Sống lại ký ức hào hùng một huyền thoại

Kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không:

Những ký ức hào hùng về Điện Biên Phủ trên không năm 1972 đẹp như một huyền thoại, được dệt nên bằng ý chí kiên cường, sự dũng cảm mưu trí sáng tạo và một quyết tâm lớn lao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, đặc biệt là lực lượng không quân Việt Nam…

Buổi tọa đàm Kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không do Cổng thông tin Chính phủ tổ chức ngày 10/12 đã có những vị khách mời đặc biệt. Đó là Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu, nguyên Phó Chính ủy Quân chủng Phòng không – Không quân; Trung tướng Phạm Tuân – Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên phi công đoàn Không quân Sao Đỏ; Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt – Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn tên lửa 57 – Sư đoàn Phòng không Hà Nội; Đại tá Nghiêm Đình Tích, nguyên Đài trưởng đài Radar P.35, Trung đoàn 291, Binh chủng Radar.

Những ký ức hào hùng về Điện Biên Phủ trên không năm 1972 đẹp như một huyền thoại, được dệt nên bằng ý chí kiên cường, sự dũng cảm mưu trí sáng tạo và một quyết tâm lớn lao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, đặc biệt là lực lượng không quân Việt Nam…

Ra trận chỉ với một tâm thế tất cả vì Tổ quốc

Những chiếc huân chương lấp lánh trên ngực Trung tướng Nguyễn Văn Mậu cứ rung lên. Vị tướng già oanh liệt thuở nào quá xúc động khi nhớ về những ngày tháng oanh liệt quần nhau với B52 của giặc Mỹ trên bầu trời Hà Nội với một tâm thế, không sợ chết, tất cả vì Tổ quốc, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.

Vì sao Mỹ lại mở một chiến dịch ném bom lớn như vậy đối với miền Bắc nước ta và đặc biệt là tập trung đánh phá Thủ đô Hà Nội? Trung tướng Nguyễn Văn Mậu chia sẻ, trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ đã hứng chịu nhiều thất bại, ba đời tổng thống Mỹ bị đổ, Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, Chiến tranh cục bộ và Chiến tranh đặc biệt đều đã bị phá sản.

Trước tình hình đó, Mỹ dùng không quân, hải quân đánh phá miền Bắc, phá hoại các tỉnh, thành phố. Trước nguy cơ thất bại thảm hại, Mỹ chỉ còn con át chủ bài là B52, chúng dùng để đánh Hà Nội hòng ngăn chặn sự chi viện của ta cho miền Nam và uy hiếp nhân dân ta. Song nhân dân ta theo lời kêu gọi của Bác Hồ “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, đã kiên quyết đánh Mỹ cho đến thắng lợi hoàn toàn.

Trung tướng Nguyễn Văn Mậu còn cho hay, một điều làm cả thế giới kinh ngạc là với những chiếc máy bay nhỏ hơn và với những khẩu súng pháo nhỏ, không quân Việt Nam lại có thể bắn rơi được loại máy bay to lớn và hiện đại nhất lúc bấy giờ là B52, một loại máy bay ném bom chiến lược tầm xa, cự ly bay hàng chục ngàn km, mang tới 30 tấn bom, xen kẽ bom tấn, bom tạ, bom bi, một tốp 3 chiếc B52 có thể san bằng diện tích 2 km2. B52 được dùng để ném bom chiến lược các mục tiêu diện rộng sân bay, thành phố, trung tâm chính trị, bến cảng và khi bị đánh thì hầu như các mục tiêu bị phá hủy.

Tại buổi toạ đàm, các vị tướng, sỹ quan quân đội cùng ôn lại những ký ức oanh liệt trong trận Điện Biên Phủ trên không.

Trung tướng Phạm Tuân, người Anh hùng thân thuộc cũng hồi hộp khi nhớ lại những thời điểm ác liệt, các sân bay chiến đấu của ta bị phá hủy rất nặng nề, nhưng máy bay của ta vẫn có thể cất cánh trong mọi tình huống mà không bị địch phát hiện. Trung tướng Phạm Tuân chia sẻ: “Những thời điểm như vậy đã thể hiện trí tuệ sáng tạo của dân tộc, của không quân nhân dân Việt Nam. Lúc đó, chúng tôi không thấy lo sợ, lo lắng gì cả, có thể vì lý tưởng lớn lao của cả dân tộc đã làm sôi sục ý chí tấn công.

Chúng ta làm rất nhiều sân bay dự bị, hoặc cất cánh trên đường băng phụ. Thậm chí, có khi chúng tôi đeo thêm 2 quả tên lửa bổ trợ, khi đó máy bay có thể cất cánh trên đường băng chỉ 200 – 300m so với đường băng 1,5km thông thường.

Trong 12 ngày đêm, Mỹ sử dụng 193 B52 và hơn 1.000 máy bay chiến thuật, trung bình mỗi đêm đánh vào Hà Nội 50 – 70 lượt B52, cao điểm lên đến 100 lượt B52. Ngoài ra, mỗi đêm trung bình 300 lượt, cao điểm 450 máy bay chiến thuật đánh phá để yểm trợ. Như vậy, bầu trời Hà Nội, mỗi đêm có 200 – 300 máy bay, có thể thấy mức độ đánh phá dày đặc như thế nào.

