Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong việc bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững

Trong vài ba thập kỷ gần đây, do sức ép của dân số và sự phát triển kinh tế thiếu tính toán, các nguồn tài nguyên trên trái đất ngày càng vơi cạn, môi trường bị suy thoái nghiêm trọng, thậm chí ở một số vùng có nguy cơ bị phá huỷ hoàn toàn. Hàng loạt các vấn đề về môi truờng đã nảy sinh như biến đổi khí hậu toàn cầu, suy thoái đa dạng sinh học, suy thoái tầng ô zôn, hoang mạc hóa đất đai,… Các vấn đề nêu trên đang là những thách thức đối với sự sống còn của loài người. Trước tình hình đó, chính phủ và nhân dân các nước không thể thờ ơ trước lời kêu gọi của nhiều tổ chức quốc tế: Hãy cứu lấy trái đất! Một trong những giải pháp đang được nhiều quốc gia triển khai nhằm “cứu lấy trái đất” là chuyển chiến lược phát triển thiếu kiểm soát lâu nay sang chiến lược Phát triển bền vững “Phát triển bền vững là phát triển nhằm đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng được nhu cầu của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” [6, tr. 9]. Như vậy, để phát triển bền vững, bên cạnh phát triển kinh tế – xã hội, cần phải quan tâm xây dựng một môi trường sống an toàn không chỉ ở hiện tại mà cho cả các thế hệ tương lai. Bảo vệ môi trường không còn là nhiệm vụ của một tổ chức hay cá nhân riêng lẻ nào mà là trách nhiệm của toàn xã hội. Chính vì vậy cần phải đẩy mạnh công tác “giáo dục môi trường”, phải làm sao cho ý thức bảo vệ môi trường trở thành nếp sống thường nhật của mỗi người.

1Sinh viên Trường Đại học Thủ Dầu Một tích cực bảo vệ môi trường

Lúc sinh thời, trong bất cứ hoàn cảnh nào, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng gắn cuộc sống của mình với thiên nhiên, môi trường. Thiên nhiên không những là nơi cung cấp những điều kiện sống và công tác mà với Người, thiên nhiên là người bạn, người cổ vũ, chia sẻ buồn vui. Ở thiên nhiên, Người tìm thấy một sự quân bình trong tâm hồn lúc thảnh thơi hay trong những giờ phút căng thẳng. Vì thế, thiên nhiên (sông, núi, trăng, sao, chim, hoa …) thường xuất hiện trong thơ của Người ngay cả khi “thân thể ở trong lao”, hay giữa núi rừng Việt Bắc, khi Người “chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”…

Thấy được vai trò to lớn đó của thiên nhiên nên Người chủ trương sống hòa hợp với thiên nhiên, môi trường. Theo Người, môi trường sống là yếu tố quan trọng đảm bảo sức khỏe cho cán bộ, chiến sĩ và giúp cho họ công tác tốt. Chính vì vậy, Người luôn căn dặn cán bộ phải chọn những nơi ở đảm bảo các “Phương châm”, các “điều kiện” sau: “Trên có núi, dưới có sông, có đất ta trồng, có bãi ta vui .. Nhà thoáng, ráo, kín, mát.” [3, tr. 73]. Khi trở về Hà Nội, trong khu nhà đơn sơ của mình, Người đã tạo ra một môi trường thiên nhiên tuyệt đẹp. Người trồng nhiều cây trong vườn, chăm chút như chăm người ốm. Người chăm sóc ao cá và không cho phép ai xua đuổi hoặc bắn chim trong vườn. Người nói: Chim là của quý của thiên nhiên, phải bảo vệ chúng. Nhà thơ Cu-ba P. Rodrighet sau khi đến thăm nhà sàn Bác Hồ tại Thủ đô Hà Nội đã nhận xét: “Chúng tôi được biết có hai điều Bác Hồ yêu thích, đó là hoa và tiếng chim ca. Hoa và chim luôn luôn ở bên Người. Ngôi nhà nhỏ của Bác nhìn ra phía nào cũng có một ô cửa sổ, một bức tranh bằng ánh sáng, trong đó hiện ra những cành cây, và khi gió nhẹ thổi qua, bức tranh như có sức sống” [3, tr. 67]; đồng thời, Người luôn luôn quan tâm đến việc xây dựng môi trường sống trong lành từ những việc làm nhỏ hàng ngày đến những kế hoạch lớn của đất nước. Nếu chúng ta liên hệ đến thời điểm giữa thế kỷ XX, thời điểm mà vấn đề môi trường chưa đặt ra cấp bách như hiện nay và trong hoàn cảnh đất nước đang trải qua hai cuộc kháng chiến gian khổ để bảo vệ độc lập dân tộc thì chúng ta sẽ thấy được tầm nhìn sâu sắc, lâu dài của Người vì sự phát triển bền vững của đất nước.Trong sinh hoạt hàng ngày, thông qua những việc làm nhỏ của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ mong muốn xây dựng một môi trường sống trong lành cho các thế hệ tương lai.

Họa sĩ Diệp Minh Châu, người đã từng có một thời gian được sống gần Chủ tịch Hồ chí Minh tại chiến khu Việt Bắc vẫn cón nhớ mãi một câu chuyện: Hôm đó “Chủ tịch Phủ” phải dời đi nơi khác, anh em lo xếp gọn mang dụng cụ, tài liệu và dỡ chòi. Châu thấy Cụ Hồ hì hục đào hố trồng một cây quýt. Lấy làm lạ, Châu hỏi: Dời nhà rồi Bác, Bác còn trồng gì? Cụ Hồ đáp: “Ít bữa nữa cây quýt lớn lên, có trái, người đi đường, đi rừng có thể đỡ khát được” [3, tr.73]. Như vậy, trong một hành động nhỏ của Người đã ẩn chứa mong muốn rất cao đẹp. Với Người, trồng cây không chỉ để có bóng mát, trái ngọt cho hôm nay mà còn góp phần để lại thành quả ngày mai.

Dù ở đâu, trong thời gian dài hay ngắn Người đều tự tay trồng những cây xanh làm tốt tươi những nơi mình đi qua. Nhân dân địa phương thường gọi bằng cái tên trìu mến “Cây đa Bác Hồ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn muốn đi xa hơn nữa. Người không chỉ tạo cho mình môi trường sống trong lành, hòa hợp thiên nhiên mà còn muốn tạo ra điều đó cho nhân dân Việt Nam, để lại lợi ích cho muôn dời. Chính vì thế, Người đã phát động một phong trào trồng cây rộng lớn trong toàn thể nhân dân, từ các em thiếu nhi, thanh niên cho đến các cụ phụ lão. Người viết: “Việc này tốn kém ít mà lợi ích nhiều.”, Theo Người, mỗi người từ 8 tuổi trở lên đều có thể trồng cây, nếu tất cả nhân dân miền Bắc đều trồng từ một đến ba cây trong một năm, bắt đầu từ năm 1960 thì mỗi năm có thêm 15 triệu cây. Và “trong mười năm, nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu điều hòa hơn, cây gỗ đầy đủ hơn”[4, tr. 566]. Người diễn đạt ý nghĩa của việc trồng cây bằng thơ để ai cũng hiểu, cũng nhớ: “Muốn làm nhà cửa tốt,/ Phải ra sức trồng cây./ Chúng ta chuẩn bị từ rày, /Dăm năm sau sẽ bắt tay dựng nhà”.

Mùa xuân năm 1960, phong trào “Tết trồng cây” bắt đầu được phát động trong nhân dân. Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cố gắng đưa “Tết trồng cây” trở thành một phong tục tốt đẹp của nhân dân ta mỗi khi Xuân về, Tết đến. Mỗi khi đi thăm các địa phương, trường học, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều chú ý nhắc nhở công tác vệ sinh môi trường và động viên mọi người tích cực trồng cây. Đến thăm thôn Lạc Trung (Vĩnh Phúc), Người nhấn mạnh: “Muốn làm nhà thì phải có gỗ, muốn có gỗ thì hãy hăng hái trồng cây” [5, tr. 258]. Nói chuyện với nhân dân đảo Cô Tô ngày 9-5-1961, Người động viên: “Cần trồng nhiều cây ăn quả, cây lấy gỗ, cây ngăn gió. Trồng cây sẽ đưa lại cho nhân dân nguồn lợi to, lại làm cho xứ sở ta thêm tươi đẹp” [5, tr. 354]. Khi về thăm trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Người nói: “Lần trước đến thăm trường, Bác có nói hai điểm: một là vệ sinh, hai là trồng cây. Vệ sinh ở đây còn kém! Về trồng cây, Bác bảo nên trồng nhiều cây” [5, tr. 330]….

Trong những dịp nói chuyện với thiếu nhi, thanh niên, Người không quên nhắc nhở, động viên các em trồng cây. Nói chuyện với thiếu niên, nhi đồng trong dịp Tết Trung thu năm 1960, Người căn dặn: “Các em tiếp tục trồng cây nhiều nữa. Ở thành thị cũng như ở nông thôn các em nên thành lập những đội nhi đồng chăm nom cây cối để giúp đồng bào trồng cây nào sống cây đó, tốt cây đó” [5, tr. 220]. Đồng thời, với những địa phương, đơn vị không thực hiện tốt nhiệm vụ trồng cây, Người thẳng thắn phê bình. Người phê bình nhân dân Thái Nguyên: “Việc trồng cây gây rừng chưa được coi trọng, trồng cây nhưng chưa chú ý chăm sóc để cây chết, cán bộ, công nhân khu gang thép đốt cháy mất hơn 2 vạn cây” và yêu cầu “phải ra sức bảo vệ rừng, không để gây ra cháy rừng” [5, tr. 98]. Đồng thời, với những địa phương đơn vị có thành tích về vệ sinh và trồng cây, Người có lời khen ngợi và nêu gương. Người khen thầy trò Trường Trung cấp Thể dục thể thao (tiền thân của Trường Đại học Thể dục thể thao Từ Sơn ngày nay): “Ở đây các cháu có phong trào tăng gia sản xuất tốt, nhưng phải trồng thêm nhiều cây xanh…”. Người dặn thêm: “Nên cố gắng trồng nhiều cây có bóng mát để học sinh có nơi trú nắng” [1, tr. 98]. Người nêu tấm gương về thôn Lạc Trung (Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc): “Thôn Lạc Trung hồi kháng chiến bị giặc Pháp đốt sạch, không còn một gốc cây nào. Nhờ trồng cây có kế hoạch nên từ một thôn trơ trọi chỉ sau vài năm Lạc Trung trở nên xanh tươi nhất trong cả huyện Vĩnh Tường…Bà con xem đó, do Tết trồng cây mà đất nước ta càng thêm xanh tươi, nhân dân ta càng thêm giàu có” [5, tr.263-264].

Ngày nay, chúng ta có những rừng thông, rừng phi lao bát ngát, xanh rờn dọc chiều dài bờ biển, những con đường lớn, đường nhỏ được viền cây xinh xắn, những ngọn đồi được phủ xanh bóng mát,… Tất cả những khung cảnh này đã được Người sớm hình dung và cố gắng gây dựng bằng những “Tết trồng cây” đầy ý nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ chú trọng trồng cây ở nước ta, mà Người còn mong muốn việc làm đó phát triển ở nước khác. Trong những lần đi thăm các nước bạn, gặp gỡ nhân dân các nước đó hoặc khi đón tiếp các vị nguyên thủ quốc gia ở nước mình, Người đều tổ chức trồng cây lưu niệm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trồng cây đại ở Ấn Độ, trồng cây sồi ở nước Nga và Người gọi đó là “những cây hữu nghị” và nhân dân địa phương gọi là những “Cây Bác Hồ”. Các cây ấy lớn theo thời gian, không chỉ biểu hiện của tình hữu nghị tươi thắm giữa nhân dân Việt Nam và bầu bạn thế giới mà còn thể hiện ý thức làm đẹp môi trường sống.

