Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Cuộc chiến với “bóng ma đêm” AC-130 trên Trường Sơn

QĐND – Ở chiến trường Trường Sơn, từ cuối năm 1970, không quân Mỹ đã nâng cường độ đánh phá ác liệt bằng không quân lên mức độ cao nhất có thể. Để ngăn chặn tuyến chi viện chiến lược cho các hướng chiến trường của Bộ tư lệnh Trường Sơn, đầu năm 1971, không quân Mỹ đã đưa loại máy bay AC-130 vào sử dụng. Loại máy bay này chỉ thực hiện oanh tạc vào ban đêm. Chúng không dám hoạt động ban ngày vì với độ kềnh càng của nó, lại bay với tốc độ chậm (tối đa 480km/giờ) nên nó dễ trở thành “mồi ngon” cho pháo cao xạ của ta. AC-130 được cải tiến từ loại máy bay vận tải hạng nặng C130 của không quân Mỹ. Nó dài 29,8m, sải cánh 40,4m, chiều cao 11,7m, trọng lượng 80 tấn, trọng tải 55 tấn, gắn 4 động cơ phản lực cánh quạt. AC-130 được lắp 2 súng máy 7,62mm, 2 súng 20mm. Một chiếc AC-130 có thể bay liên tục 4 giờ và có hệ thống tiếp dầu trên không. Nó mang trên mình hàng chục tấn đạn. Một chiếc AC-130 có thể khống chế các trọng điểm trải dài từ 200 đến 300km đường Trường Sơn trong nhiều giờ liền. Được trang bị các thiết bị ngắm bắn hiện đại nên khi phát hiện ô tô dưới mặt đất, từ độ cao 3000m, chiếc AC-130 có thể bắn một loạt đạn 20mm đỏ rực, cày giữa tim đường chạy dài cả trăm mét.

Với tính năng ưu việt đó, mỗi đêm không quân Mỹ chỉ sử dụng vài chiếc AC-130 là đã gây cho bộ đội ta rất nhiều khó khăn trên tuyến vận tải Trường Sơn.

Đầu năm 1971, lực lượng phòng không của Bộ đội Trường Sơn trên toàn tuyến được trang bị cao xạ 57mm. Để đối phó với bộ đội cao xạ Trường Sơn, ngay lập tức, chỉ mấy tháng sau AC-130 của không quân Mỹ đã được cải tiến lắp thêm pháo 40mm. Đồng thời, trên AC-130 được lắp máy ngắm bằng tia hồng ngoại. Có nghĩa là, ô tô của ta chạy đêm tối, từ độ cao trên 3000m, lũ AC-130 vẫn có thể nhận dạng được ô tô chuyển động nhờ bộ cảm nhiệt của tia hồng ngoại qua sức nóng của ống khói và máy ô tô. Dù là đêm tối, nhưng nhờ máy khuếch đại ánh sáng lên 4000 lần mà từ trên cao, chúng nhìn đường Trường Sơn rõ như dưới ánh trăng đêm rằm. AC-130 hoạt động thường được nhiều chiếc máy bay tiêm kích bay vòng ngoài bảo vệ. Lũ máy bay tiêm kích sẵn sàng lao vào oanh kích các trận địa pháo của ta khi các trận địa này nổ súng đánh trả AC-130.

Kíp trắc thủ Tiểu đoàn 67 (Trung đoàn 275) tham gia bắn rơi AC-130 ngày 29-3-1972. Ảnh tư liệu.

Mùa khô 1971-1972, AC-130 là nỗi ái ngại với bộ đội lái xe Trường Sơn. Có đêm, AC-130 đánh cháy hàng chục xe ô tô, nhiều chiến sĩ lái xe của ta bị thương vong. Chỉ tính riêng Sư đoàn 471 hoạt động ở Nam Lào, mùa khô năm 1972 đã bị máy bay Mỹ bắn cháy tới 223 xe ô tô vận tải chiến đấu (chiếm 28% tổng số xe của sư đoàn). Hai năm 1971 và 1972, Bộ đội Trường Sơn bị địch bắn hỏng 4000 xe (trong đó riêng AC-130 bắn hỏng 2000 chiếc).

Khi lực lượng phòng không Trường Sơn được trang bị pháo cao xạ 85mm, thì chỉ vài tháng sau, cuối năm 1972, AC-130 đã được cải tiến lắp thêm pháo 105mm để bắn phá các trận địa pháo của ta mà không cần gọi máy bay tiêm kích.

AC-130 là “ác quỷ”, là “bóng ma đêm” của không quân Mỹ trên đường Trường Sơn. Vì thế, trên toàn chiến trường Trường Sơn, phong trào tìm mọi cách tiêu diệt AC-130 đã được phát động. Lực lượng phòng không Trường Sơn dồn sức suy nghĩ, tìm các phương án tác chiến đánh AC-130 trong điều kiện đối mặt với máy bay tiêm kích bảo vệ chúng. Nhiều đơn vị phòng không ngoài việc tăng cường bảo vệ các trọng điểm, đã tổ chức thêm nhiều trận địa cơ động nhằm bảo vệ xe trên đường vận chuyển. Bắn rơi được một chiếc AC-130 không chỉ phá hủy một chiếc máy bay đắt tiền của không quân Mỹ, mà quan trọng hơn là tiêu diệt được một kíp lái 13 người. Đây sẽ là một tổn thất nặng nề về người của không quân Mỹ nếu một chiếc AC-130 bị bắn hạ.

Ngày 20-7-1971, Sư đoàn Phòng không 377 được Bộ Quốc phòng điều động trực thuộc Bộ tư lệnh Trường Sơn. Bộ cũng bổ sung cho Bộ tư lệnh Trường Sơn thêm 728 khẩu pháo phòng không các loại và 20.000 bộ đội và 15.000 thanh niên xung phong. Chưa bao giờ, lực lượng phòng không của Trường Sơn lại hùng hậu như thời kỳ này: Sư đoàn 377 (có 6 trung đoàn) và 12 Trung đoàn cao xạ và tên lửa độc lập. Đó là chưa kể 28 tiểu đoàn cao xạ của 25 Binh trạm Trường Sơn.

Từ tháng 10-1970, Bộ đã quyết định cho Bộ tư lệnh Trường Sơn lập thêm Cục Phòng không. Cũng thời gian này, Quân ủy Trung ương đã điều đồng chí Nguyễn Quang Bích, Phó tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân vào làm Phó tư lệnh Bộ tư lệnh Trường Sơn phụ trách tác chiến phòng không. Ngày 1-10-1971, Bộ Chính trị điều Đại tá Đặng Tính từ Quân chủng Phòng không – Không quân vào làm Chính ủy Bộ tư lệnh Trường Sơn. Điều đồng chí Phan Khắc Hy, Chính ủy Không quân vào làm Phó tư lệnh Bộ tư lệnh Trường Sơn. Việc điều động 3 đồng chí lãnh đạo của Quân chủng Phòng không – Không quân vào Trường Sơn, chứng tỏ việc đối phó với không quân Mỹ trên tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn là rất quan trọng.

Ngày 19-11-1971, Đảng ủy Bộ tư lệnh Trường Sơn tiến hành họp để bàn về việc tổ chức thế trận phòng không nhằm tiêu diệt không quân Mỹ, đặc biệt là máy bay AC-130. Nhiều biện pháp tác chiến đã được áp dụng trên toàn lực lượng của Bộ đội Trường Sơn: Xe ô tô chạy lấn sáng, lấn chiều, làm “giàn mướp” che kín toàn bộ phần đầu ô tô để chống AC-130 phát hiện bằng tia hồng ngoại, mở đường kín, ngụy trang đường nửa kín nửa hở, mở thêm nhiều hầm mang cá tránh bom đạn cho ô tô dọc các tuyến đường trọng điểm, xây dựng trận địa phòng không liên hoàn, xây dựng trận địa bí mật bất ngờ để đón lõng bắn hạ AC-130… Đấy là chưa kể, lực lượng công binh Trường Sơn phải đối phó với nhiều loại bom đạn mới của đế quốc Mỹ, trong đó có loại bom từ trường thế hệ 3 đặc biệt nguy hiểm mà không quân Mỹ thả xuống Trường Sơn từ đầu mùa khô năm 1971.

Tiên lượng khả năng không quân Mỹ sẽ mở đợt tập kích quy mô và ác liệt cao nhất bằng không quân vào Hà Nội và Hải Phòng có thể xảy ra. Quân ủy Trung ương đã điều đồng chí Nguyễn Quang Bích, Phó tư lệnh Bộ tư lệnh Trường Sơn trở lại Quân chủng Phòng không – Không quân. Đồng chí Nguyễn Quang Bích sau đó được giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy lực lượng phòng không Hà Nội trong 12 ngày đêm đánh trả quyết liệt không quân Mỹ tháng 12 năm 1972.

Cùng thời gian này, trên đường 22 thuộc khu vực Bộ tư lệnh 471, đêm đêm máy bay AC-130 hoạt động liên tục. Ngầm 22 là một trọng điểm khống chế của AC-130. Sau khi nghiên cứu quy luật hoạt động của lũ AC-130, Trung đoàn Cao xạ 593 – đơn vị trực thuộc Bộ tư lệnh 471, phát hiện rằng: Đường 22 nằm trên địa hình khá bằng phẳng của Tây Trường Sơn. Vì cho rằng mấy chục cây số đường 22 ta không bố trí lực lượng phòng không, lực lượng phòng không của ta chỉ bố trí quanh trọng điểm ngầm 22. Vì thế, trước khi bay vào trọng điểm, máy bay AC-130 thường hạ độ cao, bay dọc đường 22 để quan sát. Ban Chỉ huy Trung đoàn 593 đã chọn một quả đồi cách trọng điểm ngầm 22 khoảng hơn 10km. Trung đoàn đã bí mật lập một trận địa cao xạ 37mm ở đây. Sẩm tối một ngày đầu tháng 12-1972, chiếc AC-130 như mọi ngày hạ thấp độ cao để quan sát dọc tuyến đường 22, trước khi nó nâng độ cao để bay vào trọng điểm. Chiếc AC-130 nhìn to “như chiếc thuyền” lao thẳng về hướng trận địa pháo bí mật. Vì thế ngay từ loạt đạn đầu tiên, chiếc AC-130 đã bị hạ gục.

Sau khi chiếc máy bay AC-130 của Mỹ bị bắn hạ trên địa bàn tác chiến của Sư đoàn 471, nửa tháng liền sau đó ban đêm không thấy bóng AC-130 hoạt động tại các trọng điểm do Sư đoàn phụ trách.

Trong năm 1972, riêng lực lượng phòng không bảo vệ các cửa khẩu của Bộ đội Trường Sơn đã bắn hạ 7 chiếc AC-130 của không quân Mỹ. Chiến công này của bộ đội phòng không Trường Sơn đã khiến “bóng ma đêm” AC-130 của không quân Mỹ hoạt động không còn hiệu quả như mong muốn của chúng.

