Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Chương VI – Chỗ mạnh và chỗ yếu

Lúc chiến đấu, quý đứng vào địa vị chủ động đánh vào chỗ yếu và tránh chỗ mạnh của địch, thì thắng.

Ta đến trước mà chờ địch thì khoẻ. Đến sau mà ra đánh, thì mệt. Cho nên tướng giỏi thì kéo địch đến chứ không để địch kéo ta đến.

Có thể kéo địch đến, là vì ta lấy lợi mồi nó. Có thể khiến cho địch không đến, là vì ta lấy hại doạ nó. Cho nên, địch khoẻ mà ta có thể làm cho nó mệt. Địch no, mà ta có thể làm cho nó đói. Địch yên mà ta có thể làm cho nó động.

Ta đón nơi địch chắc đi qua. Ta đi qua nơi địch không để ý. Ta đi nghìn dặm mà không mệt, là vì đi nơi không có người. Cho nên đánh mà chắc lấy được, vì ta đánh chỗ địch không giữ. Giữ mà giữ được bền, là vì ta giữ nơi địch không đánh.

Cho nên ta khéo đánh, thì địch không biết đâu mà giữ. Ta khéo giữ thì địch không biết đâu mà đánh.

Ta phải khôn khéo đến nỗi không hơi không tǎm. Cho nên ta có thể cầm mạng địch trong tay ta.

Ta tiến mà địch không chống nổi, vì ta xông vào chỗ yếu của nó. Ta thoái mà địch không theo kịp là vì ta đi nhanh.

Cho nên lúc ta muốn đánh, thì tuy địch giữ trong thành cao hào sâu, nó cũng phải ra đánh, vì ta đánh vào chỗ nó cần phải cứu. Khi ta không muốn đánh, thì dù ta vạch đất mà giữ, địch cũng không có thể đánh, vì nó không biết ta ở đâu.

Cho nên, ta rõ địch mà địch không rõ ta, thì ta chuyên nhất mà địch phân tán. Ta chuyên 1 chỗ, mà địch phân 10 nơi, thế là ta 10 đánh lại địch 1, thế là ta nhiều đánh lại địch ít. Ta nhiều địch ít, thì ta chắc thắng địch chắc thua.

Ta muốn đánh nơi nào, địch không biết: không biết thì phải phòng bị nhiều nơi. Nó phòng bị nhiều nơi, thì ta có thể đánh vào nơi nó yếu nhất.

Cho nên phòng bị phía trước thì phía sau ít. Phòng bị phía sau, thì phía trước ít. Phòng bị phía tả, thì phía hữu ít. Phòng bị phía hữu, thì phía tả ít. Nơi nào cũng phòng bị thì nơi nào cũng ít.

Địch ít là vì nó phải phòng bị ta.

Ta đông là vì ta làm cho địch phải phòng bị.

Cho nên, ta biết rõ chỗ ta đánh và ngày ta đánh, thì dù xa nghìn dặm, ta cũng có thể đánh thắng. Không biết chỗ đánh, không biết ngày đánh, thì tả không cứu được hữu, hữu không cứu được tả, sau không cứu được trước, trước không cứu được sau. Huống gì xa thì mươi dặm, gần thì vài dặm, cứu làm sao được.

Cho nên, nghiên cứu tình hình địch mà biết kế hoạch ta đúng hay không. Thử địch mà biết cái lý động hay tĩnh. Xét rõ địa thế mà biết chỗ tử hay sinh. Xung đột nhỏ mà thử sức địch thừa hay thiếu.

Cho nên binh hình khéo tột bực, đến nỗi không có hình. Không có hình tích, thì mật thám giỏi cũng dò không ra, địch nhân giỏi cũng mưu không được. Do hình mà ta đem quân đến chỗ thắng, mà quân ta không biết. Ai cũng biết cái hình ta thắng, song không ai biết cái hình vì đó mà làm nên thắng. Cho nên: cách chiến thắng không nên dùng đi dùng lại 2, 3 lần. Song nhân địch mà biến hoá thì vô cùng.

Hình của binh cũng như hình của nước. Nước bỏ chỗ cao mà chảy vào chỗ thấp. Binh tránh chỗ mạnh mà đánh vào chỗ hèn. Nước tuỳ hình đất mà chảy. Binh tuỳ thế địch mà thắng.

Cho nên binh không có thế nhất định, cũng như nước không có hình nhất định.

Biết nhân thế địch, biến hoá để tranh lấy thắng lợi, gọi là thần.

Cho nên, kim mộc thuỷ hoả thổ, sinh nhau lại khắc nhau. Xuân hạ thu đông thì luôn luôn thay đổi. Ngày có khi dài khi vắn. Tháng có tháng tử tháng sinh. Cách chiến đấu cũng biến hoá vô cùng như vậy.

cpv.org.vn

Chương VII – Quân tranh

Tướng vâng mệnh chúa, tập hợp quân đội, cùng địch đối diện mà ở, không gì khó bằng quân tranh.

Khó tại nơi biết lấy đường quanh làm đường thẳng, biết đổi sự khó khǎn thành sự ích lợi.

Cho nên, ta đi đường quanh, lấy lợi mồi địch. Ta đi sau, mà đi đến trước. Thế là biết cách quanh và thẳng. Cho nên, quân tranh có lợi, mà cũng có nguy.

