Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Bệnh viện Bạch Mai ngày ấy – bây giờ

QĐND – Trong 12 ngày đêm của 40 năm trước, cơ sở y tế lớn nhất miền Bắc (Bệnh viện Bạch Mai) đã liên tục hứng chịu những trái bom tàn bạo của máy bay Mỹ. Trận ném bom ngày 22-12-1972 diễn ra khi bệnh viện đang có hơn 300 bệnh nhân nằm điều trị dưới hầm. Nhiều khu nhà làm việc và phòng bệnh bị sập đã lấp kín một số hầm, 28 người bị tử nạn… Thời gian đã xoa dịu nỗi đau chiến tranh, các thế hệ thầy thuốc, nhân viên Bệnh viện Bạch Mai đã vượt qua gian khó, hy sinh, tiếp tục phấn đấu vươn lên để khẳng định vị thế bệnh viện loại đặc biệt của quốc gia như ngày hôm nay…

Bệnh viện Bạch Mai khang trang ngày hôm nay. Ảnh: Minh Mạnh

Vừa tránh bom, vừa cứu người

Từ đầu năm 1972, Bệnh viện Bạch Mai đã đưa hàng trăm bệnh nhân đến nơi sơ tán an toàn, chỉ còn để ở Hà Nội khoảng 300 giường bệnh. Do có hệ thống đường hầm kiên cố, nên các phòng mổ, phòng đẻ, phòng xét nghiệm… và một số giường của bệnh nhân đều để ở dưới hầm. Khi có báo động, mọi bệnh nhân và bác sĩ, y tá, hộ lý vẫn có thể làm việc, điều trị được. Lãnh đạo thành phố Hà Nội phân công bệnh viện có nhiệm vụ cấp cứu người bị thương ở khu vực phía Nam thành phố. Nhiều khi đang còn báo động, nhưng có điện thoại gọi xe cấp cứu đến những nơi bị địch bắn phá, các thầy thuốc lại lên đường, tiến hành sơ cứu tại chỗ rồi đưa bệnh nhân về bệnh viện cứu chữa. Bệnh viện đã nhanh chóng chuyển hoạt động từ hoàn cảnh hòa bình sang hoàn cảnh chiến tranh với hai nhiệm vụ: Vừa khám, điều trị bệnh nhân, tiếp tục đào tạo, nghiên cứu khoa học, đồng thời vừa sẵn sàng cấp cứu có hiệu quả nhiều bộ đội và nhân dân bị thương do máy bay Mỹ ném bom, bắn phá.

Ngoài trận ném bom ngày 22-12-1972 làm 28 người tử nạn (chủ yếu là các thầy thuốc), sáng 27-12-1972, trong lúc nhiều tốp máy bay phản lực đánh phá Thủ đô, chúng đã bắn một quả tên lửa và ném một quả bom cỡ lớn vào giữa khu vực trung tâm của bệnh viện, phá hủy Phòng Điều trị bệnh tim-mạch, bệnh tiêu hóa, bệnh hô hấp, bệnh thận, Phòng Hậu phẫu, Khoa Sản – Phụ, Phòng đẻ, Phòng mổ, Phòng Điều trị trẻ em… Khoa Dược bị tàn phá nghiêm trọng, khoảng 3000 chai huyết thanh, rất nhiều loại thuốc quý và máy móc, dụng cụ y tế… bị vỡ, nát, cháy, hỏng. Một bác sĩ và một công nhân đã hy sinh… Cho đến tận ngày 27-1-1973, khi Hiệp định Pa-ri đuợc ký kết, hòa bình lập lại ở miền Bắc, các bộ phận ở nơi sơ tán của Bệnh viện Bạch Mai mới được lệnh chuyển tất cả phương tiện, máy móc trở về Hà Nội, từng bước ổn định mọi công việc hoạt động bình thường. Năm 1974, Bệnh viện Bạch Mai được sửa chữa và xây dựng lại.

Xứng đáng niềm tin

Từ một cơ sở khám chữa bệnh truyền nhiễm nhỏ bé mang tên “Nhà thương Cống Vọng” được thành lập năm 1911, Bệnh viện Bạch Mai trải qua những bước thăng trầm trong nhiều giai đoạn phát triển, đã từng bước lớn mạnh và trở thành bệnh viện đa khoa hoàn chỉnh hạng đặc biệt đầu tiên của Việt Nam. Đây cũng là cơ sở thực hành chủ yếu của Trường Đại học Y Hà Nội. Hiện, bệnh viện gồm có 2 viện, 7 trung tâm, 22 khoa lâm sàng, 6 khoa cận lâm sàng, 9 phòng, ban chức năng, 1 trường trung học y tế. Về quy mô, bệnh viện có 1.400 giường bệnh với tổng số hơn 2000 cán bộ, y, bác sĩ, công nhân viên (bao gồm 1.800 thuộc biên chế và hợp đồng của Bệnh viện và 200 người của Trường Đại học Y Hà Nội thường xuyên công tác).

Tiến sĩ Nguyễn Quốc Anh, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai khẳng định, với bề dày lịch sử hơn một thế kỷ, Bệnh viện luôn phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết, phấn đấu vì sức khỏe và hạnh phúc của nhân dân. Trong quá trình xây dựng và phát triển, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, Bệnh viện đã có những bước trưởng thành vượt bậc, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho. Hằng năm, số lượng bệnh nhân đến khám là từ 350.000 đến 450.000 người, số bệnh nhân điều trị nội trú trung bình từ 50.000 đến 60.000 người…

Cần nói rằng, những năm qua, nhiều kỹ thuật tiên tiến hiện đại được ứng dụng có hiệu quả trong chẩn đoán, điều trị và chăm sóc người bệnh, điển hình như kỹ thuật sử dụng máy X-Quang tăng sáng truyền hình, chụp mạch 2 bình diện, chụp cắt lớp vi tính CT Scanner, siêu âm Doppler màu… sử dụng kỹ thuật nong mạch vành có giá đỡ, nong van tim, mổ tim hở, điều trị ung thư gan bằng đốt nhiệt sóng cao tần, bằng phương pháp nút mạch, kỹ thuật hóa mô miễn dịch trong chẩn đoán mô tế bào học, kỹ thuật lọc máu… Tại bệnh viện đã có gần 100 kỹ thuật cao được áp dụng, góp phần chẩn đoán chính xác, điều trị hiệu quả, cứu sống nhiều bệnh nhân hiểm nghèo, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, bảo vệ sức khỏe nhân dân.

Để ghi nhận những đóng góp to lớn của Bệnh viện Bạch Mai trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, Đảng và Nhà nước đã tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý như Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương Độc lập hạng nhất, Huân chương Lao động hạng nhất, Danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân, Danh hiệu Anh hùng Lao động…

HOÀNG TRƯỜNG GIANG
qdnd.vn

Vừa đánh, vừa rút kinh nghiệm

QĐND – Kíp chiến đấu của Tiểu đoàn tên lửa 78, đêm đầu tiên bắn không trúng máy bay B-52, nhưng “người trong cuộc” đã nhận ra đặc điểm của nhiễu B-52 khác hẳn các máy bay khác, nhất là những máy bay chiến thuật giả tín hiệu B-52. Về cách đánh, bộ đội Tên lửa cũng nhận ra một điều, đánh máy bay B-52 trong nhiễu, khi không nhìn thấy “nó” thì phải chọn phương pháp điều khiển phù hợp.

Đêm 20-12-1972, sau hai ngày “bắn trượt”, nhờ rút kinh nghiệm kịp thời, Tiểu đoàn 78 đã bắn hạ chiếc B-52 đầu tiên cho đơn vị. Các trắc thủ sau khi “cọ sát” với nhiễu B-52 đã nhận biết được “địch” bằng quan sát trực tiếp, bằng phân tích, loại suy và bằng các thao tác cụ thể, chọn phương pháp bắn tối ưu.

Trong lý thuyết chiến đấu của hầu hết các khí tài phòng không điện tử, thì hiệu quả trúng mục tiêu cao hay thấp, ngoài việc phụ thuộc vào tham số kỹ thuật của khí tài, vào phương pháp xạ kích, còn có một yếu tố rất quan trọng nữa là trình độ thành thục trong thao tác của nhân viên. Điều này hội tụ đủ trong các kíp chiến đấu của lực lượng tên lửa phòng không của ta. Chọn được đội hình kíp chiến đấu giỏi, ăn ý, dũng cảm, sáng tạo trong trực chiến đánh máy bay B-52 tại mỗi tiểu đoàn hỏa lực tên lửa tháng 12-1972 là một yếu tố mang tính thực tiễn sống động.

TRẦN DANH BẢNG
qdnd.vn

“Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 – Đòn đánh cuối cùng buộc Mỹ ký Hiệp định Pa-ri

Bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam

QĐND -Bước sang năm 1972, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam có bước phát triển mới. Ở miền Nam, với cuộc tiến công chiến lược trên 3 hướng chiến trường trọng điểm Trị – Thiên, Bắc Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, quân và dân ta đã tiêu diệt một bộ phận lớn sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, giải phóng cơ bản tỉnh Quảng Trị và giành quyền làm chủ nhiều địa bàn quan trọng khác, đẩy chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ đến bờ vực phá sản. Ở miền Bắc, quân và dân ta vẫn vững vàng vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mỹ. Trong khi đó, ở trong lòng nước Mỹ, số nghị sĩ Thượng viện và Hạ viện chống chính sách can thiệp vào chiến tranh của chính quyền Ních-xơn ngày càng tăng; phong trào xuống đường biểu tình đòi chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, rút hết quân viễn chinh Mỹ và đồng minh của Mỹ về nước thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, nhất là các cựu chiến binh Mỹ. Đồng thời, nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới cũng kịch liệt lên án cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ.

Trước sức ép từ nhiều phía, ngày 8-10-1972, Ních-xơn tuyên bố nối lại các cuộc thương lượng với Chính phủ ta ở Pa-ri; thông qua dự thảo hiệp định “Về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” và thống nhất thời gian ký tắt và ký chính thức hiệp định. Tuy nhiên, những hành động “mềm mỏng” và “thiện chí” của Mỹ chỉ nhằm đánh lừa dư luận, tạo điều kiện cho Ních-xơn giành thắng lợi trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ (11-1972), còn bản chất ngoan cố và hiếu chiến thì không thay đổi. Thực tế là, ngay sau khi trúng cử Tổng thống nhiệm kỳ II, chính quyền Ních-xơn tìm mọi cách trì hoãn việc ký kết hiệp định; mặt khác, khẩn trương lập cầu hàng không, ồ ạt đưa vào miền Nam một khối lượng lớn vũ khí, phương tiện chiến tranh và đốc thúc quân đội Sài Gòn đẩy mạnh các cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng của ta.

