức, bất công và công cuộc giải phóng đó phải gắn liền với công cuộc giải phóng dân tộc. Người chỉ ra rằng, nếu nước nhà được độc lập thì nhân dân mới được tự do, trong đó có cả phụ nữ: “…đàn bà, con gái cũng nằm trong nhân dân, nếu cả dân tộc được tự do, đương nhiên họ cũng được tự do…”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở sự tố cáo tội ác của chế độ thực dân – phong kiến đối với người phụ nữ, mà còn động viên, tổ chức cho phụ nữ tham gia công cuộc giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội. Trong tác phẩm “Đường kách mệnh” được tập hợp từ những bài giảng tại các lớp huấn luyện cán bộ cách mạng Việt Nam tổ chức tại Quảng Châu (Trung Quốc) giữa những năm 20 của thế kỷ XX, Người viết: “Ông C.Mác nói rằng: Ai biết lịch sử thì biết rằng, muốn sửa sang xã hội không có phụ nữ giúp vào thì chắc không làm nổi. Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái thì biết xã hội tiến bộ như thế nào”. Theo Người, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, phụ nữ không chỉ được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột mà phải được giải phóng khỏi những tàn dư của hủ tục, định kiến hẹp hòi của tư tưởng phong kiến; vươn lên đóng góp sức mình xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho phụ nữ. Người luôn đấu tranh cho quyền bình đẳng của phụ nữ. Người nói rằng: “Chúng ta làm cách mạng là để tranh lấy quyền bình đẳng, trai gái đều ngang quyền như nhau. Lê-nin dạy chúng ta: Phụ nữ là một nửa xã hội. Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng cả. Phụ nữ thì phải tự mình phấn đấu giữ gìn quyền bình đẳng với đàn ông. Đàn ông phải kính trọng phụ nữ”. Người luôn yêu cầu Đảng, Chính phủ và các tổ chức đoàn thể tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia hoạt động và Người cũng nghiêm khắc nhắc nhở chị em phải cố gắng tự vươn lên trong lao động, học tập và công tác.

Trước lúc đi xa, trong bản “Di chúc”, Người biểu dương tinh thần chiến đấu, hy sinh và căn dặn toàn Đảng, toàn dân ta phải quan tâm, chăm sóc phụ nữ: “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất, Đảng và Chính phủ phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ”.

Ngày nay, trong thời kỳ hiện đại, người phụ nữ đã có sự năng động hơn, được tham gia vào công việc xã hội nhiều hơn trước đây. Thực hiện bình đẳng giới đã tạo điều kiện khích lệ phụ nữ vươn lên trong mọi lĩnh vực. Phụ nữ ngày nay về cơ bản không còn bị ràng buộc bởi những định kiến, những quy ước lạc hậu, cổ hủ ảnh hưởng đến cuộc sống và công việc. Tuy nhiên, ở nông thôn, phụ nữ vẫn chịu nhiều thiệt thòi bởi đời sống còn khó khăn, nhận thức của gia đình cũng như thôn xóm còn hạn chế về quyền bình đẳng nam nữ. Vì vậy, phát huy vai trò tích cực các tổ chức Hội Phụ nữ ở nông thôn để chị em có điều kiện giao lưu, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm là điều vô cùng cần thiết. Đảng và Nhà nước ta cần quan tâm hơn nữa để phụ nữ được thực hiện một cách toàn diện về quyền bình đẳng của mình như lời căn dặn cuối cùng trong bản “Di chúc” của Bác Hồ kính yêu.

T.D

CMH Theo baoanhdatmui

sogddt.camau.gov.vn

Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá

Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa là một di sản vô giá, là những giá trị vĩnh cửu mà Người để lại cho dân tộc Việt Nam và cho nhân loại. Những tư tưởng ấy không phải chỉ nằm trong các bài viết, bài nói, trong những, tác phẩm của Người, mà còn nằm trong phong trào cách mạng của quần chúng, trong con người Hồ Chí Minh.

Chính vì vậy, Tổ chức Giáo dục – Khoa học – Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) suy tôn Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam và là một nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại. Người là sự kết tinh truyền thống văn hóa hàng nghìn năm của nhân dân Việt Nam; là một hình mẫu cao đẹp của con người trong thời đại mới, một biểu tượng của chủ nghĩa nhân văn với đầy đủ ý nghĩa của nó, một tấm gương sáng tuyệt vời về người Cộng sản. Toàn bộ di sản tưtưởng của Người không những là một kho báu văn hóa của dân tộc Việt Nam, mà đã trở thành gia tài của nhân loại.

