Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Hoãn đám cưới để bảo vệ Hà Nội

QĐND – Cây đa đại thụ ở xã Hòa Hợp, huyện Lương Sơn (Hòa Bình) từ lâu vốn được coi là biểu tượng tinh thần cách mạng của người dân địa phương. Cây đa đại thụ gắn liền với mọi hoạt động của người dân Hòa Hợp cả trong thời chiến và thời bình. Với lão dân quân Hoàng Thị Bướm thì cây đa còn chứng kiến những giây phút hạnh phúc nhất trong đời mình.

Chuyện là, ngày ấy, đôi bạn trẻ Vũ Văn Chang và Hoàng Thị Bướm thuộc Trung đội dân quân xã Hòa Hợp đã ấn định ngày cưới vào 23-12-1972. Mọi người trong trung đội đã phân công mỗi người một việc lo toan ngày vui trăm năm hạnh phúc của đôi “trai tài, gái sắc”. Thế nhưng, khuya 22-12-1972, cấp trên thông báo, đế quốc Mỹ sử dụng máy bay B-52 đánh phá Hà Nội. Và 21 giờ 15 phút đêm đó, tại cao điểm 833 đồi Bù, nơi Trung đội dân quân Hòa Hợp trực chiến nghe tiếng nổ rất to, kèm theo ánh sáng chớp lóe kéo dài lao với tốc độ cao xuống khu vực. Mọi người nhận định, máy bay của địch bị trúng đạn. Và thế là Vũ Văn Chang và Hoàng Thị Bướm “quyết định” hoãn lại việc tổ chức đám cưới theo dự định.

Trung đội dân quân Hòa Hợp bắt tên giặc lái Mỹ ngày 22- 12-1972. Ảnh chụp lại

Trong đêm tối, Trung đội dân quân Hòa Hợp triển khai ngay đội hình bí mật tiếp cận về khu vực máy bay rơi. Sau một hồi tìm kiếm, trung đội dân quân phát hiện phần đầu của chiếc máy bay nên nhận định: Giặc lái chắc vẫn quanh quẩn đâu đây. Sau một ngày hai đêm truy lùng, trung đội dân quân đã tìm thấy hai tên giặc lái trong bộ dạng tiều tụy, đói khát. Nữ dân quân Hoàng Thị Bướm và Hoàng Thị Xô được giao nhiệm vụ dẫn giải hai tên phi công về trụ sở xã Hòa Hợp. Chú rể Vũ Văn Chang đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, còn cô dâu Hoàng Thị Bướm trở thành một trong những tấm gương dũng cảm, mưu trí, bám trận địa đánh địch. Sau Chiến dịch 12 ngày đêm “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”, dưới gốc cây đa đại thụ của xã, Trung đội dân quân Hòa Hợp tổ chức lễ đón mừng chiến thắng; đồng thời chứng kiến đôi bạn trẻ Vũ Văn Chang và Hoàng Thị Bướm kết duyên nghĩa vợ-chồng.

Sau này, Trung đội dân quân Hòa Hợp được biết: Chiếc máy bay F111 bị rơi tại đồi Bù là do các chiến sĩ tự vệ Công ty cơ khí Mai Động (Hà Nội) bắn trúng khi chúng ngông cuồng ném bom, bắn phá Hà Nội.

Bài và ảnh: THANH NGÂN
qdnd.vn

Nữ chiến sĩ và buổi trực đầu tiên

QĐND – Mười bảy tuổi, chị Nguyễn Thị Hường (Thanh Bình, Thanh Hà, Hải Dương) nhập ngũ vào Đoàn Thông tin Sóng Điện (Trung đoàn 26, Quân chủng Phòng không-Không quân). Tròn một tuổi quân, chị được thủ trưởng đơn vị giao nhiệm vụ chính thức đảm nhiệm ca trực chính. Ngày đầu tiên đảm nhiệm ca trực chính lại phụ trách mạng tiêu đồ 292 với chị thật nhiều lo lắng. Đó là ca trực tối 18-12-1972. 18 giờ 30 phút, chị nhận tín hiệu đài bạn báo về máy bay địch đang bay vào Hà Nội. Mọi lần, tín hiệu đài bạn thường ngân vang, trong trẻo; còn lần này sao có vẻ dồn dập, khẩn trương đến khác lạ. Tiếng rào rào nhiễu của máy thu mỗi lúc một gia tăng, tín hiệu đài bạn chập chờn lúc được, lúc mất. Chị thấy có nhiều điểm rất khác lạ so với các lần trước đây. Linh tính như mách bảo chị có vấn đề gì đó rất hệ trọng. Bằng kiến thức và kinh nghiệm đã học, chị bình tĩnh tập trung nghe tín hiệu từ đài bạn một cách chuẩn xác nhất. Đang tập trung nghe để đánh dấu đường bay trên bản đồ thì chị nhận tín hiệu tình báo từ đài bạn phát về có mục tiêu. Chị nhanh tay đánh dấu vị trí của mục tiêu lên tấm bản đồ mi ca và báo cáo chỉ huy: Máy bay B-52 đang bay vào Hà Nội. Ngay lập tức, sở chỉ huy báo động toàn đơn vị vào cấp I, không khí tại sở chỉ huy bỗng chốc nhộn nhịp, khẩn trương và rất trang nghiêm…

Chiến sĩ thông tin Nguyễn Thị Hường (Ảnh chụp lại tại Phòng truyền thống Lữ đoàn 26).

Máy bay đến nhiều, tung nhiễu dày đặc, tín hiệu chuyển về dồn dập, chập chờn. Một tay chị kẹp 2 bút chì để đánh dấu tọa độ đường bay, một tay áp chặt tai nghe để nghe rõ. Sau khi mạng của chị phát hiện được tốp máy bay B-52 đầu tiên thì các mạng khác sau đó cũng bắt được tín hiệu tương tự. Lúc này, tín hiệu tình báo kéo đến nhiều, đánh dấu không kịp, tốp này mất, tốp khác xuất hiện, chúng dày đặc tạo nên những đường ngoằn nghèo, đan quyện vào nhau, lúc chụm vào, lúc tách ra. Bàn tay chị di chiếc bút chì thoăn thoắt. Một đồng chí cán bộ trong sở chỉ huy vỗ nhẹ vào vai chị tỏ vẻ hài lòng làm chị càng vững tin hơn. Phiên trực lẽ ra kết thúc lúc 22 giờ, nhưng hơn 4 giờ sáng ngày 19-12 các chị mới được lệnh thay ca. Như vậy, cả ca trực hôm ấy kéo dài hơn 8 giờ, gấp đôi ngày thường. Rời khỏi sở chỉ huy, người nào cũng thấm mệt, song ai cũng hồ hởi, phấn khởi khi được chỉ huy đơn vị nhận xét: Ca trực đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong buổi đầu tiên đảm nhiệm ca trực chính chị đã thu tín hiệu chính xác tốp máy bay B-52 đầu tiên bay vào Hà Nội, góp phần giúp thủ trưởng các cấp chỉ huy kịp thời các lực lượng phòng không – không quân đánh trả máy bay địch.

Nhớ lại những năm tháng hào hùng của tuổi trẻ, nhất là 12 ngày đêm tháng Chạp năm 1972, chị nói: “Đó là những năm tháng đẹp nhất của mình vì đã hiến dâng tuổi trẻ vào chiến thắng chung của dân tộc, cùng quân dân Thủ đô viết nên bản hùng ca “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”.

QUÝ HOÀNG-XUÂN THÚ
qdnd.vn

Hạ gục B-52

40 năm trôi qua, ký ức trận đánh thắng B-52 tại trận địa Đại Sơn, Đô Lương (Nghệ An) của Đại đội 1, Tiểu đoàn tên lửa 43, Trung đoàn 263 vẫn lưu dấu sâu đậm trong cuộc đời làm báo của tôi. Hôm ấy, trời rét cắt da, cắt thịt, từ nơi sơ tán Báo Nghệ An, với giấy giới thiệu phóng viên quân sự do Cục Chính trị Quân khu 4 cấp, tôi phóng xe đạp xuống xã Đại Sơn. Nhận ra “nhà báo quen” từ hồi trận địa phục kích ở Nghi Ân, ở Rạng, Chính trị viên tiểu đoàn Hoàng Phú Nguyễn vắn tắt: “Bọn mình từ Bãi Vọt (Can Lộc, Hà Tĩnh) vừa cơ động về lúc 3 giờ sáng. Vượt phà Bến Thủy suýt “ăn” bom của tụi cường kích tọa độ. Cậu gặp may rồi. Đêm nay sẽ đánh lũ hung thần “pháo đài bay” B-52”.

Nghe tôi kể từ đầu năm đến giờ, không quân Mỹ đánh phá trở lại miền Bắc, Nghệ An phải gồng mình hứng chịu gần 2000 lượt tập kích bằng máy bay chiến lược, chiến thuật, hơn 1000 người dân bị bom, đạn của địch cướp đi mạng sống, anh Hoàng Phú Nguyễn chùng giọng chia sẻ: “Cả Trung đoàn 263 đều mang ơn tấm lòng đùm bọc, xả thân giúp đỡ của người dân quê Bác. Cậu thấy rồi đấy! Cả tiểu đoàn biên chế khối lượng lớn thiết bị, khí tài điện tử, quang học, đòi hỏi chính xác tuyệt đối trong mọi tình huống, vì vậy, mỗi khi mở đường, xây dựng trận địa phải cần đến hàng nghìn nhân công đào, đắp, ngụy trang. Ngay trận địa cơ động dã chiến ở Đại Sơn này nếu không có hai trung đoàn dân quân hợp sức của nhân dân địa phương thì làm sao đảm bảo yếu tố “bí mật, bất ngờ” trận phục kích B-52 đêm nay”.

Tiểu đoàn 43 kiểm tra tên lửa trước trận đánh đêm 22-11-1972. Ảnh chụp lại

Chợt tín hiệu báo động chuyển trạng thái SSCĐ từ xe chỉ huy vang lên, gấp gáp, hối thúc. Tiểu đoàn 43 nhận được thông số trinh sát kỹ thuật từ Trạm ra-đa 45 đặt ở Đồi Si cho biết, có 3 tốp B-52 bay vào vùng trời Nghệ An từ hướng Tây Nam, cách trận địa 45km. Đại đội trưởng Đại đội 1 là sĩ quan điều khiển Tống Ngọc Dũng trực tiếp chỉ huy kíp trực số 1, lệnh cho các trắc thủ góc tà, góc phương vị, cự ly mở thiết bị ViCo kiểm soát mục tiêu trên màn hiện sóng. Chỉ huy đơn vị vừa động viên, vừa nhắc nhở bộ đội phải tập trung trí tuệ, bản lĩnh, nhận rõ tín hiệu B-52, bám sát mục tiêu, chớp thời cơ phóng đạn tiêu diệt.

Trên màn hiện sóng, tín hiệu B-52 từ cự ly 45km rút ngắn đường bay xuống 30km, rồi 26km. Giữa màn nhiễu dày đặc của nhiều loại máy bay như B52, F111-A, F105-D, nhưng với phương pháp kiểm soát bên sườn, kíp trắc thủ Đại đội 1 vẫn nhận ra nhiễu B-52 trong hướng bay ổn định với tốc độ 915km/giờ. Thời cơ đến, Tiểu đoàn trưởng Thôi Ba phát lệnh mở máy cao tần P-35, sẵn sàng dẫn tên lửa tiếp cận mục tiêu. Đây là nghệ thuật phát sóng cao tần điều khiển tên lửa dũng cảm, đúng lúc, tránh được tên lửa Sơ-rai của máy bay Mỹ bắn trúng trận địa tên lửa của ta theo bức sóng cao tần P-35. Tiếng thông báo cự ly mục tiêu vào vùng hỏa lực mỗi lúc một gấp gáp; “Hai mươi sáu! Hai mươi lăm! Hai mươi bốn!”. Đúng phút quyết định ấy, Tiểu đoàn trưởng Thôi Ba dõng dạc lệnh cho Tống Ngọc Dũng ấn nút phóng quả tên lửa đầu tiên, giây lát sau phóng tiếp quả thứ hai mà sau này anh gọi là “cách đánh bồi, đánh cho gục hẳn”. Cả trận địa rạo rực khi mục tiêu B-52 trên màn hiện sóng trong xe chỉ huy bị xóa. Hai quả tên lửa SAM-2 gặp mục tiêu ở cự ly 24km đã nổ tung xác pháo, xóa sổ đợt tập kích bằng máy bay B-52 vào vùng đất Nghệ An.

Bài và ảnh: VĂN HIỀN
qdnd.vn

Người chỉ huy pháo 100mm hạ gục “pháo đài bay”

QĐND – Tại lễ phát động thi đua cao điểm chào mừng kỷ niệm 40 năm Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên phủ trên không” của Lữ đoàn 297 (Quân khu 2), tôi gặp ông Nguyễn Công Tuấn, nguyên Đại đội trưởng Đại đội 5 pháo phòng không 100mm, Trung đoàn 256, người đã phất cờ lệnh bắn máy bay B-52. Ông kể cho chúng tôi nghe về trận chiến đấu bắn rơi B-52 mà ông không thể nào quên.