Như vậy, lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh không những dành trọn cuộc đời mình đấu tranh cho độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân, mà với mong ước non sông, đất nước đời đời tươi đẹp, nhân dân Việt Nam mãi mãi được hạnh phúc vẹn tròn, Người sớm hình dung và chỉ ra những định hướng phát triển lâu dài cho đất nước. Định hướng đó không chỉ là những tư tưởng về xây dựng con người và môi trường xã hội mà còn nhằm xây dựng môi trường tự nhiên. Nhiều tư tưởng của Người về phát triển bền vững đã trở thành hiện thực. Ngày 17-8-2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam, trong đó đã thể hiện và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển bền vững. Đồng thời, đối với toàn thể nhân loại, chiến lược phát triển bền vững cũng đang là định hướng phát triển lâu dài với sự ra đời của Chương trình Chăm lo cho trái đất và Chương trình trồng rừng, bảo vệ rừng.

Hiện nay, nhiều vấn đề bức xúc về môi trường đang đặt ra ở nước ta, trong đó nổi bật là việc khai thác rừng quá mức gây hậu quả hết sức nghiêm trọng cho sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân. Do đó, hơn bao giờ hết, chúng ta cần phải thấy được tầm quan trọng của việc trồng cây, gây rừng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra từ nửa thế kỷ trước. Học tập tấm gương của Người, chúng ta cần đẩy mạnh phong trào trồng cây trong mọi tầng lớp nhân dân. Đồng thời, thực hiện đúng tư tưởng của Người: Trồng cây phải có kế hoạch dài hạn, tiến hành thường xuyên, đồng bộ chứ không chỉ một năm và ở một số địa phương nhất định; phải chú trọng trồng cây và chăm sóc cây, bảo đảm “trồng cây nào sống cây đó, tốt cây đó”, tránh việc tiến hành hình thức, chạy theo diện tích, số lượng. Mặt khác, cần tạo điều kiện cho lực lượng học sinh, sinh viên trong các trường học tham gia phong trào Tết trồng cây vì đây là hoạt động vừa có ý nghĩa thực tiễn vừa mang ý nghĩa giáo dục ý thức bảo vệ môi trường sâu sắc.

Tài liệu tham khảo

1. Bác Hồ với thể dục thể thao Việt Nam (1995), Nxb Thể dục thể thao, Hà Nội.

2. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (2007), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

3. Trần Văn Giàu (2008) Vĩ đại một con người, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

4. Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 9 (1958-1959) (2000), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

5. Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 10 (1961-1962) (2000), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

6. Luật bảo vệ môi trường (2005), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

ThS. Phan Thị Lý – ThS. Trần Thanh Hùng
GV. Khoa Khoa học Xã hội & Nhân Văn
Theo http://www.tdmu.edu.vn
Đỗ Long Văn (st)

bqllang.gov.vn

Hình ảnh, tư liệu xúc động về Bác Hồ

Ngày 21 tháng 8, Bảo tàng Hồ Chí Minh tỉnh Thừa Thiên Huế đã tổ chức Triển lãm “Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề xây dựng và chỉnh đốn Đảng” với nhiều hình ảnh, tư liệu có giá trị và tác động sâu sắc đến người xem.

Đây là cuộc Triển lãm trong khuôn khổ tỉnh Thừa Thiên Huế thực hiện Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” được thông qua tại Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI).

Với hơn 120 tư liệu, hình ảnh, hiện vật nhằm giới thiệu cho người xem biết được công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc xây dựng và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng lớn mạnh qua từng thời kỳ cách mạng; đồng thời giới thiệu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề xây dựng chỉnh đốn Đảng.

D1

Qua đó, góp phần tuyên truyền Nghị quyết Trung ương IV, động viên toàn Đảng, toàn dân quyết tâm thực hiện thắng lợi cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch vững mạnh, lãnh đạo nhân dân ta vượt qua mọi thử thách khó khăn; nâng tầm đất nước trên trường quốc tế.

Nội dung triển lãm gồm 3 phần: Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam; Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng xây dựng, rèn luyện và chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Việc tổ chức triển lãm” Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề xây dựng và chỉnh đốn Đảng” có ý nghĩa quan trọng trong việc đưa Nghị quyết của Đảng đến với toàn thể nhân dân, thực hiện một cách có ý nghĩa nhất lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

D2

D3

D4Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam 1

D5Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh ký bút danh X.Y.Z, viết xong tháng 10 năm 1947. Đây là một tác phẩm quan trọng về xây dựng Đảng, một tài liệu học tập của cán bộ để tu dưỡng đạo đức và tác phong làm việc

D6Bút tích đề tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuốn sổ vàng của Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc 9 năm 1949

D7Bác đến thăm và trao tặng Trường Võ bị Trần Quốc Toản lá cờ thêu sáu chữ vàng
“Trung với nước, hiếu với dân”, Sơn Tây, 26/5/1946

D8

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện tại buổi khai mạc lớp Chỉnh huấn cán bộ dân, chính,Đảng các cơ quan Trung ương. Người nói: “Nếu Đảng đã thập toàn thập mỹ thì tại sao lại phải chỉnh? Là vì có số đông Đảng viên gương mẫu, tận tâm tận lực phục vụ cách mạng, nhân dân, giai cấp, nhưng còn một số, không phải là ít, không làm đúng chính sách của Đảng, của Chính phủ, không đi đúng đường lối của nhân dân, còn yếu… Những đảng viên ấy chưa thực sự đứng đắn cho nên phải chỉnh” – Việt Bắc, 1953

D8aThư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi lớp Chỉnh Đảng Liên khu V về việc thực hiện
những yêu cầu trong việc chỉnh Đảng, 1952 (bút tích viết tay)

D9Chủ tịch Hồ Chí Minh  nói chuyện tại Hội nghị Tổng kết công tác kiểm tra của Đảng. Người yêu cầu: “Các ủy ban và các cán bộ kiểm tra phải học tập và thấm nhuần đường lối, phải trau dồi đạo đức cách mạng, quan điểm của Đảng”, Hà Nội, 29/7/1964

D10Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trang viết về Chỉnh đốn Đảng

D11

Chủ tịch Hồ Chí Minh  nói với đại biểu các đơn vị tham dự Hội nghị Tổng kết chiến dịch Lê Hồng Phong II. Tại Hội nghị, Người nói: “…Tự phê bình và phê bình phải thật thà vạch khuyết điểm. Có lỗi mà không vạch ra không khác gì người có bệnh mà không chịu khai với thầy thuốc… Muốn tự phê bình và phê bình có kết quả, cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cao cấp phải làm gương trước…” – Việt Bắc, 1950

D12

Chủ tịch Hồ Chí Minh  nói chuyện tại lớp bồi dưỡng cán bộ về công tác mặt trận. Người căn dặn: “Phải thành thực lắng nghe ý kiến của người ngoài Đảng. Cán bộ và đảng viên không được tự cao tự đại, cho mình là tài giỏi hơn mọi người. Trái lại phải học hỏi điều hay điều tốt của mọi người…”, Hà Nội, tháng 8 năm 1962.

D13Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với cán bộ cao cấp toàn quân,
Người căn dặn: “Các chú phải cố gắng học tập và luôn luôn
gương mẫu về đạo đức cách mạng”, Hà Nội, tháng 5 năm 1969

D14Chủ tịch Hồ  Chí Minh  trên đường đi dự Đại hội Đảng
lần thứ hai ở chiến khu Việt Bắc, tháng 2 năm 1951

D15Một số hiện vật về cuộc sống giản dị của Người

D16Bữa cơm đơn sơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường đi công tác Việt Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

D17Chủ tịch Hồ Chí Minh thân mật hỏi chuyện em Nguyễn Thị Thanh, Chiến sĩ thi đua ngành sản xuất Giấy, đại biểu ít tuổi nhất dự đại hội chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất, Tuyên Quang, tháng 5 năm 1952

D18Phiếu rút tiền tiết kiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng cho
bộ đội phòng không bảo vệ Thủ đô Hà Nội để mua nước uống, tháng 7 năm 1967

D19“Ngôi nhà sàn đơn sơ của Bác vẻn vẹn chỉ có vài ba phòng, trong lúc tâm hồn của Bác lộng gió thời đại, thì cái nhà nhỏ đó luôn luôn lộng gió và ánh sáng, phảng phất hương thơm của hoa vườn, một đời sống như vậy thanh bạch và tao nhã biết bao” (Phạm Văn Đồng, Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, năm 1970)

Theo Đại Dương/ dantri.com.vn
Kim Yến
(st)
bqllang.gov.vn

Thực hiện những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam – Người đã để lại những di sản tư tưởng vô giá trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, trong đó đặc biệt là những lời dạy có giá trị bền vững, mang ý nghĩa hiện thực to lớn đối với cuộc đấu tranh phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường hiện nay.

Trên thế giới, hiếm có vị lãnh tụ cách mạng nào lại bàn và chỉ đạo hoạt động nhiều về phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường như Lãnh tụ Hồ Chí Minh. Tại Hội nghị Tổng kết công tác nông – lâm – ngư nghiệp năm 1956, Người nhấn mạnh: “Nghề nông luôn phải đấu tranh chống những tai nạn của thiên nhiên: Hạn hán, lũ lụt, sâu bọ, chuột, dịch… lại còn phải đấu tranh với tập quán bảo thủ lạc hậu”. Người đã chỉ rõ nội dung, biện pháp phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường là phải toàn diện và chú ý phòng chống cả 3 loại giặc nguy hiểm đó là: “Giặc hạn hán”, “giặc bão lụt” và “giặc sâu bệnh”.

thực hiện

Phòng chống “giặc hạn hán”

Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định, hạn hán là một “loại giặc” nguy hiểm, phá hoại mùa màng, môi trường sinh thái. Theo Người, chống hạn là một chiến dịch, một công tác cách mạng, một cuộc thử thách đầy cam go. Người luôn tin tưởng vững chắc rằng, với ý chí, quyết tâm, sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, nhất định nhiệm vụ chống hạn sẽ đạt được thắng lợi. Tại Hội nghị Chống hạn năm 1958, Người phân tích: “Chống hạn là một chiến dịch cần phải cố gắng, phải kiên quyết, phải tin tưởng chống hạn thắng lợi, giúp đỡ nhau, thi đua lập công giữa địa phương này với địa phương khác … có đoàn kết, quyết tâm, giúp đỡ lẫn nhau, lại có thi đua thì nhất định thắng lợi”. Người đã đưa ra các biện pháp chống hạn là: “Phải tùy từng địa phương mà làm các việc đào mương, đào giếng, tát nước, giữ nước. Mỗi xã phải có kế hoạch nhỏ của xã mình; huyện, tỉnh phải có kế hoạch chung để điều hòa, phối hợp”.

Người kêu gọi mọi lực lượng, mọi lứa tuổi đều phải tham gia chống hạn: “Mỗi người phải ra sức chống hạn. Ai ai cũng thi đua tham gia chống hạn. Các cụ già có kinh nghiệm, thanh niên có sức lực làm đầu tàu. Các cháu thiếu nhi ra đồng động viên, nấu nước cho đồng bào uống. Mỗi người một tay, già trẻ góp sức, nhất định chống hạn thắng lợi”.

Phòng chống “giặc bão, lụt”

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã xác định, bão, lụt là “loại giặc” nguy hiểm hơn cả “giặc hạn hán”, không chỉ tàn phá môi trường, mà còn đe dọa nghiêm trọng tới tính mạng, tài sản của nhân dân, gây nên những thảm họa khủng khiếp. Theo Người, vấn đề quan trọng trước hết của công tác phòng chống bão, lụt là làm tốt công tác phòng hộ đê, chủ động chăm lo xây dựng, bảo vệ hệ thống đê vững chắc. Người cho rằng, giữ đê, chống lụt là nhiệm vụ khó khăn, quyết liệt, cần phải có ý chí quyết tâm cao, tổ chức chặt chẽ, chuẩn bị chu đáo. Trong thư gửi đồng bào các tỉnh có đê, Người chỉ rõ: “Trong việc giữ đê, tổ chức phải chặt chẽ, chỉ huy phải vững vàng, dụng cụ phải đầy đủ. Các đoàn thể Nông hội và Thanh niên phải xung phong, các đơn vị bộ đội phải tranh thủ thời gian giúp sức đồng bào”.