Nguy là kéo cả quân mà tranh lợi, thì không kịp. Bỏ quân mà tranh lợi, thì mất của cải. (Trì trọng).

Nếu đi suốt ngày đêm không nghỉ, để đến ngoài trǎm dặm mà tranh lợi, thì nhiều tướng sĩ sẽ bị địch cầm tù; kẻ mạnh đi trước, người yếu đi sau, thì 10 phần chỉ một phần đến. Đi 50 dặm để tranh lợi, thì người thượng tướng sẽ bị và chỉ nửa số binh đi đến. Đi 10 dặm mà tranh lợi, thì 3 phần binh, chỉ 2 phần đi đến.

Vậy nên quân đội không có vận tải thì chết. Không có lương thực thì chết. Không có tích trữ thì chết.

Lợi là: tướng giỏi phải lựa dịp mà làm.

Chưa biết mưu mô của các nước, thì không thể ngoại giao. Không biết rõ hình thế rừng núi sông ngòi thì không thể hành quân. Không có người đưa đường thì không được địa lợi.

Cho nên, việc binh cốt dùng mưu mẹo dối trá làm gốc. Lấy lợi mà động. Lấy phân hợp làm biến hoá.

Cho nên khi mau thì như gió, lúc chậm thì như núi rừng. Khi đánh thì như lửa. Khi đứng thì vững như núi đá. Biến hoá thì như ngày đêm. Khi động thì như sấm sét.

Biết rõ cái kế quanh thẳng, thì thắng. Đó là phép quân tranh.

Nói không nghe khắp nên phải dùng kèn trống. Trông không thấy khắp nên phải dùng cờ hiệu. Kèn trống và cờ hiệu là để thống nhất sự nghe thấy của mọi người.

Cho nên đánh ban đêm thì dùng nhiều lửa và trống, đánh ban ngày thì dùng nhiều cờ hiệu để làm rối loạn tai mắt của địch.

Cho nên có thể làm dụt chí khí của quân đội và làm ngã lòng của tướng lĩnh bên địch.

Cho nên, buổi sáng thì khí sắc sảo, lúc trưa thì khí mệt nhọc, ban chiều thì khí buồn rầu. Người khéo dùng binh thì tránh khí sắc sảo của địch, mà đánh vào khí mệt nhọc và khí buồn rầu của nó. Đó là phép trị khí.

Ta giữ trật tự, để chờ địch rối loạn. Ta trấn tĩnh, để chờ địch xôn xao. Đó là phép trị tâm.

Ta ở gần chờ địch ở xa tới. Ta khoẻ để chờ địch mệt nhọc. Ta ǎn no, chờ địch đói khát. Đó là phép trị lực.

Chớ xem khinh ngọn cờ chỉnh tề của địch. Chớ xông mặt trận đường hoàng của địch. Đó là phép trị biến.

Cho nên phép dùng binh, địch đóng trên đồi cao, thì ta chớ gượng trèo. Địch trở lưng cho cồn gò, thì ta chớ gượng chắn. Địch giả đò thoái, ta chớ đuổi theo. Địch đương sức hǎng, ta chớ vội đánh. Địch kéo quân về nước nó, ta chớ đón lại. Khi vây quân địch, ta nên để hở 1 phía. Khi địch cùng đường ta chớ đuổi riết nó. Đó là phép quân tranh.

cpv.org.vn

Chương VIII – Chín sự biến

1. Chớ đóng dinh ở nơi dơ bẩn và nơi khó đi lại.

2. Chớ đánh trận trong nước trung lập.

3. Chớ dừng lại nơi tuyệt địa (là nơi khó nước, khó lương thực, khó giao thông).

4. Chỗ bị vây thì phải dùng mưu tránh thoát.

5. Chỗ tử địa thì phải liều đánh.

6. Đường không nên đi thì chớ đi đường đó.

7. Quân đội địch có khi không nên đánh, thì chớ đánh.

8. Thành có khi không nên vây. Đất có khi không nên tranh.

9. Mệnh lệnh của chúa có khi không nên theo. Tướng mà biết 9 điều biến hoá đó, tức là biết dùng binh. Nếu không biết sự ích lợi của 9 điều biến hoá đó, thì tuy biết địa hình cũng không dùng được địa lợi, tuy biết địa lợi cũng không biết khéo dùng binh.

Cho nên người tướng khôn khéo phải xét phía lợi và phía hại trong một việc. Biết nắm chặt phía lợi trong sự hại, thì hoàn thành được nhiệm vụ. Biết tránh khỏi phần hại trong sự lợi, thì khỏi gặp sự khó khǎn.

Cho nên lấy sự hại mà buộc người phải phục ta. Lấy sự lợi mà buộc người phải theo ta.

Cho nên phép dùng binh: chớ chắc rằng địch không đến, nhưng chắc nơi ta có cách đề phòng nó. Chớ chắc nơi địch không đánh ta, nhưng chắc nơi ta làm cho nó không thể đánh.

Cho nên có 5 điều nguy hiểm cho người làm tướng:

1- Liều, thì hay chết.

2- Nhát, thì hay bị địch bắt.

3- Tính nóng, thì hay bị địch lừa.

4- Quá liêm, thì có khi bị địch làm nhục.

5- Quá yêu dân, có khi bị phiền.