Đối với miền Bắc, Mỹ tập trung lực lượng không quân và hải quân đánh phá dữ dội các tuyến giao thông trên địa bàn Quân khu 4 hòng ngăn chặn chi viện nhân lực, vật lực của hậu phương miền Bắc cho chiến trường miền Nam. Thâm hiểm hơn, chính quyền Ních-xơn khẩn trương tiến hành chính sách ngoại giao nước lớn nhằm hạn chế sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Cùng với những âm mưu và hành động xảo quyệt trên, Lầu Năm Góc đã bí mật chuẩn bị kế hoạch tập kích đường không chiến lược bằng B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng và một số mục tiêu quan trọng trên miền Bắc mang mật danh Lai-nơ-bếch-cơ II nhằm khủng bố tinh thần, làm tê liệt ý chí quyết chiến, quyết thắng của dân tộc ta, tạo áp lực buộc ta phải khuất phục. Theo đó, tại bàn đàm phán Pa-ri, phái đoàn Mỹ đã lật lọng, yêu cầu phái đoàn ta phải sửa đổi những điều rất cơ bản trong Hiệp định theo hướng có lợi cho chúng. Thực chất đây chỉ là cớ để Mỹ dừng cuộc đàm phán, chuyển sang thực hiện một “đòn quân sự quyết định” để có thể “nhanh chóng buộc Chính phủ Việt Nam phải trở lại Hội nghị Pa-ri, chấp nhận các đòi hỏi của Mỹ”(1).

Như vậy, cuộc tập kích của không quân chiến lược Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và nhiều nơi trên miền Bắc tháng 12-1972 hoàn toàn nằm trong sự tính toán kỹ lưỡng của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc, bất chấp sự phản đối, lên án mạnh mẽ của dư luận trong và ngoài nước. Đó là nỗ lực cuối cùng, phản ánh sự bất lực của đế quốc Mỹ trong cuộc đấu trí, đấu lực với nhân dân Việt Nam, đúng như sử gia Mỹ Gabriel Kolko đã nhận xét: “Điều duy nhất mà Nhà Trắng đã làm là tỏ ra có đầy đủ khả năng để dùng sức mạnh không quân hòng ép buộc một hiệp định hòa bình”(2).

Về phía ta, nhờ theo dõi sát diễn biến tình hình, Trung ương Đảng đã sớm nắm bắt âm mưu và hành động phiêu lưu quân sự mới của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc, đặc biệt là đối với thủ đô Hà Nội. Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiên đoán ngay từ cuối năm 1967: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước tình huống, càng sớm càng tốt, để có thời gian suy nghĩ chuẩn bị. Nhớ là trước khi thua ở Triều Tiên, đế quốc Mỹ đã hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”(3).

Đúng như dự đoán của ta, trong 12 ngày đêm (từ 18-12 đến 29-12-1972), chính quyền Ních-xơn huy động một lực lượng không quân chiến lược khổng lồ, với gần 200 máy bay B-52 (gần 100% số B-52 ở Đông Nam Á, 50% số B-52 của quân đội Mỹ), 30 máy bay F.111 “cánh cụp cánh xòe” và toàn bộ máy bay tiêm kích ở Đông Nam Á (hơn 1000 chiếc), 6 liên đội tàu sân bay, 50 máy bay KC.135 tiếp nhiên liệu trên không… mở cuộc tập kích quy mô lớn vào Hà Nội, Hải Phòng, phá hủy nhiều khu phố, làng mạc, nhà cửa, nhà máy, xí nghiệp, bệnh viện, trường học… gây thiệt hại lớn về người và cơ sở vật chất kỹ thuật của ta.

Nhờ chủ động chuẩn bị về lực lượng, thế trận, ý chí và tinh thần, với cách đánh thông minh, sáng tạo, quân và dân thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và các địa phương trên miền Bắc đã làm nên một trận “Điện Biên Phủ trên không” trên bầu trời Hà Nội “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”: Bắn rơi 81 máy bay, trong đó có 34 máy bay B-52, hàng chục máy bay chiến thuật của Mỹ; riêng Hà Nội bắn rơi 25 máy bay B-52. Cái gọi là “sức mạnh không lực Hoa Kỳ” đã bị thảm bại trên bầu trời thủ đô Hà Nội.

Lời dự đoán 5 năm về trước của Bác Hồ đã thành hiện thực, “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 là đòn đánh quyết định cuối cùng buộc chính quyền Mỹ phải chấp nhận nối lại đàm phán và nhanh chóng ký Hiệp định Pa-ri, kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam (27-1-1973).

Để có được đòn đánh quyết định đó, chúng ta phải nỗ lực không ngừng trong xây dựng sức mạnh tổng hợp nội tại kết hợp với sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế trên cơ sở đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Trung ương Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và cơ quan tham mưu các cấp. Những bài học kinh nghiệm quý cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng, phát huy trong công cuộc xây dựng quân đội, tăng cường quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay đó là:

Thứ nhất, nhạy bén trong nắm bắt, đánh giá, phân tích tình hình của Bộ thống soái tối cao và các cơ quan tham mưu chiến lược.

Trước hết, chúng ta phải khẳng định sự nhạy bén trong việc nắm bắt, phân tích tình hình, để có sự chỉ đạo kịp thời của Bộ thống soái tối cao và các cơ quan tham mưu chiến lược là nhân tố quyết định nhất làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” (12-1972). Về chỉ đạo chiến lược, lời tiên đoán chính xác của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “đế quốc Mỹ chỉ chịu thua trên bầu trời Hà Nội” là định hướng quan trọng để các cơ quan tham mưu chiến lược chủ động đề ra những chủ trương, biện pháp tác chiến có hiệu quả nhất. Ngay từ tháng 4-1972, Quân ủy Trung ương đã chỉ thị cho Quân chủng PK-KQ và các quân khu: Phải sẵn sàng đối phó với khả năng Mỹ cho không quân, kể cả không quân chiến lược, đánh phá trở lại miền Bắc.

Trên cơ sở những nhận định, chỉ đạo sáng suốt, kịp thời của Bộ Chính trị, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh và Bộ Tổng tham mưu, Quân chủng PK-KQ đã sớm hoàn thành Bản kế hoạch chiến dịch đánh trả cuộc tập kích chiến lược đường không bằng B-52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng và các tài liệu hướng dẫn về cách đánh B-52. Theo đó, công tác chuẩn bị mọi mặt được tiến hành hết sức khẩn trương. Việc điều chỉnh đội hình chiến đấu, triển khai sở chỉ huy dự bị các cấp, huấn luyện các kíp chiến đấu, công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng quyết tâm, công tác bảo đảm vũ khí, khí tài, bảo đảm cơ sở vật chất… cơ bản hoàn thành đúng thời gian quy định. Sau khi thông qua kế hoạch tác chiến, Bộ Tổng tham mưu khẩn trương điều chỉnh lực lượng, xây dựng thế trận của lực lượng phòng không ba thứ quân, chuẩn bị kế hoạch phòng không nhân dân, sẵn sàng đối phó với âm mưu, thủ đoạn mới của địch.

Thứ hai, xây dựng tinh thần tích cực, chủ động, quyết đánh và quyết thắng cho bộ đội phòng không và toàn dân, toàn quân.

Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Bất kỳ hòa bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”(4), có như thế mới tránh được tổn thất do địch bất ngờ gây ra, còn ta phát huy được hiệu quả chiến đấu cao. Ngay từ tháng 5-1966, Quân chủng PK-KQ đã điều động Đoàn Tên lửa Hạ Long cơ động chiến đấu, trực tiếp nghiên cứu cách đánh B-52 tại chiến trường Vĩnh Linh. Đây là một quyết tâm rất cao thể hiện tư tưởng tích cực, chủ động tiến công của các đơn vị quân binh chủng trong Quân đội nhân dân Việt Nam, trực tiếp là Quân chủng PK-KQ. Sau thời gian dài kiên trì bám trụ trận địa phục kích đánh B-52, đến tháng 9-1967, Đoàn Tên lửa Hạ Long đã bắn rơi B-52.

Vận chuyển đạn tên lửa phục vụ chiến dịch phòng không cuối tháng 12-1972. Ảnh tư liệu

Từ tháng 2-1968, theo chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ tư lệnh Quân chủng PK-KQ đã xây dựng kế hoạch tác chiến đánh máy bay B-52 Mỹ, đến giữa năm 1972, Quân chủng liên tiếp điều động 4 trung đoàn tên lửa cùng một số máy bay MiG vào Khu 4 để chi viện cho chiến dịch Trị-Thiên và trực tiếp nghiên cứu cách đánh B-52; và đã bắn rơi được B-52 nhưng chưa rơi được tại chỗ và chưa bắt sống được giặc lái. Tuy nhiên, những kinh nghiệm được đúc kết từ những trận đánh này là cơ sở thực tiễn rất quý giá, trực tiếp giúp cho Quân chủng PK-KQ xây dựng phương án đánh B-52 cuối tháng 12-1972. Mặt khác, cũng từ cuối năm 1972, bộ đội PK-KQ ta phải một lúc đảm đương ba nhiệm vụ nặng nề: Vừa tiếp tục tham gia tác chiến trong đội hình quân binh chủng hợp thành ở chiến trường miền Nam, bảo vệ vùng giải phóng Quảng Trị, vừa phải bảo vệ giao thông vận chuyển trên địa bàn Quân khu 4 và trên tuyến cửa khẩu vượt Trường Sơn, đồng thời luôn phải sẵn sàng đánh trả cuộc tập kích đường không quy mô lớn của đế quốc Mỹ vào Hà Nội và Hải Phòng. Trước tình hình đó, theo chỉ thị của Bộ Tổng tư lệnh, Đảng ủy Quân chủng PK-KQ tiến hành một đợt sinh hoạt chính trị trong toàn lực lượng, làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc hơn về âm mưu thâm độc của kẻ thù, nhất là thủ đoạn sử dụng máy bay B-52 đánh phá quy mô lớn ở miền Bắc, trọng tâm là Hà Nội, Hải Phòng. Trên cơ sở đó, động viên tinh thần tích cực, chủ động của các đơn vị quân binh chủng xây dựng quyết tâm, kế hoạch đánh B-52. Có thể khẳng định rằng, sự chủ động về tinh thần, ý chí và sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt là một trong những yếu tố quan trọng góp phần làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

Thứ ba, xây dựng thế trận phòng không ba thứ quân hoàn chỉnh, vững chắc.

Trong cuộc đối đầu với cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ, trên cơ sở đường lối chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân, một thế trận phòng không nhân dân với lực lượng PK-KQ là nòng cốt đã được hình thành và từng bước hoàn chỉnh. Quân và dân thủ đô Hà Nội, thành phố cảng Hải Phòng cùng các tỉnh lân cận đã tổ chức được mạng lưới chiến tranh nhân dân rộng khắp cả thành thị và nông thôn, kết hợp vũ khí thô sơ với vũ khí hiện đại, trong một thế trận mà kẻ địch sử dụng các loại vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam và thế giới. Đặc biệt, việc xây dựng nên thế trận và sử dụng các loại vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại ấy chính là những con người Việt Nam được rèn luyện và thử thách trong máu lửa của chiến tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, những thanh niên được đào tạo dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, những trí thức thời đại Hồ Chí Minh là những người làm nên sức mạnh mới. Mặt khác, chế độ xã hội chủ nghĩa đã đem lại cho quân và dân ta những tiến bộ rất nhanh. Những đường băng cất cánh của những máy bay MiG, những trận địa phòng không liên kết đã tạo ra lưới lửa nhiều tầng, bệ phóng cho những quả tên lửa tới đích thực sự là những yếu tố có tính chất quyết định để tạo nên thế trận phòng không nhân dân hoàn chỉnh và vững chắc ở Hà Nội nói riêng và miền Bắc nói chung. Thế trận đó đã được kinh qua những thử thách ác liệt của nhiều năm chống chiến tranh không quân của Mỹ, nên trước cuộc tập kích quy mô lớn của không quân chiến lược Mỹ, quân và dân Hà Nội vẫn bình tĩnh – đĩnh đạc bước vào cuộc đụng đầu lịch sử này, không mảy may nao núng mà còn vươn đến đỉnh cao của chiến thắng.

