Tag Archive | Văn hóa – Xã hội

Bác Hồ với Thủ đô

Việt Nam - Hồ Chí MinhLà người làm sử, tôi cứ nghĩ mãi  một câu hỏi: Bác Hồ sinh ra từ mảnh đất Nghệ An (1890), lớn lên theo cha vào Huế (1905) rồi đi tiếp về phương Nam, đến thành phố Sài Gòn (1911) để rồi từ đó xuất dương. Bôn ba khắp 5 châu bốn biển, 30 năm sau con người ấy trở về với Tổ quốc từ một cửa ngõ địa đầu phía Bắc (1941).

Con người ấy dường như chưa một lần đặt chân lên Hà Nội. Hơn thế nữa  nếu tính từ khi nhà Nguyễn lập triều, vua Gia Long đã rời đô từ Thăng Long vào Huế (1802) thì Hà Nội đã không còn là kinh đô từ ngót một thế kỷ rưỡi. Tên gọi Thăng Long bị biến cải chữ (hán) “Long” là “rồng” thành “Long là sự hưng thịnh” để xóa bỏ danh tính gắn với vương triều; rồi hạ thấp tường thành; rồi phá bỏ thành quách cũ để xây thành “vô băng” làm tỉnh thành Hà Nội…

Thực dân biến nước ta thành thuộc địa còn đang tâm chia nước ta làm ba mảnh, chỉ coi Hà Nội là một trung tâm hành chính của Bắc kỳ mặc dù có xây Phủ toàn quyền toàn Đông Dương ở Hà Nội cũng  giống như ở Sài Gòn…

Vậy mà cái tâm thức  nào đã khiến vị lãnh tụ của cuộc cách mạng, tại Quốc dân đại hội họp ở Tân Trào đã đưa ra quyết định sáng suốt chọn Hà Nội làm Thủ đô của nước Việt Nam độc lập, đã nối lại mạch nghiệp xưa của kinh đô Thăng Long – Đông Đô?

Rồi lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc trở về Thủ đô Hà Nội sau khi thành phố đã giành chính quyền trước khi nhận được bản quân lệnh số 1. Vì sao nhà cách mạng từng trải ấy lại chọn chỗ ở là nhà của một trong những người giàu nhất, tại giữa một khu phố giàu nhất Hà Nội? Cũng tại ngôi nhà này vị Chủ tịch lâm thời đã soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ, đã chủ trì nhiều cuộc họp quan trọng và tiếp đón nhiều thượng khách…?

Với Bác, cách mạng là sự nghiệp của toàn dân. Với Bác, tấm áo giáp chở che cách mạng không chỉ là những người cùng khổ mà “hễ là người Việt Nam đều có tấm lòng yêu nước”. Do vậy mà Hà Nội dường như không xa lạ với nhà cách mạng xứ Nghệ.

Rồi trong những ngày căng thẳng nhất của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, Bác vẫn gắn bó với Hà Nội và tiên đoán rằng chính  bầu trời của Hà Nội sẽ là nơi diễn ra trận quyết đấu định đoạt cuộc chiến. Hơn ba năm sau ngày Bác ra đi, mùa đông 1972, trận “Điện Biên Phủ trên không” với sự liên tưởng hào hùng về hình ảnh rồng lửa Thăng Long quật nhào B52 của đế quốc Mỹ trên bầu trời Thủ đô đã chứng thực cho lời tiên đoán của Bác. Đầu năm 1973, Hiệp định Paris đã “đánh cho Mỹ cút” và hai năm sau đó ngụy bị đánh nhào… Cả nước vang lên bài ca “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”.

Trả lời cho những câu hỏi trên, có thể tìm thấy dưới chiều sâu của di chỉ hoàng thành, pho sử đầy thuyết phục về truyền thống ngàn năm văn hiến của kinh thành Thăng Long xưa. Và có một câu trả lời nữa đã được ghi tạc trong sử sách: Trong lịch sử  Việt Nam, có hai triều đại là nhà Hồ ở đầu thế kỷ 15, và nhà Nguyễn ở đầu thế kỷ 19, đã nhấc chân lên khỏi mảnh đất thiêng, dời đô khỏi mảnh đất mà đức Lý Công Uẩn đã viết trong “Chiếu dời đô”: “Đó là nơi thắng địa, tụ hội nhìn khắp bốn phương, là nơi đô thành bậc nhất của đế vương muôn đời… mưu toan nghiệp lớn, tính kế lâu dài cho con cháu đời sau”. Và lịch sử cả hai triều đại ấy, dài ngắn khác nhau đều không tránh khỏi sự suy vong trước nạn ngoại xâm.

Thật dễ hiểu, Bác Hồ đã từng mở đầu một bài diễn ca bằng lời căn dặn: “Dân ta phải biết sử ta”.

Dương Quốc Trung
Theo Việt Báo
Kim Yến (st)

bqllang.gov.vn

Biệt thự lưu giữ kỷ niệm về đàm phán hòa bình Việt Nam

Chúng tôi tới thăm ngôi nhà số 49, nay là số nhà 17 phố Cambacérès, Verrières-le-Buisson, ngoại ô Thủ đô Paris, Pháp.

biet thu

Góc hồ nhìn vào biệt thự Verrières-le-Buisson. (Ảnh: Lê Hà/Vietnam+)

Nay đã trở thành một Di tích lịch sử gắn liền với thời gian gần 5 năm diễn ra các cuộc đàm phán 4 bên (Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa) tiến tới việc ký kết Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam, tại Paris ngày 27/1/1973.

Vì giá trị lịch sử của nó, ngày 13 tháng 10 năm 2012, Tòa thị chính thành phố Verrières-le-Buisson phối hợp với Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp và các bạn bè Pháp đã gắn biển di tích lịch sử cho ngôi nhà.

Tấm biển mang tên: “Nơi đây, từ năm 1968 đến 1973, Đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Miền nam Việt Nam đã lưu trú để tham gia các cuộc đàm phán và ký Hiệp định Paris về Hòa bình, ngày 27/1/1973”. Ngôi nhà này do các bạn Pháp là thành viên Đảng Cộng sản Pháp khi đó giới thiệu cho phía Việt Nam thuê.

Nơi đó, cách đây 40 năm, bà Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao lúc đó (sau này là Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), làm Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam, cùng một số thành viên trong đoàn tùy tùng, từng lưu trú từ năm 1968 đến năm 1973, để tham gia các cuộc đàm phán lịch sử tiến tới ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Với sự giúp đỡ của ông bà Pierre Gueguen, khi đó còn là thành viên lực lượng an ninh, kể cho chúng tôi nghe lịch sử của ngôi nhà và giúp chúng tôi có được một cuộc du ngoạn xung quanh ngôi nhà.

Dù dưới cái lạnh giá của mùa Đông, cây cối và hoa xung quanh nhà đã rụng hết lá và trơ lại những cành khẳng khiu, nhưng cảnh quan nơi đây vẫn tạo cho ngôi nhà vẻ đẹp nên thơ vốn có của nó.

Kiến trúc của ngôi nhà dường như không hề thay đổi, chỉ có phía trước của ngôi nhà được sửa lại một chút cho phù hợp với nhu cầu người chủ mới (ông bà Pierre Bertaud) và một lớp sơn mới được quét lên bên ngoài cũng không làm nó mất đi vẻ cổ kính của nó với sự đổi thay của thời gian.

Ngôi nhà nằm trên một khu đất cao, với một khu vườn rộng bao quanh được trồng rất nhiều hoa, cây cảnh, cây ăn quả, cây cổ thụ và được điểm thêm vài bức tượng của các nhà điêu khác nổi tiếng của Pháp.

Sau nhiều cuộc hẹn gặp và được sự đồng ý của chủ nhà, ông bà Pierre Bertaud, (đang làm việc tại Paris), chúng tôi mới vào thăm được bên trong ngôi nhà đó, cùng với sự hướng dẫn ông Trịnh Ngọc Thái, Phó Chủ tịch Quỹ Hòa bình và phát triển Việt Nam, Chủ tịch Câu lạc bộ giao lưu văn hóa, kinh tế quốc tế và Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt-Pháp, khi đó là trợ lý của ông Xuân Thủy, Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa (miền Bắc Việt Nam) và ông Lê Đức Thọ là cố vấn đặc biệt.

Ông nói trở lại đây bốn mươi năm sau xa cách, ngôi biệt thự này đã gợi nhớ lại trong ông lại những kỷ niệm không thể nào quên trong suốt gần 5 năm diễn ra các cuộc đàm phán, mà theo ông là cuộc đàm phán kéo dài nhất trong lịch sử Việt Nam cũng như trên thế giới.

Ông cho biết, khi đó ông là thành viên của đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa tham dự hội nghị 2 bên với đoàn đại biểu Mỹ do ông W. Averell Harriman, nhà ngoại giao kỳ cựu của Mỹ dẫn đầu. Hội nghị diễn ra ngày 13/5 đến ngày 1/11/1968 tại phố Kléber tại Paris, bàn việc chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam nói chung, trước hết đòi phía Mỹ phải chấm dứt hoàn toàn và vô điều kiện chiến tranh ở phía Bắc Việt Nam.

Sau đó đến ngày 25/1/1969, mới diễn ra cuộc đàm phán 4 bên với sự tham gia (thêm) của đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam do ông Trần Bửu Kiếm dẫn đầu.

Đến tháng 6/1969, Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam mới thành lập. Bà Nguyễn Thị Bình được cử làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và là Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt nam tham dự hội nghị 4 bên này tại Paris. Ngôi biệt thự trở thành ngôi nhà mang dấu ấn lịch sử của cách mạng Việt Nam – nơi bà Bình đã lưu trú và làm việc.

Ông Phạm Ngọc Thái không khỏi xúc động trước cảnh quan hầu như không đổi thay của nơi đây và cho biết cổng ô tô vào tòa nhà vẫn ở bên tay phải, hai khu nhà chính và phụ cách nhau bằng một cái sân không lớn lắm với bãi cỏ xanh mướt bao quanh…

Đi qua cửa chính vào nhà là một hành lang ngắn dẫn đến phòng khách – chính nơi bà Nguyễn Thị Bình thường tiếp ông Nguyễn Đức Thọ, ông Xuân Thủy hay các đoàn khách quốc tế, bạn bè Pháp.

Trên gác là buồng ngủ của bà Nguyễn Thị Bình và phòng làm việc vẫn được bài trí như khi xưa, chỉ có bộ bàn ghế (salon) là mới và hiện đại một chút nhưng vẫn làm cho không gian của phòng khách giữ được sự sang trọng, lịch sự và ấm áp.

Tần ngần đứng trước dãy nhà cấp bốn phía sau khi đi qua cái sân nhỏ cách với với ngôi nhà chính, ông Thái cho biết thêm đây chính là nơi làm việc và chỗ nghỉ của anh em bảo vệ, lái xe.

Phòng điện đài nằm ngay bên tay trái vẫn còn như nguyên vẹn không gian và dáng vẻ của nó (nay đã trở thành nhà kho). Nơi trước đây đã từng phát đi những tin tức quan trọng góp phần không nhỏ tạo nên chiến thắng hôm nay.

Ông Trịnh Ngọc Thái nhấn mạnh đến vị trí của ngôi nhà nằm cạnh một hồ nước không lớn lắm, được thả cá, có thiên nga bơi lội và một hàng liễu trồng xung quanh thướt tha rủ xuống soi bóng trên mặt nước – mang tên Hồ Cambacérès.

Theo ông, chính những cảnh quan này đã mang đến cho ngôi nhà vẻ đẹp và sự hài hòa khó quên. Nhất là, nơi đây mãi mãi là nơi lưu giữ những kỷ niệm không thể nào quên đối với nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc nói chung và trong cuộc đàm phán để tiến tới ký kết Hiệp định Paris nói riêng.

Ông nhấn mạnh “không gian và khung cảnh nên thơ này đã giúp cho bà Nguyễn Thị Bình, có được giờ phút thư giãn và đưa ra được nhiều ý tưởng, sáng kiến mới và những suy nghĩ mang tính thuyết phục hơn”.

Cũng tại ngôi biệt thự này, nhiều phương án đã được đưa ra được nhằm cụ thể hóa đường lối chính trị của Bộ chính trị đã đề ra.

Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Pháp, ông không quên nhắc đến những thuận lợi và khó khăn trong suốt qua trình diễn ra các cuộc đàm phán công khai cũng như bí mật, nhiều khi gần như dẫn đến bế tắc, nhất là khi cuộc đàm phán diễn ra vào đầu tháng 12/1972, là lúc đế quốc Mỹ leo thang ném bom B52 xuống miền Bắc. Nhưng với chiến thắng vang dội của quân và dân Việt Nam trước những “pháo đài bay trên không” của Mỹ đã kéo Mỹ trở lại cuộc đàm phán với Việt Nam.

Lý giải về thắng lợi tiến đến ký kết Hiệp định Paris về hòa bình ở Việt Nam, ông Trịnh Ngọc Thái trở nên sôi nổi hắn lên cho biết Việt Nam đã thành công là vì biết kết hợp đấu tranh trên nhiều mặt trận vừa đánh vừa “đàm”, có nghĩa phải kết hợp nhiều mặt trận như trên bàn hội nghị, trên chiến trường, mặt trận ngoại giao, kết hợp với phong trào chính trị ở miền Nam và vận động, tranh thủ sự ủng hộ các bạn bè quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam.

Không chỉ nhớ lại những công việc, cùng những kỷ niệm đã gắn bó ông với nơi này, khi cùng làm việc với bà Nguyễn Thị Bình – “nhà thương lượng tài ba” của Việt Nam, ông luôn nhắc đến những tình cảm và sự ủng hộ cao đẹp của các bạn bè Pháp đã dành cho đoàn Việt Nam khi đó. Thường các bạn Pháp giữ vai trò bảo vệ an ninh vòng ngoài tại các nơi ở và làm việc của đoàn Việt nam.