Nếu không cẩn thận, thì 5 điều đó có thể làm hư người tướng và làm hỏng việc dùng binh.

cpv.org.vn

Chương IX – Phép hành quân

Đi đường núi thì nên đi theo khe nước.

Chỗ núi mà giao thông dễ, thì chiếm nơi cao mà dàn trận.

Địch ở nơi cao thì chớ trèo mà đánh nó.

Đó là phép hành quân miền núi.

Qua sông thì qua cho mau.

Địch qua sông, ta chờ nó qua nửa sông rồi sẽ đánh nó.

Chớ dàn trận trên bờ sông.

Gần sông thì phải tìm chỗ cao và giao thông dễ mà dàn trận.

Qua sông chớ đi ngược dòng sông.

Đó là phép hành quân miền nước.

Qua đầm phải đi qua mau.

Nếu cần phải đánh với địch ở vùng đầm, thì dựa chỗ có nước có cỏ, mà trở lưng cho cây cối.

Đó là phép hành quân ở vùng đầm.

ở đất bằng, thì phía hữu nên dựa vào đồi, phía trước thì khống chế các tử địa (chỗ hiểm, có sông nước, núi dốc, địch khó tiến lên), phía sau có sinh địa là chỗ dễ vận động, dễ thoái.

Đó là phép hành quân vùng đất bằng.

Khéo dùng 4 địa lợi đó thì thắng.

Quân đội ưa chỗ cao, mà ghét chỗ thấp. Quý chỗ sáng mà ghét chỗ tối. Ǎn no ở tốt, binh lính mạnh khoẻ, thế thì chắc thắng.

Nơi cồn gò đê đồi, thì đóng dinh về phía đông nam (mùa đông thì ấm, mùa hạ thì mát).

Thế là địa thế giúp ích cho quân đội.

Trên nguồn có mưa, nước chảy xoáy xuống, phải chờ nước đứng, ta sẽ lội qua suối.

Đất có mấy thứ:

1- Dốc đứng.

2- Lòng chảo (thung lũng).

3- Ngục giời (rừng núi bao bọc, dễ vào khó ra như cái nhà ngục).

4- Lưới giời (gai gốc mịt mù, khó đi lại, như một cái lưới).

5- Bẫy giời (bùn lầy, ướt át, khó đi lại, như giời đặt bẫy).

6- Hang giời (đường lối chật hẹp, hố sâu hang nhiều).

Những chỗ như thế, thì ta nên tránh. Gần xung quanh quân đội ta, nếu có chỗ hiểm trở, ao giếng, lau lách, rừng núi, thì ta phải lùng xét rất cẩn thận. Đó là những nơi bọn gian hay nấp.

32 cách xét sự động tĩnh của địch:

1- Gần ta mà địch lặng lẽ, là nó cậy có chỗ hiểm.

2- Xa ta mà địch đến khiêu chiến, là nó muốn mồi ta tiến lên.

3- Địch cố ý ở chỗ dễ bị ta đánh, là nó muốn lừa ta.

4- Nhiều cây cối lay động, là địch đi đến.

5- Nhiều cỏ lá phất phơ, là địch làm nghi binh.

6- Chim bay lên, là địch đặt phục binh.

7- Nhiều con thú sợ chạy, là địch mò vào.

8- Đất bụi bay cao và nhọn là xe địch đến.

9- Bay thấp mà rộng là binh địch.

10- Bay rời rạc từng lối là địch đi lấy củi.

11- Bay ít mà khi qua khi lại, là địch đóng dinh.

12- Địch đối với ta ngọt ngào, mà đồng thời nó thêm chuẩn bị, là nó muốn tiến.

13- Nó đối với ta hung hǎng và làm bộ tiến tới, là nó sắp lui.

14- Khi không mà nó xin hoà, là nó dùng mưu.

15- Xe hạng nhẹ của địch chạy trước ra 2 bên là nó sắp dàn trận.

16- Xe vừa chạy, vừa thúc quân, là địch chực xông đánh ta.

17- Địch nửa tiến, nửa thoái là nó mồi ta.

18- Quân địch chống gậy mà đứng, là nó đói.

19- Đi lấy nước mà thò đầu uống trước, là nó khát.

20- Thấy lợi mà không biết tiến đến, là nó mệt.

21- Chỗ nhiều chim đậu, là không có địch.

22- Đi đêm mà hò hét, là chúng nó sợ.

23- Binh lính xôn xao, là tướng không nghiêm.

24- Cờ xí lộn xộn, là trật tự loạn.

25- Tướng lĩnh giận dữ, là nó mệt nhọc.

26- Giết ngựa mà ǎn, là địch hết lương.

27- Nồi chảo không đem vào nhà, là địch cùng túng.

28- Tướng nói ngon ngọt với binh, là binh không phục tướng.

29- Hay thưởng quá, là tướng đã lận quận.

30- Hay phạt quá, là tướng đã khốn đốn.

31- Trước hung tợn mà sau lại sợ quân lính mình, là tướng khờ dại.

32- Địch uý lạo hoặc cảm ơn ta, là nó muốn nghỉ đánh.

Địch khiêu chiến, song mãi không đánh tới, mà cũng không kéo lui, gặp lúc như thế, ta phải xét cẩn thận.

