Tag Archive | Tin tức

Bác Hồ sử dụng tiền nhuận bút như thế nào?

Bác Hồ không những là một nhà báo mà còn là người sáng lập ra báo chí cách mạng Việt Nam. Người là tác giả của hàng chục cuốn sách, hàng nghìn bài báo với hàng trăm bút danh khác nhau.

Trước năm 1960, Nhà xuất bản Sự thật in cuốn “Sửa đổi lối làm việc” của Bác, nhưng lâu không thấy trả nhuận bút. Một hôm có chuông điện thoại, đồng chí Minh Tranh – Giám đốc Nhà xuất bản Sự thật nhấc ống nghe:

– Ai đấy ạ?

– Bác! Bác muốn gặp đồng chí Minh Tranh.

Nhận ra Bác gọi điện đến, đồng chí Minh Tranh xúc động thưa:

– Thưa Bác, cháu đây ạ!

– Bác ôn tồn nói:

– Các chú xuất bản sách của Bác đã lâu, sao không trả tiền nhuận bút cho Bác?

Đồng chí Minh Tranh nghe vậy rất lo lắng, thưa:

– Dạ!… Thưa Bác, quả thật chúng cháu có lỗi với Bác.

Bác bảo:

– Bác là Chủ tịch nước mà các chú còn quên trả nhuận bút, vậy các tác giả khác người ta sống bằng gì để viết sách cho các chú?

Hôm sau, đồng chí Minh Tranh trực tiếp đến tận Phủ Chủ tịch xin phép gặp Bác để biếu sách và gửi tiền nhuận bút cho Bác. Được biết, Bác đã dùng số tiền nhuận bút cuốn sách nói trên để tặng một nhà trẻ mồ côi ở Hà Nội.

Nhà báo Hồng Khanh, nguyên phóng viên Báo Nhân Dân, năm 2002 có dịp đến gặp cụ Lê Hữu Lập ở 26 Hàng Chuối (Hà Nội). Lúc này, cụ Lập đã ngoài 80 tuổi, cụ đã có 11 năm làm văn thư cho Bác ở Phủ Chủ tịch. Cụ kể rằng: Từ năm 1958 đến 2-9-1969 (ngày Bác qua đời), cụ Lập vinh dự đứng tên là “Lê Hữu Lập” trong sổ tiết kiệm của Bác gửi ở quầy tiết kiệm phố Hàng Gai (Hà Nội). Tiền tiết kiệm Bác gom góp, dành dụm từ tiền lương hàng tháng và tiền nhuận bút.

Mùa hè năm 1967, cuộc chiến đấu giữa quân và dân ta với không quân Mỹ đánh phá miền Bắc ác liệt, thấy Bác mặc áo may ô, quần thường. Ông Lập buột miệng nói:

– Dạ thưa Bác, hôm nay trời nóng…

Không ngờ, ông Lập vừa nói xong, đã nghe Bác nhẹ nhàng động viên:

– Càng nghĩ tới nóng thì càng nóng thêm. Mà cứ nghĩ tới lúc này bà con nông dân trên đồng ruộng, anh công nhân trên lò cao, người chiến sỹ trên mâm pháo… thì thấy đỡ nóng. Chú nhìn thấy kìa!

Nói rồi, Bác chỉ tay lên phía sân thượng Hội trường Ba Đình, nơi đang có một số bộ đội phòng không trực chiến đấu dưới ánh nắng chói chang. Hôm sau, Bác bảo ông Lập ra quầy tiết kiệm Hàng Gai rút hết số tiền trong sổ tiết kiệm của Bác gửi Bộ Quốc phòng để có thêm nước giải khát cho bộ đội phòng không, không quân.

Bác còn dùng các khoản tiền trên vào các công việc từ thiện, động viên những tấm gương người tốt, việc tốt, giúp đỡ cá nhân, đồng chí đồng bào khó khăn do thiên tai, địch họa.

Theo Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Phải học suốt đời

Hôm ấy các nhà báo được nghe Bác dạy làm báo, ai cũng thấm thía: Nghề báo dễ mà khó, phải học suốt đời.

Nhà báo, nhà nhiếp ảnh Nguyễn Kim Côn có lần kể lại: Vào buổi sáng 18-1-1957 trời nắng ấm. Trên đường Hàng Trống (Hà Nội), chiếc ô tô Pô-bê-đa từ từ lăn bánh vào toà soạn Báo Nhân Dân. “Bác! Bác đến, Bác đến!”. Cùng với tiếng reo mừng, mọi người ùa ra, vây tròn lấy Bác. Và vòng vây ấy di chuyển vào hội trường. Vào hội trường rồi mà vẫn không ai chịu ngồi, vì ngồi sẽ không được đứng gần Bác. Là người chụp ảnh phục vụ Bác, hôm nay ông thấy các đồng nghiệp ở báo Nhân dân có mặt khá đông đủ. Cũng là nhiếp ảnh chuyên nghiệp, mà sao hôm nay các anh toàn đứng “trái cựa” với ống kính của ông và đèn chớp điện tử không loé sáng. Ông chợt hiểu ra là các anh muốn có hình ảnh của mình được đứng gần Bác.

Lướt nhìn “vòng vây”, Bác hỏi:

– “Ở đây, cô chú nào biết tiếng Nga thì giơ tay lên?”. Lẻ tẻ một hai cánh tay giơ lên.

– Cô chú nào biết tiếng Trung Quốc?

Lại một, hai người giơ tay.

– Những ai biết tiếng Pháp?

Nhiều cánh tay giơ lên.

– Đã làm báo thì mỗi người phải biết ít nhất là ba bốn thứ tiếng nước ngoài. Không biết tiếng nước ngoài thì thiệt lắm – thí dụ các chú yêu một cô người nước ngoài mà phải nhờ chú phiên dịch, dịch hộ là: “Tôi yêu cô” và chú phiên dịch cũng dịch đúng như vậy thì chú phiên dịch yêu mất của các chú rồi!

Xôn xao nhiều tiếng cười. Khoảng cách giữa lãnh tụ và quần chúng được xoá nhoà từ lúc nào không biết.

Bác nói tiếp:

– Hôm nọ, Bác thấy Báo Nhân Dân đăng trang nhất tin bắt gián điệp, rồi lại còn đóng khung cái tin ấy… Công an bắt được mật thám là chuyện bình thường chứ có gì là đặc biệt mà phải đóng khung, đưa lên trang nhất. Thế rồi lại còn chuyện in sai ở trang nhất, lại đính chính ở trang tư. Bác chỉ tay lên trán: Nhọ ở đây. Rồi lại rửa ở đây – Bác chỉ tay vào lưng – Thì làm sao sạch được…

Hôm ấy các nhà báo được nghe Bác dạy làm báo, ai cũng thấm thía: Nghề báo dễ mà khó, phải học suốt đời.

Theo LÊ HỒNG THIỆN/ Báo Hải Dương online
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Danh mục Sắc lệnh do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký từ nǎm 1947 đến 1949

NǍM 1947

– Sắc lệnh số 7 – SL, ngày 21-1-1947, bổ nhiệm Tổng giám đốc Bưu điện Việt Nam.

– Sắc lệnh số 8-SL, ngày 22-1-1947, cử Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các uỷ viên Uỷ ban tản cư và di cư.

– Sắc lệnh số 9- SL, ngày 29-1-1947, tạm thời đình chỉ thi hành mục B Sắc lệnh số 13-SL (24-1-1946) và Sắc lệnh số 42 (3-4-1946) về việc bắt, giam và truy tố nhân viên các cấp trong Chính phủ, cơ quan hành chính và tư pháp.

– Sắc lệnh số 10-SL, ngày 30-1-1947, bổ nhiệm Cục trưởng Cục Quân huấn Bộ Quốc phòng.

– Sắc lệnh số 11-SL, ngày 30-1-1947, ấn định lại thời hạn giam cứu cho tiểu hình và đại hình ghi trong Sắc lệnh 40 (29-3-1946).

– Sắc lệnh số 11-SLb, ngày 2-2-1947, sáp nhập các Sở, Ty Địa chính vào Bộ Canh nông.

– Sắc lệnh số 12-SL, ngày 3-2-1947, về chế độ kiểm duyệt, in, phát hành báo chí và các loại ấn phẩm.

– Sắc lệnh số 13-SL, ngày 3-2-1947, tạm cấm xuất nhập cảng hàng hóa.

– Sắc lệnh số 14-SL, ngày 3-2-1947, lập Nha tín dụng sản xuất.

– Sắc lệnh số 15-SL, ngày 7-2-1947, bổ nhiệm đặc phái viên Bộ Nội vụ tại Thanh Hoá và Ninh Bình.

– Sắc lệnh số 16-SL, ngày 12-2-1947, bổ nhiệm Chính trị Cục trưởng Bộ Quốc phòng và Phó Chủ tịch Uỷ ban hành chính Hà Nội kiêm Chính trị Phó Cục trưởng, Trưởng phòng Dân quân.

– Sắc lệnh số 17-SL, ngày 16-2-1947, lập Nha khẩn hoang, di dân thuộc Bộ Canh nông.

– Sắc lệnh số 18-SL, ngày 16-2-1947, bổ nhiệm Giám đốc, các Phó Giám đốc Nha khẩn hoang, di dân.

– Sắc lệnh số 19-SL, ngày 16-2-1947, về tổ chức và chức nǎng của các Toà án binh (trừ Toà án binh mặt trận).

– Sắc lệnh số 20-SL, ngày 16-2-1947, quy định chế độ hưu bổng, thương tật, tiền tuất cho thân nhân, tử sĩ.

– Sắc lệnh số 21-SL, ngày 16-2-1947, bổ nhiệm Tổng Giám đốc Nha tín dụng sản xuất.

– Sắc lệnh số 22-SL, ngày 16-2-1947, trích 30 triệu đồng ở ngân sách Nhà nước cấp cho Nha tín dụng.

– Sắc lệnh số 23-SL, ngày 16-2-1947, thành lập Hội đồng sản xuất kỹ nghệ thuộc Bộ Kinh tế.

– Sắc lệnh số 24-SL, ngày 16-2-1947, bổ nhiệm Đổng lý vǎn phòng Bộ Kinh tế.

– Sắc lệnh số 25-SL, ngày 21-2-1947, cải tổ Uỷ ban hành chính tỉnh Thanh Hoá.

– Sắc lệnh số 26-SL, ngày 28-2-1947, ấn định tỷ lệ phụ thu thuế điền thổ (1%).

– Sắc lệnh số 27-SL, ngày 28-2-1947, ấn định thể thức và chế độ trực thu thời kỳ kháng chiến.

– Sắc lệnh số 27b- SL, ngày 2-3-1947, cấp đất công hoang cho công dân trên 18 tuổi.

– Sắc lệnh số 28-SL, ngày 10-3-1947, sửa địa giới của huyện Can Lộc (Hà Tĩnh) và của thị xã Vinh- Bến Thuỷ.

– Sắc lệnh số 29-SL, ngày 12-3-1947, quy định quan hệ giữa chủ với công nhân Việt Nam.

– Sắc lệnh số 29b-SL, ngày 16-3-1947, lập Ngoại thương Cục thuộc Bộ Kinh tế.

– Sắc lệnh số 30-SL, ngày 17-3-1947, cử Bộ trưởng Bộ Lao động đặc nhiệm việc tản cư và di dân.

– Sắc lệnh số 31-SL, ngày 19-3-1947, sửa đổi điều 3 Sắc lệnh 131-SL ngày 20-7-1946 về tổ chức tư pháp và công an.

– Sắc lệnh số 32-SL, ngày 19-3-1947, sửa điều 9 Sắc lệnh số 40-SL, ngày 29-3-1946, về bảo đảm quyền tự do của công dân.

– Sắc lệnh số 32b-SL, ngày 19-3-1947, ấn định quỹ tản cư, di cư toàn quốc, do Bộ trưởng Bộ Lao động sử dụng.

– Sắc lệnh số 33-SL, ngày 19-3-1947, về việc tǎng 10 lần tiền phạt được ấn định trong Luật hình ban bố trước ngày 19-8-1945.

– Sắc lệnh số 34-SL, ngày 19-3-1947, sửa điều 2 Sắc lệnh số 1-SL, ngày 20-12-1946, về Uỷ ban bảo vệ khu và tỉnh.

– Sắc lệnh số 35-SL, ngày 19-3-1947, sửa đổi điều 4, bãi bỏ điều 6 và điều 10 của mục 4 trong Sắc lệnh số 34-SL (25-3-1946) về tổ chức Bộ Quốc phòng.

– Sắc lệnh số 36-SL, ngày 19-3-1947, bổ nhiệm Cục trưởng Cục Quân nhu Bộ Quốc phòng.

– Sắc lệnh số 37-SL, ngày 19-3-1947, bổ nhiệm Cục trưởng Cục Giao thông công binh Bộ Quốc phòng.

– Sắc lệnh số 38-SL, ngày 28-3-1947, sửa đổi điều 1 của Sắc lệnh số 34-SL (19-3-1947) về thành phần của các Uỷ ban bảo vệ khu, tỉnh, huyện và xã.

– Sắc lệnh số 39-SL, ngày 1-4-1947, huỷ bỏ tem trước bạ, giấy tín chỉ lưu hành trước 19-12-1946 và ấn định cách thức thu thuế, tem trước bạ mới.

– Sắc lệnh số 40-SL, ngày 1-4-1947, cho phép một phụ nữ Hoa kiều được nhập quốc tịch Việt Nam.

– Sắc lệnh số 41-SL, ngày 4-4-1947, thành lập Uỷ ban hành chính đặc biệt miền thượng du Thanh Hoá.

– Sắc lệnh số 42-SL, ngày 7-4-1947, bãi bỏ ngân sách các cấp kỳ, tỉnh, thành phố, thị xã, khu tự trị và sáp nhập vào Quỹ toàn quốc. Giữ nguyên Quỹ đặc biệt Quốc phòng.

– Sắc lệnh số 43-SL, ngày 19-4-1947, cấp cho Ngoại thương Cục 20 triệu đồng vốn hoạt động ban đầu.

– Sắc lệnh số 44-SL, ngày 19-4-1947, bổ nhiệm Giám đốc Nha tiếp tế.

– Sắc lệnh số 45-SL, ngày 25-4-1947, lập Toà án binh tối cao.

– Sắc lệnh số 46-SL, ngày 30-4-1947, bổ nhiệm Đổng lý sự vụ Bộ Y tế và Chánh vǎn phòng Bộ Y tế.

– Sắc lệnh số 47-SL, ngày 1-5-1947, quy định tổ chức của Bộ Tổng chỉ huy, Bộ Tổng tham mưu, Cục Chính trị, Vǎn phòng Bộ Tổng chỉ huy quân đội.

– Sắc lệnh số 48-SL, ngày 15-5-1947, cho phép lưu hành một số loại giấy bạc trong toàn quốc (1đ, 5đ, 10đ, 20đ, 50đ, 100đ, 500đ).

– Sắc lệnh số 49-SL, ngày 15-5-1947, đặt “Giải thưởng Hồ Chí Minh” cho ngành quân giới.

– Sắc lệnh số 50-SL, ngày 15-5-1947, đặt Huy chương Quân công và Huy chương Chiến sĩ, quy định việc thưởng cho cá nhân và đơn vị trong quân đội, dân quân tự vệ.

– Sắc lệnh số 51-SL, ngày 1-6-1947, tạm thời định giá tiền đồng bạc Việt Nam so với đồng tiền mang niên hiệu Minh Mệnh, Thiệu Trị đang lưu hành.

– Sắc lệnh số 52-SL, ngày 1-6-1947, ấn định lại mức thuế nhập khẩu, xuất khẩu hàng hoá.

– Sắc lệnh số 53-SL, ngày 1-6-1947, ấn định quy cách kiểu tem trước bạ.

– Sắc lệnh số 54-SL, ngày 1-6-1947, bãi bỏ Hội đồng quản trị Ngoại thương Cục, đặt Ngoại thương Cục dưới quyền chỉ đạo của Bộ Kinh tế.

– Sắc lệnh số 55-SL, ngày 12-6-1947, cho phép một kiều dân áo được nhập quốc tịch Việt Nam.

– Sắc lệnh số 56-SL, ngày 17-6-1947, thành lập Trường Ngoại ngữ.

– Sắc lệnh số 58-SL, ngày 6-6-1947, đặt Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập và quy định việc tặng thưởng.

– Sắc lệnh số 59-SL, ngày 5-7-1947, lập “Toà án binh khu, trung ương” đặt trong Bộ Quốc phòng.