Có thể nói, bước sang năm 1972, đế quốc Mỹ đã tăng cường lực lượng và tần suất đánh phá bằng không quân ác liệt chưa từng có trên mọi tuyến đường của Trường Sơn. Chỉ riêng tháng 3-1972, có ngày đế quốc Mỹ dùng tới 51 lượt máy bay B-52 rải thảm các trọng điểm, các căn cứ của Bộ đội Trường Sơn mọi tuyến đường Trường Sơn. Các trọng điểm cửa khẩu, các trọng điểm vượt sông suối trên nhiều tuyến đường của tất cả các binh trạm đều bị đánh phá liên tục suốt ngày đêm. Ngụy Lào và ngụy Thái Lan tăng cường nống ra hòng ngăn chặn hoạt động của đường Trường Sơn phía Tây. Sư đoàn 968 quân tình nguyện của Bộ đội Trường Sơn được sự phối thuộc của lực lượng cao xạ thuộc Sư đoàn 471 đã mở chiến dịch đánh tấn công địch, buộc chúng phải tháo chạy khỏi thị xã Saravan, giải phóng thêm một vùng rộng lớn phía Tây Trường Sơn.

Tháng 12-1972, do phải tập trung lực lượng không quân đánh phá Hà Nội, Hải Phòng, nên số vụ B-52 rải thảm Trường Sơn giảm đi rõ rệt. Tuy nhiên, không quân Mỹ vẫn duy trì lực lượng máy bay tiêm kích và máy bay trinh sát đánh phá các trọng điểm trên đường Trường Sơn không hề giảm. Chia lửa với Hà Nội, Hải Phòng và miền Bắc thân yêu, các lực lượng phòng không của Bộ đội Trường Sơn đã chiến đấu dũng cảm, có đêm bắn rơi tới 7 máy bay Mỹ. Hà Nội, Hải Phòng và Trường Sơn là hai chiến trường mà đế quốc Mỹ gần như dồn hết sức mạnh của không lực Hoa Kỳ hiện có của khu vực Thái Bình Dương cho các mục tiêu đánh phá. Nhưng cuối cùng, đế quốc Mỹ đã thất bại thảm hại qua trận “Điện Biên Phủ trên không” trên bầu trời Hà Nội. Thất bại ấy buộc Tổng thống Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra ngày 30-12-1972 và ký Hiệp định Pa-ri ngày 27-1-1973.

PHẠM THÀNH LONG – Ủy viên Thường vụ, Phó trưởng ban Tuyên truyền Thi đua Hội Truyền thống Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh
qdnd.vn

Xây dựng niềm tin chiến thắng cho bộ đội

QĐND – Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta, Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là một trong những chiến công chói lọi, một sự kiện trọng đại và là một kỳ tích vô song, bởi đây được coi là “cuộc đụng đầu lịch sử điển hình nhất”, có ý nghĩa và tác động sâu xa cả về chính trị, quân sự, không những trong quá khứ mà cả hiện tại và tương lai. Trong cuộc đọ sức quyết liệt đó, với ý chí quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, quân và dân Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh phía Bắc đã đập tan ý đồ “thương lượng trên thế mạnh” của Ních-xơn và buộc chính quyền Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri vào ngày 27 tháng 1 năm 1973, tạo thế và lực mới cho cách mạng Việt Nam, thúc đẩy nhanh sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta sớm đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Đến đầu tháng 10 năm 1972, cục diện chiến tranh Việt Nam có những chuyển biến quan trọng. Ở miền Nam quân và dân ta liên tục giành được thắng lợi lớn. Mỹ vừa phải tiếp tục triệt thoái các đơn vị bộ binh, vừa phải “Mỹ hóa” trở lại bằng không quân và hải quân để thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, ngăn chặn cuộc chiến tranh của ta. Thời điểm này cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ đã đến gần, sức ép của chính giới Mỹ và cử tri có tác động mạnh mẽ đến đường lối của đương kim Tổng thống Ních-xơn. Nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới kịch liệt lên án và đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Phong trào phản đối chiến tranh ngày càng lên cao ở nước Mỹ, buộc Nhà Trắng phải tìm lối thoát cho vấn đề Việt Nam. Cuộc đàm phán ở Hội nghị 4 bên tại Pa-ri đã kéo dài 4 năm mà chưa đến hồi kết thúc. Trước sức ép đó, Ních-xơn đã cử Kít-xinh-giơ đến Pa-ri để nối lại cuộc thương lượng với Việt Nam; và kết quả là phía Mỹ chấp nhận hiệp định “Về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” do ta dự thảo. Hai bên đã đưa ra lộ trình cụ thể về việc ký hiệp định và thực hiện những điều cam kết trong hiệp định.

Nhưng với thái độ tráo trở và lật lọng, sau khi tái cử nhiệm kỳ hai, Tổng thống Ních-xơn trắng trợn xóa bỏ bản dự thảo Hiệp định đã thỏa thuận với Việt Nam, đòi sửa đổi nhiều điều trong bản dự thảo Hiệp định mà trước đó phía Mỹ đã hoàn toàn nhất trí. Đồng thời Ních-xơn và Lầu Năm góc đã bí mật, khẩn trương chuẩn bị kế hoạch tập kích đường không chiến lược quy mô lớn bằng máy bay B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương trên miền Bắc. Cuộc tập kích này được nhà cầm quyền Mỹ gọi là chiến dịch “Lai-nơ-bếch-cơ II”.

Thực hiện âm mưu này, đế quốc Mỹ đã huy động số lượng lớn máy bay, tàu chiến và các loại vũ khí vào chiến dịch. Đây là cuộc huy động lực lượng tập kích đường không lớn nhất của đế quốc Mỹ kể từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai, với lực lượng gồm 193 máy bay chiến lược B-52 (chiếm 50% lực lượng không quân chiến lược Mỹ), toàn bộ không quân chiến thuật của không quân và hải quân Mỹ ở Đông Nam Á, bao gồm 5 biên đội tàu hải quân, gần 1000 máy bay các loại, 50 máy bay KC-135 tiếp dầu trên không và sử dụng nhiều phương tiện kỹ thuật hiện đại khác.

Mặc dù vậy nhưng quân và dân ta không hề nao núng. Chúng ta đã tiến hành mọi công tác chuẩn bị, chủ động bước vào cuộc đụng đầu lịch sử. Với tinh thần cảnh giác cách mạng cao độ, ngay từ giây phút đầu tiên của chiến dịch này, bộ đội Phòng không – Không quân đã kịp thời phát hiện mục tiêu B-52 và giáng trả địch những đòn đích đáng. Ngay từ đêm 18-12-1972, Bộ đội Ra-đa anh hùng đã phát hiện sớm những tốp B-52 đầu tiên khi chúng còn cách Hà Nội hàng trăm ki-lô-mét. 19 giờ 44 phút, Bộ đội Tên lửa đã phóng những quả đạn đầu tiên vào đội hình B-52 mở màn chiến dịch. Hơn 20 phút sau, chiếc B-52 đầu tiên đã bị trừng trị, bốc cháy dữ dội rồi rơi xuống chính mảnh đất Thủ đô kiên cường. Trong 12 ngày đêm chiến đấu anh dũng, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược đường không quy mô lớn chưa từng có của đế quốc Mỹ. Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử “Siêu pháo đài bay B-52” thất trận và không quân Mỹ phải chịu thiệt hại nặng nề nhất… Trước sự thất bại liên tiếp trong 12 ngày đêm đánh phá miền Bắc, 7 giờ sáng 30-12-1972, Tổng thống Mỹ Ních-xơn buộc phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra và buộc Chính phủ Mỹ ký Hiệp định Pa-ri, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Có nhiều yếu tố tạo nên sức mạnh để làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, song yếu tố quan trọng nhất, quyết định nhất đó chính là “sức mạnh tinh thần”. Vũ khí, trang bị quân sự, cơ sở vật chất là yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh, nhưng vượt trên tất cả là sức mạnh của lòng quả cảm, ý chí quyết chiến, quyết thắng. Chính niềm tin chiến thắng, khát vọng hòa bình đã tạo nên một trận địa vững chắc để quân đội ta chiến đấu và chiến thắng. Sức mạnh ấy được kết tinh trong mỗi người dân, mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội ta và đã trở thành động lực thôi thúc họ đạp bằng mọi gian khổ, bất chấp mọi hiểm nguy, mưu trí, dũng cảm, kiên cường, sáng tạo lập kỳ tích vô song có một không hai trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ngày nay, nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc của quân đội ta hết sức nặng nề. Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (nếu xảy ra) sẽ là chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao (chiến tranh công nghệ cao) là một kiểu chiến tranh dựa trên cơ sở áp dụng những thành tựu mới nhất của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ vào việc trang bị vũ khí, khí tài chiến đấu, cũng như vào việc chỉ huy điều hành chiến tranh. Vũ khí, kỹ thuật trong chiến tranh công nghệ cao có tính năng rất ưu việt: Có sức cơ động cao, tầm bắn xa, độ chính xác lớn, sức công phá mạnh và khả năng tự động hóa cao. Khối lượng vũ khí, khí tài được sử dụng trong chiến tranh rất lớn và có độ tập trung cao trong một thời gian tương đối ngắn (trong 78 ngày đêm tấn công vào Cô-xô-vô, Mỹ và NATO đã sử dụng trên 1.100 máy bay hiện đại ném gần 9000 tấn bom; 14.000 tên lửa, trong đó có trên 800 tên lửa hành trình Tô-ma-hốc…). Bản thân chiến tranh đã mang trong lòng nó sự tàn khốc, ác liệt và nguy hiểm. Trong chiến tranh công nghệ cao, với khối lượng rất lớn và chất lượng rất cao của vũ khí, khí tài càng làm cho sự tàn khốc ác liệt và nguy hiểm tăng lên gấp bội. Do vậy, khi chiến tranh xảy ra sẽ có tác động rất lớn tới tinh thần và tâm lý của bộ đội.

Để giành thắng lợi trong chống chiến tranh công nghệ cao, đòi hỏi chúng ta phải làm tốt công tác chuẩn bị về mọi mặt, trong đó việc xây dựng ý chí, niềm tin cho bộ đội vào chiến thắng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ý chí, niềm tin vào chiến thắng là kết quả của quá trình giáo dục, rèn luyện bền bỉ lâu dài và sự trải nghiệm của bộ đội.

Ý chí, niềm tin là một cấu trúc tâm lý phức tạp bao gồm: Tri thức, tình cảm và sự trải nghiệm. Ba thành tố này hòa quyện với nhau tạo thành một “hợp kim” bền vững. Trong đó, thành tố làm cơ sở tiền đề cho việc hình thành niềm tin là tri thức. Do đó, quá trình xây dựng và củng cố ý chí, niềm tin vào chiến thắng cho bộ đội trước hết phải là quá trình trang bị nội dung hệ thống tri thức về chiến tranh công nghệ cao và đặc biệt là những tri thức về các yếu tố quyết định tạo nên chiến thắng của ta trong việc đánh trả chiến tranh công nghệ cao của địch. Khi những tri thức này đạt tới độ sâu, chính xác và mang tính thuyết phục cao, sẽ tạo nên thái độ, cảm xúc tích cực cho bộ đội và cùng với quá trình trải nghiệm trong hoạt động thực tiễn, niềm tin vào chiến thắng của bộ đội sẽ được hình thành và củng cố.

