Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Báo cáo về những nghị quyết của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương 1930

Phong trào nông dân:

1. Nhân dân Đông Dương 90% là nông dân. ở các thôn xã, ngoài bọn đại địa chủ ra, toàn bộ nông dân là tá điền. Cǎn cứ vào tư liệu sản xuất có thể phân loại nông dân ra nhiều tầng lớp.

A- Bần nông: không có hoặc có rất ít ruộng đất nên phải đi làm thuê cho đại địa chủ hoặc làm thêm một nghề phụ mới đủ sống;

B- Trung nông: có đủ ruộng đất tự cày cấy lấy, họ không bóc lột ai;

C- Phú nông: có nhiều ruộng đất, một phần do mình canh tác, một phần thuê người làm, phần còn lại cho lính canh;

D- Cố nông (1) : làm thuê cho đại địa chủ, chủ đồn điền và phú nông.

Đa số nông dân Đông Dương là cố, bần nông.

2. Do tập quán phong kiến, lại bị đế quốc áp bức, nông dân bị ba tầng bóc lột:

a) Bị đại địa chủ bóc lột:

Phần lớn ruộng đất tốt, đều nằm trong tay bọn tư sản. Chúng cho nông dân lĩnh canh từng thửa thu tô rất cao (lấy một nửa hoa màu hoặc thu bằng tiền) bắt buộc nông dân phải thuê nông cụ của chúng. Có nhiều nơi, địa chủ cho bọn “quá điền” lĩnh canh, bọn này chia nhỏ ruộng đất đem phát canh lại cho nông dân. Bằng thủ đoạn ấy chúng càng nâng cao tô ruộng đất lên hơn nữa, nên người nông dân nghèo bị trói chặt với chúa đất gần như nông nô trước kia. Ǎn đã không đủ no vì địa tô quá nặng, những ngày lễ bái hoặc khi địa chủ mở tiệc tùng, người bần nông còn phải đem lễ vật đến kính biếu và làm công không cho chủ. Khi phải vay mượn, họ phải trả lời rất cao (ít nhất là 100%) hoặc phải bán hoa màu non lấy có một nửa tiền hoặc đem cầm cố ruộng nương cho bọn vay ǎn lãi.

b) Bị tư bản bóc lột:

Cố nông làm việc suốt ngày không hạn định giờ giấc, mà vẫn không đủ nuôi thân và gia đình. Những người đi ở mỗi nǎm chỉ được nhận 10 đồng. Còn anh em phu đồn điền (cao su, cà phê, bông, v.v.), thì bị đưa đi những nơi xa xôi, nước độc, ǎn ở trong những lán trại bẩn thỉu, được trả công một phần bằng tiền, một phần bằng gạo. Thường thường công xá của những anh em đó bị cúp phạt hết. Khi làm việc họ lại bị đối xử đánh đập như con vật.

Chủ đất làm chúa trong đồn điền, chúng có lính và có người canh gác. Nếu công nhân nổi dậy thì bị chủ hành hạ hết cách.

c) Bị đế quốc bót lột:

Ngoài việc bóc lột nông dân về kinh tế, bọn đế quốc Pháp còn bắt dân cày chịu biết bao thứ thuế nặng nề: thuế thân, thuế chợ, thuế ruộng đất, thuế xây dựng trường, v.v.. Hằng nǎm mỗi người phải đi xâu 6 ngày không công cho chính phủ hoặc phải nạp một số tiền tương đương. Đặc biệt hai nǎm nay thuế má lại tǎng lên rất nhiều. Bọn đế quốc Pháp để cho bọn quan lại và tư sản bóp nặn áp bức nông dân, chúng tìm hết cách để giữ vững chế độ thuộc địa của chúng.

3. Bọn đế quốc và tư sản cướp dần hết ruộng đất canh tác, áp bức và bóc lột nông dân thậm tệ, lại chồng chất thêm nạn thất nghiệp và đói rét. Không khác gì nô lệ, người nông dân phải bán sức lao động đi làm phu ở các đồn điền trong nước hoặc ở ngoài nước. Hoàn cảnh đói khổ đó ngày càng kích động nông dân tiến lên đấu tranh chống bọn địa chủ, tư sản và đế quốc.

Do đó ở nông thôn đã hình thành hai phe đối địch, một bên là hầu hết tất cả anh chị em nông dân, còn một bên là bọn phong kiến đế quốc. Hiện nay ở Trung Kỳ, Nam Kỳ và Bắc Kỳ, nông dân đang sôi sục đấu tranh. Vô sản là đội quân của cách mạng ruộng đất và cách mạng phản đế ở Đông Dương. Hiện nay phong trào cách mạng đang lên mạnh, phải tránh làm sao cho vô sản khỏi phạm những sai lầm có thể đưa cách mạng đến thất bại.

Cho nên phương thức lãnh đạo quần chúng vô cùng quan trọng. Đảng phải hết sức quan tâm.

Sai lầm và khuyết điểm trong phong trào cách mạng của nông dân.

4. Nông hội đang trên đà phát triển mạnh, nhưng vẫn chưa đạt được yêu cầu. Nguyên nhân là vì những đồng chí chịu trách nhiệm tổ chức nông dân ở thôn xã còn phạm nhiều sai lầm thiếu sót chủ yếu sau đây:

a) Về tổ chức – nguyên tắc tổ chức Nông hội không rõ ràng. Tổ chức tiến hành chậm.

Nông hội chưa biểu hiện hết tính chất độc lập của nó. Nông hội phải nêu rõ vai trò của mình để thu hút quần chúng. Nhưng lề lối tổ chức Nông hội chưa tốt, hầu hết mọi công việc đều do đảng viên bao biện, các đồng chí này không biết chọn lấy cán bộ ở trong hàng ngũ nông dân. Các Ban phụ trách phụ nữ và thanh niên cũng chưa thành lập. Các cuộc hội họp thì không thống nhất.

b) Việc tuyên truyền trong nông dân yếu và phạm vi tuyên truyền lại quá hẹp. Chỉ tuyên truyền phản đế và tuyên truyền một ít chống đại địa chủ và tư sản. Một mặt phải đấu tranh mạnh hơn nữa chống những định kiến cho rằng: “Tay không làm sao mà đấu tranh được, hoặc chúng ta không nên gây ra một cuộc chiến tranh nhỏ”, nhưng mặt khác lại phải chống xu hướng khủng bố. Chúng ta cũng chưa quan tâm đầy đủ đến cuộc đấu tranh của cố nông 1 chống lại phú nông, địa chủ 2 . Phải nhân mọi tình trạng bối rối chung này mà lôi cuốn quần chúng đấu tranh; ngày 1-5 chẳng hạn, đáng lẽ phải kêu gọi anh chị em nông dân Thái Bình “Hãy tiến lên, đây là cơ hội các bạn phải vùng dậy”. Nếu không làm như vậy thì chỉ có ép buộc họ đấu tranh mà thôi. Người chỉ huy thiếu khả nǎng và không biết chuẩn bị các cuộc đấu tranh, sau mỗi cuộc đấu tranh, giải tán tự vệ là sai lầm. Phải tổ chức đấu tranh ban đêm.

Nông hội là một tổ chức đấu tranh có trách nhiệm đưa cuộc cách mạng ruộng đất đến thắng lợi, cho nên trong công tác vận động và tuyên truyền, hội viên Nông hội luôn luôn phải nhớ những điều sau đây:

a) Những sự áp bức và bóc lột hàng ngày (như thuế má, bắn giết, chế độ lĩnh canh, tước đoạt ruộng đất, quan lại và tư sản áp bức, v.v.) làm cho quần chúng nông dân nhận thức rõ tình cảnh của mình và thấy cần phải đấu tranh chống địa chủ, tư sản và đế quốc.

b) Giáo dục quần chúng về ý nghĩa cuộc cách mạng ruộng đất (tịch thu ruộng đất của địa chủ bản xứ và người ngoại quốc đem chia cho bần và trung nông), đồng thời cũng phải giải thích cho họ hiểu mục tiêu cơ bản của cuộc cách mạng tư sản dân chủ.

c) Giải thích cho quần chúng thấy cần thiết phải liên minh với giai cấp vô sản, cần phải được vô sản và Đảng Cộng sản, đội tiên phong của vô sản lãnh đạo.

d) Phải tuyên truyền phản đối Hội đồng cải lương, phản đối mọi cải cách, mọi nhóm và đảng phái có tính chất quốc gia. Nông hội phải xuất bản một tờ báo và khuyến khích nông dân viết bài đǎng báo.

đ) Làng là cơ sở của tổ chức Nông hội.

Tổ chức nông dân bao gồm Nông hội làng, Nông hội tổng, Nông hội tỉnh và Tổng Nông hội Đông Dương.

Phải tổ chức bần nông và trung nông vào Nông hội. Trong thời kỳ đầu của phong trào cách mạng, có thể có những phú nông cùng đi với bần, trung nông, nhưng về sau họ sẽ chống lại cách mạng. Cho nên ngay từ bước đầu phải loại trừ ra khỏi Nông hội, và gạt ảnh hưởng của họ đối với bần, trung nông. Chính bọn họ – phú nông và một số đại địa chủ đã tìm cách lọt vào Nông hội để lũng đoạn và phá hoại. Nông dân phải đảm nhận lấy phần lớn những trách nhiệm quan trọng.

Trong Nông hội, những anh chị em nông dân dưới 23 tuổi, phải do một ban thanh niên nông dân lãnh đạo, để dễ gây phong trào thanh niên.

Thanh niên phải tham gia lãnh đạo Nông hội. Nông hội cũng phải thành lập một Ban phụ nữ để vận động chị em phụ nữ tham gia cuộc đấu tranh chung.