Nói đến chiến thắng này, ông ngậm ngùi nhớ đến những anh em, đồng chí, bạn bè ở miền Nam, miền Bắc không còn nữa, họ ra đi để lại trong lòng ông những ấn tượng và tình cảm sâu nặng, như ông Đinh Bá Thi, bà Nguyễn Thị Trơn, cô Bình Thanh – Thư ký riêng của bà Bình, anh Lê Văn Tư, anh Lý Văn Sáu,… những người cốt cán trong đoàn đại biểu Chính phủ của Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam, và trong đoàn miền Bắc như Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, Nguyễn Minh Vỹ, Phan Hiền, Nguyên Cơ Thạch, Trần Công Tường,…

Tất cả họ là những người đã có nhiều đóng góp và hy sinh cho thành công của Hội nghị Paris về lập lại hòa bình ở Việt Nam. Họ là những người có nhiều gắn bó với bà Bình trong suốt thời gian tham gia phục vụ hội nghị.

Về nhần mình, ông Pierre Bertaud, chủ nhà cho biết ông rất vinh dự được sống tại ngôi nhà có giá trị lịch sử như vậy. Trước khi mua nó, ông đã biết nơi đây bà Nguyễn Thị Bình đã ở. Bà là nhà “thương lượng tuyệt vời của Việt Nam về hòa bình”.

Ông cho biết ông cũng là con người của hòa bình và ông luôn ủng hộ điều đó. Theo ông, sự “kiên trì” của Việt Nam đã trở thành một bài học đối với ông trong quá trình “thương thuyết”./.

Theo http://www.vietnamplus.vn/
Huyền Trang (st)

bqllang.gov.vn

Thu “tín hiệu lạ” từ không quân địch

QĐND-Đầu năm 1972, trước tình hình địch có thể liều lĩnh leo lên những nấc thang cao nhất của chiến tranh, trong đó có việc tập kích chiến lược bằng đường không vào các mục tiêu đầu não của ta ở miền Bắc, Thủ trưởng Cục Tình báo – Bộ Tổng tham mưu đã chỉ thị các phương thức, lực lượng của tình báo quân sự khẩn trương thu thập những tin tức, tài liệu có liên quan.

Tạo lập cơ sở, vạch ra những nét tổng quát là trách nhiệm của Phòng nghiên cứu tổng hợp (Phòng 70) thuộc Cục Tình báo. Sau khi rà soát, đánh giá lại toàn bộ lực lượng không quân và hải quân Mỹ, thấy rõ Mỹ coi máy bay ném bom chiến lược B-52 là “bảo bối” lớn nhất, là “con bài tẩy” uy lực nhất, nhiều khả năng chúng sẽ tung ra để “hạ gục” ta, Thủ trưởng Phòng 70 đã giao Thiếu tá Mạc Thành Lâm, cán bộ phụ trách bộ phận hỏi cung tù binh của Phòng nghiên cứu, biên soạn một chuyên đề riêng về B-52.

Lúc ấy, đối với bộ phận hỏi cung tù binh thuộc Phòng 70, B-52 đã là một đối tượng khá quen thuộc bởi ngay từ năm 1968 và đặc biệt là từ cuối năm 1971, khi địch đánh phá trở lại miền Bắc, trong quá trình hỏi cung tù binh là giặc lái Mỹ, Thiếu tá Mạc Thành Lâm và các cộng sự rất chú trọng tìm hiểu khả năng địch dùng B-52 để đánh lên quá vĩ tuyến 20 và Hà Nội. Ngay sau khi nhận nhiệm vụ, bộ phận hỏi cung tù binh liền tổng hợp các biên bản hỏi cung tù binh đã có, đồng thời tiến hành gặp gỡ một số tên giặc lái Mỹ đang nằm trong trại giam của ta, có hiểu biết tương đối tốt về B-52 để hỏi lại, hỏi thêm, xoáy sâu vào các nội dung: Số lượng B-52 và khả năng bố trí chúng trên các căn cứ không quân của Mỹ ở gần Việt Nam; tính năng chiến thuật, kỹ thuật của B-52; tổ chức đội hình B-52 và các loại máy bay hộ tống trong tác chiến; sự phân chia khu vực mục tiêu giữa không quân chiến thuật và không quân chiến lược Mỹ ở miền Bắc Việt Nam, đặc biệt là Hà Nội; đường bay của B-52 từ ngoài biển vào, từ Thái Lan sang miền Bắc Việt Nam; độ cao hành trình, các khu vực tiếp dầu trên không, thành phần yểm trợ không chiến, yểm trợ chế áp pháo cao xạ, tên lửa phòng không, ra-đa của đối phương… Tháng 6-1972, qua hỏi cung tù binh, ta nắm được một thông tin hết sức quan trọng là tại một vài căn cứ, không quân Mỹ đang tổ chức tập luyện trên sa bàn theo phương án sử dụng B-52 đánh vào Hà Nội. Nhờ vậy, tháng 10-1972, chuyên đề “Dự kiến tập kích đường không chiến lược B-52 vào Hà Nội và các biện pháp đối phó của ta” do Thiếu tá Mạc Thành Lâm trình bày tại một hội nghị quân sự (do Bộ Tổng tham mưu tổ chức, Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp trực tiếp chủ trì) đã được đánh giá cao và ngay sau đó được phổ biến cho các đơn vị để nghiên cứu, vận dụng.

Trong việc nắm địch một cách cụ thể, công đầu thuộc về Trung đoàn trinh sát kỹ thuật 75 thuộc Cục Tình báo, mà trực tiếp là Tiểu đoàn thu tin 1, có sự góp sức của Tiểu đoàn định hướng 13 và Tiểu đoàn thu tin 35 (đứng chân, làm nhiệm vụ ở tuyến 1 và chiến trường Trị – Thiên – Huế).

Tù binh phi công Mỹ tại nhà tù Hỏa Lò trước khi được trao trả về nước (năm 1973). Ảnh tư liệu.

Ngay sau khi được Đại tá Phan Bình, Cục trưởng Cục Tình báo – chỉ thị tổ chức theo dõi, bám nắm thật chắc không quân địch trong trường hợp chúng quay trở lại đánh phá vĩ tuyến 20, trọng tâm là Hà Nội, Hải Phòng và đặc biệt là phải phát hiện sớm nếu B-52 vào trận, Ban chỉ huy Trung đoàn 75 đã bố trí lại đội hình Tiểu đoàn 1 theo hướng vừa sẵn sàng chiến đấu cao, vừa thu thập thông tin nhanh và tập trung tìm hiểu kỹ về B-52. Nhờ lên phương án tổng tìm và nghiên cứu hợp lý mà Tiểu đoàn 1 đã sớm phát hiện, theo dõi được 10 mạng sóng có dấu hiệu nghi vấn. Cuối tháng 7-1972, Thiếu úy, thu tin viên Nguyễn Đăng Phúc phát hiện được một tín hiệu xin trở về căn cứ, từ đó lần ra mạng sóng thông tin liên lạc kiểm soát đường bay của không quân chiến lược Mỹ. Tháng 11-1972, Tiểu đoàn 1 khai thác tối đa những sơ hở của địch trên mạng sóng này khi B-52 bay vào đánh phá ở địa bàn nam Khu 4, đã dự kiến dấu hiệu tình báo xuất hiện từ các nguồn chặn thu, tập trung lập phương án nắm địch khi chúng dùng B-52 đánh lớn ra miền Bắc, trong đó có sự kết hợp trinh sát kỹ thuật sóng ngắn và trinh sát kỹ thuật sóng cực ngắn, kết hợp trinh sát kỹ thuật đặt ở trên cao và trinh sát kỹ thuật đặt dưới hầm, kết hợp Tiểu đoàn thu tin 1 và Tiểu đoàn định hướng 13… Nửa đầu tháng 12-1972, Tiểu đoàn 1 nắm được thông tin Mỹ đưa thêm B-52 và một số loại máy bay chiến thuật đến các căn cứ không quân của chúng ở xung quanh Việt Nam, số lượng máy bay chiến thuật tại căn cứ U-ta-pao (Thái Lan) là 50, tại căn cứ An-đéc-xơn (Gu-am) là 100 và tại căn cứ Đà Nẵng là hơn 100 chiếc…

Ngày 17-12-1972, Tiểu đoàn 1 thu được điện tin Bộ tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ (đóng tại Ha-oai) gửi Bộ tư lệnh Không quân Mỹ tại Việt Nam (đóng tại căn cứ không quân Tân Sơn Nhất ở Sài Gòn) ra lệnh đình chỉ việc đi phép, yêu cầu mọi phi công ở lại căn cứ để sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Tin này lập tức được báo cáo lên cấp trên. Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp và Phó tổng Tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn cùng đánh giá đây là tin rất quan trọng và chỉ thị cho Quân chủng Phòng không-Không quân sẵn sàng chiến đấu. Trinh sát kỹ thuật còn nhận thấy trong hai ngày 16 và 17-12, B-52 ngưng hoạt động, không quân chiến thuật Mỹ không tiến hành trận đánh phá nào, chỉ không quân của hải quân Mỹ là thực hiện vài trận nhỏ lẻ. Rõ ràng, B-52 và không quân chiến thuật Mỹ đang dồn lực lượng để chuẩn bị cho một trận đánh lớn.

Trong đêm 17-12-1972, Tiểu đoàn 1 tiếp tục thu được tin địch ra thông báo tình hình thời tiết khu vực miền Bắc Việt Nam và thông báo mở rộng phạm vi hoạt động của máy bay trực thăng làm nhiệm vụ cấp cứu phi công gặp nạn. Ngoài ra, Tiểu đoàn còn phát hiện máy bay trinh sát các loại của địch (trong đó có cả máy bay do thám tầng cao EB66) bay nhiều hơn ở khu vực từ Bắc Thanh Hóa trở ra, nhất là vùng Hà Nội, Hải Phòng, tàu sân bay địch cũng dâng cao hơn hẳn ở ngoài Biển Đông…

Sáng 18-12-1972, trinh sát kỹ thuật thu được những tin tức rất quan trọng khác: 4 giờ 00 – “Number One” sẽ di chuyển đến căn cứ An-đéc-xơn; 9 giờ 00- 13 máy bay tiếp dầu KC135 ở một căn cứ gần Việt Nam điểm danh trên mạng; 9 giờ 20 – các tàu sân bay Mỹ ngoài Biển Đông di chuyển lên quá vĩ tuyến 19 (cao một cách bất thường), các tàu khu trục dẫn bay thì còn dâng lên cao hơn nữa…

Thủ trưởng Cục Tình báo đã báo cáo ngay với trên là nhiều khả năng B-52 sắp đánh lớn vào miền Bắc. Đến 13 giờ 30 phút ngày 18-12, qua thu thập bổ sung một số tin tức khác, trinh sát kỹ thuật không chỉ khẳng định B-52 sẽ đánh phá Hà Nội mà còn cung cấp thông tin khá cụ thể về số lượng, thời gian, khu vực, hướng mục tiêu đến.

Chiều tối 18-12-1972, trinh sát kỹ thuật dồn dập báo cáo: 15 giờ 30 – các tốp B-52 lần lượt xuất hiện trên mạng dẫn bay toàn cầu của địch trong hành trình từ Gu-am về phía Việt Nam; 17 giờ 00 – nhiều máy bay tiếp dầu đã bay tới, tập trung tại một khu vực ở cách Phi-líp-pin 180km về phía Bắc, máy bay chỉ huy trên không EC121 và máy bay chỉ huy cấp cứu HC130 điểm danh trên mạng để thực hiện nhiệm vụ vào buổi tối và ban đêm; 19 giờ 00 – các tốp B-52 và máy bay chiến thuật lần lượt điểm danh trên mạng sóng cực ngắn với Đài kiểm soát bay khu vực…

Tới 19 giờ 48 phút thì tiếng bom nổ rền, mở màn chiến dịch “Lai-nơ-bếch-cơ” của địch…

Để tăng cường khả năng nắm địch, Tiểu đoàn 1 tăng số bàn máy thu sóng cực ngắn đang hoạt động từ 5 lên 12, các thu tin viên cũng tăng số giờ làm việc mỗi ngày từ 6 lên 12, có người còn làm việc suốt cả ngày lẫn đêm, chỉ trừ những lúc ăn cơm. Trong bản báo cáo công tác năm 1972 của Trung đoàn 75, có ghi: “100% trận đánh, địch tổ chức lúc nào ta biết lúc ấy và biết sớm từ khi chúng bắt đầu cất cánh. Sau đó là quá trình bay vào mục tiêu, số bị bắn rơi, vị trí phi công rơi, xin cấp cứu”.

Cùng thời gian này, bộ phận hỏi cung tù binh thuộc Phòng 70 đã tích cực khai thác số giặc lái vừa bị ta bắt sống (nhất là số giặc lái B-52) nhằm nắm thêm các yếu tố kỹ thuật, chiến thuật, chiến dịch của địch, kịp thời báo cáo để Bộ Tổng tham mưu phổ biến cho các đơn vị, phục vụ đắc lực các trận đánh trả tiếp theo.

Ngày 25-12-1972, địch ngừng đánh phá. Câu hỏi cấp trên đặt ra là chúng ngừng hẳn hay chỉ tạm ngừng nhân ngày lễ Nô-en? Ngay trong ngày, Tiểu đoàn 35 đã có câu trả lời qua việc thu được điện tin trao đổi giữa 2 sĩ quan cao cấp của quân đội Sài Gòn: “Tổng thống Thiệu phản đối việc ký kết Hiệp định Pa-ri vào thời điểm này”. Cùng ngày, cơ cán đi sâu Đặng Trần Đức của điệp báo chiến lược (làm việc trong Đặc ủy Trung ương tình báo của chính quyền Sài Gòn) có tin khẳng định Mỹ ném bom trở lại miền Bắc không phải để kéo dài chiến tranh mà là để gia tăng sức ép đối với ta và chúng dự kiến tới giữa tháng 1-1973 sẽ ký Hiệp định Pa-ri…

Với thành tích góp phần đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược của địch, Tiểu đoàn thu tin 1 (Trung đoàn trinh sát kỹ thuật 75) đã được Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng ba.