Cho nên binh không cần nhiều lắm nếu biết hợp sức đồng lòng và xét rõ tình hình của địch, thì cũng thắng được. Nếu không xem xét kỹ và khinh địch thì binh nhiều cũng thất bại.

Binh chưa thân thiết theo mình, mà phạt họ thì họ không phục. Họ không phục thì khó dùng.

Binh đã thân thiết theo mình, mà phạt họ không sợ, thì không thể dùng.

Cho nên, lấy lòng thân ái làm cho họ mến, lấy kỷ luật nghiêm làm cho họ phục, thì chắc dùng được.

Mệnh lệnh thi hành hẳn hoi để dạy chúng, thì chúng phục. Mệnh lệnh thi hành không hẳn hoi, thì chúng không phục. Mệnh lệnh thi hành hẳn hoi là vì được lòng chúng.

cpv.org.vn

Chương X – Địa hình

Địa hình có 6 thứ: 1 là thông, 2 là quải, 3 là chi, 4 là ải, 5 là hiểm, 6 là xa.

1- Ta có thể qua, địch có thể lại, gọi là thông. Gặp chỗ như thế, ta trước chiếm chỗ cao, mở đường lương thực, để mà đánh, thì thắng.

2- Đi qua dễ, trở lại khó, gọi là quải. Gặp chỗ như thế, nếu địch không chuẩn bị, thì ta đánh, nếu địch có chuẩn bị thì ta chớ đánh. (Vì tiến đánh thì dễ, mà thoái lui thì khó).

3- Ta ra không lợi. Địch ra cũng không lợi, gọi là chi, gặp chỗ như thế, dù địch mồi ta, ta cũng chớ đánh. Ta phải mồi địch ra nửa chừng mà đánh thì mới lợi cho ta.

4- Nếu ta tới trước chỗ ải, thì giữ các nẻo đường mà chờ địch. Nếu địch tới trước ải mà giữ các nẻo đường, thì ta chớ đánh. Nếu địch không giữ các nẻo đường, thì ta đánh.

5- ở đất hiểm, ta tới trước, thì giữ chỗ cao mà chờ địch. Nếu địch đến trước, thì ta kéo đi, chớ đánh.

6- Đất xa, là địch với ta cách nhau xa, đánh thì không lợi.

Người làm tướng phải xét rõ 6 địa hình đó.

Cho nên có 6 sự bại hoại có thể xảy ra ở trong quân đội: 1 là chạy, 2 là không phục tùng, 3 là rã rời, 4 là tan nát, 5 là rối loạn, 6 là thất bại.

1- Lực lượng ngang nhau, binh khí 1 phần đánh lại 10 phần địch, (chắc là thua chạy) gọi là chạy.

2- Binh mạnh quan yếu, binh không phục tùng mệnh lệnh quan.

3- Quan mạnh binh yếu, không có sức đánh gọi là rã rời.

4- Quan binh hờn giận vì tướng không biết tài nǎng mình, gặp địch họ cứ đánh liều mà thua. Thế gọi là tan nát.

5- Tướng nhút nhát, không nghiêm trang, dạy dỗ không khéo, thay quan đổi lính luôn luôn, dàn binh lộn xộn, gọi là loạn.

6- Đem binh ít, đánh địch nhiều, đem sức yếu đánh địch mạnh, không biết lựa chọn bộ đội đến nỗi thất bại.

Bị một trong sáu điều đó, nhất định thất bại.

Người làm tướng phải hết sức chú ý.

(Ông Ngô Tử nói: trong nước không hoà thuận, thì không thể phái quân đội. Trong quân đội không hoà thuận, thì không thể ra trận. Trong trận không hòa thuận, thì không thể thắng lợi).

Địa hình là để giúp cho binh, cho nên trách nhiệm của tướng là:

1- Xem xét địa hình hiểm hay bằng, gần hay xa, để cân nhắc sức địch, mà làm cho ta thắng.

Biết rõ điều đó mà đánh, thì thắng. Không biết rõ mà đánh, thì thua.

Người làm tướng cốt làm trọn trách nhiệm của mình. Cho nên khi tiến cũng không cầu danh, khi thoái cũng không tránh tội. Chỉ cốt lợi dân lợi nước. Thế là một người tướng tốt của nước nhà.

2- Mến binh ta như con trẻ, cho nên có thể cùng họ xông pha nguy hiểm. Thương binh lính ta như con yêu, cho nên khiến họ cùng tử sinh.

ở tốt với binh, mà không biết sai khiến họ, yêu họ mà không biết mệnh lệnh họ, họ lôi thôi mà không biết ngǎn cản họ, thì hoá ra như con mất dạy. Vậy thì không thể dùng họ.

3- Biết binh ta có thể đánh, nhưng không biết địch có thể đánh hay không. Thế thì chỉ biết thắng có một nửa, biết địch có thể đánh nhưng không biết binh ta có thể đánh hay không, thế thì chỉ biết thắng một nửa. Biết có thể đánh được địch nhưng không rõ địa hình có thể đánh hay không, thế cũng chỉ biết thắng một nửa.

4- Cho nên biết dùng binh, thì động mà không rối, tĩnh mà không cùng.

Cho nên nói rằng: biết ta biết người, thắng chắc phần mười. Biết giời biết đất, thắng lợi nắm chắc.

(Biết sức ta, biết sức địch, là phải biết dùng thiên thời địa lợi, thì mới thắng.