Thợ thủ công và công nhân nông nghiệp phải tổ chức thành Công hội. Những Công hội này phải thường xuyên liên lạc với các tổ chức vô sản thành thị và liên hệ thật chặt chẽ với Nông hội.

Tổ chức tự vệ của nông dân rất quan trọng trong các cuộc đấu tranh ở thôn xã. Nông hội phải tuyên truyền giải thích trong quần chúng ý nghĩa việc thành lập một đội tự vệ để bảo vệ và kêu gọi quần chúng tham gia.

7 (1) . Nông hội phải liên hệ chặt chẽ với Công hội. Nông dân và công nhân chịu sự lãnh đạo tối cao về chính trị của Đảng, nhưng phải phân biệt Đảng với các tổ chức Nông hội và Công hội. Đảng tuyên truyền đường lối thông qua những cán bộ của mình. Khi tuyên truyền chính sách của Đảng, cán bộ phải dùng cách thuyết phục chứ không được dùng mệnh lệnh và phải ra sức làm cho quần chúng nông dân tin tưởng ở Đảng.

8. Đường lối chung của cách mạng nông dân hiện nay nhằm:

– Tập hợp, tổ chức trung, bần nông và kích động họ đấu tranh giành lấy chủ quyền cho nhân dân;

– Chứ không phải để tiến hành một cuộc khởi nghĩa địa phương (khởi nghĩa có nghĩa là nổi dậy giành chính quyền). Đảng viên phải cǎn cứ vào đường lối chung đó mà lãnh đạo nông dân đấu tranh. Đánh vào giai cấp thống trị, đánh vào địa chủ và tư sản tức là chúng ta phải kích động nông dân đấu tranh phản đối thu thuế, phản đối chế độ phát canh, phản đối những quy tắc luật lệ của tư sản, v.v., và phải kết hợp đấu tranh kinh tế và chính trị, lợi dụng mọi cơ hội để phổ biến tư tưởng cách mạng ruộng đất và khuyến khích tổ chức một đội tự vệ nông dân.

Chuẩn bị đấu tranh trước hết phải tuyên truyền mạnh mẽ để lôi cuốn đa số quần chúng tham gia; khi có điều kiện tổ chức những cuộc đấu tranh lớn mà chỉ phát động đấu tranh lẻ tẻ thì ảnh hưởng chính trị không tốt.

Để chống lại đàn áp, cần phải chuẩn bị thật chu đáo và lãnh đạo có kế hoạch mọi cuộc đấu tranh, phải phát triển và huấn luyện đội tự vệ nông dân.

Cần làm cho nông dân nhận thức rõ lực lượng và vai trò của mình. Họ phải hiểu được rằng hành động cá nhân hoặc mỗi xu hướng khủng bố đều trái với cương lĩnh hành động của mình.

Đồng thời, phải giải thích cho nông dân hiểu rằng chỉ có một lực lượng mạnh mẽ và có tổ chức mới có thể đương đầu chống khủng bố trắng được. Lãnh đạo nông dân có nghĩa là nghiên cứu tình hình địa phương để rồi phát động phong trào quần chúng. Mỗi cuộc đấu tranh đều nhằm mở rộng ảnh hưởng của Nông hội và của Đảng và nhằm thu hút quần chúng vào Nông hội.

9. Những yêu sách của nông dân

a) Về chính trị – Đòi tự do lập hội, tự do hội họp, tự do ngôn luận và đòi bỏ chế độ kiểm duyệt; phản đối khủng bố trắng, phản đối Hội đồng cải lương; phản đối đưa nông dân đi làm phu đồn điền và đưa họ sang các thuộc địa khác.

b) Về kinh tế – Đòi giảm sưu thuế – đòi bỏ thuế thân, đòi giảm tô ruộng đất, bỏ chế độ phát canh, bỏ chế độ lao dịch. Đối với cố nông: phải tǎng công xá, bớt giờ làm việc. Đòi bảo hiểm xã hội, ngày nghỉ (tết, kể cả ngày kỷ niệm cách mạng) được trả công.

Báo cáo vào khoảng nǎm 1930.

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện lịch sử Đảng
cpv.org.vn

——————————

1. Sự kiện thành lập Đảng: Vào những nǎm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta tiếp tục dâng lên khắp đất nước. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã được truyền bá mạnh mẽ trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Một trào lưu cách mạng mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của một chính đảng thực sự của giai cấp công nhân.

Những phần tử tiên tiến trong phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình đó và đã đứng ra thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên.

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Hà Nội. Đông Dương Cộng sản Đảng ra Chánh cương, Tuyên ngôn, nêu rõ đường lối của Đảng là làm cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp vô sản lãnh đạo, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hành công nông liên hiệp. Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã thúc đẩy phong trào cộng sản ở trong nước tiến mạnh. Tháng 7-1929, An Nam Cộng sản Đảng cũng được thành lập. Tháng 9-1929, những đảng viên ưu tú của Đảng Tân Việt ra tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sản liên đoàn.
Trong vòng 4 tháng, ba tổ chức cộng sản liên tiếp ra đời. Sự kiện đó chứng tỏ việc thành lập Đảng Cộng sản là yêu cầu phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam nǎm 1929. Nhưng lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cũng như nguyên tắc tổ chức của chính đảng Mác – Lênin không cho phép tồn tại tình hình là trong một nước mà có ba tổ chức cộng sản. Vì vậy tổ chức một Đảng duy nhất của giai cấp công nhân là yêu cầu bức thiết của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc đó.

Nhận được tin có các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, Quốc tế Cộng sản đã gửi thư kêu gọi các tổ chức cộng sản này thống nhất lại.

Sau khi nắm được tình hình trên, Nguyễn ái Quốc, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đã cử đại biểu đến dự Hội nghị. Riêng Đông Dương Cộng sản liên đoàn, không kịp cử đại biểu đến dự được, sau Hội nghị này đã xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị hợp nhất mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Tr.10.

Những thủ đoạn của đế quốc Pháp

Khủng bố trắng đang hoành hành dưới đủ mọi hình thức. Đế quốc đóng đồn binh ở khắp các thôn xã, chúng tổ chức xã đoàn 1 (giống như dân đoàn 2 ở Trung Quốc) để canh phòng ngày đêm. Lập danh hộ ở mỗi làng để kiểm soát những người lạ mặt. Cấm đi lại từ vùng này sang vùng khác. Độc ác hơn là chúng cho phép bọn tư sản được quyền đốt nhà và giết người. Chúng chia thành phố ra thành nhiều khu, ở mỗi khu phố tên trưởng phố được quyền kiểm soát tất cả dân chúng. Chính phủ của chúng ra mặt tuyên truyền vu cáo cộng sản.

Ngoài chính sách khủng bố, bọn đế quốc Pháp còn thực hiện một chính sách lừa bịp: lập Hội đồng cải lương, Hội đồng hoà giải tư bản và lao động, v.v.. Chúng giao trách nhiệm cho đốc công ở nhà máy và trưởng phố phải ngǎn ngừa phong trào cách mạng ở nhà máy và khu phố. Chúng đưa mật thám vào các xí nghiệp tổ chức hội họp thợ thuyền để phá những cuộc bãi công.

Bọn đế quốc còn thuê người viết báo xuyên tạc chủ nghĩa cộng sản và vu cáo Nga – Xô.

Tình hình nội bộ Đảng ở Bắc Kỳ:

1. Trong khi các đồng chí Trung ương bận họp Hội nghị tháng 10-1930, một Xứ uỷ lâm thời được thành lập gồm ba đồng chí Bí thư ba Tỉnh uỷ lớn. Nhưng không một đồng chí nào được giao trách nhiệm rõ ràng và cũng không đồng chí nào có đủ khả nǎng để lãnh đạo mọi công tác trong xứ. Do đó các tỉnh đều tự trị, trong khi đó thì mọi công việc vẫn ở tình trạng hỗn loạn.

2. Có 6 tỉnh đã có tổ chức: Hải Phòng, Hà Nội, mỏ than Hòn Gai, Nam Định, Thái Bình và Phủ Lý (hai tỉnh sau là những tỉnh hoàn toàn nông nghiệp).

Ngoài việc lãnh đạo Ban phụ trách Hà Nội, một trong ba đồng chí ấy còn phải lãnh đạo các Ban giao thông, tài chính, tuyên truyền và huấn luyện. Do đó việc in truyền đơn và sách báo không chạy và tình hình tài chính thiếu thốn đến nỗi các đồng chí thường thiếu gạo ǎn.

Vì không đủ đồng chí nên Ban giao thông phải nhờ hội viên Công hội giúp việc, có khi phải nhờ đến cả người ngoài nữa (Ban tài chính cũng vậy).

Do đó công việc của hai Ban đó không tốt.

Có nhiều vụ bắt bớ và khủng bố trắng ngày càng dữ dội, nên tổ chức ở nhiều tỉnh bị tan vỡ (có tỉnh vì đấu tranh cũng có tỉnh vì không đấu tranh).

Cho nên các Tỉnh uỷ đã phải để hết thì giờ và tìm hết mọi cách để bổ cứu tình trạng đó.

3. Hiện nay, phần lớn các chức vụ quan trọng đều do các đồng chí mới thiếu kinh nghiệm đảm nhiệm. Hầu hết các đồng chí cấp uỷ đều được chỉ định chứ không bầu. Nhưng mỗi khi có bầu cử, kết quả của cuộc bỏ phiếu rất được coi trọng. Trước đây ở trong Trung ương, mỗi đồng chí phải phụ trách một tỉnh chứ không phụ trách các Ban (giao thông, tài chính, tuyên truyền, v.v.). Nay thì có một đồng chí Trung ương, ngoài những trách nhiệm khác của mình, còn phụ trách công tác giao thông và ấn loát nữa.