Đại tá, TS PHẠM DANH QUÝ, Văn phòng Bộ Quốc phòng
qdnd.vn

Vận dụng phương châm “lấy ít địch nhiều” trong chiến dịch phòng không

QĐND – Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đều phải đối phó với các cuộc chiến tranh xâm lược của kẻ thù có tiềm lực kinh tế, quân sự to lớn hơn ta nhiều lần. Do đó, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh là nghệ thuật tác chiến đạt đến trình độ đỉnh cao của ông, cha ta. Chiến dịch phòng không Hà Nội, Hải Phòng tháng 12-1972, Bộ đội Phòng không – Không quân nhân dân Việt Nam đã nắm vững và vận dụng sáng tạo, tài tình nghệ thuật tác chiến lấy ít địch nhiều giành chiến thắng oanh liệt. Có thể coi chiến thắng của “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” như một Bạch Đằng, Vạn Kiếp, Chi Lăng và Đống Đa… là đỉnh cao của nghệ thuật tác chiến lấy ít địch nhiều quân sự Việt Nam.

Để tiến hành chiến dịch Linebacker II, Quân đội Mỹ đã huy động 193 máy bay chiến lược B-52, chiếm gần 50% tổng số “pháo đài bay” có trong biên chế và 1.077 máy bay chiến thuật, chiếm 31% số máy bay trong biên chế của quân đội Mỹ. Với số lượng máy bay khổng lồ được sử dụng để đánh phá Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương miền Bắc nước ta bấy giờ cho thấy, mật độ dày đặc của số lượng phi cơ Mỹ được sử dụng và sức tàn phá ghê gớm của bom đạn mà chúng gây ra. Trong khi đó, xét về lực lượng phòng không, chúng ta chỉ có 4 trung đoàn tên lửa và 5 trung đoàn pháo cao xạ. Về không quân, chỉ có 9 phi công lái MIC-21 được đào tạo có đủ trình độ tác chiến ban đêm để đánh máy bay B-52 Mỹ. So sánh tương quan trong tác chiến, rõ ràng lực lượng không quân Mỹ có số lượng và trình độ kỹ thuật hiện đại vượt trội hơn ta nhiều lần. Tác chiến trong điều kiện như vậy, rõ ràng phòng không – không quân ta phải vận dụng một cách thông minh, sáng tạo nghệ thuật tác chiến lấy ít địch nhiều của ông, cha.

Kíp chiến đấu tên lửa nhận nhiệm vụ trước khi vào chiến đấu. Ảnh tư liệu.

Nguyên tắc cao nhất của nghệ thuật tác chiến lấy ít địch nhiều là phải đánh vào chỗ hiểm và tiêu diệt được bộ phận quan trọng nhất của quân địch, theo kiểu đòn đau nhớ lâu. Vận dụng thông minh và sáng tạo nghệ thuật tác chiến này, bộ đội tên lửa đã tiết kiệm từng quả tên lửa tập trung đánh và tiêu diệt bằng được càng nhiều càng tốt “pháo đài bay” B-52. Khi số tên lửa trên bệ phóng còn rất hạn chế, các đồng chí chỉ huy và trắc thủ các tiểu đoàn tên lửa thuộc Sư đoàn Phòng không 361 đã kịp thời đúc rút kinh nghiệm thực tiễn vượt trên lý thuyết bắn thông thường, sử dụng chỉ một đến hai quả đạn cho một lần phóng để bắn tan xác B-52 trên bầu trời Hà Nội. Không quân nhân dân Việt Nam cũng đã sáng tạo ra cách đánh hiểm, vượt qua sự bảo vệ dày đặc của các loại phi cơ hiện đại của quân đội Mỹ, đánh từ vòng ngoài vào trong vít cổ B-52 bằng cú đánh áp sát táo bạo chắc thắng.

Đòn đánh hiểm nhằm vào “pháo đài bay” B-52, con át chủ bài của không lực Hoa Kỳ đã làm nên chiến thắng oanh liệt của quân và dân Thủ đô. Toàn bộ chiến dịch, ta bắn rơi 81 máy bay, trong đó có 34 “pháo đài bay” B-52, 16 chiếc rơi tại chỗ. Như vậy, hiệu suất chiến đấu của lực lượng phòng không – không quân rất cao, với hơn 12% số máy bay B-52 địch sử dụng bị bắn rơi, chưa kể số bị thương. So sánh với số máy bay bị các nước bắn hạ trong các cuộc chiến tranh gần đây do Mỹ và đồng minh tiến hành, những con số nêu trên thật có ý nghĩa. Điều đáng nói ở đây là, cùng với 34 “pháo đài bay B-52” bị bắn rơi, mỗi kíp bay có 6 phi công và kỹ thuật viên, đây là những phi công, kỹ thuật viên ưu tú nhất của không lực Hoa Kỳ bị bắt hoặc bị chết. Từ sự ngạo mạn coi chiến dịch Linebacker II chỉ là một cuộc dạo chơi trên bầu trời Hà Nội, khi bị bắn rơi và được đưa vào khách sạn “Hilton Hà Nội”, các phi công Mỹ hết sức bàng hoàng. Tại các sân bay, những phi công thoát chết trở về cũng có tâm trạng hết sức hoang mang và lo sợ. Chính điều đó đã làm cho giới cầm quyền Mỹ phải tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra và ngay lập tức quay lại Pa-ri ngồi vào bàn đàm phán và ký hiệp định chấm dứt cuộc chiến tranh hao người tốn của theo những điều khoản của ta đưa ra. Điều đó cho thấy, sự hết sức lợi hại của nghệ thuật tác chiến lấy ít địch nhiều của ông, cha ta đã được kế tục một cách xuất sắc bởi những người lính trong thời đại Hồ Chí Minh.

Trong tương lai nếu chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xảy ra, điều chắc chắn chúng ta lại phải đối phó với những kẻ địch có tiềm lực kinh tế, quân sự to lớn hơn nhiều lần. Dân tộc ta là một dân tộc yêu chuộng hòa bình, nhưng nếu lại phải cầm súng bảo vệ Tổ quốc, thì nghệ thuật tác chiến của ông, cha sẽ mãi mãi là những bài học vô cùng quý giá được nắm vững và vận dụng sáng tạo để đánh bại bất cứ kẻ thù nào có âm mưu xâm lược nước ta. Dù chúng từ đâu đến và có tiềm lực kinh tế, quân sự to lớn hiện đại đến đâu cũng sẽ được nếm những đòn đau, bởi lối đánh hiểm của nghệ thuật tác chiến lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh đã được tôi luyện trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc.

Đại tá, PGS, TS HOÀNG MINH THẢO
qdnd.vn

Vừa đánh địch vừa rút kinh nghiệm

QĐND – Kíp chiến đấu của Tiểu đoàn 78 đêm đầu tiên bắn không trúng máy bay B-52, nhưng “người trong cuộc” đã nhận ra đặc điểm của nhiễu B-52 khác hẳn các máy bay khác, nhất là những máy bay chiến thuật giả tín hiệu B-52. Về cách đánh, bộ đội Tên lửa cũng nhận ra một điều, đánh máy bay B-52 trong nhiễu, khi không nhìn thấy “nó” thì phải chọn phương pháp điều khiển phù hợp.

Đêm 20-12-1972, sau hai ngày “bắn trượt”, nhờ rút kinh nghiệm kịp thời, Tiểu đoàn 78 đã bắn hạ chiếc B-52 đầu tiên cho đơn vị. Các trắc thủ sau khi “cọ sát” với nhiễu B-52 đã nhận biết được “địch” bằng quan sát trực tiếp, bằng phân tích, loại suy và bằng các thao tác cụ thể, chọn phương pháp bắn tối ưu.

Trong lý thuyết chiến đấu của hầu hết các khí tài phòng không điện tử, thì hiệu quả trúng mục tiêu cao hay thấp, ngoài việc phụ thuộc vào tham số kỹ thuật của khí tài, vào phương pháp xạ kích, còn có một yếu tố rất quan trọng nữa là trình độ thành thục trong thao tác của nhân viên. Điều này hội tụ đủ trong các kíp chiến đấu của lực lượng tên lửa phòng không của ta. Chọn được đội hình kíp chiến đấu giỏi, ăn ý, dũng cảm, sáng tạo trong trực chiến đánh máy bay B-52 tại mỗi tiểu đoàn hỏa lực tên lửa tháng 12-1972 cũng là một yếu tố mang tính thực tiễn sống động.

TRẦN DANH BẢNG
qdnd.vn

Những con số góp phần làm nên Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”

QĐND – Cách đây 40 năm, quân và dân Việt Nam đã lập lên kỳ tích “Điện Biên Phủ trên không”, buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Một trong những nhân tố góp phần đem lại chiến thắng vang dội này là sự giúp đỡ thiết thực và hiệu quả của bạn bè quốc tế, đặc biệt là về vũ khí, khí tài của các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) anh em.

Tên lửa Sam-2 được sử dụng trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”. Ảnh tư liệu

Trước tiên phải kể tới các loại pháo phòng không cỡ lớn, máy bay tiêm kích và tên lửa có thể chế ngự và tiêu diệt được máy bay B-52 – con chủ bài trong cuộc tập kích đường không của Mỹ tấn công ra miền Bắc. Theo thống kê của các cơ quan chức năng làm nhiệm vụ đặt hàng, tiếp nhận, từ năm 1965 đến 1972, các nước XHCN đã giúp Việt Nam khoảng hơn 7000 quả đạn tên lửa SA-75, gần 5000 khẩu pháo cao xạ các loại, gần 5 triệu viên đạn pháo cao xạ các cỡ, hơn 400 trăm máy bay chiến đấu MIG-17, 19, 21, K6, K5, cùng hàng trăm ra-đa tiên tiến hiện đại.

Việt Nam đã đưa ngay các vũ khí, khí tài này vào khai thác và sử dụng, trực tiếp phục vụ cho cuộc chiến đấu chống lại hai cuộc chiến tranh phá hoại do đế quốc Mỹ gây ra đối với miền Bắc, đồng thời bổ sung tiêu hao, biên chế cho các đơn vị mới được thành lập và chuyển phần lớn thành nguồn dự trữ chiến lược. Điều quan trọng là Việt Nam đã tính toán kỹ lưỡng để sử dụng hiệu quả và hợp lý các vũ khí này để vừa phục vụ chiến đấu, vừa có nguồn dự trữ chiến lược. Chẳng hạn, chính phủ Liên Xô trước đây chỉ cung cấp tên lửa SA-75 – loại hỏa lực chính tiêu diệt B-52, chủ yếu tập trung từ năm 1965 đến hết 1969. Nhưng ta đã có chiến lược sử dụng hợp lý nên vẫn có đủ nguồn đạn tên lửa cũng như các loại vũ khí hiện đại khác phục vụ cho các chiến dịch hoạt động quân sự lớn về sau. Chẳng hạn, trong Chiến dịch Quảng Trị năm 1972, Việt Nam đã đưa 800 quả đạn tên lửa cùng khí tài vào bảo đảm chiến đấu. Ngoài ra, Việt Nam còn sử dụng gần 1000 quả tên lửa SA-75 cho chiến dịch phòng không cuối tháng 12-1972.