Thứ tư, tinh thần chiến đấu kiên cường, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, tầm cao trí tuệ Việt Nam.

Chiến đấu chống lại cuộc tập kích đường không chiến lược của Mỹ cuối tháng 12-1972 là cuộc đối đầu giữa lực lượng phòng không nhân dân Việt Nam với máy bay B-52 – một phương tiện chiến tranh hiện đại bậc nhất thời bấy giờ, chúng hoạt động trong màn nhiễu điện tử dày đặc. Do vậy, đây thực sự là một cuộc đấu trí, đấu lực đỉnh cao của cả hai phía. Tầm cao trí tuệ Việt Nam được thể hiện trong tài thao lược, trong nghệ thuật chiến dịch phòng không, trong việc làm chủ vũ khí, phương tiện kỹ thuật hiện đại, trong sáng tạo cách đánh của từng binh chủng, của từng thứ quân, trong việc kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao ở bàn đàm phán Pa-ri. Đây chính là một quy luật đặc sắc của chiến tranh cách mạng – một dân tộc nhỏ muốn đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của một siêu cường phải biết sử dụng cả ý chí và trí tuệ. Hà Nội – Thủ đô của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) – trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của đất nước, nơi hội tụ trí tuệ Việt Nam, qua thử thách của chiến tranh đã tự hào là “tọa độ lửa” đối với không quân Mỹ, là Thủ đô của lương tri nhân loại, phẩm giá con người, là nơi thể hiện đỉnh cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Đây chính là một trong những nhân tố mang tính nhân bản, cội nguồn tạo nên sức mạnh vô địch của Đông Đô – Thăng Long – Hà Nội, một sự bảo đảm vững chắc để chúng ta làm nên Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972. Điều này cũng đã được chính cố vấn đặc biệt của chính quyền Ních-xơn là Kít-xinh-giơ thừa nhận: Nếu Việt Nam chỉ anh hùng không thôi thì chúng tôi sẽ đè bẹp, nhưng Việt Nam vừa anh hùng vừa rất thông minh, sáng tạo nên chúng tôi đã thua.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta đã kết thúc toàn thắng cách đây gần 4 thập kỷ, nhưng Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 – đòn đánh quyết định cuối cùng buộc chính phủ Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri, rút hết quân viễn chinh và quân đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, mở ra thời cơ chiến lược lớn để quân và dân ta tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, giải phóng miền Nam, thu non sông đất nước về một mối, vẫn mãi là khúc khải hoàn ca âm vang trong tâm trí của các thế hệ người dân thủ đô Hà Nội nói riêng, cả nước nói chung và nhân loại tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Hào khí Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” cùng những kinh nghiệm, bài học lịch sử của nó đã, đang và sẽ tiếp tục được phát huy, nghiên cứu, vận dụng trong sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc ở thủ đô Hà Nội và cả nước ta hôm nay và những năm tiếp theo.

Thượng tướng NGUYỄN THÀNH CUNG (Ủy viên Trung ương Đảng,Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng)
qdnd.vn

———————
(1). Bộ Quốc phòng – Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975, tập VII, Thắng lợi quyết định năm 1972, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.306.

(2). Gabriel Kolko, Giải phẫu một cuộc chiến tranh, tập II, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1991, tr.132.

(3). Hồ Chí Minh, Biên niên những sự kiện và tư liệu về quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990, tr.203.

(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb CTQG, H.1995, tr.317.

Điện Biên Phủ trên không – Kỳ cuối Thua ở Pari sau khi thua trên bầu trời Hà Nội

Thua trên bầu trời Hà Nội

Lực lượng nòng cốt chống lại “con bài chiến lược” B52 của Mỹ là các đơn vị tên lửa phòng không, với những bệ phóng tên lửa SAM 2 (theo cách gọi của Mỹ hay S75 theo cách gọi của Liên Xô). Để đối phó và tìm ra cách đánh B52 hiệu quả nhất, từ năm 1967, Sư đoàn Phòng không 361 đã đưa các trung đoàn tên lửa vào Trường Sơn và bắc Quảng Trị để tiếp cận B52 và nghiên cứu các chiến thuật gây nhiễu điện tử của không quân Mỹ. Sau một số trận chiến đấu, các ghi nhận này đã được cơ quan tham mưu phân tích và đúc kết thành cuốn Cẩm nang bìa đỏ nổi tiếng của quân chủng. Trong tháng 10/1972, cuốn Cẩm nang này được chuyển đến tất cả các tiểu đoàn tên lửa để nghiên cứu luyện tập phương án đánh B52 nếu chúng tấn công quy mô lớn vào Hà Nội.

BDP 2.1Người dân Mỹ biểu tình phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ tại Việt Nam.

Cho đến khi đó, hệ thống radar của SAM 2 đã được cải tiến 4 lần với 40 nội dung kỹ thuật để có thể đối đầu hiệu quả với cuộc chiến tranh điện tử của không lực Hoa Kỳ. Các “miếng” đánh kỹ thuật chống tên lửa shrike từ các máy bay tiêm kích hộ tống B52 phóng vào các trạm radar cũng được hoàn thiện và luyện tập thành thục. Cuốn Cẩm nang bìa đỏ cũng hướng dẫn cho các cấp chỉ huy tiểu đoàn tên lửa về công tác chỉ huy, cách chọn dải nhiễu, chọn thời cơ phát sóng, cự ly phóng đạn, phương pháp bắn, phương pháp bám sát mục tiêu trong nhiễu… Riêng trong 12 ngày đêm cuối tháng 12/1972, 14 tiểu đoàn tên lửa SAM 2 bảo vệ Hà Nội và Hải Phòng đã bắn rơi 27 máy bay B52. Cho đến nay, Việt Nam là nước duy nhất trên thế giới đã sử dụng tên lửa SAM 2 đánh thắng máy bay ném bom chiến lược B52 của không lực Hoa Kỳ.

Làn sóng phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ trên thế giới và trong nước Mỹ càng bùng lên mạnh mẽ ở nhiều nơi trên thế giới và trong nước Mỹ. Ngày 2/1/1973, với 154/75 phiếu, Hạ viện Mỹ ra Nghị quyết đòi cắt tất cả các khoản ngân sách cho chiến tranh Đông Dương, trừ các chi phí cho việc rút quân và hồi hương tù binh.

Tháng 5 năm 1972, Đại tướng Võ Nguyên Giáp bất ngờ nêu câu hỏi với các cán bộ tham mưu tác chiến của Quân chủng Phòng không: “Tỷ lệ B52 bị bắn rơi mức độ nào thì Nhà Trắng rung chuyển, mức độ nào thì Mỹ không chịu nổi, phải thua?”. Cho đến lúc đó các phương án đánh B52 trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng đều đã có những yêu cầu về hiệu suất chiến đấu từng trận, từng ngày nhưng chưa nói đến chỉ tiêu về tỷ lệ bắn rơi B52. Đại tướng Tổng Tư lệnh đã phát hiện ra thiếu sót đó. Sau mấy tuần vật lộn với những con số, câu trả lời đã được đưa ra:

• N1 – tỷ lệ Mỹ chịu đựng được là 1 -2% (trên tổng số B52 tham chiến của Mỹ);

• N2 – tỷ lệ làm Nhà Trắng rung chuyển là 6 – 7%;

• N3 – tỷ lệ buộc Mỹ thua cuộc là trên 10%.

Câu hỏi tiếp theo của Tổng Tư lệnh với Quân chủng Phòng không là: Quân chủng chọn tỷ lệ nào? Câu trả lời lần này có ngay lập tức: Chúng tôi loại trừ N1, quyết tâm đạt N2 và vươn tới N3. Đại tướng chỉ thị: Muốn vậy quân chủng phải làm tốt hai việc: Khẩn trương hoàn thành kế hoạch đánh B52 bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng để dựa vào đó hoàn tất mọi công tác chuẩn bị; gấp rút hoàn chỉnh các tài liệu về cách đánh B52 để lấy đó mà huấn luyện cho bộ đội thật thành thạo. Quân chủng Phòng không đã thực hiện xuất sắc chỉ thị đó, hoàn thành vượt mức chỉ tiêu N3. Trong 12 ngày đêm mùa đông năm đó, tỷ lệ B52 bị bắn hạ là 17,6% (34/197 chiếc). Hà Nội góp công trong đó 23 chiếc và đã làm nên một Điện Biên Phủ trên không lừng lẫy địa cầu.

DBP 2.2Lễ ký Hiệp định Pari ngày 27/1/1973.

Cố gắng của Mỹ dùng B52 ném bom hủy diệt Hà Nội những ngày cuối năm 1972 đã gây cho nhân dân Việt Nam nhiều tổn thất đau thương nhưng cũng đem lại cho nước Mỹ những thiệt hại to lớn cả về quân sự và chính trị.

Không thể sửa Điều 1

Trận “Điện Biên Phủ trên không” ở Hà Nội đã quyết định kết cục của cuộc đàm phán ở Pari. Dù Tổng thống Nixon có thể cho phép mình tin rằng phía Việt Nam chấp nhận họp lại ở Pari để thương lượng là “sự đầu hàng tuyệt vời của địch theo các điều kiện của chúng ta” nhưng ngày 6/1/1973, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ tới Pari trong vòng hào quang chiến thắng và Mỹ đã phải chấp nhận ký Hiệp định Pari ngày 27/1/1973. Nixon và Kissinger đã thua ở Pari sau khi B52 đã thua trên bầu trời Hà Nội.

“Điện Biên Phủ trên không” đã làm Mỹ thiệt hại 81 máy bay, trong đó có 34 “pháo đài bay” B52; 43 phi công Mỹ bị bắt sống… (2) Nếu tiếp tục mức độ tổn thất như 12 ngày đêm cuối tháng 12/1972 trên bầu trời Hà Nội thì Mỹ sẽ hết máy bay chiến lược B52 trong vài tháng. Ngoài ra và trầm trọng hơn là tổn thất to lớn về lực lượng phi công lái B52 – thứ còn khó thay thế hơn B52.

Khi đặt bút ký Hiệp định Pari, phía Mỹ cũng đã đạt được phần nào những gì họ muốn: Đưa quân viễn chinh cùng tù binh Mỹ ra khỏi cuộc chiến ở Việt Nam và xoa dịu dư luận bằng một hiệp định hòa bình; Thiệu cũng giữ được chính quyền và bấu víu vào những cam kết trợ giúp của Mỹ. Tuy nhiên, Mỹ cũng không thể loại bỏ được những gì họ không muốn: Lực lượng vũ trang, chính trị của Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam vẫn giữ nguyên.

Mỹ buộc phải thừa nhận miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát, ba lực lượng chính trị; Mỹ phải rút khỏi miền Nam Việt Nam toàn bộ quân đội, cố vấn và nhân viên quân sự (kể cả nhân viên kỹ thuật quân sự và nhân viên quân sự liên quan đến chương trình bình định), thu hồi và rút bỏ vũ khí, dụng cụ chiến tranh của Mỹ và các nước ngoài khác trong thời hạn 60 ngày trong khi quân đội của miền Bắc Việt Nam vẫn ở tại vị trí của mình. Những điều đó không phải là bất ngờ đối với Mỹ. Họ cũng đã dự kiến và gấp rút thực hiện những biện pháp đối phó với những bất lợi bị Hiệp định Pari quy định. Hay nói cách khác, Mỹ và chính quyền Thiệu đã chuẩn bị vi phạm Hiệp định Pari từ trước khi ký.