VŨ SÁNG
qdnd.vn

Mã dịch “tin sớm” ở Mặt trận Quảng – Đà

QĐND – “Công việc “bếp núc” ấy mà” – đó là câu trả lời khiêm tốn mà các CCB nguyên là chiến sĩ báo vụ và cơ yếu ở Trạm Tình báo B54 vẫn quen gọi về công việc của mình. Tuy đã nghỉ hưu tại Hà Nội, nhưng cứ hai năm một lần, CCB Nguyễn Tấn Hoàng và CCB Đỗ Đức Lấp cùng các CCB từng công tác ở Trạm B54 lại tổ chức chuyến đi thăm lại chiến trường Quảng Nam-Đà Nẵng, nơi họ từng có nhiều năm công tác ở Cụm tình báo chiến lược B54 thuộc Cục Nghiên cứu-Bộ Tổng Tham mưu (nay là Tổng cục II).

Tháng 3-1965, chàng trai đất Quảng Nguyễn Tấn Hoàng trở về mảnh đất quê hương làm nhiệm vụ sau hơn 10 năm tập kết ra Bắc. Ngày ấy, Trạm Tình báo B54 đứng chân ở một khu rừng thuộc địa bàn huyện Quế Sơn, cách quê ông (xã Tam An, huyện Tam Kỳ) khoảng 30 cây số. Hồi đó, người dân địa phương vẫn nghĩ Trạm B54 là một cơ sở cách mạng thuộc Huyện ủy Quế Sơn hay là một đơn vị đặc công nào đó, trong khi hằng ngày, chiến sĩ báo vụ Nguyễn Tấn Hoàng và các chiến sĩ cơ yếu như ông Đỗ Đức Lấp phải tuân thủ triệt để việc “đi không dấu, nấu không khói, nói đủ nghe, che ánh sáng” để thực hiện nhiệm vụ mã dịch các tin tức do giao thông viên hoặc các cơ sở tình báo chuyển về Trạm, rồi chuyển tiếp những “tin sớm” ấy về Cục theo chỉ đạo của cấp trên. “Để chuyển các bức điện ấy, tôi và anh em báo vụ phải cơ động ra một khu rừng khá xa, bí mật kéo ăng-ten lên để “tác nghiệp”.

CCB Đỗ Đức Lấp và Nguyễn Tấn Hoàng (thứ 2 và 3 từ trái sang) trong ngày gặp lại đồng đội Trạm tình báo B54 tại Quảng Nam (tháng 5-2010). Ảnh do nhân vật cung cấp

Thông thường những tín hiệu “tạch tè” ấy được chúng tôi thực hiện vào các buổi tối để bảo đảm bí mật”, CCB Nguyễn Tấn Hoàng nhớ lại. Còn với ông Đỗ Đức Lấp, do đặc thù công việc nên những chiến sĩ cơ yếu như ông thường biết rõ nội dung của những “tin sớm” ấy trước khi chúng được chuyển đi. Ông bảo: “Trong gần 10 năm công tác ở Trạm, khó có thể liệt kê cụ thể bao nhiêu nội dung được chúng tôi mã dịch, chuyển đi để cấp trên xử lý, cũng khó có thể nhớ nổi những chiến công lặng thầm của đội ngũ điệp báo, giao thông viên hoặc các cơ sở tình báo của B54 trong những năm tháng chiến tranh ác liệt ấy”.

Trong số những cơ sở tình báo ngày ấy, các CCB Trạm B54 vẫn còn ấn tượng với những tấm gương kiên trung của người dân địa phương khi họ đã thầm lặng đóng góp công sức với Trạm B54. Giờ đây, họ vẫn thường kể nhiều về hai cơ sở tình báo là cụ Phạm Phú Hoàng-một cụ già thuộc dòng dõi khoa bảng của triều đình Huế và nhà tư sản Phan Kỳ-một chủ hiệu vàng ở Chợ Hàn (Đà Nẵng). Cụ Phạm Phú Hoàng quê ở huyện Điện Bàn, Quảng Nam, gia thế của cụ được chính quyền ngụy rất nể trọng, nhưng chúng đâu biết cụ đã nhiều lần ra Đà Nẵng đưa đón cán bộ tình báo cho Trạm B54. Mỗi lần đi, cụ lại chỉnh tề khăn đóng, áo dài. Khi qua các bốt gác, bị địch chặn hỏi, cụ lại bảo: “Tau đi nhận lương của thằng con là lính Cộng hòa ở Sài Gòn gửi về…”. Với trường hợp nhà tư sản Phan Kỳ, năm 1966, Trạm B54 đã cử người vào Đà Nẵng móc nối, đưa ông lên căn cứ ở Quế Sơn, Quảng Nam và mời ông làm cơ sở cho ta. Sau khi được học tập chính sách của Mặt trận dân tộc giải phóng và nhận lời làm cơ sở cách mạng, trở về Đà Nẵng, ông đã nuôi giấu một Tổ trưởng tình báo ngay tại tiệm vàng Tâm Thành của gia đình. Từ đó, ta đã xây dựng được nhiều cơ sở trong Bộ tư lệnh Quân đoàn 1 của địch. Khi cơ sở nội tuyến chuyển vào Sài Gòn, Tổ trưởng tình báo của ta phải chuyển theo để chỉ đạo, nhà tư sản Phan Kỳ lại tiếp tục vào Sài Gòn mua nhà và nuôi giấu đồng chí Tổ trưởng cho tới ngày đường dây liên lạc bị lộ, ông bị địch bắt và đày ra Côn Đảo…

Tấm căn cước giả mang tên “Lê Văn An” của chiến sĩ tình báo Nguyễn Tấn Hoàng. Ảnh: Trung Nguyên

CCB Đỗ Đức Lấp chia sẻ với chúng tôi một chuyện riêng, ấy là trong gần 10 năm ở Trạm B54, với nhiệm vụ của một nhân viên cơ yếu, ông đã trực tiếp mã dịch, xử lý hàng trăm “tin sớm” ở chiến trường, vậy mà ở quê ông (xã Hòa Bình, Vĩnh Bảo, Hải Phòng), gia đình ông lại sớm nhận phải một tin buồn, ấy là tấm giấy báo tử… ghi tên ông. “Sau này nghe kể lại, tôi mới biết mình bị nhầm tên với người anh họ tên là Đỗ Đức Lập. Lúc về quê, mọi người vui mừng khôn xiết khi biết tôi còn sống, nhưng niềm vui của gia đình tôi cũng không được trọn vẹn, bởi thay vào đó là một nỗi buồn không gì bù đắp nổi của gia đình ông bác ruột”, CCB Đỗ Đức Lấp tâm sự. Ngồi ôn lại chuyện cũ, CCB Nguyễn Tấn Hoàng cũng nhớ trong gần 10 năm làm báo vụ ở Trạm B54, rất gần nhà, nhưng do công việc đặc thù nên ông không thể liên lạc với gia đình.

Sau những tháng năm phục vụ trong quân ngũ, năm 1976, CCB Đỗ Đức Lấp chuyển ngành về công tác ở Công ty xuất nhập khẩu Thủ công mỹ nghệ thuộc Bộ Ngoại thương, còn CCB Nguyễn Tấn Hoàng tiếp tục công tác ở Tổng cục II cho tới khi nghỉ hưu. Giữa đời thường, trong những ngõ phố nhỏ hẹp hay tại các khu tập thể quân đội, họ cũng bình dị như bao cựu chiến binh hoặc công chức nghỉ hưu khác, chỉ tới khi được nghe những người lính trận ấy hàn huyên với đồng đội những kỷ niệm khó quên ở Trạm tình báo ngoài mặt trận, mọi người mới phần nào hiểu thêm về những công việc lặng thầm của họ.

Quang Huy – Trung Nguyên
qdnd.vn

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy và “7 nét đặc sắc”

QĐND – Sau khi hoàn thành khóa đào tạo phi công chiến đấu ở Liên Xô, Nguyễn Văn Bảy (A) về nước và được biên chế vào Trung đoàn Không quân tiêm kích 923. Biên đội MiG-17 của Nguyễn Văn Bảy là một trong những đơn vị bắn rơi nhiều máy bay địch.

Trận đánh ngày 26-4-1966 trên vùng trời Võ Nhai (Bắc Thái cũ) là trận đánh tuyệt đẹp, ghi dấu ấn riêng của Nguyễn Văn Bảy. Khi nhìn thấy mục tiêu, như một tia chớp, Nguyễn Văn Bảy bất ngờ xông thẳng vào giữa đội hình máy bay địch, làm cho chúng hốt hoảng tháo chạy toán loạn. Anh bình tĩnh bám chắc một chiếc. Tới cự ly có hiệu quả, bằng hai loạt đạn, Nguyễn Văn Bảy hạ gục tại chỗ chiếc máy bay tiêm kích F-4 vốn rất hung hăng của địch.

Phi công Nguyễn Văn Bảy, năm 1967.

Ba ngày sau, ngày 29-4-1966, trên vùng trời Việt Trì (Phú Thọ), biên đội của Nguyễn Văn Bảy bị một tốp rất đông máy bay tiêm kích địch bám đuổi. Anh lập tức quay lại đối đầu, buộc địch phải giãn ra né tránh. Biên đội anh giành được thế chủ động, nhanh chóng chớp thời cơ bắn rơi hai máy bay địch, riêng Nguyễn Văn Bảy bắn rơi một chiếc.

Trong hai tháng 6 và 7-1966, hơn một chục máy bay Mỹ bị các biên đội MiG-17 của Trung đoàn 923 bắn rơi, ta chỉ tổn thất một chiếc.

Ngày 5-9-1966, Nguyễn Văn Bảy cùng biên đội 4 chiếc MiG-17 quần nhau với 16 chiếc F-4 và F-105 của địch trên vùng trời Chí Linh (Hải Dương). Toàn biên đội đã giành chiến thắng rực rỡ, bắn rơi 3 máy bay địch và trở về an toàn. Riêng Nguyễn Văn Bảy bắn rơi một chiếc.

Chiều 12-12-1966, sau Đại hội anh hùng và chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước toàn quốc, Nguyễn Văn Bảy vinh dự cùng 37 chiến sĩ không quân có thành tích xuất sắc được lên Phủ Chủ tịch gặp Bác Hồ. Người tươi cười hỏi:

– Chú nào bắn rơi 4 máy bay Mỹ trở lên?

Đồng chí Chính ủy Quân chủng Đặng Tính báo cáo:

– Thưa Bác, đồng chí Bảy, đồng chí Mẫn và đồng chí Trung ạ!

Bác nói:

– Chú Bảy, chú Mẫn, chú Trung đâu, đứng lên cho Bác biết?

Cả ba người cùng đứng dậy sung sướng hướng lên phía Bác. Bác tỏ ra rất hài lòng, Người nói:

– Như vậy là tất cả các chú ở đây đều đã lập công xuất sắc, cả ba chú này đều bắn rơi nhiều máy bay Mỹ lập công xuất sắc nhất phải không?

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy trong vườn nhà hiện nay…

Tư lệnh Phùng Thế Tài báo cáo:

– Thưa Bác, đúng ạ! Riêng hai đồng chí Bảy và Mẫn lại luôn chiến đấu trong một biên đội. Trong trận chiến đấu ngày 5-9 vừa rồi, hai đồng chí đã diệt gọn cả một tốp hai chiếc F-8 của Mỹ, nên ngay tối hôm đó đã được Bác gửi tặng hai huy hiệu.

– Bác nhớ rồi. Hai chú đều quê ở miền Nam, chú Bảy ở Sa Đéc, còn chú Mẫn ở Bến Tre phải không? Bác hoan nghênh chiến công của tất cả các chú. Các chú đánh khá, nhưng đừng thấy Bác khen mà mũi to ra. Bắn rơi 4 chiếc còn ít. Các chú phải đánh giỏi, bắn rơi nhiều máy bay nữa để Bác vui, đồng bào miền Nam vui…

Nghe lời căn dặn của Bác, Nguyễn Văn Bảy chợt nhớ tới trận đánh rất thú vị ở cầu Giẽ, Hà Tây ngày 5-9-1966. Lúc ấy chiều muộn, Bảy và Mẫn đang được lệnh trở về sân bay. Bỗng anh phát hiện hai chiếc máy bay địch như hai chấm nhỏ ở phía trái. Chúng cũng phát hiện ra MiG nên đổi hướng, không vào đánh cầu Giẽ mà tăng tốc kéo dài hai vệt khói ra phía sau. Bảy tưởng chúng tăng tốc để tấn công các anh. Không dè, chúng đang lao nhanh chạy ra hướng biển. Bảy lệnh cho Mẫn: “Số 2 bắn chiếc bên trái!”. Bảy hô xong, liền tiếp cận và bắn cháy bùng ngay chiếc bên phải. Mấy giây sau, Mẫn cũng bắn nổ tung chiếc bên trái. Trận đánh gặp địch bất ngờ diệt gọn cả một tốp hai chiếc F-8 chỉ có 45 giây…

Chiều 23-4-1967, biên đội 4 chiếc MiG-17 bí mật hạ cánh xuống sân bay Kiến An-Hải Phòng, phục kích địch kéo vào từ phía biển. Vào lúc 16 giờ 30 phút, nhiều tốp F-4 và F-105 bay vào từ biển và đánh khu vực Đông Triều-Quảng Yên. Biên đội xuất kích, được dẫn vòng đến khu vực Sơn Động-Hà Bắc, thuận ánh mặt trời dễ quan sát. Số 2 Nguyễn Bá Địch báo cáo: “Địch bên phải, phía trước 10km!”. Biên đội trưởng Mẫn bình tĩnh ra lệnh: “Vứt thùng dầu phụ, tăng lực, số 2 theo tôi đánh tốp đầu, số 3 đánh tốp sau”. Sau vài phút rượt đuổi, Nguyễn Bá Địch hạ gọn một chiếc F-4. Đôi MiG-17 Nguyễn Văn Bảy và Nguyễn Thế Hôn lúc này đang quần nhau với 4 chiếc F-4 ở tầm thấp hơn. Thế trận xen kẽ, Nguyễn Văn Bảy đang bám hai chiếc F-4 phía trước. Sau anh lại có hai chiếc F-4 bám đuôi. Nguyễn Văn Bảy tiếp cận máy bay địch, dùng khẩu ca-nông 37mm bắn trúng chiếc F-8C của phi đội 24 do tên thiếu tá hải quân E.J.Tucker lái. Hắn nhảy dù và bị bắt. Những chiếc F-4B của Phi đội 114 hộ tống tìm cách gỡ bàn thua, lao vào công kích Bảy. Ьược đồng đội Nguyễn Thế Hôn thông báo, Bảy tài tình ngoặt gấp, tránh đ¬ược tất cả những quả tên lửa của địch phóng tới, thoát khỏi tình thế nguy hiểm…