Nét đặc sắc nổi bật nhất của tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh là sự kết hợp, hài hòa giữa dân tộc với quốc tế, giai cấp với nhân loại, truyền thông với hiện đại, trên cơ sở một chủ nghĩa nhân văn tất cả vì hạnh phúc của con người, vì sự hoàn thiện của con người. Con người với ý nghĩa đầy đủ nhất, như Hồ Chí Minh nói, đó là mỗi một người, là những người thân, trong một gia đình những người gần gũi trong làng xã, phố phường, tập thể, là những người trong một nước cho đến phạm vi rộng rãi nhất là cả loài người. Văn hóa Hồ Chí Minh là văn hóa của con người, do con người, vì con người. Phải chăng, như các nhà khoa học đã định nghĩa về văn hóa, ở Hồ Chí Minh văn hóa chính là nhân hoá.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của minh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn xác định văn hóa cũng là một mặt trận, văn hóa có vị trí quan trọng và quan hệ khăng khít với các mặt trận chính trị kinh tế, quân sự, tạo thành những mặt trận trong cuộc kháng chiến toàn diện cua dân tộc. Nhiệm vụ của văn hóa là góp phần để kháng chiến và kiến quốc thành công. Theo quan điểm Hồ Chí Minh: ”Văn hóa tinh thần, văn hóa chính trị phải soi đường cho quốc dân đi”. Người nhấn mạnh: Văn hóa là một bộ phận của sự nghiệp cách mạng, có quan hệ chặt chẽ với chính trị, có nhiệm vụ phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Ngay sau khi vừa giành được chính quyền về tay nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời đưa ra những kế sách văn hóa vào chiến lược phát triển đất nước. Trước hết, Người rất quan tâm đến việc mở mang dân trí, xóa nạn mù chữ, chống giặc dốt. Người coi sự dốt nát cũng là một thứ giặc, xem thói quen và những hủ tục lạc hậu cũng là một loại kẻ thù. Với tầm nhìn bao quát, sâu sắc và sáng suốt, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi văn hóa cách mạng phải là văn hóa hành động, văn hóa gắn liền với nhu cầu thực tiễn giác ngộ quần chúng, hướng quần chúng vào ý thức tự giải phóng mình và giai phóng toàn đân tộc. Người nói: Phải giáo dục nhân dân chúng ta, làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập. Phải ”làm cho quốc đân có tinh thần vì nước quên mình”, ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập, tự do. Cùng với cuộc đấu tranh chống nạn mù chữ, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào xây dựng đời sống mới và viết cuốn sách ”Đời sống mới” để hướng dẫn các tầng lớp nhân dân thực hiện. Hưởng ứng lời kêu gọi của Người, nhân dân các địa phương đã tích cực thực hiện cuộc vận động xây dựng đời sống mới, và từ đó đã dần đần hình thành những thuần phong mỹ tục mới, từng bước tạo nền vững chắc cho sự phát triển của nền văn hóa, nghệ thuật, khoa học, giáo dục… nước nhà.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ trách nhiệm của Đảng trong lãnh đạo công tác văn hóa, không chỉ đề ra đường lối văn hóa đúng đắn mà phải xúc tiến việc đào tạo con người mới và cán bộ mới cho cuộc kháng chiến, kiến quốc. Văn hóa, giáo dục phải chủ động tạo ra những con người ấy. Người cho rằng, trong xây dựng đời sống văn hóa mới, phải triệt để tẩy trừ mọi xấu xa, tác hại của tàn tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hóa đế quốc. Đồng thời ra sức bảo vệ, phát huy, phát triển những truyển thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc và hấp thụ những cái mới, cái hay, cái đẹp, cái tốt của các dân tộc, của văn hóa tiến bộ thế giới, để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học và đại chúng. Theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng.một nền văn hóa mới cũng là nhằm xây dựng con người mới Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống. Luận điểm nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa, có tầm chiến lược và tầm nhìn xa trông rộng, cần phải nghiên cứu, quán triệt sâu sắc. Hồ Chí Minh không những là lãnh tụ tối cao của Đảng và dân tộc, mà còn là chiến sĩ tiên phong trên mặt trận văn hóa văn nghệ. Người thường xuyên quan tâm lãnh đạo xây dựng và phát triển văn hóa mới. Khi thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta, buộc nhân dân ta phải cầm vũ khí để bảo vệ độc lập dân tộc, Người đưa ra phương châm chiến lược: “kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến” và coi ”Văn hóa-nghệ thuật cũng là một mặt trận, văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy”, Người chỉ rõ mối quan hệ khăng khít giữa chính trị và văn nghệ, giữa cách mạng và nghệ sĩ cách mạng. Người khẳng định dân tộc bị áp bức thì văn nghệ cũng mất tự do. Văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng”. Người coi văn nghệ là vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà ”Nay ở trong thơ nên có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong”. Trong nhiều bài nói, bài viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định văn hóa là một mặt trận, cho nên người chiến sĩ trên mặt trận ấy phải có lập trường vững, tư tưởng đúng, hiểu thâu về cuộc sống và con người, có tài năng sáng tạo… đặt lợi ích của kháng chiến, của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Trong suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ chống thực dân Pháp và đế quôc Mỹ, khắp các chiến trường ác liệt lúc nào cũng có mặt những chiến sĩ văn hóa, những chiến sĩ kiên cường, dũng cảm, lấy công tác tư tưởng văn hóa làm trận địa, làm vũ khí để sáng tạo nên những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật có sức thuyết phục làm rung động lòng người, cổ vũ tinh thần chiến đấu và sản xuất của quân và dân ta. Chủ nghĩa yêu nước và tinh thần căm thù giặc đã khơi nguồn cho những sáng tạo văn hóa nghệ thuật đầy sức sống chiến đấu, tạo nên một thời kỳ sôi động nhất của hoạt động văn hóa trong cả nước.

Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Hồ Chi Minh về văn hóa, Đảng ta xác định: Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, nhiệm vụ trọng tâm của văn hóa, văn nghệ là sáng tạo nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ, có tác động sâu sắc, xây dựng con người mới Việt Nam ngang tầm với sự nhiệp CNH- HĐH đất nước. Đồng thời phát huy truyền thống cao đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào đời sống xã hội, vào từng người, từng gia đình và từng cộng đồng dân cư, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thân cao đẹp trình độ dân trí cao.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa mãi mãi là ngọn đèn chiếu sáng đưa dân tộc ta tiến lên xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiên, đậm đà bản sắc dân tộc trong quá trình khu vực hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế và sự giao lưu văn hóa giữa các quốc gia, dân tộc hiện nay.

Lê Hồng Phan (báo Quảng Bình)

cpv.org.vn

“Nơi Bác yên nghỉ – Nơi hội tụ niềm tin”

(ĐCSVN) – Hơn 31 nghìn người! Đó là con số kỷ lục về lượng du khách đến viếng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vào một buổi sáng… Nhưng phía sau dòng người vô tận ấy là biết bao công việc miệt mài của những cán bộ, chiến sĩ Bộ Tư lệnh Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhân kỷ niệm 116 năm ngày sinh của Bác, Đại tá, TS. Vũ Văn Bình- Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Lăng đã có cuộc trò chuyện với Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thưa đồng chí, một mốc quan trọng trong gần 40 năm giữ gìn, bảo vệ an toàn thi hài Hồ Chủ tịch là việc chúng ta đã pha chế thành công dung dịch và làm chủ công nghệ bảo quản thi hài Bác. Xin đồng chí cho biết, Bộ Tư lệnh (BTL) Lăng đã làm thế nào để có được thành tựu quan trọng ấy?

Sau khi Người qua đời, đồng bào, chiến sĩ cả nước thương nhớ Người khôn xiết, bầu bạn quốc tế cũng chia sẻ nỗi đau buồn sâu sắc với chúng ta. Thể theo nguyện vọng rất thiết tha của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, Bộ Chính trị, Trung ương Đảng đã quyết định bảo vệ, giữ gìn lâu dài thi hài Bác. Nhiệm vụ thiêng liêng và trọng trách lớn lao đó được giao cho Quân đội. Đoàn 69- đơn vị tiền thân của bộ đội bảo vệ Lăng được thành lập và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ trong những năm đầu giữ gìn, bảo vệ thi hài Bác. Gần 40 năm qua, cán bộ, chiến sĩ tổ y tế đặc biệt, Đoàn 69 và từ năm 1975 đến nay là Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vừa xây dựng vừa trưởng thành, hoàn thành nhiệm vụ chính trị đặc biệt mà Đảng và nhân dân giao phó.