Ngày 10/2/1973, ông Kissinger đến Hà Nội trong một chuyến đi không có lễ đón chính thức. Kissinger và những cộng sự của ông ta trong đoàn là những công chức Mỹ đầu tiên đi lại tự do trên đường phố Hà Nội kể từ sau năm 1954. Cách những bước chân của Kissinger lúc đó không xa là những đồng hương lái máy bay B52 của ông đang là tù binh bị giam giữ tại Hỏa Lò.

Về sau, ông Kissinger viết trong hồi ký của mình: “Người Việt Nam đã sống qua hàng thế kỷ dưới ách thống trị của phong kiến Trung Quốc mà không hề đánh mất bản sắc văn hóa, đây là một kỳ công hiếm khi được nghe nói đến. Sau đó, họ đã chiến thắng sự xâm lược của Pháp, luôn ấp ủ một niềm tin rằng cuối cùng họ sẽ chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược” (3). Ông ta tỏ ra hiểu hơn vì sao Đoàn đàm phán của Việt Nam Dân chủ cộng hòa ở Pa-ri đã kiên quyết giữ Điều 1 (Chương I) trong Hiệp định: “Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Giơnevơ năm một nghìn chín trăm năm mươi tư (1954) về Việt Nam đã công nhận” (4).

*
*    *

“Pháo đài bay” B52 và cuộc tấn công tàn bạo trong dịp Giáng sinh năm 1972 của Nixon đã không lật ngược được thế cờ. Vượt qua mọi toan tính chiến lược và sách lược của Mỹ và chính quyền Thiệu cố “giữ miền Nam Việt Nam khỏi rơi vào tay cộng sản”, xu thế chiến thắng giải phóng miền Nam – thống nhất đất nước sau Hiệp định Pa-ri của quân và dân hai miền Nam – Bắc là tất yếu trong sự suy yếu cả về thế và lực của chính quyền Sài Gòn trên chính trường và trên chiến trường.

            (1) Theo Hồi ký của Thượng tướng Phùng Thế Tài – Tạp chí Lịch sử quân sự – số 12.1987

            (2) Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam (1954 – 1975) – Nxb CTQG; Hà Nội, 1995, Tập II, 578

            (3) Henry Kissinger, Kết thúc chiến tranh Việt Nam, Sđd, tập 2, tr 296

            (4) Lưu Văn Lợi, Nguyễn Anh Vũ (1996) – Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ – Kissinger tại Pari, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 450; 451

Theo Baotintuc.vn
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Điện Biên Phủ trên không – Kỳ 1: “Quân cờ” và “người chơi cờ”

Báo chí Mỹ gọi Linebacker II – mật danh của cuộc tập kích chiến lược vào Hà Nội trong 12 ngày đêm cuối tháng 12 năm 1972 – là “Cuộc ném bom mùa Giáng sinh”. Nhân dân Việt Nam và nhân loại tiến bộ gọi sự kiện này một cách đầy tự hào là “Điện Biên Phủ trên không”. Chiến thắng của nhân dân Việt Nam đã kết thúc cuộc đấu trí trong một “ván cờ” ngoại giao kéo dài hơn bốn năm tại Pari…

Trong cuộc đấu cờ, người thắng kẻ thua phải chính là những người chơi cờ

Trong cơn khủng hoảng về chiến lược chiến tranh, về chính sách đối ngoại và đối nội sau Mậu Thân – 1968, ngày 31/3/1968, Tổng thống Mỹ Lyndon.B. Johnson tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam từ phía bắc vĩ tuyến 20 và: “Đã đến lúc nói lại về hòa bình và tôi sẵn sàng đi bước đầu tiên trên con đường một cuộc xuống thang”.

DBP 1.1B-52 phơi xác trên đường phố Hà Nội.

Trên trường ngoại giao, trước cuộc bầu cử cho nhiệm kỳ thứ hai của mình, Tổng thống Mỹ Richard Nixon đã có nhiều hoạt động “tìm kiếm hòa bình”. Những chuyến đi Bắc Kinh (2/1972) và Mátxcơva (5/1972) gặp gỡ các nhà lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc và Liên Xô cũng đã thu về cho R. Nixon những thuận lợi trong sự mặc cả về vấn đề Việt Nam.

Nhưng những nhà lãnh đạo Việt Nam cũng đã rút ra những kinh nghiệm của mình từ Hội nghị Giơnevơ năm 1954 – khi những gì phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đạt được trên bàn hội nghị không tương xứng với những gì đã đạt được trên chiến trường do những sức ép chính trị từ nhiều phía khác. Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đã nói với ông Henry Kissinger trong cuộc trao đổi bí mật ngày 26/1/1971 được tác giả Larry Berman trích dẫn: “Trong cuộc đấu cờ, người thắng và kẻ thua phải chính là những người chơi cờ, không còn cách nào khác. Chúng tôi độc lập trong việc giải quyết vấn đề của chúng tôi” (1) .

DBP 1.2Phố Khâm Thiên bị máy bay B52 ném bom hủy diệt ngày 26/12/1972.

Trong những năm Hội nghị Pari bàn việc kết thúc chiến tranh ở Đông Dương, súng vẫn nổ dữ dội trên chiến trường. Tại Pari, nhiều cuộc tranh luận gay gắt vẫn diễn ra xung quanh chiếc bàn tròn đường kính 8m phủ vải xanh và trong những cuộc gặp bí mật. Nhưng thực lực của các lực lượng và tình thế chiến trường sẽ quyết định những điều khoản thỏa thuận đạt được trên bàn đàm phán.

Mỗi người dân bình thường nhất ở Hà Nội cũng hiểu rõ vị trí, vai trò, ý nghĩa của cuộc chiến đấu chống lại B52 đối với cuộc đấu tranh ngoại giao cũng không kém phần gay go quyết liệt đang diễn ra cách đó hơn 10.000 km. Tiếng bom Mỹ ở Hà Nội dội đến và gây tác động mạnh ở Pari. Mỗi chiếc máy bay Mỹ bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội cũng là câu trả lời đanh thép của nhân dân Việt Nam gửi tới bàn Hội nghị.

Âm mưu thương lượng trên thế mạnh

Trong tình thế phải “xuống thang” trên chiến trường nhưng muốn gây sức ép để đạt được kết quả có lợi trên bàn Hội nghị Pari, Mỹ vẫn tiếp tục cố gắng kéo dài chiến tranh ở Việt Nam, thậm chí mở rộng chiến tranh ra ngoài biên giới miền Nam Việt Nam bằng các cuộc hành quân sang Lào và Campuchia. Những cuộc hành quân này nhằm mục đích trước tiên là cắt đứt tuyến đường cung cấp hậu cần hậu phương của miền Bắc cho chiến trường miền Nam.

Mặc dù vậy, những thí nghiệm cho công thức Việt Nam hóa chiến tranh: Quân ngụy + Hỏa lực Mỹ + Hậu cần Mỹ = Chiến thắng đều không mang lại kết quả như Mỹ mong muốn.

DBP 1.3Đơn vị tên lửa X… bảo vệ Thủ đô phóng đạn đánh trả máy bay Mỹ.

Những cố gắng trên chiến trường của Mỹ phản ánh rõ mưu đồ “thương lượng trên thế mạnh”, buộc Việt Nam Dân chủ cộng hòa phải chấp nhận những điều khoản do Mỹ áp đặt. Từ tháng 4/1972, Mỹ phát động trở lại cuộc chiến tranh phá hoại và bóp nghẹt miền Bắc Việt Nam bằng không quân và hải quân. Mật danh của chiến dịch được đặt là Linebacker I. Hà Nội, Hải Phòng và các đô thị lớn khác ở miền Bắc là các mục tiêu chính. Cường độ đánh phá cũng như mật độ số lần đánh phá những mục tiêu này đều ở mức cao.

Cho đến những ngày cuối năm 1972, đỉnh cao của những cố gắng “thương lượng trên thế mạnh” của Mỹ là “cuộc ném bom mùa Giáng sinh” – đã được chuẩn bị kế hoạch từ trước với mật danh Linebacker II. Mức độ khốc liệt của Linebacker II là chưa từng có. Nếu như Linebacker I có mục đích “tiêu diệt khả năng chiến tranh của Bắc Việt” thì Linebacker II nhằm mục tiêu cao hơn: “Tiêu diệt ý chí chiến đấu của Bắc Việt; đánh phá tối đa các mục tiêu quan trọng và có giá trị nhất; gây khốn khó tối đa cho người dân…”.

“Cuộc ném bom mùa Giáng sinh” đã gây sốc cho công luận Mỹ và toàn thế giới khi biết những mục tiêu dân sự bị rải bom hủy diệt bằng máy bay ném bom chiến lược B52. Sau này chính ông Kissinger đã viết trong hồi ký của mình: “Sự căm phẫn về đạo đức tăng lên từng ngày. Người ta phản đối chính phủ Mỹ đang cố tình giết dân thường. Người ta nhanh chóng buộc tội chính quyền là phi đạo đức và lừa gạt; “dã man tàn bạo” là một tính từ hay được dùng” (2).

Dũng cảm và vững vàng

Trận “Điện Biên Phủ trên không” ở Hà Nội đã đặt dấu chấm hết “cuộc cờ tàn” và kết thúc sự tham chiến trực tiếp của Mỹ tại Việt Nam. Cả hai bên “chơi cờ” đã sử dụng tất cả những “quân cờ” của mình với cố gắng cao nhất. Nhưng cuối cùng Việt Nam đã thắng – với những “quân cờ” chủ yếu là tinh thần yêu nước, là lòng tin mãnh liệt vào thắng lợi của cuộc đấu tranh chính nghĩa của mình.

Ông Kissinger và một số người đồng quan điểm cho rằng Việt Nam chỉ thắng về chính trị chứ không thắng về quân sự vì đã đưa được chiến tranh vào trong nước Mỹ. Đánh giá này không thực tế. Nếu quân Mỹ không phải chịu những thất bại nặng nề trên chiến trường thì làm sao chiến tranh Việt Nam có thể “lan” đến nước Mỹ, trở thành vấn đề của Mỹ, trở thành cuộc chiến tranh của nước Mỹ?

Trong những năm chiến tranh, những người nước ngoài nhìn thấy ở Hà Nội một dáng vẻ dũng cảm và vững vàng của người Hà Nội đối phó với bom Mỹ. Họ thán phục: “Hà Nội có rất nhiều hầm trú ẩn, các khách sạn không hề có công sự bảo vệ như Sài Gòn. Bồn chồn, bứt rứt thì người trong nước Mỹ ta bồn chồn bứt rứt nhiều. Ở đây chỉ thấy quyết tâm và hy sinh, chỉ thấy một thái độ nghiêm trang”(3). Với nhân dân tiến bộ trên thế giới, Hà Nội là biểu tượng của phẩm giá và lương tri nhân loại.

Hà Nội trở thành biểu tượng bất khuất của một dân tộc yêu tự do, không chịu khuất phục trước sức mạnh của vũ khí. Chống lại “siêu pháo đài bay bất khả xâm phạm”, “con ngáo ộp” B52 và các loại máy bay hiện đại khác của Mỹ không chỉ có tên lửa SAM và máy bay MIG mà còn có ý chí của cả một dân tộc bất khuất, có nụ cười và mũ rơm của các em học sinh vẫn đêm đêm trông về Hà Nội rực sáng ánh lửa đạn và xác “pháo đài bay” đang cháy.