Những trận đánh trên bầu trời không có chiến tuyến, không có công sự ẩn nấp. Lập công tiêu diệt địch và bị hy sinh diễn ra trong tích tắc. Trong bối cảnh địch đông, ta ít; đứa cơ động không chiến vòng trong với ta, thằng lảng vảng bên ngoài nhằm lúc MiG sơ hở, mải mê công kích để phóng tên lửa tiêu diệt. Những trận không chiến nh¬ư vậy, ta điêu luyện tả xung hữu đột vừa tiêu diệt địch vừa thoát được vòng vây. Nhưng lừa cho địch bắn vào nhau nh¬ư Nguyễn Văn Bảy là trường hợp hiếm có. Đó là trận đánh xảy ra vào giữa năm 1967 trên vùng trời Sơn Động-Hà Bắc. Lúc này, Nguyễn Văn Bảy chỉ huy Biên đội 4 chiếc MiG-17 quần nhau với 6 chiếc F-4 ở tầm thấp. Nguyễn Văn Bảy đuổi một chiếc F-4 vòng gấp, chỉ cách mặt đất 100m. Một chiếc F-4 bám theo anh và phóng tên lửa. Anh né tránh được trong chớp mắt, quả tên lửa lao vào thằng F-4 đang bị Bảy bám đuổi. Đó là kết quả của trí tuệ và tài nghệ điều khiển máy bay lật cánh tránh viên đạn bắn dọc lên, khiến vệt lửa xanh nối liền sang máy bay địch. Nguyễn Văn Bảy không tốn viên đạn nào mà vẫn tiêu diệt gọn một chiếc F-4…

Mỗi người anh hùng phi công thời chống Mỹ, cứu nước đều có những nét đặc sắc đáng nể. Riêng đối với Nguyễn Văn Bảy, cái tên “cúng cơm” của anh ứng với “7 nét đặc sắc”, đó là:

1- Anh đã bắn rơi 7 máy bay Mỹ bằng MiG-17, loại máy bay chỉ có hỏa lực là ca-nông bắn gần để đương đầu với tên lửa không đối không được phóng ra từ xa. Tốc độ máy bay của anh chỉ bằng 70% tốc độ các loại máy bay của Mỹ mà anh bắn rơi.

2- Anh là phi công duy nhất của MiG-17 đã thắng Mỹ đậm với tỷ số “7-0”, nghĩa là anh diệt 7 máy bay Mỹ và không để chúng bắn rơi, bắn bị thương người và máy bay mình lần nào.

3- Anh là một biên đội trưởng đã tạo được nhiều thời cơ để các chiến sĩ trong biên đội có cơ hội lập công, đồng thời anh cũng giành phần hiểm nguy về mình nhiều lần nhất.

4- Anh là một trong ba phi công được tuyên dương Anh hùng LLVT nhân dân đầu tiên, trong đợt tuyên dương anh hùng thời chống Mỹ, cứu nước đầu tiên ở miền Bắc, vào ngày đầu tiên của năm 1967.

…và trên ruộng lúa. Ảnh: Thanh Xuân

5- Anh là chiến sĩ không quân đầu tiên được bầu vào Quốc hội, là Anh hùng Không quân được mời tham gia Đoàn Chủ tịch các đại hội, các cuộc mít tinh của quân đội và Nhà nước nhiều lần nhất.

6- Anh là người chiến sĩ được gặp Bác Hồ nhiều lần nhất lúc Người còn khỏe mạnh, được thưởng 7 chiếc huy hiệu của Người. Ngày Bác mất, anh được đứng túc trực sau linh cữu của Người. Trong buổi lễ truy điệu Bác Hồ, anh dẫn đầu biên đội 12 chiếc MiG-17 bay qua quảng trường Ba Đình chào vĩnh biệt Người…

7- Năm 1990, Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Văn Bảy, nguyên Phó tham mưu trưởng Quân chủng Không quân, được nghỉ hưu. Ông đã rời thành phố trở về quê nhà, cần mẫn lao động làm kinh tế VAC, tích cực tham gia công tác địa phương, vận động bà con đoàn kết xây dựng nông thôn mới và đời sống văn hóa mới. Xin giới thiệu mấy hình ảnh của ông “Hai Lúa” Nguyễn Văn Bảy hiện nay ở quê nhà: xã Hòa Thanh, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp…

ĐINH MẠNH CƯỜNG
qdnd.vn

Hát dưới “mưa bom”

QĐND – Khác với hình dung của chúng tôi, cách Hà Nội ngót 40km, ngôi nhà của ông Lê Nguyên Bá giống như một khu du lịch sinh thái thu nhỏ ngự ở xã Hòa Nam, huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội. Càng ngạc nhiên hơn về chủ nhân của nó: Đã ngoài 70 mà phong thái của ông Bá vẫn trẻ trung, như thuở nào trong đội văn nghệ xung kích của Sư đoàn Phòng không Hà Nội hăng hái đi biểu diễn phục vụ bộ đội và nhân dân Thủ đô dưới làn bom đạn kẻ thù trong 12 ngày đêm rực lửa…

Ông Lê Nguyên Bá.

Ông kể, đội văn nghệ xung kích của ông lúc đầu là đội nghệ thuật quần chúng, được thành lập tháng 11-1972. Cả 27 thành viên của đội đều là các hạt nhân văn hóa văn nghệ từ các đơn vị được triệu tập về Phòng Chính trị sư đoàn, xây dựng chương trình và luyện tập chờ hội diễn quân chủng.

Tối 18-12-1972, máy bay Mỹ bất ngờ ném bom Hà Nội. Báo động toàn thành phố. Điện bị cắt, Hà Nội chìm trong màn đêm. Lúc này, đội đang ở Hòa Mục, nơi đóng quân của Phòng Chính trị. Tất cả xuống hầm.

Đợt bom thứ 3, Sở chỉ huy Sư đoàn Phòng không Hà Nội, trong đó có đội văn nghệ đang trú ẩn cũng bị trúng bom…

Ngay trong ngày đầu của chiến dịch 12 ngày đêm, cơ quan Sư đoàn Phòng không Hà Nội đã có 13 người hy sinh, trong đó 9 chiến sĩ trong đội văn nghệ của ông… Các chiến sĩ văn nghệ còn sống, ai cũng bị thương. Người được đưa về Viện Quân y 103, người về Bệnh viện Quân chủng điều trị.

Ngay hôm sau, đội văn nghệ nhận được lệnh giải tán. Tuy nhiên, Chính ủy Trần Văn Giang đồng ý cho đội ở lại phục vụ bộ đội. Lê Nguyên Bá lúc ấy là Trợ lý của Cơ quan Chính trị sư đoàn, được giao làm đội trưởng.

Đội có 27 người, hy sinh mất 9, số còn lại đều bị thương. Hồng Bến gãy bả vai, Hồng Việt bị thương ở ngực… nhưng tất cả đều quyết tâm luyện tập, chuẩn bị cho đợt diễn đặc biệt. Là đội trưởng, điều đầu tiên ông trăn trở là làm sao phải có thêm tiết mục về đánh B-52. Có chút ít năng khiếu sáng tác, Nguyên Bá, Xuân Điềm, Ngọc Khôi cùng tìm tứ…

Ngay hôm sau, 6 ca khúc về đánh B-52 được ra đời. Tiếp đó là vài ba tác phẩm nữa. Lời lẽ giản dị, mộc mạc. Phần nhạc cũng đơn giản, dễ nghe, đại loại như: “Bê, bê, bê, bê là B-52. Bê, bê, bê, bê là bê lăn quay…”. Có bài hát rồi, các diễn viên miệt mài luyện tập. Nhà của Cơ quan Chính trị bị đánh sập, các chiến sĩ văn nghệ sang những ngôi nhà dãy bên, lợp tranh tre, nứa lá, tập dưới ánh đèn dầu tù mù và trong tiếng bom, đạn nổ rền.

Ngày 23-12, đội bắt đầu lên đường đi biểu diễn phục vụ bộ đội. Biểu diễn ngay bên thành công sự pháo, bên bệ phóng tên lửa. Trận địa, chỗ nào còn rộng thì được lấy làm sân khấu. Trang phục là quân phục. Mấy chiến sĩ nữ được phát vài hộp phấn trắng, thi thoảng bôi chút son màu lên môi, lên má. Trang âm đơn giản chỉ là hai chiếc đài li đô được gắn trên cây cọc gỗ cắm trên bãi đất, hai chiếc loa nén được bố trí hai bên “cánh gà”; nhạc cụ chỉ là mấy chiếc ghi-ta gỗ… Đội hát toàn thương binh, người quấn băng ở đầu, người ở chân nhưng ai cũng hát say sưa lắm. Hồng Bến hút hồn người nghe bằng giọng ca đằm chất quan họ khi song ca cùng Bích Luật… Tiết mục ngâm thơ “Tình yêu với bầu trời Hà Nội” của Hồng Việt đã làm không ít chiến sĩ rơi lệ. Các cây ghi-ta Xuân Điềm, Văn Bình; cây đàn tam của Cao Sinh góp phần làm các chương trình thêm sinh động. Còn như Xuân Điềm là người đa tài vừa sáng tác, vừa là nhạc công, vừa là ca sĩ.

Lần đội biểu diễn ở Đại đội 71, Trung đoàn 212- đơn vị chốt bảo vệ phía bắc cầu Đuống, đang hát thì máy bay địch đến, còi báo động rú vang. Đội ngừng hát. Ai có chuyên môn gì, về bộ phận ấy của đơn vị tham gia cùng chiến đấu. Chiến sĩ thông tin thì về Sở chỉ huy, người đến từ đơn vị pháo thì ra bê đạn cho pháo thủ… Máy bay Mỹ đi rồi, các chiến sĩ văn nghệ lại tiếp tục hát. Trong một giờ đồng hồ, máy bay Mỹ đến rải bom 4 lần, 4 lần anh em ngừng biểu diễn, rồi các giọng ca lại tiếp tục vang lên ngay khi tiếng máy bay xa dần…

Ông Bá nhớ như in lần biểu diễn cho Bộ đội Tên lửa trên đồi Kim Tiền, Kim Anh, Vĩnh Phúc. Khi đội văn nghệ vừa đến, cán bộ, chiến sĩ đã thức suốt đêm đánh giặc, vẫn hăng hái lao động chuẩn bị “sân khấu”. Mỗi người một việc, tay cuốc, tay xẻng chuẩn bị mặt bằng và khiêng những tấm phản kê ghép lại thành một sân khấu gỗ. Đội biểu diễn xong, mỗi chiến sĩ văn nghệ nhận được một bó hoa chúc mừng. Lê Nguyên Bá tâm sự, có lẽ những bó hoa dại anh em hái quanh trận địa năm ấy là những bó hoa đáng nhớ nhất mà ông đã nhận được trong cuộc đời nghệ sĩ.

Không chỉ hát cho bộ đội nghe, các chiến sĩ văn nghệ còn biểu diễn phục vụ cả nhân dân các địa phương: Gia Lâm, Đông Anh, Thanh Trì, Hà Nội. Ở đâu, đoàn cũng nhận được sự yêu mến đặc biệt của khán giả. Một lần diễn ở Giang Biên, Gia Lâm, tốp ca nam 7 người quấn băng cả 7, các cụ già lên tận sân khấu ôm lấy các con mà khóc.

Sau chiến dịch, Đội văn nghệ xung kích còn được giữ lại đến tháng 4-1973, qua nhiều nơi phục vụ bộ đội và nhân dân.

Đã 40 năm trôi qua, đội văn nghệ ngày ấy nay vẫn thường xuyên gặp nhau, cùng nhau ôn lại kỷ niệm một thời oanh liệt. Lê Nguyên Bá đã ở tuổi 72 nhưng cái chất văn nghệ vẫn cháy ở trong ông như thời trai trẻ. Ông vẫn làm thơ, sáng tác nhạc, dàn dựng chương trình văn nghệ cho địa phương, tham gia các cuộc thi. Ông đã từng nhận nhiều giải thưởng cho các sáng tác thơ, các chương trình biểu diễn nghệ thuật. Song có một niềm vui, niềm tự hào bất tận luôn dâng ngập lòng ông, khó có gì sánh nổi đó là: Đội văn nghệ của ông năm ấy và những ngày tiếng hát át tiếng bom đã góp phần cùng quân và dân Hà Nội làm nên chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không”.

Bài và ảnh: HỒNG LINH
qdnd.vn

Người phi công “tám phút diệt hai máy bay”

QĐND – Đó là Trung úy Hoàng Tam Hùng -Phi công tiêm kích thuộc Trung đoàn 927 (Sư đoàn 371). Bằng hai quả tên lửa, anh đã bắn rơi tại chỗ hai chiếc máy bay địch.

Trong ký ức người thân

Trung úy Hoàng Tam Hùng là con cả trong gia đình có 8 anh chị em. Ba anh là ông Hoàng Anh, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Phó thủ tướng Chính phủ. Ba mẹ anh đều là người sinh ra và lớn lên ở Bình Trị Thiên và sớm đi theo cách mạng. Năm 1958, khi ông Hoàng Anh làm Bộ trưởng Bộ Tài chính thì cả gia đình chuyển về Hà Nội sinh sống. Nói về anh trai mình, chị Hoàng Thị Lương Hòa -em gái liệt sĩ Hoàng Tam Hùng kể lại: “Tháng 10-1965, khi đang là học sinh lớp 10, anh Hùng tham gia tuyển chọn và trúng tuyển phi công. Năm 1966, anh được cử sang Liên Xô học lái máy bay quân sự. Năm 1969, anh về nước, tham gia đội hình chiến đấu của Trung đoàn Không quân tiêm kích 927 (Sư đoàn 371). Ban đầu anh là phi công MiG-17, nhưng sau đó do yêu cầu nhiệm vụ anh tiếp tục được chuyển loại sang lái máy bay MiG-21. Tháng 12-1972, anh được biên chế vào đội phi công bay ngày của Trung đoàn không quân tiêm kích 927. Ngày 28-12-1972, trong trận không chiến với không quân địch, sau khi hạ được hai chiếc máy bay Mỹ, anh đã anh dũng hy sinh”.