Từ Tỉnh uỷ đến chi bộ, các đồng chí chỉ biết có: tổ chức. Chưa khi nào được huấn luyện, nên các đồng chí không thể hiểu được mục đích của Đảng.

Hơn nữa, nhiều đảng viên trước kia đã tham gia Đông Dương cũ và “Thanh niên” vẫn còn giữ tư tưởng bè phái và xu hướng khủng bố.

4. ở các chi bộ, các đồng chí chỉ biết làm theo chỉ thị cấp trên chứ không có quyết nghị, không có kế hoạch làm việc riêng. Các đồng chí không hiểu chính trị, kinh tế là gì thậm chí cũng có những đồng chí không biết Đảng khác quần chúng như thế nào.

Quần chúng

1. Các việc tổ chức công nhân tiến bộ ít. Chúng ta có hội viên ở nhiều nhà máy; nhưng hội viên rất phân tán, đây 2, 3 người, kia 5, 10 người. Công hội mạnh nhất là Công hội Nhà máy dệt Nam Định có 239 hội viên. Nhưng không phải hết tất cả mọi hội viên đều đã nhận thức rõ vai trò của mình.

2. Nông dân rất mạnh ở các tỉnh Thái Bình và Hà Nam. Chúng tôi đã tìm cách tổ chức quần chúng nông dân ở khắp các tỉnh nhưng nông dân quá phân tán. Huyện khá nhất chỉ có 80 nông dân vào tổ chức.

3. Kômxômôn (Thanh niên Cộng sản đoàn). Thanh niên không đông lắm. ở nhiều nơi họ sinh hoạt với người lớn và chưa tổ chức riêng.

4. Phụ nữ, M.O.P.R. (Quốc tế Cứu tế đỏ), Hội phản đế đồng minh: chưa có gì.

Ở trong nhiều tổ chức có cả đảng viên lẫn hội viên, đảng viên không hiểu rõ vai trò của mình.

Hải Phòng

7 chi bộ nhà máy: 20 đảng viên.

2 chi bộ đường phố: 10 đảng viên.

Các chi bộ khác: 7 đảng viên (2 nữ).

Trường thực nghiệp: 8 thanh niên cộng sản.

8 nghiệp đoàn thợ thuyền: 101 hội viên (4 thanh niên

và 11 nữ).

Hòn Gai (mỏ)

Đảng: 8 đảng viên.

Công hội: 10 hội viên.

(trước những thất bại vừa rồi, có 20 đảng viên,

10 thanh niên C.S và 30 hội viên Công hội).

Nam Định

6 nhà máy: 21 đảng viên.

Chi bộ đường phố: 34 đảng viên (4 nữ).

Thanh niên C.S: (15 công nhân) 31 đoàn viên.

Công hội: 293 hội viên (210 thanh niên, 21 nữ thanh niên).

Các làng: 60 đảng viên, 100 hội viên Nông hội.

Phủ Lý 82 đảng viên (6 nữ).

Thanh niên cộng sản (nông dân): 13.

366 hội viên Nông hội.

Thái Bình

8 chi bộ làng: 38 (10 nữ).

3 chi bộ thanh niên cộng sản: 14.

270 nông dân

Hải Dương đồng chí nông dân: 9 (mất liên lạc)

Hà Đông đồng chí nông dân: 12

51 đồng chí nông dân

Bắc Ninh đồng chí nông dân: 6

Hà Nội đảng viên: 6 (4 nữ), nữ thanh niên: 29 ở trong

các khu vực.

Tổng số: đảng viên: 344 (31 nữ), 82 công nhân, 209 nông dân.

Thanh niên cộng sản: 79

Công hội: 404

Nông hội: 818

Phê bình những Nghị quyết của Trung ương.

1. Về vấn đề Nga – Xô, nên thêm “dưới sự lãnh đạo của Đảng bônsêvích, vô sản Nga đã giành được chính quyền”.

2. Nói sự ổn định kinh tế tạm thời không đúng. Phải nói như trong Nghị quyết của Quốc tế Cộng sản “Sự ổn định bộ phận, bấp bênh và tạm thời”.

3. Trong thời kỳ thứ hai, cần nói đến những thất bại của cách mạng ở Java và ở Trung Quốc.

4. Trong thời kỳ thứ ba, phải nói đến việc những người quốc gia chuẩn bị một cuộc biến động thảm khốc và đưa thêm nhiều ví dụ hơn nữa về những mối bất hoà xuất hiện trong thời kỳ ấy.

5. Phải giải thích rõ hơn nữa những mối quan hệ giữa cách mạng Đông Dương với cách mạng thế giới.

6. “Võ trang bạo động” nghĩa là thế nào?

7. Phong trào công nhân: Nghị quyết nói: “Mỗi cuộc đấu tranh kinh tế cũng là một cuộc đấu tranh chính trị”. Câu này không rõ, nên nói: “Mỗi cuộc đấu tranh kinh tế đều có tính chất chính trị”.

8. Nói như nghị quyết: “Mục đích cuối cùng của Công hội là xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Không rõ lắm.

Phải giải thích nhiều hơn nữa về ý nghĩa của tổ chức Công hội.

9. Câu: “Đảng là bộ tham mưu của Công hội” nghĩa quá hẹp; nên nói: “Đảng là bộ Tổng tham mưu của giai cấp vô sản và của nhân dân lao động”.

10. Phong trào nông dân – chiến lược và chiến thuật: không rõ lắm. Chưa đề cập đến vị trí quan trọng của cách mạng ruộng đất trong từng giai đoạn cách mạng. Mối quan hệ giữa vấn đề nông dân và ruộng đất với cách mạng: chưa rõ lắm.

11. Tại sao lại định ra những điều lệ hình thức khác nhau cho Nông hội và Công hội.

Phương pháp công tác

1. Xứ uỷ phải gửi chỉ thị giải thích rõ ràng tại sao phạm khuyết điểm và định rõ phương pháp công tác từ nay về sau.

2. Các Bí thư Xứ uỷ và Tỉnh uỷ phải xem mình là những cố vấn, là người huấn luyện giáo dục, chứ không nên bao biện tất cả mọi công việc trong địa phương như trước đây.

3. Mỗi cấp uỷ phải quy định nhiệm vụ cho mỗi chi bộ, mỗi đảng viên. Có như vậy mỗi người mới có một trách nhiệm nhất định.

4. Chỉ thị gửi cho chi bộ phải dễ hiểu để các đồng chí có thể thảo luận và nghiên cứu thi hành: không khi nào được dùng mệnh lệnh. Phải chú ý kiểm tra công tác của các tổ chức Đảng cấp dưới.

5. Các Ban chấp hành của tất cả mọi tổ chức của Đảng phải có những đồng chí xung phong làm việc cho cấp uỷ, khi bị khủng bố hoặc có ai trong cấp uỷ vắng mặt, các đồng chí đó sẵn sàng có thể thay thế.

Tài chính

Chương trình đã quy định tổ chức một Ban tài chính

Tuyên truyền và giáo dục

1. Phải tổ chức một Ban gồm 5 đồng chí phụ trách tuyên truyền và giáo dục đảng viên.

2. Phải ra một tờ báo 4 trang, xuất bản mỗi tuần hai kỳ, để tuyên truyền giáo dục quần chúng và đảng viên. Báo đó lấy tên là “Tiên phong” (The Forward).

3. Để đào tạo cán bộ phải tổ chức một trường huấn luyện, thời hạn học là một tháng. Chương trình học tập như sau:

a) Danh từ chính trị;

b) Tính chất và mục đích của Đảng;

c) Chương trình của Đảng;

d) Tổ chức Đảng;

e) Chi bộ;

f) Phong trào công nông;

g) Chính cương.

Dần dần có kinh nghiệm chương trình này có thể thay đổi.

Công tác trước mắt

1. Phải giải thích cho đảng viên hiểu những nghị quyết của Trung ương.

2. Sửa chữa những sai lầm và khuyết điểm.

3. Đấu tranh chống những khuynh hướng sai.

Công vận

1. Chuẩn bị tổ chức trong các ngành công nghiệp theo ngành dọc;

2. Trong 3 tháng tới, Nam Định phải tổ chức Đại hội công nhân toàn tỉnh;

3. Trong 4 tháng tới, Hải Phòng phải tổ chức Đại hội công nhân toàn tỉnh;

4. Tǎng cường tuyên truyền ở các hầm mỏ;

5. Tổ chức một Tổng Công hội ở Hà Nội;

6. Đưa đồng chí vào các ngành công nghiệp quan trọng, các đồn điền, các nhà máy điện và ngành vận tải;

7. Tổ chức đoàn thanh niên và hội phụ nữ trong mỗi công hội. Thanh niên và phụ nữ phải tham gia lãnh đạo Công hội;

8. Bắt đầu tuyên truyền những công nhân thất nghiệp;

9. Tổ chức kỷ niệm ngày 25 tháng 2;

10. Phát triển các tổ chức phụ thuộc, hợp pháp và nửa hợp pháp;

11. Liên kết chặt chẽ công nhân với nông dân.

12. Trong 3 tháng tới, Thái Bình và Phủ Lý phải có Nông hội tỉnh.

Hội nghị họp 15 hôm, nhưng tranh luận chưa đầy đủ và chu đáo, các đồng chí luôn luôn hướng cuộc thảo luận vạch cho hết những cuộc thất bại, hơn nữa hội nghị chưa được chuẩn bị từ trước.

Tài liệu của Viện Lịch sử Đảng.
cpv.org.vn

Báo cáo về Hội nghị cán bộ Xứ uỷ Bắc Kỳ

(Giữa tháng 1 và 2)

Đến dự hội nghị đó:

– 1 đại biểu Trung ương.

– 2 cán bộ Xứ uỷ cũ.

– 1 đại biểu tỉnh Nam Định.

– 1 đại biểu tỉnh Phủ Lý.

– 1 đại biểu tỉnh Thái Bình.