Trong hoàn cảnh chiến tranh, thiên tai thường đi liền với địch họa, sự “phá hoại kép” này luôn gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng. Năm 1968, Người đã chỉ thị: “Các ngành và các địa phương cần coi trọng hơn nữa việc phòng và chống lụt, bão, chống địch đánh phá đê, kè … phải vận động đồng bào làm nhiều thuyền, mảng, ụ đất, sàn gác, chằng chống nhà cửa cho vững, phòng khi lụt to,bão lớn. Phải giữ gìn và sửa sang hầm hố, phòng máy bay giặc Mỹ”. Thực hiện lời dạy của Người, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu, lao động quên mình, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ đê, kè trong các mùa mưa bão.

Phòng chống “giặc sâu bệnh”

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng xác định, sâu bệnh là một “loại giặc” không thể xem thường. Chúng có thể nhanh chóng tàn phá cây cối, phá hoại mùa màng, hủy diệt từng đàn gia cầm, gia súc. Theo Hồ Chí Minh, trừ sâu, diệt chuột là một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao năng suất cây trồng. Chính vì thế, nói chuyện với cán bộ, nhân dân các tỉnh Sơn Tây, Nam Định, Kiến An, Hải Ninh, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Đông, Cao Bằng … Người đã nhắc nhở, phải tích cực trừ sâu, diệt chuột để nâng cao năng suất mùa vụ.

Để nâng cao hiệu quả phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm chỉ đạo, giáo dục, động viên nhân dân ta tích cực trồng cây gây rừng và bảo vệ rừng. Trong 10 năm (1960-1969), Người đã có gần 20 bài nói, viết bàn về “Tết trồng cây”, bàn về trồng rừng và bảo vệ rừng. Từ rất sớm, Người đã có tầm nhìn chiến lược sâu sắc về mối quan hệ gắn bó giữa trồng rừng, bảo vệ rừng với bảo vệ môi trường sinh thái. Những lời dạy của Người về “Tết trồng cây”, về phong trào trồng rừng và bảo vệ rừng, có ý nghĩa hiện thực hết sức to lớn đối với sự nghiệp bảo vệ môi trường của Đảng và nhân dân ta trong thời kỳ mới.

Hiện nay, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn với sự tàn phá thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường của con người, đã dẫn tới nguy cơ ngày càng lớn về biến đổi khí hậu và nước biển dâng, đồng thời làm gia tăng thiên tai về cả quy mô và mật độ. Để thực hiện thắng lợi những lời dạy của Người, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải tiến hành đồng bộ nhiều chủ trương, giải pháp, trong đó trước hết cần tập trung thực hiện tốt một số vấn đề chủ yếu sau:

Phát huy sức mạnh tổng hợp để phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường.

Sức mạnh tổng hợp để phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường là sức mạnh đoàn kết của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; Sức mạnh của nền kinh tế, khoa học – công nghệ; Sức mạnh trong nước và quốc tế… Trong mọi hoàn cảnh, để phòng chống thiên tai thắng lợi, cần phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, điều kiện, cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện có, ứng dụng vào phòng chống từng loại thiên tai cụ thể.

Trong điều kiện mới, để nâng cao hiệu quả phòng chống hạn, chúng ta phải kết hợp phát huy sức mạnh của Trung ương và địa phương; thực hiện chiến lược thủy lợi đồng bộ; xây dựng hệ thống những hồ chứa nước lớn theo nhu cầu canh tác của từng địa bàn. Đồng thời, kết hợp với các đập ngăn nước của các nhà máy thủy điện điều tiết nước canh tác theo thời vụ. Hiện đại hóa các trạm bơm ở từng vùng, từng địa phương, bê tông hóa hệ thống mương máng trên đồng ruộng, gắn với quá trình xây dựng nông thôn mới.

Về phòng chống bão, lụt, cần thực hiện tốt Chiến lược hộ đê, củng cố, bảo vệ hệ thống đê điều vững chắc. Để kịp thời ứng phó với các tai họa do bão lụt gây ra, cần phát huy vai trò của các Ban Chỉ huy phòng lụt, bão và tìm kiếm – cứu nạn từ Trung ương tới từng địa phương và Cục cứu hộ, cứu nạn, Bộ Quốc phòng, nhất là vai trò ứng cứu của bộ đội biên phòng và lực lượng cảnh sát biển. Trong những năm tới, cần có những giải pháp đồng bộ, nhằm khắc phục tình trạng ngập úng tại các thành phố lớn, nhất là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Về phòng chống sâu bệnh, cần đẩy mạnh ứng dụng các công nghệ mới, nhất là công nghệ sinh học để diệt sâu bệnh ở từng loại cây trồng thích hợp. Sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật phải đúng liều lượng, đúng quy trình hướng dẫn, hạn chế tối đa dư lượng thuốc hóa học trên đồng ruộng.

Tăng cường nghiên cứu, không ngừng nâng cao chất lượng công tác khí tượng, thủy văn và môi trường.

Nâng cao chất lượng công tác khí tượng, thủy văn và môi trường là điều kiện cơ bản để nâng cao hiệu quả công tác phòng chống thiên tai. Trên thực tế, công tác phòng chống thiên tai luôn gắn liền với dự báo, cảnh báo thiên tai. Tuy nhiên, để có những dự báo kịp thời , chính xác, cần tăng cường nghiên cứu trên các lĩnh vục khoa học, cụ thể là: Nghiên cứu khí tượng nhiệt đới và bão, tương tác biển – khí quyển; khí hậu ứng dụng, dự báo khí hậu, biến đổi khí hậu, tài nguyên khí hậu, khí hậu địa phương; khí tượng nông nghiệp và dự báo; khí tượng thủy văn và tài nguyên nước, tính toán lũ lụt và tiêu thoát nước; môi trường không khí và chất lượng nước, đánh giá tác động môi trường; nghiên cứu động đất lãnh thổ và sóng thần, lãnh hải Việt Nam và các vùng kế cận; nghiên cứu vật lý khí quyển và ứng dụng trong công tác bảo vệ môi trường, phòng chống giảm nhẹ thiên tai; nghiên cứu đặc trưng ô nhiễm môi trường, an toàn đê đập; đánh giá độ nguy hiểm và độ rủi ro của động đất… Kết quả nghiên cứu về những lĩnh vục trên là cơ sở trọng yếu để dự báo, cảnh báo thiên tai kịp thời, chính xác, giúp cho nhân dân ta chủ động phòng chống, nhằm giảm thiểu tối đa những thiệt hại do thiên tai gây ra.

Đẩy mạnh trồng rừng, ngăn chặn, khắc phục nạn cháy rừng, phá rừng.

Hiện nay, cùng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, các loại rừng của nước ta ngày càng bị tàn phá nặng nề, nguy cơ thiên tai đe dọa ngày càng lớn. Để thực hiện lời dạy của Bác Hồ, Đảng ta đã đề ra Chiến lược trồng rừng với mục tiêu, đến năm 2015, tỷ lệ rừng che phủ đạt 43% và đến năm 2020 đạt 45%.

Để đạt mục tiêu, toàn Đảng, toàn dân ta phải đẩy mạnh công tác trồng rừng, phát triển rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng. Nhà nước phải có cơ chế, chính sách hỗ trợ để người dân có thể sống, làm giàu từ trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng. Đối với các tỉnh ven biển, cần động viên nhân dân trồng cây phi lao để chống bão cát và chống xói mòn. Đồng thời, tăng cường bảo vệ rừng, nỗ lực khắc phục nạn cháy rừng và phá rừng. Các địa phương cần phát huy vai trò của chính quyền, lực lượng kiểm lâm, lực lượng công an, bộ đội biên phòng… để đấu tranh ngăn chặn, kiên quyết loại bỏ nạn lâm tặc.

Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường, chúng ta cần phải tiến hành đồng bộ nhiều chủ trương, giải pháp, trong đó trước hết là phát huy sức mạnh tổng họp để phòng chống thiên tai; Tăng cường nghiên cứu, nâng cao chất lượng công tác khí tượng, thủy văn và môi trường; Đẩy mạnh trồng rừng, khắc phục nạn cháy rừng, phá rừng. Các vấn đề trọng yếu trên, được thục hiện tốt, nhất định cuộc đấu tranh phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường của nhân dân ta sẽ đạt được nhiều thành công.

PGS.TS Hà Huy Thông –  TCMT 07/2012
Theo http://vea.gov.vn
Đỗ Long Văn
(st)

bqllang.gov.vn

Đoàn đại biểu Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo Ưu tú của Bộ Giáo dục và Đào tạo vào Lăng viếng Bác

Ngày 14 tháng 11 năm 2012, Đoàn đại biểu Bộ Giáo dục và Đào tạo do đồng chí Trần Quang Quý – Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và các đại biểu là Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo Ưu tú đã hội tụ về Quảng trường Ba Đình kính cẩn đặt vòng hoa, dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 30 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 – 20/11/2012).

DSC 0377Thiếu tướng Đặng Nam Điền – Bí thư Đảng ủy, Chính ủy
Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng tiếp Đoàn tại Nhà khách Số 8 Hùng Vương

Trước khi Đoàn vào Lăng viếng Bác, thay mặt Thủ trưởng Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Thiếu tướng Đặng Nam Điền – Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng đã thân mật tiếp Đoàn tại Nhà khách Số 8 Hùng Vương. Đồng chí đã báo cáo với Đoàn khái quát kết quả giữ gìn thi hài Bác, quá trình xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiệm vụ đón tiếp đồng bào trong nước, khách quốc tế đến thăm quan Lăng và viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng chí mong muốn, lãnh đạo Bộ Giáo dục – Đào tạo tiếp tục chỉ đạo ngành xây dựng kế hoạch cụ thể để tổ chức thêm nhiều đoàn cán bộ, giáo viên trong cả nước về thăm Thủ đô và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong triển khai thực hiện học tập và làm theo tấm gwong đạo đức Hồ Chí Minh. Sau buổi tiếp, đồng chí thay mặt Thủ trưởng Bộ Tư lệnh trao tặng Huy hiệu Bác Hồ cho các đại biểu trong Đoàn.

DSC 0381Thiếu tướng Đặng Nam Điền trao tặng Huy hiệu Bác Hồ cho các  đại biểu

Thay mặt lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo, đồng chí Thứ trưởng Trần Quang Quý xúc động phát biểu cảm ơn sự đón tiếp chu đáo và những tình cảm tốt đẹp của Thủ trưởng Bộ Tư lệnh đã dành cho Đoàn và khẳng định sẽ tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo Ngành Giáo dục và Đào tạo tiếp tục triển khai sâu rộng, có sức lan tỏa mạnh mẽ hơn nữa đến toàn Ngành trong việc tu dưỡng rèn luyện, học tập tấm gương của Bác, góp phần đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Trần Tiên Long
bqllang.gov.vn

Chủ tịch Hội đồng Liên bang (Thượng viện) Quốc hội Liên bang Nga đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

CT hội đồngBà Valentina Ivanovna Matviyenko và Đoàn vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đoàn đại biểu cấp cao Hội đồng Liên bang (Thượng viện) Quốc hội Liên bang Nga do Bà Valentina Ivanovna Matviyenko, Chủ tịch Hội đồng Liên bang dẫn đầu sang thăm chính thức Việt Nam từ ngày 13 đến ngày 14/11/2012. Chuyến thăm được tiến hành theo lời mời của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng. Đây là dịp Quốc hội hai nước Việt Nam và Liên bang Nga sẽ tiếp tục đẩy mạnh quan hệ hợp tác, như trao đổi Đoàn ở các kênh, các cấp khác nhau, tiếp tục hợp tác trên trường quốc tế, phối hợp với nhau trong việc bảo đảm hiệu lực và tính thực thi cao của các điều ước quốc tế mà hai bên cùng tham gia. Việt Nam và Liên bang Nga đã thành lập các nhóm nghị sĩ hữu nghị Việt Nam – Liên bang Nga, coi đây là cầu nối quan hệ giữa Quốc hội hai nước.

Trong khuôn khổ chuyến thăm của Đoàn, sáng 14/11/2012, Bà Valentina Ivanovna Matviyenko và Đoàn đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh và thăm Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Đoàn đại biểu Hội đồng Liên bang Quốc hội Liên bang Nga Kính viếng”./.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước hiện nay đang đặt ra những yêu cầu mới cho nguồn lực con người. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng khẳng định: “Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao và coi đây là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước”(1). Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về con người xã hội chủ nghĩa vào chiến lược nâng cao nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa là một nhiệm vụ quan trọng để thực hiện chiến lược đổi mới toàn diện đất nước tạo tiền đề đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa.

1. Trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đường lối lãnh đạo, Đảng Cộng sản việt Nam xác định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển”(2). Quan điểm này đã thể hiện nhận thức khoa học của Đảng ta về bản chất con người trong mối quan hệ biện chứng của sự phát triển. Đồng thời, khẳng định sự nhận thức rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất con người và con người xã hội chủ nghĩa sẽ là cơ sở lý luận về Đảng và Nhà nước ta coi trọng vai trò con người để từ đó hoạch định đúng Chiến lược con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa.

Con người là vốn quý của xã hội nên con người giữ vai trò vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của tiến trình cải biến tự nhiên và xã hội. Điều đó khẳng định, con người chính là mục tiêu phát triển cao nhất của mọi quá trình phát triển tự nhiên, xã hội, đồng thời cũng là động lực của quá trình phát triển đó.

Với ý nghĩa nêu trên, con người đã trở thành nhân tố then chốt và là nhân tố quyết định của sự phát triển lịch sử. Bởi vì, chỉ có con người mới có trí tuệ và năng lực sáng tạo theo chiều hướng tiến bộ. Nói một cách khác, nhân tố con người là một tiềm năng vô tận của sự phát triển. Điều đó đồng nghĩa với việc nhân tố con người là cơ sở để hình thành nên nguồn lực con người, nhất là nguồn lực con người có chất lượng cao.

“Nguồn lực con người (hay còn gọi là nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên người) là nhân tố con người được xem xét, dự tính như một tiềm năng, một điều kiện cần và có thể phát huy thành động lực cho một quá trình phát triển xã hội, một chiến lược phát triển xã hội trong những thời gian, không gian xác định”(3). Nguồn lực con người được xem xét ở các tiêu chí: Số lượng và chất lượng con người (bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất); là tổng thể chất dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con người trong việc cải tạo tự nhiên và xã hội; là sự kết hợp sức lực và thể lực tạo nên năng lực sáng tạo, chất lượng, hiệu quả hoạt động và triển vọng phát triển mới của con người; là kinh nghiệm sống, đặc biệt là kinh nghiệm được tích lũy qua sự nếm trải trực tiếp của con người tạo thành thói quen, kỹ năng tổng hợp của mỗi người, của cộng đồng. Điều kiện để nguồn lực con người đạt tới các tiêu chí đó khi: “người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học, công nghệ hiện đại”(4).

2. Ngay từ những ngày hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã có nhận thức sâu sắc về con người và nhân tố con người. Ở Hồ Chí Minh, khái niệm con người luôn luôn được nhắc đến như một mục tiêu thiêng liêng và cao cả của sự nghiệp cách mạng mà cả cuộc đời Người hằng theo đuổi. Tư tưởng về con người, về việc giải phóng và phát triển con người, coi con người là nhân tố quyết định thành công của cách mạng luôn quán xuyến trong tư duy, đường lối và phương pháp lãnh đạo cách mạng của Hồ chí Minh. Người đã bộc bạch ham muốn tột độ của Người là: Đất nước được hoàn toàn độc lập, tự do. Đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Vì sự ham muốn tột độ đó mà Hồ Chí Minh đã phải trải qua 30 năm bôn ba ở nước ngoài, phải sống xa gia đình, quê hương, đất nước, chịu đựng bao khó khăn, gian khổ, phải vượt qua vô vàn những gian truân, thử thách để tìm ra chân lý cách mạng, con đường cách mạng giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và hạnh phúc cho nhân dân.

Với tư duy biện chứng sâu sắc về phát triển cùng với tầm nhìn “vượt gộp”, trong tư tưởng, Hồ Chí Minh quan niệm: Đất nước được độc lập, tự do phải gắn liền với ấm no và hạnh phúc cho con người ở những hưởng thụ cụ thể: ăn, mặc, ở, học tập, việc làm… những điều kiện đó chỉ ở chế độ xã hội chủ nghĩa mới có. Người nói: “Chủ nghĩa xã hội là mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do”(5), là “Được ấm no, hạnh phúc và học hành tiến bộ”(6). Mục đích của “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu, nước mạnh”(7), là “Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động”(8).

Xác định được mục tiêu và bản chất của chủ nghĩa xã hội, trên cương vị lãnh đạo của mình, Hồ Chí Minh đã lựa chọn con đường cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng xã hội, giải phóng con người và chủ nghĩa xã hội là con đường phát triển tất yếu của đất nước. Do đó, Người yêu cầu: “Muốn xã hội chủ nghĩa, phải có người xã hội chủ nghĩa. Muốn có người xã hội chủ nghĩa, phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa”(9). Những con người xã hội chủ nghĩa trong tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là những con người mới, những con người từ thân phận nô lệ vì mất nước vươn lên làm chủ xã hội, làm chủ sự phát triển của đất nước độc lập, tự do. Họ có vị trí và vai trò quan trọng trong quá trình phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để khẳng định được vị trí và vai trò then chốt này thì con người xã hội chủ nghĩa trong tư tưởng Hồ Chí Minh phải là con người Việt Nam phát triển toàn diện đáp ứng được những yêu cầu và đòi hỏi của chủ nghĩa xã hội với đặc trưng cơ bản là phải vừa “hồng”, vừa “chuyên”.

“Hồng” và “chuyên” là quan điểm nổi bật và có tính bao quát trong tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất con người mới xã hội chủ nghĩa. Hồng là phẩm chất, là đạo đức của người cách mạng: yêu nước, trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; chống chủ nghĩa cá nhân và có tinh thần quốc tế trong sáng. Chuyênlà sự thể hiện trí tuệ, là tài năng, là năng lực của cá nhân con người gắn liền với sự khổ công học tập, rèn luyện để có tri thức, nâng cao tri thức và dùng chính những tri thức mình có được để phục vụ lợi ích cho sự phát triển của cộng đồng, của chủ nghĩa xã hội. Hồng và chuyên, hay cách gọi khác là đức và tài trong mỗi con người đều rất cần thiết. Đây là hai mặt cơ bản của con người mới nói riêng và được xem như nội hàm của khái niệm con người mới xã hội chủ nghĩa trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Người nói: Đức là gốc nhưng tài là quan trọng và luôn dặn mọi người không được xem nhẹ mặt nào: có đức mà không có tài thì không khác ông Bụt trong chùa, không làm hại ai nhưng cũng không làm được gì có ích cho mọi người. Có tài mà không có đức thì sẽ trở thành kẻ phá hoại.

Lời nói của Người có ý nghĩa như một thông điệp để mong muốn mỗi con người hãy lấy cái thiện làm phương châm sống và rèn luyện cho chính mình để phấn đấu trở thành con người có ích cho cộng đồng, cho chủ nghĩa xã hội và cho nhân loại.

Như vậy, theo Hồ Chí Minh, hồng và chuyên của con người Việt Nam trong sự phát triển được hiểu là quá trình con người tự hoàn thiện bản thân theo yêu cầu của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và rèn luyện mình thành con người chủ nghĩa xã hội. Điều đó đòi hỏi trước hết sự phấn đấu vươn lên không ngừng của mỗi cá nhân con người theo hướng tự giác đấu tranh với những mặt lạc hậu, mặt xấu vốn tồn tại như bản năng tự nhiên của con người, đồng thời phải không ngừng học tập, tu dưỡng đạo đức cách mạng, lấy đạo đức cách mạng làm gốc “cũng như sông phải có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(10). Đồng thời, giữ gìn và phát huy những phẩm chất  đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa đạo đức của nhân loại. Sau đó, quan trọng  hơn là tham gia tích cực của con người vào sự cải tạo xã hội theo hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội mà cụ thể ở nước ta là thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc kết hợp với cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Sự kết hợp này, đòi hỏi con người Việt Nam phải có nhận thức mới về tư tưởng trong ý thức hệ. Từ ý thức cộng đồng, từ tinh thần yêu nước trong phạm vi dân tộc mang tính truyền thống phải được bổ sung và kết hợp nhuần nhuyễn với chủ nghĩa vô sản. Để từ đó, động lực lớn nhất của đất nước là chủ nghĩa dân tộc đã mang nội hàm mới, kết hợp giữa truyền thống với hiện đại, dân tộc với quốc tế và từ đó con người xã hội chủ nghĩa vốn được hình thành trong cách mạng dân tộc dân chủ, cần phải vuơn lên tự rèn luyện phẩm chất đạo đức, có ý thức phấn đấu suốt đời vì mục tiêu cao cả của lý tưởng chủ nghĩa xã hội.

Song hành cùng với nhận thức về tư tưởng, Hồ Chí Minh luôn coi trọng và rèn luyện ý thức phục vụ con người, phụng sự Tổ quốc và coi đây là một trong những nhân tố then chốt trong bản chất con người xã hội chủ nghĩa. Để làm được điều đó, Người đòi hỏi mỗi cá nhân con người xã hội chủ nghĩa phải là người gương mẫu, có tinh thần vì nước, vì dân, có tình yêu thương con người và phải biết hi sinh cái tôi của cá nhân mình để cống hiến và coi việc phục vụ nhân dân là niềm hạnh phúc, là nghĩa vụ thiêng liêng của đời người.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Ở một khía cạnh khác, nói đến con người xã hội chủ nghĩa là nói đến những người có tinh thần sáng tạo, làm chủ được khoa học công nghệ, ham học hỏi, biết vươn lên trong cuộc sống, trong công việc, luôn bổ sung kiến thức, trí tuệ và năng lực bằng con đường học tập đáp ứng nhu cầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa: “Chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học, chắc chắn sẽ đưa loài người đến hạnh phúc vô tận(11)”. Do đó, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh, đề cao và nêu bật vai trò của giáo dục đào tạo trong tiến trình xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa và coi đó là một chiến lược lâu dài. “Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”,Người luôn đặt niềm tin vào khả năng của giáo dục với mong muốn: có gì vẻ vang hơn là nghề giáo dục, đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa cộng sản. Người gửi gắm ở thế hệ trẻ: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không , dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”(12).

3. Với bất cứ một quốc gia nào thì vấn đề con người và nguồn lực con người luôn giữ vị trí quan trọng. Đây là nhân tố có tính chất quyết định đến sự thành công hay thất bại trong sự phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Trong đường lối lãnh đạo, Đảng xác định: “Chúng ta cần hiểu sâu sắc những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người, chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và văn hóa, mọi nền văn minh quốc gia… Con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là nguồn động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội”(13).

Ở giai đoạn văn minh hiện nay, loài người đã đạt tới một trình độ nhận thức mới về tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và phát triển con người. Trong đó, phát triển con người được xem là thước đo sự phát triển của mỗi quốc gia. Do đó, “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển  ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững”(14).