Lúc đó, chúng tôi không sợ bị bắn rơi, nhưng địch gây nhiễu ác liệt quá. Ví dụ, địch đánh vào sân bay, mình chậm đi một chút, trên đường máy bay yểm trợ đuổi mình chậm thêm chút. Thế nên, phi công phải chủ động, chúng ta cất cánh ở sân bay địch không ngờ tới để không bị chặn ở đầu đường băng. Lúc đó, mệnh lệnh là không đánh F4, chúng ta vượt qua nó, dành tên lửa để đánh B52. Hiệp đồng với binh chủng tên lửa như thế nào, khi tên lửa bắn F4 chúng tôi tranh thủ để vượt qua. Rồi lựa chọn hướng vào tiếp cận B52 như thế nào. Tất cả tạo nên điều kiện thuận lợi nhất đánh B52. Tôi bắn B52 xong rồi mà F4 vẫn ở đằng sau nhưng không làm gì được”.

Đỉnh cao của sự sáng tạo, dũng cảm tuyệt vời

Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không đẹp như một huyền thoại, bởi lẽ ta chỉ được trang bị tên lửa SAM 2, loại vũ khí mà theo đánh giá của đối phương thì không có khả năng đánh được B.52, nhưng trong thực tế thì ngược lại. Có điều kỳ diệu nào ở đây? Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt kể lại, tên lửa SAM 2 đã được nâng công suất. Kỳ diệu ở chỗ là khả năng phát hiện, phân biệt nhiễu B52 của bộ đội tên lửa.

Nhiễu của B.52 rất mịn, ngoài ra còn có nhiễu của các máy bay chiến đấu họ F (F4, F111A…), nhiễu tiêu cực, nhiễu cố định. “Nhưng khó nhất là chọn được 1 chiếc B.52 trong tốp để tiêu diệt, nhưng không quân của ta quả là tài tình sáng tạo và mưu trí, luôn xác định chính xác vị trí B52. Đồng chí Chính uỷ Sư đoàn chỉ thị cho chúng tôi, phải tiết kiệm đạn, do đó chúng tôi chuyển chiến thuật đánh “mổ cò”, nhưng là “mổ cò” chính xác nên máy bay B52 rơi liên tục trong khi tên lửa, đạn tốn kém không quá nhiều”. Để đánh được B52 một trong những vấn đề quan trọng nhất là phải phát hiện ra chúng, nhiệm vụ đó thuộc về Bộ đội Ra đa.

Đại tá Nghiêm Đình Tích đã rất tự hào khi kể lại sự mưu trí của ta đã đánh bại kỹ thuật sử dụng tác chiến điện tử trong suốt 12 ngày đêm ném bom Hà Nội của Mỹ. Ông cho hay: “Trong chiến tranh hiện đại, tập kích đường không của địch và tác chiến phòng không thực chất là một cuộc chiến tranh điện tử, ngoài yếu tố chính trị tinh thần, thì ai thắng trong cuộc chiến điện tử này sẽ là người chiến thắng.

Trong chiến dịch 12 ngày đêm, chúng ta bị không quân Mỹ gây nhiễu hơn nhiều so với chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, họ gây nhiễu từ các hạm tàm, từ các loại máy bay chiến thuật. Mỗi B52 có 15 máy gây nhiễu, 2 máy phóng nhiễu giấy bạc. Một tốp B52 có 45 máy, như vậy tất cả nhiễu đó tạo thành nhiễu chồng chéo, dày đặc, đan xen, công suất rất lớn, phạm vi rất rộng. Chúng ta gặp rất nhiều khó khăn vì địch âm mưu bịt mắt chúng ta. Toàn thể Binh chủng tập trung nghiên cứu, phát hiện, bảo đảm cho phòng không – không quân đánh B52. Riêng tôi có thuận lợi là được học về nguyên lý điều khiển ra đa do các chuyên gia Liên Xô đào tạo từ năm 1968, 1969. May mắn nhất, chúng tôi trước đó đã từng phát hiện B52 rồi, đặc biệt là trong chiến tranh phá hoại lần thứ 2.

Trong năm 67, địch mở chiến dịch vào Hà Nội đã gây nhiễu rất nặng, chúng tôi xây dựng được quy trình chống nhiễu và phát hiện B52 rất tốt. Chúng tôi lập được nhiều chiến công. Một là cùng với đại đội 41 dẫn đường bắn trúng B52 đêm 20/11/1971. Thứ hai, sau hội nghị của bộ đội tên lửa, quân chủng cử một đoàn cán bộ vào Vinh giúp đánh B52, đơn vị chúng tôi được lệnh về bảo đảm trực tiếp cho một trung đoàn đánh B52. Đêm 22/11, chúng tôi dẫn đường cho trung đoàn 263 bắn rơi chiếc máy bay B52 đầu tiên”…

Trung tướng Nguyễn Văn Mậu chiêm nghiệm ra một điều sâu sắc rằng, rất đặc biệt là Bác Hồ đã có những dự kiến rất sớm để đánh thắng B52. Năm 1965, Mỹ đem bom thả xuống Bến Cát, Tây Bắc Sài Gòn, Bác đã nói trước sau Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra đánh Hà Nội.

Sau 19 ngày Mỹ đem thả bom ở đèo Mụ Giạ, Tây Bắc Quảng Bình, Bác lại nói ngày 19/7/1965: Dù Mỹ có B57, B52 hay B gì đi nữa, ta cũng đánh mà đánh là nhất định thắng. Mỹ trước sau cũng sẽ thua, nhưng chúng chỉ chịu thua trên bầu trời Hà Nội. “Các chú muốn bắt cọp phải vào hang.” Tinh thần đó được quán triệt đến cán bộ chiến sỹ toàn quân chủng Phòng không – Không quân, trở thành ý chí sắt đá, sáng tạo trong chiến dịch 12 ngày đêm.

Thu Phương (ghi)
cand.com.vn