Ông Khổng Minh nói: trước nhất cốt lấy lòng dân, thứ hai mới cốt lấy thành trì của địch).

cpv.org.vn

Chương XI – Chín thứ đất

Trong phép dùng binh có 9 thứ đất: tán địa, khinh địa, tranh địa, giao địa, cù địa, trọng địa, kỷ địa, vi địa, tử địa.

1- Các chư hầu tự đánh nhau trong nước mình gọi là tán địa. (Vì lòng binh lính tản mạn, không chuyên nhất).

Tán địa thì chớ đánh. (Trước phải làm cho quân ta chí khí chuyên nhất).

2- Quân ta vào đất người, nhưng chưa vào sâu gọi là khinh địa. (Vì quân ta giác ngộ chưa sâu).

Khinh địa thì chớ dừng lại. (Phải làm cho quân ta giác ngộ sâu hơn).

3- Ta lấy được chỗ đó thì ta lợi. Địch lấy được chỗ đó thì địch lợi, gọi là tranh địa. (Như những nơi trọng yếu, bên nào cũng muốn tranh lấy).

Tranh địa thì chớ đánh. Ta phải bao vây phía sau.

4- Ta có thể qua, địch có thể lại, gọi là giao địa. (Vì giao thông dễ dàng).

Giao địa thì chớ tuyệt. Ta phải giữ cẩn thận.

5- Đất trung lập, giáp giới nhiều nước. Ai đến trước thì được dân thiên hạ, gọi là cù địa.

Cù địa thì ta ngoại giao cho khéo.

6- Vào sâu đất người, xung quanh nhiều thành thị làng mạc, gọi là trọng địa.

Trọng địa thì mau tranh lấy lương thực.

7- Chỗ nhiều rừng núi đầm ao hiểm trở, gọi là kỷ địa. Gặp kỷ địa thì kéo đi mau.

8- Đường vào thì hẹp, đi quanh co mới đến. Địch ít người cũng có thể đánh ta người đông, gọi là vi địa. (Rừng núi bao vây, tiến thoái đều khó).

Vi địa thì phải dùng mưu. Chắn giữ những nẻo đường ra vào.

9- Chỗ đó nếu đánh mau thì sống, không đánh mau thì chết, gọi là tử địa.

Gặp tử địa thì phải kiên quyết đánh.

Cho nên người tướng giỏi phải khiến cho địch phía trước, phía sau không giúp được nhau, chỗ đông chỗ ít, không cứu được nhau, kẻ trên kẻ dưới không ưa nhau, quan lính không ưa nhau, lính tráng không cùng nhau đồng tâm hiệp lực.

Lợi cho ta thì ta động. Không lợi cho ta thì ta tĩnh.

Nếu quân địch một cách chỉnh tề kéo đến, thì ta nên tạm tránh chủ lực của nó. Ta nên trước – cướp lấy những chỗ rất cần cho nó, (như những nơi nó để kho tàng, những đường giao thông của nó…) thì nó phải thoái.

Việc binh quý mau chóng. Ta đi theo con đường địch không ngờ, đánh vào chỗ địch không phòng bị.

Quân ta vào sâu đất người, thì lòng họ chuyên nhất. Ta lấy lương thực ở nước địch, quân đội ta ǎn no.

Ta cẩn thận nuôi dưỡng họ chớ bắt họ lao khổ quá để nâng cao khí lực của họ. Ta đặt kế hoạch khôn khéo, thình lình đánh vào quân địch. Thế thì quân đội ta ai cũng không sợ chết, ai cũng hết sức đánh.

Hễ quân lính đã đến chỗ xung quanh đều địch nhân, thì lòng họ kiên cố. Vào sâu đất địch, tinh thần họ bị ràng buộc, thì họ nhất trí ra sức đánh.

Cho nên quân ta không chờ khuyên rǎn, mà họ tự giữ. Không chờ dặn dò mà họ tự nghe. Không chờ dạy bảo mà họ tự thân thiết với nhau. Không chờ mệnh lệnh mà họ tự tin.

Ta phải cấm sự mê tín, và đề phòng sự tuyên truyền của địch. Thế thì dù chết quân ta cũng không muốn thoái.

Quân ta không ham thừa tiền, không phải vì họ ghét của. Họ không sợ chết, không phải vì họ ghét sống lâu. (Nhưng vì không bị sự ham muốn vật chất bó buộc, thì chí khí càng kiên quyết). Khi có lệnh ra đánh thì những người đương bị bệnh, cũng hǎng hái khóc lóc muốn theo ra trận.

Cho nên dùng binh khéo thì như con rắn: “thốt nhiên”. Thốt nhiên là một thứ rắn ở Thường Sơn. Đánh đầu nó thì đuôi nó cứu, đánh đuôi nó thì đầu nó cứu. Đánh lưng nó thì đầu đuôi nó đều cứu.

Thử hỏi, có thể khiến cho quân đội như con rắn thốt nhiên không? Có thể lắm. Người nước Ngô và người nước Việt xưa nay vẫn không ưa nhau. Nhưng họ đi chung một chiếc thuyền gặp cơn sóng gió thì họ cũng hết lòng cứu nhau, như tay phải cứu tay trái.

Bởi vậy cần phải làm cho người yếu cũng nhất trí với người mạnh. Phải lợi dụng địa thế đất cứng cũng như địa thế đất mềm. (Cứng mềm là gần xa, rộng hẹp, hiểm bằng, sinh tử).