– Sắc lệnh số 60-SL, ngày 5-7-1947, sửa đổi điều 2 trong Sắc lệnh số 19-SL (16-2-1947) về chế độ hưu bổng, thương tật, tiền tuất cho thân nhân, tử sĩ.

– Sắc lệnh số 61-SL, ngày 5-7-1947, cấm xuất cảnh và nhập nội các tư bản (tiền nước ngoài, tiền Việt Nam, các loại chứng thư ngân hàng).

– Sắc lệnh số 62-SL, ngày 5-7-1947, sáp nhập hai xã của huyện Thạch Hà vào huyện Can Lộc (Hà Tĩnh).

– Sắc lệnh số 228- SL/M, ngày 18-7-1947, cử ông Nguyễn Sơn làm Khu trưởng Chiến khu IV.

– Sắc lệnh số 229-SL/M, ngày 18-7-1947, điều ông Lê Thiết Hùng làm Thanh tra quân đội của Bộ Tổng chỉ huy.

– Sắc lệnh số 230-SL/M, ngày 18-7-1947, lập Phân khu quân sự trong Chiến khu IV và cử Phân khu trưởng.

– Sắc lệnh số 231-SL/M, ngày 18-7-1947, phát hành các loại “tín phiếu (1đ, 5đ, 10đ, 20đ, 50đ, 100đ, 500đ), có giá trị như giấy bạc Việt Nam”, tại Nam Trung Bộ.

– Sắc lệnh số 232-SL/M, ngày 18-7-1947, cử Chánh vǎn phòng Chủ tịch Chính phủ.

– Sắc lệnh số 233-SL/M, ngày 25-7-1947, cử các Chính trị Uỷ viên các khu I, II, III, IV, V, X và XII.

– Sắc lệnh số 235-SL/M, ngày 25-7-1947, quy định địa giới các khu XI, II, XIV.

– Sắc lệnh số 65-SL, ngày 26-7-1947, cử uỷ viên Uỷ ban hành chính tỉnh Hà Nam.

– Sắc lệnh số 66-SL, ngày 26-7-1947, cử Phó Chủ tịch huyện Nga Sơn (Thanh Hoá).

– Sắc lệnh số 67-SL, ngày 26-7-1947, cho phép Uỷ ban hành chính Nam Bộ phát hành công trái (lần thứ hai).

– Sắc lệnh số 68-SL, ngày 26-7-1947, bãi bỏ điều 9 Sắc lệnh số 40 (29-3-1946) và thay bằng điều 9 mới về trình tự thủ tục bắt giam, điều tra, lập hồ sơ với những người bị bắt về tội “xét thấy lời nói hay việc làm của họ nguy hại tới trị an, hay kháng chiến”.

– Sắc lệnh số 234-SL/M, ngày 4-8-1947, bổ nhiệm ông Tôn Đức Thắng giữ chức Thanh tra đặc biệt toàn quốc.

– Sắc lệnh số 236-SL/M, ngày 5-8-1947, quy định ông Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia có quyền hạn và chức vụ như Bộ trưởng và là thành viên Hội đồng Liên bộ trong Hội đồng Chính phủ.

– Sắc lệnh số 74-SL, ngày 17-8-1947, bổ nhiệm Cục trưởng Ngoại thương Cục.

– Sắc lệnh số 75-SL, ngày 19-8-1947, cho phép một kiều dân Đức được nhập quốc tịch Việt Nam.

– Sắc lệnh số 70-SL, ngày 23-8-1947, cử Khu trưởng Khu XI, XV và Khu phó Khu VI, Chính trị uỷ viên các Khu II, XII.

– Sắc lệnh số 71-SL, ngày 23-8-1947, cử các Chính trị uỷ viên khu VI, VIII, IX.

– Sắc lệnh số 76-SL, ngày 26-8-1947, thành lập Đại đoàn Độc lập.

– Sắc lệnh số 77-SL, ngày 26-8-1947, cử Đại đoàn trưởng, Đại đoàn phó và Chính uỷ Đại đoàn Độc lập.

– Sắc lệnh số 78-SL, ngày 3-9-1947, ấn định số lượng và cách chỉ định Uỷ viên trong Uỷ ban kháng chiến khu.

– Sắc lệnh số 79-SL và 80-SL, ngày 4-9-1947, cử hai Uỷ viên vào Uỷ ban kháng chiến khu XIV.

– Sắc lệnh số 81-SL, ngày 7-9-1947, bổ nhiệm chức Trưởng phòng Dân quân thuộc Bộ Quốc phòng.

– Sắc lệnh số 82-SL, ngày 17-9-1947, sửa điều 7 trong Sắc lệnh số 29b-SL (16-3-1947) về lập Ngoại thương Cục.

– Sắc lệnh số 83-SL, ngày 17-9-1947, lập Viện Huân chương thuộc Phủ Chủ tịch.

– Sắc lệnh số 86-SL, ngày 17-9-1947, lập Việt Nam Quốc gia Ngân hàng.

– Sắc lệnh số 87-SL, ngày 17-9-1947, đặt phụ cấp tạm thời cho nhân viên Chính phủ.

– Sắc lệnh số 88-SL, ngày 20-9-1947, quy định hình thức thưởng cho gia đình có từ 3 con tham gia quân đội.

– Sắc lệnh số 90-SL, ngày 30-9-1947, quy định quan hệ giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng chỉ huy.

– Sắc lệnh số 237-SL/M, ngày 30-9-1947, cử Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến kiêm hành chính tỉnh Ninh Bình.

– Sắc lệnh số 91-SL, ngày 1-10-1947, hợp nhất Uỷ ban kháng chiến và Uỷ ban hành chính, từ cấp tỉnh đến xã thành Uỷ ban kháng chiến kiêm hành chính. Quy định thành phần Uỷ ban và quan hệ làm việc giữa Uỷ ban các cấp.

– Sắc lệnh số 92-SL, ngày 3-10-1947, cử cán bộ Vǎn phòng Bộ Thương binh, Cựu binh (Đổng lý sự vụ, Đổng lý Vǎn phòng).

– Sắc lệnh số 93-SL, ngày 3-10-1947, cử các Uỷ viên hành chính, Uỷ viên nhân dân của Uỷ ban kháng chiến hành chính Chiến khu I.

– Sắc lệnh số 94-SL, ngày 3-10-1947, cử các Uỷ viên hành chính và Uỷ viên nhân dân của Uỷ ban kháng chiến hành chính khu II.

– Sắc lệnh số 95-SL, ngày 3-10-1947, cử các Uỷ viên hành chính và Uỷ viên nhân dân của Uỷ ban kháng chiến hành chính khu III.

– Sắc lệnh số 96-SL, ngày 3-10-1947, cử các Uỷ viên hành chính và Uỷ viên nhân dân của Uỷ ban kháng chiến hành chính khu X.

– Sắc lệnh số 97-SL, ngày 3-10-1947, cử các Uỷ viên hành chính và Uỷ viên nhân dân của Uỷ ban kháng chiến hành chính khu XI.

– Sắc lệnh số 98-SL, ngày 3-10-1947, cử các Uỷ viên hành chính và Uỷ viên nhân dân của Uỷ ban kháng chiến hành chính khu XII.

– Sắc lệnh số 99-SL, ngày 3-10-1947, cử Phó phòng Dân quân (Bộ Quốc phòng).

– Sắc lệnh số 100-SL, ngày 3-10-1947, cử người vào Ban phụ trách Tây Nguyên.

– Sắc lệnh số 101-SL, ngày 3-10-1947, lập Sở và Ty thương binh, cựu binh ở khu, tỉnh.

– Sắc lệnh số 263-SL/M, ngày 17-10-1947, cử ông Phạm Vǎn Đồng làm Đặc phái viên của Chính phủ tại Nam Trung Bộ.

– Sắc lệnh số 264-SL/M, ngày 27-10-1947, bổ nhiệm Đặc phái viên Chính phủ tại Chiến khu IV.

– Sắc lệnh số 102-SL, ngày 1-11-1947, cho phép phát hành ở Nam Bộ các tín phiếu 1đ, 5đ, 10đ, 20đ, 50đ, 100đ, 500đ có giá trị như giấy bạc Việt Nam.

– Sắc lệnh số 265-SL/M, ngày 25-11-1947, sáp nhập tỉnh Quảng Yên (gồm cả khu vực Hồng Gai) vào Chiến khu XII.

– Sắc lệnh số 612-MDB, ngày 7-12-1947, khen thưởng các Chủ tịch, Uỷ viên kháng chiến hành chính các xã.

NǍM 1948

– Sắc lệnh số 103-SL, ngày 1-1-1948, bãi bỏ chức Tổng thanh tra lao động và Giám đốc Ban thanh tra – hành chính Bộ Lao động.

– Sắc lệnh số 104-SL, ngày 1-1-1948, ấn định nguyên tắc cǎn bản của “Doanh nghiệp quốc gia”.

– Sắc lệnh số 105-SL, ngày 1-1-1948, cử Phó giám đốc Nha khẩn hoang di dân.

– Sắc lệnh số 106-SL, ngày 1-1-1948, cử Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến khu III.

– Sắc lệnh số 107-SL, ngày 20-1-1948, bổ nhiệm Tổng thanh tra, Phó Tổng thanh tra quân đội.

– Sắc lệnh số 108-SL, ngày 20-1-1948, bổ nhiệm Cục trưởng Cục Tình báo thuộc Bộ Tổng chỉ huy quân đội.

– Sắc lệnh số 109-SL, ngày 20-1-1948, cử Hiệu trưởng Trường Lục quân trung học Trần Quốc Tuấn.

– Sắc lệnh số 110-SL, ngày 20-1-1948, phong quân hàm Đại tướng cho ông Võ Nguyên Giáp.

– Sắc lệnh số 111-SL, ngày 20-1-1948, phong quân hàm Thiếu tướng cho ông Hoàng Vǎn Thái và một số cán bộ trong quân đội.

– Sắc lệnh số 112-SL, ngày 20-1-1948, phong quân hàm Thiếu tướng cho một số cán bộ trong quân đội.

– Sắc lệnh số 113-SL, ngày 25-1-1948, quy định tổ chức, nhiệm vụ của Cục Quân huấn thuộc Bộ Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia Việt Nam.

– Sắc lệnh số 114-SL, ngày 25-1-1948, bổ nhiệm Cục trưởng Cục quân huấn.

– Sắc lệnh số 115-SL, ngày 25-1-1948, phong quân hàm Trung tướng cho ông Nguyễn Bình.

– Sắc lệnh số 116-SL, ngày 25-1-1948, đặt hệ thống quân hàm cho các nhân viên thuộc Bộ Quốc phòng nhưng không phải là quân nhân.

– Sắc lệnh số 117-SL, ngày 25-1-1948, phong quân hàm Thiếu tướng cho ông Trần Đại Nghĩa.

– Sắc lệnh số 118-SL, ngày 25-1-1948, đổi Phòng Dân quân thuộc Bộ Tổng chỉ huy thành Cục Dân quân.

– Sắc lệnh số 119-SL, ngày 25-1-1948, đổi Phòng Kiểm tra trực thuộc Bộ Tổng chỉ huy thành Cục Tổng thanh tra Quân đội quốc gia Việt Nam.

– Sắc lệnh số 120-SL, ngày 25-1-1948, hợp nhất các khu thành liên khu.

– Sắc lệnh số 121-SL, ngày 25-1-1948, cử các Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến kiêm hành chính miền Nam Trung Bộ.

– Sắc lệnh số 122-SL, ngày 25-1-1948, cử các Liên khu trưởng, Liên khu phó, Chính trị uỷ viên các Liên khu I, III, X và điều động cán bộ quân đội về Bộ Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia Việt Nam.

– Sắc lệnh số 123-SL, ngày 25-1-1948, cử các Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến kiêm hành chính Liên khu X.

– Sắc lệnh số 124-SL, ngày 25-1-1948, cử các Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến kiêm hành chính Liên khu I.

– Sắc lệnh số 125-SL, ngày 25-1-1948, cử các Uỷ viên ủy ban kháng chiến kiêm hành chính Liên khu III.

– Sắc lệnh số 126-SL, ngày 25-1-1948, chính thức công nhận Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến kiêm hành chính Nam Trung Bộ.

– Sắc lệnh số 127-SL, ngày 25-1-1948, cử Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến kiêm hành chính Liên khu IV.

– Sắc lệnh số 128-SL, ngày 25-1-1948, chính thức công nhận Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến kiêm hành chính Liên khu IV.

– Sắc lệnh số 129-SL, ngày 5-2-1948, bổ sung điều 1 Sắc lệnh số 3 (ngày 28-12-1946) tạm hoãn các cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính xã.

– Sắc lệnh số 130-SL, ngày 15-2-1948, bổ nhiệm chức Đổng lý sự vụ Bộ Nội vụ.

– Sắc lệnh số 131-SL, ngày 15-2-1948, phân hạn cấp bậc và định thời hạn thǎng cấp Đại uý, Thiếu tá, Trung tá và Đại tá trong quân đội.

– Sắc lệnh số 132-SL, ngày 15-2-1948, cử các Uỷ viên và các Cố vấn Uỷ ban kháng chiến kiêm hành chính Nam Bộ.

– Sắc lệnh số 133-SL, ngày 15-2-1948, chuẩn y Chủ tịch và 2 Phó Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến kiêm hành chính Nam Bộ.

– Sắc lệnh số 134-SL, ngày 15-2-1948, cử Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến kiêm hành chính Liên khu I.

– Sắc lệnh số 135-SL, ngày 15-2-1948, cử Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến kiêm hành chính Liên khu III.

– Sắc lệnh số 136-SL, ngày 15-2-1948, sửa đổi điều 3 Sắc lệnh số 4 (ngày 28-12-1948), uỷ quyền cho Uỷ ban kháng chiến hành chính khu ân xá, ân giảm cho tội phạm.

– Sắc lệnh số 137-SL, ngày 15-2-1948, lập Nha trung ương Hoa kiều vụ Việt Nam.

– Sắc lệnh số 138-SL, ngày 15-2-1948, bổ nhiệm Tổng Giám đốc Nha trung ương Hoa kiều vụ Việt Nam.

– Sắc lệnh số 139-SL, ngày 15-2-1948, về việc nhận tặng phẩm ủng hộ kháng chiến và sử dụng các thứ đó.

– Sắc lệnh số 140-SL, ngày 29-2-1948, lập Cục tiếp tế vận tải trực thuộc Bộ Kinh tế; bãi bỏ Nha tiếp tế được thành lập theo Nghị định ngày 15-11-1946.

– Sắc lệnh số 141-SL, ngày 29-2-1948, bổ nhiệm Cục trưởng Cục tiếp tế vận tải.

– Sắc lệnh số 142-SL, ngày 2-3-1948, bổ nhiệm Đổng lý sự vụ Bộ Tài chính.

– Sắc lệnh số 143-SL, ngày 2-3-1948, bổ nhiệm Tổng Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Việt Nam.

– Sắc lệnh số 144-SL, ngày 2-3-1948, nghiêm cấm lạm sát trâu bò trên toàn cõi Việt Nam.

– Sắc lệnh số 145-SL, ngày 2-3-1948, giao nhiệm vụ cho Nha khẩn hoang di dân tổ chức việc di dân đi khai thác và phục hồi vùng đất hoang hoá thuộc sở hữu của Nhà nước.

– Sắc lệnh số 146-SL, ngày 2-3-1948, quy định nhiệm vụ của Toà án binh.

– Sắc lệnh số 147-SL, ngày 2-3-1948, cho phép phát hành tại Nam Bộ và lưu hành trong toàn quốc giấy bạc loại mới (1đ, 5đ, 20đ, 50đ và 100đ).

– Sắc lệnh số 148-SL, ngày 25-3-1948, bãi bỏ các danh từ phủ, châu, quận; cấp trên xã và cấp dưới tỉnh thống nhất gọi là cấp huyện.

– Sắc lệnh số 149-SL, ngày 25-3-1948, quy định bỏ từ “kiêm” trong danh từ “Uỷ ban kháng chiến kiêm hành chính”; gọi là “Uỷ ban kháng chiến hành chính”.

– Sắc lệnh số 150-SL, ngày 25-3-1948, quy định về tổ chức, quyền hạn và cách làm việc của Hội đồng nhân dân trong vùng địch kiểm soát hoặc bị uy hiếp.

– Sắc lệnh số 151-SL, ngày 25-3-1948, quy định thành phần Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính các cấp xã, huyện, tỉnh và Liên khu.

– Sắc lệnh số 152-SL, ngày 25-3-1948, về thể lệ bầu lại một hay nhiều Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính mỗi cấp; quy định người ứng cử vào Uỷ ban kháng chiến hành chính có thể là người ngoài Hội đồng nhân dân.