  (1) Larry Berman (2003) – Không hòa bình, chẳng danh dự Nixon, Kissinger, và sự phẩn bội ở Việt Nam (Nguyễn Mạnh Hùng dịch), Việt Tide xuất bản, tr 145.

(2) Henry Kissinger (2007) – Kết thúc chiến tranh Việt Nam; Tài liệu tham khảo đặc biệt; Thông tấn xã Việt Nam, Tập 2, tr 264.

(3) H.Pteco (1984) – Hà Nội trong con mắt bạn bè – Nxb Hà Nội, Hà Nội, tr 77.

Theo Baotintuc.vn
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

“Pháo đài” sụp đổ

QĐND – Bảo tàng Chiến thắng B-52 (Hà Nội) là nơi trưng bày hàng nghìn hiện vật về “siêu pháo đài bay B-52”. Tháng 12-1972, Tổng thống Mỹ Ních-xơn tuyên bố rằng, sẽ dùng B-52 “đưa Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá”. Thế nhưng, ở giữa lòng thủ đô Hà Nội hôm nay, lại đang trưng bày những hiện vật tan nát của B-52 do bị lưới lửa phòng không và Bộ đội Không quân ta hạ gục. Bởi thế, Bảo tàng Chiến thắng B-52 luôn là địa chỉ thu hút du khách trong và ngoài nước đến tham quan.

Trong số các hiện vật được trưng bày tại Bảo tàng, có thể kể đến những tấm ảnh đặc biệt về “O du kích nhỏ giương cao súng/Thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu”; hay hình ảnh phi công Mỹ Giôn Mắc-kên (một người khá nổi tiếng, sau khi được Việt Nam đối xử nhân đạo và tha bổng đã trở thành ứng viên Tổng thống Mỹ) bị tự vệ Hà Nội vây bắt khi rơi xuống hồ Trúc Bạch. Đặc biệt, Bảo tàng còn trưng bày những lá cờ xin ăn của phi công Mỹ – một vật “dắt lưng” của mọi viên phi công Mỹ khi bay vào Việt Nam. Lá cờ xin ăn này được viết bằng nhiều thứ tiếng, trong đó, phần tiếng Việt được dịch như sau: “Tôi là người Mỹ. Tôi không nói được tiếng Việt. Gặp bước không may tôi phải nhờ quý ông giúp đỡ kiếm thức ăn, chỗ ở và nhờ bảo vệ tôi. Rồi tôi muốn nhờ quý ông đưa tôi về nước. Chính phủ chúng tôi sẽ đền ơn cho quý ông”.

Trong buổi gặp gỡ một phái đoàn Mỹ tại Nhà khách Chính phủ ta tại Hà Nội ngày 23-6-1997, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói với Mắc Na-ma-ra, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ rằng: “Mỹ không thắng được ở Việt Nam vì Mỹ không hiểu Việt Nam”. Do không hiểu Việt Nam nên Mỹ đã liên tiếp phạm sai lầm và liên tiếp thất bại. Lá cờ xin ăn nói trên cũng là một minh chứng rằng, Mỹ không hiểu Việt Nam. Những kẻ đã mang bom đạn đến trút lên đầu nhân dân Việt Nam mà lại trơ trẽn xin được giúp đỡ rồi hứa “Chính phủ chúng tôi sẽ đền ơn cho quý ông” chứng tỏ Ních-xơn đã không hiểu thể nào là lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc một số hình ảnh về sự sụp đổ của “siêu pháo đài bay B-52” được phóng viên Báo Quân đội nhân dân ghi lại tại Bảo tàng Chiến thắng B-52.

Bài và ảnh: MÃ TÙNG
qdnd.vn

Tự vệ TP Hà Nội bắt phi công Giôn Mắc-kên giữa hồ Trúc Bạch.

Phần đuôi của máy bay B-52 bị bắn rơi trên đường Hoàng Hoa Thám (Hà Nội).

Cờ xin ăn của phi công Mỹ bị quân dân ta bắt sống.

Tự vệ Nhà máy Cơ khí Mai Động: Một thời tay búa, tay súng

QĐND – Những ngày này của mùa đông 40 năm trước, cả Hà Nội kiên cường chống trả với “pháo đài bay B-52” và làm nên một “Điện Biên Phủ trên không” lừng lẫy. Thời điểm đó, hòa chung khí thế sục sôi, những công nhân tự vệ Nhà máy Cơ khí Mai Động, nay là Công ty TNHH một thành viên Mai Động vừa miệt mài tham gia sản xuất, vừa vững vàng trên mâm pháo đánh quân thù. Những người lính thợ đã đoàn kết, dũng cảm bắn hạ một máy bay F111A “cánh cụp cánh xòe” của đế quốc Mỹ.

Chiến sĩ Trung đội tự vệ Nhà máy Cơ khí Mai Động bên mâm pháo và lẵng hoa của Đại tướng Võ Nguyên Giáp tặng mừng chiến công (2-1-1973). Ảnh chụp lại từ ảnh tư liệu

Máy vẫn chạy dưới mưa bom, bão lửa

Đã 40 năm trôi qua, nhưng trong ký ức của ông Nguyễn Văn Trung, nguyên Chánh văn phòng Công ty TNHH một thành viên Mai Động về 12 ngày đêm Hà Nội “đất rung, ngói tan, gạch nát” vẫn hiện hữu, vẹn nguyên. Ngày ấy, ông Trung là thành viên của Trung đội tự vệ Nhà máy Cơ khí Mai Động. Đội tự vệ gồm 11 người, nhưng trong chiến dịch 12 ngày đêm năm đó, khẩu đội thường xuyên trực chiến gồm 6 người, gồm: Khẩu đội trưởng Thái Văn Quang, các chiến sĩ Phạm Thị Viễn, Đỗ Thị Dần, Ngô Thị Hiếu, Đặng Văn Sinh và Nguyễn Văn Trung, được giao nhiệm vụ bảo vệ khu vực nhà máy. Ông Nguyễn Văn Trung kể rằng, mới đầu, anh chị em thay phiên nhau trực, một tuần tham gia tự vệ, một tuần về nhà máy tham gia sản xuất. Đầu năm 1972, khi đế quốc Mỹ đưa không quân đánh vào Hà Nội, đội tự vệ được giao 2 khẩu pháo 14,5 ly, biên chế rời vị trí sản xuất để trực chiến 24/24.

Ngày ấy, nhà máy chủ yếu sản xuất ống nước, cung cấp cho toàn thành phố. Để tránh thiệt hại, đảm bảo duy trì sản xuất, một số phân xưởng như máy tiện, máy bào… phải sơ tán chuyển về các trường học. Riêng phân xưởng đúc, do không thể di chuyển được nên vẫn ở lại (địa điểm số 310 Minh Khai, quận Hai Bà Trưng).

Nhấp chén trà nóng, nụ cười hồn hậu, ông Trung kể: “Ngày ấy, bộ phận đúc phải làm trong đêm nên những ống nước bằng thép cao vút được đúc ra lò sáng rực như cột lửa và dễ dàng trở thành mục tiêu của địch, gây nguy hiểm cho nhà máy và dân cư xung quanh. Để khắc phục, anh em chúng tôi đã có sáng kiến “may áo” cho những cột lửa ấy bằng cách làm những cánh cửa, bọc xung quanh để nhà máy an toàn sản xuất”.

Chiến công của những người thợ

Trò chuyện với chúng tôi, người thợ-người tự vệ năm xưa nay đã ngoài 60 tuổi vẫn không quên những ngày tháng hào hùng. Ban ngày, họ trực chiến máy bay cường kích của địch, còn ban đêm thì chia nhau trực. Những đêm đầu (từ ngày 18 tới ngày 20-12-1972), trong đợt tập kích chiến lược bằng B-52 của Mỹ vào Hà Nội, Trung đội được giao phục vụ chiến đấu cùng trận địa pháo 100mm của Quân chủng Phòng không – Không quân, cách nhà máy 300m. Nhiệm vụ chính của Trung đội là lắp ngòi nổ, chuyển đạn, cứu thương, cứu sập hầm… Sau đó, Trung đội được di chuyển ra trận địa mới ở Vân Đồn, đây là trận địa pháo cao xạ của một đơn vị chính quy vừa rút đi và cũng mới bị ném bom. Từ vị trí này, tầm bao quát rất rộng, nhìn thẳng sang vòm cầu Long Biên, pháo ta có thể đón lõng máy bay tiêm kích của địch đến từ hướng dãy Tam Đảo, theo mặt nước sông Hồng vào Hà Nội thả bom. Chỉ huy trận địa là Trung úy Hoàng Minh Giám, một sĩ quan trẻ thuộc Ban Cao xạ của Quân khu Thủ đô. Khoảng 20 giờ ngày 22-12-1972, đơn vị được cấp trên báo máy bay địch đang tiến vào Hà Nội, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Mặc dù, máy bay tiêm kích của địch nhỏ, lại bay tầm thấp, nên ra-đa không thể phát hiện được. Tuy vậy, với kinh nghiệm dày dạn trận mạc của Trung úy Hoàng Minh Giám, toàn Trung đội dũng cảm chiến đấu, bắn hạ chiếc F111A. “Lúc đó, cả khẩu đội chỉ biết ôm nhau hò reo vui mừng. Phần thưởng ý nghĩa nhất lúc đó là 5 thùng lương khô do đồng chí Trần Duy Hưng – Chủ tịch Ủy ban Hành chính Hà Nội mang tới động viên anh em” – ánh mắt ông Trung đầy tự hào khi nhớ tới giờ phút lịch sử đó.

Trong buổi Giao lưu nghệ thuật “Viết tiếp bản hùng ca” do Báo Quân đội nhân dân phối hợp với một số đơn vị tổ chức ngày 15-12 vừa qua, cô công nhân tự vệ Phạm Thị Viễn năm xưa không giấu được niềm tự hào khi chia sẻ chiến công đêm 22-12-1972: “20 giờ 30 phút, còi báo động rú lên, toàn thành phố tắt điện. Máy bay Mỹ xuất hiện, bay thấp dọc sông Hồng. Một lúc sau, nhận được lệnh bắn của chỉ huy, chúng tôi đồng loạt bắn. Ở vị trí pháo thủ số 1, tôi nhìn thấy rất rõ chiếc máy bay rẹt qua đầu, phần đuôi của nó đang bốc lửa… 30 phút sau, một chiếc xe quân sự chạy vào báo tin vui, trận địa chúng tôi vừa hạ được chiếc máy bay F111A “cánh cụp cánh xòe”. Đó là chiến công của cả tập thể Trung đội tự vệ nhà máy cơ khí Mai Động” – bà Phạm Thị Viễn xúc động cho biết.

Mấy ngày sau, bom Mỹ tiếp tục dội xuống. Trận địa pháo cao xạ của Trung đội tự vệ nhà máy liên tục trực chiến. Hà Nội bị đánh phá ác liệt, nhưng bằng sự chiến đấu kiên cường, trong 12 ngày đêm, quân dân Thủ đô đã làm nên khúc tráng ca trên bầu trời Hà Nội.