Nhờ số trang bị, khí tài và vũ khí của các nước bạn bè viện trợ, lực lượng Phòng không-Không quân miền Bắc được trang bị tương đối mạnh và tổ chức thành một mạng phòng không có tầm thấp, tầm trung bình và tầm cao. Tính đến trước ngày 18-12-1972, ngày Mỹ mở đầu cuộc tập kích chiến lược bằng B-52 ra Hà Nội và Hải Phòng, chỉ riêng ở Hà Nội, quân và dân miền Bắc đã xây dựng được 30 trận địa cho tên lửa, hơn 100 trận địa cho cao xạ các loại… Trên chiến trường miền Bắc, từ Nghệ An trở ra, Việt Nam đã tập trung một lực lượng phòng không chủ lực mạnh nhất từ trước cho đến lúc bấy giờ cho cuộc quyết chiến trên không cuối tháng 12-1972 với Mỹ. Nhờ đó, quân và dân miền Bắc đã chủ động giáng trả kịp thời và hiệu quả máy bay, tàu chiến Mỹ ngay từ ngày đầu, trận đầu. Kết quả cuộc chiến đấu 12 ngày đêm cuối năm 1972 là 81 máy bay các loại của Mỹ, trong đó có 34 chiếc B-52, 5 F-111, 44 phi công đã bị lực lượng phòng không Việt Nam bắn hạ và bắt sống. Thắng lợi trong trận “Điện Biên Phủ trên không” lịch sử này đã góp phần buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, cam kết rút quân và không can thiệp vào nội bộ Việt Nam.

Ta đã đập tan cuộc tập kích chiến lược đường không của Mỹ cuối năm 1972, buộc địch phải khuất phục nhờ bắn hạ con chủ bài B-52 nhiều tới mức không thể chịu đựng. Bộ đội tên lửa phòng không Việt Nam là lực lượng bắn rơi nhiều máy bay B-52 nhất (29/34 chiếc), góp phần quyết định vào thắng lợi của chiến dịch phòng không bảo vệ Hà Nội. Việt Nam đã quyết tâm sử dụng lực lượng tên lửa để tiêu diệt lực lượng tập kích chủ chốt B-52, chỉ giành tên lửa để đánh B-52 ban đêm còn lực lượng không quân và cao xạ tập trung đánh không quân chiến thuật vào ban ngày.

Việc Việt Nam sớm xây dựng được một hệ thống phòng không mạnh mẽ khiến chính Mỹ phải kinh ngạc và thừa nhận: “Lúc Mỹ khởi đầu chiến dịch ném bom miền Bắc năm 1965, miền Bắc Việt Nam không có máy bay phản lực, có rất ít sân bay, không có tên lửa, chỉ có một số ít súng phòng không lỗi thời. Nhưng năm 1967, các phi công Mỹ đã phải bay qua lưới phòng không kinh khủng hơn, nhiều hơn lưới lửa gặp phải ở Đức năm 1944… Tổn thất của Mỹ về máy bay và phi công đã gia tăng tỷ lệ thuận với mức độ phát triển hệ thống phòng không của Hà Nội”. Chính giới quân sự Mỹ cũng phải công nhận: “Bắc Việt Nam có một trong các hệ thống phòng không hiệu quả nhất trong lịch sử”. Và để có được hệ thống phòng không này, theo tướng 4 sao của Mỹ là Brúc Pan-mơ (Bruce Palmer) khẳng định: “Với sự giúp đỡ to lớn, chủ yếu là của Liên Xô, cuối cùng Hà Hội đã phát triển các hệ thống phòng không ghê gớm nhất mà các lực lượng chúng ta chưa bao giờ vấp phải”. Ông này cũng thừa nhận: “Tất nhiên người của họ được huấn luyện rất cẩn thận và được các chuyên gia Nga hướng dẫn tỉ mỉ để sử dụng những loại vũ khí phòng không tinh vi”.

Trên thực tế, bên cạnh giúp Việt Nam trang bị, vũ khí, các nước XHCN anh em cũng cử một đội ngũ chuyên gia quân sự giàu kinh nghiệm sang hướng dẫn quân và dân Việt Nam cách sử dụng những loại vũ khí này. Theo thống kê của các cơ quan chức năng Việt Nam, từ năm 1965 đến 1970, Liên Xô đã cử sang Việt Nam tổng số 3.935 chuyên gia ở các lĩnh vực khác nhau. Ngoài ra còn có một số chuyên gia quân sự của Triều Tiên, bộ đội phòng không của Trung Quốc sang giúp Việt Nam.

Trung tá NGUYỄN VĂN QUYỀN

Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
qdnd.vn

Đỉnh cao về nghệ thuật tác chiến của Không quân nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ

QĐND – Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 là một biểu tư­­ợng rực rỡ về sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, của sức mạnh chiến tranh nhân dân Việt Nam chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Đó là trận quyết chiến chiến lược trong một chiến dịch lớn, có ý nghĩa quan trọng cả về chính trị, quân sự, ngoại giao, góp phần thúc đẩy cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nư­­ớc của nhân dân ta đi đến thắng lợi “đánh cho Mỹ cút” tiến lên “đánh cho ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước.

Sau 12 ngày đêm chiến đấu oanh liệt bằng tất cả lòng yêu nước, căm thù giặc, sự dũng cảm; với trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam, quân dân thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và toàn miền Bắc mà nòng cốt là bộ đội phòng không – không quân (PK-KQ), đã bắn rơi 81 máy bay Mỹ, trong đó có 34 chiếc B-52, 5 F-111 diệt và bắt sống nhiều giặc lái Mỹ. Để làm nên chiến thắng vĩ đại đó có nhiều yếu tố, nhưng trong phạm vi bài viết này, tôi xin được đề cập đến nội dung: Đánh thắng cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của Mỹ cuối tháng 12-1972 – đỉnh cao về nghệ thuật tác chiến của Không quân nhân dân (KQND) Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ.

Trước hết, một trong những bất ngờ lớn nhất của Mỹ trong 2 cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc nước ta là lực lượng không quân trẻ tuổi của Việt Nam đã phát triển nhanh chóng, có cách đánh độc đáo, táo bạo, thiện chiến, hiệu quả và trở thành lực lượng đột kích mạnh trên không, gây cho không quân Mỹ nỗi ám ảnh, kinh hoàng mỗi khi bay vào vùng trời miền Bắc Việt Nam.

Ngay sau khi mở mặt trận trên không thắng lợi vào mùa xuân năm 1965, không quân ta tiếp tục lập nên nhiều chiến công hiển hách. Trong suốt 2 cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân của địch, không quân ta đã cất cánh chiến đấu, bắn rơi hàng trăm máy bay gồm hàng chục kiểu loại của địch, thế hệ phi công nào của ta cũng đánh thắng, loại máy bay nào cũng lập công. Sự xuất hiện của KQND Việt Nam trên bầu trời đã làm cho kẻ thù run sợ.

“Én bạc” MiG-21 – máy bay tiêm kích chủ lực bảo vệ vùng trời miền Bắc Việt Nam trong chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Ảnh tư liệu

Để có được chiến công đó, vấn đề đầu tiên có tính quyết định đó là do chúng ta có sự chuẩn bị chu đáo về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Trên cơ sở quán triệt sâu sắc nhận định đánh giá về địch của Bác Hồ và sự chỉ đạo sáng suốt của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh, Quân chủng PK-KQ chủ động làm công tác chuẩn bị và nghiên cứu tìm cách đánh B-52.

Đầu năm 1968, Bộ tư lệnh Quân chủng đã giao nhiệm vụ cho Bộ tư lệnh Binh chủng Không quân phải nghiên cứu cách đánh B-52. Theo đó, Binh chủng đã tổ chức một bộ phận cán bộ tham mưu và phi công vào Quảng Bình, Vĩnh Linh, lên đỉnh đèo Mụ Giạ, trực tiếp quan sát, tìm hiểu đội hình và quy luật hoạt động của B-52 cả ngày lẫn đêm.

Tháng 9-1971, Binh chủng đã đưa ra-đa dẫn đường vào Ba Đồn, Quảng Bình và Vĩnh Linh, liên tục cho ra-đa mở máy tìm bắt mục tiêu, lần đầu bị nhiễu nặng, không phát hiện được. Sau nhiều lần rút kinh nghiệm đã phát hiện được mục tiêu trong nhiễu, tổng hợp được quy luật hoạt động của B-52, xây dựng phương án tác chiến, nghiên cứu cách đánh và huấn luyện cho một số phi công MiG chuyên đánh B-52. Cuối tháng 9-1971, Binh chủng Không quân đã tổ chức bộ phận chỉ huy tiền phương bên cạnh sở chỉ huy tiền phương của Quân chủng PK-KQ ở phía Nam để theo dõi và nghiên cứu, tổ chức trận đánh B-52.

Đồng thời, ngay từ khi địch mở rộng chiến tranh bằng không quân ra miền Bắc và không quân ta mở mặt trận trên không đánh địch, dưới sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Quân chủng PK-KQ đã tổ chức lực lượng củng cố, nâng cấp, xây dựng mới hệ thống sân bay trên miền Bắc. Một số sân bay được xây dựng thành căn cứ tập kết và xuất phát chính của các loại máy bay hoạt động trên chiến trường phía Nam. Những sân bay bị địch phá hủy nặng ngay từ đầu chiến tranh có kế hoạch tu sửa riêng. Sau mỗi lần đánh phá của địch, các đơn vị công binh và nhân dân địa phương kịp thời huy động lực lượng sửa chữa gấp, bảo đảm cho máy bay có thể cất cánh và hạ cánh được. Một số sân bay dã chiến cũng được xây dựng, kịp thời phục vụ cho máy bay chiến đấu, máy bay vận tải cất cánh, hạ cánh. Ngoài ra, một số sân bay ở hướng Tây Bắc và trên đất bạn Lào được củng cố làm căn cứ dự bị cho không quân ta khi làm nhiệm vụ.

Yếu tố thứ hai là, Binh chủng đã tập trung xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cao cho mọi đối tượng mà tập trung nhất là đội ngũ phi công. Đây là yếu tố then chốt giành thắng lợi. Trận chiến trong điều kiện ở trên không không có chiến hào, công sự trận địa. Hơn nữa, cuộc chiến đấu của không quân ta với không quân Mỹ phải nói là không cân xứng về lực lượng, chúng ta chỉ thắng được khi có cách đánh độc đáo, sáng tạo cộng với ý chí quyết tâm, bản lĩnh vững vàng của bộ đội. Mỗi trận đánh dù ngày hay đêm là một thử thách toàn diện đối với người chỉ huy, sĩ quan dẫn đường, đặc biệt là phi công – người trực tiếp đối mặt với kẻ thù; chần chừ một chút là mất thời cơ và có thể thất bại.