– Sắc lệnh số 153-SL, ngày 25-3-1948, quy định người ngoài Hội đồng nhân dân nhưng là Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính được coi như Uỷ viên của Hội đồng nhân dân cấp ấy.

– Sắc lệnh số 157-SL, ngày 14-4-1948, bỏ Uỷ ban trung ương hộ đê; lập Uỷ ban hộ đê ở khu, tỉnh, huyện và ở các xã cần thiết.

– Sắc lệnh số 158-SL, ngày 14-4-1948, bổ nhiệm quyền Tổng thanh tra tài chính.

– Sắc lệnh số 159-SL, ngày 14-4-1948, quy định nhiệm vụ quyền hạn của Nha Tổng thanh tra tài chính, của Tổng Thanh tra và các thanh tra viên.

– Sắc lệnh số 160-SL, ngày 14-4-1948, cho phát hành trong cả nước “Công phiếu kháng chiến”, quy định thể thức mua.

– Sắc lệnh số 161-SL, ngày 14-4-1948, bổ nhiệm Giám đốc Nha pháp chính Bộ Nội vụ.

– Sắc lệnh số 162-SL, ngày 14-4-1948, giải tán Uỷ ban kháng chiến hành chính thị xã Bắc Ninh và sửa đổi địa giới của thị xã.

– Sắc lệnh số 163-SL, ngày 14-4-1948, tặng Huân chương Quân công hạng nhất cho Đội Quân giải phóng, Đội Quân du kích Bắc Sơn và Đội Quân khởi nghĩa Nam Bộ.

– Sắc lệnh số 164-SL, ngày 14-4-1948, bổ nhiệm Khu phó Chiến khu VIII.

– Sắc lệnh số 165-SL, ngày 14-4-1948, quy định Bộ Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và Dân quân tự vệ Việt Nam, đổi thành Bộ Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và Dân quân Việt Nam.

– Sắc lệnh số 166-SL, ngày 14-4-1948, cấp thêm 15 triệu đồng cho Quỹ ngoại thương.

– Sắc lệnh số 167-SL, ngày 14-4-1948, thủ tiêu tiền đồng ở Trung Bộ thời hạn 2 tháng.

– Sắc lệnh số 168-SL, ngày 14-4-1948, nghiêm cấm tệ đánh bạc và quy định việc trừng phạt tội này.

– Sắc lệnh số 169-SL, ngày 14-4-1948, lập Sở lao động ở mỗi Liên khu kháng chiến hành chính.

– Sắc lệnh số 170-SL, ngày 14-4-1948, tổ chức lại Toà án quân sự các cấp.

– Sắc lệnh số 171-SL, ngày 14-4-1948, quy định Nhà máy phốt phát Nghệ An của Bộ Canh nông là doanh nghiệp quốc gia đặc biệt.

– Sắc lệnh số 173-SL, ngày 14-4-1948, bổ nhiệm Đổng lý Vǎn phòng Bộ Y tế.

– Sắc lệnh số 174-SL, ngày 14-4-1948, sáp nhập Sở địa chính Trung bộ vào Nha địa chính (Bộ Canh nông); bổ nhiệm Tổng Giám đốc Nha địa chính.

– Sắc lệnh số 175-SL, ngày 14-4-1948, chuẩn y Chủ tịch và Phó Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu I.

– Sắc lệnh số 176-SL, ngày 14-4-1948, gia hạn việc cấm chạy xe kéo.

– Sắc lệnh số 177-SL, ngày 14-4-1948, quy định việc định tội xâm phạm tài sản công dân.

– Sắc lệnh số 178-SL, ngày 15-4-1948, cho phép một kiều dân Thuỵ Sĩ được nhập quốc tịch Việt Nam.

– Sắc lệnh số 179-SL, ngày 25-4-1948, bổ nhiệm Cục trưởng Cục Dân quân.

– Sắc lệnh số 180-SL, ngày 30-4-1948, bãi bỏ các loại giấy bạc Đông Dương do Đông Dương Ngân hàng phát hành.

– Sắc lệnh số 181-SL, ngày 6-5-1948, cho phép phát hành và lưu hành trên toàn cõi Việt Nam giấy bạc loại 5 hào, 2 hào.

– Sắc lệnh số 182-SL, ngày 26-5-1948, bổ nhiệm Tổng thanh tra Bộ Canh nông.

– Sắc lệnh số 183-SL, ngày 26-5-1948, bổ nhiệm Phân khu trưởng và Chính uỷ Phân khu IV.

– Sắc lệnh số 184-SL, ngày 26-5-1948, bổ nhiệm Liên khu trưởng và Liên khu phó Liên khu X.

– Sắc lệnh số 185-SL, ngày 26-5-1948, ấn định tạm thời thẩm quyền của các Toà án sơ cấp và đệ nhị cấp.

– Sắc lệnh số 186-SL, ngày 26-5-1948, ấn định việc phạt vi cảnh.

– Sắc lệnh số 190-SL, ngày 28-5-1948, tái lập Nha thống kê thuộc Bộ Kinh tế.

– Sắc lệnh số 191-SL, ngày 28-5-1948, bổ nhiệm Giám đốc Nha thống kê.

-Sắc lệnh số 192-SL, ngày 28-5-1948, cấm buôn bán chuyên chở, tàng trữ xa xỉ phẩm ngoại hoá trong toàn cõi Việt Nam.

– Sắc lệnh số 193-SL, ngày 28-5-1948, lập Hội đồng sản xuất kỹ nghệ thuộc Bộ Kinh tế.

– Sắc lệnh số 194-SL, ngày 28-5-1948, bỏ Uỷ ban hộ đê trung ương và lập Uỷ ban bảo vệ đê điều các cấp.

– Sắc lệnh số 188-SL, ngày 29-5-1948, sửa đổi chế độ công chức và đặt các thang lương cho công chức.

– Sắc lệnh số 195-SL, ngày 1-6-1948, lập Ban vận động thi đua các cấp.

– Sắc lệnh số 197-SL, ngày 8-6-1948, về việc bổ nhiệm Tổng thanh tra và thanh tra các bộ.

– Sắc lệnh số 198-SL, ngày 13-6-1948, ấn định thủ tục thiết lập hoặc sửa đổi địa giới các đơn vị kháng chiến hành chính.

– Sắc lệnh số 201-SL, ngày 7-7-1948, thành lập “Ban thi hành chính sách bao vây kinh tế địch”.

– Sắc lệnh số 202-SL, ngày 7-7-1948, cử Đặc phái viên Chính phủ thi hành chính sách bao vây kinh tế địch.

– Sắc lệnh số 203-SL, ngày 7-7-1948, phong quân hàm Thiếu tướng cho ông Lê Thiết Hùng.

– Sắc lệnh số 199-SL, ngày 8-7-1948, ấn định đơn vị tiền tệ Việt Nam là “đồng”.

– Sắc lệnh số 200-SL, ngày 8-7-1948, về việc trưng tập các công chức tòng sự tại các công sở, kể cả các nhân viên Uỷ ban kháng chiến hành chính các cấp.

– Sắc lệnh số 205-SL, ngày 18-8-1948, ấn định thể lệ trục xuất ngoại kiều khỏi Việt Nam.

– Sắc lệnh số 206-SL, ngày 19-8-1948, thành lập Hội đồng Quốc phòng tối cao và xác định nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng.

– Sắc lệnh số 207-SL, ngày 20-8-1948, cử ông Hoàng Đạo Thuý vào Ban vận động thi đua ái quốc trung ương.

– Sắc lệnh số 208-SL, ngày 20-8-1948, bỏ điều 2, điều 3 trong Sắc lệnh số 134-SL (24-7-1946) về phụ cấp hàng tháng cho Uỷ viên Uỷ ban hành chính các cấp.

– Sắc lệnh số 209-SL, ngày 20-8-1948, đổi một số quy định trong Sắc lệnh số 137-SL (24-7-1946) và ấn định phụ cấp hàng tháng cho nhân viên ở Vǎn phòng Chủ tịch Chính phủ và Vǎn phòng các Bộ trưởng, cử người vào Vǎn phòng Chủ tịch Chính phủ và Vǎn phòng các bộ.

– Sắc lệnh số 210-SL, ngày 20-8-1948, quy định việc bầu thư ký Uỷ ban kháng chiến hành chính xã, ấn định thành phần và nhiệm vụ của Ban thường vụ Uỷ ban kháng chiến hành chính xã.

– Sắc lệnh số 211-SL, ngày 20-8-1948, ấn định cách chỉ định các uỷ viên trong Uỷ ban kháng chiến hành chính xã, huyện, tỉnh trong vùng địch tạm chiếm.

– Sắc lệnh số 212-SL, ngày 20-8-1948, đặt xã Phúc Hoà (Nghi Lộc) và xã Xuân Triều (Thanh Chương) thuộc Nghệ An.

– Sắc lệnh số 213-SL, ngày 20-8-1948, cử người tạm kiêm chức Phó Đổng lý sự vụ Bộ Nội vụ.

– Sắc lệnh số 214-SL, ngày 20-8-1948, cử Chánh vǎn phòng Bộ Tổng chỉ huy kiêm Chánh vǎn phòng Bộ Quốc phòng.

– Sắc lệnh số 215-SL, ngày 20-8-1948, quy định những quyền lợi đặc biệt cho những người nước ngoài có đóng góp vào cuộc kháng chiến của Việt Nam.

– Sắc lệnh số 216-SL, ngày 20-8-1948, đặt “Huân chương kháng chiến”, có 3 hạng: Nhất, Nhì, Ba.

– Sắc lệnh số 217-SL, ngày 20-8-1948, bổ sung điều 3 của Sắc lệnh số 180-SL (30-4-1948) về lưu hành và tàng trữ giấy bạc Đông Dương.

– Sắc lệnh số 218-SL, ngày 20-8-1948, sửa đổi thuế nhập nội các mặt hàng ngoại.

– Sắc lệnh số 219-SL, ngày 20-8-1948, về việc đặt “phụ thu kháng chiến”.

– Sắc lệnh số 220-SL, ngày 20-8-1948, quy định lại giá biểu các loại giá tem thuế.

– Sắc lệnh số 221-SL, ngày 20-8-1948, cho phép Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ Kinh tế được ban hành thể lệ đặc biệt hạn chế sự tự do buôn bán trong nội địa.

– Sắc lệnh số 222-SL, ngày 20-8-1948, cấm chỉ mọi hoạt động buôn bán với địch.

– Sắc lệnh số 223-SL, ngày 20-8-1948, sửa đổi Sắc lệnh số 53-SL, ngày 1-6-1947, về tổ chức Ngoại thương Cục.

– Sắc lệnh số 224-SL, ngày 20-8-1948, sửa đổi Sắc lệnh số 140-SL, ngày 29-2-1948 về thành lập Cục tiếp tế vận tải.

– Sắc lệnh số 225-SL, ngày 20-8-1948, cấp 20 triệu đồng cho Cục tiếp tế vận tải.

– Sắc lệnh số 226-SL, ngày 20-8-1948, bổ nhiệm Đổng lý sự vụ Bộ Kinh tế.

– Sắc lệnh số 227-SL và 228-SL, ngày 20-8-1948, bổ nhiệm hai Phó Đổng lý sự vụ Bộ Kinh tế.

– Sắc lệnh số 229-SL, ngày 20-8-1948, bổ nhiệm Giám đốc Nha khoáng chất kỹ nghệ (Bộ Kinh tế).

– Sắc lệnh số 230-SL, ngày 20-8-1948, sửa đổi về tổ chức Tư pháp công an.

– Sắc lệnh số 231-SL, ngày 20-8-1948, sửa đổi điều 3 của Sắc lệnh số 191-SL (16-2-1947), về tổ chức Toà án binh cấp khu.

– Sắc lệnh số 232-SL, ngày 20-8-1948, về việc ân giảm một số phạm nhân, nhân kỷ niệm Quốc khánh 2-9.

– Sắc lệnh số 233-SL, ngày 20-8-1948, bổ nhiệm Tổng Giám đốc tiểu học vụ.

– Sắc lệnh số 234-SL, ngày 20-8-1948, mở “Trường Y sĩ Việt Nam” đào tạo cán bộ y tế cho cơ quan dân y và quân y.

– Sắc lệnh số 235-SL, ngày 20-8-1948, bổ nhiệm Phó Đổng lý sự vụ Bộ Canh nông.

– Sắc lệnh số 237-SL, ngày 26-8-1948, chuyển huyện Thuỷ Nguyên (tỉnh Kiến An) và huyện Nam Sách (tỉnh Hải Dương) từ Liên khu I về Liên khu III; sáp nhập trường bay Gia Lâm (thuộc tỉnh Bắc Ninh) vào thành phố Hà Nội và do Liên khu III quản lý.

– Sắc lệnh số 238-SL, ngày 28-8-1948, bổ nhiệm Phó Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu VI.

– Sắc lệnh số 239-SL, ngày 28-8-1948, bổ nhiệm Chánh vǎn phòng Hội đồng Quốc phòng tối cao.

– Sắc lệnh số 240-SL, ngày 28-8-1948, cử Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu X.

– Sắc lệnh số 241-SL, ngày 12-10-1948, thành lập “Ban trung ương bao vây kinh tế địch”.

– Sắc lệnh số 242-SL, ngày 12-10-1948, sửa đổi một số điểm trong chương 1, 2, 3 Sắc lệnh số 20-SL (ngày 16-2-1947) về chế độ hưu bổng, thương tật và tiền tuất cho thân nhân tử sĩ.

– Sắc lệnh số 243-SL, ngày 14-10-1948, bổ nhiệm Đổng lý sự vụ Bộ Lao động.

– Sắc lệnh số 244-SL, ngày 14-10-1948, trích 30 triệu đồng ở Quỹ toàn quốc cho Nha tín dụng sản xuất làm tiền quyên trợ (lần thứ hai).

– Sắc lệnh số 245-SL, ngày 14-10-1948, ấn định chế độ phụ cấp cho các vị trong Ban Thường vụ và Ban Thường trực Quốc hội.

– Sắc lệnh số 246-SL, ngày 14-10-1948, ấn định phụ cấp cho các Bộ trưởng, Thứ trưởng các Bộ và Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và Dân quân Việt Nam.

– Sắc lệnh số 247-SL, ngày 14-10-1948, cho phép một kiều dân Đức được nhập quốc tịch Việt Nam.

– Sắc lệnh số 248-SL, ngày 14-10-1948, tặng Huân chương Quân công hạng Ba cho Thiếu tướng, Cục trưởng Cục Quân giới Trần Đại Nghĩa.

– Sắc lệnh số 249-SL, ngày 14-10-1948, bổ nhiệm Khu trưởng, Khu phó khu IX.

– Sắc lệnh số 250-SL, ngày 14-10-1948, bổ nhiệm Liên Khu phó Liên khu I.

– Sắc lệnh số 252-SL, ngày 22-10-1948, bãi chức Giám đốc Ban pháp chế Bộ Lao động.

– Sắc lệnh số 253-SL, ngày 22-10-1948, chuẩn y để ông Lê Xuân Hưu từ chức Phó Đổng lý sự vụ Bộ Thương binh và Cựu binh.

– Sắc lệnh số 254-SL, ngày 19-11-1948, quy định về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn, cách làm việc, sự phân công của tổ chức chính quyền nhân dân các cấp.

– Sắc lệnh số 255-SL, ngày 19-11-1948, quy định về tổ chức và cách làm việc của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban kháng chiến hành chính trong vùng địch tạm kiểm soát hoặc uy hiếp.

– Sắc lệnh số 256-SL, ngày 19-11-1948, quy định Bộ trưởng Quốc phòng có quyền phát hành “Quân dụng phiếu” trong thời chiến.

– Sắc lệnh số 257-SL, ngày 19-11-1948, cấm mọi sự tích trữ có tính đầu cơ hàng hoá thiết yếu.

– Sắc lệnh số 257B-SL, ngày 19-11-1948, ấn định thể lệ truy tố tội vi phạm thể lệ mậu dịch với vùng địch tạm chiếm.

– Sắc lệnh số 258-SL, ngày 19-11-1948, quy định tổ chức công an quân pháp.

– Sắc lệnh số 259-SL, ngày 19-11-1948, ấn định mức sinh hoạt phí tối thiểu cho quân nhân mỗi ngày và mức phụ cấp hàng tháng (theo cấp bậc).

– Sắc lệnh số 260-SL, ngày 19-11-1948, bổ nhiệm Đổng lý vǎn phòng Bộ Canh nông.