Trong tiến trình hội nhập theo xu thế phát triển chung toàn cầu, công cuộc đổi mới gắn liền với đường lối đẩy mạnh nền công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đất nước Việt Nam muốn phát triển nhanh, mạnh và bền vững thì đòi hỏi nguồn lực con người phải bảo đảm được cả yêu cầu về chất lượng cũng như số lượng. Trên cơ sở nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng của Người về bản chất con người xã hội chủ nghĩa nói riêng, ngoài công tác đẩy mạnh việc giáo dục đạo đức cho nhân tố con người Việt Nam, coi trọng, bồi dưỡng và tôn vinh nhân tài vì “hiền tài là nguyên khí quốc gia” thì cần coi trọng việc nâng cao chất lượng nguồn lực con ngươi gắn liền với Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo. Bởi vì, chỉ có phát triển giáo dục, đào tạo mới nâng cao chất lượng dân trí, đào tạo được nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, trang bị chuyên môn, nghiệp vụ, văn hóa, đạo đức, ý thức kỷ luật lao động cho con người…

Bản chất, hay nói cách khác chất lượng của nguồn lực con người, là sức mạnh trí tuệ và tay nghề. Muốn nâng cao chất lượng nguồn lực con người, đặc biệt là nhân lực có chất lượng cao thì phải coi trọng công tác giáo dục, đào tạo và khẳng định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu như sinh thời Hồ Chí Minh vẫn thường nhấn mạnh. Do đó, để đáp ứng được yêu cầu về nguồn lực con người với các tiêu chí đặt ra thì phải đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa; đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học; đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, đào tạo. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ thuật thực hành. Đẩy mạnh đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội; xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và tạo điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời. Đồng thời, đẩy mạnh công tác xã hội hóa, huy động toàn xã hội chăm lo phát triển giáo dục, mở rộng các hình thức đào tạo và thực hiện tốt yêu cầu bình đẳng về cơ hội học tập và các chính sách xã hội trong giáo dục; Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo nhằm phát huy tính tích cực và chủ động của con người v.v… Các trường chuyên nghiệp và đại học tập trung đào tạo nguồn nhân lực đủ khả năng tiếp cận công nghệ tiên tiến như trong Cương lĩnh phát triển kinh tế – xã hội đã được Đảng ta xác định phát triển khoa học và công nghệ thực sự là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững. Do đó, giáo dục và đào tạo phải bảo đảm tập trung đào tạo đội ngũ nhân lực cho công nghiệp hóa – hiện đại hóa đáp ứng được cả 2 tiêu chí đại trà và chuyên sâu, cả số lượng và chất lượng.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một quá trình tất yếu mang tính quy luật phổ biến để xây dựng đất nước giàu mạnh. Quá trình này đòi hỏi bước chuyển về chất của xã hội nhất là ở nước ta chuyển từ nền văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp đòi hỏi phải có sự nỗ lực về trí tuệ, kỹ năng, bản lĩnh của cả dân tộc. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về con người xã hội chủ nghĩa vào chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là điều kiện đảm bảo để đất nước Việt Nam phát triển bền vững, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Chú thích:
bqllang.gov.vn

———————————-

  1. 1.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXBCTQG, Hà Nội – 2011, Tr.41
  2. 2.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, SĐD , Tr.76-77
  3. 3.Học viện CT-HC Quốc gia Việt Nam, Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, NXBCT-HC, Hà Nội-2010. Tr.235,236
  4. 4.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ hai BCH Trung ương hóa VIII, NXBCTQG, Hà Nội -1997, Tr.9
  5. 5.Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd, T10, Tr.97
  6. 6.
  7. 7.Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd, T8, Tr.226
  8. 8.Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd, T10, Tr.271
  9. 9.Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd, T9, Tr.296
  10. 10.Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd, T9, Tr.253
  11. 11.Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd, T9, Tr.131
  12. 12.Hồ Chí Minh, toàn tập, Sđd, T4, Tr.33
  13. 13.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện HN tái bản lần thứ tư BCHTW khóa VII, NXBCTQG, HN – 1993, Tr.5
  14. 14.Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, SĐD , Tr.130

Th.s Cao Hải Yến
Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Kim Yến (st)

Đoàn đại biểu Tài năng trẻ khoa học, công nghệ Việt Nam năm 2012 báo công dâng Bác

Hôm nay ngày 08 tháng 11 năm 2012 giữa Quảng trường Ba Đình lịch sử, 141 đại biểu Tài năng trẻ khoa học công nghệ, các đại biểu đạt giải thưởng Khoa học kỹ thuật thanh niên Quả Cầu Vàng và 52 đại biểu là cán bộ phụ trách công tác tài năng trẻ của các tỉnh, thành Đoàn, Đoàn trực thuộc và Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam đã hội tụ về báo công dâng Bác.

BC  KHC3 Đồng chí Phạm Tấn Công thay mặt Đoàn báo công dâng Bác

Thấm nhuần lời dạy của Bác: “Ngày nay ta đã được độc lập, tự do, thanh niên mới thật là người chủ tương lai của nước nhà. Muốn xứng đáng vai trò là người chủ thì phải học tập”, các thế hệ thanh niên luôn ghi nhớ, tích cực học tập, lao động, lĩnh hội tri thức của nhân loại, đóng góp công sức của mình vào công cuộc xây dựng đất nước và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và là động lực phát triển kinh tế – xã hội. Trong số các đại biểu Tài năng trẻ khoa học, công nghệ tiêu biểu về dự Gặp gỡ toàn quốc Tài năng trẻ khoa học, công nghệ Việt Nam năm 2012 lần này, có nhiều đại biểu là các nhà khoa học trẻ đang làm việc tại các viện nghiên cứu, các trường đại học lớn, các đại biểu là học sinh, sinh viên, là những nhà công nghệ trẻ, có nhiều sáng kiến, sáng tạo trong ứng dụng, đổi mới công nghệ, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có giá trị cao như người máy, thiết bị hỗ trợ thận nhân tạo, các giống lúa kháng bệnh v.v … Có các tài năng trẻ xuất sắc được giải thưởng khoa học kỹ thuật thanh niên Quả Cầu Vàng cùng các thành tích, giải thưởng quốc gia và quốc tế khác.

“Gặp gỡ toàn quốc Tài năng trẻ khoa học, công nghệ Việt Nam 2012″  là cuộc họp mặt quy mô toàn quốc lớn nhất của các nhà khoa học trẻ, tài năng công nghệ trẻ. Mỗi đại biểu tài năng trẻ tham dự gặp gỡ là một tấm gương tiêu biểu của tuổi trẻ Việt Nam dấn thân, sáng tạo, đam mê trong nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ. Mỗi đại biểu là một tài năng, đầy tâm huyết và quyết tâm chung sức, đồng lòng cùng hàng triệu thanh thiếu niên góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam yêu dấu, đưa nước ta sớm sánh vai các cường quốc năm châu như Bác kính yêu hằng mong đợi.

Trong giờ phút thiêng liêng tại buổi lễ, bằng tất cả tình cảm biết ơn sâu sắc, thay mặt những đại biểu Tài năng trẻ Đồng chí Phạm Tấn Công, Giám đốc Trung tâm Phát triển khoa học công nghệ và tài năng trẻ Trung ương Đoàn, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tổ chức “Gặp gỡ toàn quốc Tài năng trẻ khoa học, công nghệ Việt Nam năm 2012” kính dâng lên Người những thành tích học tập, nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ mà tuổi trẻ đã nỗ lực phấn đấu trong thời gian qua.

Khắc sâu lời dạy của Bác và lý tưởng cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thế hệ trẻ hôm nay xin hứa với Bác sẽ phát huy những thành quả đã đạt được và quyết tâm học tập, nghiên cứu, nâng cao trình độ, khắc phục mọi khó khăn, thử thách, không ngừng phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện, góp sức trẻ thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

BC  KHC2Đoàn đại biểu Tài năng trẻ khoa học công nghệ toàn quốc năm 2012 vào Lăng viếng Bác

Kết thúc buổi lễ, Đồng chí Phan Văn Mãi, Bí thư Thường trực Trung ương Đoàn làm Trưởng đoàn, đã dẫn đầu Đoàn đại biểu Tài năng trẻ khoa học công nghệ toàn quốc năm 2012, kính cẩn đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Trần Tiên Long
bqllang.gov.vn

Tổng thống nước Cộng hòa Hồi giáo Iran đặt hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhận lời mời của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Ngài Mahmoud Ahmadinejad, Tổng thống nước Cộng hoà Hồi giáo Iran sang thăm chính thức Việt Nam từ ngày 9/11 đến 10/11/2012. Đây là chuyến thăm cấp cao nhất của lãnh đạo Iran tới Việt Nam kể từ năm 1995 nhằm tăng cường quan hệ hợp tác với Việt Nam, hướng tới kỷ niệm 40 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Ngoài ra, chuyến thăm của Tổng thống Ahmadinejad cũng nhằm thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực thương mại, nông nghiệp, thủy sản, văn hóa, thể thao và du lịch.

IranTổng thống Iran và các đại biểu trong Đoàn vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Việt Nam và Iran có quan hệ tốt đẹp. Hai bên đã thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 4/8/1973. Iran mở Đại sứ quán tại Hà Nội vào ngày 22/1/1991. Việt Nam mở Đại sứ quán tại Tehran tháng 12/1997. Tháng 9/2009, hai nước thành lập Hội hữu nghị Việt Nam – Iran. Hai bên cũng đã có các cuộc tiếp xúc và trao đổi nhiều đoàn cấp cao sang thăm lẫn nhau. Tháng 1/2012, hai nước đã tiến hành kỳ họp lần thứ VII Ủy ban Liên Chính phủ Việt Nam-Iran.

Trong khuôn khổ chuyến thăm của Đoàn, sáng 10/11/2012, Ngài Tổng thống và các đại biểu trong Đoàn đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ Việt Nam, đặt hoa tưởng niệm và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vòng hoa của Đoàn mang dòng chữ: “Mahmoud Ahmadinejad, Tổng thống nước Cộng hoà Hồi giáo Iran kính viếng”./.

Lan Hương
cpv.org.vn

“Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”

Sinh thời, trái tim người con vĩ đại của dân tộc – Chủ tịch Hồ Chí Minh không đứng cao vời vợi tách khỏi cuộc sống bình thường của mọi tầng lớp nhân dân mà ngược lại luôn tỏa sáng ấm áp, bình dị mà vô cùng cao quý. Con người ấy, tình yêu ấy được hun đúc từ chính bản sắc, tình yêu quê hương đất nước và sự gắn bó với cuộc sống của chính nhân dân mình, luôn gắn quyện với nhịp đập của cuộc sống đất nước, nơi mà người ấy gửi gắm một “ham muốn, ham muốn đến tộc bậc” là làm sao đem lại cuộc sống ấm no cho con người, đem lại tự do và hạnh phúc cho mọi tầng lớp nhân dân. Tình yêu ấy còn là niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh lớn lao, sức sáng tạo vô cùng của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Hơn ai hết, Người khẳng định mọi nguồn lực cách mạng là ở nơi quần chúng, sức mạnh kiến thiết cũng là nơi quần chúng, trong đó có thế hệ trẻ. Người luôn dành muôn vàn tình thương yêu và gửi gắm niềm tin khi đặt trọn tương lai của cách mạng, của dân tộc vào họ.

tuoitre1Bác Hồ với thiếu nhi Liên Xô khi Bác thăm đất nước Lênin – 1957.

Bác của chúng ta là con người sống có lí tưởng cao cả, giàu tình nhân ái, ân nghĩa, sống khiêm tốn, giản dị và quên mình. Tình yêu bao la đó trong trái tim một con người vĩ đại không chỉ dành riêng cho các tầng lớp nhân dân Việt Nam, thế hệ trẻ Việt Nam mà còn là tình hữu nghị quốc tế trong sáng dành cho bạn bè bốn biển năm châu bởi “Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Và như một lẽ tất nhiên, trong đó tình cảm dành cho thế hệ trẻ các nước luôn trong nhịp đập trái tim bao la tình thương yêu của Hồ Chí Minh và để lại cho thanh niên Việt Nam, thanh niên thế giới những tình cảm quí báu và những lời dạy thiết thực.

Tháng 3 năm 1961, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam – nay là Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Bác đã đến thăm và nói chuyện. Bác nói:

“ Nhà thơ Pháp, Vay-ăng Cu-tu-ri-ê viết: “ Chủ nghĩa cộng sản là mùa xuân của loài người”

Nhà thơ Xô-viết, Mai-a-cốp-xki viết: “Chủ nghĩa cộng sản là tuổi trẻ của thế giới do những người trẻ tuổi xây dựng nên”.