Trong 12 ngày đêm đánh B-52, ngoài những khó khăn bị tiêm kích địch khống chế, uy hiếp nhiều tầng, nhiều lớp thì những điều kiện phức tạp trong quá trình cất, hạ cánh cũng gây cho phi công không ít căng thẳng về tâm lý, đó là: Trực chiến dưới tầm bom đạn của các loại máy bay cường kích kể cả B-52. Cất, hạ cánh trong điều kiện ban đêm, đường băng ngắn, hẹp hoặc đã bị đánh phá, thiếu đèn chiếu sáng, không có chỉ huy hoặc chỉ huy hạn chế.

Ở đây, có một vấn đề hết sức quan trọng đó là: Trong phương châm tác chiến của không quân có nêu “đánh chắc thắng, tiêu diệt địch, bảo vệ mục tiêu, giữ gìn, bồi dưỡng lực lượng ta”. Nhưng riêng với đánh B-52 khi chúng ném bom miền Bắc, nhất là Hà Nội, với sự nguy hiểm của chúng, đặc biệt với ý nghĩa chính trị quan trọng là bảo vệ Thủ đô, nên bằng mọi cách không quân phải cất cánh. Trong bất cứ điều kiện khí tượng nào, hoàn cảnh khó khăn nào, không quân cũng phải có mặt để cùng với các lực lượng phòng không, ít nhất ngăn cản được các cuộc tiến công của địch.

Trong điều kiện địch tìm mọi cách để tiêu diệt không quân, chúng ta đã nêu cao ý chí quyết tâm, vượt qua khó khăn, gian khổ, hy sinh để tồn tại và phát triển, từng bước đánh bại kẻ thù. Đường băng bị đánh hỏng thì “ta sửa, ta bay” hoặc cất cánh từ đường lăn; sân bay chính bị đánh bom, bị khống chế thì xuất kích từ sân bay dự bị, sân bay dã chiến; cơ động ban ngày bị địch phát hiện thì tổ chức chuyển trường vào ban đêm, dùng trực thăng cẩu máy bay tiêm kích đi sơ tán hay đến sân bay bí mật…

Thực tế, trước khi diễn ra trận đánh của đồng chí Phạm Tuân ngày 27-12, chiến dịch đã diễn ra 10 ngày, lực lượng phòng không, đặc biệt là bộ đội tên lửa đã bắn rơi nhiều B-52 và các loại máy bay khác. Không quân đã xuất kích nhiều lần, bắn rơi một số máy bay chiến thuật. Sự xuất hiện của không quân đã làm giãn đội hình, giảm cường độ nhiễu và phân tán sự đối phó của địch, tạo điều kiện tốt cho lực lượng phòng không lập công. Tuy nhiên, không quân vẫn chưa bắn rơi được B-52. Những luồng tư tưởng khác nhau đã xuất hiện kể cả trong cơ quan và bộ phận phục vụ, đặc biệt là trong đội ngũ phi công. Số ít thì lo lắng khả năng bắn rơi B-52 của không quân ta, số khác thì nôn nóng dễ dẫn đến mất bình tĩnh và mạo hiểm, phần lớn phi công thấy trách nhiệm nặng nề đè lên đôi vai và cảm thấy mình có lỗi, chưa làm tròn sứ mệnh lớn lao đối với cấp trên, với Quân chủng và với đồng chí, đồng đội. Cái bao trùm lên tất cả là không quân phải bắn rơi B-52.

Thực tế đó khẳng định, nhiệm vụ đánh B-52 đã được quán triệt kỹ hơn, sâu sắc hơn đến mọi cán bộ, chiến sĩ, nhất là đội ngũ phi công. Nó trở thành khẩu hiệu hành động, trở thành quyết tâm sắt đá của không quân. Máy bay B-52 đã đánh ra miền Bắc, chưa bắn rơi B-52 coi như không quân còn món nợ. Trong những phút giây gian khổ và ác liệt nhất, tất cả mọi cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt là đội ngũ phi công luôn giữ vững ý chí chiến đấu, khát khao thực hiện nhiệm vụ, còn một người, một máy bay cũng kiên quyết tiến công. Yếu tố tinh thần, tâm lý, bản lĩnh, ý chí của phi công cùng với nghệ thuật chỉ huy tài tình đã tạo nên sức mạnh to lớn để không quân vượt lên, giành chiến thắng.

Ba là, không quân ta tập trung xây dựng lực lượng, huấn luyện giỏi về kỹ thuật, nhuần nhuyễn về chiến thuật, cách đánh. Về xây dựng lực lượng: Với đặc thù của KQND Việt Nam, số phi công chiến đấu ở mỗi trung đoàn không nhiều nhưng được chia thành 2 bộ phận: Bộ phận huấn luyện và chiến đấu ban ngày (chiếm đa số), còn lại là huấn luyện và làm nhiệm vụ chiến đấu ban đêm. Năm 1972, lực lượng phi công chiến đấu ban ngày đã lập công xuất sắc, nhiều đồng chí bắn rơi 5-6 máy bay địch, hầu như đồng chí nào tham gia chiến đấu cũng lập công.

Tuy nhiên, trong chiến đấu do bị tổn thất nên có thời điểm lực lượng phi công còn rất mỏng. Số phi công đánh đêm đã tham gia trực ban chiến đấu, xuất kích ban đêm nhiều lần nhưng chưa ai bắn rơi được máy bay địch. Một vấn đề đặt ra là số anh em bay đêm mong mỏi được chiến đấu cùng đội ngũ đánh ngày, đây vừa là mong muốn được thử thách, lập công, vừa khắc phục tình trạng thiếu hụt phi công đánh ngày. Nhưng cấp trên đã nắm chắc ý đồ của địch, quyết tâm giữ gìn lực lượng, vì vậy cho đến trước khi chiến dịch 12 ngày đêm diễn ra, số phi công đánh đêm vẫn được giữ nguyên. Nhờ có sự chuẩn bị ấy mà trong 12 ngày đêm, không quân ta liên tục có lực lượng cất cánh. Đây cũng là yếu tố bất ngờ đối với kẻ thù.

Về công tác huấn luyện: Phi công chiến đấu đêm phải được huấn luyện kỹ hơn về kỹ thuật lái, nhất là cất, hạ cánh ở đường băng ngắn, hẹp, vào ban đêm, khí tượng phức tạp. Từ thực tế huấn luyện và chiến đấu thấy rằng: Nếu như có điều kiện và đủ lực lượng, những phi công đánh đêm được lựa chọn đào tạo từ những phi công chiến đấu ban ngày thì có thể kết quả chiến đấu còn cao hơn. Đây cũng là kinh nghiệm quý báu về huấn luyện phi công trong hoàn cảnh ta chưa có điều kiện bay nhiều để đồng hóa giữa phi công đánh ngày và đánh đêm. Một vấn đề hết sức quan trọng trong huấn luyện phi công, đó là phải mạnh dạn rèn luyện phi công trong thực tế chiến đấu. Sau mỗi lần gặp địch, tuy không bắn rơi nhưng phi công trưởng thành lên rất nhiều, từ ý chí quyết tâm đến tư duy chiến thuật tự tin và vững vàng hơn.

Trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, B-52 đánh đêm là chủ yếu, ta sử dụng sân bay dã chiến, ánh sáng hạn chế để xuất kích và hạ cánh sau chiến đấu, do đó thường sử dụng lực lượng nhỏ 1-2 chiếc, mặt khác để nhanh chóng tiếp cận, công kích nhanh, thoát ly nhanh, đánh được địch, bảo vệ ta. Chỉ sử dụng 2 chiếc khi cần tăng cường nghi binh để kéo tiêm kích địch ra hướng khác, còn hướng đánh B-52 phải giữ bí mật bất ngờ, tránh tiêm kích, tiếp cận trực tiếp mục tiêu chủ yếu. Đây là kinh nghiệm quý được đúc kết qua thực tế chiến đấu.

Vì vậy, đòi hỏi người lái phải điêu luyện đánh đêm, cất, hạ cánh tại sân bay dã chiến đường băng nền đất, ban đêm ánh sáng hạn chế; trong điều kiện địch gây nhiễu nặng, ra-đa dẫn đường phát hiện mục tiêu không liên tục, chỉ căn cứ vào thông báo của mạng B1 để dẫn máy bay vào khu vực chiến đấu, phi công phát hiện mục tiêu bằng mắt, ước lượng cự ly, hướng bay, phân loại được máy bay địch qua ánh sáng của đèn, tăng lực tiếp cận, công kích đúng thời cơ. Phi công phải xác định cự ly xạ kích đối với tên lửa hồng ngoại hợp lý, nếu xa thì hiệu quả thấp, nếu quá gần thì sau khi công kích sẽ bị ảnh hưởng của luồng khí lưu phía sau B-52, máy bay ta dễ bị rơi hoặc lao thẳng vào B-52, không thoát ly kịp.

Về công tác chỉ huy, dẫn đường: Quá trình chuẩn bị cho cả chiến dịch nói chung và từng trận đánh của không quân ta nói riêng hết sức gian khổ, công phu và tỉ mỉ, từ công tác nghiên cứu đặt sở chỉ huy, theo dõi quy luật hoạt động của địch, chuẩn bị mọi phương án, nghiên cứu cách đánh. Trong 12 ngày đêm năm 1972, ta có phương án cất cánh đánh B-52 từ các sân bay vòng ngoài, sân bay dã chiến. Cả hai trận bắn rơi B-52 của không quân đều cất cánh từ sân bay vòng ngoài.

Ra-đa dẫn đường là mắt thần của không quân. Tuy nhiên, trong thực tế 12 ngày đêm năm 1972, dẫn đường gặp nhiều khó khăn do ra-đa bị nhiễu nặng, chúng ta đã phải tận dụng tất cả các yếu tố, các nguồn tình báo, các trạm ra-đa dẫn đường khác (mạng B1, ra-đa của tên lửa, cao xạ, các trạm quan sát mắt) phối hợp với nhau để có những tham số dẫn đường, người chỉ huy nghiên cứu bố trí các trạm ra-đa dẫn đường trên một đường bay cùng phối hợp dẫn đường, các trạm ra-đa hai bên sườn của đường bay rất linh hoạt, như các trạm ở Thọ Xuân, Mộc Châu, Yên Bái… vì chúng ta đã đúc kết được kinh nghiệm: Máy gây nhiễu của B-52 chỉ có tác dụng tốt về phía trước theo hướng bay, hai bên sườn và phía sau cường độ yếu hơn. Thực tế đúng như vậy, các trạm ra-đa này đã phát hiện tốt và dẫn khá chuẩn xác máy bay ta.

Bốn là, nghiên cứu tìm cách đánh và rút kinh nghiệm để thay đổi cách đánh kịp thời khi địch thay đổi thủ đoạn là một yêu cấp cấp thiết thường xuyên sau mỗi trận đánh.