– 1 đại biểu tỉnh Ban huấn luyện.

– 1 cộng tác viên của Xứ uỷ.

Báo cáo:

a) Về tình hình kinh tế.

b) Về phong trào quần chúng.

c) Kinh nghiệm.

d) Về chính sách đàn áp cách mạng của đế quốc.

đ) Về công tác và tinh thần đoàn kết của chúng ta.

Thảo luận: Kế hoạch do Trung ương dự thảo.

Nghị quyết:

a) Về phương pháp tiến hành.

b) Về nội dung chuyên môn của mỗi ban.

c) Về việc đào tạo cán bộ.

d) Giải thích cho đảng viên hiểu những vấn đề đã nêu trong kế hoạch của Trung ương.

e) Về phong trào công nhân.

f) Về phong trào nông dân.

Bầu cử cán bộ Xứ uỷ mới.

A- Tình hình kinh tế

Mặc dầu công kỹ nghệ có phát triển chút ít, Bắc Kỳ chủ yếu vẫn là một xứ nông nghiệp. Ngoài nhà máy Rôbe (Robert) ở Hải Phòng (đóng và sửa chữa tàu thuỷ) và lò đúc kẽm Quảng Yên, Bắc Kỳ có rất ít xí nghiệp công nghiệp nặng, lại còn bị cuộc khủng hoảng kinh tế 1930 ảnh hưởng nặng nề.

1. Hầm mỏ: Nǎm 1929 có 600 người chuyên mộ công nhân. Hiện nay không những không tuyển mộ công nhân mới nữa mà có từ 5.000 đến 6.000 công nhân bị thải hồi.

2. Xi mǎng: Cách đây 5 tháng, có 10 chiếc tàu chuyên chở hằng ngày 10.000 thùng xi mǎng ra bán ở thị trường. Nay những chiếc tàu đó chỉ chạy một tuần hoặc 15 ngày một chuyến. Hơn nữa, xi mǎng do các máy mới sản xuất, phẩm chất xấu bán không chạy. Nhà máy đã thải hồi hơn 1.000 công nhân.

3. Dệt: Từ tám tháng nay, ngành dệt bị khủng hoảng hoàn toàn, trước kia hàng ngày bán ra từ 60 đến 70 kiện hàng, nay sụt xuống 4 hoặc 10 kiện. Nhà máy dệt Nam Định thải hồi 2.000 công nhân, Nhà máy Hải Phòng cũng phải thải hồi công nhân viên.

4. Nhà máy Rôbe (Robert): đóng và sửa chữa tàu thuỷ, buộc thợ làm việc theo một chế độ mới, hai ngày làm một. Mặc dầu vậy, hãng này cũng không sử dụng được hết nhân công.

5. Công ty dầu hoả Pháp: Từ ba tháng nay, mỗi công nhân chỉ làm việc có 18 ngày.

Tất cả các nhà máy công kỹ nghệ khác cũng đã hoặc bắt đầu lâm vào tình trạng khủng hoảng này, ở mỗi xí nghiệp tính ra có từ 50, 60 – 100 và có nơi đến 800 thợ thất nghiệp.

Còn những anh chị em công nhân đang làm việc cũng khổ sở vì chế độ hợp lý hoá, vì bị giảm lương, làm thêm giờ và bị cúp phạt. Trung bình hằng ngày phải làm việc 11 tiếng. Công xá thì trả như sau:

– 0đ20 đến 0đ30 cho thợ phụ

– 0đ40 đến 0đ50 cho thợ chuyên nghiệp

– 0đ15 đến 0đ25 cho đàn bà

– 0đ10 đến 0đ15 cho trẻ em.

Bọn chủ ngày càng dùng nhiều phụ nữ và trẻ em, chúng đuổi thợ người lớn. ở Nhà máy dệt Hải Phòng, số trẻ em từ 10 tuổi đến 16 tuổi chiếm đến một phần tư số công nhân. Đời sống của công nhân rất cực khổ.

B- Nông nghiệp

Nhân dân ở vùng thượng du là người Thổ. Cả vùng này còn rất lạc hậu và do bọn “thổ ty chuyên chế” thống trị; còn nông dân thì phải chịu cảnh nô lệ. ở những vùng dân cư người Kinh, đất ruộng đều là của người Pháp và của phú hữu Việt Nam. Cả hai bọn này tổ chức trồng trọt và chǎn nuôi hoặc cho nông dân lĩnh canh ruộng đất.

ở Thái Bình có rất nhiều địa chủ từ 300 đến 500 mẫu ruộng đất, cho nông dân lĩnh canh và thu tô một nửa. Mỗi vụ, nông dân phải đến làm công không cho địa chủ một số ngày nhất định. Khi gia đình địa chủ có giỗ chạp, người nông dân còn phải đem lễ vật đến kính biếu và giúp công.

Tiền cho vay lãi trung bình 120 phần trǎm. Cách cho ứng trước một đấu lúa vụ 5 đến vụ 10 phải trả hai đấu, là thông thường. Nếu giá gạo hạ, người nông dân phải trả bằng tiền, nếu gạo cao thì họ phải trả số tiền nợ đó bằng lúa. Nông dân phải đối xử với trại chủ cũng như đối với địa chủ, nghĩa là phải kính biếu lễ vật, làm công không, v.v..

Ngày giáp hạt, chủ cho vay 1 hào thì đến vụ gặt người nông dân phải làm bù một ngày công (công nhật là 1 hào rưỡi).

Phần lớn ruộng đất là của công, đáng lẽ phải đem cấp đều cho nhân dân các thôn xã. Nhưng trong thực tế, bọn tư sản chiếm lấy phần hơn, còn người nông dân bần khổ chỉ được nhận ít mảnh nhưng lại là phần ruộng đất xấu nhất. Việc thường xảy ra là những miếng ruộng đất rải rác ở khắp đó đây, khó làm và khó bảo vệ, nên người nông dân lại phải tậu ruộng của tư sản và của đại địa chủ.

Bọn quan lại và tư sản lợi dụng phong trào cách mạng để áp bức bóc lột nông dân. Ai không “đút lót” cho chúng thì bị chúng vu cáo vào hội kín hoặc cộng sản và bị bắt.

Hằng nǎm, nông dân từ 18 đến 60 tuổi phải nạp thuế thân mỗi đầu người từ 3đ50 đến 4đ50 và phải đi phu 6 ngày làm công cho chính phủ. Nhiều khi giữa mùa, nông dân phải đình chỉ công việc, đi “lao dịch”.

Ngoài ra, ngày đêm họ phải đi canh điếm ở làng (để phòng cộng sản).

Mất mùa hai nǎm nay làm cho nông dân càng khổ cực. Nǎm ngoái, phần lớn bà con nông dân chỉ ǎn mỗi ngày một bữa cháo có một ít hạt gạo nấu với thật nhiều nước.

Anh em đi ở cho địa chủ (những người có sức lực), hằng nǎm chỉ nhận 12đ00 công và 2 tấm vải mộc. Sáng sớm mặt trời chưa mọc họ đã phải ra đồng làm việc cho đến tối mịt. Về nhà họ phải làm lụng cho đến nửa đêm. Còn anh chị em đi làm thuê ngày mùa: phụ nữ được nhận 7 đến 12 xu một ngày, nam 10 đến 15 xu. Nhưng hết mùa họ lại thất nghiệp.

áp bức và bóc lột làm cho công nhân và nông dân cǎm giận và kích động họ vùng dậy, công nhân mỏ than Cẩm Phả, công nhân viên Công ty dầu hoả, phu kéo xe Hải Phòng bãi công, ở Nhà máy dệt Nam Định bùng nổ cuộc đình công lớn của công nhân (phản đối bớt lương, làm thêm giờ, phản đối quy hoạch trách nhiệm thợ thuyền, phản đối làm khoán). Nông dân Thái Bình và Phủ Lý biểu tình đấu tranh chống tư sản và phản đối đế quốc Pháp bắt các làng phải lập ngân sách.

Tuy các cuộc đấu tranh có làm cho chúng ta phải chú ý, nhưng kết quả còn ít ỏi, vì:

1. Đảng còn non trẻ thiếu kinh nghiệm.

2. Trình độ nhận thức của quần chúng còn thấp.

3. Đông đảo quần chúng chưa tham gia đấu tranh.

Ví dụ:

a) Đã sử dụng hai viên đốc công để khởi động cuộc bãi công ở nhà máy điện, mọi việc đều trôi chảy!

Nhưng lại không có biện pháp tránh ảnh hưởng của hai đốc công đối với quần chúng; sau thắng lợi lại không tổ chức tuyên truyền để giữ vững tinh thần cách mạng của quần chúng, cuối cùng họ đã nhượng bộ. Kết quả là như thế đấy. Họ không nhận được một kế hoạch hành động nào, khi phong trào bị dập tắt thì không còn có phương nào cứu chữa nữa.

b) Cuộc bãi công ở Nhà máy dệt Nam Định là một thắng lợi của anh chị em công nhân, nhưng là thất bại của Đảng vì:

1. Các đồng chí chúng ta không hiểu mục đích của cuộc bãi công;

2. Các tổ chức của Đảng không hoàn toàn nhất trí;

3. Bãi công không được chuẩn bị và cũng không có tổ chức, không giáo dục thợ thuyền về mục đích cuộc bãi công cũng như về phương pháp tổ chức đấu tranh về sau;

4. Đảng không có kế hoạch sát với hoàn cảnh;

5. Thiếu tuyên truyền. Công hội có hứa giúp đỡ quần chúng về tài chính, họ rất phấn khởi, nhưng đảng viên lại không biết lãnh đạo và nhất là thiếu kiên quyết;

6. Thời cơ chọn không đúng (sát ngày sắp phát lương và ngay giữa vụ đói);

7. Trước khi bãi công, lại gửi thư cho bọn chức trách Pháp và cho chủ nhà máy, nên chúng biết và dễ đàn áp;

8. Tất cả bạn bè của những anh chị em bãi công không được lôi cuốn hết vào phong trào;

9. Cuộc đấu tranh kéo dài nên quần chúng mệt mỏi;

10. Các chỉ huy hành động không lôi cuốn người khác theo;

11. Các đồng chí có trách nhiệm hành động quá lộ liễu;

12. Cho quần chúng biết kế hoạch quá sớm, nên bọn phản động nắm được;

13. Trước cuộc bãi công không bầu uỷ ban đấu tranh;

14. Sau cuộc bãi công, xem nhẹ việc giải thích cho công nhân hiểu rõ và rút được kinh nghiệm bổ ích.

C- Những thiếu sót trong các cuộc đấu tranh của nông dân Thái Bình

1. ở các huyện lân cận, không tổ chức lực lượng dự bị để có thể tǎng cường cho phong trào.