Sau 40 năm, những người thanh niên tuổi đôi mươi năm ấy nay đã thành ông, thành bà. Có người tuổi cao đã về hưu, người còn khả năng thì tiếp tục ở lại cống hiến cho nhà máy. Họ cũng chính là những người góp phần đưa nhà máy trở thành một doanh nghiệp hàng đầu, có truyền thống và thương hiệu mạnh về sản xuất các loại công cụ: Rèn-dập-ép, khoan-doa-mài phụ kiện ống, trụ nước… Nhà máy xứng đáng được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu đơn vị Anh hùng LLVT nhân dân thời kỳ chống Mỹ và nhiều danh hiệu cao quý khác.

Hà Nội hôm nay đã “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Nhà máy Cơ khí Mai Động khi xưa giờ đây cũng đã trưởng thành và không ngừng phát triển. Với thế hệ những người công nhân tự vệ của 40 năm trước, đó sẽ mãi là những ngày đẹp nhất trong cuộc đời mình.

VŨ DUNG – MINH MẠNH
qdnd.vn

Trận địa pháo Vân Đồn bắn hạ máy bay F-111

QĐND – Bà là Phạm Thị Viễn, nữ pháo thủ của Trung đội tự vệ Nhà máy cơ khí Mai Động, Hà Nội, từng tham gia chiến đấu tại trận địa Vân Đồn (Hà Nội), cùng đồng đội lập công xuất sắc, bắn rơi chiếc máy bay F-111 của Không quân Mỹ ngày 22-12-1972.

Trong thời gian làm tự vệ Nhà máy cơ khí Mai Động, nữ tự vệ Phạm Thị Viễn tích cực học tập, sử dụng thành thạo loại súng phòng không 14,5mm. Khi không quân Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, bà phải chịu nỗi đau mất mẹ do bom Mỹ sát hại. Bà nhớ lại: “Trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, tôi là tự vệ của nhà máy, nên phải trực chiến suốt ngày đêm. Khi máy bay B-52 mang bom rải thảm, khu tập thể nơi gia đình sinh sống bị một quả bom rơi trúng hầm trú ẩn và sát hại cha tôi, đúng lúc tôi đang trực chiến”.

Xác chiếc F-111 bị tự vệ Hà Nội bắn cháy, rơi ở Hòa Bình đêm 22-12-1972. Ảnh tư liệu.

Nén đau thương, nữ tự vệ Phạm Thị Viễn và đồng đội kiên cường chiến đấu, cùng các đơn vị pháo cao xạ kịp thời điều chỉnh thế trận, tạo thành lưới lửa phòng không tầm thấp, không cho địch tự do đánh phá. Trong đơn vị có nhiều tự vệ là nữ, việc thao tác triển khai, thu hồi pháo để cơ động nặng nhọc và vất vả, nhưng ai cũng cố gắng, xung phong ra trận địa, lên mâm pháo, đối mặt với máy bay địch.

Trận đánh bắn rơi máy bay chiến đấu hiện đại F-111 “cánh cụp, cánh xòe” của không quân Mỹ là một điển hình. Máy bay F-111 hoạt động ở độ cao thấp và rất thấp, liên tục đột nhập vùng trời Hà Nội đánh phá các mục tiêu. Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội đã kịp thời điều chỉnh lực lượng, triển khai đội hình, trận địa hợp lý, tổ chức và trực tiếp chỉ huy một Liên đội tự vệ với 5 súng máy cao xạ 14,5mm, gồm 3 trung đội tự vệ của Nhà máy gỗ Hà Nội, Nhà máy cơ khí Mai Động và Nhà máy cơ khí Lương Yên.

Sáng 22-12-1972, các trung đội tự vệ cơ động đến trận địa Vân Đồn, bố trí đội hình liên đội chiến đấu. Lúc 20 giờ ngày 22-12, liên đội nhận lệnh vào cấp 1, trong tư thế “đón lõng” máy bay Mỹ. Khi các khẩu đội bắt mục tiêu, đồng chí liên đội trưởng hô bắn, các khẩu đội pháo đồng loạt nhả đạn. Là pháo thủ số 1, bà Phạm Thị Viễn nhìn thấy rất rõ chiếc máy bay rẹt qua đầu, phần đuôi của nó lóe sáng. Chiếc máy bay F-111 trúng đạn, bốc cháy, rơi xuống Lương Sơn, Hòa Bình. Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các đồng chí lãnh đạo thành phố, Bộ tư lệnh Thủ đô đã đến tận trận địa động viên, khen ngợi cán bộ, chiến sĩ Liên đội tự vệ.

HƯƠNG HỒNG THU (lược ghi)
qdnd.vn

Lực lượng phòng không Hải Phòng đánh B-52 những ngày cuối tháng 12 năm 1872

QĐND – Ở Hải Phòng cuối tháng 12-1972, tình hình hết sức khẩn trương, căng thẳng. Sáng 17-12, Mỹ cho 13 lần chiếc máy bay thả 150 quả thủy lôi xuống luồng tàu biển ngoài cửa sông Nam Triệu, phóng hai quả tên lửa vào kho dầu Thượng Lý và thôn Vị Xuyên, xã Tân Dân, huyện An Thụy (nay là huyện An Lão). Bộ tư lệnh (BTL) 350 Hải Phòng nhận được lệnh của Bộ Tổng tư lệnh ra lệnh cho các lực lượng phòng không (PK) miền Bắc chuyển vào trạng thái SSCĐ cao nhất, đề phòng B-52 đánh phá từ vĩ tuyến 20 trở ra.

Tại Hải Phòng, trong cuộc họp khẩn cấp ngày 17-12, sau nghe BTL 350 Hải Phòng báo cáo tình hình, Thường vụ Thành ủy nhận định: Những ngày tới địch sẽ đánh phá Hải Phòng ác liệt hơn trước. Do đó, tất cả các đơn vị lực lượng PKND phải triệt để thực hiện những biện pháp phòng chống B-52 theo kế hoạch. Thực hiện chỉ thị của Thành ủy, ngày 17-12, hầu hết những người không liên quan đến sản xuất, chiến đấu sơ tán ra khỏi nội thành, một số xí nghiệp duy trì sản xuất thường xuyên cũng chỉ để lại số công nhân thật cần thiết, các bộ phận khác phân tán mỏng về các đường phố, các xã vùng ven. Ngày 18-12, địch tiếp tục cho máy bay trinh sát Hà Nội – Hải Phòng. Thành ủy Hải Phòng nhận định: Nhiều khả năng địch mở cuộc tập kích chiến lược vào đêm 18-12.

Đồng chí Lê Duẩn – Bí thư Trung ương Đảng thăm Trung đoàn Pháo Phòng không 252 bảo vệ Hải Phòng trong những ngày Đế quốc Mỹ dùng B-52 đánh phá thành phố Cảng cuối năm 1972. Ảnh tư liệu.

Đúng như nhận định, đêm 18-12, đế quốc Mỹ huy động 90 lần chiếc B-52 cùng 163 lần chiếc máy bay chiến thuật mở đầu cuộc tập kích chiến lược đường không vào Hà Nội – Hải Phòng. Lúc 14 giờ 10 phút, Sở chỉ huy phòng không (SCHPK) Hải Phòng nhận được thông báo B-52 đã vào đánh phá miền Bắc. Theo quy ước, B-52 vượt qua vĩ tuyến 21 SCHPK sẽ phát tín hiệu báo động B1 (có B-52). Trong đêm đầu tiên của cuộc tập kích, địch tập trung toàn bộ B-52 đánh liên tiếp 3 đợt vào Hà Nội, Hải Phòng. Lúc 14 giờ 40 phút, hàng chục máy bay chiến thuật đánh phá Hải Phòng trong nhiều giờ. Khác với những trận đánh trước, các tốp máy bay địch đều bay ở độ cao dưới 1000m, vào một hướng, ra một hướng, thời gian giãn cách giữa các tốp chừng 5-7 phút, đánh cùng lúc vào nhiều mục tiêu. Hoạt động của địch lặp đi lặp lại nhiều lần trong đêm… Cả thành phố thức trắng, căng thẳng kéo dài.

Do địch thay đổi thủ đoạn chiến thuật, các đài quan sát khí tài của ta không phát hiện hết mục tiêu. Các trạm quan sát của DQTV chưa kịp định hướng, máy bay địch đã bay qua. Các trận địa PK tầm cao không bắn được máy bay địch, lại bị chúng chế áp. Hỏa lực tầm thấp chỉ bắn ước lượng vì không xác định được phần tử. Nên ngày 18-12 ta chưa bắn rơi được chiếc máy bay nào. Duy chỉ có trung đội du kích tập trung của huyện Vĩnh Bảo phục kích trên hướng máy bay địch từ nội thành bay ra ngoài biển bắn rơi một chiếc.

Sáng 19-12, địch tiếp tục cho máy bay cường kích đánh phá TX Kiến An (nay là quận Kiến An), huyện Thủy Nguyên… Lực lượng PK Hải Phòng đánh nhiều trận nhưng chỉ có Đại đội 171 pháo cao xạ 100mm bắn rơi một máy bay. Nhận định địch đã thay đổi thủ đoạn đánh phá, đặc biệt là tăng cường khí tài điện tử gây nhiễu. BTL 350 Hải Phòng kịp thời rút kinh nghiệm các trận đánh đêm 18 và ngày 19-12 chỉ đạo các đơn vị gấp rút xây dựng các phương án bắn máy bay bay thấp ban đêm. Căn cứ vào những phát hiện mới nhất về đường bay và thủ đoạn đánh phá của địch, lực lượng PK Hải Phòng đã điều chỉnh thế bố trí lực lượng, tập trung thành từng dải hỏa lực đón đánh máy bay địch trên các đường bay vào thành phố. Mỗi giải hỏa lực có nhiều loại hỏa khí khác nhau, nhưng bắn ở cùng cự ly nhằm tạo ra lưới lửa tập trung. Sau khi nhận được báo cáo của đài quan sát bằng khí tài và bằng mắt, SCHPK chỉ thị mục tiêu cho lực lượng PK toàn thành phố qua đài phát thanh. Bộ đội PK có nhiệm vụ bắn đạn vạch đường, các đơn vị trong dải hỏa lực đồng loạt nổ súng theo cự ly và hướng bay của mục tiêu đã phát hiện.