Từ miền quê lúa Thái Bình, tròn 18 tuổi, ông vào quân ngũ với quyết tâm ra trận để góp sức mình giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Qua 14 năm tham gia chiến đấu bảo vệ bầu trời thành phố Nam Định, Hải Phòng, Bắc Giang và Hà Nội, Nguyễn Công Tuấn lần lượt đảm nhiệm các cương vị: Chiến sĩ, trung đội trưởng, đại đội trưởng. Tháng 9-1972, Trung đoàn 256, Quân khu Việt Bắc được lệnh cấp tốc nhận 18 khẩu pháo 100mm đã qua sử dụng nhiều năm về biên chế thành ba đại đội hỏa lực, sẵn sàng đối phó với máy bay B-52 Mỹ. Quân chủng Phòng không-Không quân tăng cường một số cán bộ cùng 200 chiến sĩ mới của huyện Chợ Đồn, Bắc Kạn Nguyễn Công Tuấn được cấp trên chọn là một trong ba đại đội trưởng pháo 100mm sẵn sàng đánh B-52 bảo vệ bầu trời Thái Nguyên-Việt Bắc.

Ông Nguyễn Công Tuấn (ngoài cùng bên trái) kể chuyện bắn máy bay B-52 bằng pháo 100mm với chiến sĩ Lữ đoàn 297 (Quân khu 2).

Đại đội của Nguyễn Công Tuấn được giao nhiệm vụ huấn luyện chiến sĩ mới vừa được tăng cường để làm chủ vũ khí trang bị. Không quản ngày đêm, Đại đội trưởng Tuấn đem tất cả những kỹ năng, kinh nghiệm tích lũy qua nhiều năm, cùng các cán bộ huấn luyện chiến sĩ thành những pháo thủ giỏi. Cùng với Chính trị viên Nguyễn Văn Bình, Đại đội phó Trần Công…, Đại đội 5 hội tụ đủ yếu tố đánh được B-52 và được công nhận đã “xóa” mục tiêu B-52 trong hai đêm 24 và 26-12-1972.

Ông Tuấn nhớ lại: Tháng 11-1972, khi cấp trên thông báo B-52 sẽ đánh vào thành phố Thái Nguyên và khu gang thép. Mặc dù thế giới khi đó chưa ở đâu hạ được “pháo đài bay” B-52 bằng pháo 100mm, nhưng ông cùng đồng đội đã khám phá, tìm tòi, thấy được những điểm yếu của B-52, như hướng bay không thay đổi, tốc độ bay chậm; nếu biết cách sẽ cắt được ngòi ba điểm nổ khác nhau ở những quả pháo 100mm mà không quân Mỹ vẫn chủ quan coi thường. Căn cứ vào tài liệu mật báo và kinh nghiệm trong chiến đấu, ông Tuấn và đồng đội đã tìm ra cách đánh B-52 khiến địch phải bất ngờ, đó là cách đánh bằng phần tử tính sẵn, có sáng tạo. Ông cho biết: Pháo 100mm có tầm xa 21km và tầm cao 14km, trong khi đó B-52 thường bay ở độ cao từ 8 đến 12km. Khi B-52 còn cách trận địa 20km thì đại đội bắt đầu nã pháo theo cách bắn nhanh, bắn cấp tập, bắn dựng màn đạn, cắt ngòi ba điểm nổ khác nhau ở độ cao 8km, 10km và 12km. Ông Tuấn khẳng định: Với sáu khẩu pháo 100mm của đại đội đánh theo cách này thì chiếc B-52 nào vào tầm ngắm khó mà thoát được.

Đại đội trưởng Tuấn động viên anh em luyện tập và luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Đúng như dự đoán, từ 20 giờ ngày 24-12-1972 đến khoảng 0 giờ 5 phút ngày 25-12-1972, Đại đội pháo do ông chỉ huy đã hạ gục một chiếc B-52 (theo tin báo về từ Quân khu 1). Cũng bằng những khẩu pháo 100mm này, rạng sáng 26-12-1972, đại đội do ông trực tiếp chỉ huy tiếp tục hạ thêm chiếc máy bay B-52 thứ hai. Ngay sau trận đánh này, trung đoàn và đại đội do ông chỉ huy được thưởng Huân chương Quân công hạng ba. Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng gửi tặng lẵng hoa. Riêng đại đội trưởng Nguyễn Công Tuấn được cấp trên phong quân hàm từ chuẩn úy lên thiếu úy ngay tại trận địa.

Bài và ảnh: XUÂN PHÚ
qdnd.vn

Cuộc chiến “xét lại lịch sử”

Làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình”

Sự đánh sòng giữa hai khái niệm chiến tranh chính nghĩa và phi nghĩa là một phần của thủ đoạn xuyên tạc, bôi nhọ và viết lại lịch sử trong chiến lược “diễn biến hòa bình” được các thế lực chống cộng thực hiện trên phạm vi toàn cầu, trong đó Việt Nam cũng là một trọng điểm. Biến đen thành trắng, biến không thành có là âm mưu gây hoang mang, tạo tâm lí chán chường, nghi ngờ những chân lí vốn đã được khẳng định.

Nhà nước Liên bang Xô-viết và chế độ XHCN ở Đông Âu bị tan vỡ một phần không nhỏ do có sự “góp sức” của các thủ đoạn “xét lại lịch sử”. Sự đổ vỡ ấy đã lập tức trở thành “mảnh đất màu mỡ” nuôi dưỡng những kẻ cơ hội chính trị, cực đoan dân tộc, bọn phát-xít mới và các thế lực thù địch khác tiếp tục xuyên tạc các vấn đề lịch sử. Lịch sử cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, công lao và sự hi sinh to lớn của Liên Xô trước đây trong nỗ lực đánh bại Đức quốc xã ở châu Âu, mở đường cứu toàn nhân loại khỏi nguy cơ bị chủ nghĩa phát-xít nô dịch và tiêu diệt, đang bị bôi nhọ một cách đê tiện theo kiểu “giậu đổ bìm leo”.

Trong năm 2009 sắp qua, thế giới đã kỉ niệm 70 năm bắt đầu cuộc chiến tranh thế giới thứ hai và chỉ còn ít ngày nữa sẽ bắt đầu năm 2010 với nhiều sự kiện lịch sử quan trọng, đặc biệt là kỉ niệm 65 năm chiến thắng phát-xít Đức, 65 năm kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai và đối với Việt Nam là 35 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước… Càng lùi sâu vào lịch sử, những sự kiện này ngày càng bị cố tình xuyên tạc, đặc biệt là cuộc chiến tranh thế giới thứ hai khi số nhân chứng sống của cuộc chiến thảm khốc nhất trong lịch sử này ngày càng ít đi theo thời gian. Với âm mưu chính trị đen tối, nhiều lực lượng chính trị ở một số nước châu Âu đang cố gắng làm lu mờ không chỉ công lao, sự mất mát và hi sinh to lớn của Liên Xô trước đây trong sứ mệnh tiêu diệt chủ nghĩa quốc xã, mà còn cố tình xóa bỏ những gì tốt đẹp mà CNXH đã từng tạo ra ở Liên Xô và các nước XHCN cũ ở Đông Âu. Đó còn là âm mưu bôi nhọ CNXH, mô hình xã hội đang ngày càng là mục tiêu vươn tới của nhiều đảng Cộng sản, các đảng cánh tả trên toàn cầu. Việc cố tình dỡ bỏ tượng đài, di dời hài cốt tưởng niệm các chiến sĩ Hồng quân, thậm chí cả việc đưa những cựu chiến sĩ chống phát-xít ra xét xử… đã và đang diễn ra ở một số nước châu Âu. Đó là những hành động cố tình biến hình ảnh những chiến sĩ giải phóng thành những “tội phạm chiến tranh”. Đầu tháng 9 vừa qua, phát biểu tại thủ đô Bê-ô-grát của CH Xéc-bi-a nhân dịp kỉ niệm 65 năm thành phố này được giải phóng khỏi quân đội phát-xít, Tổng thống LB Nga Đ. Mét-vê-đép (Medvedev) đã chỉ trích một số thế lực đang chủ trương “anh hùng hóa” những kẻ trước đây ủng hộ phát-xít Hít-le, coi chúng là “chiến sĩ đấu tranh vì tự do”. Ông nhấn mạnh, hiện đang có mưu toan xuyên tạc lịch sử, đổ trách nhiệm cho Liên Xô cùng với Đức quốc xã gây ra Chiến tranh thế giới thứ hai. Tổng thống Mét-vê-đép cũng nói trắng ra rằng, hồi ấy không phải ở đâu người ta cũng chống lại bọn phát-xít, mà bằng chứng là một loạt quốc gia châu Âu đã không chống lại phát-xít và có nhiều nước khác không những ủng hộ, mà còn tiến hành cuộc chiến cùng phe với chế độ Hít-le hoặc hỗ trợ hậu cần cho bộ máy chiến tranh của chúng. Nếu không có sự ủng hộ như vậy thì số lượng nạn nhân của bọn phát-xít có thể khác đi, không nhiều đến như vậy. Ông cho rằng cần phải nhắc lại điều đó cho những ai ngày nay đang mưu toan xét lại lịch sử. Một số khác lại tìm cách đầu cơ chính trị chống Nga, khi đưa ra các luận điểm về trách nhiệm ngang nhau của nước Đức Hít-le và Liên Xô trước đây trong việc khởi chiến, nhằm đạt được những quyền lợi chính trị ích kỉ của mình. Điều đó không hề có gì chung với hiện thực và rất vô đạo đức đối với hương hồn hàng triệu người đã hi sinh đời mình trong cuộc chiến chống phát-xít, cũng như trong các trại tập trung của bọn phát-xít. Những hành động như vậy chỉ có thể đánh giá là khinh thường kết quả cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, không tôn trọng những quyết định mà cộng đồng thế giới đã tuyên bố thời đó, cụ thể là những tuyên bố tại tòa án quân sự Nu-rem-béc.

Âm mưu bôi nhọ lịch sử trong mưu toan viết lại sử đang trở thành một vấn đề thực sự đe dọa bảo vệ và thúc đẩy nền hòa bình vững chắc; tạo ra cách nhìn sai trái về các vấn đề lịch sử. Chiến tranh thế giới thứ hai là sự kiện lớn khủng khiếp như vậy còn đang bị xuyên tạc thì các sự kiện mang tính khu vực, quốc gia… cũng khó có thể tránh được nguy cơ ấy. Trước tình trạng nguy hiểm này, Tổng thống LB Nga đã quyết định thành lập ủy ban trực thuộc tổng thống nhằm chống lại mưu toan xuyên tạc lịch sử chiến tranh thế giới thứ hai, bảo vệ chân lí của sự kiện lịch sử.

Ở Việt Nam thì sao? Trải qua hai cuộc kháng chiến kéo dài 30 năm tàn khốc nhưng oanh liệt và những sự kiện lịch sử sau đó, dân tộc ta đã phải chịu những hi sinh và mất mát vô cùng lớn để giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, để có một Việt Nam với vị thế ngày càng cao như ngày nay. Cả dân tộc đang tiếp tục khắc phục hậu quả tàn khốc của chiến tranh, xây dựng cuộc sống mới với những thành tựu vượt bậc, nhưng vẫn còn muôn vàn những khó khăn cần tiếp tục khắc phục và giải quyết. Lợi dụng những khó khăn ấy, những kẻ cơ hội chính trị và thù địch đang cố tình xuyên tạc lịch sử hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, đánh sòng chiến tranh chính nghĩa và phi nghĩa, coi những tổn thất, mất mát trong chiến tranh, coi những khó khăn thời hậu chiến… là do Đảng ta gây ra. Vừa tận hưởng nền hòa bình và ổn định chính trị trên đất nước ta ngày nay, họ vừa đưa ra những phán xét thiếu tính khoa học, thiếu tính lịch sử, đầy tính cực đoan và cơ hội về lịch sử Cách mạng Việt Nam. Họ hay phán về “những sai lầm” hoặc “những cơ hội bị bỏ lỡ” khi Đảng ta, không còn con đường nào khác, buộc phải lãnh đạo dân tộc ta đứng lên chống thực dân Pháp, quân xâm lược Mỹ ngay trên dải đất thân yêu của chính dân tộc mình vì nền độc lập, tự do cho dân tộc.

Trong nhiều tháng qua, tại Cam-pu-chia, Tòa án xét xử tội ác của Khơ-me Đỏ đã tiến hành nhiều phiên xét xử các thủ lĩnh của chế độ diệt chủng Khơ-me Đỏ. Các bị cáo đã bị tòa kết tội diệt chủng, chống lại loài người. Án sẽ được tuyên, nhưng chắc chắn không bản án nào có thể cứu lại hàng triệu người, trong đó có cả những người Việt Nam bị chúng giết. Tuy nhiên, việc vạch mặt, chỉ tên những tội ác của chúng cũng là góp phần mang lại công lí cho hàng triệu nạn nhân của chế độ Khơ-me Đỏ. Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với nhân dân Cam-pu-chia tiến hành cuộc chiến tranh lật đổ chế độ tàn bạo Khơ-me Đỏ, vừa là để bảo vệ mình trước các cuộc tấn công của quân đội Khơ-me Đỏ, tàn sát người Việt ở khu vực biên giới tây nam nước ta, vừa giúp giải phóng nhân dân Cam-pu-chia khỏi thảm họa diệt chủng. Sự hi sinh to lớn của Quân đội nhân dân Việt Nam và quân tình nguyện Việt Nam trong thực thi trách nhiệm bảo vệ biên giới quốc gia ở phía tây nam và nghĩa vụ quốc tế cao cả ấy cũng đã và đang bị một số cá nhân cũng như thế lực xuyên tạc, phán xét một cách cơ hội và mù quáng. Họ đang xúc phạm công lao và sự hi sinh của những cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta trong việc xóa bỏ chế độ Khơ-me Đỏ, hồi sinh một dân tộc từ “cánh đồng chết”, và cả trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới quốc gia.