Liệt sĩ, phi công Hoàng Tam Hùng. Ảnh: Thành Trung

Tiến sĩ Nguyễn Sỹ Hưng, nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị Vietnam Airlines, là bạn thân của Hoàng Tam Hùng xúc động nói: “Trong trái tim tôi, Hoàng Tam Hùng không chỉ là người bạn chí tình chí nghĩa mà còn là một anh hùng”!

Hiện gia đình anh còn lưu giữ được bài báo “Giây phút thần kỳ trên cao” của tác giả Hà Bình Nhưỡng đăng trên trang 2 Báo Quân đội nhân dân số ra ngày 13-1-1973 và bài “Thông tin về trận đánh ngày 28-12-1972” của tác giả Nam Liên dịch từ cuốn hồi ký của các cựu phi công Mỹ từng tham gia chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ 2, đều có nhắc đến thông tin về anh.

8 phút thần kỳ

Ngày 28-12-1972, địch tiếp tục kéo vào đánh phá Hà Nội. Theo lệnh của trên, Trung đoàn 927 xuất kích một biên đội chặn đánh địch từ phía tây sang. Vào lúc 11 giờ 20 phút, biên đội Lê Văn Kiền -Hoàng Tam Hùng đang trực ở sân bay Nội Bài thì nhận được lệnh cất cánh vòng chờ tại đỉnh sân bay. Phát hiện địch vào hướng đông nam, chỉ huy Trung đoàn 927 đề nghị biên đội bay theo hướng 150 độ xuống phía nam chặn đánh những tốp địch từ biển vào. Hơn một phút sau, biên đội phát hiện địch ở bên trái 45 độ, cự ly 10km, chúng bay thành hai tốp ở hai độ cao khác nhau. Tiếp đó, biên đội lại phát hiện tiếp một tốp 4 chiếc phía trước ở cự ly 8km. Biên đội xin phép đánh tốp phía trước. Sở chỉ huy cho dùng tốc độ lớn vào công kích và nhắc công kích xong thoát li bên phải.

Ngay lúc đó, số 1 Lê Văn Kiền và số 2 Hoàng Tam Hùng tăng lực đuổi theo tốp máy bay địch phía trước. Khoảng cách thu lại rất nhanh. Số 1 bám chiếc máy bay phía trái đội hình địch, nhắc số 2 cảnh giới rồi lao về phía địch. Chưa kịp phóng tên lửa thì chiếc máy bay địch đã đột ngột chúi xuống, khiến cho máy bay của Lê Văn Kiền vọt qua trên lưng nó. Không kịp bám chiếc khác, số 1 lệnh cho số 2 vào công kích rồi vòng lại phía sau làm nhiệm vụ cảnh giới cho số 2. Rất nhanh, Hoàng Tam Hùng vượt lên bám được một chiếc và đưa nó vào vòng ngắm. Quả tên lửa từ máy bay Hùng phóng ra nổ trúng mục tiêu. Chiếc máy bay địch bốc cháy rơi xuống, đó là loại máy bay trinh sát RA-5C. Theo thông tin trong cuốn hồi ký của các cựu phi công Mỹ thì đây là máy bay RA-5C thuộc phi đội trinh sát 13 do Thượng úy A.H.Agnel và Trung úy MF.Halfey điều khiển. Thượng úy Agnel nhảy dù sống sót, còn Trung úy Halfey bị chết ngay tại trận.

Thấy đồng bọn bị tấn công, những tốp F-4 bay phía trái vòng quay lại. Lúc này địch đông hơn nhiều và biên đội cũng không còn bám được nhau. Cả hai lao vào quần nhau với những chiếc F-4 trên bầu trời Phủ Lý. Hoàng Tam Hùng đã bám được một chiếc F-4. Lúc này, trong cáp nghe vang lên tiếng từ sở chỉ huy cho thoát li về sân bay Nội Bài hạ cánh, nhưng Hùng đang mải bám theo chiếc F-4 và cố đưa nó vào vòng ngắm nên anh không trả lời. Chiếc F-4 trước mặt đã nằm gọn trong vòng ngắm, anh ấn nút phóng quả tên lửa còn lại. Chiếc F-4 chững lại, rơi xuống kéo theo một quầng lửa. Hùng hô rất to: “Cháy rồi”! Chính vào thời điểm đó, một quả tên lửa địch từ chiếc F-4 bay phía sau đã bắn trúng máy bay Hùng. Anh không kịp nhảy dù nên đã anh dũng hy sinh. Lúc đó là 11 giờ 28 phút.

Như vậy, sau 8 phút từ lúc cất cánh, với hai quả tên lửa, phi công Hoàng Tam Hùng đã bắn rơi hai máy bay địch trong trận đánh cuối cùng của anh. Cũng từ thông tin trong cuốn hồi ký của phi công Mỹ tham gia chiến dịch 12 ngày đêm tháng 12-1972, thì chiếc máy bay F -4 bắn Hoàng Tam Hùng do hai Trung úy Scott H.Davis và Geofrey điều khiển sau đó bị tai nạn rơi xuống biển ngày 3-5-1973.

NGUYỄN THÀNH TRUNG
qdnd.vn

Từ tiểu thuyết đến cuộc đời

Người “bắt thóp” giặc lái B-52:

QĐND – Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt cuốn tiểu thuyết “Mảnh giấy bạc” của nữ nhà báo trẻ Nguyễn Thị Thu Thủy, sinh năm 1981, hiện là phóng viên Báo Vĩnh Phúc. Tuy là tiểu thuyết nhưng tác phẩm mang… tính thời sự vì nó gắn với câu chuyện người chiến sĩ tình báo mang tên Mạc Lâm và cuộc chiến đấu đánh trả B-52. Đáng chú ý, nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết được viết từ một nguyên mẫu có thật, một chuyên gia hỏi cung giặc lái Mỹ. Ông là Đại tá Phan Mạc Lâm, nguyên Chánh văn phòng Tổng cục II-Bộ Quốc phòng, từng là cán bộ Cục Quân báo chuyên khai thác tù binh suốt hai cuộc kháng chiến…

Đại tá Phan Mạc Lâm. (ảnh: Tuấn Nghĩa)

Người trong tiểu thuyết

Trong tiểu thuyết, câu chuyện về Mạc Lâm khá “ly kỳ”: Chàng lính trẻ Mạc Lâm công tác tại bộ phận khai thác xét hỏi tù hàng binh bị bệnh sốt rét kinh niên phải vào bệnh viện đã gặp Mary Hương, một nữ tình báo viên được quân đội Pháp cài lại sau đó tiếp tục làm việc cho quân đội Mỹ. Mary Hương với sự quyến rũ và thủ đoạn “hồ ly” đã tạo thiện cảm cho Mạc Lâm rồi tìm cách đánh cắp tài liệu khai thác tù binh mà anh phải mang cả vào bệnh viện nghiên cứu vì quá gấp rút. Thị hí hửng vì đánh cắp được mảnh giấy bạc bút tích của Mạc Lâm cho thấy Quân đội nhân dân Việt Nam hiểu biết quá mơ hồ về B-52 mà hoàn toàn không biết rằng đó chỉ là một màn kịch do lực lượng tình báo ta dựng lên để che mắt địch… Sự thực, Mạc Lâm cũng như quân đội ta hiểu rất kỹ, rất sâu về B-52 và “mảnh giấy bạc” đã gắn với số phận “bạc mệnh” của những kẻ xâm lược và bán nước…

Trao đổi với chúng tôi, nữ nhà báo trẻ Nguyễn Thị Thu Thủy cho biết: Ngoại trừ tình huống cuộc gặp gỡ trong bệnh viện và nhân vật Mary Hương được hư cấu, câu chuyện về người cán bộ tình báo Mạc Lâm hoàn toàn có thật. Thu Thủy đã may mắn được gặp gỡ, được nghe Đại tá Phan Mạc Lâm nhiều lần kể về cuộc đời khai thác tù binh, đặc biệt là tù binh giặc lái Mỹ với rất nhiều câu chuyện về tài trí tuyệt vời của những chiến sĩ tình báo cùng bao đóng góp thầm lặng cho một “Điện Biên Phủ trên không”, đúng như đánh giá của Đại tướng Văn Tiến Dũng, họ đã làm được nhiều việc “không thể kể ra”…

Từ những trang viết đầy cảm xúc của Thu Thủy, chúng tôi đã tìm đến những người trong cuộc cùng thời với Đại tá Phan Mạc Lâm để tìm hiểu về cuộc đời thật của ông. Thiếu tướng Vũ Thắng, nguyên Phó cục trưởng Cục Quân báo (Cục 2)-Bộ Quốc phòng, cho biết: Cục 2 ngày ấy đã nghiên cứu, nắm bắt về B-52 từ năm 1960 và tiếp tục nhiều năm sau này, qua nhiều kênh khác nhau. Trong đó, kênh khai thác tù hàng binh nổi lên có Phan Mạc Lâm, một cán bộ là chuyên gia khai thác tù binh từ thời đánh Pháp. Mạc Lâm giỏi tiếng Pháp, riêng tiếng Anh thì chưa vượt trội so với nhiều cán bộ khác, nhưng Mạc Lâm có tài tiếp cận, khai thác tù binh rất giỏi và từ đó lấy được nhiều thông tin rất giá trị về B-52.

Để có được những thông tin giá trị

Phan Mạc Lâm sinh năm 1928 tại xã Hoa Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An trong một dòng họ nhiều danh nhân yêu nước như Phan Đăng Lưu, Phan Đăng Tài… Bố ông là một thầy giáo nổi tiếng trong vùng và giỏi tiếng Pháp, nên dù nhà nghèo, ông vẫn được cha mẹ cho vào học ở trườngCollege thành phố Vinh. Từ năm 1945, ông đã tham gia làm liên lạc cho lực lượng Việt Minh. Năm 1948, nhờ giỏi tiếng Pháp nên ông được biên chế về Phòng Khai thác thông tin tù binh thuộc Cục Quân báo với nhiệm vụ phiên dịch, khai thác tin tức tài liệu từ tù binh, hàng binh. Cũng từ đây, cuộc đời ông gắn liền với việc tiếp cận, xét hỏi, khai thác thông tin từ tù binh và hàng binh. Trong đội hình cán bộ của phòng, Mạc Lâm là cán bộ trẻ nhất.

Trong kháng chiến chống Pháp, ông đã được tham gia hỏi cung nhiều tù binh, trong đó có cả bại tướng Đờ Cát-xtơ-ri. Thời kỳ này, có một cuộc hỏi cung không thể nào quên trong cuộc đời nhà tình báo Mạc Lâm. Ấy là khi ông được hỏi cung một hàng binh Pháp tại Phú Thọ. Tên này đã khai báo, nhấn mạnh sức mạnh quân đội Pháp và khuyên ta không nên tấn công kẻo chuốc lấy thất bại. Nhìn thái độ của y có vẻ tự tin, không hề lộ ra sự mệt mỏi, lo lắng của kẻ thất bại, Mạc Lâm sinh nghi, phán đoán rằng tên này có thể trá hàng. Ông mạnh dạn báo cáo với cấp trên suy nghĩ của mình. Quả nhiên, ít lâu sau, khi Đờ Cát-xtơ-ri bị bắt, quân ta đã xác minh được y chính là một sĩ quan trá hàng của Đờ Cát-xtơ-ri.

Nữ nhà báo Thu Thủy khi tiếp xúc với Phan Mạc Lâm đã được ông kể lại chuyện khai thác An-vơ-rét, phi công Mỹ đầu tiên bị bắn rơi ở Quảng Ninh và bị bắt làm tù binh. Ban đầu, An-vơ-rét rất ngoan cố, dữ dằn, ánh mắt vằn những tia lửa phản kháng, không ăn, không ngủ, chỉ gào thét, đập phá suốt đêm. Nhưng rồi, từ sự chăm sóc, chữa bệnh chu đáo, sắp xếp nơi ăn ở, cách ứng xử rất nhân đạo cùng những chia sẻ về tuổi trẻ, ước mơ và hoài bão mà Mạc Lâm khơi gợi lên… đã khiến An-vơ-rét dần dần bị thuyết phục. Qua cuộc khai thác này, ta đã có được những thông tin hết sức quan trọng để đánh giá sự kiện Vịnh Bắc Bộ.

Một trong những tù binh khiến Phan Mạc Lâm ấn tượng nhất là Giôn Mắc-kên, một thiếu tá phi công sinh ra trong gia đình danh gia vọng tộc về quân sự, có cả ông nội và bố đều là đô đốc, tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương. Mắc-kên là niềm tự hào, là người hùng của không quân Mỹ được tin tưởng sẽ dễ dàng đánh sập Nhà máy điện Yên Phụ, không thất bại như nhiều phi công khác. Anh này ban đầu cũng rất bất cần, không cần ai cứu. Nhưng đến khi Mạc Lâm mang đến cho anh ta một cuốn tạp chí hải quân Mỹ có hình đô đốc, cha Mắc-kên thì anh ta thốt lên xúc động và dần đổi khác… Tương tự với tên phi công Đen-tơ bị bắt sau phi vụ đánh cầu Hàm Rồng bất thành, cuộc “viếng thăm” lúc nửa đêm mà Mạc Lâm bất ngờ thực hiện cùng câu nói buột miệng của anh ta-người từng học thuộc 7000 trang tài liệu tối mật về chính sách quốc phòng của Mỹ đối với Việt Nam đã hé lộ thông tin quan trọng về B-52. Đêm hôm ấy, Mạc Lâm ngồi ngay vào bàn, viết ngay bản báo cáo. Khi xong, trời vừa hửng sáng…

Giữa “ma trận” thông tin

Ngày 6-7-1972, theo chỉ thị của Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Bộ Tổng tham mưu đã tổ chức một cuộc họp rất kín và rất… hẹp chỉ gồm 10 người để bàn về cách đánh B-52. Mở đầu hội nghị, một chiến sĩ tình báo trẻ tuổi đã đứng lên trình bày bản báo cáo dài 30 trang về B-52. Đó là một báo cáo trung tâm, cung cấp thông tin và tạo cơ sở cho hội nghị thảo luận. Người trình bày bản báo cáo ấy là Phan Mạc Lâm. Hồi ức của Đại tá Phan Mạc Lâm đã được nữ nhà báo Thu Thủy ghi lại như sau:

“Tôi được Cục trưởng Cục 2 chỉ định tham gia hội nghị của Bộ Tổng tham mưu ngày 6-7-1972 để trình bày nội dung chuyên đề đặc biệt vừa nghiên cứu. Tôi là người đầu tiên của Cục Quân báo trình bày những nội dung làm cơ sở cho việc thảo luận. Tôi đưa trang tài liệu về lời khai của một phi công tù binh Mỹ, trong đó có đoạn:

– Thưa ông! Người ta đang chuẩn bị đánh vào Hà Nội, Hải Phòng…

– Anh nói sao? Mỹ sẽ dùng B-52 đánh Hà Nội, Hải Phòng?