– Sắc lệnh số 261-SL, ngày 19-11-1948, ấn định mức lương cho những người không phải công chức đang làm việc tại các cơ quan bộ, kỳ, khu và tỉnh.

– Sắc lệnh số 262-SL, ngày 20-11-1948, ấn định biểu thuế điền thổ nǎm 1948.

– Sắc lệnh số 262B-SL, ngày 22-11-1948, bổ nhiệm Đổng lý sự vụ Bộ Nội vụ.

– Sắc lệnh số 263-SL, ngày 28-11-1948, sáp nhập huyện Gia Lâm (Liên khu I) vào Liên khu III.

– Sắc lệnh số 264-SL, ngày 19-11-1948, bổ khuyết về tổ chức Toà án binh.

– Sắc lệnh số 265-SL, ngày 10-12-1948, quy định Uỷ ban kháng chiến hành chính Hà Nội là một Uỷ ban kháng chiến hành chính thành phố, thuộc Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu III.

NǍM 1949

– Sắc lệnh số 1-SL, ngày 10-1-1949, thay đổi địa giới một số xã và huyện của tỉnh Hải Dương.

– Sắc lệnh số 2-SL, ngày 1-2-1949, thành lập Trường cao đẳng Mỹ thuật.

– Sắc lệnh số 3-SL, ngày 1-2-1949, bổ nhiệm Phó Cục trưởng Cục chính trị (Bộ Quốc phòng).

– Sắc lệnh số 4-SL, ngày 1-2-1949, bổ nhiệm Phó Cục trưởng Cục tình báo (Bộ Quốc phòng).

– Sắc lệnh số 5-SL, ngày 1-2-1949, bổ nhiệm Chánh vǎn phòng Bộ Quốc phòng kiêm Chánh vǎn phòng Bộ Tổng tư lệnh Quân đội quốc gia và Dân quân Việt Nam.

– Sắc lệnh số 6-SL, ngày 25-2-1949, ấn định việc chi thu nǎm 1949.

– Sắc lệnh số 7-SL, ngày 25-2-1949, cho phép một kiều dân Trung Hoa được nhập quốc tịch Việt Nam.

– Sắc lệnh số 8-SL, ngày 25-2-1949, cấm bán quá giá tối đa do Chính phủ quy định với những mặt hàng thiết yếu cho đời sống và công cuộc kháng chiến.

– Sắc lệnh số 9-SL, ngày 25-2-1949, ấn định một số nguyên tắc tổ chức doanh nghiệp quốc gia.

– Sắc lệnh số 10-SL, ngày 8-3-1949, cử Giám đốc Nha bình dân học vụ.

– Sắc lệnh số 12-SL, ngày 12-3-1949, trừng trị tội ǎn cắp các đồ quân giới, quân trang, quân dụng.

– Sắc lệnh số 13-SL, ngày 12-3-1949, chuyển huyện Kinh Môn Liên khu I về tỉnh Hải Dương (Liên khu III).

– Sắc lệnh số 14-SL, ngày 12-3-1949, đổi tên Bộ Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và Dân quân Việt Nam thành Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội quốc gia và Dân quân Việt Nam; các bộ chỉ huy Liên khu quân sự thành Bộ Tư lệnh Liên khu; Tổng chỉ huy gọi là Tổng tư lệnh; Liên khu trưởng gọi là Tư lệnh Liên khu.

– Sắc lệnh số 15-SL, ngày 12-3-1949, hợp nhất hai xã Phú Thịnh (Hưng Nguyên) và xã Nam Cường (Nam Đàn) thành xã Nam Hưng thuộc huyện Nam Đàn (Nghệ An).

– Sắc lệnh số 16-SL, ngày 12-3-1949, việc xá thuế điền thổ nǎm 1948 cho một huyện ở nam tỉnh Bắc Ninh.

– Sắc lệnh số 18-SL, ngày 12-3-1949, cử Tư lệnh Bộ Tư lệnh Nam Bộ.

– Sắc lệnh số 19-SL, ngày 21-3-1949, cử Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Nam Bộ.

– Sắc lệnh số 20-SL, ngày 21-3-1949, cử Chính trị uỷ viên Bộ Tư lệnh Nam Bộ.

– Sắc lệnh số 26-SL, ngày 25-4-1949, sửa đổi thể lệ truy tố tội quan hệ mậu dịch với vùng địch tạm chiếm.

– Sắc lệnh số 27-SL, ngày 25-4-1949, thay đổi giá tem thuế biên lai.

– Sắc lệnh số 28-SL, ngày 25-4-1949, cho phép một kiều dân Pháp được nhập quốc tịch Việt Nam.

– Sắc lệnh số 29-SL, ngày 25-4-1949, bổ sung điều 5 Sắc lệnh số 254-SL (19-11-1948) về điều kiện bầu lại Hội đồng nhân dân tỉnh.

– Sắc lệnh số 30-SL, ngày 25-4-1949, bác đơn xin ân xá án tử hình của một tội nhân.

– Sắc lệnh số 31-SL, ngày 25-4-1949, bổ nhiệm Đổng lý vǎn phòng Bộ Quốc gia giáo dục.

– Sắc lệnh số 32-SL, ngày 25-4-1949, tặng Huân chương Độc lập các hạng, Huân chương kháng chiến hạng Nhất cho một số tập thể và cá nhân.

– Sắc lệnh số 33-SL, ngày 25-4-1949, sáp nhập Nha thống kê (Bộ Kinh tế) vào Chủ tịch phủ.

– Sắc lệnh số 34-SL, ngày 25-4-1949, cử Giám đốc Nha thống kê.

– Sắc lệnh số 36-SL, ngày 25-4-1949, thành lập “Quỹ tham gia kháng chiến”.

– Sắc lệnh số 37-SL, ngày 11-5-1949, đặt Uỷ ban kháng chiến hành chính Hà Nội trực thuộc Chính phủ trung ương.

– Sắc lệnh số 38-SL, ngày 21-5-1949, duyệt y Ngân sách toàn quốc tài khoá 1949.

– Sắc lệnh số 39-SL, ngày 21-5-1949, cho phép phát hành tem thư có hình Chủ tịch Hồ Chí Minh.

– Sắc lệnh số 40-SL, ngày 21-5-1949, chỉ định Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu I.

– Sắc lệnh số 44-SL, ngày 21-5-1949, chỉ định Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu IV.

– Sắc lệnh số 46-SL, ngày 7-6-1949, chỉ định Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính miền Nam Trung Bộ.

– Sắc lệnh số 47-SL, ngày 7-6-1949, lập xã Phong Chương, huyện Phong Điền (Thừa Thiên).

– Sắc lệnh số 48-SL, ngày 7-6-1949, sáp nhập huyện Lộc Bình (tỉnh Hải Ninh) vào tỉnh Lạng Sơn.

– Sắc lệnh số 49-SL, ngày 18-6-1949, ban hành Bộ luật thuế trực thu áp dụng trong toàn quốc từ 1-1-1950.

– Sắc lệnh số 50-SL, ngày 18-6-1949, bổ nhiệm Đổng lý quân vụ Bộ Quốc phòng.

– Sắc lệnh số 52-SL, ngày 18-6-1949, bổ nhiệm Đổng lý sự vụ Bộ Quốc phòng.

– Sắc lệnh số 53-SL, ngày 18-6-1949, bổ nhiệm Chánh vǎn phòng Bộ Quốc phòng kiêm Chánh vǎn phòng Bộ Tổng tư lệnh.

– Sắc lệnh số 54-SL, ngày 18-6-1949, cử quyền Tổng tham mưu phó Bộ Tổng tham mưu.

– Sắc lệnh số 55-SL, ngày 18-6-1949, cử Giám đốc Nha quân giới, Nha quân dược, Nha quân nhu.

– Sắc lệnh số 56-SL, ngày 18-6-1949, cử Cục trưởng Cục quân chính, Cục quân nhu, Cục công binh, Cục thông tin liên lạc.

– Sắc lệnh số 57-SL, ngày 18-6-1949, cử Bộ chỉ huy Đại đoàn 308.

– Sắc lệnh số 58-SL, ngày 18-6-1949, bãi bỏ Sắc lệnh số 241-SL ngày 12-10-1948 về việc lập Ban trung ương bao vây kinh tế địch.

– Sắc lệnh số 59-SL, ngày 18-6-1949, bãi bỏ thể lệ hiện hành về sản xuất diêm tiêu.

– Sắc lệnh số 60-SL, ngày 18-6-1949, bổ nhiệm Chánh vǎn phòng Bộ Kinh tế.

– Sắc lệnh số 61-SL, ngày 18-6-1949, bổ nhiệm Phó Đổng lý sự vụ Bộ Kinh tế.

– Sắc lệnh số 62-SL, ngày 18-6-1949, bổ nhiệm Đổng lý sự vụ Bộ Kinh tế.

– Sắc lệnh số 63-SL, ngày 18-6-1949, quy định nǎm 1949 vẫn giữ nguyên các biểu thuế áp dụng nǎm 1948.

– Sắc lệnh số 64-SL, ngày 18-6-1949, sáp nhập Nha địa chính và các cơ quan phụ thuộc vào Bộ Tài chính.

– Sắc lệnh số 65-SL, ngày 18-6-1949, bổ nhiệm Phó Đổng lý sự vụ Bộ Tài chính.

– Sắc lệnh số 66-SL, ngày 18-6-1949, bổ nhiệm Chánh vǎn phòng Bộ Tài chính.

– Sắc lệnh số 67-SL, ngày 18-6-1949, định nguyên tắc kiểm soát nguyên liệu cho ngành quân giới.

– Sắc lệnh số 68-SL, ngày 18-6-1949, ấn định kế hoạch thực hiện công tác thuỷ nông, thể lệ bảo vệ công trình thuỷ nông.

– Sắc lệnh số 69-SL, ngày 18-6-1949, cho phép bị can nhờ một công dân không phải luật sư bào chữa.

– Sắc lệnh số 70-SL, ngày 18-6-1949, tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba cho Cục phó Cục quân giới.

– Sắc lệnh số 71-SL, ngày 18-6-1949, bãi bỏ thuế tổng nội sản xuất.

– Sắc lệnh số 72-SL, ngày 18-6-1949, thành lập Hội đồng tu luật.

– Sắc lệnh số 73-SL, và số 74-SL, ngày 27-6-1949, về ân giảm hai án tử hình.

– Sắc lệnh số 75-SL, ngày 1-7-1949, quyết định sung vào Nhà nước ruộng đất và tài sản của phạm nhân bị kết tội làm phương hại đến nền độc lập quốc gia.

– Sắc lệnh số 76-SL, ngày 1-7-1949, quy định quyền hạn sửa đổi tạm thời các đơn vị kháng chiến hành chính.

– Sắc lệnh số 78-SL, ngày 14-7-1949, ấn định giảm mức địa tô và lập Hội đồng giảm tô cấp tỉnh.

– Sắc lệnh số 79-SL, ngày 14-7-1949, chỉ định chế độ thuế trực thu tạm thời đối với ngoại kiều.

– Sắc lệnh số 80-SL, ngày 16-7-1949, chỉ định Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính Hà Nội.

– Sắc lệnh số 83-SL, ngày 2-8-1949, bổ nhiệm Phó Tư lệnh Liên khu III.

– Sắc lệnh số 84-SL, ngày 2-8-1949, bổ nhiệm Tư lệnh Liên khu IV.

– Sắc lệnh số 85-SL, ngày 2-8-1949, bổ nhiệm Giám đốc Nha quân giới nay kiêm chức Cục trưởng Cục pháo binh.

– Sắc lệnh số 86-SL, ngày 2-8-1949, bổ nhiệm Phó Đổng lý quân vụ Bộ Quốc phòng.

– Sắc lệnh số 87-SL, ngày 2-8-1949, sửa đổi điều 2 Sắc lệnh số 206-SL, ngày 19-8-1948, về thành lập Hội đồng Quốc phòng tối cao.

– Sắc lệnh số 88-SL, ngày 2-8-1949, sửa đổi điều 8 của Sắc lệnh số 131-SL (20-6-1946) về khám nhà khi phạm pháp quả tang; sửa điều 2, điều 6 Sắc lệnh số 13 (24-1-1946) về lập biên bản khám nhà.

– Sắc lệnh số 89-SL, ngày 2-8-1949, bãi bỏ chức Tổng thanh tra Bộ Canh nông.

– Sắc lệnh số 90-SL, ngày 2-8-1949 cử Uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính Hà Nội.

– Sắc lệnh số 91-SL, ngày 2-8-1949, bổ nhiệm Chánh Vǎn phòng Bộ Giao thông công chính.

– Sắc lệnh số 92-SL, ngày 2-8-1949, cho phép ông Hoàng Thiếu Sơn thôi chức Chánh vǎn phòng Bộ Quốc gia giáo dục.

– Sắc lệnh số 93-SL, ngày 2-8-1949, lập Hội đồng xét cấp bậc cho quân nhân.

– Sắc lệnh số 95-SL, ngày 13-8-1949, đặt ngạch Thanh tra lao động và Kiểm soát lao động.

– Sắc lệnh số 96-SL, ngày 17-8-1949, ân xá một án tử hình cho phạm nhân.

– Sắc lệnh số 97-SL, ngày 19-8-1949, cử Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu IV.

– Sắc lệnh số 98-SL, ngày 20-8-1949, ân giảm hai án tử hình cho phạm nhân.

– Sắc lệnh số 99-SL, ngày 20-8-1949, bác đơn xin ân giảm án tử hình của nguyên Trưởng ty công an tỉnh Hà Nam.

– Sắc lệnh số 102-SL, ngày 4-9-1949, lập Hội đồng Giáo dục.

– Sắc lệnh số 103-SL, ngày 4-9-1949, quy định Nhà máy phốt phát Nghệ An là một doanh nghiệp quốc gia.

– Sắc lệnh số 104-SL, ngày 4-9-1949, cấp thêm 50 triệu đồng cho Cục tiếp tế vận tải.

– Sắc lệnh số 105 – SL, ngày 9-9-1949, bãi bỏ Sắc lệnh số 246-SL (14-10-1948) và ấn định mức phí hàng tháng của các vị trong Chính phủ.

– Sắc lệnh số 106 -SL, ngày 9-9-1949, bãi bỏ Sắc lệnh số 245-SL (14-10-1948) và ấn định mức phí cấp hàng tháng của các vị trong Ban thường trực Quốc hội.

– Sắc lệnh số 108 -SL, ngày 23-9-1949, bãi bỏ Hội đồng sản xuất kỹ nghệ (Bộ Kinh tế).

– Sắc lệnh số 109 -SL, ngày 23-9-1949, bổ sung về việc truy tố tội vi phạm thể lệ mậu dịch với vùng địch tạm chiếm.

– Sắc lệnh số 110 -SL, ngày 23-9-1949, lập Ban cǎn cứ địa Việt Bắc.

– Sắc lệnh số 111 -SL, ngày 6-10-1949, cấp cho Nha tín dụng sản xuất 30 triệu đồng làm Quỹ quyên trợ (lần thứ 3).

– Sắc lệnh số 114 -SL, ngày 18-10-1949, cử Chính trị uỷ viên Liên khu III.

– Sắc lệnh số 115-SL, ngày 18-10-1949, chỉ định một số cán bộ vào Uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Bộ.

– Sắc lệnh số 116- -SL, ngày 18-10-1949, cử ông Cục trưởng Cục dân quân kiêm chức Cục trưởng Cục chính trị.

– Sắc lệnh số 117 -SL, ngày 18-10-1949, sửa đổi điều 7 Sắc lệnh số 131 -SL, ngày 20-7-1946 về việc khám nhà tư nhân ban đêm.

– Sắc lệnh số 118 -SL, ngày 18-10-1949, thành lập Uỷ ban xí nghiệp tại các xí nghiệp Nhà nước

– Sắc lệnh số 119 -SL, ngày 20-10-1949, cử Chính trị uỷ viên Bộ Tư lệnh Nam Bộ.

– Sắc lệnh số 120 -SL, ngày 20-10-1949, đặt một ban Cố vấn bên cạnh Uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Bộ.

– Sắc lệnh số 121 -SL, ngày 20-10-1949, sửa điều 4 sắc lệnh số 33 – SL, (22-3-1946) quy định cấp bậc, quân phục, phù hiệu, cấp hiệu cho quân đội; ấn định quyền hạn của từng cấp trong việc định cấp bậc cho quân nhân.

– Sắc lệnh số 122 – SL, ngày 21-10-1949, bổ sung điều 1 Sắc lệnh số 26 – SL (25-4-1949) truy tố tội vi phạm thể lệ quan hệ mậu dịch với vùng địch bị tạm chiếm.