Âm mưu xét lại lịch sử và những mưu toan biến lịch sử thành công cụ chính trị sẽ dẫn đến một cuộc đối đầu mới về hệ tư tưởng, sẽ làm chệch hướng việc cùng rút ra những bài học quí báu từ các sự kiện lịch sử. Nhìn lịch sử bằng thái độ cực đoan sẽ đưa người ta đi từ sai lầm này đến sai lầm khác. Đó là cơ hội béo bở để các lực lượng chống cộng dùng những điều tồi tệ của chiến tranh để bôi nhọ chiến thắng vinh quang và lịch sử hào hùng theo một kịch bản của “cuộc chiến xung quanh kí ức chiến tranh” trong làn sóng chống cộng quy mô lớn.

Hãy cảnh giác. Trước những thông tin ngược về các sự kiện và các vấn đề lịch sử, cần bình tĩnh đánh giá, xem xét dưới góc độ lịch sử và khoa học thì chúng ta sẽ hiểu rõ ngọn ngành, không tự đẩy mình vào mâu thuẫn với chính mình và với các vấn đề lịch sử.

KIM TÔN
qdnd.vn

Sống lại ký ức hào hùng một huyền thoại

Kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không:

Những ký ức hào hùng về Điện Biên Phủ trên không năm 1972 đẹp như một huyền thoại, được dệt nên bằng ý chí kiên cường, sự dũng cảm mưu trí sáng tạo và một quyết tâm lớn lao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, đặc biệt là lực lượng không quân Việt Nam…

Buổi tọa đàm Kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không do Cổng thông tin Chính phủ tổ chức ngày 10/12 đã có những vị khách mời đặc biệt. Đó là Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu, nguyên Phó Chính ủy Quân chủng Phòng không – Không quân; Trung tướng Phạm Tuân – Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên phi công đoàn Không quân Sao Đỏ; Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt – Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn tên lửa 57 – Sư đoàn Phòng không Hà Nội; Đại tá Nghiêm Đình Tích, nguyên Đài trưởng đài Radar P.35, Trung đoàn 291, Binh chủng Radar.

Những ký ức hào hùng về Điện Biên Phủ trên không năm 1972 đẹp như một huyền thoại, được dệt nên bằng ý chí kiên cường, sự dũng cảm mưu trí sáng tạo và một quyết tâm lớn lao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, đặc biệt là lực lượng không quân Việt Nam…

Ra trận chỉ với một tâm thế tất cả vì Tổ quốc

Những chiếc huân chương lấp lánh trên ngực Trung tướng Nguyễn Văn Mậu cứ rung lên. Vị tướng già oanh liệt thuở nào quá xúc động khi nhớ về những ngày tháng oanh liệt quần nhau với B52 của giặc Mỹ trên bầu trời Hà Nội với một tâm thế, không sợ chết, tất cả vì Tổ quốc, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.

Vì sao Mỹ lại mở một chiến dịch ném bom lớn như vậy đối với miền Bắc nước ta và đặc biệt là tập trung đánh phá Thủ đô Hà Nội? Trung tướng Nguyễn Văn Mậu chia sẻ, trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ đã hứng chịu nhiều thất bại, ba đời tổng thống Mỹ bị đổ, Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, Chiến tranh cục bộ và Chiến tranh đặc biệt đều đã bị phá sản.

Trước tình hình đó, Mỹ dùng không quân, hải quân đánh phá miền Bắc, phá hoại các tỉnh, thành phố. Trước nguy cơ thất bại thảm hại, Mỹ chỉ còn con át chủ bài là B52, chúng dùng để đánh Hà Nội hòng ngăn chặn sự chi viện của ta cho miền Nam và uy hiếp nhân dân ta. Song nhân dân ta theo lời kêu gọi của Bác Hồ “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, đã kiên quyết đánh Mỹ cho đến thắng lợi hoàn toàn.

Trung tướng Nguyễn Văn Mậu còn cho hay, một điều làm cả thế giới kinh ngạc là với những chiếc máy bay nhỏ hơn và với những khẩu súng pháo nhỏ, không quân Việt Nam lại có thể bắn rơi được loại máy bay to lớn và hiện đại nhất lúc bấy giờ là B52, một loại máy bay ném bom chiến lược tầm xa, cự ly bay hàng chục ngàn km, mang tới 30 tấn bom, xen kẽ bom tấn, bom tạ, bom bi, một tốp 3 chiếc B52 có thể san bằng diện tích 2 km2. B52 được dùng để ném bom chiến lược các mục tiêu diện rộng sân bay, thành phố, trung tâm chính trị, bến cảng và khi bị đánh thì hầu như các mục tiêu bị phá hủy.

Tại buổi toạ đàm, các vị tướng, sỹ quan quân đội cùng ôn lại những ký ức oanh liệt trong trận Điện Biên Phủ trên không.

Trung tướng Phạm Tuân, người Anh hùng thân thuộc cũng hồi hộp khi nhớ lại những thời điểm ác liệt, các sân bay chiến đấu của ta bị phá hủy rất nặng nề, nhưng máy bay của ta vẫn có thể cất cánh trong mọi tình huống mà không bị địch phát hiện. Trung tướng Phạm Tuân chia sẻ: “Những thời điểm như vậy đã thể hiện trí tuệ sáng tạo của dân tộc, của không quân nhân dân Việt Nam. Lúc đó, chúng tôi không thấy lo sợ, lo lắng gì cả, có thể vì lý tưởng lớn lao của cả dân tộc đã làm sôi sục ý chí tấn công.

Chúng ta làm rất nhiều sân bay dự bị, hoặc cất cánh trên đường băng phụ. Thậm chí, có khi chúng tôi đeo thêm 2 quả tên lửa bổ trợ, khi đó máy bay có thể cất cánh trên đường băng chỉ 200 – 300m so với đường băng 1,5km thông thường.

Trong 12 ngày đêm, Mỹ sử dụng 193 B52 và hơn 1.000 máy bay chiến thuật, trung bình mỗi đêm đánh vào Hà Nội 50 – 70 lượt B52, cao điểm lên đến 100 lượt B52. Ngoài ra, mỗi đêm trung bình 300 lượt, cao điểm 450 máy bay chiến thuật đánh phá để yểm trợ. Như vậy, bầu trời Hà Nội, mỗi đêm có 200 – 300 máy bay, có thể thấy mức độ đánh phá dày đặc như thế nào.

Lúc đó, chúng tôi không sợ bị bắn rơi, nhưng địch gây nhiễu ác liệt quá. Ví dụ, địch đánh vào sân bay, mình chậm đi một chút, trên đường máy bay yểm trợ đuổi mình chậm thêm chút. Thế nên, phi công phải chủ động, chúng ta cất cánh ở sân bay địch không ngờ tới để không bị chặn ở đầu đường băng. Lúc đó, mệnh lệnh là không đánh F4, chúng ta vượt qua nó, dành tên lửa để đánh B52. Hiệp đồng với binh chủng tên lửa như thế nào, khi tên lửa bắn F4 chúng tôi tranh thủ để vượt qua. Rồi lựa chọn hướng vào tiếp cận B52 như thế nào. Tất cả tạo nên điều kiện thuận lợi nhất đánh B52. Tôi bắn B52 xong rồi mà F4 vẫn ở đằng sau nhưng không làm gì được”.

Đỉnh cao của sự sáng tạo, dũng cảm tuyệt vời

Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không đẹp như một huyền thoại, bởi lẽ ta chỉ được trang bị tên lửa SAM 2, loại vũ khí mà theo đánh giá của đối phương thì không có khả năng đánh được B.52, nhưng trong thực tế thì ngược lại. Có điều kỳ diệu nào ở đây? Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt kể lại, tên lửa SAM 2 đã được nâng công suất. Kỳ diệu ở chỗ là khả năng phát hiện, phân biệt nhiễu B52 của bộ đội tên lửa.

Nhiễu của B.52 rất mịn, ngoài ra còn có nhiễu của các máy bay chiến đấu họ F (F4, F111A…), nhiễu tiêu cực, nhiễu cố định. “Nhưng khó nhất là chọn được 1 chiếc B.52 trong tốp để tiêu diệt, nhưng không quân của ta quả là tài tình sáng tạo và mưu trí, luôn xác định chính xác vị trí B52. Đồng chí Chính uỷ Sư đoàn chỉ thị cho chúng tôi, phải tiết kiệm đạn, do đó chúng tôi chuyển chiến thuật đánh “mổ cò”, nhưng là “mổ cò” chính xác nên máy bay B52 rơi liên tục trong khi tên lửa, đạn tốn kém không quá nhiều”. Để đánh được B52 một trong những vấn đề quan trọng nhất là phải phát hiện ra chúng, nhiệm vụ đó thuộc về Bộ đội Ra đa.

Đại tá Nghiêm Đình Tích đã rất tự hào khi kể lại sự mưu trí của ta đã đánh bại kỹ thuật sử dụng tác chiến điện tử trong suốt 12 ngày đêm ném bom Hà Nội của Mỹ. Ông cho hay: “Trong chiến tranh hiện đại, tập kích đường không của địch và tác chiến phòng không thực chất là một cuộc chiến tranh điện tử, ngoài yếu tố chính trị tinh thần, thì ai thắng trong cuộc chiến điện tử này sẽ là người chiến thắng.

Trong chiến dịch 12 ngày đêm, chúng ta bị không quân Mỹ gây nhiễu hơn nhiều so với chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, họ gây nhiễu từ các hạm tàm, từ các loại máy bay chiến thuật. Mỗi B52 có 15 máy gây nhiễu, 2 máy phóng nhiễu giấy bạc. Một tốp B52 có 45 máy, như vậy tất cả nhiễu đó tạo thành nhiễu chồng chéo, dày đặc, đan xen, công suất rất lớn, phạm vi rất rộng. Chúng ta gặp rất nhiều khó khăn vì địch âm mưu bịt mắt chúng ta. Toàn thể Binh chủng tập trung nghiên cứu, phát hiện, bảo đảm cho phòng không – không quân đánh B52. Riêng tôi có thuận lợi là được học về nguyên lý điều khiển ra đa do các chuyên gia Liên Xô đào tạo từ năm 1968, 1969. May mắn nhất, chúng tôi trước đó đã từng phát hiện B52 rồi, đặc biệt là trong chiến tranh phá hoại lần thứ 2.

Trong năm 67, địch mở chiến dịch vào Hà Nội đã gây nhiễu rất nặng, chúng tôi xây dựng được quy trình chống nhiễu và phát hiện B52 rất tốt. Chúng tôi lập được nhiều chiến công. Một là cùng với đại đội 41 dẫn đường bắn trúng B52 đêm 20/11/1971. Thứ hai, sau hội nghị của bộ đội tên lửa, quân chủng cử một đoàn cán bộ vào Vinh giúp đánh B52, đơn vị chúng tôi được lệnh về bảo đảm trực tiếp cho một trung đoàn đánh B52. Đêm 22/11, chúng tôi dẫn đường cho trung đoàn 263 bắn rơi chiếc máy bay B52 đầu tiên”…

Trung tướng Nguyễn Văn Mậu chiêm nghiệm ra một điều sâu sắc rằng, rất đặc biệt là Bác Hồ đã có những dự kiến rất sớm để đánh thắng B52. Năm 1965, Mỹ đem bom thả xuống Bến Cát, Tây Bắc Sài Gòn, Bác đã nói trước sau Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra đánh Hà Nội.

Sau 19 ngày Mỹ đem thả bom ở đèo Mụ Giạ, Tây Bắc Quảng Bình, Bác lại nói ngày 19/7/1965: Dù Mỹ có B57, B52 hay B gì đi nữa, ta cũng đánh mà đánh là nhất định thắng. Mỹ trước sau cũng sẽ thua, nhưng chúng chỉ chịu thua trên bầu trời Hà Nội. “Các chú muốn bắt cọp phải vào hang.” Tinh thần đó được quán triệt đến cán bộ chiến sỹ toàn quân chủng Phòng không – Không quân, trở thành ý chí sắt đá, sáng tạo trong chiến dịch 12 ngày đêm.

Thu Phương (ghi)
cand.com.vn

Tên lửa SAM-2, nỗi khiếp đảm của ‘thần tượng’ Hoa Kỳ

(VTC News) – 29 “siêu pháo đài bay” B-52 đã bị hạ gục trong chiến dịchĐiện Biên Phủ trên không tháng 12/1972 bằng hệ thống tên lửa SAM-2.

Hiện nay, tại Bảo tàng Phòng không – Không quân đang trưng bày bệ phóng tên lửa SAM-2 của tiểu đoàn 59, trung đoàn tên lửa 261.