Người tù binh tỏ ra sợ sệt những vẫn nói giọng tự tin:

– Vâng! Đúng thế. Sắp tới Mỹ sẽ dùng B-52 đánh Hà Nội, Hải Phòng!

– Anh có thể nói rõ hơn?

– Thưa ông! Cách đây 10 ngày, tôi được tham gia trong đội hình diễn tập dùng B-52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng. Đó là một cuộc tập trận quy mô lớn phối hợp tác chiến mà lực lượng chủ yếu là B-52. Trong đội hình chiến đấu cùng B-52 còn có máy bay trinh sát RF4C, QF4C, các loại máy bay F105, F4D, máy bay gây nhiễu điện tử EC121, đội cấp cứu và chỉ huy trên không…

Tôi đã hỏi kỹ, đưa ra nhiều tình huống để kiểm tra tính xác thực của những thông tin người tù binh khai báo. Cộng thêm với lời khai của tên Đen-tơ đã từng đánh phá Thanh Hóa, tôi đi tới khẳng định: Tin về Mỹ dùng B-52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng là đúng. Tôi mừng lo lẫn lộn. Mừng vì có thêm thông tin mới mà cấp trên đang cần để giúp ta chuẩn bị đối phó với âm mưu của kẻ thù. Nhưng nghĩ đến hàng trăm B-52 ném bom rải thảm xuống Hà Nội, nơi đầu não cách mạng, nơi tập trung đông dân nhất, lòng tôi thắt lại.

Bìa cuốn tiểu thuyết “Mảnh giấy bạc” của nhà báo Nguyễn Thị Thu Thủy.

Suốt những ngày sống cùng những phi công tù binh, tôi đặc biệt quan tâm khai thác những tin tức liên quan tới B-52. Quả thật, B-52 có một sức mạnh khác thường mà như hăm dọa của Mỹ, có thể đưa Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá. Phần lớn các loại máy bay chiến thuật F4, F105 đều được tham gia diễn tập với các đơn vị không quân chiến lược B-52 trong cuộc tập kích đường không chiến lược. Muốn tổ chức một chiến dịch dùng B-52 đánh vào Hà Nội phải có nhiều thành phần khác trong hoạt động yểm trợ như hộ tống, chế áp tên lửa, cao xạ đối phương, kể cả việc chiếm lĩnh ưu thế trên cao của các đơn vị F4, F105 ở các căn cứ không quân Thái Lan, kể cả cấp cứu, nghi binh…

Cuộc gặp ngắn ngủi với Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong buổi sớm hôm ấy đã cho tôi những kinh nghiệm mới cho các lần khai thác tù binh tiếp theo. Gương mặt Đại tướng bình thản nhưng không che nổi niềm lo âu. Ông vẫy tay, tôi lại ngồi bên cạnh, Đại tướng nói:

– Sức khỏe của đồng chí có tốt không? Có đủ sức đối phó với B-52 không?

Tôi hiểu, đây không chỉ đơn giản là cuộc tới thăm anh em mà tin về B-52 đánh Hà Nội, Hải Phòng quan trọng vô cùng khiến Đại tướng đích thân đến kiểm tra lại.

– Dạ, thưa thủ trưởng! Chúng tôi đã sẵn sàng-Giọng tôi rắn rỏi mà không tự tin lắm. Bởi khai thác, thẩm định tin tức là thế, nhưng chiến tranh, biết thế nào?

– Thế còn lực lượng không quân chiến lược? Điểm mạnh, điểm yếu của B-52? Các cậu nắm như thế nào?

– B-52 là loại máy bay ném bom chiến lược hạng nặng do hãng Boeing sản xuất theo đơn đặt hàng của Bộ Quốc phòng Mỹ. Mỗi tốp B-52 ba chiếc có thể rải thảm 60-90 tấn bom trên một diện rộng thay cho 120-150 máy bay cường kích đánh phá. B-52 được cải tiến “khôn ngoan” bằng hệ thống gây nhiễu đánh lừa ra-đa đối phương.

– Các đồng chí cần tập trung khai thác về B-52, không bỏ qua những chi tiết dù là nhỏ nhất. Như vậy, chúng ta cũng khẳng định được sự nguy hại của B-52.

Đại tướng nhẹ nhàng cầm tay tôi, cái cầm tay trong thoáng giây như lo sợ vận mệnh của toàn đất nước…

Suốt một tuần trời tôi không tài nào chợp mắt. Tôi trở dậy châm thuốc liên tục. Bầu trời đêm nào cũng như nghẹt thở, không biết bão tố sẽ ập đến lúc nào…”.

Được tiếp cận, khai thác nhiều tù binh qua hai cuộc kháng chiến đã cho Mạc Lâm một bề dày kinh nghiệm vô giá. Sau mỗi lần khai thác, khi chắp bút viết bản báo cáo với ông luôn là sự trăn trở, đắn đo bằng cả con tim và khối óc. Ông tâm sự: “Tôi ngồi suy nghĩ, lần lại các chi tiết… Báo cáo của tôi có thể bị địch cho leo cây như hồi tên tù binh trá hàng ở Điện Biên Phủ! Có thể lắm chứ?”. Nhưng rồi, với tư duy lô-gích và biện chứng, Mạc Lâm lập luận: “Lừa ta, nhưng nằm trong nhà tù của ta, tên tù binh được gì? Thực chất, chính phía Mỹ đang bỏ rơi những phi công như hắn nếu B-52 vào, dưới làn bom rải thảm, Hỏa Lò lại ở giữa Thủ đô, bọn tù binh phi công có thoát chết không?”. Ông đã đem vấn đề này ra bàn bạc và được Cục trưởng Phan Bình ghi nhận là có lý, cho rằng quân Mỹ “số một thế giới” về mức độ tinh vi, xảo quyệt, lắm mưu nhiều kế và bất chấp thủ đoạn”. Từ đó, những kết luận về B-52 được “định vị” đúng, không thay đổi!

ĐẠI BÀNG
qdnd.vn

Lực lượng “cưỡi mây giết giặc”

QĐND – Đó là một lực lượng đặc biệt của quân đội ta, ra đời những năm chống Mỹ và tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi nên ít người biết đến. Dẫu vậy, lực lượng này cũng kịp lập nên những chiến công rạng rỡ mà bây giờ, cho dù 58 năm đã trôi qua, những người trong cuộc vẫn rất đỗi tự hào về một thời “đu trời giết giặc”…

Không bong gân không phải… lính dù

Mùa thu này tròn 58 năm kỷ niệm ngày thành lập Sư đoàn 305, tiền thân của Bộ tư lệnh Dù năm xưa (30-8-1954 – 30-8-2012). Đại tá Nguyễn Hữu Đạc, Giám đốc Bảo tàng Phòng không -Không quân “bật mí” rằng sẽ có cuộc hội ngộ của những người lính đặc biệt thuộc Bộ tư lệnh Dù ra đời thời chống Mỹ. Chỉ tay về phía hai người lính già đầu bạc trắng, anh Đạc giới thiệu: “Kia là Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh -nguyên Chính ủy Bộ tư lệnh Dù và Thượng tá Đặng Văn Nhơn -Chủ nhiệm Dù ngày đó”.Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh cho hay, việc ra đời “bộ đội dù” xuất phát từ sức nóng của chiến trường.Đầu năm 1961, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh quyết định thành lập Lữ đoàn Dù 305, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc, chi viện miền Nam. ông đã may mắn trở thành chính ủy đầu tiên của lữ đoàn và còn lập nên một kỷ lục quân sự: Là chiến sĩ đầu tiên của quân đội ta thực hiện nhảy dù.

Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, Chính ủy đầu tiên của Bộ tư lệnh Dù.

Vạn sự khởi đầu nan, “cánh lính dù chúng tôi lúc ấy, anh nào cũng có một điểm chung là cái chân lúc nào cũng tập tễnh. Không bong gân không phải lình dù”, Đại tá Đàm Trọng -nguyên Đại đội phó công binh dù nhớ lại.

Huấn luyện tinh nhuệ mà vẫn an toàn

“Bộ đội dù” thuộc loại binh chủng có trang thiết bị kỹ thuật cao để bảo đảm tính cơ động và đột kích nhanh nhất, nên chi phí rất tốn kém và được gọi là binh chủng của “quân đội nhà giàu” với hệ thống sân bay, máy bay các loại, hàng vạn chiếc dù cùng các trang thiết bị khí tài khác rất đắt tiền. Bốn chiếc dù ngày đó trị giá bằng một chiếc xe Mô -kô-vích và mỗi chiếc dù chỉ sử dụng được cho 25 lần nhảy. Tuy nhiên, bộ đội ta phải huấn luyện kiểu… nhà nghèo, tiết kiệm dù. Trước khi nhảy dù, họ phải tập luyện nhảy các “bậc tam cấp” ở dưới đất rất vất vả.

Thượng tá Đặng Văn Nhơn kể: Đào tạo một anh phi công bao nhiêu cân thì mất bấy nhiêu vàng. Đào tạo một anh lính dù thì bằng nửa số vàng ấy. Lúc đó, nhân dân Bắc Giang đã bảo đảm hậu cần cho chúng tôi, đội quân “nhà giàu” lớn lên từ rau cháo của những người dân nghèo mà giàu tình nghĩa”.

Theo ông Nhơn, muốn làm “bộ đội dù”, cần nhất phải có lòng dũng cảm. Mỗi ngày nhảy dù một lần, anh em thường đùa nhau: Mỗi lần nhảy là một lần… sống lại. Đó là thử thách đầy khắc nghiệt và cũng là cảm giác mà không phải binh chủng nào cũng có được.

Người cán bộ chỉ huy cũng phải luôn luôn theo sát bộ đội, nếu ai còn băn khoăn, do dự thì kiên quyết không cho nhảy. Điều đó lý giải vì sao bộ đội dù của Việt Nam không bị tổn thất về người trong khi các nước trên thế giới hầu như đều có tổn thất. Các chuyên gia bạn đã đánh giá: “Hầu hết các nước trên thế giới huấn luyện nhảy dù đều có tử vong. Riêng Việt Nam thì không, đó là thắng lợi đặc biệt”.

Giữa lưng trời giết giặc

Chuyện hiếm trên thế giới, “bộ đội dù” vẫn diệt được máy bay địch. Đó là một sáng tạo độc đáo ở Việt Nam. Bộ đội ta đã sử dụng kinh khí cầu gắn mìn định hướng để tiêu diệt kẻ thù. Kinh khí cầu được thả lơ lửng tạo thành các chướng ngại vật trên không, giống như bãi chông mìn trên trời nhằm chống lại chiến thuật bay thấp, luồn lách theo các cửa sông, dải núi rừng vào đánh lén các mục tiêu quân sự, chính trị, kinh tế, cầu giao thông quan trọng ở miền Bắc nước ta.

Bằng cách này, chúng ta đã tiêu diệt được 3 máy bay địch, một máy bay AD6 của Mỹ ở Ninh Bình (1967), một ở dọc sông Hồng (1966) và một ở Quảng Trị (1966). “Hôm ấy sương mù dày đặc trời Ninh Bình, một tiếng nổ váng trời”Đại tá Đàm Trọng, nguyên là Đại đội phó Đại đội 15 công binh dù đã tham gia bẫy máy bay địch bằng kinh khí cầu làm nổ tung chiếc AD6 của Mỹ trên bầu trời Ninh Bình, nhớ lại.

Trên chiến trường Lào, “bộ đội dù” Việt Nam đã thả hàng ngàn tấn vũ khí, khí tài, lương thực an toàn đến tay các đơn vị chiến đấu ở Lào. Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, “bộ đội dù” đã góp phần quan trọng trang bị vũ khí cho Mặt trận Trị -Thiên.

Nhưng họ cũng phải chịu không ít mất mát, hy sinh. Có những chiến sĩ đã ngã xuống trên bầu trời Tổ quốc, có người tìm được hài cốt, có người chưa. Không cầm được những giọt nước mắt nghẹn ngào, Thượng tá Đặng Văn Nhơn tâm sự: “Lần ấy, tôi trực tiếp chỉ huy chuyến bay dù tiếp tế cho chiến trường Trị -Thiên. Bảy người đồng đội tôi mãi mãi ra đi trong chuyến bay ấy. Họ đã hoàn thành nhiệm vụ và khi quay trở về thì trúng đạn của

Bài và ảnh: Nguyễn Hương Bưởi
qdnd.vn

Bước ngoặt 1972: Thành công của sự chỉ đạo chiến lược

Ngay từ đầu năm 1972, Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương đã đề ra chủ trương kiên quyết đánh bại địch bằng kết hợp ba đòn chiến lược: Đẩy mạnh tiến công của bộ đội chủ lực ở những hướng và chiến trường có lợi, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng; đẩy mạnh đòn tiến công và nổi dậy ở các vùng nông thôn đồng bằng quan trọng, kết hợp tiến công quân sự, chính trị và binh vận; đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân ở thành thị. Ba đòn chiến lược này cũng chính là ‘bàn đạp” giúp chúng ta khẳng định vị trí của mình tại bàn đám phán Paris.

Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình
trả lời phỏng vấn báo chí bên lề Hội nghị Paris

Đồng loạt tấn công

Thông tri của Ban Bí thư số 287, ngày 27-11-1972 về cuộc gặp giữa ta và Mỹ ở Paris

“Cuộc đấu tranh của ta trên ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao còn quyết liệt. Nhiệm vụ của ta là phải giữ vững và mở rộng thắng lợi trong đàm phán, phải giữ vững nội dung bản Hiệp định. Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta quyết chiến đấu đánh bại mọi âm mưu và thủ đoạn mới của địch để giành thắng lợi hoàn toàn, chứ nhất định không chịu khuất phục”

Sau hơn 2 tháng (kể từ tháng 3) mở cuộc tiến công chiến lược, quân và dân ta ở Trị Thiên, miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên đã vượt qua khó khăn gian khổ, hy sinh, chiến đấu ngoan cường, giành được những thắng lợi có ý nghĩa, đánh dấu sự phát triển mới cả về thế và lực của cách mạng miền Nam, tác động mạnh mẽ đến cục diện chiến trường, làm thất bại thêm một bước nghiêm trọng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ. Mặc dù sau đó, trong trận chiến khốc liệt, bi hùng để giữ Thành cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm (từ 25-6 đến 16-9-1972) không thành công và bộ đội ta bị tổn thất nặng phải lui vào thế phòng ngự, nhưng đánh giá một cách tổng thể, cuộc chiến đấu trên mặt trận Trị Thiên và Đông Nam Bộ, Tây Nguyên đã tạo ra bước chuyển biến căn bản tình hình chiến trường có lợi cho ta. Đây chính là lợi thế quân sự trên chiến trường, hỗ trợ hiệu quả và trực tiếp cho cuộc đấu tranh của ta trên bàn đàm phán ở Paris.

Trả lời nhận xét của Kissinger – Cố vấn của phái đoàn Mỹ sau khi kết thúc trận chiến ác liệt ở Quảng Trị, khi Kissinger cho rằng đứng về mặt quân sự mà nói, để giữ một cái Thành cổ, thì không ai lại đánh như thế cả – Cố vấn đặc biệt của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) tại Hội nghị Paris Lê Đức Thọ cho rằng “Đó là vấn đề chính trị, đánh để giành thế mạnh chính trị trong đàm phán thôi chứ còn đứng về quân sự thì không một ai vì một mảnh đất nhỏ đổ nát mà đánh như thế”.

Mặt khác, do quân và dân ta đánh mạnh ở các chiến trường miền Nam nên để hỗ trợ chính quyền và quân đội Sài Gòn, cứu vãn chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” đang có nguy cơ phá sản, Tổng thống Mỹ Nixon đã quyết định “Mỹ hóa” trở lại cuộc chiến tranh, huy động một lực lượng lớn không quân và hải quân ngăn chặn cuộc tiến công của ta đồng thời đánh phá trở lại miền Bắc. Trong bối cảnh ấy, phía Mỹ tiến hành chuyến thăm hai nước lớn trong phe XHCN là Trung Quốc (2-1972) và Liên Xô (5-1972) nhằm gây chia rẽ, cô lập, ngăn chặn, hạn chế sự chi viện to lớn của hai nước này đối với chúng ta.

Những chỉ đạo chiến lược

Năm 1972 là năm nhạy cảm trong nền chính trị Mỹ vì diễn ra cuộc bầu cử Tổng thống và Nixon có ý định tái tranh cử nhiệm kỳ hai. Việc giải quyết cuộc chiến tranh Việt Nam là liều thuốc thử, là thước đo sự tín nhiệm của người Mỹ đối với chiếc ghế của Nixon. Vì thế, đây là điều kiện thuận lợi để ta mở cuộc tiến công về ngoại giao, phối hợp với tiến công quân sự, nhằm đạt tới kết quả có lợi nhất. Trong tình hình ấy, đầu tháng 9, trong lúc chiến sự đang diễn ra ác liệt ở Quảng Trị, Đảng ta chủ trương trên bàn đàm phán: Đưa Mỹ đi dần vào thương lượng thật sự căn cứ vào bối cảnh tình hình quốc tế lúc đó, thế của ta và thế của địch, tình hình Mỹ trong năm bầu cử, cơ hội giải quyết hòa bình đã hé mở. Cần đẩy mạnh đấu tranh trên cả ba mặt trận: quân sự, chính trị, ngoại giao; tranh thủ giải quyết các nội dung đàm phán với Nixon trước ngày bầu cử ở Mỹ, đồng thời tích cực đề phòng khả năng tiếp tục chiến đấu sau kỳ bầu cử Tổng thống ở Mỹ.

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị, Bộ Ngoại giao đã soạn dự thảo Hiệp định và một số nghị định thư kèm theo. Ngày 4-10, Bộ Chính trị điện thông báo cho Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ VNDCCH Xuân Thủy chủ trương: Cần tranh thủ khả năng chấm dứt chiến tranh trước ngày bầu cử ở Mỹ, đánh bại âm mưu của Nixon kéo dài đàm phán để vượt qua tuyển cử… Ta cần ép Mỹ ký một hiệp định chính thức, có ngừng bắn tại chỗ, rút quân Mỹ và thả tù binh. Việc chấm dứt sự dính líu về quân sự của Mỹ ở miền Nam và ngừng bắn ở miền Nam đưa đến việc thừa nhận trên thực tế hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng ở miền Nam…là một thắng lợi có ý nghĩa quan trọng đối với cả hai miền trong điều kiện so sánh lực lượng hiện nay…ta cần gác lại một số yêu cầu khác của vấn đề nội bộ miền Nam.

Ngày 8-10, bản dự thảo Hiệp định được Đoàn đàm phán của ta đưa ra trong cuộc gặp riêng với phía Mỹ, với những nhân nhượng có tính đột phá. Sau khi nắm được các nội dung chủ yếu và hỏi rõ thêm những vấn đề sẽ tiếp tục thỏa thuận sau khi ký Hiệp định, Henri Kissinger đánh giá đây là “một văn kiện thật là quan trọng và rất cơ bản”. Hai bên đã thỏa thuận lịch làm việc chi tiết cho việc ký Hiệp định dự kiến vào 30 hoặc 31-10.

Sự lật lọng có chủ đích của Mỹ

Mặc dù Việt Nam đã có những nhân nhượng cơ bản, song phía Mỹ đã có mưu đồ mới, bắt đầu đưa ra những đòi hỏi, những yêu cầu mới, cụ thể có lợi cho Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Sở dĩ Mỹ có hành động như vậy vì qua thăm dò dư luận trước bầu cử, Nixon được cử tri Mỹ ủng hộ nhiều hơn ứng cử viên Tổng thống của Đảng Dân chủ Mark Gaven, chắc chắn sẽ vượt qua tuyển cử. Bên cạnh đó, sự phản ứng quyết liệt của chính quyền Sài Gòn về nội dung dự thảo Hiệp định đã làm Nixon lo ngại sẽ khó vượt qua cuộc bầu cử nếu không lưu tâm đến thái độ của Nguyễn Văn Thiệu và bỏ rơi chế độ Việt Nam Cộng hòa.

Sự tráo trở của Mỹ là điều ta hoàn toàn không bất ngờ. Ngày 23-10, Chính phủ ta gửi công hàm cho Mỹ: “Nếu phía Hoa Kỳ cứ viện cớ này, cớ khác để kéo dài đàm phán, trì hoãn việc ký kết thì nhất định chiến tranh Việt Nam sẽ tiếp tục và phía Hoa Kỳ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm”. Tiếp đó, ngày 26-10, Chính phủ ta ra tuyên bố về tình hình cuộc đàm phán về vấn đề Việt Nam hiện nay, yêu cầu Mỹ phải giữ đúng cam kết ký bản Hiệp định vào ngày 31-10 như đã thỏa thuận. Ngay sau khi Nixon đắc cử Tổng thống nhiệm kỳ 2. Mỹ đề nghị họp lại vào ngày 20-11 và đưa ra 69 điểm trong nội dung Hiệp định đề nghị sửa đổi theo yêu cầu của chính quyền Sài Gòn và 16 vấn đề về thực chất nội dung Hiệp định mà Kissinger yêu cầu xem xét lại, mâu thuẫn hoàn toàn với công hàm của Nixon gửi Chính phủ ta ngày 20-10: “Hiệp định bây giờ có thể coi là hoàn thành”.

Đáp lại thái độ lật lọng và đe dọa ném bom của Tổng thống Mỹ được thể hiện rõ trong cuộc gặp ngày 23-11, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đã đanh thép trình bày quan điểm của Việt Nam và quan điểm ấy sau đó cũng đã được thể hiện rõ trong Thông tri của Ban Bí thư số 287, ngày 27-11về cuộc gặp giữa ta và Mỹ ở Paris. Chính vì thái độ kẻ cả của Mỹ mà cuộc đàm phán đã trở nên bế tắc vào ngày 13-12 ngay trước cuộc tập kích B52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng.

Đàm phán Paris cuối 1972 – quan điểm từ hai phía”

Tôi thấy bực mình về giọng nói và thực chất trong phiên họp vừa qua. Trong hoàn cảnh như vậy, trừ phi phía bên kia tỏ ra sẵn sàng chú ý tới sự quan tâm hợp lý của chúng ta, tôi chỉ thị cho ông ngừng đàm phán và chúng ta sẽ phải tiếp tục lại các hoạt động quân sự cho đến khi phía bên kia sẵn sàng đàm phán theo điều kiện có danh dự. Phải làm cho phía bên kia từ bỏ những ý nghĩ của họ là chúng ta không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải giải quyết theo như điều kiện hiện nay. Ông phải trực tiếp báo cho họ là chúng ta có cách khác…chúng ta bây giờ sẽ tiến hành mọi hành động cần thiết để bảo vệ lợi ích của Hoa Kỳ”

(Trích thư của Nixon gửi Kissinger được Kissinger đọc công khai trong cuộc gặp của hai đoàn Lê Đức Thọ-Kissinger ngày 23-11-1972)

“Chúng tôi muốn hòa bình, nhưng thiện chí của chúng tôi cũng có mức độ. Nhân nhượng quá mức chỉ là đầu hàng trá hình. Nhân dân chúng tôi không bao giờ đầu hàng”

(Trả lời của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ ngay tại cuộc gặp ngày 23-11-1972)

PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà
Viện Lịch sử Đảng
Học viện CT – HC Quốc gia Hồ Chí Minh

daidoanket.vn

Kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris (27-1-1973 – 27-1-2013)

LTS: Ngày 27-1-2013, chúng ta kỷ niệm 40 năm Ngày ký Hiệp định Paris mở đường cho việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình trên toàn cõi Việt Nam. Trong cuộc kháng chiến trường kỳ ấy, có nhiều mốc son; một trong những mốc son đáng được ngợi ca chính là cuộc đối đầu giữa hai nền ngoại giao: Một của Mỹ với dầy dạn kinh nghiệm và một là của Việt Nam còn rất non trẻ. Thế nhưng, cuộc đàm phán kéo dài nhất trong lịch sử ngoại giao Mỹ và Việt Nam trong thế kỷ XX lại ghi danh người chiến thắng là Việt Nam. Từ số báo này, chúng tôi khởi đăng loạt bài viết nhân 40 năm Hiệp định Paris.

Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta ở miền Nam Xuân Mậu Thân 1968, Tổng thống Mỹ L. Johnson buộc phải xuống thang cuộc chiến tranh phá hoại bằng hải quân và không quân ở Miền Bắc và đề nghị tiến hành đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH). “Ngày mồng 2 Tết Mậu Thân sau một hôm nghỉ lễ, vừa tới cơ quan, mấy anh em chúng tôi được Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh triệu tập và cho biết: Các cậu phải chuẩn bị tính chuyện đàm phán đi!” – ông Nguyễn Khắc Huỳnh, thành viên của đoàn đàm phán VNDCCH nhớ lại.

Toàn cảnh Hội nghị Paris

Lập các tổ công tác, chuẩn bị đàm phán

Thực ra, trước đó, ngay từ cuối năm 1967, đón trước cục diện này, tại Bộ Ngoại giao ta có một tổ chức mới được thành lập gọi là Vụ II. Vụ này chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị Đảng ta lúc bấy giờ. Vụ II do Thứ trưởng Nguyễn Cơ Thạch chuyên trách, ông Phan Hiền làm Vụ trưởng. Đây là một đơn vị đặc biệt có nhiệm vụ nghiên cứu đưa ra lộ trình đấu tranh ngoại giao với Mỹ và chuẩn bị các giải pháp chính trị để kết thúc cuộc chiến tranh. Trong Vụ II có hai tổ công tác là tổ “Giải pháp” và tổ “Bước đi”. Tổ “Giải pháp” do ông Đinh Nho Liêm làm Tổ trưởng chuẩn bị các kịch bản từ cao đến thấp có thể sử dụng vào thời điểm ký kết Hiệp định tùy sự so sánh lực lượng lúc ấy. Còn tổ “Bước đi” do ông Võ Văn Sung làm Tổ trưởng. Tổ này chịu trách nhiệm nghiên cứu lộ trình kết hợp đàm phán ngoại giao với các bước đấu tranh quân sự trên chiến trường trong những năm 1968 – 1970. Tổ “Bước đi” là đầu mối tập trung nhiều điều cơ mật từ chiến lược đến cụ thể, cả về quân sự, chính trị và ngoại giao, vì vậy chúng tôi làm việc theo một quy chế giữ bí mật nghiêm ngặt nhất, nhằm đảm bảo tính chất bất ngờ và hiệu quả cao trong các đợt “Tấn công ngoại giao” của ta.” – ông Võ Văn Sung kể lại những ngày tháng ấy.