Khi đánh vào Hà Nội, địch cảnh giác và chuẩn bị kỹ cả trên 3 mặt: Gây nhiễu, hộ tống nhiều tầng, nhiều lớp tạo nên lá chắn cho B-52 và đánh đồng loạt các sân bay của ta. Ngay từ trận đầu đêm 18-12 và tiếp tục một số trận sau, phi công ta đều phát hiện đèn của F-4 và đèn của B-52 nhưng chúng ta không tiếp cận được hoặc khi tiếp cận mở ra-đa vừa bị nhiễu, vừa lộ lực lượng, địch cơ động, ta mất mục tiêu. Nếu tổ chức chỉ huy và phi công rút kinh nghiệm thay đổi cách dẫn dắt và phương pháp tiếp cận bằng đèn sớm hơn thì có thể thời cơ đánh B-52 của ta còn nhiều hơn. Rõ ràng đây là bài học sâu sắc, nhất là khi lực lượng của ta mỏng đối chọi với một lực lượng mạnh, ta càng phải biến hóa, càng phải chủ động, sáng tạo trong cách đánh mới giành được thắng lợi.

Trước một lực lượng không quân nhà nghề của Mỹ, với VKTBKT hiện đại, chúng ta đã tìm ra cách đánh sáng tạo, phán đoán chính xác âm mưu, thủ đoạn của địch, xử lý linh hoạt các tình huống trên không và mặt đất, đồng thời luôn luôn hiệp đồng tác chiến chặt chẽ giữa các lực lượng trong từng khâu, từng bước. Vì vậy, không quân ta càng đánh, càng thắng, càng đánh càng trưởng thành, phát triển, những chiếc MiG vẫn tung hoành trên bầu trời và giáng cho địch những đòn đích đáng.

Khu vực địch tập trung săn lùng MiG của ta nhiều nhất là là vùng trời Việt Trì – Tam Đảo, nơi đây đã trở thành nơi vùi thây những “thần sấm”, “con ma” và trở thành khu vực khiếp đảm của giặc lái Mỹ. Chúng đã gọi đây là “Thung lũng MiG”. Có trận, địch âm mưu chọn vùng trời này để phục kích, sẵn sàng chặn đánh MiG của ta ngay sau khi cất cánh bay lên, nhưng chúng không ngờ một biên đội MiG đã phục kích trước ở khu chờ. Địch vừa đến nơi đã bị MiG chủ động công kích và 2 chiếc “thần sấm” đã phải đền tội, bọn còn lại quăng bom bừa bãi để chạy tháo thân… Nhiều trận MiG của ta đã giấu mình trong mây, thậm chí ngay trong vệt đường bay của máy bay địch để chờ thời cơ tiêu diệt chúng…

Không quân địch thường xuyên thay đổi thủ đoạn, càng ngày càng tinh vi, khó đối phó nhưng chúng ta đã có nhiều cách đánh sáng tạo, độc đáo như: Đánh quần, đánh gần, kéo địch đến khu vực có lợi để đánh, chủ động đánh chặn từ xa, sử dụng tất cả các số trong đội hình đều có thể tham gia công kích khi xuất hiện thời cơ, tổ chức đội hình chiến đấu phù hợp, sử dụng ra-đa, thiết bị vô tuyến linh hoạt; kết hợp chặt chẽ trên không và mặt đất… Khi tiếp cận B-52 ta đã nghiên cứu, áp dụng và phát triển các hình thức chiến thuật từ “bay thấp, kéo cao” đến “bay cao, tiếp cận nhanh” rất hiệu quả và đã thành công trong 2 trận bắn rơi liên tiếp 2 chiếc B-52 trong hai đêm 27 và 28-2-1972 của đồng chí Phạm Tuân và Vũ Xuân Thiều.

Thực tế trên, một lần nữa chúng ta có thể khẳng định: Đánh thắng cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của Mỹ cuối tháng 12 năm 1972 – đỉnh cao về nghệ thuật tác chiến của KQND Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ.

Trung tướng PHƯƠNG MINH HÒA, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân chủng PK-KQ
qdnd.vn

Tên lửa “dìm” B-52 xuống hồ Hữu Tiệp

QĐND Online – Những ngày này, Bảo tàng Chiến thắng B-52 (157 Đội Cấn, Hà Nội) đang khẩn trương làm công tác chuẩn bị đón khách tham quan, nhân kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”. Tại khu vực trưng bày ngoài trời, bên cạnh đống xác B-52 khổng lồ, là pháo cao xạ, đài điều khiển tên lửa, máy bay của Quân chủng PK-KQ đã từng lập công xuất sắc trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”. Ngay trước cửa Bảo tàng, Đài điều khiển tên lửa Sam-2 đã từng “vít cổ” pháo đài bay B-52 xuống hồ Hữu Tiệp (Ngọc Hà, Hà Nội) vẫn kiêu hãnh hướng lên bầu trời Thủ đô.

Đài điều khiển tên lửa Sam-2 đã “dìm” máy bay B-52 xuống hồ Hữu Tiệp (Ngọc Hà, Hà Nội)

Gần đây, trong dịp 10 kíp chiến đấu của Sư đoàn phòng không 361 (Quân chủng PK-KQ) gặp mặt, làm rõ 25 trận đánh của Sư đoàn, tiêu diệt 25 máy bay B-52 trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, chúng tôi đã được nghe kể về chiến công của Tiểu đoàn 72 (Trung đoàn 261) gắn với Đài điều khiển tên lửa Sam-2 này.

Bộ đài điều khiển, từ góc nhìn khác

Chiều 27-12-1972, Tiểu đoàn 72 được lệnh cơ động từ Hải Phòng lên tăng cường lực lượng chiến đấu cho Trung đoàn 261. Vào lúc 23 giờ 02 phút, nhận được lệnh tiêu diệt tốp B-52 mang số hiệu 419 từ hướng Tây đang lao vào đánh Hà Nội, Tiểu đoàn 72 vào cấp 1. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 72 Phạm Văn Chắt lệnh cho sĩ quan điều khiển Nguyễn Văn Dự và kíp trắc thủ sục sạo, phát hiện mục tiêu nhưng không thấy, chỉ thấy dải nhiễu đậm đặc ở phương vị 180. Tiểu đoàn trưởng Chắt quyết định phóng 2 quả đạn, bám chính xác vào giữa dải nhiễu mịn, phương pháp điều khiển 3 điểm. Hai quả đạn đều nổ tốt. Tại cự ly 34km, dải nhiễu tách, sĩ quan điều khiển báo cáo mục tiêu bị tiêu diệt; quan sát mắt báo cáo B-52 cháy, rơi về phía Hà Nội.

Chiếc B-52 này bị bắn cháy khi chưa kịp cắt bom, rơi xuống hồ Hữu Tiệp, Ngọc Hà (Hà Nội). Lúc đó là 23 giờ 09 phút ngày 27-12-1972.

Bài, ảnh: PHẠM HOÀNG HÀ
qdnd.vn

Đoàn cán bộ, công nhân viên tiêu biểu Tổng công ty May 10 về Lăng viếng Bác

may 10 a 1Đoàn cán bộ, công nhân viên tiêu biểu Tổng công ty May 10 về Lăng viếng Bác

Ngày 8 tháng 1 là một ngày đặc biệt, có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với mỗi thế hệ cán bộ, công nhân viên May 10: Ngày này cách đây 54 năm, May 10 đã vinh dự được đón Bác về thăm, đó là một phần thưởng hết sức cao quý đối với May 10 do đã có nhiều thành tích trong lao động sản xuất và chiến đấu. 54 năm qua lớp lớp các thế hệ May 10 luôn khắc ghi và vận dụng sáng tạo những lời dạy của Người trong mọi lĩnh vực hoạt động của mình, lấy đó làm kim chỉ nam cho những hành động xuyên suốt hơn nửa thế kỷ qua và đã xây dựng một May 10 lớn mạnh như ngày hôm nay. Theo truyền thống hàng năm, nhân dịp đầu năm mới, kỷ niệm Ngày Bác Hồ về thăm Tổng Công ty May 10 (8/1/1958), lãnh đạo Tổng Công ty đều tổ chức cho cán bộ, công nhân viên ưu tú báo công tại Lăng Bác nhằm giáo dục lòng yêu nước, tự hào truyền thống của Tổng Công ty, tạo khí thế cho toàn thể cán bộ, công nhân viên phấn đấu hoàn thành kế hoạch đặt ra trong năm. Tham dự buổi lễ báo công tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh có bà Nguyễn Thị Thanh Huyền – Bí thư Đảng ủy, Tổng Giám đốc Tổng Công ty May 10, Ban lãnh đạo, cơ quan điều hành và 160 cán bộ, công nhân viên tiêu biểu năm 2012

Ra đời từ 1946 và  trải qua chặng đường 66 năm phát triển với 15 nhà máy sản xuất và hơn 9000 nhân sự, sản phẩm May 10 đã được nhiều khách hàng tin tưởng chọn lựa từ trong nước đến nước ngoài. Mỗi năm May 10 sản xuất hơn 20 triệu sản phẩm chất lượng cao các loại, 80% sản phẩm được xuất khẩu sang các thị trường Mỹ, Châu Âu… Nhiều tên tuổi lớn của ngành thời trang có uy tín trên thế giới đã và đang hợp tác với May 10 như Zara, Mango, Hugo, Brandtex, Asmara, Jacques Britt, Seidensticker, Tesco, C&A, Camel, Arrow… May 10 đang nỗ lực nhiều hơn, quyết tâm nhiều hơn để luôn luôn làm hài lòng các khách hàng nội địa cũng như nước ngoài một cách tốt nhất.

Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền cho chúng tôi được biết: Sự tín nhiệm của khách hàng và sự nhiệt tình, tận tâm tận lực của đội ngũ cán bộ, công nhân viên trong toàn Tổng công ty chính là hai yếu tố quan trọng nhất để giúp May 10 đứng vững và ngày càng khẳng định mình trên thị trường cả trong và ngoài nước. Năm 2012, tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam có nhiều khó khăn, đặc biệt đối với May 10 năm 2012 là một năm cực kỳ khốc liệt, nhưng với sự đoàn kết thống nhất và nỗ lực hết mình của toàn thể cán bộ, công nhân viên, đơn vị đã trụ  được và hoàn thành các mục tiêu đã đề ra, đặc biệt mức lương của người lao động đã tăng 23%. Để hiện thực hoá những mục tiêu mà Tổng Công ty đề ra trong năm 2013, Tổng Công ty sẽ tăng cường tuyên truyền giáo dục để  cho mỗi cán bộ, công nhân viên thấu hiểu tình hình, chung sức đồng lòng, phát huy tối đa tiềm năng sáng tạo để cống hiến cho doanh nghiệp; đẩy mạnh công tác nghiên cứu tổ chức sản xuất, cải tiến thao tác; cải tiến hệ thống quản lý và tăng cường kiểm tra việc áp dụng nhằm nâng cao vị thế và đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh nghiệp; từng bước đầu tư máy móc thiết bị hiện đại nhằm tăng năng suất, giảm áp lực về cạnh tranh lao động; Chủ động nắm bắt thời cơ, đầu tư mở rộng năng lực sản xuất khi thị trường có dấu hiệu phục hồi.

may 10 a2
Thiếu tướng Đặng Nam Điền, Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng chụp ảnh lưu niệm cùng Đoàn

Tiếp đoàn tại Nhà khách số 8 Hùng Vương, thay mặt cán bộ, công nhân viên, chiến sỹ Bộ tư lệnh Bảo vệ Lăng, Ban Quản lý Lăng, đồng chí Thiếu tướng Đặng Nam Điền, Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng đánh giá cao những hoạt động giáo dục truyền thống của Tổng Công ty May 10, chính những hoạt động này là những động lực cách mạng, góp phần thực hiện thắng lợi những mục tiêu kinh tế đã đề ra, đặc biệt trong tình hình kinh tế có rất nhiều khó khăn như năm 2012 vừa qua. Nhân dịp này, đồng chí Chính ủy đã giới thiệu với Đoàn về những kết quả thực hiện nhiệm vụ giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, công tác tổ chức lễ viếng Bác, phục vụ và đón tiếp nhân dân và khách quốc tế đến viếng Người trong năm 2012 và gắn Huy hiệu Bác Hồ cho các đồng chí cán bộ, công nhân viên tiêu biểu xuất sắc năm 2012.