Ngay từ ngày Bác đi xa, chúng ta đã một mặt dựa vào sự giúp đỡ của Liên Xô để bảo quản tốt thi hài của Người, một mặt tích cực xây dựng lực lượng cán bộ khoa học hướng tới tự chủ, tự lực, tự cường trong công tác bảo quản và giữ gìn thi hài của Bác.

Do được chuẩn bị tốt như vậy, nên khi Liên Xô, Đông Âu sụp đổ, chúng ta từng bước làm chủ công nghệ giữ gìn thi hài Bác. Song công việc đó không hề đơn giản, bởi đấy là một ngành khoa học công nghệ tổng hợp. Khi thực hiện quá trình công nghệ giữ gìn thi hài Bác, chúng ta phải kết hợp nhiều ngành kĩ thuật trong khi chưa có kinh nghiệm. Tuy nhiên vẫn phải giữ tốt thi hài của Bác với 3 yêu cầu: “Thi hài không bị phân huỷ, không sạm màu, không bị biến dạng” để nhân dân đến viếng vẫn thấy thi hài nguyên vẹn như lúc Bác còn sống.

Một vấn đề hết sức quan trọng là phải có một loại dung dịch hóa chất để bảo quản thi hài. Trước năm 1990 các chuyên gia Liên Xô trực tiếp có mặt tại Việt Nam để giúp ta về công nghệ pha chế dung dịch này, nhưng đến năm 1992, do sự biến động chính trị, việc giúp đỡ ngày càng hạn chế. Trước tình hình trên, các nhà khoa học Việt Nam phải nhanh chóng, chủ động khắc phục khó khăn. Sau 3 lần pha chế thành công tại Hà Nội, dung dịch để bảo quản thi hài Bác do các chuyên gia Việt Nam pha chế đã được các bạn Nga công nhận. Vì thế, từ ngày 29/4/1995 các bạn đã chính thức bàn giao cho ta nhiệm vụ làm thuốc thường xuyên bảo quản thi hài Bác. Cho đến nay, thi hài Bác vẫn rất tốt, và sẽ bảo quản được lâu dài đáp ứng niềm mong mỏi của toàn dân.

Theo các chuyên gia về y học, việc gìn giữ thi hài trên thế giới rất khó khăn (không chỉ riêng ở VN) để công tác giữ gìn thi hài của Bác được lâu dài, BTL Lăng sẽ phải làm như thế nào?

Về công nghệ giữ gìn thi hài trên thế giới thì nước Nga có nhiều kinh nghiệm và ta cũng đã tiếp thu, học tập được rất nhiều. Nhưng chúng ta cũng phải hiểu là giữ gìn thêm mỗi năm là thêm sự phức tạp. Hơn nữa thi hài nào cũng sẽ bị chuyển hoá theo thời gian và năm tháng, do sự tác động của môi trường, nhất là khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm ở nước ta. Song, giữ gìn được lâu dài thi hài của Bác luôn là quyết tâm của Bộ Chính trị, Đảng ủy quân sự Trung ương, các ngành khoa học và cũng là mong ước của toàn dân. Để làm được như vậy chúng tôi đã phối hợp với các ngành khoa học, các giáo sư của trường đại học và một số viện nghiên cứu khoa học… nhằm tìm ra các giải pháp tốt nhất. Với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự nỗ lực, sáng tạo của BTL Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự giúp đỡ hiệu quả của bạn, tôi xin khẳng định, trong điều kiện hiện nay, chúng ta sẽ tiếp tục bảo quản lâu dài thi hài Hồ Chủ tịch.

Vẫn biết việc bảo quản giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhiệm vụ cao cả mà Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng giao cho các anh và là công việc không đơn giản chút nào. Nhưng hiện nay có ý kiến cho rằng, hoạt động của bộ đội Lăng Chủ tịch là rất ” nhàn”. Vậy đồng chí suy nghĩ gì về vấn đề này?