2. Không báo cáo cho quần chúng biết mục đích cuộc đấu tranh.

3. Để cho bọn tư sản và mật thám trà trộn vào cuộc đấu tranh, quần chúng biết rõ hết tất cả những người chỉ huy.

4. Sau khi đi đấu tranh về không tổ chức mít tinh.

5. Không rút kinh nghiệm các cuộc đấu tranh của nông dân Nghệ An.

KẾT LUẬN

Phong trào đấu tranh ở Bắc Kỳ chưa thu được kết quả vì những lý do sau đây:

a) Thiếu liên hệ giữa Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, xứ này không rút được kinh nghiệm của xứ khác.

b) Đảng chưa đủ lực lượng để lãnh đạo tốt phong trào đấu tranh của quần chúng.

c) Các tổ chức của Đảng chưa liên hệ thật mật thiết với nhau.

Tài liệu của Viện Lịch sử Đảng.
cpv.org.vn

Bác Hồ bạn đọc lớn của Báo Công an nhân dân

Sinh thời, mặc dù bận trăm công ngàn việc nhưng Bác Hồ vẫn thường xuyên đọc các loại báo, trong đó có Báo Công an nhân dân.

Ngày 1/11/1946, Tờ Công an mới – tiền thân của Báo Công an nhân dân – ra mắt bạn đọc, được phát hành rộng rãi trong nhân dân. Ngay trong những số báo đầu tiên đã dành một phần đưa tin về hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng như huấn thị công tác của Người.

Trong những năm ở chiến khu Tân Trào, Nội san Rèn  luyện, kế tiếp Báo Công an mới, đã tập trung hướng dẫn, uốn nắn để cán bộ, chiến sỹ thực hiện tốt lời dạy của Bác về sửa đổi lề lối làm việc mà Bác đã viết dưới bút danh X.Y.Z.

Ngày 11/3/1948, tại khu căn cứ địa Việt Bắc, sau khi nhận được tờ Nội san Bạn dân do đồng chí Hoàng Mai, Giám đốc Công an khu 12 gửi lên biếu Bác, Bác đã viết thư gửi Công an khu 12, trong đó có đoạn:

“… Trên báo cần làm cho anh chị em công an nhận rõ, công an của ta là công an nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ và dựa vào dân mà làm việc. Nhân dân ta có hàng chục triệu người, có hàng mấy chục triệu tai, mắt, tay, chân. Nếu biết dựa vào dân thì làm việc gì cũng xong.

Trên tờ báo phải luôn luôn nhắc nhở anh em rèn luyện tư cách đạo đức. Tư cách người Công an cách mệnh là:

– Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính.

– Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ.

– Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành.

– Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép.

– Đối với công việc, phải tận tụy.

– Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo.

Nói tóm lại, là những đạo đức và tư cách mà người công an cách mệnh phải có, phải giữ cho đúng. Những điều đó chẳng những luôn luôn nêu trên báo mà lại nên viết thành ca dao cho mọi người học thuộc, nên viết thành khẩu hiệu tại những nơi anh em công an thường đến (bàn giấy, nhà ăn, phòng ngủ…). Ngoài ra, công an thường phải kiểm soát nhân viên và công việc của mình. Mỗi cng an viên đóng chỗ nào thì cần dạy cho dân quân, tự vệ nơi đó cách điều tra, xét giấy, phòng gian… dạy cho dân ở nơi đó giữ bí mật, và tự mình phải luôn luôn giữ lễ phép, tránh hách dịch”.

“Cán bộ báo chí cũng là chiến sỹ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ. Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng, cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa…” Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam năm 1962.

Thư Bác được anh em trong đơn vị chuyền tay nhau đọc. Các số Báo Rèn luyện của Nha Công an Trung ương đã đăng lại bức thư của Bác và được chuyển về các khu, các tỉnh để học tập, sau đó lực lượng Công an cả nước phát động phong trào học tập và làm theo Sáu điều Bác Hồ dạy.

Trở lại thời gian trước đây, vào giữa năm 1949, một hôm, Nha Công an Trung ương gửi đến Nhà in Rèn luyện một tập bản thảo viết tay, được viết theo thể văn vần, nội dung huấn luyện cán bộ. Nha yêu cầu phải in thật đẹp và hẹn ngày phải có sách để gửi về Nha. Sau đó, Nha mới cho biết đó là tập tài liệu do Bác Hồ viết, vì thế anh em nhà in ai nấy đều cảm thấy phấn khởi vì đó là niềm vinh dự: Sự kiện này đã trở thành một kỷ niệm không bao giờ quên đối với những anh em đã làm việc ở Nhà in Báo Rèn luyện hồi đó.

Báo Công an nhân dân vinh dự được đón nhận một độc giả rất đặc biệt: Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Khi đọc bài “Lực lượng Cảnh sát nhân dân phục vụ tốt công cuộc vận động chống đầu cơ, buôn lậu, lấy cắp vật tư, tài sản của Nhà nước”, Bác ghi bằng mực đỏ hai chữ “nên khen” và mở vòng đơn (đã nói với A. Hoàn rồi) – (đồng chí Trần Quốc Hoàn là Bộ trưởng Bộ Công an); khi đọc những bài về gương người tốt, việc tốt: “Dũng cảm cứu dân và cứu tài sản của Nhà nước”, “Hết lòng vì dân”… Bác khuyên vòng tròn đỏ trên đầu bài và ghi “Tặng 1 hh” (tức là tặng một Huy hiệu của Người cho chiến sỹ lập công).

Báo Công an nhân dân số 361, ra ngày 4/6/1968 đăng bài “Công an khu phố Hai Bà Trưng (Hà Nội) vận động quần chúng đấu tranh chống bọn tội phạm hình sự và các tệ nạn xã hội khác”. Tờ báo được gửi đến Bác. Bác Hồ xem xong, thấy đây là việc làm tốt, liền viết thư cho đồng chí Bộ trưởng Bộ Công an lúc bấy giờ để biểu dương và nhắc nhở công an Thủ đô Hà Nội nên học tập gương điển hình này. Bác viết: “Khu phố Hai Bà làm việc này tốt. Nếu đôn đốc các khu phố khác học tập và thi đua với khu phố Hai Bà, thì chắc họ cũng làm được như thế, và toàn Thủ đô Hà Nội có thể triệt được tệ lưu manh, trộm cắp…”.

Đó là bút tích của Bác, hiện còn lưu giữ trong Bảo tàng Công an nhân dân.

Bao CAND
Bút tích của Bác trên Báo Công an nhân dân số 462

Ngày nay, Báo Công an nhân dân tiếp tục tuyên truyền về cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, về các điển hình tiên tiến thực hiện tốt Sáu điều Bác dạy trong cuộc vận động “Công an nhân dân chấp hành nghiêm điều lệnh, xây dựng nếp sống văn hóa vì nhân dân phục vụ”; tuyên truyền những cuộc thi tìm hiểu về Đảng, Bác… Các thế hệ làm báo luôn ghi nhớ và giữ mãi những kỷ niệm sâu sắc về Bác Hồ kính yêu.

Theo www.cand.com.vn
Kim Yến (st)

Chương trình Việt Minh

Việt Nam độc lập đồng minh (nói tắt là Việt Minh) chủ trương liên hiệp hết thảy các tầng lớp nhân dân, các đoàn thể cách mạng, các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại, chiến đấu đánh đổ chủ nghĩa đế quốc phát xít Nhật, giành quyền độc lập cho nước Việt Nam.

Sau khi đánh đuổi được đế quốc phát xít Nhật, sẽ lập lên chính phủ nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, lấy cờ đỏ, sao nǎm cánh làm quốc cờ. Chính phủ nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Quốc dân đại hội cử lên sẽ thi hành những chính sách sau này:

A- CHÍNH TRỊ

1. Phổ thông đầu phiếu: hễ ai là người Việt Nam, vô luận nam nữ từ 18 tuổi trở lên đều có quyền tuyển cử và ứng cử, trừ bọn Việt gian phản quốc.

2. Ban bố các quyền tự do dân chủ cho nhân dân: tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại trong nước, tự do xuất dương. Bỏ chế độ bắt phu và các chế độ áp bức do đế quốc đặt ra.

3. Tổ chức Việt Nam cách mạng quân và vũ trang dân chúng, thẳng tay trừng trị bọn phản quốc, giữ vững chính quyền cách mạng.