Người làm tướng phải yên tĩnh không để ai dò được mình. Phải nghiêm chính, lo xa và làm việc có hệ thống.

Phải bưng bít tai mắt binh lính, không cho họ biết kế hoạch của mình. (Phải rất bí mật).

Phải thường thay đổi cách làm việc, thay đổi cách dùng mưu, làm cho người ta không dò đoán.

Phải thường đổi chỗ ở, đổi đường đi, làm cho người ta không biết được.

Đem quân ra trận, như trèo lên tường cao rồi cất cầu thang. Đem quân vào đất địch, thì như nẩy cò súng, (nghĩa là kiên quyết tiến tới, không nghĩ đến giở về). Như lùa bầy dê, đem đi thì đi, đem lại thì lại, họ không biết là đi đâu.

Đem quân đến chỗ nguy hiểm là việc của tướng. Vậy nên tướng cần phải hiểu rõ chín sự biến đổi của địa thế, phải hiểu rõ lúc nào nên tiến, lúc nào nên thoái. Phải hiểu rõ tâm lý của người. Quân đội ta vào đất người vào cạn thì lòng họ rời rạc, vào sâu thì lòng họ nhất trí. Cho nên lúc bị vây thì họ ra sức chống cự, bất đắc dĩ thì họ ra sức đánh, bị bức thì họ liều.

Quân đội giỏi, đánh nước lớn thì quân địch không tập trung được; ra oai với địch, thì bầu bạn nó không nhóm họp được. Cho nên ta lấy được thành và huỷ được nước địch.

Thǎng thưởng rất rộng rãi, mệnh lệnh rất nghiêm ngặt, chỉ huy ba quân cũng như sai khiến 1 người.

Bảo họ làm việc, chớ nói nhiều lời.

Cho họ biết lợi, chớ nói đến hại.

Ném vào chỗ mất, thì họ mới còn.

Hãm vào chỗ chết, thì họ mới sống.

Đẩy vào chỗ hại, họ mới làm nên thắng lợi.

Cho nên trong việc dùng binh, ta giả đò theo ý của địch, nhưng ta ra sức theo một phương hướng, thì ta có thể nghìn dặm phá địch.

Thế thì gọi là khéo làm thì thành công.

Vậy nên khi đã định dùng binh, thì phong toả các lối giao thông, huỷ các giấy thông hành, không qua lại với địch nữa, ta tự sửa soạn công việc.

Địch mở hé cửa ải, thì ta lập tức xông vào. Trước ta tranh lấy những nơi quan trọng của địch, (như cửa bể, thành trì, …), một mặt thì ta luôn luôn dự bị cùng địch quyết chiến.

Cho nên ban đầu thì lặng lẽ như người con gái tơ. Khi địch mở cửa thì ta nhanh chóng như thỏ rừng, địch không trở tay kịp.

cpv.org.vn

Chương XII – Phép đánh bằng lửa

Đánh bằng lửa có 5 cách:

1- Đốt người.

2- Đốt nơi địch để đồ đạc.

3- Đốt vận tải của địch.

4- Đốt kho tàng của địch.

5- Đốt dinh trại của địch.

Dùng lửa phải theo thiên thời và địa lý.

Đốt lửa phải có máy móc và tài liệu.

Nhen lửa phải xem thì giờ và ngày tháng.

Thì giờ là lúc khô ráo. Ngày, tháng là theo ngôi sao Kỵ ở phía đông nam, sao Bích ở phía đông bắc, sao Dực, sao Chẩn ở tây nam. (Bốn ngôi sao ấy chỉ rõ ngày nào gió thổi phương hướng nào).

Phải theo 5 thứ hoả công biến hoá mà tiếp ứng:

1- Lửa cháy phía trong, thì ngoài phải tiếp ứng mau.

2- Lửa cháy mà quân địch vẫn lặng lẽ, thì ta phải chờ, chớ đánh vội.

3- Lửa cháy rất mạnh, ta xét có thể đánh thì đánh, không thể đánh thì chớ đánh.

4- Nếu có thể đốt dinh trại phía ngoài của địch thì đốt, không cần chờ có nội ứng.

5- Lửa cháy trên gió, ta chớ tiến đánh dưới gió.

Ban ngày gió lâu. Ban đêm gió chóng.

Quân đội phải biết cách biến hoá của 5 thứ lửa mà giữ gìn. Cho nên lấy lửa mà đánh thì sáng, lấy nước mà đánh thì mạnh.

Nếu đánh được trận mà không mau mau thu lấy kết quả, thì không tốt. Vì hao phí sức người, sức của hư không. Cho nên người làm tướng phải tính trước.

Không có lợi thì ta chớ động. Không chắc thắng, thì chớ dùng binh, không đến nguy cơ, thì chớ chiến tranh.

Chúa không nên vì giận mà động viên. Tướng không nên vì cǎm khai chiến. Lợi cho nước thì ta hành động. Không lợi cho nước thì thôi. Giận có khi lại vui. Cǎm có khi lại hoà, nhưng nước mất thì không lại còn, người chết thì không lại sống. Cho nên chúa và tướng phải hết sức cẩn thận.