Bác thì nói một cách mộc mạc: Thanh niên Việt Nam, thanh niên thế giới! Hãy hăng hái tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng chủ nghĩa cộng sản!”

tuoi tre 2Bác Hồ với các cháu thiếu nhi Tát-gi-ki-xtan, ngày 27/7/1959

Lới nói “mộc mạc” ấy chính là lới kêu gọi nóng bỏng từ tấm lòng của một nhà hoạt động quốc tế sôi nổi, suốt đời phấn đấu không chỉ vì nền độc lập, tự do của đất nước, vì hạnh phúc của dân tộc mình mà còn vì tương lai tươi sáng của toàn nhân loại. Bởi vậy, trải qua bao gian khổ, mất mắt và hy sinh, khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, Bản Tuyên ngôn Độc lập ra đời đã đánh dấu chặng đường mới của đất nước, dân tộc ta. Cũng ngay sau đó là 30 năm gian khổ “Xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mỹ/Mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Tuy nhiên, trong bối cảnh kháng chiến chống Pháp, Mỹ và các thế lực tay sai, Người lại có những cuộc hành trình đầy tình hữu nghị tại nhiều nước anh em, bầu bạn, từng gắn bó với bao nhiêu con người thuộc mọi chủng tộc, màu da, tôn giáo, lứa tuổi với tư tưởng nhân văn“Giang sơn muôn dặm một nhà/Bốn phương vô sản đều là anh em”. Các bạn quốc tế cũng thân mật gọi Người là Cha, là Bác, là Anh. Năm 1946, khi sang thăm Pháp trên cương vị thượng khách của Chính phủ nước này, Bác có nhiều dịp tiếp xúc với đủ các giới chính khách, báo chí, văn nghệ, đảng phái, đoàn thể, quần chúng. Trên đất Pháp, Người đã trải qua cả một thời tuổi trẻ và kết bạn với nhiều chiến sĩ cách mạng cùng lứa tuổi. Sau này, chính Người tự nhận: “Tôi đã nhiều năm từng là dân Pa-ri”.

Bac ho voi thieu nhi bulgaryjpgChủ tịch Hồ Chí Minh với các cháu thiếu nhi Bungari trong dịp
Người 
 sang thăm Bungari năm 1957.

Có lẽ, mỗi chúng ta đa từng được nghe câu nói nổi tiếng của Người “Tất cả trẻ em trên thế giới là con tôi!”. Đó là câu nói của Người khi tiếp bố mẹ của cô bé Irina Đimitơriépna Đênia,là con của nhà báo X. Côlôxốp (X. Côlôxốp từng là phóng viên của Thông tấn xã Liên Xô APN) và vợ là bác sĩ Anna Xtaxia Vaxilépna, ở thành phố Giucốpxki, ngoại ô Mátxcơva được Bác Hồ nhận làm con đỡ đầu. Cuộc gặp gỡ ấy diễn ra vào tháng 11 năm 1960, Irasơca và bố mẹ đã được gặp Bác Hồ tại một ngôi nhà trên phố Alếchxây Tônxtôi, nhân dịp Người cùng Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam sang Mátxcơva dự lễ kỷ niệm lần thứ 43 Cách mạng Tháng Mười vĩ đại. Cuộc gặp gỡ đã diễn ra rất tình cảm và thân mật. Bác mời gia đình Irasơca cùng ăn trưa với Người. Trước đó, em bé có tên là Êlidabét, con gái ông Raymông Ôbrắc – cựu Ủy viên Cộng hoà ở Mácxây, nghị sĩ Quốc hội Pháp, được Bác Hồ đã đến bệnh viện thăm, tặng quà và nhận làm con đỡ đầu. Vào những dịp sinh nhật Êlidabét, Người thường gửi thư và quà tới và con gái đỡ đầu của mình. Quà của Bác là quả cầu nhỏ hay một con trâu bằng ngà, có khi là một bức ảnh chân dung của Người, hoặc một đồng tiền vàng có mang hình Bác và đặc biệt là tấm lụa vàng để may áo cưới. Hay em bé Knuth Wolfgang Walther Hartmann ở miền Nam nước Đức thì lại có vinh dự được làm con đỡ đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi có ngày sinh trùng với ngày sinh của Người: 19 tháng 5 năm 1951. Chính vì sự trùng hợp ngẫu nhiên này mà ông bà Walter R. Harlmann, cha mẹ của Knuth, đã gửi thư tới Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ cảm tình ủng hộ cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam và xin Người nhận Knuth Wolfgang Walther Hartmann làm con đỡ đầu. Việc Bác Hồ nhận những cháu bé người Pháp, Đức và Liên Xô làm con đỡ đầu đã thể hiện tấm lòng nhân ái và sự quan tâm của Bác dành cho thiếu nhi quốc tế, và cũng qua đó càng làm tăng thêm tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân Pháp, nhân dân Cộng hoà dân chủ Đức và nhân dân Liên Xô anh em.

Bac ho voi thieu nhi rumaniCác cháu thiếu nhi Ru-ma-ni vui mừng chào đón Bác Hồ sang thăm hữu nghị, 
ngày 17/8/1957

Còn ở Trung Quốc, khi nói chuyện với nhân dân Trung Quốc qua Đài Phát thanh Bắc Kinh, Người bộc lộ: “Tính tôi rất yêu trẻ con cho nên vừa đến Bắc Kinh, tôi vội đi thăm nhà giữ trẻ và Trường Tiểu học, thấy cháu nào cũng ngoan, cũng xinh đẹp, vui vẻ, mạnh khỏe, tôi rất sung sướng và thầm nghĩ rằng các cháu ấy sẽ là những công dân của xã hội cộng sản mà chúng ta đang phấn đấu để xây dựng cho tương lai”.

Bac ho voi thieu nhi trung quocBác Hồ với các cháu thiếu nhi tỉnh Giang Tô, CHND Trung Hoa, ngày 19/5/1961

Đi thăm các nước ở Châu Âu cũng vậy. Đến trại hè “Hen-nút Giút”, tới thành phố Ai-den-huýt-then-xlát, thăm thành phố cảng Rô-xtốc, vào vườn thú Béc-lin,..Bác đã vui cười nắm tay và dạo chơi cùng các cháu thanh niên, nhi đồng. Ở Nam Tư (cũ), Bác đã mời nhiều cháu nhỏ vào thăm nơi Bác ở, cho ăn bánh và uống sữa. Một cháu bé lên 3 được Bác xúc bánh cho. Các phóng viên ảnh đi theo, chụp hình ảnh ấy gửi đăng báo đã gây xúc động trong lòng nhân dân Nam Tư và các nước Châu Âu. Năm 1959, trong một chuyến đi nghỉ ở Liên Xô (cũ), Người đã vượt ngót trăm cây số xe hơi đến dự cuộc liên hoan của trại hè thiếu nhi Lếch-cút. Có nhà báo cùng đi trong đêm ấy đã tả lại: “Giữa trời đêm, vầng trăng tha thẩn soi bong trên mặt hồ Bai-can cách không xa ngọn lửa trại rực hồng. Chung quanh đó, các em thiếu nhi đàn, hát, múa và biểu diễn vở ba-lê “Hồ Thiên Nga”. Các em ríu rít, quấn quít bên Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người cha hiền từ giản dị như môt ông tiên đem lại cho các em muôn vàn tình thân yêu…”

Có lẽ không có nhà hoạt động chính trị nào trên thế giới này đã đi hầu khắp thế giới như Bác kính yêu của chúng ta. Và ở đâu Người cùng chiến đấu cho nhân dân lao động, cũng yêu quý thế hệ trẻ như chính nhân dân và thanh, thiếu niên nước mình. Và, Người tiếp xúc, chuyện trò với mọi tầng lớp nhân dân ở những nơi Người có mặt, nhất là với thanh niên và thiếu niên, nhi đồng – những người đặc biệt kính yêu Bác và được Bác dành cho sự trìu mến vô bờ bến. Người vui mừng trước các thành tựu của tuổi trẻ các nước, luôn nêu những tấm gương sáng trong chiến đấu và xây dựng đất nước của họ để tuổi trẻ Việt Nam noi theo, từ chị thợ dệt Nga Gaganôva, người thiếu niên dũng cảm Trung Quốc Lưu Hồ Lan đến những thanh niên Pháp anh hùng, như Hăngri Máctanh, Rây mông Điêng, những anh hùng vũ trụ trẻ tuổi Liên Xô như Gagarin, Titốp… Người xúc động trước những đau thương, mất mát do chiến tranh, thiên tai, áp bức gây ra cho các dân tộc và thanh niên ở một nơi nào đó trên trái đất.

Và như thế, Bác của chúng ta đã suốt đời mưu cầu hạnh phúc cho tất cả các dân tộc trên trái đất, và vì thế Người càng yêu quí thế hệ trẻ của mọi đất nước, lớp người giàu sức sống, giàu niền tin trong sự nghiệp xây dựng tương lai của đất nước họ, cùng vun đắp cho tình hữu nghị trên toàn thế giới cho đến khi Người đi về cõi vĩnh hằng./.

Tâm Trang
chinhphu.vn

Chuyện từ cây hoa Bác Hồ ở Lũng Trò

Đúng dịp tỉnh Tuyên Quang long trọng tổ chức lễ đón nhận Bằng Di tích quốc gia đặc biệt Tân Trào và kỷ niệm 67 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9, tôi tình cờ được nghe kể về một loài cây có tên “cây hoa Bác Hồ” ở Lũng Trò, xã Trung Trực (Yên Sơn) – nơi Bác Hồ đã ở và làm việc từ 19-12-1948 đến 10-1-1949. Vậy là thực hiện ngay chuyến đi đến nơi có câu chuyện kể và được biết thêm nhiều điều thú vị mà thiêng liêng.

Cây hoa Bác Hồ

Từ trung tâm xã Trung Trực, chúng tôi đi chừng hơn cây số đến Thôn 5, Đồng Hon. Leo hết con dốc phía bên phải tỉnh lộ 185 rồi xuống đến Lũng Trò. Đây là thung lũng nhỏ, xanh mát cây rừng, lọt giữa núi Lũng Trò, đồi Mỏ Noọng, đồi Trai Ảnh. Một dòng suối nhỏ, nước róc rách, len lỏi lộ cả những viên cuội dưới đáy như lời reo chào khách lạ. Ngôi nhà sàn ngay bên suối của vợ chồng chị Triệu Thị Hòa và anh Nguyễn Văn Hùng nằm đúng trên mảnh đất năm xưa dựng lán Bác Hồ. Chị Hòa bảo, cả thung lũng hiện có 2 hộ đồng bào Tày sinh sống, chứ ngày đó (ngày Bác Hồ và bộ đội về làm lán ở để lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp) tuyệt nhiên không có người ở, cây cối rậm rạp, rất nhiều cây Trò. Bà con gọi Lũng Trò là vì vậy.

Theo sách  “Di tích lịch sử – lưu niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đất Tuyên Quang” (Sở VHTT&DL tỉnh phát hành năm 2010), lán Bác ở Lũng Trò được làm theo kiểu nhà sàn, tầng trên để ngủ ban đêm, tầng dưới làm việc ban ngày, vừa tránh được thú dữ, vừa tránh không khí ẩm thấp của núi rừng. Lán quay hướng Nam, nhìn xuống suối. Sáng sáng Bác thường xuống suối rửa mặt, tay cầm theo ống bương đựng nước để khi trở lên đến thềm nhà thì rửa chân. Trước cửa lán, Bác trồng khóm hoa vừa để ngụy trang, vừa có hoa đẹp để ngắm. Từ căn lán này, ngày 19-12-1948, Bác Hồ đã viết Lời kêu gọi nhân ngày kỷ niệm hai năm kháng chiến toàn quốc, Điện gửi nhân dân Pháp, gửi thư cho đồng bào Công giáo toàn quốc nhân ngày lễ Thiên Chúa giáng sinh… Cũng tại đây, Bác gửi thư chúc mừng năm mới đến toàn thể đồng bào chiến sỹ nhân Tết Dương lịch 1949, ký Sắc lệnh thành lập một Hội đồng giáo dục có nhiệm vụ giúp Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục ấn định chính sách và kế hoạch giáo dục, nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục nước nhà. Bác thường xuyên truyền tinh thần lạc quan cách mạng đến cán bộ và nhân dân, chú trọng công tác tư tưởng, nhắc nhở các đồng chí cảnh vệ, phục vụ, bộ đội phải làm tốt công tác dân vận, tổ chức dạy chữ quốc ngữ cho dân, hướng dẫn bà con ăn ở hợp vệ sinh, tham dự các buổi sinh hoạt với nhân dân.

cay hoa bh 1Anh Nguyễn Văn Hùng (ngoài cùng bên phải) đang
 giới thiệu về cây hoa Bác Hồ ở Lũng Trò.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, Lũng Trò không còn rậm rạp, hoang vu như ngày ấy. Theo chân anh chị chủ nhà và anh cán bộ văn hóa xã, chúng tôi đến khu vực năm xưa là lán Bác. Căn lán Bác ở và các lán của bộ đội, của cán bộ phục vụ từ lâu đã không còn dấu vết. Nhưng thật kỳ diệu, khóm hoa Bác trồng nơi cửa lán năm xưa giờ vẫn xanh tươi, dù khu vườn đã qua biết bao mùa phát cỏ, gieo trồng. Đây là loại cây dây leo, rễ cọc cắm rất sâu vào đất, lá to hơn lá hoa nhài, thường nở hoa màu đỏ vào những tháng cuối năm âm lịch. Hết mùa hoa cũng là mùa gieo trồng vụ mới, người dân phát dọn cả khu vườn, nhưng chồi cây lại nhú lên từ sâu trong lòng đất, lại nảy lộc, đơm hoa. Người già, người trẻ ở Trung Trực đều khẳng định vùng này không hề có loại cây nào như thế. Không một ai biết tên cây. Chỉ biết cây do Bác trồng, nên bà con đã đặt tên cây là cây hoa Bác Hồ. “Trông cây lại nhớ đến Người”, trước vạt cây lạ, đặc biệt xanh tốt giữa đám dong giềng đang nở hoa đỏ ối bên dòng suối Lũng Trò, tôi bỗng như thấy hình ảnh Bác tại Lũng Trò, lúc suy tư làm việc trong lán, lúc ân cần trìu mến chăm sóc khóm hoa. Xin phép đưa một nhánh hoa về trồng, tôi muốn được chăm sóc hoa như lưu giữ một kỷ vật thiêng liêng về Bác. Được biết, gần đây xã Trung Trực đã giao nhiệm vụ cho anh chị Hùng – Hòa trông coi, chăm sóc khóm hoa. Vợ chồng anh đã coi đó là vinh dự của gia đình. Khung ảnh trong nhà hiện treo những tấm hình chụp các đoàn khách đến Lũng Trò thăm cây hoa Bác Hồ nở đỏ rực rỡ.