Lan Hương
bqllang.gov.vn

Chiến thắng có ý nghĩa lịch sử và thời đại sâu sắc (*)

QĐND – Hôm nay, trong niềm phấn khởi và tự hào của đồng bào và chiến sĩ cả nước, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước, Quốc hội, Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, sự kiện lịch sử trọng đại và kỳ tích có một không hai – biểu tượng chiến thắng của bản lĩnh, trí tuệ và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Đây là chiến thắng có ý nghĩa lịch sử và thời đại sâu sắc, góp phần rất quan trọng đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Tháng 12 năm 1972, sau khi đơn phương tuyên bố hoãn không thời hạn Hội nghị Pa -ri về “Chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”, đế quốc Mỹ đã mở cuộc tập kích chiến lược bằng đường không vào miền Bắc nước ta với tên gọi Chiến dịch “Lai -nơ-bếch-cơ II”, nhằm đánh phá, hủy diệt tiềm lực kinh tế, quốc phòng miền Bắc, gây sức ép buộc ta phải chấp nhận ký Hiệp định Pa -ri theo các điều khoản có lợi cho Mỹ; hạn chế sự chi viện cho cách mạng miền Nam; làm tê liệt ý chí chiến đấu, giảm thế và lực của ta so với địch trên chiến trường; đe dọa phong trào đấu tranh của nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Đây là cuộc tập kích bằng đường không huy động lực lượng lớn nhất của Mỹ kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, với hàng trăm máy bay ném bom chiến lược B -52, được mệnh danh là “Siêu pháo đài bay” – “thần tượng bất khả chiến bại” của không lực Hoa Kỳ, cùng hàng ngàn máy bay chiến thuật và nhiều tàu sân bay, tàu chiến tối tân, hiện đại.

Ngay từ những năm đầu của cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc, sớm nhận rõ và dự báo chính xác tình hình, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã xác định quyết tâm chiến lược, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, động viên quân và dân ta chuẩn bị sẵn sàng về mọi mặt để quyết đánh, quyết thắng cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B -52 của Mỹ. Từ cuối năm 1967, đầu năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B -52 ra đánh Hà Nội rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước tình huống này càng sớm càng tốt, để có thời gian mà suy nghĩ, chuẩn bị… ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua, nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quân ủy Trung ương, Quân chủng Phòng không – Không quân đã sớm có kế hoạch tác chiến đánh trả cuộc tập kích bằng B -52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng. Với sự chủ động, sáng tạo của nghệ thuật quân sự Việt Nam, qua nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi cách đánh máy bay B -52, các lực lượng vũ trang ta, với nòng cốt là Quân chủng Phòng không – Không quân và nhân dân miền Bắc, nhất là quân dân thủ đô Hà Nội đã tổ chức, phát huy sức mạnh tổng hợp của thế trận phòng không nhân dân vững chắc, hợp đồng tác chiến chặt chẽ giữa các lực lượng, quyết đánh, biết đánh và quyết thắng. Ngay từ trận đầu ra quân, đêm 18-12-1972, ta đã bắn rơi tại chỗ “siêu pháo đài bay B -52”, mở màn cho những thắng lợi vang dội trong những trận đánh tiếp theo. Trong 12 ngày đêm chiến đấu anh dũng, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích chiến lược đường không quy mô lớn chưa từng có, chủ yếu bằng B -52 của Mỹ, làm nên chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” lẫy lừng, bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 chiếc B -52, tiêu diệt và bắt sống hàng trăm giặc lái Mỹ. Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử, “siêu pháo đài bay B -52” thảm bại và không quân Mỹ phải chịu thiệt hại nặng nề nhất. Sau thất bại này, nhà cầm quyền Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra và chấp nhận quay trở lại bàn đàm phán.

Ngày 27-1-1973, Hiệp định Pa -ri về “chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” được ký kết. Cuối tháng 3-1973, quân đội Mỹ và chư hầu phải rút khỏi miền Nam Việt Nam. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là một trong những chiến thắng mang tầm vóc lịch sử ở thế kỷ XX, viết tiếp những trang sử vàng chiến công chói lọi trong lịch sử chống ngoại xâm, giữ nước của dân tộc ta. Chiến thắng đó đã góp phần bảo vệ vững chắc miền Bắc XHCN, giữ vững thành quả cách mạng; tạo ra cục diện mới để quân và dân ta thực hiện trọn vẹn lời dạy của Bác Hồ kính yêu “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”; giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào mùa Xuân năm 1975. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã chứng minh hùng hồn chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, một nước đất không rộng, người không đông, nhưng biết đoàn kết đấu tranh cho độc lập dân tộc, hòa bình, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của một đảng mác -xít chân chính với đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, được sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới thì có thể chiến thắng mọi kẻ thù, dù chúng có các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại nhất.

Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã góp phần làm tăng thêm sức mạnh và thế tiến công của phong trào cách mạng thế giới; củng cố niềm tin chiến thắng cho các lực lượng tiến bộ đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là chiến thắng của đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện; chiến thắng của nghệ thuật quân sự Việt Nam: Mưu trí, sáng tạo, lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ đánh lớn, dựa trên cơ sở phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc; chiến thắng của nghệ thuật xây dựng thế trận phòng không nhân dân vững chắc, phát huy cao nhất vai trò của lực lượng phòng không ba thứ quân; là chiến thắng của tinh thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, thông minh, sáng tạo; của ý chí quyết đánh và quyết thắng; đồng thời tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của các nước XHCN anh em, các lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, có sự đóng góp hy sinh to lớn của lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương miền Bắc, trực tiếp là thủ đô Hà Nội. Trong 12 ngày đêm, Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã trên miền Bắc đã phải hứng chịu hơn tám mươi ngàn tấn bom, đạn tàn phá, hủy diệt, nhưng quân và dân ta, Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân Thủ đô văn hiến, anh hùng đã biến đau thương thành hành động cách mạng, giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến; vượt qua mọi hy sinh gian khổ, anh dũng, ngoan cường, quyết chiến đấu với tinh thần “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Đó là một trong những điển hình về sức mạnh chính trị tinh thần trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Trong những ngày chiến đấu đó, cả nước hướng về Thủ đô, bảo vệ Thủ đô. Quân và dân ta ở miền Nam ruột thịt đã “chia lửa” cùng đồng bào và chiến sĩ miền Bắc, đẩy mạnh tiến công trên khắp các chiến trường, làm cho kẻ địch phải phân tán lực lượng, bị động đối phó trên nhiều hướng, nhiều mặt trận, hoang mang, nhụt chí chiến đấu.

Năm tháng sẽ qua đi, Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” mãi mãi là biểu tượng của ý chí kiên cường, bất khuất, thông minh, sáng tạo; là niềm tự hào của dân tộc ta, nhân dân ta, quân đội ta, là một trong những chiến công hiển hách trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam Anh hùng; ghi đậm dấu ấn của cuộc đấu tranh cách mạng hào hùng của nhân dân ta trong thời đại Hồ Chí Minh.

Ngày nay, đất nước ta hòa bình, thống nhất, đang thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011- 2020 được thông qua tại Đại hội lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới; phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn tiếp theo.

Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đó, đòi hỏi sự quyết tâm, nỗ lực phấn đấu rất cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Chiến công oanh liệt của trí tuệ, lòng dũng cảm và ý chí quật cường của dân tộc ta, quân đội ta, của cán bộ, chiến sĩ Quân chủng Phòng không – Không quân, của quân dân Thủ đô và các tỉnh, thành phố miền Bắc trong 12 ngày đêm chống cuộc tập kích chiến lược bằng đường không của đế quốc Mỹ cổ vũ, khích lệ chúng ta vững bước đi lên.

Lòng dũng cảm, trí thông minh, sáng tạo đánh thắng máy bay chiến lược B -52 và những phẩm chất cao đẹp của cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ta trong những năm tháng kháng chiến gian khổ, sẵn sàng hy sinh tất cả vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cần được giữ gìn, truyền lại cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Những bài học về dự báo tình hình, chuẩn bị và tổ chức lực lượng; nghệ thuật xây dựng thế trận phòng không nhân dân; tinh thần tự chủ, tự lực, tự cường và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp để kháng chiến thắng lợi, cần được vận dụng sáng tạo và phát triển trong điều kiện mới. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục lý tưởng, tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc trong toàn dân, nhất là thế hệ trẻ. Tiếp tục củng cố, tăng cường tiềm lực mọi mặt của đất nước; kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường quốc phòng – an ninh; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, tự chủ, tự lực, tự cường và ngày càng hiện đại; tăng cường đoàn kết gắn bó giữa quân và dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Phát huy truyền thống 68 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam và thành tựu 23 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân, tập trung nâng cao chất lượng xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xây dựng Quân chủng Phòng không – Không quân hiện đại, xứng đáng là lực lượng chính trị, chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn ghi nhớ và biết ơn sự ủng hộ, giúp đỡ chí tình, chí nghĩa của các nước XHCN anh em, bạn bè quốc tế, nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, trong đó có nhân dân Mỹ, đã dành cho nhân dân ta trong những năm tháng chiến tranh gian khổ ác liệt. Trải qua những tàn phá nặng nề và hy sinh to lớn trong chiến tranh, hơn ai hết, nhân dân Việt Nam thiết tha, quý trọng hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước. Kế thừa và phát huy truyền thống hòa hiếu của dân tộc Việt Nam, “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”, nhân dân ta luôn mong muốn tăng cường quan hệ hữu nghị hợp tác cùng phát triển với các nước trên thế giới, trong đó có Hoa Kỳ, theo tinh thần Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích của đất nước; xây dựng một nước Việt Nam XHCN giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, chúng ta tự hào về những chiến công oanh liệt, truyền thống yêu nước, đoàn kết, ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc; tự hào về Đảng ta, một Đảng mác -xít kiên trung, có đường lối đúng đắn, sáng tạo, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác; tự hào với truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, một Quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân; tự hào về dân tộc ta, một dân tộc giàu lòng yêu nước, yêu chuộng hòa bình và công lý, không bao giờ chịu cúi đầu, khuất phục trước bất kỳ thế lực xâm lược hung bạo nào. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta quyết tâm giữ gìn và phát huy cao độ truyền thống vẻ vang đó trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

Hào khí Việt Nam, vận hội mới của đất nước thôi thúc chúng ta tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, nỗ lực phấn đấu xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, xứng đáng với công lao to lớn, khát vọng cháy bỏng và sự hy sinh cao cả của các thế hệ đi trước, viết tiếp trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam anh hùng.