– Sắc lệnh số 123 – SL, ngày 27-10-1949, quy định điều kiện những người được chữa bệnh theo Tây y.

– Sắc lệnh số 124 – SL, ngày 27-10-1949, quy định điều kiện cho phép những người muốn mở hiệu thuốc chữa bệnh theo Tây y.

– Sắc lệnh số 126 – SL, ngày 4-11-1949, quy định nghĩa vụ quân sự cho nam công dân từ 18 đến 45 tuổi.

– Sắc lệnh số 127 – SL, ngày 4-11-1949, hợp nhất Liên khu I và Liên khu X thành Liên khu Việt Bắc, lập Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu Việt Bắc.

– Sắc lệnh số 128 – SL, ngày 4-11-1949, cử thành viên Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu Việt Bắc.

– Sắc lệnh số 129 – SL, ngày 4-11-1949 cử cố vấn ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu Việt Bắc.

– Sắc lệnh số 130 – SL, ngày 7-11-1949, sáp nhập một số huyện thuộc tỉnh Kiến An và tỉnh Hải Dương vào tỉnh Quảng Yên.

– Sắc lệnh số 131 – SL, ngày 7-11-1949, trả huyện Gia Lâm về tỉnh Bắc Ninh.

– Sắc lệnh số 134 -SL, ngày 22-11-1949, cử cán bộ vào Bộ Tư lệnh quân đội địa phương và dân quân Liên khu Việt Bắc.

– Sắc lệnh số 135 -SL, ngày 25-11-1949, bỏ điều 9 Sắc lệnh số 254- SL (19-11-1949) về thẩm quyền bãi miễn của Hội đồng nhân dân xã và tỉnh và thay bằng điều 9 mới.

– Sắc lệnh số 136 -SL, ngày 29-11-1949, ấn định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân thị xã và thành phố.

– Sắc lệnh số 138 -SL, ngày 14-12-1949, cho phép một kiều dân Trung Hoa được nhập quốc tịch Việt Nam .

– Sắc lệnh số 138b -SL, ngày 18-12-1949, lập Ban thanh tra Chính phủ trực thuộc Phủ Thủ tướng.

– Sắc lệnh số 138c -SL, ngày 18-12-1949, cử cán bộ vào Ban thanh tra Chính phủ.

– Sắc lệnh số 140 -SL, ngày 21-12-1949, sửa đổi một số điều trong Sắc lệnh số 71 -SL (22-5-1945) về tổ chức và ấn định quy tắc Quân đội quốc gia Việt Nam.

– Sắc lệnh số 141 -SL, ngày 21-12-1949, bãi bỏ Nha hưu bổng và giao các vấn đề về hưu bổng cho Vǎn phòng Bộ Tài chính.

– Sắc lệnh số 142 -SL, ngày 21-12-1949, quy định các Trưởng hạt, Trưởng liên hạt lâm chính có tư cách như Uỷ viên tư pháp công an.

– Sắc lệnh số 143 -SL, ngày 21-12-1949, đổi tên Nha thương vụ và Nha khoáng chất kỹ nghệ (Bộ Kinh tế) thành Nha thương mại và Nha kỹ nghệ.

– Sắc lệnh số 144 -SL, ngày 21-12-1949, sửa điều 1 Sắc lệnh số 69- SL (18-6-1949) về quyền bào chữa của phạm nhân.

– Sắc lệnh số 145 -SL, ngày 22-12-1949, lập Nha y tế thôn quê trong Bộ Y tế và ấn định nhiệm vụ của Nha.

– Sắc lệnh số 146 -SL, ngày 24-12-1949, ấn định mức thuế điền thổ nǎm 1950.

– Sắc lệnh số 147 -SL, ngày 26-12-1949, quy định quyền hạn đặc biệt của cấp chỉ huy quân đội đối với các Uỷ ban kháng chiến hành chính trong những vùng đang có chiến sự.

– Sắc lệnh số 148 -SL, ngày 30-12-1949, bãi bỏ Sắc lệnh số 135 -SL (24-7-1946) và ấn định mức chi phí tiếp tân cho các cấp chính quyền nhân dân, từ Ban Thường trực Quốc hội đến Uỷ ban kháng chiến hành chính huyện và thị xã.

– Sắc lệnh số 149 -SL, ngày 30-12-1949, tặng Huân chương Độc lập, Huân chương Kháng chiến nhân kỷ niệm ba nǎm toàn quốc kháng chiến.

– Sắc lệnh số 150 -SL, ngày 31-12-1949, bổ sung quyền hạn và nhiệm vụ của Bộ trưởng Bộ Nội vụ đối với Uỷ ban kháng chiến hành chính các cấp.

cpv.org.vn

Hồ Chí Minh toàn tập – Lời giới thiệu tập 6

Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 6 gồm những bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ ngày 1-1-1950 đến cuối tháng 12-1952. Đây là thời kỳ cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp đang chuyển mạnh từ thế cầm cự sang thế phản công tích cực để tiến tới tổng phản công.

Thất bại trong chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh, thực dân Pháp phải cầu cứu đế quốc Mỹ. Với sự giúp đỡ của Mỹ, Pháp thi hành chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”. Chúng củng cố nguỵ quyền, nguỵ quân, mở rộng lấn chiếm ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, phong toả biên giới, bao vây cǎn cứ địa Việt Bắc, vừa tǎng cường phòng thủ vùng đồng bằng Bắc Bộ, vừa tìm cách phản công, để giành lại quyền chủ động chiến lược đã mất.

Tập 6 thể hiện rõ những tư tưởng, chủ trương, hoạt động rộng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đối nội, đối ngoại để lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đẩy cuộc kháng chiến tiến mạnh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích đúng tình hình, tương quan lực lượng giữa phe dân chủ, cách mạng và phe đế quốc, phản động trên phạm vi toàn thế giới. Người chỉ rõ, lực lượng đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, bảo vệ hoà bình đã hình thành một mặt trận thống nhất thế giới, gồm Liên Xô, Trung Quốc, các nước Đông Âu, do Liên Xô lãnh đạo, nhiều nước vừa giành được độc lập về chính trị, nhân dân yêu chuộng hoà bình và tiến bộ trên thế giới. Đó là một lực lượng rất mạnh, là đồng minh to lớn cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta.

Phe phản dân chủ do Mỹ cầm đầu, gồm Mỹ, Anh, Pháp và các thế lực phản động tay sai của chúng. Mỹ thi hành chính sách Tơruman, kế hoạch Mácsan, lập khối Bắc Đại Tây Dương, vũ trang Tây Đức, Nhật Bản, lôi kéo các chính phủ phản động ở châu á vào khối Thái Bình Dương, thi hành chính sách “dùng người châu á đánh người châu á”, phá hoại phong trào giải phóng dân tộc. ở Việt Nam, từ ngày bắt đầu chiến tranh, Mỹ đã ra sức giúp giặc Pháp. Từ nǎm 1950, Mỹ tiến thêm một bước là trực tiếp can thiệp vào nước ta. Cho nên ta đã có “một kẻ địch chính là giặc Pháp lại thêm một kẻ địch nữa là bọn can thiệp Mỹ(tr.81). Trong thời kỳ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh chú ý phân tích chính sách và những hoạt động của Mỹ trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, vǎn hoá nhằm làm rõ âm mưu, bản chất, thủ đoạn của đế quốc Mỹ, chỉ ra những chỗ yếu, những mâu thuẫn trong nội bộ của chúng nhằm đánh tan tư tưởng phục Mỹ, sợ Mỹ còn rơi rớt trong một bộ phận nhân dân ta.

Tại Đại hội toàn quốc lần thứ II của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách đặt ra cho cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới.

Người khẳng định nhiệm vụ của Đảng Lao động Việt Nam trong giai đoạn này là “đoàn kết và lãnh đạo toàn dân kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, tranh lại thống nhất và độc lập hoàn toàn; lãnh đạo toàn dân thực hiện dân chủ mới, xây dựng điều kiện để tiến đến chủ nghĩa xã hội” (tr.174). Để thực hiện được nhiệm vụ này, Người nêu ra phương châm, nguyên tắc và những biện pháp xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức nhằm rèn luyện Đảng ta thành một “đảng to lớn, mạnh mẽ, chắc chắn, trong sạch, cách mạng triệt để” (tr.174), xứng đáng là một chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, làm cho Đảng trở thành nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Người vạch rõ: “Trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của dân tộc là một. Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam” (tr.175). Với sứ mệnh to lớn, vẻ vang, toàn Đảng, cũng như mỗi đảng viên phải có trách nhiệm xung phong gương mẫu, làm cho dân tin Đảng, yêu Đảng, làm theo chính sách của Đảng và Chính phủ, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công, làm cho nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, phú cường.

Bên cạnh việc xây dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo sát sao việc chỉnh đốn và kiện toàn bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương, chú trọng ngành công an, tư pháp, kinh tế tài chính, vǎn hoá, giáo dục, sửa đổi và thống nhất phương pháp công tác cho cán bộ. Nǎm 1952, Người phát động phong trào tẩy trừ bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí, làm cho bộ máy chính quyền trong sạch, thật sự là chính quyền của dân, do dân và vì dân. Người rất quan tâm việc đẩy mạnh phong trào thi đua ái quốc nhằm động viên đến mức cao tinh thần yêu nước của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Pháp thắng lợi.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta chủ trương phát triển lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Chỉ đạo việc xây dựng và phát triển quân đội, Người vạch rõ: “Phải ra sức đẩy mạnh việc xây dựng và củng cố công tác chính trị và quân sự trong bộ đội ta. Phải nâng cao giác ngộ chính trị, nâng cao chiến thuật và kỹ thuật, nâng cao kỷ luật tự giác của bộ đội ta. Phải làm cho quân đội ta thành một quân đội chân chính của nhân dân” (tr.171), “một quân đội vô địch”. Đồng thời, Người chỉ rõ: “Phải phát triển và củng cố dân quân du kích về các mặt: tổ chức, huấn luyện, chỉ đạo và sức chiến đấu. Phải làm cho lực lượng của dân quân du kích thành những tấm lưới sắt rộng rãi và chắc chắn, chǎng khắp mọi nơi, địch mò đến đâu là mắc lưới đến đó” (tr.171). Đảng ta chủ trương đẩy mạnh chiến tranh du kích ở mặt trận sau lưng địch, đồng thời chỉ đạo bộ đội chủ lực tiến lên đánh vận động, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, đánh vận động song song với đánh du kích trên cả hai mặt trận trước mặt địch, sau lưng địch và phối hợp chặt chẽ hai mặt trận ấy với nhau, nhằm phân tán lực lượng, làm rối loạn kế hoạch của địch trên khắp các chiến trường, tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng đất đai.

Tại Hội nghị chiến tranh du kích, Người vạch rõ mục đích của chiến tranh du kích “không phải là ǎn to đánh lớn mà phải tỉa dần, đánh làm cho nó ǎn không ngon, ngủ không yên, không thở được, bị hao mòn về tinh thần và vật chất rồi đi đến chỗ bị tiêu diệt” (tr.525). Cần có sự phối hợp hành động giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Bộ đội chủ lực phải giúp đỡ bộ đội địa phương và dân quân du kích về tổ chức, huấn luyện mọi mặt. Cả ba thứ quân đều phải “bám sát lấy dân, rời dân ra nhất định thất bại”. Phải biết bảo vệ, giáo dục, giúp đỡ, vận động nhân dân. Làm sao cho được lòng dân, dân tin, dân mến, dân yêu, thì việc gì cũng làm được và nhất định thắng lợi.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đề ra những quyết định lớn chỉ đạo chiến lược chiến tranh, phương châm tác chiến, mà còn trực tiếp chỉ đạo cụ thể về chiến thuật và chiến dịch. Người uốn nắn những khuynh hướng nóng vội, muốn đánh to, ǎn to khi chưa đủ điều kiện, chỉ rõ trong tác chiến phải phát huy tinh thần, ưu thế chính trị để đánh địch, dũng cảm, chủ động tìm địch mà đánh, tranh thủ thời gian, chớp thời cơ, bí mật, bất ngờ tiến công địch, hễ đánh là phải quyết thắng. Người giáo dục cán bộ trong quân đội, “từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng tư lệnh trở xuống, phải sǎn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên, phải xem đội viên ǎn uống như thế nào, phải hiểu nguyện vọng và thắc mắc của đội viên. Bộ đội chưa ǎn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt. Thế mới dân chủ, mới đoàn kết, mới tất thắng” (tr.207). Sự quan tâm, chỉ đạo đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đối với việc xây dựng lực lượng vũ trang và đấu tranh quân sự có ý nghĩa quyết định thắng lợi của các chiến dịch Hoà Bình, Tây Bắc và thắng lợi của các chiến trường khác trong cả nước. Các lực lượng vũ trang ta tiến bộ rõ rệt trong đánh du kích, đánh vận động, tiến tới đánh công kiên, có khả nǎng khắc phục được khó khǎn về tiếp tế, để đánh lớn ở các chiến trường đồng bằng, trung du và rừng núi, xa hậu phương.

Cùng với tiến công địch trên mặt trận quân sự, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương đẩy mạnh hoạt động ngoại giao. Thực hiện phương châm thêm bạn bớt thù, muốn làm bạn với tất cả các nước dân chủ, không gây oán thù với bất cứ ai, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố rõ quan điểm đối ngoại của Chính phủ ta với chính phủ các nước trên thế giới: “Cǎn cứ trên quyền lợi chung, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với chính phủ nước nào trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam, để cùng nhau bảo vệ hoà

bình và xây đắp dân chủ thế giới” (tr.8). Sau tuyên bố của Người, chính phủ các nước xã hội chủ nghĩa và dân chủ mới lần lượt chính thức công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ ta. Thắng lợi ngoại giao này thực sự đưa lại sức mạnh ủng hộ to lớn của phe dân chủ và hoà bình trên thế giới với nhân dân ta. Sức mạnh tự lực tự cường của dân tộc được kết hợp với sức mạnh đoàn kết quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc kháng chiến mau tới thắng lợi.

Vừa nhận sự giúp đỡ của các nước bạn và nhân dân thế giới, Người vừa nêu cao tinh thần quốc tế chân chính trong việc giúp đỡ, đoàn kết với các dân tộc Miên, Lào cùng kháng chiến. Tư tưởng xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong Mặt trận dân tộc thống nhất, tiến tới xây dựng khối đại đoàn kết ba dân tộc Việt – Miên – Lào chiến đấu vì độc lập tự do của mỗi nước, thể hiện sâu sắc trong bài nói của Người tại buổi khai mạc Đại hội thống nhất Việt Minh – Liên Việt và nhiều bài khác. Người khẳng định: “Dân tộc Việt đại đoàn kết, dân tộc Miên đại đoàn kết, dân tộc Lào đại đoàn kết. Rồi đây chúng ta nhất định đi đến Việt – Miên – Lào đại đoàn kết. Với sự đồng tâm nhất trí của ba dân tộc anh em, với sức đại đoàn kết của ba dân tộc anh em, chúng ta nhất định đánh tan lũ thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ” (tr.181).

Các bài nói, bài viết và cả những bài thơ chữ Hán, chữ Việt của Người được in trong tập sách này, đã làm rõ thêm hình ảnh Bác Hồ, một người cách mạng giản dị, cần lao, tranh đấu, đồng cam cộng khổ với cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta trong kháng chiến, một tấm gương mẫu mực về những đức tính quý báu: Trung với nước, hiếu với dân, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Người kiên quyết chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của dân tộc, đồng thời có lòng nhân ái bao la, có muôn vàn tình thương yêu với bộ đội, chiến sĩ, đồng bào đang đau khổ trong vùng tạm bị chiếm, với các em bé thiếu nhi, các thương binh liệt sĩ. Người có lòng khoan dung đối với những tù, hàng binh và những người lầm đường lạc lối. Người sẵn sàng mở cho Pháp lối thoát danh dự để kết thúc chiến tranh.

*

*      *

Trong Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 6, xuất bản lần thứ hai, các bài nói và viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều được đối chiếu với bản gốc hoặc bản công bố lần đầu tiên trên các sách báo từ 1950 đến nay.

Phần Phụ lục, có danh mục các sắc lệnh và quyết định do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký trong thời gian 1950-1952 và một số tài liệu ghi lại lời phát biểu của Người.