Chiều và đêm 19-12, lực lượng PK thành phố bố trí xong đội hình theo phương án chiến đấu mới… Từ đêm 19 đến ngày 21-12, địch tiếp tục cho B-52 đánh phá Hải Phòng. Chia lửa với Thủ đô, quân và dân Hải Phòng đã anh dũng đáp trả, lập công giòn giã, bắn rơi 12 máy bay, diệt và bắt sống một số giặc lái. Tiểu đoàn pháo 37mm tự vệ Nhà máy đóng tàu Bạch Đằng vững vàng đánh địch bảo vệ nhà máy, có ngày tiểu đoàn đánh liên tục 4 trận, có đêm đánh 6 trận. Tự vệ Công ty Công nghệ thực phẩm khu phố Hồng Bàng với 2 khẩu 12,7mm do 12 chiến sĩ giỏi sử dụng đã phối hợp với các tổ bắn máy bay bằng súng bộ binh…, tạo thành hỏa lực tầm thấp khá mạnh, góp phần cùng các đơn vị bạn bắn rơi một máy bay Mỹ…

Các trận địa của Tiểu đoàn 14 cao xạ phối hợp lực lượng của Sư đoàn 363 đón đường bay của địch khi chúng bay vào, bay ra trên hướng Đông Nam, có trận chỉ bằng một loạt đạn, giàn hỏa lực này đã bắn rơi tại chỗ một máy bay địch, bắt sống giặc lái. Cũng trên hướng này, đại đội pháo cao xạ mang tên Trần Thành Ngọ phối hợp với các tổ chiến đấu của dân quân huyện An Thụy, dân quân xã Trường Sơn bắn rơi một máy bay A6.A. Tại xã An Hồng, đêm 21-12, khẩu đội súng máy của dân quân gái đón đường bay, nổ súng chính xác bắn rơi một máy bay Mỹ. Đây là đơn vị dân quân gái đầu tiên của Quân khu Tả ngạn bắn rơi máy bay Mỹ trong đêm…

Từ nhận định tình hình, Hải Phòng chủ động chuẩn bị đối phó với tình huống địch đánh lớn, có tính chất hủy diệt. Ngày 21-12, UBHC thành phố quyết định tạm ngừng sản xuất ở nội thành. Nhân dân các khu phố nội thành, những vùng xung quanh các sân bay, kho tàng, trận địa tên lửa, pháo cao xạ, kể cả một số xã ven đường 5 sơ tán triệt để. Đến ngày 22-12, ở nội thành, chỉ còn hơn một vạn người chủ yếu cán bộ, công nhân thường trực sản xuất ở các nhà máy điện, nước, nhân viên y tế, những người làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông ở các bến phà, các chiến sĩ công an. Bộ đội thường trực lực lượng pháo cao xạ được lệnh tập trung cho nhiệm vụ chủ yếu đánh B-52…

Ngày và đêm 22-12, nhiều tốp máy bay Mỹ hoạt động ngoài vùng biển Hải Phòng. BTL 350 nhận định, đây có thể là hoạt động nghi binh, chuẩn bị cho trận đánh mới. 4 giờ sáng 23-12, SCHPK thành phố phát tín hiệu B1 báo động máy bay B-52 đang vào vùng trời Hải Phòng. Chỉ ít phút sau, đã nghe rõ động cơ máy bay địch ở độ cao 5000m. Qua kiểm tra, Sư đoàn PK 363 khẳng định đó là B-52 giả. Các trận địa đều không phóng đạn, cuộc đấu trí diễn ra căng thẳng trong 30 phút, 9 tốp máy bay B-52 giả bay vào rồi vòng ra biển. Lực lượng PK chưa nổ súng nhưng đã giành chiến thắng đầu tiên. Thủ đoạn nham hiểm của địch dựa vào kỹ thuật điện tử hiện đại nhằm đánh lừa ra-đa của ta, làm cho bộ đội tên lửa, pháo cao xạ ta tiêu phí đạn, bộc lộ trận địa để chuẩn bị cho B-52 đánh chính thức đã hoàn toàn thất bại. 4 giờ 30 phút, nhiều tốp máy bay chiến thuật của địch đánh chế áp các trận địa hỏa lực của ta. Ít phút sau, 24 lần chiếc B-52, có 30 máy bay chiến thuật hộ tống đánh vào Hải Phòng… Các đài quan sát, ra-đa, các trận địa tên lửa, pháo cao xạ ở An Lão, Thủy Nguyên phát hiện mục tiêu, phóng đạn chính xác, bắn rơi hai pháo đài bay B-52. Đánh địch giỏi, phòng tránh tốt, Hải Phòng đã phối hợp nhịp nhàng với quân và dân Thủ đô lập công lớn trong đợt 1 của chiến dịch: 14 máy bay, trong đó có hai chiếc B-52 bị bắn rơi trên bầu trời Hải Phòng.

Bị thất bại nặng nề, lại đúng dịp lễ Nô-en, bắt đầu từ 24 giờ ngày 24-12, địch tạm dừng hoạt động để củng cố lực lượng, ổn định tinh thần giặc lái, tìm thủ đoạn đánh mới.

Ngày 25-12, Hải Phòng tổ chức rút kinh nghiệm chiến đấu đợt 1, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới. Các đơn vị tên lửa, cao xạ chỉ đạo các kíp chiến đấu, các khẩu đội rút kinh nghiệm từng trận đánh. Được nhân dân giúp đỡ, các đơn vị tranh thủ củng cố hoặc di chuyển trận địa. Một số đơn vị pháo cao xạ được phép bố trí sát trận địa tên lửa để đánh máy bay chiến thuật… Toàn thành phố khẩn trương chuẩn bị, quyết giáng cho địch những đòn đau hơn.

Đêm 26-12, địch huy động 105 lần chiếc B-52, có 120 lần chiếc máy bay chiến thuật yểm hộ đồng thời đánh mạnh vào Hải Phòng, Hà Nội, Thái Nguyên. Tại Hải Phòng, SCHPK phát lệnh báo động B-52 lúc 22 giờ 10 phút, 24 chiếc B-52 nối nhau bay vào vùng trời thành phố và sau đó là hàng nghìn quả bom rải thảm, 10 máy bay chiến thuật ném bom phố Cầu Đất, Nhà hát… Lực lượng PK Hải Phòng đồng loạt nhả đạn và đã bắn rơi hai chiếc B-52. Quân, dân Hải Phòng góp phần cùng quân và dân Hà Nội chiến thắng giòn giã trong trận đánh then chốt đêm 26-12; đập tan trận tập kích quy mô lớn nhất, bắn rơi 10 máy bay, trong đó có 9 máy bay B-52. Đêm 27-12, Tiểu đoàn 72 tên lửa Hải Phòng mới được tăng cường bảo vệ Hà Nội cũng bắn tan xác một máy bay B-52, rơi ngay trên đường phố Hoàng Hoa Thám (Hà Nội)…

Cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B-52 – nỗ lực quân sự cao nhất và cuối cùng của đế quốc Mỹ đã thảm bại. Trong chiến công chung ấy, quân và dân TP Hải Phòng góp phần xứng đáng bắn rơi 17 máy bay, trong đó có 4 máy bay B-52; diệt, bắt sống nhiều giặc lái…

Đại tá NGUYỄN VĂN MY Phó chỉ huy trưởng – Tham mưu trưởng Bộ CHQS TP Hải Phòng.
qdnd.vn

“Chân ướt chân ráo” về Hà Nội, diệt ngay siêu pháo đài bay B-52

QĐND Online – Tiểu đoàn 72, Trung đoàn tên lửa 285 (Sư đoàn 361, Quân chủng PK-KQ) được thành lập ngày 12-9-1965 tại Yên Thế, Bắc Giang, nơi năm xưa là căn cứ địa của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám. Mang theo niềm tự hào ấy, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn đã cơ động chiến đấu bảo vệ các mục tiêu và bắn rơi 6 máy bay các loại của Mỹ, trước khi về tham gia vào đội hình chiến đấu của Bộ Tư lệnh phòng không Hà Nội trong chiến dịch 12 ngày đêm tháng 12-1972…

Về trận địa mới, diệt ngay F-4

Chiều 23-12-1972, nhận lệnh cơ động từ Hải Phòng về Hà Nội bổ sung lực lượng cho Trung đoàn tên lửa 261 (Sư đoàn 361), chiến đấu bảo vệ Thủ đô. Lúc này một số cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị có gia đình vừa bị bom địch gây tổn thất chưa có điều kiện về thăm nhà, nhưng được về bảo vệ Thủ đô nên ai cũng hăng hái lên đường.

Sau khi phổ biến mệnh lệnh hành quân, quán triệt phương châm “đi nhanh, đến đủ, trụ vững, đánh thắng, an toàn tuyệt đối”, Tiểu đoàn tổ chức hành quân theo hai hướng: Hướng thứ nhất gồm trang bị nhẹ (khí tài thông tin, ra-đa, xăng dầu, hậu cần…) theo đường phà Đụn, đường 18…; hướng thứ hai gồm những trang bị nặng (khí tài tên lửa, bệ, đạn…) theo đường phà Kiền, đường 5, cầu Lai Vu, cầu Phú Lương về trận địa mới. Đường từ Hải Phòng về trận địa mới dài hơn 100km, trong khi địch đánh phá ác liệt, nhằm vào tất cả các tuyến giao thông, hệ thống cầu, phà… Đơn vị phải tranh thủ thời gian, không kể đêm tối, mưa rét để hành quân đến trận địa mới, triển khai chiến đấu đúng dự kiến. Sau gần 3 ngày vất vả, mờ sáng ngày 26-12, đơn vị đã chiếm lĩnh trận địa, người và khí tài đều an toàn. Được tự vệ và nhân dân địa phương giúp đỡ củng cố công sự, ngụy trang khí tài, trận địa, nên chỉ hơn 6 giờ sáng, Tiểu đoàn đã triển khai sẵn sàng chiến đấu, chờ thời cơ diệt địch.

Thành phần kíp chiến đấu tháng 12-1972 của Tiểu đoàn 72

Ngay chiều 26-12, lúc 13 giờ 35 phút, 56 lần chiếc máy bay chiến thuật vào trinh sát, “dọn đường” cho B-52 vào đánh phá Hà Nội. Chúng đánh phá nhà ga, kho tàng và trạm biến thế Đông Anh… Sở chỉ huy Sư đoàn 361 giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn tiêu diệt tốp F-4 chỉ huy của địch. Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Chắt lệnh cho kíp chiến đấu phóng một quả vào tốp F-4. Một chiếc F-4 bị tiêu diệt, xác máy bay rơi xuống một khu rừng ở Hòa Bình, giặc lái bị bắt sống. “Rắn mất đầu” nên những chiếc máy bay còn lại hốt hoảng tháo chạy…

Làm nên trận đánh “đặc biệt xuất sắc”

Đêm 27-12, địch sử dụng 120 lần chiếc máy bay, trong đó có 54 lần chiếc B-52 vào đánh phá các chân hàng, đầu mối giao thông ở ngoại thành Hà Nội. Lúc 23 giờ 3 phút, Tiểu đoàn nhận lệnh vào cấp I, tiêu diệt tốp B-52 mang ký hiệu 491 đang từ hướng Tây Bắc lao vào đánh phá Hà Nội. Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Chắt lệnh cho kíp chiến đấu sục sạo, phát hiện mục tiêu. Trên màn hiện sóng không phát hiện máy bay địch, chỉ có một dải nhiễu đậm mịn. Đài trưởng ra-đa P-12 báo cáo mục tiêu B-52 đang bay vào cự ly 45, phương vị 185, độ cao 11… Sau 3 lần phát sóng kiểm tra, dải nhiễu vẫn cơ động ổn định. Bằng kinh nghiệm, Tiểu đoàn trưởng xác định đây chính xác là mục tiêu B-52. Thời cơ tiêu diệt địch đã đến, lệnh của Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Chắt vang lên dứt khoát: “Tập trung tiêu diệt tốp 491, vượt nửa góc, đạn 2 quả, giãn cách 6 giây, ngòi nổ PB, cự ly 32, phương vị 198, độ cao 11”.

Lúc này toàn kíp chiến đấu tập trung cao độ. Sĩ quan điều khiển Nguyễn Văn Dự báo cáo: “Mục tiêu đến vùng phóng”… Tiểu đoàn trưởng hạ lệnh: “Mở đồng bộ, mở mạch chiến đấu….phóng quả 1…phóng quả 2”.