Đó là cách yên nước nhà và toàn quân đội.

cpv.org.vn

Thư gửi ông Bécna và ông Phen 9-5-1945

Ông Bécna và ông Phen thân mến!

Tôi hết lòng cám ơn các ông về sự giúp đỡ của các ông cho các bạn chúng tôi.

Tôi mong muốn là các bạn của chúng tôi sẽ học được vô tuyến điện và những thứ cần thiết khác cho cuộc đấu tranh chung chống Nhật của chúng ta.

Tôi hy vọng một ngày gần đây nhất sẽ hân hạnh được đón tiếp các ông tại khu cǎn cứ của chúng tôi. Nếu được thế thì thật là tuyệt.

Cho phép tôi gửi lời chào kính trọng tới tướng Sênôn.

9-5-1945
Chân thành gửi tới các ông lời
chúc mừng tốt đẹp nhất.

Thân mến
Hồ

Bút tích tiếng Anh,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư gửi ông Phen 9-6-1945

Ông Phen thân mến!

Ông T và người giúp việc của ông ta vẫn mạnh khoẻ. Chúng tôi đã trở nên bạn bè thân thiết như anh em một nhà. Tôi hy vọng ông sẽ đến thǎm chúng tôi một ngày gần nhất.

Ông làm ơn đưa bức thư này tới người bạn của tôi tên là Tống Minh Phương ở quán cà phê Đông Dương. Mười hoặc mười hai ngày sau đó họ sẽ trao cho ông một gói quà trong đó có lá cờ của Đồng minh. Tôi rất cảm ơn ông nếu ông gửi những thứ đó cho tôi bằng cách nhanh nhất.

Xin gửi ông và ông Bécna cùng các bạn những lời tốt đẹp nhất.

Chúc ông sức khoẻ và may mắn.

9-6-1945
Thân mến
Hồ

Bút tích tiếng Anh,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Thư gửi ông Phen 21-7-1945

Ông Phen thân mến!

Tôi muốn viết cho ông thư dài để cảm ơn tình cảm của ông đối với tôi. Tiếc thay không thể viết dài được vì sức khoẻ tôi hiện giờ chưa được tốt lắm (nhưng không đến nỗi nguy kịch, ông an tâm).

Điều tôi muốn nói với ông thì ông Tam sẽ nói thay tôi. Nếu ông gặp các ông Bécna, Vinca Reit và Cácten (của cơ quan thông tấn) và những người bạn khác của chúng ta, nhờ ông chuyển tới họ lời chúc mừng tốt đẹp nhất của tôi.

Ông Tam nói là ông sẽ đến đây. Chúng tôi luôn sẵn sàng nồng nhiệt đón ông.

Hãy đến nhanh ông nhé.

Tôi chúc ông mạnh khoẻ và may mắn.

21-7-1945
Thân mến
C.M Hồ

Tài liệu tiếng Anh,
bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

Tuyên ngôn độc lập 2-9-1945

Hỡi đồng bào cả nước,

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Lời nói bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập (32) nǎm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền (33) của Cách mạng Pháp nǎm 1791 cũng nói:

“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

Thế mà hơn 80 nǎm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngǎn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngǎn cản dân tộc ta đoàn kết.

Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tuỷ, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.

Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.

Chúng đặt ra hàng trǎm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.

Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.

Mùa thu nǎm 1940, phát xít Nhật đến xâm lǎng Đông Dương để mở thêm cǎn cứ đánh Đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối nǎm ngoái sang đầu nǎm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

Ngày 9 tháng 3 nǎm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 nǎm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật.

Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa.

Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.

Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thuỳ, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.

Sự thật là từ mùa thu nǎm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.

Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 nǎm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hoà.

Bởi thế cho nên, chúng tôi, Lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xoá bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.

Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.

Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh (34) đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các hội nghị Têhêrǎng (35) và Cựu Kim Sơn (36) quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.

Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 nǎm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy nǎm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!

Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

Bản sao bǎng ghi âm,
lưu tại Viện Hồ Chí Minh.
cpv.org.vn

——————————-

32. Tuyên ngôn Độc lập nǎm 1776 của Hoa Kỳ: Trong cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân Bắc Mỹ chống chủ nghĩa thực dân Anh (1775-1781), các xứ thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ đã tổ chức các cuộc Đại hội đại biểu để thảo luận những biện pháp chống bọn thực dân Anh. Đại hội lần thứ hai họp ở Philađenphia nǎm 1775 đã cử ra một Uỷ ban do Giépphécxơn làm Chủ tịch để thảo ra một bản nghị quyết tuyên bố các xứ thuộc địa là những nước tự do độc lập, tách khỏi phạm vi, quyền lực của Anh hoàng. Bản dự án nghị quyết này được đại biểu 13 bang thông qua ngày 4-7-1776 và trở thành Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ.

Bản Tuyên ngôn Độc lập này tiêu biểu cho nguyện vọng các dân tộc thuộc địa ở Bắc Mỹ đấu tranh để giành lại độc lập tự do cho nhân dân Mỹ lúc bấy giờ.

Sau khi giành được độc lập, giai cấp tư sản Mỹ lên nắm chính quyền đã phản bội quyền lợi của nhân dân, thi hành chính sách phân biệt chủng tộc, áp bức bóc lột nhân dân trong nước, đồng thời xâm lược các nước khác. Chúng đã thực hiện những thủ đoạn tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, áp dụng chính sách thâm độc và nham hiểm của chủ nghĩa thực dân mới, thống trị về mặt kinh tế và lũng đoạn về chính trị nhằm thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới, chà đạp trắng trợn lên những nguyên tắc tự do, bình đẳng đã ghi trongTuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ.