Do công tác lưu trữ trong thời kỳ kháng chiến có nhiều khó khǎn, thời gian chuẩn bị bản thảo của chúng tôi còn bị hạn chế, nên trong việc sưu tầm, đối chiếu, xác minh, chú thích tài liệu của tập này chắc chắn không tránh khỏi còn thiếu sót. Chúng tôi mong nhận được ý kiến xây dựng của bạn đọc xa gần.

cpv.org.vn


Bạn muốn download trọn bộ Hồ Chí Minh toàn tập
Tập 6 (1953 – 1955) hãy nhấn vào đây Down load

Học bài học lớn Bác Hồ dạy làm báo

Từ khi rời Bến Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước đến khi viết bài báo cuối cùng trong đời, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh luôn vận dụng sáng tạo luận điểm của Lênin về báo chí là công cụ “tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể, tổ chức tập thể”.

Trong sự nghiệp cách mạng vĩ đại, Người đã học viết báo, làm báo và cũng chính Người đã sáng lập nên nền báo chí cách mạng Việt Nam. Trong hệ thống các giá trị tư tưởng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại, có một góc độ về tư tưởng – văn hóa – nghề nghiệp làm báo…

vbnhjgvbnhjgTranh châm biếm của Nguyễn Ái Quốc trên Báo Le Paria (Người Cùng Khổ):Văn minh bề trên! (Số 2, ngày 1-5-1922) và Mau lên du hành! (Số 5, ngày 1-8-1922).

Bài học viết báo, làm báo, sử dụng báo chí

Có câu chuyện kể rằng: Khi đặt chân đến nước Pháp, Nguyễn Ái Quốc mưu sinh bằng nhiều nghề và trong tiềm thức của người thanh niên ấy muốn chứng kiến những gì diễn ra ngay trên đất nước có nền văn minh “đi khai hóa thuộc địa”, muốn tiếp cận các trào lưu tiến bộ trên thế giới và nhằm mục đích lớn lao là “tìm con đường giải phóng cho dân tộc mình”. Trên đất nước ấy, với vốn tiếng Pháp tự học, Người đã học viết báo, làm báo.

Chuyện kể rằng, khi viết bài báo đầu tiên gửi đến tòa soạn, vị chủ bút đã góp ý để Người sửa chữa. Rồi các bài báo tiếp theo được chọn đăng, khi ấy vị chủ bút lại bảo: “Bây giờ ông có thể viết dài ra”. Một thời gian sau, vị chủ bút lại bảo: “Ông có thể viết ngắn lại”.

Câu chuyện buổi đầu Nguyễn Ái Quốc học viết báo bằng chính ngôn ngữ “mẫu quốc” có thể tóm tắt như vậy và đó cũng là bài học vỡ lòng cho người làm báo hôm nay (nhất là những người đang bước vào nghề).

Không chỉ học viết báo, chính Người vừa sáng lập, phụ trách trình bày, vẽ biếm họa, in báo… và phát hành báo đến đối tượng cần tuyên truyền, giác ngộ cách mạng. Đó là những tờ báo gắn bó với cuộc đời hoạt động cách mạng của Người như: Le Paria (Người Cùng Khổ), Tạp chí Quốc Tế Nông Dân, Thanh Niên, Việt Nam Hồn, Thân Ái, Lính Cách Mệnh, Việt Nam Độc Lập, Cứu Quốc…

Người để lại bài học lớn, chính Người tổ chức quy trình xuất bản báo, chính Người phụ trách trình bày báo vừa in đậm dấu ấn nghệ thuật độc đáo, vừa hiện đại vừa bình dân. Đó là bài học sinh động về hình ảnh “cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng”, bài học sử dụng công cụ báo chí như “tờ hịch cách mạng” vẫn tươi nguyên.

Bài học về tính khuynh hướng chính trị của báo chí

Luận điểm báo chí mà Nguyễn Ái Quốc khẳng định trong suốt thời kỳ lịch sử lâu dài dưới chế độ thực dân phong kiến là đấu tranh cho quyền tự do báo chí. Với Nguyễn Ái Quốc, đấu tranh cho tự do báo chí về thực chất luôn gắn bó với đấu tranh cho khuynh hướng chính trị, bởi Nguyễn Ái Quốc nhận thức được rằng làm báo chính là làm chính trị – Báo chí là sản phẩm của khuynh hướng chính trị nhất định.

Trước sự đàn áp của thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã nêu lên nghịch lý đến nỗi khó tin được “Giữa thế kỷ XX này ở một đất nước có đến 20 triệu dân mà không có lấy một tờ báo! Các bạn có thể tưởng tượng được thế nào không? Không có lấy một tờ báo bằng tiếng mẹ đẻ của chúng tôi”.

Một tờ báo mà không đề cập đến các vấn đề chính trị và những chuyện thiết thân đến cuộc sống của người dân thì thủ tiêu chức năng của mình. Xu hướng chính trị của tờ báo, nói như Lênin “Một tờ báo mà không có xu hướng chính trị là điều lố lăng phi lý, chướng tai, gai mắt và có hại”. Nguyễn Ái Quốc phê phán tình trạng mất tự do của báo chí dưới chế độ thực dân Pháp nhưng đồng thời cũng nêu lên chức năng của báo chí.

Quan điểm của Hồ Chí Minh về tính khuynh hướng chính trị của báo chí cũng là luận điểm cơ bản để lý giải vấn đề “tự do báo chí” mà phương Tây rêu rao. Báo chí là công cụ, là sản phẩm chính trị của một giai cấp nhất định, do đó không có chuyện “tự do báo chí” chung chung.

Báo chí (dù là tờ báo mang đậm chất giải trí, chuyên về một lĩnh vực nào đó…) cũng do một tầng lớp, một tập đoàn, thậm chí một nhóm người…thực hiện. Tất cả đều phục vụ lợi ích của những người nắm giữ tờ báo. Đó chính là sự chi phối bởi tính khuynh hướng, vấn đề tự do báo chí, do đó không thể tách rời quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế của một giai cấp, chế độ chính trị.

Tiếp thu quan điểm này, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đã phát biểu “Tự do báo chí của chúng ta chính là tự do phục vụ lợi ích, vì hạnh phúc của nhân dân, vì chế độ XHCN”.

Ngày nay, dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, báo chí cách mạng nước ta đã có bước phát triển vượt bậc, với các loại hình báo chí: Báo viết (báo in), báo hình (truyền hình), báo nói (phát thanh), báo điện tử.

Báo chí hoạt động trong thời đại bùng nổ thông tin, thông tin đã trở thành lực lượng sản xuất ra của cải vật chất trực tiếp, trong đó báo chí đóng vai trò là kênh thông tin quan trọng đã thật sự trở thành sản phẩm chính trị đặc biệt có tính chất hàng hóa và trong chừng mực nào đó báo chí tỏ rõ quyền lực chính trị của mình.

Vì vậy bài học về tính khuynh hướng chính trị của báo chí càng phải thấm nhuần và vận dụng nhằm đảm bảo tính định hướng chính trị của hoạt động báo chí. Dù tờ báo thuộc cơ quan, tổ chức nào, nội dung thông tin – tuyên truyền phục vụ đối tượng người xem – người nghe là ai cũng phải có chính kiến, có định hướng rõ ràng.

Trong mối quan hệ đan xen ấy, vấn đề bản lĩnh chính trị để xử lý thông tin không chỉ là sự vững vàng, nhất quán về lập trường, quan điểm của Đảng đối với hoạt động báo chí mà còn là một thử thách mang tính cọ xát trước mỗi sự việc – sự kiện – vấn đề, mỗi tình huống trong quá trình tác nghiệp của những người làm báo, cơ quan báo chí lấy lợi ích chung của nhân dân, của đất nước đặt lên hàng đầu.

Trong quá trình hoạt động cách mạng, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta những bài học vô giá về báo chí cách mạng. Từ bài học vỡ lòng khi Người bắt đầu viết báo đến những quan điểm, phong cách… làm báo mà mỗi khi ôn lại, chúng ta càng thấm thía.

Đứng trước mỗi sự việc – sự kiện – vấn đề – tình huống…, người làm báo hôm nay hãy tự đặt câu hỏi và trả lời như Bác đã huấn thị: “- Viết cho ai? – Viết để làm gì? – Viết như thế nào?”. Đó là bài học lớn, rất cụ thể, rất thiết thực Bác để lại cho các thế hệ làm báo.

CỎ THƠM
baoapbac.vn

Nhắc mãi tên người Hồ Chí Minh

Nhà sàn Bác Hồ. Ảnh: PV

(BG)-Nhà thơ Tố Hữu – ngọn cờ đầu của nền thi ca cách mạng Việt Nam – đã viết:

Vì sao trái đất nặng ân tình
Nhắc mãi tên Người: Hồ Chí Minh
Như một niềm tin, như dũng khí
Như lòng nhân nghĩa, đức hy sinh

và:

Hồ Chí Minh, Người ở khắp nơi nơi.

Ngay từ những năm 20 của thế kỷ trước, các nhà cách mạng tiền bối nước ta như: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền… trên hành trình tìm đường cứu nước đều dành cho Người – lúc ấy là bậc hậu sinh của các vị – lòng yêu mến và tin tưởng. Cụ Phan Chu Trinh khẳng định: “Độc lập của nước Việt Nam sau này sở cậy có Nguyễn Ái Quốc“. Cụ Phan Bội Châu tin tưởng: “Tôi chắc ông Quốc vẫn còn, mà ông ấy còn thì nước ta nhất định sẽ độc lập.” Cụ Huỳnh Thúc Kháng, sau cách mạng trong thư gửi đồng bào, ngợi ca Bác: “Là bậc yêu nước đại chí sĩ, là nhà lịch nghiệm cách mạng đại chuyên gia. Chân đi khắp năm châu, mắt trông xa vạn dặm, nhận rõ thời cuộc, lặng dò thời cơ”.

Bộ Bách khoa toàn thư Universalis (Pháp) trong mục Hồ Chí Minh đã mở đầu như sau: “Trong lịch sử các cuộc cách mạng thế kỷ XX trên toàn thế giới,  Hồ Chí Minh – Nhà sáng lập và Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – giữ vị thế đặc biệt. Ông là người tiến hành cuộc chiến đấu dài lâu nhất so với bất kỳ nhà lãnh đạo khác trong thời đại ngày nay chống bá quyền và đế quốc thực dân. Khi Mao Trạch Đông còn là một viên thủ thư trẻ chưa hề thoáng ý cách mạng trong đầu, khi Zosip Briz của Nam Tư chưa nghĩ ra việc dùng biệt danh Tito kêu gọi nhân dân nổi dậy, Phidel castro (Cu Ba), Abdel Nasset (Ai Cập) và Che Guevara (Mỹ – latinh) gần như mới chào đời thì Nguyễn Ái Quốc từ năm 1919 đã đặt vấn đề giải phóng thuộc địa ra trước Hội nghị Hoà bình họp tại Điện Versailees (Pháp).”

Các nhân vật quốc tế có quan hệ với Bác trong những thời gian khác nhau, ở nhiều địa điểm, hoàn cảnh và tình thế khác nhau; cả đồng chí, bạn bè, cả đối thủ về tư tưởng hay trên chiến trường đều có những ấn tượng tốt đẹp về Người. Đó là điều kỳ diệu, vĩ đại của Bác. Đó không phải chỉ là tư tưởng mà còn là nhân cách lớn. Denit Gray (Pháp) nhận xét: “Việt Nam có thể có những bước thăng trầm nhưng ký ức về vị lãnh tụ cộng sản được sinh ra từ cuối thế kỷ XIX sẽ tồn tại mãi mãi”. S.Kronow (Mỹ) viết: “Một thân hình gầy gò, chòm râu dài, chiếc áo khoác cũ và đôi dép cao su đã mòn. Hồ Chí Minh đã tạo ra một Bác Hồ hiền lành giản dị. Nhưng Người là nhà cách mạng dày đặc kinh nghiệm và một nhà dân tộc chủ nghĩa nồng nhiệt, suốt đời đấu tranh cho một mục đích duy nhất là mang lại độc lập tự do cho dân tộc mình.”Tờ báo Tiến lên của Xri lanca khẳng định: “Hồ Chí Minh đã làm nên lịch sử hiện đại, là một trong những nhân vật cao quý nhất, đáng kính nhất của thời đại chúng ta.” Sức lan toả và ảnh hưởng to lớn, kỳ vĩ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nỗi Tổng thống Mỹ Nixon đã phải cay đắng thốt lên: “Chỉ khi nào xóa bỏ được hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh ra khỏi tâm thức người dân thì đường lối Việt Nam mới ngả theo Mỹ“.

Không thể nào kể hết những lời ngợi ca của các bậc danh nhân, các nhà chính trị, các nhà sử học, các nhà văn nhà báo trên thế giới nói và viết về Bác. Tự hào vô cùng dân tộc ta, non sông đất nước ta có Bác Hồ kính yêu. Chính Người đã làm rạng danh non sông đất nước ta. Bác là Anh hùng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất Việt Nam. Nhưng cao hơn cả, sâu thẳm hơn cả, Bác trường tồn, mãi mãi trường tồn trong tâm trí dân tộc ta, trong non sông đất nước ta với hình ảnh một con người thiêng liêng, gần gụi, xiết bao yêu dấu. Tất cả những gì cao quý nhất, tốt đẹp nhất đều thuộc về Người – Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bác Hồ kính yêu.

Giang Kế Nhân
baobacgiang.com.vn

Bác Hồ nói về công việc “bếp núc” của nhà báo

(BG) – Đại hội Hội Nhà báo Việt Nam lần thứ II (tháng 4-1959) vinh dự được đón Bác đến thăm. Hôm đó, Bác rất vui, khi bước lên bục nói chuyện, Bác để tập báo xuống và giơ tay ra hiệu cho mọi người ngồi xuống rồi Bác nói dí dỏm:

– Mời toàn thể “an toạ”!

Bác nhấn mạnh từ “an toạ” cho vui, nhưng thực ra mọi người hiểu là Bác có ý nhắc một số nhà báo sính dùng chữ nước ngoài. Bác bảo: “Mọi việc đồng chí Trường Chinh và anh Hoàng Tùng đã nói đủ, Bác chỉ nói về nghiệp vụ thôi, Bác khen báo chí của ta đạt được thành tích đáng kể song phải cố gắng nhiều hơn nữa!”. Tiếp đó Bác lấy ra một tập báo đã đánh dấu sẵn, cầm một tờ báo có ảnh một nữ công nhân đang ngồi, ảnh cỡ lớn, giơ cao cho mọi người xem rồi hỏi:

– Cô này đang ngồi làm gì đây?

Tất cả đều chịu, chỉ biết đó là một cô công nhân rất xinh, để trang nhất cũng đẹp, thế là Bác chỉ cho biết: “Dùng ảnh trên báo phải hết sức chú trọng nội dung, không được dễ dãi”. Bác nói tiếp: – Các chú nhiều danh từ lắm, thế “không phận” là gì?

Một đại biểu thưa: – Thưa Bác là… vùng trời ạ!

– Thế gọi là “vùng trời” có phải ai cũng dễ hiểu hơn dùng chữ “không phận” không?

– Thưa Bác, đúng vậy ạ!

– Các nhà báo có trách nhiệm đừng để tiếng mẹ đẻ chúng ta ngày càng mai một đi. Chúng ta đã có hai chữ “vẻ vang” rất hay lại không dùng, chỉ thích dùng chữ “vinh quang”. Nhiều người làm thơ lại gọi là “quang vinh” cho hợp vần!

Bác lấy ra một tờ báo khác. Trên trang nhất tờ báo hàng ngày có đưa tin về hai đoàn đại biểu nước ngoài cùng một ngày đến thăm nước ta. Bác chỉ vào đấy và phân tích:

– Như thế này là các chú bên trọng bên khinh, hai đoàn đến cùng ngày, tại sao lại đưa đoàn bên này lên trên, in chữ to, còn đoàn kia in chữ nhỏ, sắp phía dưới?

Bác còn chỉ rõ những chỗ sai lầm làm lộ bí mật về tài nguyên trên báo. Đến phần “Điểm báo” địa phương, Bác kể cho nghe câu chuyện mà không ai nhịn được cười. Đó là nhân ngày sinh Bác, tờ báo của địa phương nọ có đăng một số thư của đồng bào chúc mừng Bác. Có đồng bào muốn chúc mừng Bác mạnh khoẻ, sống lâu, lại viết là “Chúc Bác bách niên giai lão”. Tờ báo ấy đăng nguyên văn như vậy, Bác cười và nhắc nhở mọi người:

– Họ chúc Bác “bách niên giai lão” mà báo cũng đăng đấy!

Câu chúc mừng ấy dành riêng cho cô dâu, chú rể trong buổi thành hôn, bỗng lại dành chúc thọ Bác, làm mọi người cười không ngớt.