Ông Nguyễn Văn Minh, Phó Giám đốc bảo tàng Phòng không – Không quân cho biết, bệ phóng tên lửa chính là hiện vật quý nhất ở bảo tàng về 12 ngày đêm lịch sử.

Hiện vật này đã giúp bộ đội tên lửa bắn rơi tan xác tại chỗ chiếc B-52 đầu tiên vào đêm 18/12/1972 trên bầu trời Hà Nội. Chiếc B-52 đầu tiên bị bắn hạ trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không đã rơi xuống cánh đồng Chuôm ở xã Phù Lỗ, Đông Anh (Hà Nội).

Tên lửa SAM-2, nỗi khiếp đảm của 'thần tượng' Hoa KỳBệ phóng tên lửa này do Liên Xô sản xuất.

Bộ đội tên lửa là lực lượng chủ yếu bắn rơi máy bay B-52 trong 12 ngày đêm lịch sử năm 1972. Họ đã bắn rơi 29/32 chiếc B-52 trong chiến dịch này. Loại bệ phóng tên lửa do Liên Xô sản xuất này thường được nhiều người biết tới với tên gọi SAM-2.

SAM-2 (tên lửa đất đối không kiểu 2) là tên gọi mà các quốc gia phương Tây đặt cho loại tên lửa S-75 Dvina  do Liên Xô (trước đây) chế tạo và viện trợ cho ta.

Đây là tổ hợp tên lửa đất đối không tầm cao, được điều khiển bằng hệ thống ra-đa ba tác dụng. Kể từ khi được triển khai lần đầu tiên vào năm 1957, nó đã trở thành một trong các loại tên lửa phòng không được triển khai và sử dụng nhiều nhất trong lịch sử.

Đạn tên lửa dùng trong hệ thống SAM-2 là V-750. Đạn V-750 có hai tầng: Động cơ đẩy sử dụng nhiên liệu rắn; động cơ hành trình sử dụng nhiên liệu tên lửa lỏng để duy trì quỹ đạo bay.

Tên lửa SAM-2, nỗi khiếp đảm của 'thần tượng' Hoa KỳCận cảnh bệ phóng tên lửa SAM-2. 

Tầm bắn của tên lửa SAM-2 có thể lên đến gần 40km và độ cao bắn lên đến 25km. Độ cao bắn này giúp tên lửa hoàn toàn có khả năng “hạ gục” máy bay B-52. Đầu đạn của SAM-2 là loại tạo mảnh, chứa gần 200kg thuốc nổ và có tốc độ bay đạt Mach 3.

Bán kính tiêu diệt mục tiêu của đạn tên lửa V-750 khoảng 65m (ở độ cao lớn, khí quyển loãng, bán kính tiêu diệt mục tiêu có thể lên đến 250m).

Các đầu nổ của đạn tên lửa đều được lắp hai hệ thống ngòi nổ: Hệ thống ngòi nổ sát thương và hệ thống ngòi nổ tự hủy. Khi cách mục tiêu khoảng 60m, hiệu ứng vô tuyến sẽ kích hoạt ngòi nổ sát thương gây nổ đạn.

Ngòi nổ tự hủy của đạn tên lửa hoạt động ở chế độ tự động và chỉ được kích hoạt ở độ cao hơn 23km khi ngòi nổ sát thương không hoạt động (trường hợp bắn trượt mục tiêu). Khi đầu đạn được kích nổ sẽ sinh ra nhiệt lượng rất lớn, sóng xung kích mạnh và tạo ra hàng chục nghìn mảnh đạn để tiêu diệt mục tiêu.

Được sự giúp đỡ tận tình của các chuyên gia Liên Xô, bộ đội tên lửa Việt Nam nhanh chóng làm chủ vũ khí, khí tài phòng không hiện đại. Tên lửa SAM-2 nhanh chóng được đưa vào chiến đấu đạt hiệu quả cao. Bộ đội tên lửa với vũ khí SAM-2 đã trở thành một trong những lực lượng nòng cốt bảo vệ bầu trời Tổ quốc.

Cải tiến đáng kể nhất của hệ thống S-75 Dvina tại Việt Nam là việc chống nhiễu điện tử, đảm bảo cho bộ khí tài điều khiển tên lửa hoạt động bình thường.

Tên lửa SAM-2, nỗi khiếp đảm của 'thần tượng' Hoa KỳMột chiếc F-4 của Không quân Hoa Kỳ bị trúng tên lửa SAM-2 khi đang không kích miền Bắc Việt Nam.

Ngoài ra, trong suốt hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Hoa Kỳ tại miền Bắc Việt Nam từ 1965 đến 1968 và năm 1972, hệ thống radar của S-75 Dvina đã được cải tiến 4 lần với 40 nội dung kỹ thuật để theo kịp cuộc chiến tranh điện tử của không lực Hoa Kỳ, bảo đảm an toàn trong sử dụng và nâng cao độ chính xác khi chiến đấu.

Trong hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc 1965-1968 và 1972, các đơn vị tên lửa SAM-2 của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã đánh 3.542 trận, trong đó có 588 trận đánh ban đêm; tiêu thụ 5.885 quả đạn; bắn rơi 788 máy bay của không lực Hoa Kỳ, 366 chiếc rơi tại chỗ; trong đó có 43 máy bay B-52; bình quân 7,1 quả đạn diệt được một máy bay.

Tên lửa SAM-2, nỗi khiếp đảm của 'thần tượng' Hoa KỳTên lửa SAM-2. (Ảnh: Tuổi trẻ)

Trong chiến dịch phòng thủ đuờng không 12 ngày đêm cuối tháng 12/1972, 14 tiểu đoàn tên lửa SAM-2 bảo vệ Hà Nội và Hải Phòng đã bắn rơi 27 máy bay B-52. Tuy nhiên, Hoa Kỳ chỉ thừa nhận mất 25 chiếc B-52 trong toàn bộ cuộc chiến, trong đó có 15 chiếc bị SAM-2 bắn rơi trong Chiến dịch Linebacker II.

Cho đến nay, Việt Nam là quốc gia duy nhất trên thế giới đã sử dụng tên lửa SAM-2 để đánh thắng máy bay ném bom chiến lược B-52, hạ bệ “thần tượng” của không lực Hoa Kỳ.

SAM-2 vẫn còn được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới, với một số mức độ khả năng hoạt động ở 35 quốc gia.

Minh Quân
vtc.vn

Pháo đài B.52 bị hạ: Lời tự thú của các phi công Mỹ

Họ bảo chúng tôi là ném bom mục tiêu quân sự. Đánh liền bốn lần vào một bệnh viện lớn, với hàng chục tấn bom thì không thể gọi là nhầm lẫn được, một thiếu tá người Mỹ viết.

» ‘Thắng B-52 trên bầu trời Hà Nội’
» Tận mắt chiêm ngưỡng hiện vật Điện Biên Phủ trên không
» Ảnh: Xác máy bay B-52 rơi vương vãi trên đường Hà Nội
» Những cỗ máy khổng lồ rải bom giữa trời Hà Nội
» Khám phá 4 loại máy bay B-52 từng tham chiến ở Việt Nam
» Cuộc hội ngộ đẫm nước mắt của 4 nhân chứng lịch sử
» Những điều chưa biết về ‘pháo đài bay’ B-52
» Ảnh: Sản xuất đạn tên lửa bắn rơi máy bay B52
» Chuyện những người lính anh dũng hy sinh sau bắn hạ B52
» Đêm trắng điều khiển ‘rồng lửa’ tiêu diệt pháo đài bay

“Chúng tôi thiết tha mong rằng những người lãnh đạo của nước Mỹ chấm dứt ngay những cuộc ném bom này. Họ cần làm mọi việc để cuộc chiến tranh chấm dứt ngay, để chúng tôi sớm được trở về với gia đình”, thiếu tá không quân Carl H. Jeffcoat gửi lời cầu xin từ Hỏa Lò (Hà Nội).

“Bám đuôi nhau mà về”?

Đại úy hoa tiêu B.52 Robert G. Certain khai rành rọt sau khi bị bắt sống: “Chúng tôi xuất phát từ đảo Guam. Khi chúng tôi đang giải trí ở câu lạc bộ sỹ quan, một số đã chuẩn bị đi ngủ thì lệnh trên gọi đi ngay. Lệnh cấp tốc. Hoạt động nhiều tốp. Cùng một lúc.

Chưa bao giờ huy động lớn đến thế. Ai cũng bất ngờ.

Bất ngờ hơn nữa là nghe phổ biến nhiệm vụ: đánh vào vùng Hà Nội.

Chúng tôi lo ngại nhìn nhau. Có đứa bảo: Thế là hết Noel.

Mấy viên đại tá cơ quan tham mưu bảo chúng tôi: “Không có gì phải lo cả. Đi ném bom đêm. Bay cao. Cứ bám đuổi nhau cho chặt. Chiếc nọ thẳng hàng chiếc kia. Rồi bám đuôi nhau trở về. Sẽ trở về đủ. Không có gì đáng lo cả!”.

Pháo đài B.52 bị hạ: Lời tự thú của các phi công MỹẢnh tư liệu của Mỹ

Robert còn được các chỉ huy đảm bảo “đi đánh đêm, MIG và trận địa tên lửa không nhìn thấy được”, rồi thay vì được ngủ một giấc tại Guam, là đi thẳng vào “Hilton” Hỏa Lò ngủ dài ngày lẫn đêm.

Còn trung tá lái chính B.52 Henry Ian thì không thể quên những ngày trước khi vào Hỏa Lò “nghỉ ngơi”: “Mọi người lên xe Jeep đi tới một dãy nhà một tầng màu xám. Ở đó người ta họp phổ biến nhiệm vụ cho các phi công trước khi đi ném bom. Không khí lặng lẽ và chìm đắm. Những ai chưa đến lượt đi thì nằm tại buồng riêng thở dài, nghĩ đến gia đình. Những người sắp lên máy bay thì lặng lẽ nhìn nhau, không nói chuyện nhiều như trước.

Trong cuộc họp, người ta còn nói tới cả những hoạt động đi cứu của phi vụ hôm trước, nhưng không nói rõ thiệt hại ra sao. Việc giấu diếm úp mở này càng làm khủng hoảng thêm về tâm lý đối với những người sắp ra đi như tôi lúc bấy giờ. Tất cả là màu xám. Một phòng họp màu xám dưới một bầu trời màu xám.

Pháo đài B.52 bị hạ: Lời tự thú của các phi công Mỹ Chúng tôi thiết tha mong rằng những người lãnh đạo của nước Mỹ chấm dứt ngay những cuộc ném bom này. Họ cần làm mọi việc để cuộc chiến tranh chấm dứt ngay, để chúng tôi sớm được trở về với gia đình

Thiếu tá không quân Carl H. Jeffcoat gửi lời cầu xin từ Hỏa Lò (Hà Nội) Pháo đài B.52 bị hạ: Lời tự thú của các phi công Mỹ

… Hôm ấy là ngày 22/12, máy bay tôi đi đầu tốp thứ 3 trong số 4 tốp của hướng chúng tôi, xuất phát từ Utapao (Thái Lan) lúc 1h30′ sáng. Máy bay của tôi chở bom 700 và 500 cân Anh. Lúc bấy giờ chúng tôi đang ở độ cao 10km, tốc độ khoảng 900km/h. Khoảng 4 phút trước khi tới mục tiêu (Hà Nội) thì chúng tôi được báo động có hiện tượng nghi ngờ là máy bay MIG đang săn đuổi. Ngoài ra, với mắt thường, chúng tôi có thể thấy nhiều tên lửa SAM bay vút lên phía chúng tôi.

Máy bay của tôi bị liên tiếp 2 tên lửa SAM. Sau khi bị hỏng vì quả SAM thứ nhất, chúng tôi không liên lạc gì được với nhau. Tôi đang cố gắng giữ cho máy bay thăng bằng thì bị tiếp quả SAM thứ 2, máy bay bị hỏng nặng. Cửa kính chắn gió ở buồng lái vỡ tung, hệ thống điện trong máy bay hoàn toàn mất hiệu lực, 2 động cơ máy bay bị cháy, cánh trái cháy, điện đài liên lạc để cứu cũng không liên lạc được.

Tôi là phi công lái chính, và là người chỉ huy phi hành đoàn. Tôi rất muốn liên lạc với mọi người trong nhóm, nhưng cả người lái phụ tôi cũng chẳng biết số phận anh ta ra sao. Ghế dù bật tôi ra khỏi máy bay, chiếc máy bay khổng lồ 8 động cơ mà tôi lái đang cháy sáng rực như một quả cầu lửa lớn. Xung quanh tôi tên lửa, đạn pháo nổ, réo vun vút. Thật là kinh khủng. Khi dù sắp hạ tôi xuống đất thì đã có rất nhiều người chờ sẵn để bắt tôi”.