4. Tịch thu hết thảy tài sản của đế quốc phát xít. Trừng trị và tịch thu tài sản của bọn Việt gian phản quốc.

5. Toàn xá phạm nhân.

6. Nam nữ bình quyền.

7. Tuyên bố dân tộc tự quyết.

8. Liên hiệp và thân thiện với tất cả các dân tộc hèn yếu, nhất là dân tộc Miên, Lào, Tàu, Triều Tiên, ấn Độ.

B- KINH TẾ

1. Bỏ thuế thân và các thứ thuế do đế quốc đặt ra. Lập lên một thứ thuế rất nhẹ và công bình.

2. Quốc hữu hoá các ngân hàng đã tịch thu của đế quốc phát xít Nhật. Lập lên một ngân hàng quốc gia thống nhất.

3. Mở mang các ngành kỹ nghệ, giúp đỡ thủ công nghiệp làm cho nền quốc dân kinh tế chóng phát đạt.

4. Mở mang dẫn thuỷ nhập điền, bồi đắp đê điều làm cho nông nghiệp phồn thịnh.

5. Nhân dân tự do khai khẩn đất ruộng do chính phủ giúp đỡ.

6. Quan thuế (thuế đánh hàng hoá xuất cảng, nhập cảng) độc lập.

7. Mở mang các đường giao thông vận tải (như đường xe lửa, đường ô tô, các nhà giây thép, sông ngòi, v.v.).

C- VǍN HÓA GIÁO DỤC

1. Huỷ bỏ nền giáo dục nô lệ. Gây dựng nền quốc dân giáo dục. Cưỡng bức giáo dục từ bực sơ học. Mỗi dân tộc có quyền dùng tiếng mẹ đẻ trong nền giáo dục dân tộc mình.

2. Lập các trường chuyên môn huấn luyện chính trị, quân sự, kỹ thuật để đào tạo 1 các lớp nhân tài.

3. Khuyến khích và giúp đỡ các hạng trí thức được phát triển tài nǎng của họ.

4. Khuyến khích và giúp đỡ nền giáo dục quốc dân làm cho nòi giống ngày thêm mạnh.

D- ĐỐI VỚI CÁC TẦNG LỚP NHÂN DÂN

1. Công nhân. Ngày làm 8 giờ. Định tiền lương tối thiểu. Công việc làm như nhau nhận tiền lương ngang nhau. Cứu tế thất nghiệp. Xã hội bảo hiểm. Cấm đánh đập, chửi mắng. Thủ tiêu các giấy giao kèo nô lệ, lập các giấy giao kèo chung của chủ và thợ. Công nhân già có lương hưu trí.

2. Nông dân. Nông dân ai cũng có ruộng cày. Giảm địa tô. Cứu tế nông dân trong những nǎm mất mùa.

3. Binh lính. Hậu đãi binh lính có công giữ gìn Tổ quốc và phụ cấp gia đình binh lính được đầy đủ.

4. Học sinh. Bỏ học phí, bỏ khai sinh hạn tuổi. Mở thêm trường học. Giúp đỡ học trò nghèo.

5. Phụ nữ. Về các phương diện kinh tế, chính trị , vǎn hoá, đàn bà đều được bình đẳng với đàn ông.

6. Thương nhân và các nhà kinh doanh. Chính phủ hết sức giúp các nhà có vốn tự do kinh doanh. Bộ thuế môn bài và các thứ tạp thuế do đế quốc đặt ra.

7. Viên chức. Hậu đãi viên chức xứng đáng với công học hành của họ.

8. Người già và kẻ tàn tật. Được chính phủ chǎm nom và cấp dưỡng.

9. Nhi đồng. Được chính phủ sǎn sóc đặc biệt về thể dục và trí dục.

10. Hoa kiều. Được chính phủ bảo chứng tài sản an toàn: được đối đãi như dân tối huệ quốc.

E- XÃ HỘI

1. Thi hành luật lao động, ngày làm việc 8 giờ.

2. Giúp đỡ các gia đình đông con.

3. Lập ấu trĩ viên để chǎm nom trẻ con.

4. Lập các nhà chiếu bóng, diễn kịch, câu lạc bộ, thư viện để nâng cao trình độ trí dục cho nhân dân.

5. Lập thêm nhà thương, nhà đỡ đẻ, nhà dưỡng lão.

G- NGOẠI GIAO

1. Huỷ bỏ hết thảy những điều ước do bọn thống trị cũ ký kết với bất kỳ nước nào.

Ký những hiệp ước giao hảo và bình đẳng với mọi nước về các phương diện.

2. Chủ chương các dân tộc được bình đẳng. Hết sức giữ gìn hoà bình.

3. Kiên quyết chống hết thảy những sự xâm phạm đến quyền tự do độc lập của nước Việt Nam .

4. Liên hiệp với tất cả nhân dân và dân tộc bị áp bức trên thế giới.

Tài liệu của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.
cpv.org.vn

Thư gửi thiếu nhi Việt Nam đêm Trung thu đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà

Các em,

Đây là Hồ Chí Minh nói chuyện với các em. Hôm nay các em vui chơi, vui chơi một cách có đoàn kết, có tổ chức. Như thế là tốt lắm. Hôm nay Tết Trung thu là của các em. Mà cũng là một cuộc biểu tình của các em để tỏ lòng yêu nước và để ủng hộ nền độc lập. Các em phải ngoan, ở nhà phải nghe lời bố mẹ, đi học phải siêng nǎng; đối với bầu bạn phải yêu kính. Các em phải thương yêu nước ta. Mong các em mai sau lớn lên thành những người dân xứng đáng với nước độc lập tự do. Các em có hứa với tôi như thế không ? Tôi không có gì biếu các em, chỉ có thể đem cho mỗi đoàn các em một cái ảnh; các đại biểu sẽ đưa cho các em.

Cám ơn các em! Hôn các em nhé!

Trước khi các em đi phá cỗ vui vẻ, chúng ta cùng nhau hô hai khẩu hiệu:

Trẻ em Việt Nam sung sướng!
Việt Nam độc lập muôn nǎm!

Chào các em,
Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 49, ngày 22-9-1945.
cpv.org.vn

Lời khuyên anh em viên chức

Anh em viên chức hiện giờ đang gặp nhiều nỗi khó khǎn vì giá sinh hoạt đắt đỏ. Nhưng ta chớ nên quên rằng nước nhà đang ở thời kỳ kháng chiến. Anh em viên chức, cũng như toàn thể quốc dân, muốn qua được bước khó khǎn hiện tại, phải biết hy sinh một chút về tinh thần để tham dự vào công cuộc kiến quốc. Có chịu kham khổ bây giờ, mai sau mới được hưởng nhiều quyền lợi. Vậy để giúp công việc Chính phủ một cách đắc lực, để nâng cao tinh thần kháng chiến, anh em viên chức bây giờ phải có 4 đức tính là: cần, kiệm, liêm, chính. Cần, anh em viên chức phải tận tâm làm việc, một người làm bằng hai, ba người. Và phải tôn trọng kỷ luật. Anh em phải theo nguyên tắc là có việc mới cần đến người, chứ không phải là có sẵn người nên phải tìm việc cho làm. Kiệm, phải biết tiết kiệm đồng tiền kiếm được, cũng như các vật liệu và đồ dùng trong các sở. Rút bớt hết những sự gì không cần thiết, chớ phao phí giấy má và các thứ của công. Phao phí những thứ đó tức là phao phí mồ hôi nước mắt của dân nghèo. Chớ tưởng tiết kiệm những cái cỏn con như mẩu giấy, ngòi bút là không có ảnh hưởng. Một người như thế, trǎm người như thế, vạn người như thế, công quỹ đã bớt được một số tiền đáng kể, lấy ở mồ hôi nước mắt dân nghèo mà ra.

Có cần, có kiệm, không tiêu đến nhiều tiền, anh em viên chức mới có thể trở nên liêm, chính để cho người ngoài kính nể được.

Anh em viên chức phải gột bỏ hẳn những ý nghĩ trái với 4 nguyên tắc trên do chính sách của bọn thực dân gây nên trong đám công chức thời Pháp và Nhật thuộc.

Nói ngày 17-1-1946.

Báo Cứu quốc, số 146, ngày 19-1-1946.
cpv.org.vn

Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Hội nghị nhân dân tối cao Triều Tiên đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận lời mời của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Ngài Kim Yêng Nam, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Hội nghị nhân dân tối cao Triều Tiên và Đoàn đại biểu cấp cao Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên đã sang thăm hữu nghị chính thức nước Việt Nam từ ngày 5 tháng 8 đến ngày 7 tháng 8 năm 2012.

Trong khuôn khổ chuyến thăm của Đoàn, Ngài Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Hội nghị nhân dân tối cao Triều Tiên Kim Yêng Nam và Đoàn đại biểu đã đến đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ Việt Nam, vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Hội nghị nhân dân tối cao Triều Tiên Kim Yêng Nam kính viếng các Anh hùng liệt sỹ Việt Nam”. Sau đó, Đoàn đã đến đặt hoa tưởng niệm và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, người bạn thân thiết của Chủ tịch Kim Nhật Thành và nhân dân Triều Tiên. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Hội nghị nhân dân tối cao Triều Tiên Kim Yêng Nam kính viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.”

a1 Trieu tien
Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Hội nghị nhân dân
tối cao Triều Tiên và Đoàn đại biểu  vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chuyến thăm chính thức Việt Nam của Chủ tịch Kim Yêng Nam là sự kiện chính trị quan trọng, thể hiện sự phát triển không ngừng của mối quan hệ Việt Nam – Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên trong những năm qua trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, ngoại giao, xuất nhập khẩu, văn hóa, khoa học kỹ thuật, thương mại, hàng hải, thể dục thể thao…

Tuy mối quan hệ hợp tác giữa hai nước liên tục phát triển, nhưng có thể nhận thấy quan hệ kinh tế – thương mại chưa tương xứng với mức độ phát triển tốt đẹp về chính trị, chưa tương xứng với tiềm năng và mong muốn của cả hai bên. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết cần nâng quan hệ Việt Nam – Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên lên tầm cao mới, sâu sắc, tin cậy. Chuyến thăm chính thức Việt Nam của ngài Chủ tịch Kim Yêng Nam lần này nhằm đưa quan hệ hai nước lên một bước phát triển mới, phù hợp với mong muốn của Chính phủ và nhân dân hai nước.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Lễ báo công dâng Bác của Tập đoàn Công nghiệp hóa chất Việt Nam