Có thể khẳng định rằng, chỉ những ai ít quan tâm, thiếu hiểu biết về bộ đội Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh mới nói như vậy. Chứ còn đại bộ phận nhân dân đều có thể hiểu được sự gian khó, hy sinh của chúng tôi, nhất là những đồng chí đang ngày đêm canh giữ giấc ngủ bình yên cho Bác; các chiến sĩ đã phải vất vả tập luyện gian khó mới có thể đứng nghiêm hàng vài giờ đồng hồ như vậy. Không phải ai cũng có thể làm được việc đó. Rất nhiều đồng chí qua thời gian đầu được rèn luyện, huấn luyện đã không chịu được. Có đồng chí còn ngất đổ “như cây chuối” và phải chuyển sang công việc khác. Đó là còn chưa kể nắng, mưa, đêm hôm… Chúng tôi cũng đang ngày đêm nỗ lực phấn đấu vươn lên trên tất cả các lĩnh vực công tác. Rồi hàng loạt công việc: nghiên cứu hoàn chỉnh công nghệ ướp, bảo quản thi hài trong điều kiện nhiệt đới, trùng tu để công trình luôn khang trang, đảm bảo an ninh và sạch đẹp khu vực Quảng trường… Nói như thế để thấy rằng, tất cả cán bộ, chiến sĩ trong Bộ Tư lệnh đều cống hiến bằng trái tim, khối óc của chính mình.

Hiện nay đồng bào các dân tộc thiểu số vùng sâu, xa đến được HN vào thăm viếng Lăng Bác là rất khó khăn. Để tạo điều kiện cho các đồng bào dân tộc thiểu số và các bà con vùng sâu, xa được vào thăm viếng Bác, BTL Lăng đã tổ chức thực hiện như thế nào?

Chúng tôi đã phối hợp với ngành đường sắt Việt Nam và các tỉnh ở xa để có sự hỗ trợ về tiền tàu, xe cho đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng xa khi về Hà Nội để vào Lăng viếng Bác. Đối với những bà con có chế độ chính sách thì được giảm từ 60% – 90% giá vé đi lại (tùy theo chế độ). Khi bà con đến Hà Nội, chúng tôi cho xe ra tận ga để đón và liên hệ mượn nhà nghỉ để khách thăm Lăng chỉ phải trả tiền điện, nước chứ không phải trả tiền thuê phòng. Vì hiện nay, BTL Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn chưa có nhà khách.

Do làm tốt công tác đó nên mấy năm trở lại đây, những đoàn khách ở xa như: Đồng Nai, Tiền Giang… và các tỉnh khác đến viếng Bác rất đông. Tiêu biểu là ngày 2-9-2004, số lượng khách thăm viếng lên tới hơn 31.000 người trong một buổi sáng.

Khi có số lượng khách đông như thế, mọi công tác đảm bảo an ninh trật tự cho đến vệ sinh môi trường có nhiều khó khăn… Nhưng chính tình cảm của nhân dân đối với Bác lại là động lực, là niềm vui thôi thúc chúng tôi phục vụ tốt hơn.

Cùng với nhiệm vụ bảo quản, giữ gìn lâu dài thi hài của Bác thì một nhiệm vụ rất quan trọng của các đồng chí là phải góp phần làm nổi bật văn hóa Hồ Chí Minh cho du khách. Vậy, BTL Lăng đã quan tâm đến vấn đề này như thế nào?

Hình ảnh Bác Hồ đã đọng lại không chỉ trong trái tim nhân dân Việt Nam, mà còn đọng lại trong bạn bè quốc tế. Chính vì thế ai tới Hà Nội và nhiều khách quốc tế cũng đều mong muốn vào Lăng viếng Bác. Vì vậy, cán bộ, chiến sĩ, nhân viên BTL Lăng phải thể hiện sự nhiệt tình, chu đáo, văn minh… nhất trong việc tiếp đón và như thế chính là góp phần gìn giữ tư tưởng của Người, bởi vì việc mỗi cán bộ chiến sĩ thể hiện tư thế, tác phong quân nhân chững chạc, có văn hoá cũng chính là góp phần tô thắm hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” với những phẩm chất cao đẹp mà chính Người lúc sinh thời đã dày công rèn luyện, vun đắp. Trong những lần du khách đến viếng Lăng Bác, chúng tôi còn chiếu những phim tư liệu để đồng bào được xem những hình ảnh khi Bác còn sống. Chính vì thế mà nhiều du khách đã vào Lăng viếng Bác xong rồi nhưng lại không muốn ra về, cứ nấn ná ở lại như muốn được kéo dài thêm thời gian bên Bác- người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất của thế giới.