Trong một kíp bay khác, trung úy, hoa tiêu William Thomas Mayall thì than phiền với những người bắt mình: “Theo quy định của giáo trình dạy người lái B.52, nếu gặp bất trắc phải xử lý nhảy dù thì người lái chính phải ra lệnh cho toàn kíp. Sau đó thứ tự nhảy dù quy định như sau:

Thứ nhất, người giữ súng được nhảy đầu tiên. Thứ 2 và thứ 3 là hai hoa tiêu, vì không cần đến họ nữa. Thứ 4 là sỹ quan điện tử. Thứ 5 là phụ lái và cuối cùng là lái chính, vì 2 người này phải giữ cho máy bay thăng bằng, phải cầm lái đến giây cuối cùng, đảm bảo an toàn cho kíp bay lần lượt nhảy dù hết. Tài liệu nhắc rõ là người lái chính phải nhảy dù cuối cùng, khi trong máy bay không còn ai.

Thế nhưng trong máy bay của tôi, hai thằng lái lại nhảy trước tiên. Chúng nó cầm lái, chúng nó nhận ra nguy hiểm đầu tiên. Và chẳng ra lệnh gì cả. Tự chúng nó, hấp! Thoát thân! Mặc chúng tôi. Cũng may, tuy bịt kín tai bằng máy nghe, nhưng tôi thấy máy bay rung mạnh, ngước nhìn lên thì chẳng thấy thằng nào còn ngồi ở ghế cả.

Tôi liền vội bấm nút nhảy dù. Tôi ngồi tầng dưới, hệ thống nhảy dù của tôi không phải bật lên mà là tụt xuống dưới. Từ bụng máy bay bật thẳng xuống, rơi tõm theo hướng thẳng đứng, khá mạnh. Chậm một tý nữa, máy bay lật ngửa bụng là tôi chết cháy”.

Bị bắt mới biết còn sống

Còn trung úy bắn súng máy B.52 Robert M. Hudson (trên máy bay Ebony 02) thì thở phào thuật lại tại Hỏa Lò: “Sân bay bao trùm một không khí nặng nề. Phải nói là buồn, rất buồn. Những ngày Noel xấu nhất. Tôi không thấy một ai chạm cốc với bạn bè. Chúc nhau “một Noel vui vẻ” chỉ là những câu chúc gượng gạo và mỉa mai. Tôi cảm thấy có một không khí chán nản, thậm chí bực bội đối với lệnh đi ném bom. Chưa bao giờ, vâng, chưa bao giờ sân bay B.52 lại có cái không khí khổ sở đến thế!

Bọn hạ sỹ quan B.52 chúng tôi có một mối thắc mắc cố hữu: Sao không cho tên kỹ sư nào đặt ra cái khẩu súng máy này trên máy bay B.52 đi một chuyến cho nó biết?

Không có việc gì làm. Không phải lo nghĩ gì về đường bay, tốc độ, độ cao, máy điện tử… như năm thằng kia. Tôi chỉ có mỗi một việc là ngồi yên để mà sợ. Nhiệm vụ của tôi là sợ, nhiệm vụ tiếp theo cũng là sợ, nhiệm vụ cuối cùng cũng vẫn là sợ.

Tôi lại ngồi ở cuối máy bay. Họ dành cho tôi chỗ rất rộng, nơi tên lửa đuổi theo nổ thì chết trước ai hết! Vâng, vào đây tôi mới yên trí là tôi còn sống. Chứ cứ đi mãi, cứ ngồi ở đuôi B.52 mãi, thì khó tránh khỏi cái chết, không còn đường về với gia đình…”.

Việc B.52 bị bắn rơi ngày càng nhiều và nhân viên phi hành bắt sống liên tục đã gieo sự sợ hãi lên cả chỉ huy của chính họ. David L. Drummond, đại úy phụ trách lái B.52 khai: “Suốt 4 hôm (từ 18-21/12), không khí sân bay rất căng thẳng. Câu lạc bộ vắng hẳn. Ít chuyện trò, chẳng ai nói đùa, khôi hài như trước.

Pháo đài B.52 bị hạ: Lời tự thú của các phi công Mỹ Chúng tôi được đến tận nơi xem một dãy phố dài, một bệnh viện lớn. Chúng tôi rất ngạc nhiên và rất hổ thẹn. Chúng tôi bị cấp trên lừa.

William W. Conlee (trung tá điều khiển máy điện tử B.52) thừa nhận Pháo đài B.52 bị hạ: Lời tự thú của các phi công Mỹ

Các cuộc thông báo (briefing) càng căng thẳng hơn. Đại tá David (Chỉ huy Biên đội 307-NV) đứng dậy hỏi chúng tôi: “Các anh xem có cách nào tránh khỏi máy bay bị trúng đạn và khỏi rơi không?”. Chúng tôi ai cũng biết con số 11 máy bay B.52 đã bị rơi theo Đài phát thanh Hoa Kỳ. Có lẽ con số ấy còn thấp. Không một ai trả lời câu hỏi của David. Nhiều người quay lại bọn E.W.O (sỹ quan điện tử), bọn này cũng im lặng. Đến ngày 25 thì không khí còn căng thẳng hơn nữa”.

Trong khi đó, tại Hà Nội, William W. Conlee (trung tá điều khiển máy điện tử B.52) thừa nhận: “Chúng tôi được đến tận nơi xem một dãy phố dài, một bệnh viện lớn. Chúng tôi rất ngạc nhiên và rất hổ thẹn. Chúng tôi bị cấp trên lừa. Vâng. Đúng là sự lừa dối. Họ bảo là mục tiêu quân sự, nhưng thật ra là vùng đông dân. Bom ném theo bản đồ được đánh dấu kỹ, không thể lầm lẫn!”.

Sự ám ảnh của Conlee trong những ngày bị bắt tại Hà Nội rất khó có thể phai nhòa: “Tôi cứ nhớ mãi quanh cảnh những hố bom giữa Hà Nội. Cái bảng lớn đề những dòng chữ màu đỏ và đen: Đời đời ghi xương khắc cốt tội ác của giặc Mỹ (Conlee không nhớ nguyên văn – NV) cứ ám ảnh tôi. Tôi biết rằng người Việt Nam lúc bắt tôi dù có đánh và xé xác tôi ra, chúng tôi cũng phải chịu.

Thế nhưng các ông không đối xử như thế. Vào đến đây, mọi suy nghĩ của chúng tôi bị đảo lộn. Đảo ngược hẳn. Cứ muốn giữ những hiểu biết và quan niệm cũ, nhưng thực tế lại khác. Đất nước chúng tôi trải qua một thời kỳ xấu, rất xấu”.

Còn Louis H. Bernasconi (trung tá hoa tiêu B.52) đã hình dung ra sự thật của lệnh ném bom hủy diệt Hà Nội từ tổng thống Mỹ: “Ở trường huấn luyện đội ngũ người lái chiến đấu của Bộ Chỉ huy không quân chiến lược tại căn cứ tại Califonia, người ta dạy chúng tôi rằng B.52 là để ném bom những mục tiêu cực lớn, những khu liên hợp quân sự rộng hàng chục dặm vuông. Mục tiêu loại này ở Việt Nam không hề có. Tôi hiểu rằng dùng B.52 ném bom những vùng đông dân chính là để sát thương thật nhiều nhằm mục đích gây sức ép”.

Carl H. Jeffcoat (thiếu tá phi công B.52) thì khẳng định sau khi được đưa tới chứng kiến sức tàn phá của bom Mỹ tại bệnh viện Bạch Mai: “Thế là rõ. Chúng tôi bị lừa. Chỉ có thể là như thế. Họ bảo chúng tôi là ném bom mục tiêu quân sự. Đánh liền bốn lần vào một bệnh viện lớn, với hàng chục tấn bom thì không thể gọi là nhầm lẫn được.

Tôi thất vọng. Tôi buồn. Vì lòng tin của tôi vào Tổng thống của chúng tôi sụp đổ. Bây giờ thì những điều các ông nói đều đúng. Cuộc chiến tranh này rất xấu.

Tôi xin nói thật, nếu biết rằng bom rơi xuống những vùng đông dân ở như thế, thì tôi, và nhiều người chúng tôi sẽ không đi!”.

Trong khi đó, tại Washington, các nghị sỹ đảng Dân chủ ra tối hậu thư: “Không có yêu cầu dân tộc nào hơn yêu cầu chấm dứt ngay lập tức sự dính líu của chúng ta (Mỹ) trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam”.

Ngày 30/12/1972, Nixon rốt cuộc đã phải xuống thang, tuyên bố chấm dứt ném bom hoàn toàn miền Bắc, ngồi vào bàn đàm phán ký kết Hiệp định Paris ngày 27/1/1973, có hiệu lực từ 7h ngày 28/1/1973. Kisingger đã phải thừa nhận với các đại biểu Việt Nam tại Paris rằng: “Các ngài không những anh hùng lại  thông minh”.

12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không” đã là đòn giáng mạnh vào “Tư tưởng sùng bái công nghệ và máy móc, coi học thuyết ném bom chiến lược như một giải pháp cho mọi cuộc xung đột và bom là thứ thuốc bách bệnh của Mỹ” (E.Tinpho, “Không quân Mỹ làm được gì ở Việt Nam?”).

Theo Vietnamnet
vtc.vn

Đêm trắng điều khiển ‘rồng lửa’ tiêu diệt pháo đài bay

(VTC News) – Đến cự ly 26km, chúng tôi phóng 2 tên lửa, bám sát tự động, đạn gặp mục tiêu ở cự ly 22, hai quả đều nổ tung.

Đọc bài trước:
» Người xạ thủ và tiểu đội tên lửa liên tục bắn rơi B-52

Kỳ 2: Bắn hạ tại chỗ “pháo đài bay”

Cũng cần nhắc lại một chút về tương quan lực lượng của ta và địch trong thời khắc cả thế giới nín thở theo dõi.

Phía địch có 193 máy bay oanh tạc chiến lược, bố trí trên các sân bay ở Guam, Nhật Bản, Thái Lan với 250 tổ lái; 50 máy bay tiếp dầu KC135 tại Philippines; 5 tàu sân bay hoạt động trên Vịnh Bắc Bộ; số máy bay chiến thuật trên các sân bay Nam Việt Nam và Thái Lan đủ để huy động đến 1000 lần trong một ngày đêm.

Trước khi lên B-52 tiến hành dã tâm đưa Hà Nội trở về thời kỳ đồ đá, giặc lái Mỹ được các “quan thầy” động viên bằng sự tự tin tuyệt đối đến ngông cuồng, ngạo mạn:

Đêm trắng điều khiển 'rồng lửa' tiêu diệt pháo đài bayĐại tá Đinh Thế Văn với cuộc sống thường nhật

“Các anh chỉ việc lên B-52, ngủ một giấc, đến Hà Nội cắt bom xong thì trở về sân bay ăn mừng chiến thắng, chuẩn bị chào đón Lễ Giáng sinh. Đánh Hà Nội dễ như đi du ngoạn”.

Trong khi đó, lực lượng tên lửa phòng không của chúng ta đang bị căng ra các chiến trường. Đến thời điểm trước ngày 18/12/1972, tại Hà Nội chỉ có vẻn vẹn hai trung đoàn tên lửa là Trung đoàn 257 và Trung đoàn 261.

Mang trọng trách cực kỳ nặng nề, hành trang của các chiến sĩ phòng không tên lửa là lòng quyết tâm bảo vệ Trung ương, nơi đó có Bác Hồ đang yên nghỉ.

Ghi theo hồi ức của nhân chứng lịch sử Đinh Thế Văn:

Ngày 18/12: Đúng 16h30, nhận được thông báo của Tham mưu trưởng sư đoàn 361 Nguyễn Đình Sơn cho trung đoàn và các tiểu đoàn: “Sẽ có một đợt hoạt động của B-52 ra miền Bắc”.

Nhận được thông báo, tiểu đoàn khẩn trương báo cáo lên trung đoàn: “Tiểu đoàn 77 đã chuẩn bị đầy đủ theo lệnh của trung đoàn. Khí tài, bệ, đạn dược hoàn toàn tốt”.

Tuy nhiên, bản thân tôi (Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn) vẫn có cảm giác bồn chồn, lo lắng mà tôi thể không trao đổi với ai. Không ai lo lắng vì sự ác liệt, chỉ lo rằng mình có hoàn thành nhiệm vụ được không?

Chúng tôi đang trong tâm trạng chờ đợi, vì trên màn hiện sóng vi-cô chưa có gì. Chỉ nghe tiếng máy chạy âm âm và tiếng quạt gió để bớt nỗi ngột ngạt. Tôi đang như một thí sinh đã vào phòng thi ngồi chờ nhận đề thi.

Đúng 18h50, lệnh từ Sở Chỉ huy trung đoàn: “Các tiểu đoàn vào cấp một”. Tiểu đoàn 77 sau mấy phút mở máy và kiểm tra chức năng, báo cáo: “Cấp một xong. Khí tài hoàn toàn tốt, chuẩn bị 6 tên lửa”.

Đêm trắng điều khiển 'rồng lửa' tiêu diệt pháo đài bayTên lửa SAM 2 trên bầu trời Hà Nội tháng 12/1972. Ảnh tư liệu

Tiểu đoàn mở máy thu nhiễu, các màn hiện sóng nhiễu trắng xóa. Thông tin với trung đoàn nghe rất nhỏ, có lúc không nghe thấy gì. Chỉ có mạng FA của sư đoàn còn nghe được.

Sư đoàn thông báo: “Nhiều tốp B-52 đang bay vào Hà Nội. Các đơn vị chú ý: Tên lửa tập trung đánh B-52, cao xạ đánh máy bay F, chú ý nhiễu B-52 giả”.