Sáng ngày 09/8/2012, trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tập đoàn Công nghiệp hóa chất Việt Nam đã tổ chức lễ báo công dâng Bác.

tap doan hoa chatLễ báo công dâng Bác của Tập đoàn Công nghiệp hóa chất Việt Nam

Khắc ghi và thực hiện lời dạy của Bác, trong những năm qua, phong trào thi đua Lao động giỏi – Lao động sáng tạo đã được lãnh đạo các cấp Tập đoàn Công nghiệp hóa chất phát động và nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của toàn thể cán bộ, công nhân viên, người lao động. Phong trào thi đua Lao động giỏi – Lao động sáng tạo trong 5 năm qua đã luôn là phong trào mũi nhọn, là trọng tâm hoạt động của Công đoàn nhằm khơi dậy niềm say mê sáng tạo trong lao động để hướng phong trào thi đua tham gia vào giải quyết những khó khăn, những vướng mắc trong thực tiễn của cơ sở, tiết kiệm nguyên vật liệu, cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm an toàn lao động, bảo vệ môi trường, đồng thời tích cực đẩy nhanh tốc độ phát triển trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn. Nhiều đồng chí là lãnh đạo các đơn vị đã nhiệt tình hưởng ứng và tham gia tích cực phong trào Lao động giỏi – Lao động sáng tạo, đẩy mạnh phong trào tại đơn vị. Nhiều công nhân lao động qua phong trào thi đua, tích cực học hỏi, không ngừng vươn lên đã trở thành những cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý xuất sắc, được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Tổng Liên đoàn và các phần thưởng cao quý khác.

Trong 5 năm (2007 – 2011) đã có 15.305 ý tưởng được báo cáo, với số tiền làm lợi trên 467,404 tỷ đồng. Cũng nhờ tổ chức tốt công tác thi đua, thường xuyên tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm, khen thưởng kịp thời, phong trào thi đua đã góp phần tích cực đưa hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn liên tục tăng trưởng với mức tăng trưởng bình quân 7,6% /năm; doanh thu tăng 19%/năm; người lao động được bảo đảm việc làm với mức thu nhập bình quân tăng 17,2%/năm. Các hoạt động của tổ chức Công đoàn luôn luôn được đẩy mạnh, đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của người lao động được nâng cao. Tập đoàn đã có 277 cá nhân được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng Bằng Lao động sáng tạo. Trong số các đồng chí đó có 13 người được tặng từ 03 Bằng Lao động sáng tạo trở lên và nhiều đồng chí đạt được giải cao trong các kỳ thi sáng tạo khoa học công nghệ cấp tỉnh, 01 đồng chí được Giải thưởng Khoa học công nghệ VIFOTEC.

Đồng chí Hoàng Văn Tại, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Phân lân nung chảy Văn Điển, đại diện cho 11 giám đốc  công ty được tặng Bằng Lao động sáng tạo phát biểu tại buổi lễ cho biết: Trong 5 năm qua, đồng chí đó có 12 sáng kiến cải tiến kỹ thuật áp dụng vào sản xuất, làm lợi 5,525 tỉ đồng, được Chính phủ tặng Bằng khen năm 2011; Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng 11 Bằng Lao động sáng tạo; được Bộ Công thương tặng Bằng khen về thành tích trong hoạt động khoa học công nghệ giai đoạn 2006 – 2010.

Đồng chí Bùi Kiều Hưng là kỹ thuật viên công nghệ Xưởng Nhiệt, Công ty TNHH một thành viên Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc là một trong những lao động giỏi. Trong 2 năm vừa qua, đồng chí đó có 03 sáng kiến cải tiến, hợp lý hóa được áp dụng vào sản xuất, liên tục từ năm 2007 đến nay đồng chí đều đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở; năm 2011 được Công đoàn Công nghiệp hóa chất Việt Nam và Bộ trưởng Bộ Công thương tặng Bằng khen.

Đồng chí Dương Văn Vũ, Trưởng phòng Công nghệ Công ty cổ phần Công nghiệp Cao su miền Nam cũng là một trong số 93 lao động giỏi được tuyên dương lần này. Hưởng ứng phong trào thi đua “ Lao động giỏi – Lao động sáng tạo” tại Công ty được tổ chức hàng năm, nên đồng chí đã có nhiều cố gắng và đạt được nhiều thành tích. Riêng trong năm 2010 đồng chí đó cú 02 sáng kiến cấp Công ty và giá trị làm lợi là 582.497.400 đồng/năm.

Trước anh linh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 117 cán bộ, đoàn viên xuất sắc đại diện cho gần 28.000 cán bộ, đoàn viên của Tập đoàn, toàn thể cán bộ, công nhân viên chức, người lao động Tập đoàn Công nghiệp hóa chất Việt Nam xin hứa: Tuyệt đối tin tưởng vào con đường đi lên CNXH mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, nguyện đoàn kết, vượt qua khó khăn, đem hết sức lực và trí tuệ của mình cống hiến cho ngành, cho đất nước, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Kết thúc buổi lễ, Đoàn đại biểu đã thành kính đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Hải Yến
bqllang.gov.vn

Chế độ thực dân Pháp và xứ Đông Dương (6-1928)

Trong tất cả các thuộc địa Pháp, Đông Dương là một thuộc địa rộng nhất và giàu nhất, với 710.000 kilômét vuông, 20 triệu dân và 4 tỷ đồng về thương nghiệp hằng nǎm.

Người xứ Đông Dương cũng là những người bị bóc lột và bị chà đạp nhất vì thuế khoá mỗi nǎm một tǎng lên:

1913: 57.000.000 đồng (tính số tròn)

1915: 62.000.000 ” “

1917: 70.000.000 ” “

1920: 84.000.000 ” “

1922: 87.000.000 ” “

1928: 91.500.000 ” “

Ngoài khoản sưu thuế đó, người Đông Dương còn bắt buộc phải đóng góp nhiều khoản khác nữa: 32.300.000 phrǎng cho chi phí quân sự, 700.000 phrǎng cho chi phí hàng không (1927), v.v..

Trong khi bóc lột người bản xứ, bọn đế quốc Pháp lại cho là chúng đang đem lại sự giáo dục và dân chủ cho họ.

Với 20 triệu dân, mà (nǎm 1926) Đông Dương chỉ có được 3.395 trường học với chưa đầy 214.000 học sinh. Trong khi đó, người Đông Dương – do sáng kiến của mình – đã tổ chức ra 6.751 trường học, tập hợp được 99.800 học sinh. Nhưng Chính phủ thuộc địa lại cố tìm mọi cách để cản trở phong trào giáo dục đó: họ thường đóng cửa các trường tư hoặc cấm người bản xứ không được tổ chức các trường tư mới. Đó là nói về giáo dục.

Còn đây là “dân chủ”: Một giáo viên bản xứ lĩnh 555 phrǎng và một giáo sư người bản xứ lĩnh 1.200 phrǎng mỗi tháng, còn một giáo viên người Pháp lại lĩnh những 3.750 phrǎng và một giáo sư người Pháp lĩnh những 6.000 phrǎng mỗi tháng, đấy là chưa kể mọi thứ phụ cấp mà chỉ riêng giáo viên và giáo sư người Pháp mới được hưởng.

Ta hãy nêu ra một vài con số nữa: một viên thiếu uý Pháp lĩnh 62.244 phrǎng; một viên trung uý Pháp được 77.844 phrǎng; một viên đại uý Pháp thì được 93.444 phrǎng; một viên công sứ ở Bắc Kỳ thì mỗi nǎm được 234.000 phrǎng, chưa kể các khoản phụ cấp. Còn một công nhân nông nghiệp người bản xứ thì mỗi nǎm kiếm được từ 400 đến 500 phrǎng.

ách thống trị của bọn đế quốc được dựng lên không những chỉ bằng chính sách ngu dân, chế độ không bình đẳng và nạn bóc lột, mà còn bằng chính sách khủng bố và mật thám nữa. ở Pháp, người ta nói rằng xứ Đông Dương chưa bao giờ được phồn thịnh và an ninh như thế cả. Nhưng nhà tù ở Đông Dương lại chật ních và chế độ kiểm duyệt thì thường xuyên.

Đây là một đoạn trích dẫn hai chỉ thị của Chính phủ nói về chế độ kiểm duyệt:

“Tôi ra lệnh cho các ông… phải thoả thuận với các chủ sở bưu chính để đặt việc kiểm soát các thư từ và vǎn kiện đủ các loại nhằm chặn những thứ đó lại cho kịp thời…”.

Lệnh này là do viên thống sứ ở Cao Miên ký ngày 24-7-1925 gửi cho các nhân viên cảnh sát.

Một chỉ thị khác, gửi ngày 17-10-1926, yêu cầu các tỉnh trưởng hoặc những đại diện của họ phải hợp tác với cảnh sát để làm công việc đó và cho phép họ được “vào phòng gửi các bưu kiện để kiểm duyệt các thứ đó”.