Vận dụng tinh thần, tư tưởng tự do, bình đẳng – tiêu biểu cho nguyện vọng độc lập, tự do của nhân dân Mỹ, khi soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích một câu trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ, khẳng định quyền bình đẳng, tự do và độc lập của nhân dân Việt Nam. Tr.555.

33. Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp: Cuộc cách mạng nǎm 1789 ở Pháp là một cuộc cách mạng tư sản điển hình. Sau khi lật đổ chính quyền phong kiến, chính quyền mới- chính quyền tư sản- được thiết lập.

Ngày 26-8-1789, Hội nghị lập hiến do chính quyền mới này tổ chức đã thông qua một vǎn kiện có tính chất cương lĩnh – bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền nổi tiếng của cách mạng Pháp.

Bản Tuyên ngôn này đã công khai ghi rõ các quyền tự do dân chủ: tự do thân thể, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, quyền bình đẳng của mọi người trước pháp luật, quyền chống áp bức…

Bản Tuyên ngôn đã có ảnh hưởng lớn đến phong trào của nhân dân các nước đang đấu tranh chống chế độ phong kiến lúc bấy giờ. Nhưng khi giai cấp tư sản đã giành được quyền thống trị đất nước, chúng đã công khai chà đạp lên các quyền tự do dân chủ đó. Chúng ra sức bóc lột nhân dân lao động ở trong nước và thực hiện chính sách xâm lược và bóc lột các thuộc địa vô cùng tàn khốc. Tr. 555.

34. Đồng minh: Liên minh các nước chống chủ nghĩa phát xít trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945), hình thành vào cuối nǎm 1941 đầu nǎm 1942.

Tháng 1-1942, tại Oasinhtơn (Mỹ), 26 nước Đồng minh trong đó có Liên Xô, Anh, Mỹ ký chung vào bản Tuyên ngôn chống phát xít xâm lược và bảo đảm trong cuộc chiến tranh này không có sự giảng hoà riêng rẽ. Nhưng mục đích của việc ký Tuyên ngôn đó rất khác nhau. Liên Xô ký Tuyên ngôn này nhằm mục đích tiêu diệt chủ nghĩa phát xít, khôi phục chế độ dân chủ ở châu Âu. Còn Mỹ và Anh ký Tuyên ngôn nhằm đánh bại thế lực của Đức và Nhật để xác lập quyền bá chủ thế giới. Về sau, các chính phủ Mỹ và Anh đã phản bội Đồng minh, phá hoại tất cả các điều khoản trong Tuyên ngôn. Tr. 557.

35. Hội nghị Têhêrǎng: Hội nghị của đại diện ba nước Liên Xô, Mỹ và Anh họp từ ngày 28-11 đến ngày 1-12-1943 tại Têhêrǎng (thủ đô nước Iran).

Hội nghị đã thông qua kế hoạch tiêu diệt các lực lượng vũ trang của phát xít Đức, quyết định mở mặt trận thứ hai ở châu Âu trước ngày 1-5-1944 và thông qua Nghị quyết bảo đảm nền hoà bình lâu dài trên toàn thế giới sau chiến tranh, v.v.. Nhưng sau đó, giới cầm quyền ở Mỹ và Anh không thi hành đầy đủ những điều khoản đã được ký ở Hội nghị này. Tr. 557.

36. Hội nghị Cựu Kim Sơn: Hội nghị gồm đại diện 51 nước do Liên Xô, Mỹ, Anh và Trung Quốc (chính phủ Tưởng Giới Thạch) triệu tập, họp tại Cựu Kim Sơn (tức Xan Phranxixcô, một thành phố công nghiệp và hải cảng của nước Mỹ) từ ngày 25-4 đến ngày 26-6-1945 để thành lập một tổ chức quốc tế lấy tên là Liên hợp quốc.

Mục đích thành lập tổ chức quốc tế này là nhằm ngǎn ngừa và loại trừ những mối đe doạ đối với hoà bình, phát triển quan hệ thân thiện giữa các dân tộc và thực hiện sự hợp tác giữa các nước để giải quyết những vấn đề quốc tế; tôn trọng các quyền tự do cǎn bản của con người, không phân biệt chủng tộc, nam, nữ, tiếng nói và tín ngưỡng. Tất cả các nước hội viên đều bình đẳng, không một nước nào có quyền can thiệp vào nội bộ của các nước khác.

Nhưng tất cả những nguyên tắc quan trọng trên đây đều bị bọn đế quốc thực dân vi phạm nên không thể thực hiện đầy đủ được. Tr.557.

Phụ lục: Nǎm điểm lớn

1. Bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các nhóm cộng sản Đông Dương;

2. Định tên Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam;

3. Thảo Chính cương và Điều lệ sơ lược của Đảng;

4. Định kế hoạch thực hiện việc thống nhất trong nước;

5. Cử một Ban Trung ương lâm thời gồm 9 người, trong đó có hai đại biểu chi bộ cộng sản Trung Quốc ở Đông Dương.

Tài liệu của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.
cpv.org.vn