Lê Hồng Bảo Anh
baobacgiang.com.vn

Nhân “Ngày Gia đình Việt Nam” (28/6) kể về tình thương yêu cha mẹ và anh chị của Bác Hồ

Hiện nay, qua Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” chúng ta đã nhận thấy “Hồ Chí Minh là hiện thân cho tinh hoa của dân tộc lại mang những nét riêng của môi trường quê hương và gia đình đã có ảnh hưởng sâu sắc tới Người từ thuở ấu thơ”(GS Phan Ngọc Liên, Hồ Chí Minh từ nhận thức lịch sử đến hành động cách mạng – NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1999, trang 37).

Hơn nữa, ngoài gia đình, quê hương và đất nước cũng là những nhân tố quan trọng trong việc hình thành nên con người Hồ Chí Minh. Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc – thân sinh và cũng là người thầy chủ yếu dạy chữ Hán đầu tiên của Nguyễn Tất Thành là người có ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình hình thành tình thương yêu của Bác đối với dân tộc và con người Việt Nam.

Cụ Sắc tin tưởng vào người con hiếu thảo, thông minh, chăm học, lại sớm có ý chí vươn lên làm người qua việc đổi tên con từ Nguyễn Sinh Cung ra Nguyễn Tất Thành (1901). Cuộc sống của người mẹ – bà Hoàng Thị Loan – cũng ảnh hưởng đến tư tưởng, tình cảm của Nguyễn Sinh Cung về đức tính nhân hậu, đảm đang, sống chan hòa với mọi người.

Từ đó, mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa ba chị em: Nguyễn Thị Thanh (Nguyễn Thị Bạch Liên), Nguyễn Sinh Khiêm (Nguyễn Tất Đạt) và Nguyễn Sinh Cung (Nguyễn Tất Thành) về lòng hiếu thảo đối với cha mẹ, tình thương yêu của anh chị em, lòng yêu nước, thương nòi…đã hòa quyện vào nhau.

Tình thương yêu cha mẹ và anh chị của Bác Hồ sau 30 – 40 năm xa cách quê nhà vẫn luôn là mối tình gia đình, lòng hiếu thảo tràn đầy và bền vững của Bác. Điều đó được thể hiện qua vài mẩu chuyện sau đây:

Buổi trưa ngày 27/10/1946, giữa lúc tình hình Thủ đô và đất nước trong cơn dầu sôi lửa bỏng trước họa ngoại xâm của thực dân Pháp lần nữa, Bác Hồ chỉ có ít phút nghỉ trưa sau cả buổi sáng làm việc căng thẳng, sức khỏe còn kém nhưng vẫn tiếp chị ruột Nguyễn Thị Thanh từ quê ra Hà Nội thăm.

Bà Thanh vừa gọi vừa ôm lấy Bác: “Cậu, cậu, cậu có khỏe không?” Bác khóc. Bà Thanh hỏi tiếp: “Cậu đi lâu thế có nhớ quê hương không? Còn nhớ chị ngồi ru võng cho cậu ngủ, chị hát ru bài ru non nước không?” Bà Thanh khóc, Bác nói: “Quê hương nghĩa nặng tình sâu, ở nước ngoài, đêm khuya thanh vắng, bỗng chốc nhớ lời ru con của người mình, lòng dạ em thêm nhớ đất nước, quê hương, bà con”.

Một tuần sau, cũng vào giờ nghỉ trưa (ngày 3/11/1946), tại Bắc Bộ Phủ, anh cả Khiêm ôm lấy Bác Hồ: “Chú Cung, chú Cung, chú có khỏe không?”. Chòm râu Bác Hồ rung rung chạm vào má bác cả Khiêm. Bác hỏi thăm sức khỏe anh, chị Thanh. Bác Khiêm trả lời: “Chị Thanh về có nói chuyện lại, bảo chú gầy lắm, công việc bận suốt ngày, bà con ai cũng đến hỏi thăm.”…

Khi anh Nguyễn Sinh Khiêm tạ thế (1888-1950) tại làng Kim Liên ngày 15/10/1950, thọ 62 tuổi, Bác Hồ được tin anh mất, từ Chiến khu Việt Bắc không về được, Người gửi điện cho Ủy ban Hành chính Kháng chiến Liên khu IV  nhờ chuyển cho làng Kim Liên: “Nghe tin anh cả mất lòng tôi rất buồn rầu, vì việc nước nặng nhiều, đường xá xa cách, lúc anh đau yếu tôi không thể trông nom, lúc anh tạ thế tôi không thể lo liệu. Tôi xin chịu tội bất đệ trước linh hồn anh và xin bà con nguyên lượng cho một người đã hy sinh tình nhà để lo việc nước – Ngày 9/11/1950 – Hồ Chí Minh” (Bác Hồ ở ATK, NXB Hội Nhà văn, 2009, trang 122-123).

Một hôm, theo cụ Nguyễn Sinh Khiêm về nhà thờ họ ngoại, lên động Tranh thắp hương phần mộ thân mẫu Hoàng Thị Loan, nhà báo Sơn Tùng kể được cụ Khiêm thổ lộ: “Ba chị em Bác đều cắt rốn, chôn nhau sau căn nhà ở góc vườn kia, có bờ râm bụt bao quanh, ngăn cách mảnh sân với mảnh vườn đằng trước, lúc em Bác còn ẵm ngửa, mẹ sai chị Thanh hái hoa râm bụt dùng chỉ treo lơ lửng, đong đưa dỗ em…, anh em Bác thơ thẩn bên bờ râm bụt từ bên vườn nhà mình sang bên nhà ông bà ngoại.

Em tôi (Bác Hồ) tách cánh hoa râm bụt dán lên má khoe: Em có má hồng. Ngày vào kinh đô Huế, nhà có vườn rộng, bờ rào râm bụt…anh em Bác dựng tuồng, dùng nhựa cây ruối dán cánh hoa râm bụt vào má, vào trán, vào cằm để hóa trang…Diễn xong, anh em bị ngứa, mẹ Bác bắt hai anh em vào gường nằm để ăn roi mẹ phạt thì Bác thưa: “Mẹ ơi, con được mẹ cho cầm hoa râm bụt chơi, mẹ nói hoa này hiền như Bụt, hoa lòng mẹ thì con mới dán hoa lên mặt…” Mẹ Bác phì cười: “Hoa râm bụt hiền nhưng nhựa cây ruối nó dữ”.

Ông Vũ Kỳ nhớ lại ngày kháng chiến ở ATK Định Hóa, giờ nghỉ việc Bác cùng chăm sóc vườn rau, bờ râm bụt. Bác tâm sự: “Các cụ ta hay dùng điển tích bên Tàu để tưởng nhớ cha mẹ. Nhưng của ta thiếu gì những cái hay, cái đẹp, giản dị mà sâu sắc, như: Nhìn bờ râm bụt nhớ mẹ cha, nhìn ngọn cây đa nhớ làng xóm.”(Sđd trang 120)

Hoa râm bụt, bờ râm bụt đã đi vào lòng Bác như một thứ tình thương anh chị em, gia đình, quê hương và sự hiếu thảo với cha mẹ. Mẹ của Bác chẳng may qua đời lúc Bác còn bé nhưng đã gieo vào lòng cậu Sinh Cung một nỗi buồn sâu sắc. Còn cha lại qua đời ở trong Nam năm 1929 (nay có Lăng mộ ở thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp) giữa lúc Bác đang hoạt động ở nước ngoài.

Chỉ vài năm sau ở Pháp (1915) ký tên Paul Thành, Bác viết thư cho Toàn quyền Đông Dương nhờ tìm địa chỉ của cha mình, dù biết đó là việc làm cực kỳ nguy hiểm. Câu nói tha thiết chân tình của Bác với đồng bào miền Nam “Miền Nam luôn trong trái tim tôi” chắc chắn trong đó còn ẩn chứa tâm sự: “Miền Nam còn có hài cốt của cha tôi nữa” và có lần Bác còn nhờ Bộ Chính trị sắp xếp cho vào Nam giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ đang hồi gay go.

Trước đó, vào thời kháng chiến chống Pháp, khi ở lán trên đồi Tỉn Keo (ATK Định Hóa), Bác đã trồng cây hoa râm bụt mà nay đã cao lớn cành lá xum xuê và luôn trổ hoa màu đỏ rực khiến cho khách tham quan đều bồi hồi xúc động nhớ đến Bác, người Anh hùng giải phóng  dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất, nhà văn hóa lớn của dân tộc Việt Nam với một tình yêu bao la về gia đình và đất nước.

Theo Vương Liêm/ubmttq.hochiminhcity.gov.vn
Huyền Trang (st)
bqllang.gov.vn

Bác Hồ với báo chí cách mạng Việt Nam (Bài 4)

(DVHNN) Trong thời đại ngày nay, sự hội nhập của báo chí nước ta với báo chí quốc tế là một dấu ấn không thể quên được. Tuy nhiên, cần khẳng định rằng, dù đổi mới, hiện đại và hội nhập, báo chí nước ta vẫn là nền báo chí cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập. Một Người thầy vĩ đại của Báo chí Cách mạng Việt Nam.

Ảnh tư liệuBác Hồ làm việc trong vườn Phủ Chủ Tịch (1957). Ảnh tư liệu

Bác Hồ là vị lãnh tụ của dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới mà còn là Người khơi nguồn và chỉ đạo báo chí cách mạng Việt Nam. Ngay từ những ngày đầu ra đi tìm đường cứu nước, Người rất coi trọng báo chí đối với sự nghiệp cách mạng. Với mục đích làm công cụ tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lê Nin, giác ngộ những người yêu nước trong cuộc đấu tranh cách mạng để giành độc lập cho dân tộc, tự do của nhân dân.

Báo Người cùng khổ 1922 và báo Thanh niên 1925 đã tập trung vào mục tiêu đó. Với báo Người cùng khổ bằng ngòi bút sắc sảo, Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần tội ác của bọn xâm lược tại các thuộc địa để cho nhân dân Pháp và nhân dân thế giới thấy rõ và ủng hộ cho cuộc chiến tranh chính nghĩa đòi quyền sống, quyền con người, quyền dân tộc của các dân tộc thuộc địa. Ngày 21/6/1925, tờ báo Thanh Niên do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, chỉ đạo và là Người biên tập chính ra số đầu tiên, đánh dấu sự ra đời của Báo chí Cách mạng Việt Nam. Các tổ chức cách mạng ở trong nước dùng tờ báo này để tuyên truyền, giác ngộ và giáo dục quần chúng, làm cầu nối truyền ánh sáng tư tưởng cách mạng của Bác về cho dân tộc, góp phần to lớn cho sự nghiệp giải phóng đất nước.

Người đề ra rằng mỗi khi viết một bài báo, người viết phải tự đặt câu hỏi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì? Viết thế nào cho đơn giản, dễ hiểu, phổ thông, thiết thực, hoạt bát, đặc biệt là viết ngắn…. Báo chí là một công cụ để tuyên truyền và cổ động rất có hiệu quả và Người hơn ai hết hiểu được điều đó. Qua báo chí Người tập hợp và kêu gọi, động viên, cổ vũ nhân dân và đồng bào, chiến sĩ vượt qua hy sinh gian khổ để chiến thắng kẻ thù…

Với Bác, báo chí phục vụ mục đích trong sáng và cao cả của Đảng, của sự nghiệp cách mạng, là công cụ để tuyên truyền khơi dậy tinh thần yêu nước của nhân dân ta, biểu dương những cái tốt, người tốt, việc tốt, ngăn chặn và đẩy lùi cái xấu, cái tiêu cực.

Tháng 4/1959, tại Đại hội lần thứ II của Hội nhà báo Việt Nam, Người chỉ rõ “Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyền truyền đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ”. Để báo chí luôn là diễn đàn của nhân dân, phục vụ nhân dân, Người khẳng định “Một tờ báo không được đại đa số (dân chúng) ham muốn thì không xứng đáng là một tờ báo” và “Không riêng vì viết sách, viết báo, mà công tác gì muốn làm tốt điều phải coi trọng ý kiến của nhân dân”. Bác Hồ với các nhà báo “Nếu các bạn viết báo mà quần chúng hiểu, quần chúng ham đọc, quần chúng khen hay, thế là các bạn tiến bộ. Trái lại, là các bạn chưa thành công”.

Những người làm báo hôm nay thật vinh dự và tự hào có Chủ tịch Hồ Chí Minh, một nhà báo cách mạng vĩ đại và là người thầy của báo chí cách mạng Việt Nam. Tư duy, phong cách, đạo đức báo chí Hồ Chí Minh là một kho tàng quý báu mà Người để lại cho các thế hệ người làm báo hôm nay và mai sau. Các thế hệ những người làm báo luôn phấn đấu kế thừa và phát triển sự nghiệp báo chí của Bác trong giai đoạn cách mạng hiện nay./.

Tôn Phúc (viết theo tư liệu)

Theo dvhnn.org.vn
Vkyno (st)

Học tập phong cách làm báo của Bác Hồ

Chủ tịch Hồ Chí Minh – người thầy của báo chí cách mạng Việt Nam. Ảnh tư liệu

Để lại một kho tàng đồ sộ với hơn 2.000 tác phẩm báo chí, gần 300 bài thơ, khoảng 500 trang truyện và ký, nhưng khi nói chuyện với các văn nghệ sĩ, Bác khiêm tốn không nhận mình là nhà thơ, mà chỉ cho mình là nhà báo có kinh nghiệm. Có dịp Bác kể, đại ý,  khi bôn ba tìm đường cứu nước, Bác sớm nhận thấy báo chí là vũ khí sắc bén của cách mạng nên đã tự học viết báo. Ban đầu Bác tập viết tin ngắn rồi đến những bài báo nhỏ sau đó là những bài chính luận, truyện, ký… Từ một người tự học làm báo, Bác đã sáng lập ra 9 tờ báo. Bằng kinh nghiệm thực tiễn, Bác căn dặn các “chiến sĩ cầm bút” trước khi viết báo luôn luôn phải đặt ra những câu hỏi: viết cho ai, viết để làm gì, viết cái gì và viết như thế nào? Theo Bác những câu hỏi trên đều thuộc nội dung viết báo, mà nội dung là cái quyết định nhất chất lượng của bài báo. Viết mà không rõ  đối tượng, mục đích, nội dung thì lạc đề. Phải viết gọn gàng, rõ ràng, vắn tắt nhưng vẫn phải có đầu, có đuôi. Bác khuyên người làm báo: “Chớ viết khô khan quá, phải viết cho văn chương, vì ngày trước khác, bây giờ khác, sinh hoạt đã cao hơn, người ta thấy hay, thấy lạ, thấy văn chương thì mới đọc”.

Maxim Gorky có câu nói nổi tiếng “Văn học là nhân học”, tức văn là người và học văn để học làm người. Chúng ta cũng biết phong cách viết làm cho nhà báo, nhà văn này khác với nhà báo, nhà văn khác. Tìm hiểu phong cách làm báo của Bác chúng ta nhận thấy cách viết giản dị, ngắn gọn, cô đọng, phóng khoáng, thiết thực, giàu sức sáng tạo ngôn ngữ và hấp dẫn người đọc. Nếu không phải là nhà cách mạng kiệt xuất, một danh nhân văn hoá của thế giới, yêu nước thương dân tột bậc thì không thể có phong cách viết như thế.

Đánh giá cao vai trò, vị thế của báo chí và đội ngũ những người làm báo, Bác khẳng định báo chí cách mạng là một mặt trận chiến đấu của cách mạng, cán bộ báo chí là chiến sĩ trên mặt trấn ấy, “bài báo là tờ hịch cách mạng”. Bác căn dặn các nhà báo muốn hoàn thành sứ mệnh vẻ vang phải suốt đời học tập và rèn luyện để có bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thông nghiệp vụ,  sẵn sàng vượt qua khó khăn, hy sinh gian khổ, phải coi cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén trong cuộc chiến đấu chống áp bức, bóc lột, cái ác và cái xấu, chứ không phải làm báo “cho oai” và để được “lưu danh thiên cổ”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng là tài sản tinh thần to lớn, là phương pháp luận cho hoạt động báo chí nước ta, là “hành trang” của mỗi nhà báo chân chính. Việc học tập phong cách làm báo của Bác trong điều kiện hiện nay là nhân tố quan trọng và vô cùng cần thiết đối với mỗi người làm báo. Muốn trở thành nhà báo giỏi, chúng ta hãy không ngừng học tập, khổ công rèn luyện, trau dồi bản lĩnh chính trị và bản lĩnh nghề nghiệp theo gương Bác Hồ – Người thầy của báo chí cách mạng Việt Nam.