Xin cảm ơn đồng chí./.

Triệu Sơn Hảo (thực hiện)

cpv.org.vn

Hồ Chí Minh – nhà văn hóa lớn, hiện thân của tinh hoa văn hóa Việt Nam

(ĐCSVN) – Thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác – Lênin, tinh hoa văn hóa thế giới và các giá trị văn hóa dân tộc, hòa mình trong hoạt động phong phú của nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận rő ý nghĩa lớn lao, vị trí đặc biệt quan trọng của văn hóa, do đó Người đã chỉ rő: “Văn hóa soi đường quốc dân đi”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khi lãnh đạo toàn dân giành lại độc lập cho dân tộc cũng đã trả lại vị trí xứng đáng cho văn hóa Việt Nam, mở ra một thời đại mới cho văn hóa Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh đi vào nhân dân không chỉ tồn tại một cách trừu tượng trên lĩnh vực ý thức – tư tưởng mà đã thâm nhập sâu vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội của dân tộc, đã trở thành văn hóa dân tộc. Hồ Chí Minh – tư tưởng của Người, thiên tài và toàn bộ sự nghiệp của Người trở thành biểu tượng cao đẹp và sáng ngời của vãn hóa dân tộc Việt Nam trong thời đại mới. Ðó là sự trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh, bởi cái gì đã đi vào văn hóa thì sẽ sống mãi với dân tộc, với loài người.

Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu trong nước và thế giới đang bàn đến văn hóa chính trị Hồ Chí Minh, văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh, văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh, văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh, văn hóa lao động, văn hóa sống Hồ Chí Minh v.v… Hiện nay nhiều ý tưởng được bàn rộng ra như: văn hóa lãnh đạo, văn hóa Đảng, văn hóa cơ quan, văn hóa lao động… theo tư tưởng Hồ Chí Minh là như thế nào, cần thể hiện những đặc trưng và phẩm chất gì? Nghiên cứu, làm sáng tỏ những điều đó chắc chắn sẽ là một đóng góp không nhỏ vào việc xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa truyền thống văn hóa cổ, kim, đông, tây; đặc biệt là tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, đỉnh cao của tư tưởng nhân văn của nhân loại, nhờ đó đã kết tinh ở Người những giá trị văn hóa vừa dân tộc, vừa hiện đại, vừa nhân văn. Là chiến sĩ tiên phong của nền văn học – nghệ thuật, báo chí cách mạng, đấu tranh cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, cho công bằng, tình thương và lẽ phải trên trái đất, sự đóng góp của Người về văn hóa rất phong phú và đa dạng, thấm đượm trong toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của Người, được tỏa sáng trong từng việc làm, từng cử chỉ, từng mối quan hệ với đồng chí, đồng bào và bạn bè quốc tế. Cái cốt lõi trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh là lòng yêu nước, thương dân, thương yêu con người và niềm tin đối với con người hết sức bao la, sâu sắc, tất cả vì con người, tất cả do con người. Đó là một nhân sinh quan, một triết lí sống rất nhân văn, là đạo đức cách mạng của người cộng sản. Người quan niệm: “Nghĩ cho cùng, mọi vấn đề… là vấn đề ở đời và làm người. Ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ bị áp bức”. Chính vì vậy, suốt đời Người đã hy sinh chiến đấu chống áp bức bất công, đem lại cuộc sống tự do, hạnh phúc cho nhân dân, cho dân tộc, cho nhân loại. Như vậy, Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà tư tưởng lỗi lạc, mà còn là một nhà hoạt động thực tiễn đầy tài năng; không chỉ là một nhà chính trị vĩ đại, mà còn là một nhà văn hóa kiệt xuất. Ngay từ năm 1923, nhà thơ Nga Ô-xíp Man-đen-xtan đã nhận xét rằng: “Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một nền văn hóa, không phải là văn hóa châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hóa của tương lai”.

Với những cống hiến xuất sắc cho dân tộc và nhân loại, năm 1990, kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Liên hợp quốc đã ra nghị quyết công nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn, danh nhân thế giới.

TS. Bùi Thế Đức

cpv.org.vn