Người dân Đông Dương bị tước quyền tự do được tổ chức, đi lại, ǎn nói và viết lách, họ đều bị bịt mồm bịt miệng và bị giám sát, tuy vậy đế quốc Pháp vẫn cứ luôn luôn run sợ cho nền thống trị của chúng. Chúng sợ cách mạng từ ngoài vào. Chính Varen, đảng viên

Đảng Xã hội là người được chúng giao cho trách nhiệm phải “trừ” mối nguy cơ đó. Và thực ra thì anh chàng đảng viên của Quốc tế thứ hai ấy đã cố gắng hết sức để xứng đáng với lòng tin cậy của các ông chủ của hắn. Chúng ta hãy nghe những lời thú nhận do anh ta ký tên đǎng trên tờ Tư bản ngày 21-2-1928:

“Phương pháp trừ bỏ một nguy cơ là phải phòng trước nguy cơ đó. Chính tôi đã làm như thế. Tôi đã đặt biên giới vào tình trạng phòng thủ. Lúc tôi sang tới nơi, thì số quân của ta giảm đi một nửa so với hồi trước chiến tranh, quân nhu thì rõ ràng là thiếu thốn, các vùng biên giới được trang bị tồi. Đồng ý với Chính phủ, tôi đã tìm đủ mọi cách để trong một thời hạn ngắn nhất, cải thiện được tình hình thật sự nguy ngập đó. Ngay trước khi tôi sang Đông Dương, quân nhu, đạn dược cũng đã được tải từ Pháp sang, tiếp theo là vũ khí, sau cùng là quân đội tiếp viện. Ngay khi tôi sang tới nơi, người ta đã gấp rút trang bị cho quân đội đóng ở vùng giáp giới Trung Quốc. Bây giờ, đằng sau vỏ bọc chắc chắn hơn, chúng ta có thể dứt điểm tiến hành tổ chức quân đội”.

Ngài Varen đã quên không nói thêm rằng mình cũng đã bán đạn dược cho bọn quân phiệt Trung Quốc ở Vân Nam, bạn đồng minh của ngài.

Dù bọn xã hội đế quốc chủ nghĩa có đề phòng như thế nào đi nữa, thì nạn nghèo khổ và sự bóc lột vẫn cứ thúc đẩy người dân Đông Dương làm cách mạng, để đạp đổ ách thống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc Pháp.

WANG

———————

Tập san Inprekorr, tiếng Pháp, số 49, tháng 6-1928
cpv.org.vn

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn được trân trọng ở Thái Lan

Nhiều thập niên qua, không chỉ cộng đồng Việt kiều mà cả người dân Thái, nhất là ở vùng Đông bắc nước này, vẫn còn nhắc mãi về một người làm cách mạng có tên là Thầu Chín với tấm lòng thương yêu và trân trọng.

HCM luon duoc tran trong o thai lanCác thanh thiếu nhi là con em Việt kiều múa hát trong dịp kỷ niệm
Ngày sinh của Bác tại Làng hữu nghị. (Ảnh: Ngọc Tiến/Vietnam+)

Những tình cảm và kỷ niệm sâu sắc về Người luôn được nhân dân Thái Lan trân trọng giữ gìn và ngày càng được vun đắp để làm tăng thêm mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước.

            Nhà cách mạng Thầu Chín

Trong quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi khắp năm châu, bốn biển, trong đó có Thái Lan. Người đã từng đến sống và hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước ở các tỉnh Udon Thani, Phichit, Nong Khai, Sakon Nakhon và một số nơi khác ở Thái Lan; để lại nhiều kỷ niệm sâu sắc và tình cảm đối với đất nước, con người xứ sở này.

Làng hữu nghị Thái – Việt ở tỉnh Nakhon Phanom được xây dựng và khánh thành vào năm 2004, để ghi nhớ một thời Bác Hồ đã sống và hoạt động tại đây với tên là Thầu Chín. Đó đồng thời là một trong những biểu tượng minh chứng cho tình hữu nghị giữa hai nước, sự yêu quý ngưỡng mộ của nhân dân Thái Lan, nhân dân Việt Nam đối với Hồ Chủ tịch.

Thầu Chín là bí danh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở Xiêm, nay là Vương quốc Thái Lan, trong thời gian năm 1928 – 1929. Thầu là tiếng Thái Lào, để gọi người nhiều tuổi và biểu thị sự tôn kính. Câu chuyện về cộng đồng người Việt cùng với Thầu Chín trên đất Xiêm ngày ấy đã vượt thời gian, trở thành một phần giá trị tài sản tinh thần, đặc biệt là ở những nơi dấu chân Người đã đi qua giúp nở hoa hữu nghị.

Được Việt kiều và nhân dân yêu nước Thái che chở trước sự truy lùng của mật thám Pháp, Thầu Chín ở Nakhon Phanom cho đến tháng 11 năm 1929 thì sang Trung Quốc, sau đó về Việt Nam chỉ đạo cách mạng. Ngoài bí danh Thầu Chín, một vài bí danh khác của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh cũng được Việt kiều tại Thái Lan nhắc đến với lòng kính trọng.

Theo tài liệu ghi nhận, từ Bản Mạy ở Nakhon Phanom, nhà cách mạng Thầu Chín thường có mặt tại các Bản Noọng Xén (cùng tỉnh Nakhon Phanom), Bản Đông thuộc tỉnh Phichít, Bản Noóng Ổn tỉnh Udon Thani…

Đến đâu Người cũng mang đến luồng sinh khí mới cho cuộc sống của bà con Việt kiều tại đó cùng với rất nhiều câu chuyện, rất nhiều thông tin được truyền đến bà con bằng phong cách nói chuyện rõ ràng và dễ hiểu, với sự hiểu biết rất rõ về tình hình kiều bào ở Thái Lan.

Bằng sự lôi cuốn và cảm hóa, Người mở mang tầm nhìn, cách nghĩ cho bà con qua các câu chuyện giản dị mà ẩn chứa nhân sinh quan sâu sắc, phổ biến cho bà con những kiến thức bổ ích về cách thức cải tạo vườn tạp thành vườn cây ăn quả, tìm chỗ đất thấp đào ao thả cá.

Người vận động bà con xin phép chính quyền sở tại mở lớp dựng trường dạy chữ quốc ngữ cho con em, động viên người lớn học cả chữ Thái, chữ Việt để biết những điều cần thiết cho cuộc sống hiện tại, đồng thời tạo nền móng cho quá trình học tập lâu dài để có những kỹ năng tự phân tích, tự tổng hợp ứng dụng vào làm ăn.

Và bao trùm lên tất cả là học để làm người, để có khả năng làm chủ bản thân trong mọi hoàn cảnh, để đủ hiểu biết mà chung sống hòa hợp với các cộng đồng có văn hóa khác nhau.

            Biểu tượng của tấm lòng cao cả

Nhân dịp Lễ kỷ niệm lần thứ 121 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và lần thứ 100 ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước vừa tổ chức ở Làng Hữu nghị Thái – Việt, Tỉnh trưởng tỉnh Nakhon Phanom, ông Lơngxặc Vinittraimôntri nói rằng tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và Thái Lan được vun đắp từ nhiều năm nay, nhất là từ thời Chủ tịch Hồ Chí Minh hoạt động tại làng Najok trong những năm 1928-1929. Nơi đây đã trở thành Khu Di tích, địa điểm du lịch mang tính lịch sử và văn hóa quan trọng của Thái Lan.

Khi dẫn đầu đoàn Việt Nam vừa sang thăm Thái Lan và trao các Huân chương, Huy chương và Bằng khen cho bà con kiều bào có nhiều đóng góp với sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, Thứ trưởng Ngoại giao kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Người Việt Nam ở Nước ngoài Nguyễn Thanh Sơn nói: “Thái Lan là địa bàn mà Bác Hồ của chúng ta đã sinh sống, học tập và hoạt động cách mạng ở đây. Tổ chức Việt kiều yêu nước tại Thái Lan cũng được Bác Hồ tổ chức, thành lập và xây dựng từ ban đầu cho nên quan hệ giữa nước ta với Thái Lan đang ngày càng được củng cố và phát triển tốt đẹp.”

“Hy vọng trên đất nước Thái Lan, với sự kính trọng của nhân dân Thái dành cho Hồ Chủ tịch, các Khu Di tích lưu niệm về Bác Hồ ở Bản Mạy và một số nơi khác sẽ được quan tâm và chúng ta sẽ cùng Thái Lan xây dựng những Khu Di tích đó xứng đáng với tình cảm, sự kính trọng của nhân dân hai nước dành cho Bác, xứng với vị thế và vai trò của Người trên thế giới” – Thứ trưởng nói thêm.

Theo Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn, các Khu Di tích và công trình ở Udon Thani, Khon Kaen cũng sẽ được Đảng và Chính phủ quan tâm đầu tư để tương xứng với một quốc gia có ngàn năm văn hiến như Việt Nam – đất nước luôn được bạn bè thế giới, trong đó có Thái Lan, ngưỡng mộ và khâm phục.

Bác Cao Văn San, Chủ tịch Tổng hội lâm thời người Việt Nam tại Thái Lan, cho hay hai tiếng Bác Hồ hết sức thiêng liêng đối với kiều bào và tình cảm của Việt kiều đối với Bác Hồ là không bao giờ phai nhạt.

Vào dịp 19 tháng 5 hằng năm, bà con Việt kiều thường tổ chức lễ kỷ niệm Ngày sinh của Bác, thắp hương tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh – một tấm gương sáng về đạo đức và sự tận tụy với Tổ quốc, nhân dân./.

Theo dangcongsan.vn
Kim Yến (st)

Tết

Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng đồng tình và bác ái. Trong lúc này toàn quốc đồng bào từ giàu đến nghèo, từ già đến trẻ, ai cũng sửa soạn ǎn Tết mừng Xuân. Tôi kêu gọi đồng bào và các đoàn thể làm thế nào để chia sẻ cuộc vui Xuân mừng Tết với:

Những chiến sĩ oanh liệt ở trước mặt trận,

Những gia quyến các chiến sĩ,

Những đồng bào nghèo nàn,

Sao cho mọi người đều được hưởng các thú vui về Tết Xuân đầu tiên của nước Việt Nam độc lập.

Hồ Chí Minh

Báo Cứu quốc, số 147, ngày 21-1-1946.
cpv.org.vn