Khắc ghi lời Bác

Ông Ma Phúc Quý, nguyên Bí thư Đảng ủy xã Trung Trực năm nay đã gần bảy mươi tuổi. Ông là con trai của Chủ tịch Ủy ban Hành chính kháng chiến xã Ma Phúc Nghiêm ngày ấy. Trong căn nhà đơn sơ ngay cửa ngõ vào Lũng Trò, ông kể cho chúng tôi nghe chuyện cây hoa Bác Hồ, chuyện những ngày cha mẹ ông vinh dự được phục vụ Bác Hồ, phục vụ bộ đội. Hồi ấy ông còn nhỏ, nên những chuyện về Lũng Trò chủ yếu được biết qua lời kể của cha mẹ. Nào chuyện mỗi tuần, bộ đội trong lũng lại ra thôn dạy dân tập võ, vui văn nghệ; chuyện bà con trong thôn đóng góp tre nứa, lá cọ làm lán, đóng góp gà, gạo và các loại thực phẩm khác nuôi bộ đội.

cay hoa BH 2Trường THCS Trung Trực (Yên Sơn) mới được đầu tư xây dựng
 thu hút con em học sinh trong xã đến trường.    

Có gia đình đóng góp nhiều bạc trắng, có nhà đem đến con lợn 65 kg. Mẹ ông, bà Đào Thị Hồng vốn không biết chữ, nhưng được tổ chức phân công tiếp nhận đồ bà con ủng hộ Việt Minh, có cân đong cẩn thận, báo cáo Chủ tịch Ủy ban Hành chính kháng chiến xã viết giấy biên nhận, ký tên hẳn hoi. Những ngày Ban Việt Minh xã và bộ đội làm lán đón Bác Hồ, mẹ ông ngày ngày nấu cơm, cha ông đưa cơm vào trạm gác, đánh kẻng cho bộ đội ra lấy. Có một chuyện cha kể làm ông nhớ mãi. Ấy là một lần đưa cơm vào lán, được gặp cụ già dáng cao, râu dài ở một căn lán bên kia suối. Cụ già dặn dò: Chú là người đứng đầu phải gương mẫu vận động, giác ngộ cách mạng cho bà con để kháng chiến sớm thắng lợi. Lời dặn dò ôn tồn, giản dị mà sâu sắc. Sau này, khi mọi người trong các lán ở Lũng Trò đã rút đi nơi khác, ông mới biết cụ già hôm ấy chính là Bác Hồ. Luôn đinh ninh lời Bác, vị Chủ tịch Ủy ban hành chính kháng chiến xã đã lãnh đạo Trung Trực thành căn cứ cách mạng thủy chung, giữ bí mật, bảo vệ cán bộ. Cậu bé Ma Phúc Quý mới ra đời năm ấy được nuôi dưỡng và trưởng thành  trong truyền thống cách mạng của gia đình, thôn xóm, sau này thành bộ đội tận chiến trường nước bạn Lào, rồi đảm nhiệm cương vị Bí thư Đảng ủy xã (1996 – 2000), Chủ tịch Mặt trận tổ quốc xã (2000 – 2004).

Trong số những người cao tuổi nhất ở Trung Trực hiện nay có cụ Đàm Văn Xuyên, cũng nguyên là Bí thư Đảng ủy xã, Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng, ở thôn Đồng Quảng. Cụ Xuyên năm nay đã ngoài chín mươi tuổi, dáng vẻ chậm chạp, nhưng đôi mắt còn tinh anh và tai nghe vẫn rõ. Cụ rành rọt kể cho chúng tôi về những ngày Bác Hồ và bộ đội về Lũng Trò. Ngày ngày tập luyện, tối lại sinh hoạt nghe cán bộ nói chuyện, vui văn nghệ, học chữ quốc ngữ. Nhắc đến Di tích lán Bác ở Lũng Trò và cây hoa Bác Hồ, cụ Xuyên tỏ ý day dứt vì lúc còn công tác chưa đề nghị cho Lũng Trò được công nhận là Di tích lịch sử cách mạng. Nay cụ đã ở tuổi gần đất xa trời, chỉ mong các thế hệ sau giúp tháo bỏ niềm day dứt bấy lâu.

Trong câu chuyện với chúng tôi, Bí thư Đảng ủy Nguyễn Văn Sáu không giấu niềm tự hào vì Trung Trực vinh dự được Bác Hồ từng ở và làm việc, vì Trung Trực hiện vẫn lưu giữ được cây hoa Bác Hồ là kỷ vật thiêng liêng của Bác. Anh cho biết xã đã làm hồ sơ đề nghị cấp có thẩm quyền công nhận Lũng Trò là Di tích lịch sử quốc gia. Cây hoa Bác Hồ ở Lũng Trò đã được nhân gốc đem trồng trước cột cờ trụ sở xã để mỗi cán bộ, đảng viên ngày ngày chăm sóc như một lời tự nhắc nhở học tập và làm theo Bác. Đảng bộ Trung Trực nhiều năm liền trong sạch vững mạnh, được Tỉnh ủy tặng Bằng khen Đảng bộ trong sạch vững mạnh tiêu biểu (2009 – 2011). Trong Cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Trung Trực được huyện Yên Sơn chọn là xã điểm và được khen thưởng. Nhưng quan trọng hơn, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân trong xã đều nhận rõ những ưu khuyết điểm của mình để đề ra phương hướng khắc phục và đăng ký những việc làm theo Bác cụ thể, sát thực trong từng thời kỳ.

Năm 2012 này, mỗi tập thể, cá nhân ở Trung Trực đều chọn được nội dung làm theo Bác Hồ gắn với nhiệm vụ được giao. Đảng ủy xã chọn việc nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng, quan tâm phát triển đảng viên. Ủy ban nhân dân xã đề cao thực hiện cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, gần dân, lắng nghe dân. Chi bộ Trường Trung học cơ sở xã giúp học sinh có hoàn cảnh khó khăn, giúp đồng nghiệp sử dụng phần mềm tin học trong soạn giảng. Cá nhân đồng Chí chủ tịch Ủy ban nhân dân xã chọn thực hiện nội dung “nâng cao trình độ năng lực, nghiên cứu kỹ văn bản trước khi triển khai thực hiện, kiểm tra chặt giấy tờ trước khi ký”…

Nhớ lời Bác trong thư chúc mừng năm mới viết năm 1949 tại Lũng Trò “đồng bào sẽ xung phong thi đua tăng gia sản xuất về mọi nghề, mọi ngành, diệt giặc đói, giặc dốt…”, Trung Trực đã tìm được hướng phát triển từ chính đồng đất của xã. Cùng với cây lúa, xã đang phát triển hơn 200 ha cây dong giềng và cây chuối làm hàng hóa. Đã có những hộ đầu tư máy móc, nhà xưởng để thu mua dong củ, chế biến bột tại chỗ, giải quyết đầu ra cho cây dong. Dẫu đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, nhưng bà con vẫn tích cực tham gia các hoạt động vì cộng đồng, đóng góp làm đường bê tông đến các thôn được 2 km năm 2011, đóng góp xây dựng Tượng đài Bác Hồ với nhân dân các dân tộc Tuyên Quang được 10 triệu đồng, giải phóng mặt bằng xây dựng Trường Trung học cơ sở xã theo hướng chuẩn quốc gia, xây dựng hồ Khuôn Lù và các tuyến mương phục vụ sản xuất. Xã đã chỉ đạo việc củng cố các lớp học thôn bản, tạo mọi điều kiện để hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho 38 trẻ trong độ tuổi. Mức lương thực bình quân đạt 720 kg/người/năm  và 1,1 triệu đồng/người/tháng là kết quả đáng trân trọng đối với một xã vùng sâu, vùng xa.

Tạm biệt Trung Trực, trong tôi vẫn in đậm hình ảnh cây hoa Bác Hồ và những tâm sự của các đồng chí lãnh đạo xã về thực hiện lời dạy của Bác để phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Và mãnh liệt một niềm tin không lâu nữa, hồ sơ đề nghị Lũng Trò là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia (đã được Bảo tàng tỉnh trình Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) sẽ được phê duyệt, để nơi này là điểm đến giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ mai sau. Rồi đây, cây hoa Bác Hồ ở Lũng Trò với sức sống diệu kỳ từ hơn nửa thế kỷ qua sẽ được nhiều người biết đến, được nhân giống và chăm sóc ở nhiều nơi như giữ gìn một kỷ vật quý giá về Bác, như một cách để mỗi người tự nhắc mình thường xuyên học tập và làm theo Bác Hồ.

Theo baotuyenquang.com.vn
Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn

Chuyện về Bác Hồ với Vua bếp huyền thoại Escoffier

Laura Lam tiếp tục có viết về quãng thời gian Bác Hồ – khi đó là chàng thanh niên Văn Ba, làm việc cùng đầu bếp huyền thoại người Pháp Escoffier, với những chi tiết ít người biết về vị lãnh tụ của chúng ta.

“Đứng trước tòa nhà mới xây trên nền đất cũ, tâm trí tôi lại trở về với Khách sạn Carlton, nơi chàng thanh niên Văn Ba (Hồ Chí Minh) đã làm việc. Tôi mường tượng ra khu bếp lớn của Vua bếp Auguste Escoffier với đội ngũ 60 nhân viên của ông ấy, tất bật chạy quanh trong những bộ áo choàng trắng cùng mũ vải trắng tinh tươm.

chuyen ve Bac Ho voi nguoi dau bep 1Khách sạn Carlton năm 1920

Trước khi chuyển đến khách sạn Carlton lộng lẫy, Escoffier đã từng làm việc cho khách sạn Savoy, nơi ông xây dựng được danh tiếng là cha đẻ của phong cách nấu ăn Pháp. Escoffier là người cung cấp thực phẩm cho nhà bếp Hoàng gia Anh, cho các phụ nữ quý tộc Châu Âu, cho những người nổi tiếng và những người siêu giàu. Được Hoàng tử xứ Wales đánh giá cao, nên khi Hoàng tử trở thành Vua Edward VII năm 1901, Escoffier được giao trọng trách chuẩn bị cho bữa tiệc đăng quang của nhà vua mới. Năm 1913, ông gặp Hoàng đế Wilhelm II tại bữa tiệc chiêu đãi cấp quốc gia dành cho 146 nhân vật quyền cao chức trọng Đức. Hoàng đế đã rất ấn tượng với phong cách nấu ăn của Escoffier và dành cho ông lời ca tụng: “Tôi là Hoàng đế của nước Đức, nhưng ông là ông vua của các đầu bếp”.