Khi B-52 chưa vào, máy bay chiến thuật quần đảo, kể cả F111. Chúng đánh lung tung, bom nổ khắp nơi, bom F111 rải nổ cứ như của B-52 làm cho ta phân tán sự tập trung nghiên cứu B-52.

Chúng tôi vẫn nghiên cứu giải nhiễu và cố gắng phát hiện bằng được giải nhiễu mịn của B-52. Bên tai, lời nhắc nhở “cẩn thận giải nhiễu B-52 giả” vẫn như văng vẳng. Liên tục phát sóng nhưng không thấy mục tiêu, trong đầu tôi cũng nảy sinh mối nghi ngờ: “Có B-52 hay không?”.

Đúng 19h42, Trung đoàn thông báo: “Có 3 tốp B-52: 566, 567, 569 bay vào Hà Nội. Tiểu đoàn 77, 78 tập trung đánh các tốp ấy”. Cả Tiểu đoàn 77 căng thẳng nghiên cứu nhiễu, xác định mục tiêu, nhưng không bắn được, vì cự ly cách xa 60- 70km và tham số lớn.

Trung đoàn lại thông báo: “Lúc 20h00, tiểu đoàn 78 đã đánh tốp 566, 567, 569 nhưng không rơi, tuy nhiên gần cuối phát hiện được tín hiệu B-52”.

Thật là một tin vui, giúp chúng tôi bớt được sự nghi ngờ về nhiễu B-52 giả. Chắc chắn chúng tôi sẽ được đánh địch. Đúng là trong chiến đấu, trong giây phút cam go, tập trung cao độ, chỉ một chút thông tin có ích cũng rất quý. Mặt nước đang phẳng lặng, chỉ cần chiếc lá rơi đã rung động.

Chúng tôi vẫn tập trung nghiên cứu nhiễu B-52, bộ mặt của nhiễu B-52 bây giờ đã quen rồi. Tuy nhiên chưa tìm được giải nhiễu có tham số tốt.

Bỗng trắc thủ TZK báo cáo: “Có máy bay cháy to lắm, tên lửa phía trước bắn rơi rồi”. Chúng tôi đoán đấy là tên lửa của Tiểu đoàn 59 (Trung đoàn 261, nằm phía trước chúng tôi) bắn hạ.

Đến 23h13 trên mới thông báo, Tiểu đoàn 59 đã hạ được một B-52 tại chỗ. Việc Tiểu đoàn 59 bắn rơi B-52 là một biểu hiện cho thấy thời cơ sắp đến với chúng tôi. Tôi nghĩ như vậy nhưng không dám nói cho anh em.

Thật vậy, đến 23h09 tiểu đoàn nghiên cứu giải nhiễu B-52 có tham số nhỏ. Trung đoàn cho phép bắn. Chúng tôi theo dõi cự ly đến 35km, phát sóng thấy mục tiêu hiện càng ngày càng rõ.

Khi B-52 đến cự ly 33km, chúng tôi phóng hai tên lửa đón đầu ở cự ly 32km theo phương pháp đón nửa góc. Đạn điều khiển tốt, cả 3 màn đều cho bám sát tự động, gặp mục tiêu ở cự ly 23km, cả 2 tên lửa đều nổ tung.

Bên ngoài trắc thủ TZK báo cáo như reo: “Mục tiêu cháy rồi. Cháy to lắm”. Trên màn hiện sóng, trắc thủ góc tà báo cáo: “Mục tiêu hạ thấp độ cao, nhiễu giảm nhiều và tản ra”.

Tôi vui mừng quá, không nói được gì. Cả trận địa cùng reo hò sung sướng. Cấp trên thông báo: “B-52 rơi ở xã Tam Hưng, Thanh Oai, Hà Tây”. Đây là chiếc B-52 thứ hai bị vít cổ xuống đất tại bầu trời Hà Nội.

Khoảng 24h, tình hình bên ngoài bớt căng thẳng hơn. Sở Chỉ huy trung đoàn cho tiểu đoàn tạm nghỉ, chỉ để đài một trực. Tiểu đoàn tập trung rút kinh nghiệm. Tôi nêu ý kiến: “Làm sao để nghiên cứu giải nhiễu chỉ hai lần là tối đa thì chúng ta đã có thể đánh được một trận.

Vì vậy, thời gian xem xét giải nhiễu để có quyết định cần tập trung nghiên cứu không quá 3-5 giây. Có như vậy chúng ta mới tăng được số trận đánh lên, mới tiêu diệt được nhiều máy bay địch”.

Đêm trắng điều khiển 'rồng lửa' tiêu diệt pháo đài bayTrận địa tên lửa của Tiểu đoàn 77. Ảnh tư liệu

Anh em có nhiều ý kiến, nhưng tập trung lại là cần phải phát huy hết trí lực, nhanh chóng nhận biết B-52 để tác chiến, không phải cứ giải nhiễu nào cũng nghiên cứu thì thời cơ sẽ bị lỡ mất.

Ngày 19/12/1972: Đúng 4h00, Trung đoàn lại báo động, có đợt đánh mới. Lần này, theo phân tích của anh em trong tiểu đoàn, có lẽ địch sẽ thay đổi hướng đánh, vì khi đánh hướng Tây Bắc xuống ta đã hạ tại chỗ được hai máy bay rồi. Không dám chủ quan nữa, chúng có thể đánh thăm dò ở hướng khác với lực lượng nhỏ.

Đến 4h36, lệnh từ Trung đoàn: “Tiểu đoàn 77 đánh tốp B52, ở phương vị 197”. Thế là dự đoán đúng rồi. Chúng tôi nghiên cứu nhiễu, phát hiện đúng B-52 thật. Đợi nó đến cự ly 32km, chúng tôi phát sóng và bắt được mục tiêu.

Đến cự ly 26km, chúng tôi phóng 2 tên lửa, bám sát tự động, đạn gặp mục tiêu ở cự ly 22, hai quả đều nổ tung. Trắc thủ TZK báo cáo: “Mục tiêu bốc cháy”. Trắc thủ góc tà báo cáo: “Mục tiêu hạ thấp độ cao”. Trắc thủ phương vị báo cáo: “Giải nhiễu mờ dần”.

Đúng là biểu hiện máy bay rơi, nhưng lần này nó không rơi trên đất.

Sau này chúng tôi mới biết rằng: Có một B-52 bị tên lửa bắn hỏng 4 động cơ, kíp bay một số bị chết, tên lửa nổ phá cả khoang chứa bom, khiến thân máy bay bị phá một khoảng trống có thể nhìn rất rõ bên ngoài.

Nhưng máy bay vẫn lết về đến Utapo (Thái Lan) với 4 động cơ một bên. Máy bay phải bay nghiêng nên khi hạ cánh đã gãy một bên cánh. Các xe cấp cứu kịp chạy ra cứu số kíp lái còn lại.

Tên chỉ huy của chiếc B-52 chết hụt ấy được khen và được gắn huân chương bởi lòng dũng cảm.

Trong đêm 18 rạng ngày 19/12, Tiểu đoàn 77 đánh tổng cộng 4 trận, phóng 8 quả tên lửa, bắn rơi một máy bay tại chỗ. Cả tiểu đoàn trải qua một đêm với tâm trạng hân hoan khó tả vì chiến công đầu.

Nhưng tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn vẫn băn khoăn lo nghĩ, bởi đơn vị phóng đến 8 quả tên lửa mà mới hạ tại chỗ được một máy bay địch. Như vậy là hiệu quả chưa cao.

“Đến bữa cơm, anh nuôi mang ra, tuy miệng nhai mà cứ như muốn ngừng lại. Chỉ mong nghĩ được sáng kiến gì thật kỳ diệu để bảo đảm đánh chắc chắn ở đêm mai”- người lính già đầu bạc hồi tưởng.

Còn tiếp…

Lê Quân
anninhthudo.vn

Người xạ thủ và tiểu đội tên lửa liên tục bắn rơi B-52

(VTC News) – Đại tá Đinh Thế Văn, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn tên lửa phòng không, tiết lộ chuyện đơn vị đã bắn rơi 4 chiếc B-52.

Anh hùng Phạm Tuân bắn hạ B-52:
» Anh hùng Phạm Tuân bắn hạ B-52 như thế nào?
» Anh hùng Phạm Tuân và giây phút hạ ‘pháo đài bay’ B52

Kỳ 1: Đi tìm lời giải cho bài toán tiêu diệt B-52

Ở tuổi 75, người lính ấy vẫn mạnh khỏe, minh mẫn, thường tự mình phóng xe máy rời ngôi làng nhỏ bên dòng sông Cà Lồ, Thụy Lâm, Đông Anh) đi chơi nội thành Hà Nội hoặc các vùng lân cận.

Phải hai lần tìm gặp, tôi mới có cơ hội tiếp xúc với Đại tá Đinh Thế Văn, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn tên lửa phòng không 77 (Trung đoàn 257, Sư đoàn Phòng không 361), đơn vị đã bắn rơi 4 chiếc B-52 trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” chấn động địa cầu vào cuối năm 1972.

Bữa nay, ông Đinh Thế Văn ở nhà, cùng vợ lúi húi trong khu vườn rộng rãi mướt mát màu xanh của cây cảnh, cây ăn quả. Thấy khách đến hỏi chuyện cuộc đời quân ngũ, chuyện bắn máy bay B-52 ngày trước, người lính già đầu bạc có gương mặt đen sạm, dáng người gầy mỏng bỗng như hoạt bát hẳn lên.

Người xạ thủ và tiểu đội tên lửa liên tục bắn rơi B-52Đinh Thế Văn – ngoài cùng bên phải, cùng các anh ruột, anh họ trong đoàn dân công tham gia chiến dịch Điện Biên năm 1954. Ảnh tư liệu do Đại tá Đinh Thế Văn cung cấp.

Là con út trong một gia đình có 3 anh em trai, đầu năm 1954, khi đang học lớp 5, tròn 16 tuổi, Đinh Thế Văn hăm hở theo các anh tham gia đợt tuyển bộ đội. Nhưng ông không trúng tuyển vì chỉ nặng có… 38kg, đành vào đoàn dân công C268 với nhiệm vụ phá đá, đốt mìn, làm đường.

Ở đoàn dân công được một tháng thì đơn vị được chuyển sang biên chế quân đội. Và vẫn vì lý do cân nặng, duy nhất ông Văn không được chuyển. Năn nỉ mãi không được, ông cứ lẽo đẽo theo đơn vị hành quân. Nhận thấy ở ông sự nhiệt tình, hăng hái, chân thành, ban chỉ huy lại “chiếu cố” chấp nhận cho nhập ngũ vào ngày 3/3/1954.

Ông được huấn luyện xạ kích ở bộ binh, rồi bổ sung vào đơn vị pháo phòng không 12ly7 bảo vệ bộ binh chiến đấu, với nhiệm vụ… vác đạn. Những đêm ngày tham gia trực tiếp ở Chiến dịch Điện Biên Phủ là bước đầu trong cuộc đời quân ngũ của người chiến sỹ Đinh Thế Văn.

Hòa bình lập lại ở miền Bắc, mấy năm sau, ông được chuyển ngành sang Nhà máy Supe Phốt phát Lâm Thao. Miệt mài lao động và học tập, đến năm 1965, ông đã học xong chương trình phổ thông, trung cấp hóa chất và thi đỗ vào Đại học Bách khoa.

Người xạ thủ và tiểu đội tên lửa liên tục bắn rơi B-52Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn cùng các đồng đội bàn phương án tác chiến trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”. Ảnh tư liệu.

Lúc này, Đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, ông lại xếp bút nghiên, trở lại quân ngũ. Được biên chế vào Tiểu đoàn tên lửa phòng không 77 (trung đoàn 257), ông Đinh Thế Văn lần lượt trải qua nhiều cương vị công tác và chiến đấu, đến năm 1971 đã là thượng úy, tiểu đoàn trưởng.

Ông và đồng đội đã trải qua nhiều trận đánh ác liệt, lập nhiều chiến công, bắn rơi nhiều máy bay địch… Nhưng ông cũng trải nghiệm nhiều bài học xương máu, chứng kiến nhiều sự hy sinh anh dũng của đồng đội.

Tháng 3/1972, quân đội ta đẩy mạnh cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, mở đầu bằng chiến dịch Thừa Thiên – Huế và giành thắng lợi liên tiếp trên các mặt trận. Địch điên cuồng tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai ra miền Bắc.

Chúng bổ sung lực lượng gấp nhiều lần, tăng thêm 50 máy bay B-52 lên tổng số 140 chiếc, tăng cường máy bay F4D, F4E, F4J và A6, A7. Thiết bị điều khiển bom laser được thay bằng loại do một chiếc ném và chiếu shrike, tên lửa chống radar thay bằng tên lửa Standar có cự ly và tốc độ lớn hơn.

Người xạ thủ và tiểu đội tên lửa liên tục bắn rơi B-52Đại tá Đinh Thế Văn kể chuyện đánh B52

Đặc biệt, chúng tích cực dùng máy gây nhiễu ALQ-87 và ALQ-100, là loại có công suất mạnh hơn rất nhiều, hòng cản mắt lực lượng phòng không của ta.