(Diễn văn của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tại Lễ kỷ niệm)

(*) Đầu đề của Báo Quân đội nhân dân.
qdnd.vn

Ngày 30-12-1972: Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” thắng lợi

Ngày này 40 năm trước

QĐND – Lúc 7 giờ sáng ngày 30-12-1972 (giờ Hà Nội), Tổng thống Mỹ Ri-sác Ních-xơn ra lệnh ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra và họp lại Hội nghị Pa-ri về Việt Nam.

Cuộc tập kích chiến lược quy mô lớn bằng máy bay B-52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương miền Bắc nước ta kéo dài 12 ngày đêm của Mỹ đã bị thất bại hoàn toàn. Trong 12 ngày đêm “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”, quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay B-52, 5 máy bay F-111 và 42 máy bay chiến thuật khác.

Niềm vui gặp lại sau 40 năm của các cựu chiến binh tham gia Chiến dịch phòng không tháng 12-1972. Ảnh: Đình Xuân.

Cuộc ném bom nhằm đưa miền Bắc nước ta “trở về thời kỳ đồ đá” của quân đội Mỹ đã tàn phá tan hoang nhiều khu phố, làng mạc, phá sập 5.480 ngôi nhà, trong đó có gần 100 nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, nhà ga; sát hại 2.368 dân thường và làm bị thương 1.355 người khác. Đặc biệt, không quân Mỹ đã ném bom rải thảm, hủy diệt phố Khâm Thiên, tàn phá chiều dài khu phố hơn 1.200m, làm 287 người chết, 290 người bị thương. Máy bay B-52 còn ném bom xuống hơn 100 điểm dân cư khác trong thành phố, làm hơn 1000 người chết, bị thương.

XUÂN GIANG (tổng hợp)
qdnd.vn

Ngày 29-12-1972: Chiếc B-52 thứ 34 bị tiêu diệt, Lai-nơ bếch-cơ II…phá sản

Nhật ký Chiến thắng B-52

QĐND Online – Ngày 29-12-1972, ban ngày, địch sử dụng 30 lần chiếc máy bay chiến thuật đánh phá nhà máy điện Cao Ngạn, Đồng Hỷ và khu vực cây số 4 Bắc Thái Nguyên.

Ban đêm, từ 22 giờ 57 phút đến 23 giờ 30 phút, địch huy động 33 lần chiếc B-52 đánh vào Thái Nguyên, 23 lần chiếc B-52 đánh vào sân bay Hòa Lạc.

Ngoài ra, địch còn sử dụng 70 lần chiếc máy bay chiến thuật của không quân và hải quân đánh xen kẽ các sân bay: Thọ Xuân, Yên Bái, Hòa Lạc, Kép và khu vực Kim Anh (Vĩnh Phúc), Đông Anh (Hà Nội), ngoại vi TP Hải Phòng và Quảng Ninh.

Bom đạn, xác B-52 và “khắc tinh” của chúng – tên lửa Sam 2 hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng PK-KQ.

Vào lúc 22 giờ 57 phút, Tiểu đoàn 79 (Trung đoàn 257) được lệnh vào cấp 1. Hai phút sau, Tiểu đoàn vào cấp 1 xong, khí tài sẵn sàng chiến đấu tốt.

Sau khi phát hiện nhiễu B-52, 23 giờ 6 phút, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Chiến hạ lệnh phóng 2 quả đạn tên lửa, với chế độ bám sát bằng tay, phương pháp điều khiển 3 điểm.

Đạn có điều khiển tốt, gặp mục tiêu ở cự ly 30km và 29km. Sau khi đạn nổ, nhiễu tách dải, mờ dần. Vọng quan sát mắt báo B-52 cháy, bay về phía Bắc, rơi xa. Đây là chiếc B-52 thứ 34 và cũng là chiếc B-52 cuối cùng bị bắn rơi trong chiến dịch tập kích đường không chiến lược của Mỹ, mang tên Lai-nơ bếch-cơ II.

Trước tổn thất nặng nề về máy bay, nhất là máy bay B-52 và người lái, Mỹ không thể kéo dài hơn nữa cuộc tập kích chiến lược vào Thủ đô Hà Nội và Hải Phòng. 7 giờ sáng ngày 30-12-1972, chính quyền Mỹ buộc phải tuyên bố ngừng ném bom từ Bắc vĩ tuyến 20 trở ra và đề nghị gặp lại đại diện Chính phủ ta tại Pa-ri, bàn việc ký hiệp định.

Như vậy, sau 12 ngày đêm, cuộc tập kích chiến lược quy mô lớn bằng máy bay B-52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng đã bị thất bại hoàn toàn. Quân và dân miền Bắc đã tiêu diệt 81 máy bay các loại của Mỹ, trong đó có 34 máy bay B-52 (16 chiếc rơi tại chỗ) và 5 máy bay F-111.

HOÀNG HÀ (tổng hợp)
qdnd.vn

——————

Đêm 28-12-1972: Địch nao núng, không quân và tên lửa tiếp tục lập công
Đêm 27-12-1972: “Én bạc” hạ gục “ngáo ộp” B-52
Ngày 26-12-1972: Trận then chốt quyết định, 8 chiếc B-52 bị tiêu diệt
Ngày 25-12-1972: Ta rút kinh nghiệm, điều chỉnh đội hình chiến đấu
Đêm 24-12-1972: “Rụng” thêm một B-52, địch tạm dừng tập kích
Đêm 23-12-1972: Thua đau, B-52 giãn xa Hà Nội, Hải Phòng
Đêm 22-12-1972: Bộ đội Tên lửa Hải Phòng diệt 2 siêu pháo đài bay
Đêm 21-12-1972: 3 phút, bắn rơi tại chỗ 3 máy bay B-52
Đêm 20-12-1972: Thắng lợi giòn giã, 7 máy bay B-52 bị quật cổ
Đêm 19-12-1972: 2 siêu pháo đài bay B-52 đền nợ máu
Đêm 18-12-1972: B-52 tan xác khi vừa mò vào Hà Nội

Điều chỉnh thế trận và cách đánh

QĐND – Thành phố Hải Phòng là một trong những mục tiêu trọng điểm mà Không quân Mỹ sử dụng máy bay ném bom chiến lược B-52 và không quân hải quân đánh phá trong chiến dịch tập kích 12 ngày đêm tháng 12-1972. Vì vậy, thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương, Thành ủy Hải Phòng gấp rút tổ chức xây dựng thế trận phòng không nhiều tầng nhiều lớp, chủ động chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng đập tan âm mưu của kẻ địch.

Trận địa súng máy phòng không của dân quân huyện Tiên Lãng, khống chế cửa sông Thái Bình tháng 12-1972. Ảnh tư liệu.

Để tạo thành thế trận phòng không nhiều tầng, nhiều lớp, Thành ủy Hải Phòng chỉ đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền và lực lượng vũ trang địa phương phối hợp chặt chẽ giữa với Bộ tư lệnh Quân khu Tả ngạn, Quân chủng Hải quân và Sư đoàn 363 (Quân chủng Phòng không – Không quân)… Trong thời gian ngắn, thế trận phòng không thiên la địa võng nhiều tầng nhiều lớp được thiết lập, với sự chỉ huy điều hành thống nhất của Bộ tư lệnh 350 (Bộ tư lệnh phòng không Thành phố Hải Phòng), đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thành ủy Hải Phòng. Trong đó, Sư đoàn 363 tên lửa phòng không tập trung đánh B-52 và bảo vệ các mục tiêu trọng yếu; lực lượng phòng không lục quân, công an nhân dân vũ trang và dân quân tự vệ bảo vệ các mục tiêu then chốt, trận địa tên lửa và phục kích đánh máy bay bay thấp của địch. Tàu chiến của hải quân, tàu thuyền vận tải, đánh cá tổ chức thành các cụm chiến đấu liên hoàn, tập trung có chiều sâu, dày đặc trên cửa sông, biển. Ngay trước khi Mỹ tiến hành chiến dịch tập kích, Bộ tư lệnh 350 đã tổ chức diễn tập thực binh, làm cơ sở để Thành ủy rút kinh nghiệm và tổ chức lãnh đạo xử lý các tình huống trong chiến đấu.

Đêm 18-12-1972, địch huy động nhiều tốp máy bay chiến thuật và máy bay ném bom chiến lược B-52 đánh phá Hải Phòng. Các tốp máy bay hải quân A-6, A-7 luôn thay đổi thủ đoạn chiến thuật, bất ngờ, bay rất thấp dọc theo sông Thái Bình, Văn Úc… vào đánh Hải Phòng. Những ngày đầu, hiệu suất chiến đấu đạt thấp. Bộ tư lệnh 350 chỉ đạo các đơn vị rút kinh nghiệm, tìm biện pháp khắc phục. Công tác tổ chức trinh sát, quan sát, thông tin liên lạc, phối hợp hiệp đồng giữa các lực lượng được chấn chỉnh. Trên cơ sở đó, các đơn vị kịp thời điều chỉnh thế trận, cơ động lực lượng thành lập cụm hỏa lực có trọng điểm, cùng đánh ở một cự ly, chốt mục tiêu và cơ động quanh chốt, kiên quyết khóa chặt các cửa sông, chặn đứng đường bay vào, bay ra của máy bay địch, chọn hướng tây nam và các cửa sông Thái Bình, Văn Úc… làm trọng điểm để bẻ gãy các cuộc tiến công của địch.

Bằng thế trận đã được điều chỉnh, đêm 19-12-1972, phát hiện máy bay địch từ hướng tây nam lao vào đánh phá cảng Hải Phòng, các trận địa phòng không tầm thấp của tự vệ Công ty Công nghệ phẩm Hải Phòng, tự vệ Bưu điện, Nhà máy nước, Đoàn chèo… đồng loạt nổ súng, bắn rơi 1 máy bay A-6D. Tương tự như vậy, đêm 21-12-1972, đại đội pháo cao xạ Trần Thành Ngọ (Thành đội Hải Phòng) chốt hướng tây nam kết hợp với khẩu đội súng máy của nữ dân quân xã An Thụy bắn rơi 1 chiếc A-6D, rơi ngay trên cửa sông Thái Bình.

TRẦN VĂN TOẢN
qdnd.vn