Ngân Giang
baobacgiang.com.vn

Học tập Bác Hồ trả lời phỏng vấn báo chí

QĐND – Ngày nay, trong một “xã hội mở” cả ở trong lẫn ngoài nước, sự tiếp xúc với giới báo chí trở thành một hoạt động thường ngày. Tuy nhiên, khi đọc và nghe các câu trả lời phỏng vấn của nhiều người cảm thấy còn rất nhiều điều cần được cải tiến để nội dung thêm sâu sắc và phương cách thể hiện thêm sống động. Để được vậy, cách tốt nhất là đọc lại và nghiền ngẫm, học theo cách Bác Hồ đã từng trả lời phỏng vấn báo chí.

Bác Hồ chẳng những là người sáng lập ra báo chí cách mạng Việt Nam mà bản thân Bác là một nhà báo dày dạn kinh nghiệm. Bác tự viết nhiều bài báo, đồng thời nhiều lần trực tiếp trả lời phỏng vấn báo chí trong và ngoài nước. Lần theo Toàn tập Hồ Chí Minh do Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2011 có thể thấy, kể từ sau Cách mạng Tháng Tám thành công đến khi trút hơi thở cuối cùng, Bác đã trả lời phỏng vấn báo chí tới 95 lần và lần cuối cùng chỉ cách giờ phút Bác ra đi có 49 ngày! Các nhà báo phỏng vấn Bác rất đa dạng, từ nhiều quốc gia, châu lục, thuộc đủ loại chính kiến khác nhau.

Ảnh minh họa/ Internet

Ngay điều này đã mách bảo chúng ta rằng, quyết không nên né tránh mà cần tích cực, chủ động trả lời phỏng vấn báo chí vì đây là một kênh hết sức hữu hiệu làm cho dư luận thế giới hiểu rõ tình hình cũng như chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, đấu tranh với những luận điệu sai trái và trong nhiều trường hợp đưa ra những thông điệp, tín hiệu cần thiết phục vụ cho cuộc đấu tranh ngoại giao.

Nội dung trả lời của Bác hết sức phong phú, bao quát nhiều vấn đề: Từ trong nước đến quốc tế, từ chính sách đối nội đến chính sách đối ngoại, từ chính trị đến kinh tế -xã hội, từ an ninh đến quốc phòng và cả đời tư… Trong gần 100 lần Bác trả lời phỏng vấn hàm chứa biết bao tư tưởng, triết lý lớn mà bài báo này chưa thể đề cập.

Nội dung bao la như vậy song các cuộc trả lời phỏng vấn của Bác luôn thể hiện tinh thần “kiệm lời, nhiều ý”, không lần nào Bác nói dài, nhiều khi chỉ vài ba câu và không bao giờ dùng những từ chung chung, không rõ nội hàm. Cùng một ý Bác thể hiện dưới nhiều dạng thức, uyển chuyển, biến hóa, vừa kiên quyết, vừa mềm dẻo. Ví dụ trong những năm 1945-1946, khi đủ loại thù trong giặc ngoài đe dọa độc lập, chủ quyền và sự thống nhất giang sơn, trong 11 lần trả lời phỏng vấn Bác đều nhấn mạnh quyết tâm đấu tranh cho độc lập thống nhất: Khi thì khẳng định “chúng ta không chống lại tất cả nước Pháp, tất cả dân chúng Pháp. Nếu có những người Pháp muốn qua đây điều đình một cách hòa bình…thì điều kiện căn bản…là người Pháp phải thừa nhận nền độc lập của Việt Nam…” [1]; hay lấy ngay lý tưởng cao đẹp của cách mạng Pháp để khẳng định ý chí của dân tộc ta: “Dân Việt Nam có một ý muốn rất bình thường là muốn độc lập… chúng tôi tranh đấu từ trước tới bây giờ là cũng tranh đấu giống như người Pháp đó thôi. Ba tiếng Tự do, Bình đẳng, Bác ái đã làm cho Pháp thành một dân tộc tiên tiến, thì chúng tôi cũng chỉ muốn tranh đấu để được như thế” [2]. Cách thể hiện như vậy vừa góp phần củng cố lập luận của mình, vừa đẩy đối phương vào thế khó phản bác, vừa tranh thủ được dư luận rộng rãi.

Trả lời phỏng vấn, Bác luôn đi thẳng vào vấn đề được hỏi, không vòng vo, đồng thời luôn giữ thế chủ động, tinh thần tấn công, đôi khi hài hước, chế nhạo những thủ đoạn của một số nhà báo có ý móc máy. Trong một cuộc họp báo ngày 26-12-1945 liên quan tới thỏa thuận về sự hòa giải giữa Việt Minh, Việt Nam Cách mạng Đồng minh và Việt Nam Quốc dân đảng, có nhà báo hỏi 14 điều thỏa thuận đăng trên báo “Việt Nam” (cơ quan ngôn luận của Việt Nam Quốc dân đảng) có đúng không? Bác “tấn công” ngay: “Đúng, nhưng phải thêm một điều nữa là đôi bên đã đồng ý với nhau chưa nên công bố, không hiểu sao báo “Việt Nam” lại đăng. Có lẽ báo ấy quên chăng?”. Tiếp đó, trả lời câu hỏi móc máy của một nhà báo khác rằng, Báo “Liên hiệp” đăng Chính phủ Việt Minh từ chức là nghĩa gì? Bác bèn “đập” lại: “Làm gì có Chính phủ Việt Minh, mà đã không có thì từ chức làm sao?”[3].

Trong trả lời, Bác không bao giờ né tránh những câu hỏi “hắc búa”, nhạy cảm, đồng thời khéo léo xử lý tình huống theo cách: “Có nhưng có thể hiểu là không, không nhưng có thể hiểu là có”.

Lúc cách mạng nước ta mới thành công, do hoàn cảnh lúc bấy giờ Đảng ta tuyên bố “tự giải tán”, nhưng vẫn hoạt động dưới hình thức Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác, nhiều nhà báo nước ngoài tìm mọi cách để Bác khẳng định mình là “cộng sản” để phân hóa nước ta với các nước khác và một số tầng lớp trong nước hiểu sai về chủ nghĩa cộng sản.

Một lần kia có nhà báo hỏi: Nghe nói Chủ tịch tuyên bố rằng Chủ tịch có xu hướng cộng sản, nhưng có phải Chủ tịch cho rằng nước Việt Nam chưa có thể cộng sản hóa được trong một thời hạn 50 năm không? Bác bèn trả lời: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác. Cách đây 2000 năm Đức Chúa Giê -su đã nói là phải yêu mến kẻ thù của ta. Điều đó đến bây giờ vẫn chưa thực hiện được.

Còn khi nào thì chủ nghĩa Các Mác thực hiện thì tôi không thể trả lời được. Muốn cho chủ nghĩa cộng sản thực hiện được, cần phải có kỹ nghệ, nông nghiệp và tất cả mọi người đều được phát triển hết khả năng của mình. ở nước chúng tôi những điều kiện ấy chưa có đủ” [4].

Trong nhiều trường hợp, Bác trả lời rất ngắn gọn, dứt khoát, rõ ràng. Trả lời phỏng vấn của Báo Frères D’Armes năm 1948, về câu hỏi Chủ tịch ghét gì nhất, Bác trả lời “Điều ác”; còn điều gì yêu nhất thì Bác đáp lại “Điều thiện”; về điều gì mong muốn nhất, Bác khẳng định: Nền độc lập của nước tôi và của tất cả các nước trên hoàn cầu; còn việc sợ gì nhất thì Bác nói rõ: Chẳng sợ gì cả. Một người yêu nước không sợ gì hết và nhất thiết không được sợ gì![5]

Khi giao tiếp với báo chí, cũng như khi nói chuyện, Bác hay dùng những câu ví dân gian đầy hình tượng và dễ nhớ. Trả lời các nhà báo về những yêu sách ngang ngược của bọn Trung Hoa Quốc dân đảng ở ta, Bác dặn dân ta “muốn gánh được nặng phải chịu được khó nhọc” [6]. Trả lời câu hỏi về vấn đề ngoại giao, Bác nhấn mạnh: “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn” [7].

ở đây mới chỉ xin lẩy ra đôi điều cảm nhận được khi đọc lại những câu trả lời phỏng vấn của Bác Hồ. ước gì các nhà báo và tất cả những ai tiếp xúc với báo chí hãy chịu khó nghiên cứu để học Bác không lảng tránh báo chí, tránh ăn nói dông dài, ý tứ không rõ ràng, đối đáp không sắc sảo, không có lợi cho hình ảnh đất nước. Gắn việc này với cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” có lẽ không phải là điều không có lý. Về lâu dài, nếu có người bỏ công nghiên cứu sâu hơn, toàn diện hơn cả về nội dung lẫn phương pháp Bác Hồ tiếp xúc với báo chí là điều thật đáng hoan nghênh.

Vũ Khoan
qdnd.vn

1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, t 4, tr.85
2. Như trên, tr.213
3. Như trên, tr. 145
4. Như trên, tr.315
5. Như trên, Tập 5, tr. 522
6. Như trên, Tập 4, tr.85
7. Như trên, tr.147

Bác Hồ với báo chí cách mạng Việt Nam (Bài 3)

Bác Hồ nhà văn hóa, nhà báo, nhà thơ lớn. Suốt đời, Bác Hồ là người cầm bút, chiến đấu trên mặt trận văn hóa, báo chí, với một văn phong đa dạng nhiều sắc thái, mà điều nổi bật là tính quần chúng, cách suy nghĩ và diễn đạt dân gian, dễ hiểu, đi sâu trong lòng người, gợi mở những tư tưởng lớn lao, thúc đẩy những việc làm tốt đẹp, bằng những lời lẽ bình dị giàu hình tượng.

Trong một bài viết hoặc bài nói, Bác Hồ không chỉ chú ý từng câu, từng chữ mà còn chú ý nói cái gì trước, cái gì sau, có khi cái đó là điều quan trọng nhất. Những bài báo của Bác Hồ là những mẫu hình về cách viết, mỗi câu chữ khơi dậy những âm vang sâu thẳm trong tâm hồn người đọc. Câu văn của Bác Hồ cô đọng, chứa chan tư tưởng, tình cảm và đi thẳng vào khối óc và trái tim mọi tầng lớp nhân dân.Trên con đường cứu nước, Bác Hồ luôn luôn quan tâm đến công tác báo chí. Bác Hồ coi báo chí như là phương tiện, như là vũ khí sắc bén và sử dụng nó rất tài tình, hiệu quả trong các chặng đường, đấu tranh cách mạng. Bác Hồ vừa là chiến sỹ cách mạng kiên cường, vừa là nhà báo tiên phong mẫu mực và tài năng, có công lao to lớn khai sáng báo chí cách mạng Việt Nam. Qua báo chí của Bác Hồ những thanh niên yêu nước đã giác ngộ cách mạng, đến với chủ nghĩa Mác-Lê nin, trở thành lớp chiến sỹ cộng sản đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam.Bác Hồ nói: “… Theo lời dạy của Lê nin, tờ báo là công cụ tuyên truyền, cổ động, tổ chức và lãnh đạo, cho nên mình cố gắng ra một tờ báo ngay và phải làm rất bí mật vì luôn luôn có mật thám của Pháp, Nhật và Bảo Đại rình mò”… Điều đó đã nói lên Bác Hồ người chiến sỹ tiên phong trên mặt trận báo chí, đồng thời là người chiến sỹ cách mạng trung kiên. Làm báo, không phải là hoạt động nghề nghiệp thuần túy, đối với Bác Hồ, sự nghiệp báo chí gắn liền với sự nghiệp cách mạng. Bác Hồ là nhà báo – nhà cách mạng đầu tiên, khai sáng dòng báo chí cách mạng Việt Nam. Bác Hồ luôn đặt vấn đề “Viết cho ai”, “Viết để làm gì”, để định hướng nội dung, phương thức, sáng tạo các tác phẩm báo chí và xây dựng những tờ báo cách mạng.Viết văn, viết báo đối với Bác Hồ là sự rèn luyện rất công phu, viết sao cho ngắn gọn và súc tích. Những bài báo của Bác Hồ trong thời gian 1922-1926 đăng trên báo “Người cùng khổ”, “Đời sống công nhân”, “Nhân Đạo”, “Tạp chí đỏ” và nhiều báo và tạp chí khác là những bài xuất sắc về cả nội dung và bút pháp. Trong những bài báo này, Bác Hồ vừa tố cáo tội ác của bọn thực dân, vừa ủng hộ phong trào đấu tranh của nhân dân Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp, An giê ri v.v… Bác Hồ thông cảm nỗi tủi nhục, đau khổ của người dân mất nước, nhất là của người da đen và lên án cái gọi là “Văn minh Mỹ”. Bản án chế độ thực dân Pháp của Bác Hồ là một bản cáo trạng chế độ nô lệ hiện đại hóa của Pháp đã hạ con người xuống hàng súc vật. ở các nước thuộc địa “Công lý không phải cho con người và cho công dân, mà công lý cho diều hâu và cá mập”.Đại hội của Hội Nhà báo Việt Nam lần thứ III, Bác Hồ chỉ rõ: “Nhiệm vụ của báo chí là phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng. Đó là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân ta, cũng là nhiệm vụ của báo chí ta”. Bác Hồ khẳng định: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sỹ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Vì nhiệm vụ của báo chí, vì “duyên nợ” với báo chí, dẫu phải gánh vác lo toan trăm công nghìn việc Bác Hồ luôn luôn quan tâm, gắn bó với báo chí, công tác báo chí. Bác Hồ đã từng sáng lập tổ chức, đóng góp tích cực hàng chục tờ báo cách mạng trong và ngoài nước. Riêng báo Nhân Dân từ số đầu ra ngày 11-3-1951 đến ngày Bác Hồ đi vào cõi vĩnh hằng, Bác Hồ viết đến 1.188 bài báo. Bác Hồ đã chính thức đặt tên cho báo Quân đội nhân dân từ lúc mới ra đời. Hầu hết các báo đều được Bác Hồ quan tâm theo dõi, góp ý xây dựng từ những tờ báo có tên tuổi đến những tờ báo của thiếu niên, nhi đồng ở một tỉnh lẻ.Bác Hồ mang nhiều bút danh, song khi đọc nghiền ngẫm, chúng ta thấy tỏa sáng riêng một phong cách Hồ Chí Minh, ngôn ngữ báo chí, phong cách diễn đạt, nội dung, lượng thông tin hàm chứa tính trung thực trong giản dị, sự uyên thâm vốn cổ, ca dao, tục ngữ, phương ngôn, Bác Hồ thường căn dặn các nhà báo phải luôn luôn trung thực, coi đó một tiêu chuẩn đạo đức của người làm báo, “không biết rõ, hiểu rõ, chớ nói, chớ viết. Khi không có gì cần nói, không có gì cần viết chớ nói, chớ viết càn”. Bác Hồ còn nhắc nhở “Không nên chỉ nói cái tốt mà giấu đi cái xấu. Nhưng phê bình phải đúng đắn. Nếu cái hay cái tốt thì phải có chừng mực, chớ phóng đại… phê bình phải phê bình thật thà, chân thành, đúng đắn”.Đối với báo chí và người làm báo, Bác Hồ yêu cầu lấy phê bình và tự phê bình để rèn luyện, tiến bộ, điều quan trọng là lắng nghe ý kiến phê bình của quần chúng: “Các nhà báo cũng cần khuyến khích quần chúng góp ý kiến và phê bình mình để tiến bộ mãi”. Quần chúng nhân dân đó là đối tượng phục vụ của báo chí theo quan điểm của Bác Hồ. Bác Hồ luôn luôn căn dặn khuyên bảo, tâm tình với các nhà báo phải biết “nghe”, biết “hỏi”, biết “thấy”, biết “xem” và biết “nghĩ”, đó là những kinh nghiệm dầy dạn về các “Công đoạn”, các thao tác để có được những tác phẩm báo chí thực sự bổ ích và thiết thực cho nhân dân, cho cách mạng.Bác Hồ muôn vàn kính yêu, người thầy, nhà báo Việt Nam vĩ đại, mãi mãi sống giữa lòng nhân dân, sống giữa tâm khảm các nhà báo Việt Nam. Chúng ta con cháu Bác Hồ, đi theo con đường của Bác, luôn luôn suy ngẫm học tập tấm gương đạo đức, phong cách làm báo của Bác Hồ. Mỗi nhà báo là chiến sỹ cách mạng. Tự rèn luyện, tự phấn đấu có nhiều tác phẩm báo chí hay phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

baobacninh.com.vn