Lại nói về những ngày Tết Mậu Thân năm ấy, ông Huỳnh cho biết, ngay trong ngày 31-3-1968, sau khi Mỹ tuyên bố đơn phương ngừng ném bom, Bộ Chính trị Đảng ta họp để bàn, cân nhắc giữa 3 vấn đề. Nhận, không nhận, nhận thế nào? Sau đó, Bộ Chính trị quyết định không bác, không nhận nhưng nhận mức trung bình tức là nhận tiếp xúc. Cụ thể, nhân dịp Mỹ hạn chế ném bom miền Bắc ta nhận cử đại diện tiếp xúc với phía Mỹ để bàn chuyện xác nhận việc Mỹ hạn chế ném bom miền Bắc. Mấy ngày sau đó, nhóm công tác gồm các ông Phan Hiền, Trần Hoàn, Nguyễn Khắc Huỳnh đã thảo luận suốt 1 ngày 1 đêm để có bài trả lời hay nói cách khác là Tuyên bố của VNDCCH. Tuyên bố nói rõ, dù Mỹ chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của Việt Nam nhưng vì thiện chí hòa bình, Việt Nam sẵn sàng cử đại diện tiếp xúc với phía Mỹ. “Tiếp xúc để xác định việc Mỹ hoàn toàn chấm dứt ném bom miền Bắc trên cơ sở đó bàn các vấn đề liên quan. Chỉ riêng chữ “xác định” chúng tôi cũng mất đứt 3 tiếng để bàn cuối cùng thì tìm ra chữ này. Tức là anh phải chấm dứt ném bom miền Bắc tôi mới bàn chuyện khác lúc đó mới đi vào đàm phán thực sự.” – ông Huỳnh nói.

Bộ trưởng Xuân Thủy phát biểu tại một cuộc họp báo
ở Paris trong thời gian đàm phán

Hai giai đoạn của đàm phán

Đàm phán Paris diễn ra trong 4 năm 8 tháng 16 ngày; đã có tổng cộng 202 phiên họp công khai tại Trung tâm Hội nghị Kleber và 36 phiên họp riêng cấp cao tại nhiều địa điểm khác nhau ở Paris. Trong đó, giai đoạn thứ nhất (còn gọi là diễn đàn thứ nhất) là giữa h ai bên Việt Nam – Hoa Kỳ. Bộ trưởng Xuân Thủy dẫn đầu đoàn VNDCCH và Cố vấn đặc biệt là UV BCT Lê Đức Thọ. Đại sứ Harriman dẫn đầu đoàn Hoa Kỳ. Giai đoạn đầu kéo dài suốt năm 1968 (từ 13-5 đến tháng 10-1968) với 28 phiên họp công khai và 12 cuộc gặp riêng. Tại diễn đàn này, hai bên bàn việc Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc. Giai đoạn hai kéo dài hơn 3 năm (25-1-1969 đến 27-1-1973). Đây là giai đoạn giằng co với 174 phiên công khai và 24 phiên họp bí mật; là diễn đàn 4 bên gồm VNDCCH, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, sau là Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; còn bên kia là Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

Từ cuối năm 1970 đến năm 1973, ông Võ Văn Sung được điều động sang Paris. Cũng từ năm 1971, Vụ II đổi tên thành CP50. Công khai về mặt ngoại giao, ông Võ Văn Sung là Tổng Đại diện Chính phủ VNDCCH tại Pháp, nhưng nhiệm vụ chính là tham gia vào nhóm do Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ lãnh đạo đàm phán bí mật với đối tác phía Mỹ là ông Henri Kissinger. Ông Lê Đức Thọ là đại diện toàn quyền của lãnh đạo Việt Nam đối với tất cả các cơ quan và các phái đoàn chính thức, các tổ chức thuộc lực lượng kháng chiến hai miền Nam – Bắc Việt Nam tham gia đấu tranh ngoại giao tại Paris. Từ đầu năm 1971 đến cuối Hè năm 1972, nhóm “đàm phán bí mật” do ông Lê Đức Thọ lãnh đạo gồm có ông Xuân Thuỷ – Trưởng đoàn đàm phán VNDCCH tại Hội nghị bốn bên; các ông Phan Hiền và Võ Văn Sung được giao trách nhiệm theo sát nắm bắt tình hình trong quá trình thảo luận; ngoài ra có ông Nguyễn Đình Phương là phiên dịch cả tiếng Anh và tiếng Pháp. Cuối năm 1972 có thêm một số nhân sự của CP50 từ Hà Nội sang tham gia vào công việc dự thảo văn bản Hiệp định.

Ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris về Chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết. Có thể nói đây là một mốc son chói lọi nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam, đánh dấu bước ngoặt quan trọng của cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước; tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975. Về mặt ngoại giao, Hiệp định Paris đã kết thúc thắng lợi cuộc thương lượng kéo dài giữa Việt Nam và Hoa Kỳ sau gần 5 năm Hội nghị bốn bên công khai và sau hơn hai năm (1971 – 1973) tiến hành thảo luận thực chất trong cuộc “đàm phán bí mật” giữa đoàn Lê Đức Thọ và đoàn Henri Kissinger. Đây thực sự là việc chưa từng có trong lịch sử thế giới mà ta gọi là “vừa đánh, vừa đàm”. Kết quả cuộc thương lượng đã đáp ứng mong đợi của mọi người; nó làm cho toàn thế giới trút được gánh nặng tinh thần và tâm lý đè trĩu hàng chục năm.

P.V

(Ghi theo lời kể của các ông Võ Văn Sung
và Nguyễn Khắc Huỳnh -Thành viên đoàn
đàm phán VNDCCH)

daidoanket.vn

Gặp người lái xe cho Đoàn đàm phán Hiệp định Paris

(VOV) – 40 năm đã qua đi, nhưng câu chuyện như mới ngày hôm qua trong ký ức ông Michel Strachinescu.

“Tôi vẫn nhớ mãi những người đồng chí Việt Nam, nhớ mãi những chặng đường tôi đã cùng họ đi qua trong những năm tháng gắn bó với đoàn” – 40 năm đã qua đi, nhưng câu chuyện như mới ngày hôm qua trong ký ức ông Michel Strachinescu, người lái xe từng đưa đón đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trên những nẻo đường hoạt động và đấu tranh tại Pháp. Phóng viên VOV thường trú tại Pháp đã đến thăm và trò chuyện với ông Michel, một trong những người có vinh dự được Chính phủ Việt nam mời sang tham dự các hoạt động kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris.

“Chào đồng chí, đồng chí khỏe không? – hàng ngày chúng tôi đều nói với nhau như thế. Dù nhiều khi phải chờ đoàn và đưa đoàn về nhà vào 3h sáng, nhưng cảm giác vẫn thực sự tuyệt vời. Các nhân viên an ninh ở nhà vẫn ngóng đợi, rồi chúng tôi cùng nằm dài trên ghế trong phòng bếp, rủ nhau ăn gì đó vào lúc 3h sáng cho đỡ đói sau một ngày đi làm”.

Ông Michel Strachinescu

Không cần một câu hỏi nào, với giọng sang sảng và nụ cười luôn rạng rỡ, ông Michel Strachinescu bắt đầu luôn câu chuyện về đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, như thể chỉ mong có người để ông kể lại câu chuyện hơn 40 năm về trước.

Ông kể: Tôi đến với đoàn hoàn toàn tình cờ. Tôi lúc đó là thành viên Đảng Cộng sản, nhưng không phải làm nghề lái xe. Thế rồi Đảng Cộng sản Pháp cần có lái xe cho đoàn bà Nguyễn Thị Bình và đề nghị tôi làm. Tôi biết đó là một nhiệm vụ và trách nhiệm không nhỏ, nếu không nói là một vị trí quan trọng. Và tôi đã đồng ý và làm việc đó trong 4 năm. Ngoài ra, một nhiệm vụ khác của tôi là đem thư từ Verriere-le-Buisson đi gửi, vì thư từ lúc đó của đoàn lo ngại bị bưu điện kiểm duyệt nên chúng tôi trực tiếp mang đi, thường là mang vào bỏ vào thùng thư ở quận 16”.

Ông Michel Strachinescu là một trong 4 người từng đảm nhận nhiệm vụ lái xe cho đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt nam. Riêng ông thường xuyên lái xe cho bà Nguyễn Thị Bình, ông Lý Văn Sáu, ông Vương Đình Thảo và bà Nguyễn Thị Chơn.

Hành trình quen thuộc là từ căn nhà bà Nguyễn Thị Bình ở tại Verrière-le-Buisson đi tới khu chung cư mà các thành viên khác trong đoàn miền Nam sống ở Massy, rồi xuống Choisy-le-Roi họp với đoàn miền Bắc; hay ra Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber để đấu tranh trên bàn đàm phán chung 4 bên.

Hơn 4 năm ròng rã những chặng đường dẫu quen thuộc mà không phải lúc nào cũng bằng phẳng. Có những khi có cả hiểm nguy rình rập khi xe của đoàn gặp một nhóm người có tư tưởng chống đối Việt Nam. Hay có lúc tưởng đơn giản chỉ là chuyện xe đang chạy thì bị rơi mất lá cờ nhỏ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt nam treo ở đầu xe.

Ông Michel kể: “Hôm đó xe đang đi trên đường cao tốc, tôi nhớ tôi chở ông Lý Văn Sáu và một số thành viên trong đoàn, thì bất ngờ chiếc đế cắm cờ bằng nhôm bị gẫy, lá cờ nhỏ bay xuống đường. Một cách rất tự nhiên, tôi nghĩ rằng không thể nào để lại lá cờ mà phải nhặt lại bằng được. Tôi làm dấu hiệu khẩn cấp, dừng xe lại và bước xuống, len vào giữa dòng xe đang ầm ầm lao đến và nhặt vội lá cờ lúc đó bay ra xa khoảng 200m. Nhiều lái xe, có cả lái xe mô-tô đã hét lên tưởng tôi bị điên mà lao vào dòng xe khi ấy, về nhà kể lại cũng nhiều người bảo là nguy hiểm quá. Nhưng tôi vẫn nghĩ rằng nhất định không bao giờ tôi để lá cờ bị mất”.

Dù các thông tin về đàm phán được giữ kín, song những người bạn Pháp gắn bó với đoàn hàng ngày như ông Michel vẫn nhận được những chia sẻ tình cảm từ các thành viên trong đoàn đàm phán. Như ông nói “tôi đã trải qua vui, buồn cùng với các bạn, như một người Việt Nam thực sự”.

“Hai cuộc đấu tranh song hành, một trên chiến trường tại Việt Nam và một trên bàn đàm phán ở Pháp. Có những lúc buồn lắm, vì Mỹ ném bom giết hại bao nhiêu người Việt Nam. Tôi vẫn nhớ mãi một câu ông Lý Văn Sáu (tôi biết giờ ông đã mất rồi), ông Lý Văn Sau đã nói rằng: Bọn Mỹ có thể phá đất nước Việt Nam mười hay một trăm lần, nhưng rồi chúng tôi sẽ xây dựng lại gấp hai nghìn lần, tươi đẹp và phát triển hơn” – ông nói.

Riêng đối với bản thân và gia đình, ông Michel cũng từng phải vượt qua nhiều khó khăn, khó khăn những khi thời tiết giá lạnh, người lái xe phải ngồi ngoài trông xe chờ đoàn đàm phán, nhiều khi đến 2-3h sáng.

Tờ chứng nhận của chính quyền lâm thời miền Nam Việt Nam ông treo trân trọng giữa phòng khách

Đàm phán không tiến triển, mọi người trong đoàn cũng mệt và buồn bã. Hay khó khăn khi ông thường xuyên phải trở về nhà khuya, có khi lại đi ra khỏi nhà vào lúc sáng sớm hôm sau, vợ ông phải một tay quán xuyến việc nhà, chăm sóc 5 đứa con nhỏ.

Nhưng vượt trên tất cả, vợ chồng ông luôn cảm thấy vinh dự và tự hào khi số phận đã trao cho ông nhiệm vụ quan trọng, là một phần trong cuộc đấu tranh giành hòa bình cho Việt Nam.

Vợ ông, bà Jacquelines Strachinescu cho biết: “Lúc đó tôi không thấy quá khó khăn, có lẽ chính vì các con của chúng tôi còn rất nhỏ, chúng nó không để ý nhiều đến việc bố hay đi làm từ sáng sớm và trở về rất muộn. Tôi biết công việc của chồng tôi rất cần thiết và tôi không thấy có vấn đề gì quá lớn. Chồng tôi có nhiều kỷ niệm đẹp với đoàn và thường xuyên chia sẻ với tôi, tôi biết rằng chồng tôi thực sự hạnh phúc khi gắn bó với đoàn đàm phán của Việt Nam”.

Nhắc lại cảm xúc vào ngày Hiệp định Paris được ký kết, ông Michel xúc động nói: “Ngày 27/1 là một ngày chúng tôi tràn ngập cảm xúc như những người đồng chí Việt Nam. Việt Nam- một đất nước nhỏ bé đã buộc đế quốc lớn nhất là Mỹ phải quỳ gối khuất phục. Bác Hồ, đối với tôi, Người là ánh sáng cho nhân dân trên toàn thế giới. Tôi nhớ khoảng khắc 40 năm về trước, chúng tôi đã reo hò và cùng ăn mừng thắng lợi với các bạn. Nhưng cũng chính lúc đó, ai cũng biết rằng cuộc đấu tranh sẽ còn chưa chấm dứt. Và thực tế là sau đó còn một giai đoạn đấu tranh tiếp tục gian khổ”.

Chia tay người bạn Pháp từng gắn bó và đóng góp vào cuộc đấu tranh lịch sử của dân tộc Việt Nam, nhìn lại tờ chứng nhận của chính quyền lâm thời miền Nam Việt Nam mà ông treo trân trọng giữa phòng khách, tôi – một người Việt Nam cũng cảm thấy vô cùng tự hào.

Hơn 40 năm về trước và cho đến ngày nay, cuộc đấu tranh chính nghĩa của chúng ta đã có sự ủng hộ rộng rãi. Ngoài ông Michel, có hàng trăm con người, người còn, người mất trên khắp nước Pháp từng ủng hộ, giúp đỡ và thậm chí đánh cược tính mạng, để sát cánh bên các “đồng chí” Việt Nam./.

Thùy Vân- Đào Dũng/VOV-Paris
vov.vn