Để đối phó, trung đoàn 257 được chuyển về hướng Tây – Tây Bắc thủ đô, tiểu đoàn 77 được cơ động về trận địa Chèm với những mục tiêu bảo vệ cực kỳ quan trọng là lăng Bác, khu Trung ương, sân bay Nội Bài, Đài Phát thanh Mễ Trì, Nhà máy điện Yên Phụ…

Đại tá Đinh Thế Văn tâm sự: “Thời điểm này, chúng tôi đã đối đầu với B-52, nhưng chưa đạt hiệu quả vì cách đánh chưa phù hợp trong điều kiện nhiễu nặng.

Như ở trận chúng đánh ga Hà Nội, chỉ bằng một tốp 4 chiếc và hai quả bom laser đã phá hủy toàn bộ tòa nhà ga chính trong thời gian chưa quá 5 phút. Nếu chúng ta không thay đổi cách đánh thì hiệu quả kém đi là tất yếu.

Người xạ thủ và tiểu đội tên lửa liên tục bắn rơi B-52“Siêu pháo đài bay” B-52 bị “Rồng lửa Thăng Long” bắn trúng tại Hà Nội. Ảnh tư liệu.

Vấn đề lớn nhất khi đánh B-52 là chống nhiễu và chống shrike (tên lửa không đối đất). Bởi tuy là một pháo đài bay to lớn cồng kềnh, tốc độ bay chậm, nhưng B-52 được bảo vệ bằng hệ thống chống nhiễu tối tân, lại bay vào ban đêm nên khó quan sát được bằng mắt thường.

Nếu ta bật radar quan sát thì sẽ bị các loại máy bay tiêm kích phát hiện, phóng tên lửa Standar tiêu diệt ngay lập tức. Vấn đề không còn trong phạm vi tiểu đoàn nữa. Ngay cả các chuyên gia quốc tế cũng rất căng thẳng mà chưa sao nghĩ ra phương pháp hữu hiệu”.

Việc đầu tiên của Tiểu đoàn 77 trong việc chuẩn bị đối phó với B-52 là củng cố nhân sự, lựa chọn những con người tốt nhất phù hợp cho từng vị trí. Tiếp theo là việc rèn luyện phương pháp đánh trong điều kiện địch sử dụng tên lửa chống lại.

Đây là cách đánh chính, cần thuần thục thao tác tắt mở ăng ten kịp thời, không để cho địch điều khiển tên lửa chính xác vào đài mà ta vẫn bám sát được mục tiêu trong sai số không đáng kể. Thời khắc quyết định sống còn đó thường chỉ là 3- 5 giây, đòi hỏi trắc thủ phải thực sự dạn dày kinh nghiệm.

Ngày 29/9/1972, địch tổ chức nhiều tốp đánh sân bay Nội Bài và Nhà máy điện Yên Phụ. Khi tiểu đoàn mở máy thu trên màn hiện sóng nhiễu dày đặc, khi phát sóng thử kiểm tra thấy nhiễu tiêu cực xen kẽ với nhiễu tiêu cực trắng xóa cả màn hiện sóng.

Theo phương án đã tính sẵn, tiểu đoàn bám sát vào giải nhiễu của tốp chỉ định, rồi phóng 2 tên lửa. Khi tên lửa của ta cách mục tiêu 10 km, tín hiệu tên lửa địch ở cự ly 13 km, nên vẫn cho bám sát 3 màn tự động. Khi có điểm nổ, sĩ quan điều khiển liền nhanh chóng tắt ăng ten tránh làm mục tiêu cho địch. Tên lửa địch nổ cách trận địa 500 m.

Đại tá Đinh Thế Văn hào hứng nói: “Trận đánh này giúp chúng tôi mấy kết luận quan trọng: Dù địch gây nhiễu nặng, nhưng đến cự ly thích hợp phát sóng vẫn bắt được mục tiêu đối với máy bay chiến thuật.

Khi đánh, ta phát sóng thì địch vẫn sẽ phóng tên lửa chống lại. Nhưng nếu khi tên lửa ta còn cách máy bay địch khoảng 10 km mà tên lửa địch cách đài xa hơn, thì có thể tiếp tục bám sát cho đến khi có điểm nổ. Rồi nhanh chóng tắt ăng ten.

Tuy nhiên, chênh lệch cự ly cần có độ an toàn, tức là cự ly địch phải hơn ta 6 km thì mới chắc chắn. Đây là ý tưởng đầu tiên giúp chúng tôi đi vào đánh B-52.

Ý tưởng này càng được củng cố, khi chúng tôi nghiên cứu kỹ về B-52. Chúng tôi thảo luận và cùng nhất trí: Trung thành với phương pháp đánh trong nhiễu, phải nhanh chóng nhận ra nhiễu B-52, kiên quyết nghiên cứu giải nhiễu B-52, rút ra được tham số bay như tốc độ góc tà, tốc độ góc phương vị và cự ly để phán đoán đường bay. Tập trung chú ý đường bay từ hướng Tây Bắc xuống là chủ yếu.

Trong đội hình toàn sư đoàn, trên hướng Tây – Tây Bắc có các Tiểu đoàn 78 (Sơn Tây) Tiểu đoàn 57 (Đại Đồng), Tiểu đoàn 59 (Cổ Loa) và chúng tôi (Chèm) ở vị trí sâu hơn.

Những ngày tháng trước trận “Điện Biên Phủ trên không” quả thực căng thẳng tột độ. Nhưng tình hình chiến trận nói chung, nhất là việc Trung đoàn Tên lửa phòng không 263 (Quân khu IV) đã bắn rơi B-52 tại chỗ giữa đất Lào và Thái Lan càng làm cho chúng tôi tin tưởng hơn”.

Còn tiếp…

Lê Quân
vtc.vn

Anh hùng Phạm Tuân bắn hạ B-52 như thế nào?

(VTC News) – Đúng 21 giờ, phi công Phạm Tuân được lệnh xuất kích. Chiếc Mig-21 xé toang trời đêm Yên Bái, trong chớp mắt đã vọt thẳng lên trời.

Suốt 9 ngày đêm, phi công Phạm Tuân cùng anh em liên tục xuất kích, nhưng không hạ được chiếc B-52 nào. Những chiếc tiêm kích Mig-21 của ta vọt lên trời đêm rất nhiều lần để truy kích “pháo đài bay”, nhưng vẫn không tìm được sơ hở để hạ nó.

Khi đó, phi công Phạm Tuân hiểu rằng, không quân của ta chưa tìm được “gót chân Asin” của gã khổng lồ mang bom. Chúng ta tập trong điều kiện tĩnh, tập khan, nhưng đến lúc vào trận thì hoàn toàn khác.

Chúng đánh sân bay của ta ngay từ khi ta chưa kịp cất cánh. Chúng đánh chặn trên đầu, trên đường đi, chặn mọi điểm ta có thể vào. Đã vậy, chúng còn gây nhiễu một cách hiệu quả.

Bản thân phi công Phạm Tuân thấy rằng, ông đã vướng vào chuyện mà chưa bao giờ gặp. Phi công và bộ phận chỉ huy đã phải liên tục rút kinh nghiệm, phải bố trí lại từ tổ chức, chỉ huy. Chỉ huy thế nào, nằm ở đâu, tổ chức đài ra-đa thế nào để tránh nhiễu, hợp đồng tên lửa ra sao, phi công bay trên trời thế nào… Đó là những câu hỏi không dễ gì trả lời được.

Anh hùng Phạm Tuân bắn hạ B-52 như thế nào? Trung tướng Phạm Tuân nhớ lại giây phút lịch sử bắn hạ B-52

Sau khi tính toán mọi phương án, thì sở chỉ huy phòng không được đưa ra vòng ngoài, đặt ở các tỉnh như Thanh Hóa, Yên Bái, Sơn La.

Điều tiên quyết là phi công phải xuất kích từ vòng ngoài, sớm tích lũy tốc độ, độ cao. Những trận đánh trước đó, Phạm Tuân thường bay thấp để tránh địch phát hiện, rồi mới lấy độ cao. Tuy nhiên, do bị chúng gây nhiễu, nên không thể phát hiện được mục tiêu. Khi phát hiện được chúng, chúng rút đi, thì máy bay của ta không đuổi kịp.

>> Video ‘pháo đài bay’ B-52 bị bắn hạ

Sau nhiều trận thất bại, Phạm Tuân cùng đồng đội của mình đã tìm ra được “gót chân Asin” của “pháo đài bay” B-52. Chỉ có cách duy nhất là đánh chúng từ trên cao xuống.

Khi những chiếc tiêm kích của ta bay trên đầu chúng, F-4 sẽ phát hiện ra máy bay của ta chậm hơn. Khi đã ở độ cao, tích lũy được tốc độ siêu âm, thì chúng có phát hiện ra cũng không làm gì được ta nữa.

Khi đó, phi công phải chủ động, cơ động, sử dụng trí thông minh và cảm giác tinh tế của mình để cắt đuôi F-4, tiêu diệt B-52. Khi đã tiếp cận mục tiêu, sẽ phóng liên tiếp 2 quả tên lửa, thậm chí biến tiêm kích của mình thành quả tên lửa thứ 3.

Anh hùng Phạm Tuân bắn hạ B-52 như thế nào?Mô hình tiêm kích trong nhà anh hùng Phạm Tuân

Phạm Tuân trầm ngâm nhìn chiếc máy bay mô hình Mig-21 đặt trong phòng khách tại căn nhà trong con ngõ yên tĩnh ở phố Cù Chính Lan (Hà Nội), chiếc tiêm kích mà ông xuất kích nhiều lần trong trời đêm miền Bắc, và bồi hồi nhớ về những giây phút làm nên lịch sử.

Đó là đêm 27-12-1972, sau vài lần xuất kích từ sân bay Nội Bài truy tìm B-52 thất bại, ông được lệnh cất cách rời Nội Bài lên sân bay Yên Bái. Đây là lần đầu tiên thực hiện chiến thuật đánh từ vòng ngoài, tích lũy độ cao.

Chiếc Mig-21 lao vun vút ngay trên mái nhà, chỉ cách các đỉnh núi vài chục mét, xé tan bầu trời đêm. Chỉ loáng một cái, Mig-21 đã hạ cánh xuống sân bay Yên Bái. Do bay thấp, trong điều kiện ban đêm, nên địch không phát hiện được.

Suốt nhiều đêm liền, cả tỉnh Yên Bái, đặc biệt là khu vực sân bay ngập chìm trong khói lửa, bom đạn. Trước khi B-52 từ các hướng vào miền Bắc nước ta, chúng đều cho F-111 rải bom các sân bay, các địa điểm đặt ra-đa của ta, để không quân của ta không thể xuất kích.

Thế nhưng, đêm 27-12, sân bay Yên Bái tĩnh lặng lạ thường. Không có tiếng bom, đạn, không có lửa cháy. Có lẽ, đêm qua, chúng đã rải cả ngàn tấn bom xuống sân bay Yên Bái, nên tin rằng ta chưa thể sửa chữa, khắc phục được sân bay nên máy bay chưa thể cất cánh tại đây. Đó chính là điểm chủ quan chết người của địch. Chúng không thể hiểu được người Việt Nam kiên cường và khắc phục mọi khó khăn tốt thế nào.

>> Video ‘pháo đài bay’ B-52 bị bắn hạ

Từng tốp B-52 chở bom nặng đang ù ù tiến về Hà Nội. Phi công Phạm Tuân đã ngồi trong buồng lái, sẵn sàng đợi lệnh từ chỉ huy. “Gót chân Asin” của “pháo đài bay” đã được ông xác định rõ.

Anh hùng Phạm Tuân bắn hạ B-52 như thế nào?Anh hùng Phạm Tuân thời trẻ

Đúng 21 giờ, phi công Phạm Tuân được lệnh xuất kích. Chiếc Mig-21 xé toang trời đêm Yên Bái, trong chớp mắt đã vọt thẳng lên trời. Ở độ cao hơn 10.000 mét, bầu trời bao la trong suốt đầy sao lấp lánh.

Anh hùng Phạm Tuân nhớ lại vài giây quyết định làm ngỡ ngàng cả thế giới: “Tôi tăng tốc hết cỡ, đưa Mig-21 lên độ cao tốt nhất. Từ trên cao, chú đã phát hiện B-52.

Anh hùng Phạm Tuân bắn hạ B-52 như thế nào? Tôi đã tiếp cận được B-52 theo đúng như những gì mình tính. Cách nó 3 km,tôi bắn 2 quả tên lửa. Quả cầu lửa bùng lên trước mắt, tôi điều khiển Mig 21 tránh sang trái, thoát khỏi vòng nguy hiểm và trở về sân bay Yên Bái an toàn. Anh hùng Phạm Tuân bắn hạ B-52 như thế nào?

Khi đó, tôi chỉ có một suy nghĩ duy nhất là làm thế nào để vượt qua được những chiếc F-4. Nhưng vượt được qua nó rồi, lại không để lỡ thời cơ mới là quan trọng.

Đối đầu với B-52, tốc độ của Mig-21 là siêu thanh, tới 1.500km/giờ, trong khi B-52 chỉ có 900km/giờ. Do đó, chỉ chậm 1 giây là mất nửa cây số. Chỉ cần cơ động tránh F-4 mất vài giây là hỏng hết mọi chuyện.