Thực đơn của Escoffier gồm những món xuất phát từ những ý tưởng chỉ có ở riêng ông. Như món thịt gà đông được làm từ ký ức của ông về con tàu Jeannette bị mắc cạn trên băng năm 1881; món bánh làm bằng quả đào là để tỏ lòng tôn kính danh ca người Australia, Nellie Melba; món làm từ dâu tây, dứa, kem chanh là món ăn tỏ lòng kính trọng với nghệ sĩ Pháp lừng danh Sarah Bernhardt. Nhiều món ăn của ông đã trở thành những món ăn kinh điển của người Pháp.

Bí quyết của người đầu bếp huyền thoại này là sử dụng những thành phần tươi nhất và nguyên chất nhất để làm nên những món ăn với kỹ thuật cao nhất cùng tính giản đơn. Ông cũng đề cao tiêu chuẩn vệ sinh trong khi chế biến. Năm 1919, Tổng thống Poincaré đã trao tặng Escoffier Bắc đẩu Bội tinh để ghi nhận tài năng đặc biệt cũng như công lao của ông quảng bá phong cách ẩm thực Pháp. Ba năm sau đó, ông được phong chức Sĩ quan Đội sĩ quan danh dự nhân một bữa tiệc quốc gia tại Palais d’Orsay.

chuyen ve Bac Ho voi 2Khách sạn Carlton bị phá hủy trong cuộc chiến Blitz ở London năm 1940

Khách sạn Carlton là nơi được Winston Churchill (sau này là Thủ tướng Anh) yêu thích. Ngày 4/8/1914, khi Churchill đang ngồi dùng bữa trong khách sạn này, Anh đã tuyên chiến với Đức và các đồng minh của Đức. Chiến tranh đã bùng nổ hai ngày trước đó, khi quân Đức tấn công lính Pháp. Escoffier và Văn Ba cũng có mặt tại khách sạn khi lời tuyên chiến được đưa ra. Văn Ba đã rất phấn chấn. Anh âm thầm hy vọng cuộc chiến này sẽ dẫn đến sự sụp đổ của chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương. Ở London, anh lặng lẽ chờ cơ hội để bộc lộ. Escoffier tiếp tục phụ trách công việc bếp núc của khách sạn Carlton cho đến hết Chiến tranh thế giới thứ I (8/1914 -11/1918).

Khi Văn Ba bắt đầu công việc của mình vào mùa Xuân năm 1913, anh chỉ là một chân trong nhóm rửa bát ở khu bếp của Escoffier. Với nhân viên này, không có gì hay ho khi chứng kiến những khách hàng giàu có và nổi tiếng để lại nhiều thức ăn trên đĩa sau mỗi bữa. Bất kỳ khi nào nhìn thấy một khoanh bít tết lớn hay miếng thịt gà to còn chưa được đụng đến, anh lại chuyển chúng sang một chiếc đĩa sạch và gửi trở lại nhà bếp. Một lần, Escoffier hỏi Ba “Tại sao anh không vứt những thức đó vào thùng rác như những người khác? Ba trả lời “Những thứ này không nên vứt đi. Ông có thể mang chúng cho người nghèo”.

Escoffier lấy làm thích thú và tỏ ý rất hài lòng với câu trả lời này. “Chàng trai trẻ thân mến ơi, hãy nghe ta. Giờ thì gạt ý tưởng mang tính cách mạng đấy của anh sang một bên và ta sẽ dạy cho anh nghệ thuật nấu nướng. Nó sẽ mang đến cho anh rất nhiều tiền”.

chuyen ve Bac Ho voi 3Tấm bảng treo trên tòa nhà mới. Không có tài liệu nào của Khách sạn Carlton thoát khỏi cuộc chiến tranh. Các nhà sử học Nga và Việt Nam cùng những nguồn khác cho rằng chàng thanh niên Văn Ba đã làm việc ở Khách sạn Carlton từ năm 1913 đến 1917

Ngay sau cuộc đối thoại này, Văn Ba được đưa lên khu vực làm bánh và Escoffier đã truyền cho anh nghệ thuật làm món tráng miệng của Pháp. Anh làm theo những hướng dẫn của vị vua bếp một cách siêng năng và với niềm thích thú thực sự. Ba học rất nhanh công thức làm các loại bánh ngọt của Pháp. Escoffier là người tiên phong trong kỹ thuật trộn các thành phần bánh, xử lý bột nhào và bí kíp nướng bánh sao cho ra lò được những chiếc bánh với lớp vỏ giòn và bóng mịn.

Ngay từ đầu, người thày thông thái của Ba đã chú ý đến sự thông minh nổi trội của cậu học trò và ông luôn đánh giá cao tính chín chắn, thái độ lịch thiệp của Ba. Năm 1917, Escoffier chuẩn bị cho sinh nhật lần thứ 71 của mình, ông đã nghĩ đến việc nghỉ ngơi sau khi tìm được người sẽ kế thừa tài sản vô giá là những công thức làm món ăn của ông. Văn Ba đã theo học ông được 4 năm và là một trong những đầu bếp được ông quý mến nhất. Escoffier không nghi ngờ về việc Ba có được một sự nghiệp đầy hứa hẹn trong thế giới của các đầu bếp Pháp.

Tuy nhiên, một buổi tối, Ba đã nói chuyện với Escoffier. Tin tức về phong trào Duy Tân bị Pháp đàn áp đã đến với Ba và anh cảm thấy rất bồn chồn. Anh thông báo với Escoffier tin sẽ rời London và bắt tay vào một sứ mệnh mới. Có thể quyết định này bắt nguồn từ sự kiện ở Đông Dương, mà cũng có thể là do cuộc Cách mạng Nga bất ngờ nổ ra. Escoffier biết hoài bão chính trị của Ba rất tốt. Nhưng ông cũng cảm thấy buồn bã khi chàng thanh niên có vẻ ngoài thư sinh kia lại từ bỏ bộ đồ trắng để bắt đầu một cuộc sống mà khi ấy, ông cho là đầy những nguy cơ và không có gì chắc chắn.

Khách sạn Carlton bị Đức Quốc xã phá hủy hoàn toàn trong cuộc chiến tranh chớp nhoáng vào London, thường được gọi là cuộc chiến London Blitz, trong những năm đầu 1940, sau 57 đêm Hitler ra lệnh không kích liên tục thành phố này. Đây là giai đoạn đầu của cuộc Chiến tranh thế giới thứ II (tháng 9/1939-tháng 8/1945).”

Theo Laura Lam (Việt Hà dịch)
Dantri.com.vn
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Người thức trắng đêm vẽ tranh Bác Hồ

Ong Phan Thanh Tinh va buc anh Bac HoÔng Phan Thanh Tịnh và tác phẩm
“Bác Hồ bên cửa biển Nhật Lệ chiều 16-6-1957”

Chúng tôi tìm đến nhà ông Phan Thanh Tịnh ở Tiểu khu 5, phường Đồng Phú, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Ấn tượng đầu tiên đập vào mắt chúng tôi đó là căn phòng khách treo trang trọng những bức tranh khổ lớn vẽ Bác Hồ. Đối với ông Tịnh, mỗi bức tranh là những kỉ niệm mà ông không thể nào quên. Năm nay đã bước sang tuổi 72 nhưng ông vẫn còn khoẻ mạnh và minh mẫn. Tiếp chuyện chúng tôi, ông say sưa kể về những kỉ niệm trong những lần vẽ ảnh chân dung Bác Hồ.

Những năm 50 của thế kỉ XX, khi đang còn là cậu học sinh phổ thông Trường Đào Duy Từ, Phan Thanh Tịnh đã bộc lộ khả năng hội hoạ của mình khi được tham dự cuộc thi vẽ tranh liên hoan của thiếu nhi hai miền Nam – Bắc tại Cửa Tùng (Quảng Trị). Đến nay, dù đã trải qua nhiều vị trí và lĩnh vực công tác khác nhau nhưng ông vẫn miệt mài theo đuổi niềm đam mê hội hoạ. Và trong suốt chặng đường sáng tạo đó, ông đã dành phần lớn thời gian và tâm huyết cho những bức tranh vẽ về đề tài Bác Hồ. Ông kể: Ông được vinh dự trông thấy Bác Hồ vào ngày 16-6-1957, khi Người về thăm và nói chuyện tại lễ đài sân vận động Đồng Hới với hơn 3 vạn cán bộ, chiến sĩ và đồng bào Quảng Bình. Những hình ảnh, cử chỉ và giọng nói ấm áp, trìu mến của Người trong ngày hôm ấy mãi mãi đọng lại trong kí ức của ông. Nên sau đó, ý tưởng vẽ hình Bác luôn nung nấu trong trái tim ông. Bức tranh đầu tiên ông vẽ Bác vào năm 1967 với hình Bác to hơn người thật, được treo trang trọng tại Đại hội Quyết thắng của tỉnh tổ chức tại chiến khu Ba Rền.

Và tác phẩm đặc biệt thứ hai vẽ về Bác chính là bức chân dung được ông vẽ trong đêm 3-9-1969. Ông nhớ lại, đó là buổi chiều ngày 3-9-1969, khi ông đang bị ốm thì nhận được giấy triệu tập của đồng chí Trương Hoa – Chủ tịch thị xã Đồng Hới: “Bác Hồ kính yêu của chúng ta đang ốm nặng, nhỡ ra tình huống không qua khỏi, cậu (Phan Thanh Tịnh) phải nhanh chóng vẽ chân dung Bác để kịp hôm sau Đảng bộ và nhân dân tỉnh làm lễ truy điệu”. Khi được giao nhiệm vụ vẽ chân dung Người, tâm trạng ông rối bời bởi vừa lo tình hình sức khoẻ của Bác, vừa lo vì trọng trách được giao. Nhưng vì công việc quan trọng và khẩn cấp, ông bắt tay ngay vào công việc, ông chuẩn bị một tờ giấy rôki cỡ rộng, màu và bút vẽ.

Lúc đó, do ốm nên đầu óc ông cứ như bốc lửa, loay hoay mãi với những mảng màu, đường nét. Ông thật sự lúng túng thấy tay và mắt mình không làm chủ được nữa. Liền sau đó, khi nhận tin Bác Hồ không còn nữa, với niềm đau thương và kính yêu vô hạn đối với Bác, ông nhập hồn vào bức vẽ. “Tôi phải nén những giọt nước mắt để hoàn thành bức chân dung Bác cho kịp buổi Lễ Truy điệu ngày hôm sau. Đến gần 5 giờ sáng ngày 4-9-1969, tôi đặt bút xuống và báo cáo bức chân dung Bác Hồ đã hoàn thành, tất cả mọi người ngắm nhìn và oà lên khóc”… Kể đến đây, ông không kìm được cảm xúc, lấy khăn lau dòng nước mắt đang chảy dài trên gò má.

Cùng với bức tranh vẽ Bác ngày ấy, sau này ông Tịnh vẫn miệt mài vẽ tranh Bác Hồ. Trong đó phải kể đến những bức tranh ông vẽ chân dung Bác cùng Hôxê Macti – nhà tư tưởng, nhà văn hoá vĩ đại của Cu Ba – cùng lãnh tụ Phiđen Castro đã được tặng cho Đại sứ quán Cu Ba. Bức tranh vẽ Bác đứng cạnh Các Mác – Lênin được tặng cho Tỉnh uỷ Bình – Trị – Thiên. Hiện tại, trong căn phòng khách của ông treo đầy hình ảnh Bác. Trong đó, bức tranh “Bác Hồ bên cửa biển Nhật Lệ chiều 16-6-1957” được ông vẽ vào năm 1992, đã gây ấn tượng đối với nhiều người.

Cùng với niềm đam mê vẽ tranh về Bác, ông còn vẽ tranh cổ động, sáng tác thơ ca, hò vè và sưu tầm hàng ngàn câu tục ngữ, ngạn ngữ trong nước và thế giới… Nhiều bức tranh về đề tài chiến tranh cách mạng của ông hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Bình, đó là các tranh “Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Đồng Hới năm 1945”, “Lập chiến luỹ trên đường phố Đồng Hới” và “Lê Thành Đồng trên điểm cao 26”…

Theo Báo Đại đoàn kết
Thúy Hằng (st)
bqllang.gov.vn