Ngay tức thì, 2 quả đạn vút lên hướng tới mục tiêu. Cả hai đạn có điều khiển. Kíp trắc thủ liên tục theo dõi, bám sát mục tiêu. Giãn cách từ tên lửa đến mục tiêu ngày càng gần. Đạn nổ tốt, cả 3 màn trắc thủ đều lóe sáng… Từ phía Hà Nội bùng lên một khối lửa khổng lồ. Trên đài quan sát, trắc thủ TZK reo lên mừng rỡ: “Cháy rồi! B52 cháy rồi”.

Một phần xác chiếc B-52 bị Tiểu đoàn 72 bắn hạ năm xưa, nay vẫn nằm dưới hồ Hữu Tiệp, Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội.

Sau ít phút, Sở chỉ huy Bộ tư lệnh Phòng không Hà Nội và sở chỉ huy Trung đoàn 285 điện xuống biểu dương kíp chiến đấu Tiểu đoàn 72 về thành tích bắn rơi chiếc B5-2.

Thân chiếc B-52 nói trên rơi xuống hồ Hữu Tiệp (Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội); đuôi và cánh rơi xuống đường Hoàng Hoa Thám và vườn Bách thảo; động cơ B-52 rơi ở vườn nhà dân.

Sáng hôm sau,, ngày 28-12, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến tận nơi chiếc B-52 rơi để thị sát. Đại tướng nhận xét: Đây là trận đánh đặc biệt xuất sắc của bộ đội tên lửa Việt Nam mà Tiểu đoàn 72 đã thực hiện. Chiếc B-52 rơi tại chỗ giữa lòng Hà Nội khi chúng chưa kịp cắt bom, gây tội ác. Tổ lái 6 tên, có 2 tên bị chết và 4 tên còn lại bị bắt sống ngay trên hè phố Hà Nội.

Lịch sử có sự trùng hợp ngẫu nhiên! Tiểu đoàn tên lửa 72 được thành lập tại nơi vốn là căn cứ địa của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám năm xưa, khi được về chiến đấu bảo vệ Thủ đô, tên lửa của Tiểu đoàn lại quật cổ siêu pháo đài bay B-52 của giặc Mỹ trên đường Hoàng Hoa Thám…

Bài và ảnh: NGUYỄN HẢI VIỆT
qdnd.vn

Hiệu quả “ba chủ động”

Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”

QĐND – Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” là một mốc son chói lọi, là biểu tượng của ý chí kiên cường, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam, là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân, thế trận phòng không nhân dân và nghệ thuật quân sự cách mạng Việt Nam, được phát huy, kế thừa từ truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc. Chủ động phòng tránh, chủ động xây dựng hầm hào, chủ động thông báo… là một trong những yếu tố quan trọng góp phần làm nên chiến thắng oanh liệt trong chiến dịch phòng không 12 ngày đêm cuối năm 1972.

Sơ tán, phòng tránh linh hoạt

Trong phòng không nhân dân (PKND), công tác phòng tránh có vai trò hết sức quan trọng, nhằm bảo vệ sinh mạng, tài sản của nhân dân và nhà nước, giảm tổn thất đến mức thấp nhất, tạo điều kiện cho chiến đấu, giữ gìn lực lượng, nhất là lực lượng phòng không duy trì sức mạnh và khả năng chiến đấu liên tục, lâu dài, đồng thời củng cố, nâng cao quyết tâm chiến đấu của quân và dân ta, ổn định cuộc sống sản xuất, học tập trong điều kiện chiến tranh ác liệt. Trong cuộc tập kích 12 ngày đêm của không quân Mỹ, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của Đảng, Chính phủ, Hội đồng Phòng không nhân dân các cấp, sự đôn đốc, hướng dẫn tích cực của cấp ủy, chính quyền, các tổ chức quần chúng…, nên chúng ta đã đưa được hơn 80% số người cần sơ tán ra khỏi các khu vực nguy hiểm.

Cùng với đào hầm trú ẩn tại từng gia đình, cơ quan, xí nghiệp, quân và dân Hà Nội còn đào các hố trú ẩn trên các trục đường để tránh bom, đạn Mỹ. Ảnh tư liệu.

Trong đó, riêng Hà Nội đã huy động 182 xe ca, 54 xe tải, liên tục vận chuyển nhân dân ra khỏi thành phố, cùng với các phương tiện do nhân dân tự túc, đã đưa được 55 trong số 60 vạn dân về nơi sơ tán, trong đó có 10 vạn người được phân tán khẩn cấp chỉ trong 2 ngày; hàng trăm trường học cũng sơ tán học sinh. Thành phố Hải Phòng chỉ trong một đêm đã khẩn cấp di chyển được 20.000 người ra khỏi khu vực Hạ Lý, Thượng Lý trước khi địch đến đánh phá hủy diệt. Tại các thành phố: Thái Nguyên, Nam Định, Hải Dương… chúng ta đã sơ tán hơn 90% dân số; Thành phố Nam Định chỉ trong 2 giờ đã phân tán khẩn cấp hơn 5000 người ra khỏi khu vực mục tiêu địch đến đánh phá. Thực tế chưa có nhà máy, xí nghiệp, cơ quan, trường học nào bị địch phát hiện, đánh phá ở nơi sơ tán. Đó là một thành công, một bài học rất to lớn của công tác PKND.

Xây dựng hệ thống hầm hào phòng không

Thực tế chiến tranh, I-rắc đã phải gánh chịu thiệt hại lớn, khi tất cả các hầm, hào phòng không đều bị quân Mỹ phá hủy, kể cả hầm dành cho Tổng thống, do thuê người nước ngoài xây dựng. Đối với Việt Nam, chúng ta đã tổ chức và phát động toàn dân làm hầm hào, kết cấu đơn giản, giữ được bí mật, kẻ địch khó điều tra xác minh được hầm phòng không của ta ở đâu để đánh phá; riêng ở Hà Nội đã có hơn 630.000 hố cá nhân, 50.000 hầm tập thể nhỏ; TP Hải Phòng có 400.000 hố cá nhân…

Tại Hà Nội, theo chỉ đạo của Hội đồng PKND thành phố, bảo đảm cho mỗi người ở lại có trung bình 3 hầm trú ẩn phòng không (nơi ở, nơi công tác và trên đường phố). Ở ngoại thành, nhân dân làm hầm cá nhân chữ A, ở nội thành nhân dân làm hầm cá nhân bằng ống cống có nắp đậy. Tại các khu vực trọng điểm địch đánh phá ác liệt, việc chỉ đạo làm hầm hào rất chặt chẽ, thực hiện đội mũ rơm, áo giáp bằng rơm, đã hạn chế được thương vong cho nhân dân. Số liệu tổng kết cho thấy khi chưa có hầm, hố trú ẩn, trong một trận đánh phá của địch, bình quân có 4,2 người bị thương vong; khi có đủ hầm, hào phòng tránh, sau một trận đánh phá của địch, bình quân chỉ có từ 0,6 đến 0,9 người bị thương vong.

Quan sát, báo động phòng không rộng khắp

Từ thực tiễn tổ chức hệ thống quan sát, thông báo, báo động phòng không của Thủ đô, có thể rút ra một số kinh nghiệm: Chú trọng việc triển khai hệ thống vọng gác phòng không và tổ chức thông báo, báo động phòng không bằng mọi phương tiện. Thành phố đã tổ chức thiết lập hệ thống còi báo động phòng không, gồm: 3 còi lớn đặt trên nóc Nhà hát Lớn, Ga Hàng Cỏ, Hội trường Ba Đình, do Hội đồng PKND thành phố trực tiếp quản lý và phát lệnh báo động. Hệ thống còi tầm của các nhà máy cũng được huy động phối hợp hệ thống báo động phòng không. Ngoài ra, thành phố còn chủ động tổ chức hệ thống loa thông báo, báo động phòng không và giúp cho Hội đồng PKND thành phố chỉ đạo kịp thời các hoạt động phòng tránh. Sở Bưu điện thành phố đã lắp 900 chiếc loa lớn ở nơi công cộng và hơn 50 nghìn loa nhỏ trong các gia đình để thông báo tình hình địch và chỉ thị của Hội đồng PKND. Ở ngoại thành, các làng xã đều tổ chức vọng gác phòng không để quan sát theo dõi hoạt động đánh phá của địch, báo động trực tiếp cho nhân dân địa phương, phục vụ việc chuyển cấp báo động cho các đơn vị dân quân, tự vệ.

Cũng nhờ báo động, thông báo kịp thời, nên chúng ta đã chủ động triển khai nhanh chóng công tác khắc phục hậu quả xảy ra, các địa phương đều tổ chức lực lượng chuyên cứu hỏa, cứu sập hầm, cứu thương, cơ động ứng cứu, sửa chữa, khôi phục trận địa chiến đấu, cầu đường, bảo đảm giao thông vận chuyển…

Thiếu tướng NGÔ MẠNH HÀ Cục trưởng Cục Phòng không lục quân
qdnd.vn

Âm vang Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”

QĐND – Màn sử thi nghệ thuật âm vang “Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” gồm hai phần: “Linh thiêng – Hà Nội, mặt đất, bầu trời” và “Chiến thắng Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” được dàn dựng công phu, do nhiều diễn viên, nghệ sĩ… trình diễn tại Lễ kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” sáng 29-12, đã tái hiện hình ảnh, khí thế hào hùng của quân dân Thủ đô trong cuộc đối đầu lịch sử 12 ngày đêm cuối năm 1972. Kịch bản và tổng đạo diễn chương trình do Thiếu tướng, Nhà giáo ưu tú, Nhạc sĩ Nguyễn Đức Trịnh, Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa -Nghệ thuật Quân đội thực hiện.

Với những ca khúc nổi tiếng, các màn múa hát đặc sắc về chiến thắng 12 ngày đêm…, màn sử thi nghệ thuật đã khắc họa hình ảnh anh dũng, kiên cường, bất khuất, mưu trí, sáng tạo của quân dân Hà Nội, của bộ đội phòng không -không quân, cùng những đau thương mất mát của Thủ đô sau các đợt tập kích của không quân Mỹ 40 năm trước, gây ấn tượng và tình cảm sâu sắc đối với các đại biểu dự lễ kỷ niệm và đồng bào, chiến sĩ theo dõi trực tiếp lễ kỷ niệm qua các phương tiện thông tin đại chúng. Chương trình cũng nói lên sự khởi sắc, vươn lên đáng tự hào của thủ đô Hà Nội – “Thành phố vì hòa bình” hôm nay.

Màn múa hát tái hiện cuộc sống thanh bình của người dân Hà Nội.

Tái hiện hình ảnh mặt đất giáng trả cuộc tập kích.

Các nghệ sĩ biểu diễn bài hát “Phi đội ta xuất kích” của nhạc sĩ Tường Vy.

Khắc họa hình ảnh quân dân Hà Nội trong 12 ngày đêm chiến đấu anh dũng và chiến thắng vẻ vang.

Màn đồng diễn do các nghệ sĩ, diễn viên Trường Đại học Văn hóa -Nghệ thuật Quân đội, Đoàn văn công Quân chủng PK -KQ, Đoàn Nghệ thuật BĐBP tham gia biểu diễn.

Tiết mục đặc sắc tái hiện niềm tự hào của quân dân Thủ đô và cả nước.

Nhiều cựu chiến binh từng tham gia chiến đấu trong 12 ngày đêm lại Lễ kỷ niệm.

Tin, ảnh: VŨ QUANG THÁI
qdnd.vn