Khi đó, tôi phải tận dụng cơ hội từng giây, để tạo cơ hội. Chú tích lũy tốc độ cao nhất, nên không cần tránh F-4, vì F-4 cũng không đuổi được. Mục tiêu duy nhất của là bám theo B-52 đang bay trước mặt.

Tôi đã tiếp cận được B-52 theo đúng như những gì mình tính. Cách nó 3 km,tôi bắn 2 quả tên lửa. Quả cầu lửa bùng lên trước mắt, tôi điều khiển Mig 21 tránh sang trái, thoát khỏi vòng nguy hiểm và trở về sân bay Yên Bái an toàn.”

Tất cả chỉ có vậy. Có vài giây thế thôi. Nhiều nhà báo trong và ngoài nước cứ hỏi khi đó ông nghĩ gì. Khi đó phi công chả nghĩ gì cả. Sống hay chết cũng chả nghĩ. Chỉ có vài giây thì nghĩ được cái gì. Đến mấy tốp F-4 bảo vệ B-52 bằng hệ thống tên lửa dày đặc cũng không thèm để ý nữa. Chỉ có mục đích duy nhất là hạ B-52”.

Khi người Mỹ, cũng như cả thế giới còn đang ngạc nhiên, không hiểu vì sao phi công của một đất nước nghèo đói, non kém mọi thứ, lại có thể bắn hạ được biểu tượng quân sự, thứ được gọi là “pháo đài bay bất khả xâm phạm” của Mỹ, thì ngay đêm hôm sau, cũng với cách đánh trên, phi công Vũ Xuân Thiều đã bắn 2 quả tên lửa, rồi tiếp tục lao máy bay vào B-52 của Mỹ và anh dũng hy sinh.

Chỉ trong hai đêm, 27 và 28, không quân Việt Nam, với những chiếc Mig-21, chiếc máy bay mà theo giới phân tích quân sự, chả khác gì “châu chấu đá voi”, đã làm nên kỳ tích, đó là tiêu diệt 2 chiếc B-52.

Anh hùng Phạm Tuân đã góp một phần làm nên chiến thắng lịch sử của “Điện Biên Phủ trên không”.

Dương Quân
vtc.vn

Anh hùng Phạm Tuân và giây phút hạ ‘pháo đài bay’ B52

(VTC News) – B-52 giống máy bay dân dụng nhưng nó lại thực sự là một “pháo đài bay” bất khả xâm phạm.

Tôi cứ nhớ mãi cái hồi còn bé xíu, mới vào lớp 1, ngồi trên xe công nông đầu dọc bố tôi lái, chạy tưng tưng trên con đê ven sông Trà Lý thuộc huyện Thái Thụy (Thái Bình), bỗng có tiếng loa truyền thanh phát tiếng máy bay rít, tiếng loa gọi người dân xuống hầm, rồi sau đó là tiếng trả lời phỏng vấn của anh hùng Phạm Tuân.Còn bé quá, nên tôi không biết ông Phạm Tuân là ông nào. Lớn lên chút mới biết ông là người vĩ đại của đất nước, từng lái máy bay bắn hạ B-52 trên bầu trời miền Bắc, rồi sang tận nước Nga xa xôi bay trên tàu vũ trụ.

Bố tôi nói với giọng tự hào: “Ông Phạm Tuân ở bên kia con sông Trà Lý con ạ. Cùng dòng giống cụ Phạm Tu nhà mình”. Trong trái tim bất kỳ đứa trẻ nào ở nước Việt, anh hùng Phạm Tuân cũng là một dấu ấn mạnh mẽ. Gặp được ông là ước vọng của nhiều người.

Anh hùng Phạm Tuân và giây phút hạ 'pháo đài bay' B52

Anh hùng Phạm Tuân

Nhấc điện thoại gọi người hùng, mà tôi thực sự đắn đo. “Đúng 2 giờ chiều nay cháu đến nhà chú nhé. Cháu cứ vào ngõ 111 phố Cù Chính Lan, hỏi nhà chú nhé”. Ông chỉ nói vậy, rồi cúp máy. Giọng một vị trung tướng quân đội, người 3 lần được phong anh hùng ngắn gọn, chính xác, nhưng ấm áp.

Tôi đến đúng giờ. Ngôi nhà khang trang gần cuối con ngõ rộng mở cổng toang hoang. Nhìn cánh cổng có lẽ cũng hình dung ra tấm lòng rộng mở của vị tướng. Thấy khách, ông từ trong phòng đi ra. Trà hoa nhài đã pha sẵn, mùi hương ngào ngạt lan tỏa.

Ông bắt tay nhà báo thân tình như con cháu. Ông bảo: “Tuổi trẻ mà tôn trọng giờ giấc thế là tốt đấy. Thế này nhé. Có hàng ngàn nhà báo, hàng ngàn bài báo viết về chú rồi. Nhưng chú thực sự chưa hài lòng. Kể cả một số cuốn sách viết về chú, chú cũng vẫn chưa thấy thấm. Viết về phi công khó lắm cháu ạ. Nhà văn nhà báo có ngồi trên máy bay chiến đấu, lượn chín tầng mây đâu mà biết tả nó thế nào. Sau này chú sẽ tự viết về chú”.

Người anh hùng đây ư? Con người cả thế giới ngưỡng mộ đây ư? Ông thật giản dị, dễ gần, dễ mến. Ông không hỏi nhà báo tên gì, không đòi xem thẻ. Ông xồng xộc lôi tuột tôi lên tầng 4. Vừa trèo cầu thang hùng hục, ông vừa bảo: “Cháu phải xem cái này cháu mới hiểu được con người thật của chú”.

Tôi rảo bước theo người hùng. Vừa trèo cầu thang vừa đoán mò. Chắc là có một căn phòng bí mật, với một số loại tài liệu, vũ khí bí mật, hoặc thứ gì đó liên quan đến vũ trụ, hàng không.

Nhưng không phải. Tôi lạc vào một thế giới cổ tích, một “khu rừng” lan. Giăng mắc khắp ban công tầng 4 là các giò lan, chậu lan, đủ các loài, với cả trăm loại. Dường như loài hoa kiêu kỳ này tụ về từ khắp đất nước trên ban công nhà vị tướng.

Anh hùng Phạm Tuân và giây phút hạ 'pháo đài bay' B52Anh hùng Phạm Tuân trên tàu vũ trụ

Ai cũng nghĩ rằng, một phi công vĩ đại, một nhà du hành vũ trụ, thì mang đầu óc khô khan, của các con số, kinh độ, vĩ độ, của sự chính xác tuyệt đối. Nhưng con người ấy thật lãng mạn. Người anh hùng bảo: “Ngày chú ngó vườn lan vài lần. Đi đâu xa vài hôm là nhớ vườn lan. Rồi còn bọn chim nữa. Không nghe thấy chúng nó hót thì cứ thấy thiêu thiếu một điều gì đó”.

“Sắp đến ngày kỷ niệm Điện Biên Phủ trên không nhỉ? Chắc nhà báo lại hỏi chuyện chú diệt B-52 chứ gì? Có gì đâu mà nói. Mất có mấy giây là hạ nó, thì kể cũng chỉ mấy giây là hết chuyện” – anh hùng Phạm Tuân dường như hiểu được suy nghĩ của tất cả những người tiếp xúc với ông, đặc biệt là các nhà báo khi gặp ông.

Rồi ông lại tiếp tục: “Hỏi chú về chuyện đó thì chú nói, chứ hỏi chuyện hiện tại là chú không nói đâu nhé. Về hưu rồi, không có thông tin gì, thì sao dám nói, sao góp ý được. Mối quan tâm bây giờ của chú là cái vợt bóng bàn, cái vợt tenis, rồi mấy chiếc cần câu. Chú đi câu cả ngày cả đêm không chán”.

Người anh hùng từng bay vào vũ trụ, bắn hạ pháo đài bay, vẫn chân chất, giản đơn, bình dị như những con người đến từ quê lúa. Ông bảo: “Người ta cứ nghĩ máy bay B52 nó là thứ gì đó ghê gớm lắm, là thứ bất khả xâm phạm. Thực ra không phải vậy. B52 giống máy bay dân dụng hơn là máy bay chiến đấu. Mà sự thực nó là máy bay dân dụng chở vũ khí…”.

Lời nói của người anh hùng khiến tôi hết sức ngạc nhiên. Nhưng có nghe ông lý giải thì mới hiểu quả đúng là như vậy.

Rồi người anh hùng lại đúc kết thêm điều nữa khiến tôi ngã ngửa: “Cháu có tin không? Người Việt mình lái máy bay chiến đấu Mig 21 không kém người Nga, sử dụng tên lửa Sam 2 cũng chẳng kém người Nga. Đừng nghĩ người Việt là nông dân mắt toét bắn hạ pháo đài bay”.

Tôi đang không hiểu gì, thì ông giải thích: “Người Nga sản xuất ra thứ đó, những thứ vũ khí hiện đại nhất thế giới, nhưng người Việt Nam mới là người sử dụng. Người Nga chưa hề sử dụng trong thực tế chiến đấu”. Hóa ra là vậy!

Không để tôi hỏi thêm được câu nào, anh hùng Phạm Tuân bảo: “Như chú đã nói với cháu, chú bắn B-52 chỉ mất ít giây, nhưng thực ra, để hạ được nó, là cả một quá trình tích lũy kinh nghiệm, thực tế chiến đấu ngay tại chiến trường. Những kinh nghiệm đó ngay cả phi công Mỹ chưa chắc có được. Nó giống như đại chiến Xích Bích ấy. Chuẩn bị thì lâu, thì khó, chứ vào trận thì chớp mắt”.

Anh hùng Phạm Tuân bảo rằng, khi đó, trong suy nghĩ của người Mỹ, máy bay B-52 cõng bom đi thả như kiểu rong chơi. Nó ung dung chở bom vào rải, rồi ung dung đi ra, mà không sợ bất kỳ thứ vũ khí gì, bởi trên chiến trường không có đối thủ.

Mặc dù, tất cả các loại máy bay của địch đều đã bị không quân ta bắn hạ, nhưng B-52 vẫn là thách thức lớn. Loại máy bay này ném bom qua màn hình ra-đa, hệ thống chống nhiễu tích cực, nhiễu cản ra-đa trên không và trên mặt đất, bay vào ban đêm, lại có một dàn F4 yểm trợ… Nó giống máy bay dân dụng nhưng nó lại thực sự là một “pháo đài bay bất khả xâm phạm”.

Nhưng người Mỹ không biết rằng người Việt đã có sự chuẩn bị từ rất sớm. Bác Hồ đã nhận định rằng, trước sau người Mỹ cũng dùng B52 rải thảm miền Bắc. Do đó, lực lượng không quân của ta đã nghiên cứu rất kỹ về nó.

Phi công Phạm Tuân khi đó cùng đồng đội bí mật về Quảng Bình, Quảng Trị, trèo lên các đỉnh núi để quan sát, ghi chép, tìm hiểu quy luật hoạt động, quy luật bay của B-52.

Ông cùng đồng đội luyện tập cất cánh Mig 21 trong điều kiện ban đêm, đường băng ngắn, đánh bằng mắt thường, rồi bay trong vệt khói máy bay vận tải. Anh hùng Phạm Tuân được thực hành trong điều kiện an toàn rất thấp. Nhưng ông cùng đồng đội đã làm được những điều tưởng như không thể.

Tập luyện thuần thục rồi, các phi công của ta đã xuất kích truy đuổi B-52 trên bầu trời khu 4 và Bắc Trường Sơn.

Đêm 18-12-1972, có tới 50 lượt B-52 từ nhiều hướng đánh vào Hà Nội. Tất cả các sân bay, trạm ra-đa đều bị chúng đánh phá. Các phi công của ta vẫn xuất kích trong hoàn cảnh sân bay lởm chởm để truy tìm B-52.

Tìm được chúng qua mắt thường từ đèn dạ hàng. Nhưng khi bật ra-đa thì lộ mục tiêu. Phi công điều khiển B-52 tắt đèn và F-4 truy kích. Tất cả phi công của ta đều phải tìm cách thoát thân nếu không muốn tan xác.

Trời đêm, đường băng hỏng, không có đèn chiếu sáng, máy bay hết dầu, phi công của ta phải nhảy dù, hoặc cố gắng hạ cánh. Một số máy bay chiến đấu bị hỏng khi đáp sân bay lao vào hố bom. Chiếc Mig 21 của anh hùng Phạm Tuân cũng lộn nhào trong một lần hạ cánh xuống đường băng trúng hố bom.

Nhiều ngày trôi qua, “pháo đài bay” B-52 vẫn như cái gai trước mắt. Chúng tha hồ làm mưa làm gió trên bầu trời Hà Nội.

Anh hùng Phạm Tuân cùng đồng đội khi đó đều xác định sẵn sàng hy sinh. Nếu tên lửa không diệt được “pháo đài bay”, thì sẽ biến chiếc Mig 21 của mình thành quả tên lửa.

Và đúng như lời thề, phi công Vũ Xuân Thiều sau khi bắn tên lửa, đã lái máy bay lao thẳng vào B-52.

Còn tiếp…

Dương Quân
vtc.vn